Văn học nước ngoài G Ba Người Bạn (Drei Kameraden) - Erich Maria Remarque

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi kaoaye, 28/8/16.

  1. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    ba.jpg
    BA NGƯỜI BẠN
    Nguyên tác: Drei Kameraden
    Tác giả: Erich Maria Remarque
    Dịch giả: Vũ Hương Giang
    Nhà xuất bản Văn Học 1988
    Nguồn: Vnthuquan
    Biên tập & Hiệu đính: @V.C
     
    chichi.myluckycharm thích bài này.
  2. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Lời Giới Thiệu

    Bạn đọc Việt Nam đã yêu mến Remarque (Erich Maria Remarque - tên thật Erich Paul Remark, 1898 - 1970) - nhà văn Đức nổi tiếng, một trong những tiểu thuyết gia nhiều thành công nhất của thế kỷ hai mươi - qua các tác phẩm "Phía Tây không có gì lạ", "Thời gian để sống và thời gian để chết" do nhà xuất bản Văn Học giới thiệu. Remarque chiếm được hằng triệu con tim độc giả trên khắp hành tinh không đơn giản vì ông là một thiên tài văn học; đọc Remarque, ta tìm thấy ở nhà văn một tấm lòng đầy tình yêu thương con người, cảm thông với nỗi đau của con người, tha thiết mong cho tất thảy một cuộc sống hạnh phúc mà con người vốn dĩ xứng đáng được hưởng. Trái tim nhân đạo ấy không thể không ứa máu trước những sự thật tàn khốc mà hai cuộc đại chiến thế giới đã gieo rẳc cho nhân loại, thiên tài văn học ấy không thể im tiếng trước những tội ác ghê tởm do chính bọn cầm quyền của đất nước mình gây ra. Năm 1933 bọn phát xít Đức buộc cho Remarque tội "phản bội những người lính cửa chiến tranh thế giới bằng văn học" và ra lệnh đốt các tác phẩm của nhà văn, năm 1938 ông bị tước bỏ quốc tịch Đức, buộc phải sang New York năm 1939 (1947 nhập quốc tịch Mỹ). Từ sau 1945, Remarque sống khi ở Mỹ, khi ở Thụy Sỹ, ông mất năm 1970 ở Locarno (Thụy Sỹ).
    Cả thế giới biết đến Remarque qua hàng loạt tiểu thuyết của ông: "Phía Tây không có gì lạ" (1929), "Đường trở về" (1931), "Ba người bạn" (1938), "Hãy yêu những kẻ hậu sinh" (1941), "Khải hoàn môn" (1946). "Tia lửa sống" (1952), "Thời gian để sống và thời gian để chết" (1954), "Bia mộ đen" (1956), "Đêm ở Lissabon" (1962), "Bóng tối nơi thiên đường" (1971)...
    Xuyên suốt các tác phẩm của Remarque là tính nhân đạo sâu sắc, là tiếng nói kiên định, không mệt mỏi chống lại cuộc chiến tranh phát xít phi nghĩa. Remarque không dùng những lời lẽ đao to búa lớn, không hô khẩu hiệu chống phát xít, nhưng các tác phẩm của ông đã bóc trần toàn bộ bản chất tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, lột tả những cảnh địa ngục trần gian mà chiến tranh đã đưa lại. Biết bao số phận khổ nhục, ê chề, biết bao kiếp người phiêu dạt, tha hương không bến đậu, biết bao tình yêu tuyệt vọng, con người phải sống lẩn lút như loài vật, sống mà như đã chết... người đọc cùng đau xót với nỗi đau của tác giả, đau xót bao nhiêu, càng căm phẫn, ghê tởm bấy nhiêu cuộc chiến tranh do bè lũ phát xít gây nên. Thật dễ hiểu vì sao bọn phát xít lại thù ghét nhà văn, khiếp sợ ảnh hưởng văn học của ông đến thế.
    Một mảng đề tài được Remarque khá quan tâm là số phận của những người cựu chiến binh Đức, những người phải gánh chịu trực tiếp hậu quả cuộc chiến tranh diễn ra ngoài ý muốn của họ. Tác phẩm "Ba người bạn" để lại ấn tượng hết sức sâu sắc bởi lẽ đã giúp ta thấy được cái hậu quả gớm ghiếc ấy dưới biết bao góc độ. Cốt truyện diễn ra vào những năm 20 của thế kỷ này, thời gian xen giữa hai cuộc đại chiến thế giới. Các nhân vật trung tâm là ba cựu chiến binh trẻ, ba "chiến hữu" trong chiến tranh thế giới thứ nhất, ba người bạn trong thời hậu chiến - những con người tiêu biểu cho cái "thế hệ vất đi" sau chiến tranh. Họ là những thanh niên bình thường, từng có những ước mơ bình thường: người muốn trở thành bác sĩ, kẻ muốn trở thành giảng viên đại học... nhưng đã bị buộc tham gia vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Tuy không bỏ xác ngoài trận tuyến như biết bao thanh niên đồng lứa với mình, Robby, Lenz và Koster đã bị chiến tranh cướp mất lẽ sống, họ thấy cuộc đời phi lý và trống rỗng, thể xác trẻ trung mà tâm hồn sớm già cỗi. Ngoài những giờ sửa chữa xe thuê, vật lộn kiếm sống, họ tiêu phí thời gian vào những đêm rượu chè, những phen phóng xe điên cuồng, những cuộc hoan lạc... để rồi lại về một mình đối diện với chính mình, cô đơn, trống rỗng, trong một gian buồng trọ tồi tàn. Ba người bạn gắn bó với nhau hết mình đương đầu với cuộc sống, trong khi thực ra họ cũng không hiểu sống để làm gì. Mối tình của Pat và Robby đã cho cuộc sống ấy chút ý nghĩa. Họ thấy mình cần thiết cho mối tình ấy, cho cô gái bất hạnh ấy, họ quên mình đến cảm động giúp cô gái chống lại bệnh tật. Nhưng đó chỉ là cuộc chống chọi tuyệt vọng của ba nạn nhân trực tiếp của chiến tranh hòng cứu cô gái là nạn nhân gián tiếp của chiến tranh; lớn lên trong những năm chiến tranh đói kém. Pat đã mắc chứng lao phổi, căn bệnh vô phương cứu chữa thời bấy giờ. Ba thanh niên lành mạnh bị xô đẩy vào cuộc chiến, bị biến thành những kẻ đồng lõa, để rồi sau đó bị quẳng sống vạ vật giữa cái xã hội hỗn mang thời hậu chiến. Với họ, chỉ có mất mát: Lenz mất mạng vì một bọn phát xít choai choai, Koster phải bán xưởng, bán chiếc xe mà anh yêu quý hơn chính cánh tay mình, Robby mất người yêu, cũng là mất cái mắt xích cuối cùng gắn anh với cuộc đời... Ai là kẻ có tội trước cuộc đời bỏ đi của họ? Cuộc chiến tranh phát xít.
    "Ba người bạn" vẽ lên đầy đủ cuộc sống cơ cực của tầng lớp nghèo hèn nhất trong xã hội, những con người bị coi là hạng "cặn bã" phải chịu hậu quả ghê gớm của chiến tranh, để một nhóm kẻ cầm quyền hưởng lợi nhuận chiến tranh. Có lẽ không ai có thể cảm thông với đám cựu chiến binh hơn là các cô gái điếm và ngược lại. Họ đều là những người trẻ tuổi, nuôi những mơ ước bình dị, nhưng chiến tranh đã không cho họ cái cơ hội làm một con người bình thường. Nạn đói, nạn thất nghiệp, sự bỏ mạng của người chồng nơi chiến địa đã đẩy những người phụ nữ suốt đời chỉ mơ làm vợ làm mẹ ấy phải lao vào con đường bán trôn nuôi miệng. Remarque đã viết về họ, những nạn nhân đáng thương chứ không đáng trách ấy, với một ngòi bút đầy nhân đạo, vị tha. Dưới ngòi bút của tác giả, những nhân vật "cặn bã" này, những chàng trai cô gái bất hạnh "bỏ đi" này lại "người" hơn ai hết. Thật cảm động là những trang viết về tình gắn bó đùm bọc giữa họ với nhau, họ không thương lấy nhau thì còn ai thương họ nữa, vả chăng họ mất mát nhiều quá, thiệt thòi nhiều quá nên cũng quá cảm thông nhau. Những người như họ có quyền hưởng hạnh phúc, nhưng cuộc đại chiến thế giới thứ nhất đã thiêu ra tro quá khứ và hiện tại của họ, và đại chiến thế giới lần thứ hai đang rình rập hủy nốt cái gọi là tương lai không có tương lai của họ. Đói nghèo, thất nghiệp, mãi dâm - những nét tiêu biểu của xã hội Đức trong những năm cuối thập kỷ 20 thế kỷ này đã được Remarque mô tả một cách hết sức giản dị mà cực kỳ rõ nét, đầy đủ trong "Ba người bạn". Các nhân vật của ông mỗi người khổ sở mỗi cách. Đó là Muttchen, một bà lão đêm đêm đứng đường với chảo xúc xích để cung phụng ông chồng nghiện moocphin, đó là Valentin, cựu chiến binh, nuôi ấn tượng quá khủng khiếp về cuộc chiến tranh, không còn biết bắt đầu lại ra sao với cuộc đời mình, suốt ngày ngập trong rượu mừng vì nỗi thoát chết; đó là Hasse, một viên chức cần mẫn, lúc nào cũng chúi mũi vào việc công sở, nơm nớp lo mất việc, không dám ăn tiêu, dè xẻn từng đồng phòng khi thất cơ lỡ vận, để đến nỗi bà vợ chịu không nổi bỏ đi, cuối cùng kẻ xấu số ấy thắt cổ tự vẫn; đó là F Grau, một họa sĩ có tài nhưng phải sống bằng nghề truyền thần ảnh người chết... Biết bao kiếp người bế tắc trong một xã hội bế tắc. Qua một chương thôi, Remarque đã cho ta thấy sự bế tắc tột cùng của những người Đức thời bấy giờ, họ đổ xô đến những cuộc hội họp chính trị, không cần biết mục đích của đảng phái chính trị ấy, họ tìm một cái gì đó thay cho tôn giáo để mà tin, để mà bấu víu, và dễ dàng trở thành những kẻ cuồng tín. Đó chính là cơ sở để chủ nghĩa phát xít phát triển, đi đến chỗ cầm quyền. Đã thấy bóng dáng của lũ người mặc áo bludông, những tên phát xít khủng bố được dung túng. Vả chăng Lenz cũng đã chết bởi bàn tay chúng.
    "Ba người bạn" cũng như cả loạt tác phẩm có thể gọi là "chống chiến tranh" của Remarque hơn lúc nào hết vẫn mang tính thời sự nóng hổi, bởi hiện nay các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới đang đấu tranh không tiếc sức cho một hành tinh hòa bình không có chiến tranh, chống lại cuộc chiến tranh thế giới mới luôn đe dọa bùng nổ bởi bàn tay của các thế lực đế quốc và bọn phát xít mới. Giới thiệu với bạn đọc "Ba người bạn", chúng tôi hy vọng thời gian tới đây có thể lần lượt cho ra mắt đầy đủ, có hệ thống, các tác phẩm nổi tiếng tiếp theo của Remarque, nhà văn lỗi lạc mà bằng sự nghiệp văn học của mình mãi mãi còn góp tiếng nói cho hòa bình.
    7-1987. Vũ Hương Giang
     
  3. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Chương 1

    Bầu trời vàng như đồng thau, vẫn chưa bị vẩn đục bởi khói nhà máy, hừng sáng phía sau dãy mái ngói xí nghiệp. Hẳn mặt trời sắp nhô lên đến nơi. Tôi nhìn đồng hồ. Vẫn chưa đến tám giờ. Sớm mười lăm phút. Tôi mở cổng chuẩn bị sẵn sàng máy bơm xăng. Vào giờ này thường đã có một số muốn ăn sáng chạy qua đây. Bỗng tôi nghe sau lưng mình tiếng gì khàn khàn, khe khẽ, tuồng như một chiếc đinh ốc gỉ đang xoáy trồi lên khỏi mặt đất. Tôi dừng chân nghe ngóng, đoạn đi qua sân trở lại xưởng và thận trọng mở cửa. Trong căn phòng tranh tối tranh sáng đang lắc lư dạo vòng một con ma. Con ma chít chiếc khăn đội đầu màu trắng bẩn thỉu, choàng tạp dề xanh, chân xỏ đôi guốc thô, tay huơ huơ một cái chổi, nó nặng chín chục ký và là mụ lao công Matilda Stoss.
    Tôi đứng yên một lát nhìn mụ. Mụ có cái vẻ yêu kiều của một con hà mã khi mụ chuệch choạng đi đi lại lại giữa những bộ tản nhiệt xe hơi và cất giọng trầm trầm hát bài ca về anh lính khinh kỵ trung thành. Trên mặt bàn kế cạnh cửa sổ có hai chai cognac. Một chai hầu như đã cạn. Tối qua cái chai còn đầy nguyên. Tôi đã quên không cất nó vào tủ khóa lại. "Kìa bà Stoss!" tôi lên tiếng. Lời ca ngừng bặt. Cái chổi rơi xuống đất. Nụ cười ngà say tắt lịm. Bây giờ tôi mới là con ma. "Jesusma, lạy Chúa tôi", Matilda ấp úng và giương cặp mắt đỏ ngầu ngó tôi trân trân. "Tôi đâu ngờ cậu đến sớm thế..."
    "Biết rồi. Rượu ngon chứ?"
    "Đã hẳn... nhưng nhục cho tôi quá". - Mụ quệt miệng. "Tôi rõ tồi tệ..."
    "Chà, bà cứ phóng đại thế. Bà chỉ say thôi. Say khướt như một gã nghiện".
    Mụ gắng đứng thẳng người. Ria mép mụ động đậy và mi mắt mụ chớp chớp như mắt một con cú già. Nhưng dần dần mụ cũng tỉnh táo hơn. Mụ quả quyết tiến lên một bước. "Cậu Lohkamp... người ta ai cũng là người thôi... đầu tiên tôi chỉ ngửi... và rồi làm một ngụm... vì rằng tiếng thế chứ dạ dày tôi bao giờ cũng yếu... vâng, thế rồi, thế rồi hẳn quỷ Satăng đã ám tôi. Các cậu cũng không nên thử thách một người đàn bà tội nghiệp, không nên để mặc cái chai đấy".
    Đây chẳng phải lần đầu tiên tôi bắt gặp mụ như thế. Sáng nào mụ cũng đến dọn dẹp trong xưởng độ hai tiếng: cứ việc quăng tiền vương vãi đâu tùy thích, mụ không tơ hào đến... thế nhưng rượu đặt trước mắt mụ thì chẳng khác gì mỡ để miệng mèo.
    Tôi giơ cái chai lên. "Đương nhiên rồi, bà không động đến rượu cognac dành cho khách hàng... Thế nhưng thứ rượu ngon của ông Koster thì bà nốc sạch".
    Một thoáng cười đắc ý lướt qua nét mặt già nua của Matilda. "Tất tật những gì ngon lành... tôi là kẻ sành sỏi mà lại. Nhưng cậu sẽ không tố giác gì tôi chứ, cậu Lohkamp? Tố giác một mụ góa yếu đuối bất lực như tôi?"
    Tôi lắc đầu. "Hôm nay thì không đâu".
    Mụ buông những nếp váy xuống. "Thế thì tôi chuồn đây. Cậu Koster mà đến bây giờ thì... trời đất quỷ thần ơi!"
    Tôi lại bên tủ và mở tủ ra. "Bà Matilda..."
    Mụ vội vã lạch bạch chạy đến. Tôi giơ cao một cái chai nâu hình vuông.
    Mụ huơ tay chối. "Không phải tôi! Thề danh dự đây! Tôi không hề động tới nó!"
    "Tôi biết", tôi nói và rót đầy một ly. "Bà biết loại rượu này chứ?"
    "Sao không!" Mụ liếm môi. "Rum! Rượu rum Jamaica lâu đời!"
    "Khá. Vậy xin bà hãy cạn ly!"
    "Tôi ấy?" Mụ nhảy lùi lại. "Như thế nhiều quá, cậu Lohkamp! Đầu tôi đang nóng phừng phừng như than hồng đây này! Mụ Stoss già nua đã ngầm nốc sạch rượu cognac của cậu, thế mà cậu lại còn thết mụ một ly rum để thưởng công nữa. Cậu là một bậc thánh, chính thế! Thà chết còn hơn chấp nhận một chuyện như vậy".
    "Thế hở?" tôi nói và làm ra vẻ chực thu ly rượu về.
    "Nào thì uống!" Mụ vội vã nắm lấy cái ly. "Đành phải tiếp nhận điều tốt đẹp như nó đã đến thôi. Cho dù không hiểu nó. Chúc sức khỏe cậu! Dễ thường hôm nay là sinh nhật cậu".
    "Đúng vậy, bà Matilda. Bà đoán giỏi đấy".
    "Sao, thật thế ư?" Mụ chộp lấy bàn tay tôi lắc lấy lắc để. "Rất chi thành thật chúc cậu hạnh phúc! Dồi dào tiền của! Cậu Lohkamp này", mụ quệt miệng "tôi cảm động quá thể... nhất định tôi phải làm một ly nữa mừng cậu. Là vì chẳng gì tôi cũng quý cậu như con".
    "Tốt thôi".
    Tôi rót thêm cho mụ ly nữa. Mụ dốc cạn một hơi, rồi rời xưởng, mồm xuýt xoa khen ngợi.
    Tôi dọn cái chai đi, ngồi vào bàn. Mặt trời nhợt nhạt xuyên qua cửa sổ chiếu xuống đôi tay tôi. cảm giác lạ kỳ trong một ngày sinh như thế này, dẫu rằng ta chẳng xem nó ra gì. Ba mươi tuổi... đã từng có thời tôi ngờ đâu không bao giờ mình có thể lên đến tuổi hai mươi, tôi cảm thấy cái ngày ấy sao mà xa vời. Và rồi...
    Tôi mở ngăn kéo lấy một tờ giấy viết thư và bắt đầu tính. Thời ấu thơ, trường học... đó là một tổng thể, xa xôi, ở đâu đó, không còn thật nữa. Mãi năm 1916 cuộc đời thật sự mới bắt đầu. Khi ấy tôi vừa trở thành chú lính mới, gầy, cao ngồng, mười tám tuổi, tập nằm xuống, đứng lên trên những thửa ruộng mới cày phía sau doanh trại theo lệnh của một tay hạ sĩ quan ria mép rậm rì. Vào một trong những tối đầu tiên, mẹ tôi đến doanh trại thăm tôi, nhưng bà phải đợi tôi mất hơn một giờ đồng hồ. Tôi đã đóng ba lô của mình không đúng quy cách và phải chịu hình phạt quét dọn nhà vệ sinh vào giờ nghỉ. Mẹ tôi muốn giúp tôi, nhưng bà không được phép. Bà khóc, còn tôi thì mệt tới mức ngủ thiếp đi khi mẹ vẫn còn ngồi bên.
    1917. Flanders[1]. Mittendorf và tôi mua ở căng tin một chai vang đỏ. Chúng tôi định uống một chầu. Thế nhưng cả bọn tôi đã không thực hiện được. Sáng tinh mơ, quân Anh bắt đầu một trận pháo kích lớn. Koster bị thương lúc giữa trưa, Meyer và Deters ngã xuống buổi chiều. Và tối đến, khi cả bọn đã tưởng được bình yên và mở chai rượu ra, thì hơi độc tràn vào, ùa xuống các công sự. Tuy rằng cả bọn kịp thời đeo mặt nạ nhưng mặt nạ của Mittendorf lại hỏng. Khi cậu ấy phát hiện ra thì đã muộn. Cho đến lúc chiếc mặt nạ này bị giật đi và tìm thấy một cái mới thay vào thì Mittendorf đã hít phải quá nhiều hơi độc và nôn ra máu. Cậu ấy chết vào sáng hôm sau, trên mặt có nhiều vết bầm tím. Cổ Mittendorf rách bươm... cậu ấy đã cố dùng móng tay hòng phanh nó ra để hớp lấy không khí.
    1918. Nằm quân y viện. Mấy hôm trước, một đợt thương binh mới được chả đến. Bông băng bằng giấy bản. Những ca bị thương nặng. Suốt ngày, những chiếc xe phẳng lỳ của phòng mổ cứ chạy ra chạy vào. Thỉnh thoảng có những chiếc ra không. Joseph Stoll nằm cạnh mình. Anh đã mất cả hai đùi, nhưng còn chưa biết điều đó. Không thể nhìn thấy được, vì người ta chụp lên phần dưới anh một cái lồng bằng dây thép phủ chăn. Mà giá có thấy anh cũng chẳng tin nó, vì anh vẫn cảm thấy đau đớn dưới hai bàn chân. Đêm hai người chết trong buồng bọn mình. Một người chết rất ngắc ngoải và đau đớn.
    1919. Lại ở nhà. Cách mạng[2]. Đói. Bên ngoài vẫn tiếp tục nghe tiếng súng máy. Lính đánh nhau với lính. Đồng đội gây lộn với đồng đội.
    1920. Đảo chính. Karl Broger bị bắn chết. Koster và Lenz bị bắt. Mẹ tôi nằm nhà thương. Bệnh ung thư của bà đang vào giai đoạn cuối.
    1921...
    Tôi ngẫm nghĩ. Tôi chẳng còn nhớ nữa rồi. Đơn giản là thiếu mất năm đó. 1922 tôi làm công nhân đường sắt ở Thuringia, 1923 lãnh đạo việc quảng cáo cho một xí nghiệp cao su. Đang thời kỳ lạm phát. Lương tháng của tôi là hai trăm tỉ mác. Mỗi ngày hai lần lĩnh tiền và mỗi lần lĩnh tiền lại được nghỉ nửa giờ để đảo nhanh qua các cửa hiệu mua sắm chút ít trước khi hối đoái đô-la mới lại được công bố... đồng tiền lại mất giá một nửa.
    Còn sau đó? Những năm tiếp theo? Tôi đặt bút chì xuống. Nhẩm lại tất cả những cái ấy mà làm gì. Vả lại tôi cũng chẳng còn nhớ chính xác. Tôi đã lẫn lộn quá lắm. Năm ngoái tôi uống mừng sinh nhật của mình tại tiệm cà phê Quốc Tế, nơi tôi đánh dương cầm thuê được một năm. Thế rồi tôi gặp lại Koster và Lenz. Còn lúc này tôi đang ngồi trong xương sửa chữa ô-tô Koster và Co... Co, đây tức là Lenz và tôi, nhưng sự thực thì xưởng này chỉ thuộc về mỗi mình Koster. Trước kia Koster là bạn học, rồi chỉ huy đại đội của chúng tôi, sau đó làm phi công, có thời gian dài là sinh viên, rồi lái xe đua... cuối cùng cậu ta đã tậu được cái văn phòng khổ này. Đến làm với Koster trước tiên là Lenz, kẻ từng lang bạt vài năm bên Nam Mỹ... rồi thêm tôi.
    Tôi rút từ túi áo một điếu thuốc lá. Thật ra tôi có thể hoàn toàn hài lòng. Hoàn cảnh của tôi chẳng đến nỗi nào, tôi có việc làm, lại cường tráng, tôi không dễ gì trở nên mệt mỏi, tôi lành lặn - như người ta thường nói... nhưng dẫu sao đừng nghĩ ngọi thái quá về điều đó vẫn hơn. Đặc biệt đừng nghĩ ngợi vào lúc chỉ có một mình. Và buổi tối cũng đừng. Một cái gì đó của quá khứ đôi khi lại hiện lên và nhìn ta trân trối bằng cặp mắt của người chết. Nhưng ta đã có rượu mạnh.
    Ngoài kia có tiếng kẹt cổng. Tôi xé tờ giấy có ghi những năm tháng đời mình, ném vào sọt giấy lộn. Cánh cửa bật mở. Gottfried Lenz đứng trong khung cửa, cao, gầy, với cái bờm tóc màu vàng rơm và một cái mũi lẽ ra thích hợp với một người đàn ông hoàn toàn khác. "Robby", cậu ta gầm lên, "quân săn mồi già đời, đứng dậy và hãy lên gân lên cốt đi! Cấp trên của cậu muốn nói chuyện với cậu!"
    "Chúa ơi!" Tôi đứng dậy. "Mình đã hy vọng rằng các cậu không nhớ tới kia đây. Hãy nương nhẹ thôi, các chú bé!"
    "Điều đó xem ra hợp ý cậu!" Gottfried đặt lên bàn một cái gói, từ đó tiếng lanh canh phát ra rõ mồn một. Koster bước vào sau Lenz. Lenz đứng chắn trước mặt tôi. "Robby, sáng nay cậu gặp cái gì trước tiên?"
    Tôi ngẫm nghĩ. "Một mụ già nghiêng ngả".
    "Đấng Moses thiêng liêng! Một điềm gở! Nhưng lại đúng với lá số tử vi của cậu. Mình vừa lập nó hôm qua. Cậu là một đứa trẻ cần được che chở, không vững vàng, dao động, một ngọn lau trước gió, với chòm Thổ tinh đáng ngờ và một Mộc tinh thương tật trong năm nay. Vì Otto và mình thay mặt cho cha mẹ cậu, vật đầu tiên mình trao cho cậu là một thứ để phòng thân. Hãy nhận lấy tấm bùa hộ mệnh này. Một kẻ hậu sinh của những người Inka[3] đã để lại nó cho mình. Mụ ta có dòng máu xanh, đôi bàn chân phẳng, chấy rận và biệt tài nhìn vào tương lai. 'Hỡi người lạ da trắng, mụ ta bảo mình, các đức vua đã đeo nó, nó chứa sức mạnh của vầng dương, mặt trăng và trái đất, hoàn toàn chưa nói đến các hành tinh nhỏ hơn... hãy đưa ta một đồng đô-la bạc để ta mua rượu mạnh, và anh sẽ được nó'. Để sợi dây chuyền hạnh phúc này tiếp tục luân chuyển, mình trao nó cho cậu. Nó sẽ bảo vệ cậu, sẽ xua đuổi lão Mộc tinh lạnh lùng của cậu".
    Cậu ta đeo vào cổ tôi một bức tượng nhỏ xíu màu đen treo trên sợi dây chuyền mỏng mảnh.
    "Thế! Để chống lại điều rủi giáng xuống từ trời... còn chống lại những bất hạnh hàng ngày thì đây: sáu chai rượu rum của Otto! Lâu năm gấp đôi số tuổi của cậu!"
    Lenz mở cái gói và đặt từng chai một dưới ánh mặt trời buổi sớm. Chúng lóng lánh như hổ phách. "Trông tuyệt đẹp", tôi nói, "cậu moi ở đâu ra thế, Otto?"
    Koster cười. "Một câu chuyện rắc rối. Kể ra thì dài dòng lắm. Nhưng hãy nói thử cậu cảm thấy trong người ra sao? Như một kẻ tam tuần?"
    Tôi phẩy tay. "Như mười sáu và đồng thời như ngũ tuần. Chẳng có gì đặc biệt cả".
    "Cậu bảo chẳng có gì đặc biệt sao?" Lenz đáp lại. "Tuổi tác không phải là thứ cao nhất có trên đời hay sao? Cậu đã chiến thắng thời gian một cách tự chủ và sẽ sống gấp đôi".
    Koster nhìn tôi, đoạn bảo: "Thôi mặc cậu ấy, Gottfried, những ngày sinh nhật thường đè nặng lên lòng tự tôn. Đặc biệt vào lúc sáng sớm. Cậu ấy sẽ tỉnh tâm lại ngay ấy mà".
    Lenz nheo mắt lại. "Lòng tự tôn của một con người càng ít đi bao nhiêu, giá trị của anh ta càng nhiều lên bấy nhiêu, Robby ạ. Điều đó ít nhiều an ủi cậu chăng?"
    "Không", tôi đáp, "không một mảy may. Khi con người trở nên có giá trị một chút, anh ta chỉ còn là tượng đài của riêng anh ta mà thôi. Đối với mình, như thế thật mệt mỏi và buồn tẻ".
    "Cậu ấy triết lý, Otto ơi". Lenz reo. "Cậu ấy đã thoát nạn. Cậu ấy đã vượt qua khoảnh khắc im lặng! Cái khoảnh khắc im lặng trong ngày sinh nhật, khi con người ta tự soi vào đồng tử của con ngươi mình và phát hiện ra mình chỉ là một chú gà nhép nghèo hèn biết mấy. Bây giờ tụi mình có thể thanh thản bắt tay vào công việc hàng ngày và tra dầu cho động cơ chiếc Cadillac cổ được rồi đấy"...
    Cả bọn chúng tôi làm việc cho tới lúc chạng vạng tôi, rồi rửa ráy và thay quần áo. Lenz thèm thuồng liếc nhìn dãy chai. "Ta bẻ cổ một chai chứ?". "Cái đó phải do Robby quyết định". Koster nói. "Đi gạ gẫm kẻ được tặng quà một cách vụng về đến thế thật không đẹp chút nào. Gottfried ạ". "Nhưng để những kẻ tặng quà chết khát còn không đẹp hơn nữa kia". Lenz đáp và mở một chai.
    Mùi thơm lập tức lan khắp xưởng.
    "Đấng Moses thiêng liêng". Gottfried xuýt xoa.
    Cả ba thằng hít lấy hít để. "Tuyệt vời Otto ạ. Cần phải vươn tới nền thi ca cao siêu mới hòng tìm được những so sánh xứng đáng".
    "Quá uổng nếu cậu đem uống trong cái căn xép tối tăm này!" Lenz quyết định. "Các cậu biết không, tụi mình sẽ ra khỏi đây, sẽ ăn tối ở đâu đó và cắp chai rượu theo. Phải nốc cạn nó giữa thiên nhiên tự do của Chúa" - "Hết tầm!"
    Ba thằng đẩy chiếc Cadillac vừa sửa sang ban chiều sang một bên. Phía sau nó là một vật kỳ dị đặt trên bốn bánh. Đó là chiếc xe đua của Otto Koster, niềm tự hào của xưởng.
    Koster đã đổi chiếc xe, một cái thùng cũ cao thành, trong một cuộc bán đấu giá bằng một chiếc bánh mì bơ. Thời đó nhìn chiếc xe, các chuyên gia đều không chút do dự mệnh danh cho nó là một hiện vật thú vị cho bảo tàng giao thông. Nhà thời trang Bonvis, chủ một hãng may măng tô phụ nữ và là kẻ ham thích đua xe, đã khuyên Otto biến nó thành một chiếc máy khâu. Nhưng Koster chẳng bận tâm đến điều đó. Cậu ta tháo rời chiếc xe như tháo một chiếc đồng hồ bỏ túi và hì hụi thâu đêm với nó hàng tháng trời. Một tối nọ, cậu ta xuất hiện cùng với chiếc xe trước tiệm rượu mà chúng tôi thường đến uống. Khi lại nhìn thấy chiếc xe, Bonvis suýt ngã lăn ra vì cười, nom nó vẫn tức cười như cũ. Để gây chuyện khôi hài, gã mời Otto một cuộc thách đấu. Gã muốn đưa ra hai trăm mác cược lấy hai mươi thôi, nếu Koster nhận đua với chiếc xe thể thao mới của gã... chặng đường dài mười kilômét, chấp xe của Otto một kilômét. Koster nhận lời thách đấu. Ai nấy đều cười và trông đợi một điều thú vị khổng lồ. Nhưng Otto còn làm tợn hơn nữa: cậu ta khước từ sự ưu tiên, và với nét mặt thanh thản, nâng giá đánh cược lên một ngàn mác chọi một ngàn mác. Bonvis luống cuống hỏi Otto liệu gã có cần phải đưa cậu ta tới trại điên hay không. Koster chỉ trả lời bằng cách cho xe mình khởi động. Cả hai lập tức phóng đi thực hiện cuộc đấu. Sau nửa giờ, Bonvis trở lại với vẻ mặt hoảng loạn như thể vừa trông thấy rắn biển. Gã lặng lẽ viết một tấm séc và thêm một tấm séc nữa. Giờ đây gã muốn mua lại chỗ chiếc xe. Nhưng Koster đã cười nhạo gã. Cậu ta sẽ không bao giờ đổi chiếc xe lấy đồng tiền trần gian nữa. Dầu cỗ máy bên trong của chiếc xe không chê vào đâu được... bề ngoài của nó trông vẫn xấu xí. Để sử dụng hàng ngày, chúng tôi thay cho nó một chiếc vỏ xe đặc biệt lỗi thời, vừa khớp với lớp sơn đã khá xỉn, chân bùn có những chỗ rách, và cái mui đã dùng đến cả chục năm. Lẽ ra chúng tôi có thể mông má tất cả... Nhưng chúng tôi có một lý do để không làm.
    Chiếc xe tên là Karl, bóng ma trên đường nhựa.
    Karl thở phì phò dọc theo đường nhựa.
    "Otto", tôi nói, "một nạn nhân đang dẫn xác đến kìa".
    Sau lưng chúng tôi, một chiếc Buick nặng nề nôn nóng bóp còi. Nó đang nhanh chóng đuổi kịp. Những bộ tản nhiệt sắp sửa xích lại gần nhau. Gã đàn ông bên tay lái hờ hững trông sang. Ánh mắt gã lướt từ trên xuống chiếc Karl thô thiển. Rồi gã quay mặt đi và quên phắt chúng tôi.
    Vài giây sau, hẳn gã đã xác định là Karl vẫn ở cùng một tốc độ với gã. Gã chỉnh lại tư thế ngồi chút ít cho thoải máỉ, nhìn chúng tôi một cách khoái trá và tăng ga. Nhưng Karl không nao núng. Như một con chó teriê bên cạnh một con chó dô, nó vẫn tiếp tục chạy, nhỏ bé, linh lợi, kèm sát cái đầu máy mạ kền và sơn sáng nhoáng. Gã đàn ông nắm chắc tay lái hơn. Gã hoàn toàn chẳng nghi ngờ gì và khinh bỉ bĩu môi. Có thể đoán giờ đây gã định bụng cho chúng tôi thấy hiệu suất cỗ xe trượt của gã. Gã nhấn chân ga mạnh tới mức ống xả ríu rít lên như một cánh đồng đầy chim sơn ca trong mùa hạ. Thế nhưng chẳng ích gì; gã không vượt lên nổi. Như có phép phù thủy. Karl cứ dính chặt lấy gã, xấu xí và khiêm tốn. Gã đàn ông ngạc nhiên nhìn chòng chọc xuống chúng tôi. Gã không hiểu nổi làm sao với tốc độ trên trăm cây số giờ mà cái hòm cổ lỗ bên cạnh gã đây lại không long hết ra. Gã kinh ngạc nhìn vào đồng hồ tốc độ xe gã, làm như nó có thể chỉ sai. Rồi gã thả xe chạy hết tốc lực.
    Giờ đây hai chiếc xe sánh vai nhau lao trên con đường nhựa thẳng, dài hun hút. Được vài trăm mét, xuất hiện một chiếc xe tải đi ngược chiều. Chiếc Buick đành lùi lại sau chúng tôi để tránh. Nó chưa kịp lên ngang với Karl thì một chiếc xe tang lướt đến với những tua kết vòng hoa bay bay, chiếc Buick buộc lòng lùi lại lần nữa. Sau đó là khoảng trống trước mặt.
    Tới lúc này gã đàn ông bên tay lái đã mất hết vẻ ngạo nghễ; tức giận, môi mím chặt, gã khom mình về phía trước... máu đua xe đã bốc lên trong gã, và đột nhiên danh dự đòi gã buộc gã bằng bất cứ giá nào không được phép tỏ ra hèn kém trước con chó hay sủa nhặng lên đang kè kè bên gã đây. Ngược lại, chúng tôi tỏ vẻ dửng dưng ngồi yên chỗ của mình. Đối với chúng tôi, chiếc Buick như không hề tồn tại. Koester bình thản nhìn con đường, tôi uể oải dõi mắt vào không trung; còn Lenz, mặc dù hết sức căng thẳng, lôi một tờ báo ra và làm ra vẻ như đối với cậu ta ngay lúc này không có gì quan trọng hơn là đọc báo.
    Ít phút sau Koster nháy mắt cho chúng tôi. Karl ngầm giảm tốc độ, và chiếc Buick từ từ vượt lên. Những chiếc chắn bùn rộng, bóng loáng của nó sạt qua xe chúng tôi. Ống xả ầm ầm nhả khói xanh vào mặt chúng tôi. Dần dần nó đã bỏ xa chúng tôi quãng hai chục mét... và ở cửa sổ xe đã ló ra bộ mặt của kẻ sở hữu, gã nhe răng cười đắc thắng. Gã chắc mẩm đã được cuộc.
    Nhưng gã còn có một hành vi nữa. Gã không thể nén một sự trả thù. Gã vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi cứ việc đuổi theo. Thậm chí gã vẫy một cách đặc biệt hờ hững nắm chắc phần thắng. "Kìa Otto" Lenz nói giọng nhắc nhở.
    Nhưng cậu ta chẳng cần phải nhắc. Trong cùng khoảnh khắc, Karl đã vọt lên. Chiếc máy nén khí huýt như tiếng sáo. Và đột nhiên cánh tay vẫy vẫy thò ở cửa xe biến mất... bởi vì Karl đã hưởng ứng sự mời mọc, nó tới. Nó tới thậm chí không gì kìm hãm nổi, lấy lại mọi khoảng cách... và bây giờ, lần đầu tiên chúng tôi để tâm đến chiếc xe lạ. Chúng tôi ngước nhìn gã đàn ông bên tay lái với vẻ dò hỏi trong trắng, như thể chúng tôi rất muốn biết vì cớ gì gã lại vẫy chúng tôi. Thế nhưng gã một mực ngoảnh mặt đi. Bây giờ Karl mới thả hết tốc lực vọt lên, một kẻ lôi thôi lếch thếch thắng trận với toàn thân lấm lem và những chiếc chắn bùn bay rập rờn.
    "Cừ đấy, Otto", Lenz bảo Koester, "tối nay thằng cha sẽ ăn mất ngon". Những cuộc săn đuổi như thế chính là lý do khiến chúng tôi không thay đổi vỏ ngoài của Karl. Chỉ cần Kart xuất hiện trên đường phố, lập tức có kẻ tìm cách bỏ xa nó. Đối với những chiếc xe khác, nó như một con chim gáy rã cánh trước một lũ mèo đói. Nó cám dỗ những cỗ xe nhà hiền hòa nhất muốn vượt và ngay cả những kẻ rậm râu béo bệu nhất cũng không sao tránh khỏi bốc máu đua xe, một khi thấy cái gầm xe kêu rầm rầm của nó cứ nhảy loi choi trước mặt. Có ai ngờ nổi bên trong cái hình thù nực cười đó đang đập trái tim vĩ đại của một động cơ xe đua!
    Lenz khẳng định rằng Karl có tác dụng giáo dục. Nó dạy thiên hạ biết kính trọng sự sáng tạo luôn ẩn mình trong một cái vỏ khiêm nhường. Đó là lời của Lenz, kẻ đã vỗ ngực khẳng định mình là con người lãng mạn cuối cùng.
    Chúng tôi dừng bánh trước một quán ăn nhỏ và xuống xe. Chiều đẹp, yên tĩnh. Những luống cày trên các cánh đồng mới xới ánh lên màu tim tím. Còn những bờ ruộng phát sáng sắc nâu và óng vàng. Những đám mây tựa đàn cò lửa khổng lồ sải cánh trên bầu trời xanh màu trái táo, lấp ló sau chúng là lưỡi liềm mỏng manh của vầng trăng đang dần đầy. Một bụi hồ đào dại ôm hoàng hôn và nỗi ngờ vực trong những cánh tay của mình, trơ trụi một cách cảm động, nhưng đã ngập tràn hy vọng chồi non. Từ quán ăn nhỏ bay ra mùi gan rán thơm phức, cả mùi hành phi nữa. Chúng tôi hít căng lồng ngực.
    Mùi thơm kéo Lenz đâm bổ vào quán. Cậu ta quay ra, nét mặt rạng rỡ "Các cậu phải tận mắt nhìn những lát khoai tây rán nhé! Nhanh lên, không họ hốc sạch món ngon nhất bây giờ!"
    Đúng lúc đó có tiếng một chiếc xe nữa rì rì tiến lại. Cả bọn đứng như trời trồng. Đó là chiếc Buick. Nó đỗ xịch ngay cạnh Karl. "Ái chà!" Lenz nói. Chúng tôi luôn ẩu đả vì những vụ tương tự.
    Gã đàn ông xuống xe. Gã cao lớn, nặng nề, khoác một chiếc áo Raglan rộng bằng lông lạc đà nâu. Gã bực tức liếc nhìn Karl, tháo đôi găng tay to sụ màu vàng ra, và bước lại gần.
    "Cũng là một mẫu xe hả? Xe của anh ấy?" Gã hỏi Koster lúc ấy đứng gần gã nhất, mặt nhăn nhó chẳng khác gì dưa chuột ngâm dấm.
    Cả ba thằng lặng lẽ nhìn gã một lúc. Chắc gã cho chúng tôi là bọn thợ máy diện bộ đồ Chủ nhật đi chơi lậu một chuyến. "Ngài vừa nói gì đó phải không ạ?", cuối cùng Otto ngờ vực hỏi, cốt dạy cho gã biết lẽ ra gã có thể lịch sự hơn.
    Gã đàn ông đỏ mặt. "Tôi hỏi về cái xe này". Gã không đổi giọng, càu nhàu giải thích.
    Lenz uốn thẳng người. Cái mũi to bự của cậu ta rung rung. Cậu ta hết sức đòi hỏi những người khác phải giữ phép lịch sự. Nhưng Lenz chưa kịp mở miệng thì bỗng nhiên, như bởi một bàn tay ma quỷ, cánh cửa thứ hai của chiếc Buick bật mở... một bàn chân nhỏ nhắn thò ra, tiếp theo là cái đầu gối xinh xinh... rồi một cô gái bước xuống, từ tốn đi về phía chúng tôi.
    Ba thằng kinh ngạc nhìn nhau. Trước đây chúng tôi không nhận thấy trong xe còn có người nữa. Lenz thay đổi ngay thái độ. Cả gương mặt tàn nhang của cậu ta mỉm cười. Chúng tôi cùng nhất loạt mỉm cười. Có trời biết tại sao.
    Gã béo sửng sốt nhìn chúng tôi. Gã trở nên hoài nghi và hình như không còn biết nên làm gì trong tình huống này. "Binding", cuối cùng gã nói, khẽ nghiêng mình, tuồng như gã có thể tin tưởng vào cái tên của gã.
    Lúc này cô thiếu nữ đã đến sát chỗ chúng tôi. Chúng tôi hòa nhã hơn nữa. "Hãy giới thiệu chiếc xe đi, Otto" Lenz nói, mắt đưa nhanh sang Koster. "Sao lại không nhỉ". Otto trả lời và đáp lại bằng cái nhìn láu lỉnh.
    "Thực tình tôi rất muốn xem qua chiếc xe" Binding nói, giọng đã ôn hòa hơn. "Hẳn nó chạy nhanh ghê gớm. Nó đã làm tôi hết cả hơi".
    Hai người đi sang bãi đỗ xe, và Koster nhấc nắp xe lên.
    Thiếu nữ không đi cùng. Thanh mảnh và lặng lẽ, nàng đứng bên Lenz và tôi, trong cảnh hoàng hôn. Tôi chắc mẩm Gottfried sẽ tận dụng cơ hội, sẽ bung ra như một trái bom. Cậu ta vốn thích hợp với những tình huống như thế này. Ấy vậy mà tuồng như cậu ta đã quên mất tiếng nói. Thông thường cậu ta có thể gọi mái như một chú gà lôi... thế mà giờ đây cứ đứng đực ra đó chẳng khác nào một vị linh mục thuộc giáo phái Carmel[4] vào giữa kỳ về thăm nhà.
    "Mong cô thứ lỗi cho", cuối cùng tôi lên tiếng "Chúng tôi không thấy cô ngồi trong xe. Nếu thấy chắc chắn chúng tôi chẳng làm bậy như vừa rồi". Thiếu nữ nhìn tôi. "Nhưng sao lại không nhỉ?", nàng bình thản đáp, giọng trầm một cách đáng ngạc nhiên. "Điều đó đâu đến nỗi tồi tệ gì".
    "Không tồi tệ, nhưng cũng không hoàn toàn đứng đắn. Xe của chúng tôi chạy quãng hai trăm kilômét một giờ".
    Nàng hơi khom mình về phía trước, tay thọc vào túi áo măng tô. "Hai trăm kilômét kia à?"
    "Chính xác là 189,2 kilômét, số ghi chính thức đây". Lenz kiêu hãnh giảng giải tức khắc chẳng khác gì súng liên thanh.
    Nàng cười. "Thế mà chúng tôi tưởng chỉ khoảng sáu bảy chục".
    "Cô thấy đấy..." tôi nói, "dẫu sao cô cũng không thể biết được".
    "Vâng". Nàng đáp, "Quả thật chúng tôi không thể biết. Chúng tôi cứ ngỡ chiếc Buick phải chạy nhanh gấp đôi xe của các anh".
    "Vâng..." tôi lấy mũi chân đá một cành cây gẫy sang bên "nhưng chúng tôi có một lợi thế quá lớn. Và ông Binding bên ấy hẳn cũng khá tức giận về chúng tôi".
    Nàng cười. "Chắc thế, trong một khoảnh khắc nào đó. Nhưng con người ta cũng phải biết thua; nếu không làm sao sống nổi".
    "Hẳn rồi..."
    Một quãng ngừng. Tôi đưa mắt cho Lenz. Nhưng con người lãng mạn cuối cùng ấy chỉ nhếch miệng cười, phập phồng cánh mũi và bỏ mặc tôi. Những cây bạch dương xào xạc. Một con gà mái quang quác sau nhà.
    "Thời tiết kỳ diệu", cuối cùng tôi nói nhằm phá vỡ sự im lặng.
    "Vâng, đẹp tuyệt", thiếu nữ đáp.
    "Và đến là ôn hòa", Lenz thêm.
    "Thậm chí ôn hòa khác thường", tôi bổ sung.
    Lại một quãng ngừng mới. Cô thiếu nữ hẳn phải xem chúng tôi là những cái đầu cừu khá ngu ngốc. Nhưng mặc dù muốn lắm, tôi cũng không moi nổi một ý nào nữa. Lenz hểnh mũi hít quanh. "Táo hầm" cậu ta nói đầy cảm xúc, "hình như người ta cho cả táo hầm vào món gan. Một món ăn ngon lành".
    "Đương nhiên rồi", tôi hưởng ứng và nguyền rủa hai thằng bạn tôi.
    Koster và Binding quay trở lại. Sau có ít phút mà Binding đã trở thành một người khác hẳn. Ông ta có cái vẻ hoàn toàn mãn nguyện của những kẻ say mê ô-tô khi vớ được ở đâu đó một tay sành sỏi để có thể cùng trò chuyện.
    "Chúng ta cùng ăn với nhau chứ?" ông ta mời "Lẽ dĩ nhiên", Lenz đáp. Chúng tôi vào quán. Bước qua của, Gottfried nháy mắt với tôi và hất hàm về phía
    — Này cậu, cô nàng mười lần ăn đứt mụ già nghiêng ngả ban sáng..."
    Tôi nhún vai "Có thể... nhưng tại sao cậu lại bỏ mặc mình ấp a ấp úng như vậy?"
    Cậu ta cười "Cũng phải học cái ấy lấy một lần, bé yêu ơi!"
    "Nhưng mình chẳng còn hứng học hiếc gì sất", tôi nói.
    Chúng tôi theo chân những người kia. Họ đã ngồi vào bàn. Bà chủ quán vừa vặn bưng ra món gan và khoai tây rán. Bà ta còn đưa ra một chai lớn rượu mạnh cất từ lúa mì để khai vị.
    Binding tỏ ra là một nhà diễn thuyết, lời lẽ luôn như thác nước. Kiến thức của ông ta về động cơ ô-tô phong phú tới mức đáng kinh ngạc. Khi nghe Otto đã từng lái cả xe đua nữa thì mối thiện cảm của ông ta đối với Otto hầu như không còn biết tới giới hạn.
    Tôi ngắm ông ta kỹ hơn. Đó là một người đàn ông cao lớn, nặng nề với cặp lông mày rậm trên một gương mặt đỏ đắn, ít nhiều khoe khoang, ít nhiều ồn ào, và hình như tốt bụng, giống như hết thảy những ai thành đạt trong cuộc sống. Tôi có thể hình dung tối tối trước khi đi ngủ ông ta vẫn tự ngắm mình trong gương một cách nghiêm nghị, đầy phẩm giá và trịnh trọng.
    Thiếu nữ ngồi giữa Lenz và tôi. Nàng đã cởi bỏ áo măng-tô, bên trong là một bộ trang phục Anh màu xám. Cổ nàng thắt một chiếc khăn trắng trông như cà vạt của kỵ sĩ. Tóc nàng màu nâu, óng như tơ, lấp lánh màu hổ phách dưới ánh đèn. Vai nàng rất phẳng, nhưng hơi nhô ra phía trước, đôi bàn tay nhỏ nhắn, ngón quá dài, và có vẻ hơi xương xương hơn là mềm mại. Gương mặt nàng nhỏ, xanh xao, nhưng cặp mắt to đã cho nó một sức mạnh gần như nồng nhiệt. Theo tôi thì nàng rất xinh... nhưng ngoài điều đó ra tôi không nghĩ gì hơn.
    Ngược lại giờ đây Lenz hết sức hứng khỏi. Cậu ta đã biến đổi hoàn toàn so với khi nãy. Chỏm tóc vàng của cậu ta sáng lóe như mào một con chim đầu rìu. Trong đầu cậu ta, những ý nghĩ thi nhau nảy ra như hào hoa và cậu ta cùng với Binding chế ngự cả bàn. Tôi lép vế ngồi đây và chỉ có thể gây được rất ít sự chú ý, nhiều lắm là một lần đưa liễn súp hay mời thuốc lá. Và chạm cốc với Binding nữa. Chạm cốc khá thường xuyên.
    Bỗng nhiên Lenz vỗ tay lên trán: "Chai rum! Robby, ra lấy chai rum sinh nhật của chúng ta vào đây!"
    "Sinh nhật à? Một người nào trong các anh có sinh nhật chăng?", cô gái hỏi.
    "Tôi", tôi nói, "vì nó tôi đã bị họ đeo đẳng suốt ngày hôm nay".
    "Đeo đẳng ư? Vậy có nghĩa anh không muốn người ta chúc mừng anh chứ gì?"
    "Có chứ", tôi nói, "chúc mừng lại là một chuyện khác".
    "Vậy xin chúc anh mọi điều tốt đẹp!"
    Trong một khoảnh khắc tôi nắm bàn tay nàng trong bàn tay tôi và cảm thấy cái xiết tay khô ấm của nàng. Đoạn tôi đi ra ngoài lấy chai rum.
    Đêm mênh mông và câm lặng trùm lên căn nhà nhỏ. Những chiếc ghế da trong xe chúng tôi ẩm sương. Tôi đứng lại nhìn về phía chân trời, nơi ánh sáng đỏ của thành phố hắt lên. Lẽ ra tôi còn muốn nấn ná ở ngoài này thêm nữa, nhưng đã nghe tiếng Lenz gọi.
    Binding không chịu được rum. Chỉ sau cốc thứ hai là thấy ngay, ông ta lảo đảo bước ra vườn. Tôi đứng dậy, cùng Lenz lại bên quầy rượu. Cậu ta gọi một chai gin. "Một cô gái tuyệt vời, hả?" cậu ta nói.
    "Mình không biết, Gottfried, ạ", tôi đáp "Mình chẳng chú ý đến điều đó lắm".
    Lenz ngắm tôi một lát với cặp mắt xanh lấp lánh sắc cầu vồng của cậu ta, đoạn lắc cái đầu vàng rực. "Nói xem, bé yêu, thật ra cậu sống để làm gì hở?"
    "Mình cũng đã tự hỏi từ lâu".
    Cậu ta cười "Khôn thế! Nhưng không phải với ai cũng dễ dàng vậy đâu. Còn bây giờ trước hết mình phải moi thử xem cô gái có quan hệ thế nào với cái cuốn cataloge ô-tô dày cộp ngoài kia".
    Cậu ta theo Binding ra vườn. Sau ít phút, hai người cùng trở lại quầy rượu. Tin tức hẳn phải tốt đẹp; bởi Gottfried, người giờ đây hình như biết mình không bị ngáng đường, đang sôi nổi bám riết lấy Binding trong niềm hân hoan rạng rỡ. Hai người lấy chai gin và một giờ sau đã cậu cậu tớ tớ với nhau, khi vui vẻ, Lenz luôn có một cái gì đó lôi cuốn khiến người khác khó lòng cưỡng lại. Bản thân cậu ta cũng không cưỡng nổi mình. Giờ đây cậu ta đang nhấn chìm Binding trong rượu và liền đó cả hai đã cùng nghêu ngao những bài hát lính tráng ở ngoài vườn. Con người lãng mạn cuối cùng đã quên phắt cô gái.
    Còn lại ba chúng tôi trong quán ăn. Không khí đột nhiên hết sức yên ắng. Chiếc đồng hồ bằng gỗ mun kêu tích tắc. Bà chủ quán thu dọn bát đĩa và nhìn xuống chúng tôi với ánh mắt của người mẹ, một con chó săn màu nâu nằm duỗi mình bên lò sưởi. Thỉnh thoảng nó lại sủa trong giấc ngủ, khe khẽ, ăng ẳng và rền rĩ. Bên ngoài gió lướt qua cửa sổ. Tiếng gió bị át bởi cái thứ bài hát lính giẻ rách, và tôi có cảm giác căn buồng nhỏ dường như tự nâng bổng lên, cùng với chúng tôi bay lững lờ xuyên màn đêm, xuyên năm tháng, lướt qua bao kỷ niệm.
    Một trạng thái kỳ lạ. Thời gian như đã mất hiệu lực... nó không còn là một dòng sông bắt nguồn từ tăm tối và tìm về tăm tối... nó là một cái hồ trong đó cuộc sống lặng lẽ soi bóng. Tôi nắm trong tay ly rượu của mình. Rượu rum sáng lấp lánh. Tôi nghĩ đến mảnh giấy mình đã viết ban sáng ở xưởng. Tôi đã buồn ít nhiều. Giờ đây tôi không còn buồn nữa. Tất cả thế nào cũng được miễn người ta còn sống. Tôi nhìn Koster. Tôi nghe cậu ta trò chuyện với cô gái nhưng tôi không để ý họ nói gì. Tôi cảm thấy vẻ rực rỡ êm dịu của tình trạng chớm say, nó sưởi ấm dòng máu, và tôi yêu nó bởi thông qua sự mơ mơ mang màng nó cho ta sắc thái phiêu lưu. Ngoài kia Lenz và Binding đang gào bài ca về rừng Argonner. Còn bên cạnh tôi, cô gái không quen biết đang nói, nàng nói khẽ và từ tốn, với cái giọng trầm đục, gợi cảm và hơi khàn khàn ấy. Tôi uống cạn cốc rượu của mình. Hai người kia lại quay vào. Không khí trong lành đã khiến họ tỉnh táo hơn.
    Chúng tôi đứng đậy. Tôi giúp cô gái mặc áo măng-tô. Nàng đứng sát trước tôi, vươn vai một cách mềm mại, đầu hơi ngả về phía sau miệng hé mở, nhìn trần nở một nụ cười bâng quơ. Tôi buông thõng chiếc măng-tô trong một khoảnh khắc. Mắt tôi để đâu suốt thời gian vừa rồi? Tôi đã ngủ chăng? Tôi bỗng hiểu nỗi phấn khích của Lenz.
    Nàng quay người vẻ dò hỏi. Tôi giương vội chiếc măng-tô lên và ngó sang Binding. Mặt đỏ như trái anh đào, vẫn ít nhiều đờ đẫn, ông ta đứng cạnh bàn "Cô cho rằng ông ta vẫn lái xe được chăng?", tôi hỏi.
    "Tôi tin thể"...
    Tôi vẫn không thôi nhìn nàng "Nếu ông ta không đủ tỉnh táo, một người trong chúng tôi có thể đi cùng xe cô".
    Nàng lôi hộp phấn của mình ra và mở nắp. "Sẽ đâu vào đấy cả thôi", nàng nói, "khi say, ông ấy lái tốt hơn nhiều".
    "Tốt hơn và có lẽ cũng ẩu hơn", tôi đáp.
    Nàng nhìn tôi qua mép chiếc gương nhỏ của nàng.
    "Hy vọng rằng sẽ ổn", tôi nói, có hơi cường điệu một chút vì Binding đứng khá vững trên đôi chân của mình. Nhưng tôi muốn làm một cái gì đó. Cốt sao nàng đừng bỏ đi.
    "Cô cho phép tôi sáng mai gọi điện tới nhà cô hỏi thăm chuyến đi ra sao chứ?" tôi hỏi.
    Nàng không trả lời ngay. "Với trò nhậu nhẹt của mình, dẫu sao chúng tôi cũng có trách nhiệm phần nào", tôi tiếp. "Nhất là tôi, với chai rum sinh nhật của mình".
    Nàng cười. "Vâng được ạ, nếu anh muốn. Phía Tây 2796".
    Ra khỏi quán tôi ghi lại ngay số điện. Chúng tôi nhìn xe Binding lăn bánh, rồi cạn thêm ly cuối cùng. Sau đó chúng tôi cho Karl rú máy. Nó lướt qua đám sương mù tháng Ba mỏng manh, chúng tôi thở gấp, thành phố xích lại gần trước mắt chúng tôi, đỏ rực và đung đưa trong sương mù; và từ làn hơi nước, tiệm rượu của Freddi như một con tàu sặc sỡ được chiếu sáng nhô lên. Chúng tôi cùng Karl đến trước mỏ neo. Rượu cognac rót ra vàng óng, rượu gin lóng lánh như ngọc xanh màu nước biển và rượu rum chính là cuộc đời. Chúng tôi ngồi lì lợm trên những chiếc ghế kê trong tiệm, âm nhạc ướt át, sự tồn tại thật sáng sủa và mạnh mẽ; rượu chảy ào qua lồng ngực chúng tôi, chúng tôi quên đi nỗi phiền muộn trong những gian buồng cho thuê trống trải, quên đi nỗi tuyệt vọng của sự hiện tồn, quầy rượu trong tiệm là buồng chỉ huy con tàu, và chúng tôi ồn ào lướt sóng vào tương lai.

    • Chú thích:
    [1] Miền đất nước thuộc Bỉ, trong Chiến tranh thế giới I là vùng có chiến sự ác liệt (N.D.).
    [2] Chỉ cuộc cách mạng dân chủ tư sản bắt đầu nổ ra ở Đức vào tháng Mười một (N.D.).
    [3] Những thành viên của bộ tộc Peru cổ (N.D.).
    [4] Giáo phái hình thành giữa thế kỷ XII trên núi Carmel thuộc Palestin với luật lệ hết sức khắc nghiệt, có thời kỳ không được phép nói. (N.D.).
     
    chichi.myluckycharm thích bài này.
  4. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Chương 2

    Hôm sau là Chủ nhật. Tôi đánh một giấc dài và chỉ thức giấc khi ánh mặt trời rọi vào giường tôi. Tôi nhảy vội dậy, mở tung cửa sổ. Bên ngoài, không khí tươi mát và trong trẻo. Tôi đặt chiếc bếp cồn lên bậu cửa sổ rồi tìm hộp đựng cà phê. Chủ nhà của tôi, bà Zalewski, đã cho phép tôi tự đun cà phê của mình trong phòng. Cà phê của bà quá loãng. Đặc biệt loãng đối với những kẻ tối hôm trước vừa nốc rượu.
    Tôi sống ở nhà trọ của Zalewski đã hai năm nay. Tôi thích khu vục này. Nơi đây luôn luôn diễn ra một cái gì đó, vì nhà công đoàn, tiệm cà phê Quốc Tế và trụ sở hội họp của Đội quân cứu tế[5] nằm sát bên nhau. Ngoài ra phía trước nhà trọ còn có một nghĩa trang cổ đã ngừng hoạt động từ lâu. Cây cối mọc trong đó chẳng khác gì trong công viên, và khi đêm về yên tĩnh, ta có thể ngỡ mình như đang sống ở thôn quê. Nhưng phải khá khuya mới có được sự yên tĩnh ấy. Bởi bên cạnh nghĩa trang là một quảng trường chợ với nào đu quay, đu thuyền.
    Với bà Zalewski thì nghĩa trang này là một nguồn lợi chắc chắn. Bà dẫn ra không khí trong lành và tầm nhìn thoáng đạt để đòi những giá thuê nhà cao hơn. Câu nói cửa miệng của bà trong những lần quảng cáo là: "Nhưng thưa các quý vị, quý vị thử ngẫm mà xem... địa thế mới tuyệt chứ!"
    Tôi hết sức thong thả mặc quần áo để tạo cho mình cảm giác đang là ngày Chủ nhật. Tôi rửa mặt mũi, tôi dạo quanh trong phòng, tôi đọc báo, tôi quấy tách cà phê, tôi đứng bên cửa sổ và nhìn xem đường phố trở nên náo nhiệt ra sao, tôi nghe những chú chim hót trên những tán cây cao trong nghĩa trang... chúng hót như những ống sáo nhỏ bằng bạc của Chúa long lanh hòa với tiếng làu nhàu ngọt ngào, khe khẽ phát ra từ những chiếc đàn quay tay ở quảng trường chợ... tôi lựa chọn giữa một vài chiếc sơ-mi và những đôi bít tất của mình, tuồng như tôi giàu quần áo hơn thế gấp hai chục lần, và vừa huýt sáo tôi vừa dốc túi của mình ra: vài đồng tiền lẻ, một con dao, chìa khóa, mấy điếu thuốc lá... và đây, mảnh giấy ngày hôm qua có ghi tên cô gái và số điện thoại của nàng. Patrice Hollmann. Một cái tên kỳ quặc... Patrice. Tôi đặt mảnh giấy lên mặt bàn. Có thật mới chỉ hôm qua thôi không? Nó đã lại lùi xa biết mấy... gần như đã bị quên đi trong đám hơi men màu xám ngọc của rượu... Thật tuyệt diệu là khi rượu chè... nó khiến ta mau chóng sụp đổ... nhưng từ đêm tới sáng, nó cũng lại tạo ra những khoảng trống, dường như đã trôi qua có đến hàng năm.
    Tôi nhét mảnh giấy dưới một chồng sách, gọi điện chăng? Có lẽ nên... cũng có lẽ không nên. Ban ngày ta nhìn những sự việc đại loại luôn khác với buổi tối. Thật ra tôi hoàn toàn hài lòng vì có được sự yên tĩnh của mình. Những năm vừa qua ầm ĩ như thế là đủ có điều chớ để một chút gì đến với ta, Koster nói. Cái gì ta đã để đến với ta rồi, ta cứ muốn giữ lấy. Mà giữ thì ta lại không thể...
    Đúng vào lúc này bắt đầu nổ ra trận cãi vã sáng Chủ nhật thường kỳ ở buồng bên cạnh. Tôi tìm chiếc mũ mà hẳn tôi đã bỏ lại đâu đó tối hôm qua, và lắng tai nghe một lát. Đó là cặp vợ chồng Hasse đang nổi khùng lên với nhau, cả hai sống ở đây đã năm năm, trong một căn buồng nhỏ. Họ không phải là những người xấu. Giá như họ có được một căn hộ ba buồng, với một gian bếp cho người vợ, và ngoài ra thêm một mụn con nữa, thì cuộc hôn nhân của họ có lẽ vẫn giữ được yên ấm. Thế nhưng một căn hộ đòi hỏi nhiều tiền, và ai là kẻ dám sinh con vào giữa thời buổi bấp bênh này! Thế là họ đành cứ sống chật chội, bà vợ sinh thói khỏe cáu gắt, còn ông chồng ngay ngáy lo mất cái cương vị nhỏ nhoi của mình. Khi ấy ông sẽ đi đứt. Ông đã bốn mươi lăm tuổi. Sẽ không ai thèm nhận ông vào làm nữa, hồi ông đã một lần mất việc. Đó là nỗi cay cực... trước kia người ta suy sụp từ từ, và bao giờ cũng vẫn còn những cơ hội để ngoi lên... nhưng ngày nay, liền sau mỗi sự thải hồi là cái vực thẳm thất nghiệp vĩnh viễn.
    Tôi toan lẳng lặng bỏ ra ngoài thì nghe tiếng gõ cửa, và Hasse thất thểu bước vào. Ông ngồi phịch xuống một chiếc ghế: "Tôi không chịu nổi nữa..." Thật ra ông là một người đàn ông nhỏ nhẹ với đôi vai trễ và chút ria mép. Một viên chức khiêm tốn, tận tụy. Nhưng giờ đây chính những người như thế lại khốn đốn nhất. Mà có lẽ vào thời nào họ cũng là những kẻ lận đận nhất. Đức khiêm tốn và tận tụy chỉ được trả ơn trong tiểu thuyết mà thôi. Trong cuộc sống, chúng bị lợi dụng để rồi sau đó bị gạt sang bên. Hasse giơ tay lên trời: "Anh nghĩ xem lại có thêm hai người nữa bị thải hồi ở công sở. Người tiếp theo là tôi, anh chú ý cho, là tôi!" Ông sống trong nỗi sợ hãi kể từ khi kẻ đầu tiên bị thải hồi. Tôi rót cho ông một ly rượu mạnh. Ông run rẩy toàn thân. Có thể thấy rõ một ngày kia ông sẽ hoàn toàn suy sụp. Ông không còn mấy sức lực để mà chống chọi: "Đã thế, bao giờ cũng phải nghe những lời chì chiết ấy", ông thì thầm.
    Hình như bà vợ kết tội ông về hiện trạng của bà. Bà bốn mươi hai tuổi, đã hơi sồ sề và tàn tạ, nhưng cố nhiên không đến nỗi kiệt quệ như ông chồng. Bà đang ở giai đoạn hồi xuân.
    Can thiệp vào chuyện của họ chẳng ích lợi gì. "Thế này nhé, bác Hasse", tôi nói "bác cứ việc ngồi đây bao lâu tùy thích. Tôi có việc phải đi. Rượu cognac ở trong tủ áo ấy, nếu bác thích uống thứ ấy hơn. Còn đây là rượu rum. Có cả báo đây. Đến chiều bác hãy thử rủ bác gái ra khỏi nhà này lấy một lần xem sao. Đến rạp chiếu bóng chẳng hạn. Tốn kém cũng ngang như ngồi hai giờ trong tiệm cà phê, mà lại bổ ích hơn hẳn. Khẩu lệnh hôm nay là: 'Quên đi, chớ có suy nghĩ!'." Tôi vỗ vai ông với ít nhiều áy náy trong lương tâm. Dẫu rằng rạp chiếu bóng bao giờ cũng tốt. Ở đó ai cũng có thể mơ mộng chút đỉnh.
    Cửa phòng bên mở toang. Bà vợ khóc nức nở khiến ở ngoài cũng nghe rõ. Tôi đi dọc hành lang. Có ai nép mình phía sau cánh cửa buồng tiếp theo. Người đó đang nghe ngóng. Mùi nước hoa thoang thoảng bay ra. Đó là buồng của Erna Bonig, nữ thư ký tư. Quá ăn diện so với đồng lương của cô ta. Nhưng mỗi tuần sếp của cô ta lại một lần bắt cô ta ghi chép thâu đêm suốt sáng. Và thế là ngày hôm sau cô ta hết sức cau có. Để bù lại, tối nào cô ta cũng đi nhảy. Erna tuyên bố lúc cô ta không thể nhảy được nữa cũng sẽ là lúc cô ta hết thiết sống. Cô ta có hai nhân tình. Anh này yêu và tặng hoa cô ta. Chàng kia được cô ta yêu và cho tiền.
    Bên cạnh cô ta: đội trưởng đội kỵ mã, bá tước Orlov, người Nga lưu vong, vũ công, bồi bàn, đĩ đực với hai bên tóc mai đã ngả hoa râm, một tay chơi ghita tuyệt vời, tối tối cầu xin Đức Mẹ Kasan ban cho chân điều hành tiếp tân trong một khách sạn cỡ vừa. Hễ say rượu là mau nước mắt. Phòng bên cạnh: bà Bender, hộ lý trong một cư xá dành cho trẻ sơ sinh. Bà đã năm mươi tuổi. Chồng nằm lại trong chiến tranh. Hai con chết năm 1918 vì suy dinh dưỡng. Bà có một con mèo tam thể. Nó là tài sản duy nhất của bà. Bên cạnh nữa... lão Muller, cố vấn kế toán đã nghỉ hưu, theo dõi sổ sách cho một hội chơi tem. Một bộ sưu tập tem sống, ngoài ra chẳng là gì cả. Con người sung sướng.
    Tôi gõ cánh cửa tiếp theo. "Thế nào Georgie", tôi nói "vẫn chưa có tin gì sao"?
    Georgie Block lắc đầu. Chú là sinh viên năm thứ ba. Để theo học được ba năm đó chú đã phải làm việc hai năm ở mỏ. Giờ đây số tiền dành dụm ấy sắp cạn, chỉ đủ nuôi chú thêm hai tháng. Chú chẳng thể quay lại mỏ... Ở đó lúc này thiếu gì thợ không việc làm. Chú xoay xở mọi cách kiếm kế sinh nhai. Chú chạy chân phân phát quảng cáo cho một hãng sản xuất bơ thảo mộc vừa được một tuần thì hãng này bị vỡ nợ. Sau đó ít lâu, xin được việc đi giao báo, chú đã thở phào. Ba ngày sau, lúc tờ mờ sáng chú bị hai tên đội mũ kết chặn đường, giật xấp báo của chú, xé tan và cảnh cáo đừng để chúng phải trông thấy chú lần thứ hai trong cái nghề không mảy may liên quan gì tới chú này. Bản thân bọn chúng cũng khối thằng mất việc rồi. Tuy nhiên sáng hôm sau chú vẫn đi, dẫu đã phải đền tiền số báo bị xé. Một tên nào đó tông xe đạp hất chú té nhào, xấp báo bay xuống bùn. Chú lại phải đền thêm hai mác nữa. Chú đi lần thứ ba và trở về với quần áo rách bươm, mặt mũi bầm dập. Chú đành bỏ việc. Giờ đây ngày nào chú cũng ngồi lỳ trong phòng, tuyệt vọng, và chúi đầu như điên, tuồng như việc học hành còn giúp ích gì cho chú. Mỗi ngày chú chỉ ăn một bữa. Trong khi chú có theo hay không theo học các năm sau cũng thế cả thôi... Ngay giả thử chú có cầm bằng trong tay, thì sớm nhất cũng phải chục năm sau chú mới hòng kiếm nổi một chỗ làm. Tôi đẩy bao thuốc về phía chú: "Thây kệ việc học hành đấy. Georgie. Tôi đây cũng đã từng học. Sau này lúc nào chú bắt đầu lại chẳng được".
    Chú lắc đầu "Trước kia, hồi ở mỏ về, tôi đã thấm thía rồi. Chỉ cần buông sách vở một ngày là sẽ quên hết, và tôi không đủ sức làm lại lần thứ hai đâu".
    Gương mặt xanh xao với đôi tai vểnh và cặp mắt cận thị, thân hình gầy đét với bộ ngực lép kẹp... Khốn nạn thân chú! "Vậy hãy gắng lên, Georgie" Chú cũng chẳng còn đâu cha mẹ.
    Nhà bếp. Một cái đầu lợn lòi nhồi. Vật tưởng niệm ông Zalewski đã quá cố. Chiếc máy điện thoại, cảnh tranh tối tranh sáng. Nồng nặc mùi hơi ga và mồ hôi. Cánh cửa hành lang với nhiều danh thiếp dán bên cạnh nút chuông.
    Trong đó có cả danh thiếp của tôi. "Robert Lohkamp, sinh viên triết, hai hồi chuông dài". Nó đã vàng ố. Sinh viên triết. Không nghi ngờ gì nữa! Qua từ lâu rồi. Tôi theo cầu thang xuống nhà, đến tiệm cà phê Quốc Tế.
    Tiệm Quốc Tế là một cái ống lớn, tối tăm, mù mịt khói với nhiều phòng hậu. Phía trong, cạnh quầy, là chiếc đàn dương cầm. Nó đã lạc điệu, vài dây bị đứt, và dãy phiếm bằng ngà voi cũng long mất một số; nhưng tôi yêu con ngựa bạch can đảm dai sức ấy. Nó đã cùng tôi chia sẻ năm tháng cuộc đời tôi hồi tôi được nhận vào chơi dương cầm trong tiệm.
    Những tay lái gia súc tụ tập với nhau trong những phòng hậu của tiệm cà phê, đôi khi cả những anh hàng chợ nữa. Các ả điếm ngồi phòng ngoài. Tiệm vắng tanh. Chỉ có anh bồi chân bẹt Alois đứng sau quầy rượu. "Như mọi lần?", gã hỏi.
    Tôi gật đầu. Gã mang lại cho tôi một ly vang pha rum. Tôi ngồi xuống bàn, thẫn thờ nhìn phía trước. Một tia mặt trời xám lạnh chiếu chếch qua cửa sổ, dừng lại trên những chai rượu mạnh xếp trên giá. Chai rượu anh đào đỏ rực như một viên hồng ngọc.
    Alois súc sạch các ly. Con mèo của chủ tiệm nằm gừ gừ trên nắp dương cầm. Tôi thong thả rít thuốc lá.
    Không khí khiến tôi buồn ngủ. Cô gái hôm qua có giọng nói đến lạ. Trầm, hơi đục, gần như khàn khàn, nhưng vẫn êm ái "Cho mượn vài tờ tạp chí đây. Alois" tôi nói.
    Có tiếng kẹt cửa, Rosa bước vào. Rosa, ả điếm nghĩa trang, được mệnh danh là "con ngựa sắt". Ả mang cái tên đó bởi ả rất dai sức. Ả định uống một tách sô-cô-la. Sáng Chủ nhật nào ả cũng tự đãi mình một tách tại đây để rồi còn đi Burgdorf thăm con ả.
    "Chào anh, Robert".
    "Chào cô, Rosa. Con nhóc nhà cô sao rồi?"
    "Em đi thăm cháu bây giờ đây. Nhìn này... em mang theo cho cháu đây".
    Ả lôi trong hộp ra một con búp bê hai má đỏ chót và ghì nó vào bụng "Mẹ... mẹ, con búp bê kêu". Mặt Rosa sáng rỡ lên.
    "Tuyệt vời!", tôi nói.
    "Chú ý nhé!" Ả ngả con búp bê về phía sau. Nó đóng sập hàng mi lại.
    "Hết tầm đấy, cô Rosa!"
    Ả lấy làm thỏa mãn và cất con búp bê đi.
    "Anh biết thông cảm phần nào với những chuyện như thế này, Robert ạ. Anh sẽ là một người chồng tốt".
    "Chà chà", tôi ngờ vực nói.
    Rosa rất quyến luyến con ả. Ba tháng trở về trước, khi con bé chưa biết đi, ả giữ nó ở bên mình, trong phòng ả. vẫn ổn, mặc dù cái nghề của ả, bởi cạnh đó có một gian xép nhỏ.
    Tối tối dẫn khách chơi về, ả thường viện một cớ gì đó buộc khách chờ một lát ở ngoài rồi hối hả vào nhà, đẩy chiếc xe nôi sang căn phòng xép, khóa cửa thông giữa hai phòng, rồi mới mời khách vào. Nhưng tiết tháng Chạp mà con bé phải rời căn phòng ấm sang gian xép giá lạnh quá thường xuyên, thành thử nó bị cảm lạnh và hay gào toáng lên ngay giữa lúc ả đang hành nghề. Rosa buộc lòng sống xa con gái, dù rất đau lòng. Ả gửi con vào một trại trẻ đắt tiền. Tại đó ả được xem như một quả phụ đoan chính. Nếu không thế chắc gì người ta đã nhận con ả.
    Rosa đứng dậy. "Thứ Sáu anh đến chứ?"
    Tôi gật đầu.
    Ả nhìn tôi. "Anh hẳn biết có chuyện gì?"
    "Tất nhiên".
    Tôi hoàn toàn chẳng biết có chuyện gì, nhưng tôi cũng chẳng thiết hỏi thử. Tôi đã quen nết như vậy trong cái năm chơi dương cầm ở tiệm này. Cứ thế hóa ra lại thoải mái nhất. Cũng như tôi anh anh em em với tất cả các ả điếm. Không thể khác được.
    "Tạm biệt, anh Robert".
    "Tạm biệt, Rosa".
    Tôi còn nán ngồi thêm lát nữa. Nhưng tôi không có được sự thư thái mơ màng đích thực như trong những ngày tôi coi tiệm Quốc Tế là một dạng tổ ấm Chủ nhật của mình. Tôi uống thêm một ly rum, vuốt ve con mèo, rồi bỏ đi.
    Suốt ngày tôi lang thang đây đó. Tôi không biết mình nên làm gì và cũng chẳng dừng ở bất cứ đâu được lâu. Xế chiều, tôi về xưởng. Tôi gặp Koster: cậu ta đang sửa chiếc Cadillac. Trước đây ít lâu chúng tôi đã mua chiếc xe cũ kỹ ấy với một giá rẻ mạt. Giờ đây chúng tôi vừa tân trang lại nó một cách kỹ lưỡng, và Koster đang tô điểm hoàn chỉnh nó. Đây là một món hời. Chúng tôi sẽ hy vọng trúng to. Tôi ngại rằng khó lòng bán nổi chiếc xe. Vào thời buổi khó khăn này ai ai cũng muốn tậu những chiếc xe nhỏ, chứ đâu ham một chiếc xe buýt kềng càng như nó. "Bọn mình rồi kẹt với nó thôi, Otto ạ", tôi nói.
    Thế nhưng Koster vẫn tin tưởng. "Người ta chỉ kẹt với những chiếc xe giá phải chăng thôi, Robby ơi", cậu ta giải thích. "Những chiếc rẻ hoặc cực đắt lại bán rất chạy. Thời nào cũng vẫn còn có những kẻ sẵn tiền, hoặc ra vẻ ta đây sẵn tiền".
    "Gottfried đâu nhỉ?", tôi hỏi.
    "Chắc lại hội họp chính trị gì đây".
    "Điên rồ! Cậu ta muốn gì ở đó?"
    Koster cười. "Bản thân cậu ta cũng không biết. Hình như mùa xuân khiến cậu ta ngứa ngáy tay chân. Lúc nào cậu ta chẳng muốn tìm kiếm một cái gì đó mới mẻ".
    "Có thể", tôi nói. "Nào, mình giúp cậu một tay". Hai đứa chúng tôi hì hục đến xẩm tối. "Nghỉ thôi" Koster bảo. Chúng tôi rửa ráy. "Cậu biết mình có gì trong này không?", cậu ta hỏi, tay vỗ ví.
    "Gì thế?"
    "Vé xem đấu bốc tối nay. Một đôi. Cậu sẽ cùng đi, hả" Tôi do dự. Cậu ta ngạc nhiên nhìn tôi. "Stilling chọi với Walker nhé", cậu ta nói. "Một trận đấu hay phải biết".
    "Rủ Gottfried ấy", tôi đề nghị và cảm thấy mình lố bịch vì đã không nhận lời. Nhưng tôi không có hứng đi lắm, chẳng hiểu tại sao.
    "Cậu có dự định gì rồi chăng?", cậu ta hỏi.
    "Không".
    Cậu ta nhìn tôi.
    "Mình cần về nhà", tôi nói, "Viết thư và những việc đại loại. Cũng phải có lần..."
    "Cậu ốm hay sao?", cậu ta lo lắng hỏi.
    "Ồ không, không một mảy may. Có lẽ mùa xuân cũng khiến mình cảm thấy ngứa ngáy".
    "Thôi được. Tùy cậu".
    Tôi tha thẩn đi về nhà. Nhưng khi ngồi trong buồng mình rồi, tôi lại chẳng biết nên bắt đầu làm gì. Tôi do dự dạo quanh trong buồng. Giờ đây tôi không còn hiểu thật ra tôi muốn về vì lẽ gì. Cuối cùng tôi đi qua hành lang lại thăm Georgie. Tôi va phải bà Zalewski. "Úi chà", bà sửng sốt nói, "cũng ở nhà cơ đấy?"
    "Khó lòng chối cãi", tôi hơi bực bội đáp.
    Bà lúc lắc mái đầu với những búp tóc hoa râm "Không đi chơi đâu sao? Kỳ lạ gớm".
    Tôi không ngồi lại lâu với Georgie. Sau mười lăm phút tôi đã trở lại buồng mình. Tôi ngẫm nghĩ xem mình có thèm nhấp chút gì không. Nhưng không thấy thèm. Tôi ngồi xuống cạnh cửa sổ, nhìn xuống đường phố. Hoàng hôn lướt trên nghĩa trang với những cặp cánh của loài dơi. Nền trời phía sau nhà công đoàn xanh như một trái táo non. Bên ngoài, đèn đường đã bật; nhưng trời chưa đủ tối nên ánh sáng của chúng như run rẩy. Tôi lần dưới chồng sách mảnh giấy có ghi số điện thoại. Rốt cuộc thì... Tôi có thể thử một lần chứ sao. Thậm chí tôi đã gần như hứa hẹn sẽ gọi điện cho nàng kia mà. Đã chắc gì nàng có mặt ở nhà đấy.
    Tôi đi ra tiền phòng, nơi đặt máy điện thoại, nhấc ống nghe lên và xin số. Trong khi đợi trả lời, tôi cảm giác như từ ống loa đen thoát ra một làn sóng êm ái, một niềm hy vọng sẽ sang. Cô gái có nhà. Khi cái giọng trầm, hơi đục của nàng đột nhiên cất lên một cách phi thường trong gian phòng chờ của bà Zalewski - giữa những cái đầu lợn lòi, hơi mỡ và soong nồi xủng xoảng. - khe khẽ và hơi chậm rãi như thể nàng cân nhắc từng chữ, thì nỗi bực bội của tôi bỗng chốc tan biến. Tôi móc lại ống nghe sau khi, thay vì chỉ hỏi cho biết tin, đã hẹn được với nàng một cuộc gặp gỡ vào ngày kia. Bỗng chốc mọi thứ đối với tôi không còn u ám như trước. Rõ điên, tôi nghĩ và lắc đầu. Rồi tôi lại nhấc ống nghe, gọi cho Koster. "Cậu vẫn còn giữ vé đấy chứ, Otto?"
    "Còn".
    "Hay lắm. Mình sẽ đi xem đấu bốc với cậu".
    Sau đó chúng tôi còn la cà khá lâu trong thành phố về đêm. Đường phố sáng sủa và vắng tanh. Những tấm biển quảng cáo nhấp nháy. Trong các ô trưng bày hàng, đèn cháy rực một cách vô ích. Trong một gian kính thấy sừng sững các hình nộm trần nhồng nhộng với những mái đầu tô vẽ lòe loẹt. Trông ma quái và thác loạn. Bên cạnh, lấp lánh đồ nữ trang. Rồi đến một của hàng lớn tắm mình trong ánh sáng trắng chẳng khác gì một thánh đường. Các ô kính ngồn ngộn hàng tơ lụa sặc sỡ, bóng bẩy. Trước rạp chiếu bóng chồm hổm những hình hài nhợt nhạt, đói ăn. Bên cạnh họ, choáng lộn một chi điếm của một cửa hàng thực phẩm. Đồ hộp xếp chồng lên nhau như những ngọn tháp bằng thiếc, những trái táo mềm quý hiếm nằm trên nệm bông, một dãy ngỗng béo treo lủng lẳng như quần áo trên dây phơi, những ổ bánh mì nâu tròn xen giữa những chiếc xúc xích hun khói chắc nịch, chùm dăm bông và patê cắt khoanh lấp lánh sắc hồng và vàng dịu.
    Chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế băng đặt cạnh của hàng. Trời mát lạnh. Mặt trăng như một ngọn đèn hồ quang lơ lửng trên các mái nhà. Quá nửa đêm đã lâu. Gần đó trên đường cát, những người thợ dựng một mái lều. Họ sửa chữa đường xe điện. Những chiếc máy quạt gió kêu phè phè, và những chùm tia lửa bắn tung tóe trên những dáng người tối sẫm, khom mình nghiêm trang. Cạnh họ, những chảo nhựa đường bốc khói nghi ngút như những thùng thịt kho. Chúng tôi theo đuổi ý nghĩ của mình.
    "Nực cười là một Chủ nhật như thế này, phải không, Otto?", Koster gật đầu.
    "Thật ra mình hoàn toàn vui mừng khi nó qua đi.", Koster nhún vai. "Có lẽ mình đã quen với lối sống nhàm chán, tới mức một chút tự do cũng đủ khiến mình khó chịu".
    Tôi dựng cổ áo lên. "Có cái gì đó phản bác lại cuộc sống của bọn mình chăng, Otto?"
    Cậu ta nhìn tôi và mỉm cười. "Một cái gì hoàn toàn khác đã phản bác nó rồi còn đâu, Robby".
    "Đúng vậy", tôi thừa nhận. "Dẫu sao..."
    Ánh sáng gắt của chiếc máy khoan dùng khí nén khiến mặt nhựa đường xanh ngắt lên.
    Căn lều tỏa sáng từ bên trong của những người thợ trông như một quê hương nhỏ ấm áp.
    "Cậu bảo thứ Ba tới chiếc Cadillac đã xong chưa?" tôi hỏi.
    "Có thể". Koster đáp. "Sao kia?"
    "Ồ hỏi vậy thôi..."
    Chúng tôi đứng lên đi về nhà. "Hôm nay mình hơi điên điên sao ấy Otto ạ", tôi nói.
    "Ai cũng có lúc vậy cả. Ngủ ngon nhé, Robby".
    "Cả cậu nữa, Otto!"
    Tôi thức ngồi trong phòng mình lát nữa. Gian buồng nhỏ bỗng chốc không còn vừa mắt tôi chút nào. Chùm đèn quái dị, ánh sáng quá chói, những chiếc ghế bành tơi tả, lớp vải sơn trên trần tầm thường đến thảm hại, bồn rửa mặt, cái giường bên trên treo bức tranh về trận Waterloo... Quả thật không thể dẫn về đây một con người đứng đắn, tôi nghĩ. Một phụ nữ lại càng không thể. May lắm là một ả điếm từ tiệm Quốc Tế.

    • Chú thích:
    [5] Salvation Army: Tổ chức từ thiện có tính chất tôn giáo trong quân đội, ở Anh và Mỹ. (N.D.)
     
    chichi.myluckycharm thích bài này.
  5. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Chương 3

    Sáng thứ Ba, chúng tôi ngồi trong sân trước xưởng ăn điểm tâm. Chiếc Cadillac đã sửa xong. Lenz cầm trong tay một tờ giấy và nhìn chúng tôi vẻ hí hửng. Là trùm quảng cáo của chúng tôi, Lenz vừa đọc cho Koster và tôi nghe một lời rao hàng mà cậu ta mới thảo ra để bán chiếc xe. Lời rao mở đầu bằng câu: "Kỳ nghỉ bên bờ biển phương Nam trong một chiếc xe lộng lẫy", một thứ hổ lốn nửa thi ca nửa tụng ca.
    Koster và tôi lặng im một lát. Chúng tôi còn phải tỉnh trí lại sau cái cơn lũ tưởng tượng đầy hoa mỹ ấy. Lenz ngỡ đâu chúng tôi đã bị chinh phục. "Đầy thi hứng, hả?", cậu ta hãnh diện hỏi. "Vào thời đại thực dụng phải biết tỏ ra lãng mạn, đó là mánh khóe. Những sự trái ngược thu hút nhau mà lại".
    "Nhưng không phải vào lúc làm tiền", tôi đáp.
    "Không ai mua động cơ xe hơi để đầu tư, chú em hiểu chưa", Gottfried lên lớp vẻ bài bác. "Người ta mua chúng để mà tiêu tiền; và chính đây là điểm khởi đầu của chủ nghĩa lãng mạn, chí ít cũng dưới con mắt một nhà kinh doanh. Còn đối với phần lớn thiên hạ, thì đó thậm chí là điểm kết thúc của họ. Cậu nghĩ sao, Otto?"
    "Cậu biết không...", Koster thận trọng mở đầu.
    "Dài lời mà làm gì", tôi ngắt lời Otto. "Đó là bài quảng cáo cho một khu nghỉ hoặc một loại kem trang điểm, nhưng không phải cho xe hơi".
    Lenz chực mở miệng.
    "Thong thả đã nào", tôi tiếp. "Hẳn cậu phải cho tụi mình là định kiến, Gottfried ạ. Vì thế mình đề nghị cậu: chúng ta hãy hỏi thử Jupp. Đó là tiếng nói của nhân dân".
    Jupp là người làm công độc nhất của chúng tôi, một thiếu niên mười lăm tuổi, vừa giúp việc vừa học nghề ở xưởng. Chú đảm nhiệm máy bơm xăng, sửa soạn bữa điểm tâm và dọn dẹp buổi chiều. Chú có vóc người nhỏ nhắn, gương mặt đầy tàn nhang, và đôi tai vểnh nhất mà tôi từng biết. Koster nói rằng ngộ Jupp có rơi khỏi máy bay thì chú cũng chẳng việc gì. Với đôi tai ấy chú sẽ hạ xuống đất êm ru.
    Chúng tôi gọi chú lại gần. Lenz đọc chú nghe bài quảng cáo. "Mày sẽ quan tâm đến một chiếc xe như vậy chứ, Jupp?" Koster hỏi.
    "Một chiếc xe ư?" Jupp hỏi lại.
    Tôi cười. "Tất nhiên là một chiếc xe". Gottfried càu nhàu. "Dễ mày tưởng một con cào cào chắc?"
    "Nó có trục cam điều khiển từ trên, và phanh thủy lực không đã?", Jupp vẫn thản nhiên hỏi.
    "Ngu như bò, nó chính là chiếc Cadillac của bọn tao", Lenz gầm lên.
    "Vô lý" Jupp cười, miệng ngoác đến tận mang tai.
    "Thấy chưa, Gottfried!" Koster nói, "chủ nghĩa lãng mạn thời nay là thế đấy".
    "Xéo về máy bơm của mày đi, Jupp, thứ con đẻ chết tiệt của thế kỷ hai mươi".
    Lenz bất mãn biến vào cái văn phòng khổ để thêm vào bài quảng cáo chút nội dung kỹ thuật mà vẫn giữ được nguyên vẹn thi tứ của nó.
    Vài phút sau, chánh thanh tra Barsig đột ngột xuất hiện ở cổng sân. Chúng tôi tiếp đón ông đặc biệt trân trọng. Ông là kỹ sư và giám định viên của công ty bảo hiểm xe hơi "Phượng Hoàng", một nhân vật quan trọng có thể đưa lại cho chúng tôi nhiều mối sửa xe. Chúng tôi hết sức ăn ý với ông. Là kỹ sư, ông sắc sảo như quỷ Satăng, không để lọt một chút gì thật đấy, nhưng là chuyên gia sưu tầm bươm bướm thì ông lại mềm như bún. Ông có một bộ sưu tập lớn, và lần nọ chúng tôi đã đem tặng ông một con bướm to bự lạc vào xưởng chúng tôi hồi đêm. Barsig tái mặt đi và trịnh trọng hẳn lên khi chúng tôi trao con bướm cho ông. Đó là con bưóm Đầu Lâu, một loài cực hiếm mà bộ sưu tập của ông còn thiếu. Ông không bao giờ quên ơn chúng tôi, và kể từ đấy, hễ ở đâu có xe hỏng ông lại mách cho chúng tôi. Để bù lại, gặp con bướm nào chúng tôi cũng bắt đem nộp ông. "Làm một ly vermouth nhé, ông Barsig?", Lenz mời, đã tươi tỉnh trở lại. "Không uống rượu chừng nào chưa tối", Barsig đáp. "Đó là nguyên tắc triệt để của tôi".
    "Cũng phải phá vỡ những nguyên tắc, nếu không chúng đâu đưa lại niềm vui", Gottfried miệng nói tay rót rượu ra ly. "Chúc cho tương lai của loài bướm đêm xám đỏ, loài bướm ngày óng ánh xà cừ và loài bướm sắc đuôi công!"
    Bardich do dự giây lát. "Anh đã có lòng với tôi như vậy, tôi đâu thể từ chối", ông nói và cầm ly rượu. "Nhưng rồi ta sẽ cụng ly mừng những con bướm mắt bò nhỏ xinh nữa". Ông mỉm cười ngượng nghịu tuồng như ông hé ra ít nhiều ngụ ý về một người đàn bà, cốt để mua vui. "Tôi vừa phát hiện được một loài bướm mới. Với những chiếc vòi lông".
    "Trời đất!", Lenz thốt lên, "hết lòng bái phục ông! Vậy ra ông là một nhà tiên phong, và tên tuổi của ông sẽ đi vào lịch sử tự nhiên!".
    Cả bọn cạn một ly nữa mừng những chiếc vòi lông. Barsig quệt ria mép. "Tôi mang tin mừng lại cho mấy anh. Các anh có thể lấy chiếc xe Ford về. Ban giám đốc đã chấp thuận để các anh sửa".
    "Tuyệt", Koster nói. "Nó sẽ có ích cho chúng tôi. Còn phần dự trù mà chúng tôi đã nêu thì sao?"
    "Cũng chấp thuận".
    "Không bớt?"
    Barsig nháy mắt. "Thoạt đầu mấy ông còn chưa chịu. Nhưng rốt cuộc..." "Một ly đầy mừng công ty bảo hiểm Phượng Hoàng!", Lenz nói và lại rót rượu.
    Barsig đứng lên cáo từ. "Các anh hình dung được không", ông nói khi đã cất bước, "cái bà cùng ngồi trong chiếc Ford thế mà đã chết cách đây mấy ngày. Bà ta chỉ bị cứa rách da thịt. Hình như mất quá nhiều máu".
    "Bà ta bao nhiêu tuổi?" Koster hỏi.
    "Ba mươi tư", Barsig đáp. "Có mang bốn tháng. Bảo hiểm hai vạn mác".
    Chúng tôi lập tức phóng đi lấy chiếc xe về. Chủ nhân là một chủ hiệu bánh. Đêm nọ, ngà ngà say, lão đã lái xe đâm xầm vào một bức tường. Chỉ vợ lão bị thương, còn bản thân lão chỉ bị xây xước qua gọi là.
    Trong lúc móc chiếc xe để kéo đi, chúng tôi gặp lão trong gara. Lão lặng lẽ quan sát chúng tôi hồi lâu, co ro với tấm lưng mập ú và cái cổ ngắn, đầu hơi chúi về phía trước. Với sắc mặt bệnh tật, mai mái như thảy các thợ làm bánh, trong bóng tối mờ mờ trông lão chẳng khác gì một con sâu bột kếch xù, ủ ê. Lão chậm chạp tiến lại gần chúng tôi.
    "Bao giờ thì xe sửa xong?", lão hỏi.
    "Quãng ba tuần", Koster đáp.
    Lão trỏ vào mui xe. "Kể cả cái này, phải vậy không?"
    "Sao kia?" Otto hỏi. "Nó còn nguyên vẹn mà".
    Lão chủ hiệu bánh phác một cử chỉ nóng nảy. "Tất nhiên rồi. Nhưng tiện thể thêm một cái mui mới vẫn hơn chứ. Đây quả là một món khá bở cho các anh mà. Chúng mình thông cảm lẫn nhau, hả?".
    "Không được", Koster đáp.
    Cậu ta biết tỏng bụng dạ lão già. Lão muốn ăn không một cái mui mới mà lẽ ra hãng bảo hiểm không phải chịu bằng cách nhập nhằng vào khoản sửa xe. Hai bên cãi vã một hồi. Lão già dọa hủy bỏ hợp đồng, dọa nhờ một xưởng xe biết điều hơn tính lại giá thành. Rốt cuộc Koster đành nhượng bộ. Giá như chúng tôi không cần việc làm thì đời nào cậu ta chịu.
    "Thấy chưa, sao không bằng lòng ngay cho rồi", lão chủ hiệu bánh nói với nụ cười nhếch mép. "Mấy ngày tới tôi sẽ đến để lựa chất liệu. Mầu be tôi nghĩ vậy. Những màu dịu ấy".
    Chúng tôi kéo chiếc xe đi. Ra ngoài rồi, Lenz chỉ vào nệm chiếc Ford. Trên đó loang lổ những vết đen lớn. "Máu bà vợ vừa chết của lão. Lại còn nì nèo cho được một cái mui lớn. Màu be. Những màu dịu. Phục thật. Mình tin rằng lão dám vòi số tiền bảo hiểm cho cả hai mạng người lắm. Vợ lão đang có mang mà lại".
    Koster nhún vai. "Có lẽ lão tự nhủ hai chuyện chẳng liên quan gì với nhau".
    "Dám lắm", Lenz nói. "Thì cũng có những kẻ xem luôn đó là cái may trong cái rủi của họ. Còn bọn mình thì vì thế thiệt béng năm chục mác tiền lời".
    Buổi chiều, tôi viện cớ có việc phải về nhà. Tôi hẹn gặp Patrice Hollmann vào lúc năm giờ, nhưng không hé chút gì ở xưởng. Không phải vì tôi muốn giấu diếm; nhưng tôi bỗng cảm thấy khó lòng tin nổi chuyện ấy. Nàng hẹn gặp tôi tại một tiệm cà phê. Tôi chưa hề đến tiệm này; chỉ biết đó là một tiệm nhỏ và lịch sự. Hoàn toàn mù mịt, tôi tới nơi hẹn. Nhưng vừa bước chân vào, tôi đã hốt hoảng giật lùi. Căn phòng rặt bọn đàn bà mồm mép liến thoắng. Tôi đã sa vào một tiệm bánh ngọt điển hình dành cho các bà. Phải gắng lắm tôi mới chộp nổi một bàn vừa được bỏ trống. Tôi khó chịu nhìn quanh. Ngoài tôi ra, trong tiệm chỉ có hai người đàn ông, cả hai trông đều dễ ghét.
    "Cà phê, trà, hay sô-cô-la?", gã bồi vừa hỏi vừa dùng khăn phủi vô số vụn bánh trên mặt bàn vào quần áo tôi.
    "Cho một ly lớn cognac", tôi đáp.
    Gã ta mang ly rượu lại. Nhưng đồng thời gã kéo theo một nhóm khách quen đang tìm chỗ, cầm đầu là một bà hộ pháp đã đứng tuổi đội mũ lông đà điểu.
    "Bốn chỗ, xin mời!", gã nói, tay chỉ vào bàn tôi ngồi.
    "Khoan", tôi đáp, "bàn này không trống. Tôi chờ một người mà".
    "Không được đâu, thưa ông", gã bồi nói. "Vào giờ này không có chỗ nào được dành trước cả".
    Tôi nhìn gã. Đoạn tôi nhìn cái bà hộ pháp lúc này đã đứng sát bàn tay nắm chặt thành ghế. Tôi ngó mặt bà ta và từ bỏ mọi ý định chống cự. Có dùng đến cả đại bác cũng không hòng lay chuyển quyết tâm của con người này, ấy là chiếm cho được bàn của tôi.
    "Ít nhất anh cũng có thể đem thêm cho tôi một ly cognac chứ?", tôi gắt gã bồi.
    "Được ạ, thưa ông. Lại một ly lớn ạ"?
    "Phải".
    "Xin có ngay!", gã cúi mình. "Đây là bàn dành cho những sáu người cơ đấy, thưa ông", gã nói vẻ xin lỗi.
    Cái bà hộ pháp hình như cũng tham gia hội bài rượu. Bà ta nhìn chằm chằm vào ly rượu mạnh của tôi, cứ như nó là một con cá ươn không bằng. Để chọc tức bà ta, tôi gọi thêm một ly nữa và giương mắt ngó trả. Bỗng tôi cảm thấy toàn bộ những việc mình sắp làm thật nực cười. Tôi muốn gì ở đây? Và tôi muốn gì ở cô gái? Thậm chí tôi không hề biết liệu mình có nhận nổi nàng giữa đám người hỗn độn và ồn ào này hay không. Tôi bực mình uống ực một hơi hết ly cognac.
    "Xin chào!" Có ai nói sau lưng tôi.
    Tôi đứng phắt dậy. Nàng đứng đó, và cười. "Anh bắt đầu kịp thời đấy nhỉ!" Tôi đặt chiếc ly mà tôi vẫn cầm trên tay xuống mặt bàn và bỗng nhiên luống cuống. Trông cô gái hoàn toàn khác với hình ảnh tôi lưu trong trí nhớ. Giữa cái đám đàn bà phốp pháp đang nhồm nhoàm bánh ngọt kia, nàng như một nữ kỵ sĩ trẻ trung, thanh mảnh, điềm tĩnh, tự tin đến rạng rỡ và xa vời. "Giữa nàng và ta không bao giờ nên chuyện gì được", tôi tự nhủ và hỏi nàng: "Cô vào lối nào mà như ma hiện vậy? Nãy giờ tôi không rời mắt khỏi cửa mà".
    Nàng chỉ sang phải. "Ở đằng ấy có một lối vào. Nhưng tôi đến muộn, anh chờ có lâu không?"
    "Lâu gì đâu. Hai, ba phút là cùng. Tôi cũng vừa đến tức thì".
    Đám các bà ngồi cùng bàn lặng hẳn đi. Tôi cảm thấy sau gáy ánh mắt khinh thị của bốn bà mẹ khôn ngoan.
    "Chúng ta định ngồi lại đây chăng?", tôi hỏi.
    Cô gái lướt mắt nhìn nhanh chiếc bàn. Nàng khẽ nhếch miệng. Nàng tinh nghịch nhìn tôi. "Tôi e rằng ở tiệm cà phê nào cũng thế cả thôi".
    Tôi lắc đầu. "Miễn vắng hơn. Tiệm này là cái tổ quỷ, ngồi đây đâm mặc cảm đầy người. Tốt nhất chúng ta hãy tới một quán rượu".
    "Quán rượu ấy à? Có những quán rượu mở cửa giữa ban ngày ban mặt sao?".
    "Tôi biết một quán", tôi nói. "Tất nhiên ở đây rất yên tĩnh. Nếu như cô muốn...".
    "Ừ thì, cũng có lúc...".
    Tôi ngước nhìn. Trong khoảnh khắc tôi không hiểu nổi ý nàng. Tôi chẳng hề phản đối sự mai mỉa, với điều kiện nó không chĩa vào tôi; nhưng lương tâm tôi áy náy.
    "Nào ta đi", nàng nói.
    Tôi vẫy gã bồi. "Ba ly lớn cognac", gã trai bất hạnh gầm gừ với cái giọng như thể gã muốn thanh toán với một khách hàng ở dưới mồ. "Ba mác ba mươi xu!"
    Cô gái quay lại. "Ba ly cognac trong ba phút sao? Một tốc độ mới tuyệt chứ!"
    "Trong đó có hai ly từ hôm qua kia".
    "Rõ đồ dối trá". Bà hộ pháp ngồi bên bàn rít lên sau lưng tôi. Bà nín lặng như thể là quá lắm rồi.
    Tôi quay lại cúi mình. "Chúc một lễ giảng sinh vui vẻ, thưa các quý bà!". Rồi nhanh chóng bỏ đi.
    "Anh vừa cãi nhau với họ đấy à?", cô gái hỏi khi chúng tôi ra đến ngoài đường.
    "Chẳng có gì đặc biệt. Tôi chỉ không được lòng mấy bà nội trợ trong các gia đình nề nếp".
    "Tôi cũng vậy", nàng đáp.
    Tôi nhìn nàng. Với tôi, nàng như xuất hiện từ một thế giới khác. Tôi tuyệt đối không hình dung nổi nàng là ai và sống ra sao.
    Quán rượu là mảnh đất vững chắc của tôi. Fred, gã bồi rượu, đứng sau quầy và đang lau chùi những chiếc ly lớn dành cho cognac khi chúng tôi bước vào. Gã chào tôi như thể trông thấy tôi lần này là lần đầu, như thể trước đây mới hai hôm chẳng phải chính gã đã phải dìu tôi về nhà. Gã từng trải nhiều, rất lịch lãm và đầy kinh nghiệm.
    Quán rượu gần như trống trơn trừ một bàn. Hầu như bao giờ cũng vậy. Valentin Hauser ngồi đó. Tôi biết anh từ thời chiến tranh; chúng tôi ở cùng đại đội. Một lần, anh ta băng qua hàng rào trọng pháo mang lên tuyến trước cho tôi một phong thư mà anh tưởng của mẹ tôi gửi. Anh biết tôi mong tin mẹ vì bà vừa mổ xong. Nhưng anh đã lầm... đó chỉ là một tờ quảng cáo mũ bảo vệ bằng vải gai. Trên đường trở lại, anh bị một viên đạn găm vào đùi.
    Sau chiến tranh ít lâu, Valentin được thừa hưởng một gia tài. Kể từ đó anh dốc nó vào rượu. Anh khẳng định phải uống mừng vì đã may mắn sống sót. Dẫu đã bao năm trôi qua cũng thế thôi. Anh lý giải rằng con người ta uống không biết thế nào là đủ để mừng cho đáng cái vận may ấy. Anh là một trong những người đeo đẳng một ký ức ghê sợ về chiến tranh. Chúng tôi, những kẻ khác, đã quên nhiều điều, nhưng anh thì anh nhớ như in từng ngày từng giờ.
    Tôi thấy anh đã nốc khá nhiều rượu. Anh ngồi rũ gục và đờ đẫn trong cái xó của anh. Tôi giơ tay lên "Chào cậu, Valentin!"
    Anh ngước nhìn và gật đầu. "Chào cậu, Robby!"
    Chúng tôi ngồi vào một góc. Gã bồi rượu đến bên. "Cô muốn dùng gì?", tôi hỏi cô gái.
    "Có lẽ một ly Martini", nàng đáp. "Một ly Martini chua".
    "Về khoản này thì Fred rất nghệ".
    Fred cho phép mình mỉm một nụ cười. "Cho tôi như thương lệ", tôi nói. Trong tiệm mát mẻ, mờ mờ tối. Nồng nặc mùi rượu gin và cognac bị tràn ra. Hương thơm thoang thoảng như hương đỗ tùng và bánh mì. Trên trần treo lủng lẳng một chiếc tàu buồm nhỏ bằng gỗ. Phần tường phía sau quầy ốp đồng. Ánh sáng dịu của một ngọn đèn hắt ra những tia sáng đỏ, như thể đang phản chiếu một ngọn lửa ngầm dưới lòng đất. Trong số trụ đèn nhỏ rèn bằng sắt gắn trên tường chỉ cháy sáng có hai, một chỗ Valentin ngồi, một chỗ chúng tôi. Những cái chụp đèn được làm bằng giấy da thuộc vàng khè cắt ra từ một tấm bản đồ cũ kỹ trông chẳng khác gì những mảnh địa cầu bé xíu tỏa sáng.
    Tôi hơi bối rối, không biết nên bắt chuyện cách nào. Có thể nói tôi hầu như không quen biết cô gái, và càng nhìn nàng lâu bao nhiêu, tôi càng cảm giác nàng, xa lạ với mình bấy nhiêu. Đã lâu lắm tôi không ngồi với ai như thế này; tôi đã mất thói quen ấy. Tôi thạo chuyện trò với cánh đàn ông hơn. Ban nãy ở tiệm cà phê tôi thấy quá ồn ào, còn lúc này, với tôi quán rượu thốt nhiên lại quá im ắng. Im ắng tới mức mỗi lời đều hóa ra quan trọng, khiến khó mà nói năng được tự nhiên. Tôi hầu như ước ao được trở lại tiệm cà phê.
    Fred mang rượu ra. Chúng tôi uống. Rượu rum mạnh và thơm mát, mang hương vị mặt trời. Đây là thứ có thể uống không sợ say. Tôi uống cạn và trao ngay chiếc ly cho Fred.
    "Cô thích quán này chứ?", tôi hỏi.
    Cô gái gật đầu.
    "Thích hơn tiệm bánh ngọt đằng kia chứ?"
    "Tôi căm ghét các tiệm bánh ngọt", nàng đáp.
    "Thế tại sao cô lại chọn chính nơi đó làm chỗ hẹn", tôi sửng sốt hỏi.
    "Tôi chẳng biết nữa". Nàng bỏ mũ xuống. "Chỉ vì tôi không nảy ra được địa điểm nào khác".
    "Như vậy việc cô thích nơi đây lại càng hay. Chúng tôi thường lui tới quán này. Tối tối chúng tôi xem đây gần như nhà mình".
    Nàng cười. "Điều đó thật ra không đáng buồn sao?"
    "Không", tôi nói, "nó thích hợp với thời buổi này".
    Fred mang cho tôi ly thứ hai. Gã đặt thêm một chai Havanna màu xanh lá cây lên bàn. "Của ông Hauser gửi anh".
    Từ cái xó của anh, Valentin vẫy sang và nâng ly "31 tháng bảy năm 17, Robby!", anh gọi, giọng nặng nề.
    Tôi gật đầu với anh và cũng nâng ly.
    Lúc nào anh cũng phải uống vì cái gì mới xong; tôi từng bắt gặp anh tối tối uống trong một quán dân quê, khi mừng vầng trăng, lúc lại mừng một bụi tử đinh hương. Rồi anh nhớ tới cái ngày anh chui ra khỏi hầm trú ẩn, nơi chiến trận diễn ra đặc biệt khốc liệt, và lại tạ ơn số phận đã cho mình sống sót và còn được ngồi đây.
    "Bạn tôi đấy", tôi bảo cô gái. "Một đồng đội thời chiến tranh. Anh ta là người duy nhất tôi biết đã lẩy ra từ một tai họa khổng lồ chút may mắn cỏn con. Anh ta không còn biết bắt đầu ra sao với cuộc đời mình... bởi vậy anh ta sung sướng chỉ vì mình còn sống".
    Nàng trầm ngâm nhìn tôi. Một tia sáng rọi chếch xuống trán và miệng nàng. "Tôi có thể hiểu được lắm".
    Tôi ngước nhìn. "Nhưng xin cô chớ hiểu làm gì. Cô còn quá trẻ để hiểu điều đó".
    Nàng mỉm cười. Một nụ cười nhẹ, thoảng qua, chỉ hiện trên khóe mắt. Gương mặt nàng hầu như không thay đổi, nó chỉ sáng lên, sáng từ bên trong. "Quá trẻ ư", nàng nói, "đó chỉ là một từ ngữ vậy thôi. Theo tôi con người ta không bao giờ quá trẻ cả. Chỉ luôn luôn quá già".
    Tôi im lặng một khoảnh khắc. "Để bác lại điều cô nói, có thể viện ra vô số lý lẽ", sau đó tôi đáp và ra hiệu Fred mang thêm chút gì cho tôi. Cô gái mới tự tin và thoải mái làm sao; còn tôi, trái lại, cảm thấy mình cứng vụng như thanh gỗ. Tôi những muốn đưa đẩy một cuộc chuyện trò nhẹ nhàng, vui nhộn, một cuộc chuyện trò thực sự, để sau đó, như thông thường, khi còn lại một mình người ta còn nhớ đến nó. Lenz có cái tài đó, nhưng với tôi thì câu chuyên bao giờ cũng xoay ra vụng về, nặng nề. Lenz không phải là không có lý khi khẳng định rằng về tài nói chuyện, tôi chỉ đáng đánh đổ đồng với một thằng thư ký bưu điện.
    May mà Fred biết điều. Thay vì mang cho tôi cái ly bé xíu như cái đế khâu, gã bưng ngay đến một cốc vang rõ lịch sự, đầy phè. Như vậy gã đỡ mất công chạy đi chạy lại, mà người ta lại không thể biết tôi nốc bao nhiêu. Tôi phải uống; tôi chẳng còn cách nào khác khả dĩ thoát khỏi tình trạng nặng nề trì đọng này.
    "Cô dùng thêm một ly Martini nữa nhé?" Tôi hỏi cô gái.
    "Anh đang uống gì vậy?"
    "Rum đây".
    Nàng ngắm ly rượu của tôi. "Anh vừa mới uống thứ đó xong kia mà!" "Phải", tôi đáp, "tôi nghiện thứ này nhất".
    Nàng lắc đầu: "Tôi không hình dung nổi là nó lại ngon".
    "Tôi hoàn toàn không biết nó có ngon hay không nữa".
    Nàng nhìn tôi. "Thế tại sao anh lại uống?"
    "Rum ấy à", tôi nói, phấn khởi vì đã vớ được một đề tài khả dĩ tán được ít nhiều. "Rum không liên quan gì lắm đến sự ngon miệng. Nó không đơn giản là một thứ đồ uống... mà đúng hơn là một người bạn. Một người bạn làm vợi đi mọi điều. Thay đổi cả thế gian. Và vì thế mà người ta uống..." Tôi đẩy chiếc ly sang bên.
    "Nhưng để tôi gọi thêm cho cô một ly Martini nữa nhé?"
    "Một ly rum thì hơn. Tôi cũng muốn nếm thử xem sao".
    "Hay lắm", tôi đáp, "nhưng đừng uống loại này. Nó quá nặng với những ai mới thử lần đầu. Cho một chai cocktail Bacardi đây", tôi gọi với sang Fred. Fred mang ly lại. Gã còn bưng ra thêm một bát hạnh nhân muối và hạt cà phê rang. "Để luôn cả chai đây cho tôi", tôi bảo gã.
    Dần dà câu chuyên trở nên trôi chảy và khéo léo. Nỗi hoài nghi biến mất, những lời lẽ tự tìm đến, và tôi cũng chẳng còn chú ý mình nói gì. Tôi tiếp tục uống, cảm thấy những làn sóng lớn êm ái xô tới trùm lên người, cảm thấy cái giờ khắc trống rỗng của hoàng hôn đang tự lấp đầy bằng những hình ảnh, và các giấc mơ lặng lẽ nối đuôi nhau tái hiện một cách phi thường trên những vùng u ám và hờ hững của sự sống. Những bức tường quán vươn dài ra, và nơi đây bỗng nhiên không còn là quán rượu nữa... mà là một xó xỉnh của thế giới, một góc nương thân, một gian hầm trú ẩn tối mờ bị vây giữa chiến trận hỗn mang muôn đời khốc liệt, trong đó chúng tôi ngồi náu mình và được xô đẩy đến gần nhau một cách khó hiểu xuyên qua bóng tối nhờ nhờ của thời gian. Cô gái thu mình trên ghế, xa lạ và bí ẩn, cứ như từ bờ bên kia của cuộc sống trôi giạt lại. Tôi nghe mình nói, nhưng tuồng như không phải tôi là một kẻ khác đang nói, có lẽ tôi đã từng mong ước được như gã. Những lời lẽ không còn đúng nữa, chúng biến đổi, xô đẩy nhau vào những lĩnh vực khác hơn, nhiều màu sắc hơn là bản thân chúng khi phản ánh lại những biến cố nhỏ nhặt của đời tôi... tôi biết chúng không còn trung thành với sự thật, rằng chúng trở nên khoác lác và dối trá, nhưng, thây kệ... sự thật bi đát và nhạt nhẽo, chỉ tình cảm và ánh phản chiếu những ước mơ mới là cuộc sống...
    Ánh đèn lấp lánh trong bồn rửa bằng đồng của quán rượu. Thỉnh thoảng Valentin lại nâng ly và lầm bầm một ngày tháng nào đó. Ngoài kia, dòng người và xe cộ cuồn cuộn xuôi ngược trong tiếng còi xe hơi ầm ĩ tựa tiếng kêu của loài ác điểu. Hễ có ai mở cửa tiệm phố xá lại chõ vào chỗ chúng tôi mà rít róng. Rít róng như một mụ già độc mồm độc miệng khỏe đố kỵ. Khi tôi tiễn Patrice Hollmann về nhà, trời đã tối. Chậm rãi, tôi quay trở lại. Chợt tôi cảm thấy cô đơn và trống rỗng. Mưa lâm thâm. Tôi dừng chân trước một ô kính nhà hàng. Lúc này tôi nhận thấy mình đã uống quá nhiều. Không, tôi không lảo đảo... nhưng dầu sao tôi vẫn nhận rõ là mình trót quá chén.
    Đột nhiên tôi nóng ran cả người. Tôi cởi cúc áo măng-tô, hai mũ ra sau. Mẹ kiếp, một lần nữa tôi lại bị bắt quả tang! Vừa rồi tôi đã lảm nhảm những gì vậy? Tôi không dám ngẫm lại cho chính xác. Mà tôi cũng chẳng còn nhớ tí gì, đó là điều tệ nhất. Một mình nơi đây, trên đường phố lạnh lẽo rầm rầm tiếng xe buýt, dưới con mắt tôi, mọi sự hoàn toàn khác trong cảnh mờ tối nơi tiệm rượu. Tôi thầm rủa mình. Cô gái hẳn có một ấn tượng rõ đẹp về tôi! Chắc chắn nàng đã để ý. Bản thân nàng hầu như có uống gì đâu. Khi chia tay, nàng chẳng nhìn tôi một cách lạ lùng là gì.
    Chúa ơi! Tôi quay lại, và đụng ngay phải một lão thấp béo. "Rõ thật", tôi giận dữ nói.
    "Mở to mắt ra mà nhìn, đồ chổi cùn!", lão béo rủa.
    Tôi nhìn lão trân trân.
    "Không mấy khi được thấy người hay sao, hả", lão tiếp tục sủa nhặng lên. Lão nói vừa trúng ý tôi. "Người thì có", tôi nói, "nhưng những thùng bia đi tản bộ thì chưa".
    Lão béo không cần suy nghĩ lấy một giây. Lão dừng ngay lại, phồng mang trợn mắt. "Anh biết tôi khuyên anh gì không?", lão rít lên: "Đi mà vào sở thú! Những con chuột túi mơ mộng không có gì để tìm kiếm trên đường phố cả".
    Tôi hiểu mình đụng phải một tay chửi bới có hạng. Dù chán ngán đến đâu cũng phải bảo tồn danh dự thôi.
    "Xéo đường nào thì xéo, cái ngữ đẻ non thần kinh chập!", tôi nói và giơ cao bàn tay như để ban phước.
    Lão chẳng thèm đếm xỉa đến lời tôi đe. "Về xịt bê-tông vào sọ mày ấy, đồ óc chó khô!", lão chửi.
    Tôi chửi giả, gọi lão là quân chân bẹt đồi trụy, lão rủa tôi là đồ vẹt Kakađu đang kỳ thay lông; tôi rủa lão quân rửa xác chết thất nghiệp. Đáp lại, trong lòng đã hơi kính nể, lão mệnh danh tôi là đồ đầu bò ung thư. Để kết thúc, tôi tặng lão cái tên nghĩa trang bít-tết, lưu động. Gương mặt lão đột nhiên rạng rỡ "Nghĩa trang bít-tết, hay!", lão nói. "Đây chưa biết từ này. Sẽ được ghi vào cẩm nang! Hẹn gặp lại..." lão huơ huơ chiếc mũ và chúng tôi chia tay nhau, người nọ phục người kia sát đất.
    Cuộc đọ tài đã giải nhiệt cho tôi. Nhưng nỗi tức giận vẫn còn. Thậm chí nó càng tăng lên khi tôi tỉnh táo hơn. Tôi cảm giác mình như chiếc khăn tay sũng nước bị vắt kiệt. Nhưng dần dà, tôi không chỉ còn tức giận mình... tôi tức giận với hết thảy... kể cả cô gái. Cô ta chính là nguyên cớ khiến tôi say. Tôi dựng cổ áo lên. Thôi thây kệ, cô ta muốn nghĩ sao thì nghĩ... chí ít cô ta cũng được biết ngay từ đầu là cô ta đánh bạn với hạng người nào. Cầu cho quỷ tha ma bắt cả câu chuyện vừa rồi đi... cái gì đã xảy ra là đã xảy ra, không hòng cứu vãn được nữa. Có lẽ như thế mà lại hay cơ đấy... Tôi trở lại quán rượu và bây giờ mới thật sự nốc đến say bí tỉ.
     
    chichi.myluckycharm thích bài này.
  6. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Chương 4

    Tiết trời trở nên ấm và ẩm ướt, mưa tầm tã mấy ngày ròng. Rồi trời quang mây tạnh, bắt đầu hửng nắng. Sáng thứ Sáu, bước chân đến xưởng tôi thấy Matilda Stoss đang đứng ngoài sân, chổi cắp dưới nách, bộ mặt hà mã của mụ ra chiều xúc động.
    "Cậu xem kìa, cậu Lohkamp, đẹp quá thể! Lần nào cũng như có phép tiên ấy thôi".
    Tôi đứng sững bàng hoàng. Cây mận già bên máy bơm xăng qua một đêm đã rộ hoa.
    Suốt mùa đông, nó đứng đó cong queo và trơ trụi, chúng tôi đã ngoắc lên nó các lốp xe cũ, treo biđông đựng dầu lên cành cho ráo, nó không được xem là gì khác ngoài một cái giá treo tiện lợi cho tất tật mọi thứ: từ chiếc giẻ lau cho tới vỏ động cơ... mới trước đây ít ngày, trên cây còn phấp phới đám quần vải gai tím than vừa giặt của cả bọn, hôm qua đây thôi còn chưa ai thèm để mắt đến nó... thế mà bây giờ, bỗng chốc qua một đêm, nó đã biến đổi như có phép mầu, hóa thân thành một đám mây sắc trắng xen hồng, một đám mây hoa bừng sáng, tuồng như một đàn bươm bướm vừa lạc vào cái sân bẩn thỉu của chúng tôi.
    "Mà ôi chao là thơm", Matilda say sưa nói, mắt đảo lia lịa, "thơm tuyệt... đúng như mùi rum của cậu..."
    Tôi chẳng ngửi thấy gì cả. Nhưng tôi lập tức hiểu ra. "Thơm mùi cognac dành thết khách hàng thì đúng hơn", tôi quả quyết.
    Mụ kịch liệt phản đối. "Cậu Lohkamp, cậu cảm lạnh mất rồi. Chưa chừng cậu cũng bị mọc u thịt trong mũi. Thời nay không mấy ai là không có u cả. Không, mụ Stoss già lão này mũi thính như chó săn ấy chứ, cậu cứ tin đi, đúng mùi rum mà... rum lâu năm.."
    "Được rồi, Matilda..."
    Tôi rót cho mụ một ly rum rồi lại bên máy bơm xăng. Jupp ngồi đó. Chú đã có trước mặt một lô nhành hoa mới cắt cắm trong hộp sắt gỉ. "Thế này là nghĩa làm sao?", tôi ngạc nhiên hỏi.
    "Dành cho các bà khác", Jupp giải thích. "Bà nào đến đổ xăng tôi đều biếu không một nhành. Nhờ thế tôi đã bán được nhiều hơn mọi ngày chín chục lít. Cây này đáng giá ngàn vàng đó cậu Lohkamp ạ. Giả thử không có nó, khéo xưởng ta đến phải tự tạo một cây khác in hệt nó mất thôi".
    "May là một thằng choai giỏi buôn bán đấy!"
    Chú cười ngoác miệng. Ánh nắng xuyên qua, khiến hai cái tai vểnh của chú trông như những ô cửa sổ nhà thờ màu hồng ngọc. "Tôi cũng từng được chụp ảnh tận hai lần", chú phô. "Đứng trước cái cây nhá!"
    "Nghe đây, mày sẽ còn trở thành ngôi sao màn bạc cơ đấy", tôi nói, rồi đi sang chỗ cái hố, nơi Lenz vừa chui lên khỏi gầm chiếc Ford.
    "Robby này", cậu ta nói, "mình vừa sực nhớ ra. Tụi mình phải để tâm tới con bé của thằng cha Binding mới được".
    Tôi đăm đăm nhìn cậu ta. "Cậu muốn nói gì kia?"
    "Thì đúng như mình vừa nói đấy. Nhưng cậu nhìn cái gì mà cứ chòng chọc thế?"
    "Mình không nhìn chòng chọc...".
    "Thậm chí mắt còn ngây dại ra. Cô gái tên là gì ấy nhỉ? Pat, nhưng còn họ?"
    "Mình không biết", tôi đáp.
    Cậu ta đứng lên. "Cậu mà không biết? Cậu đã ghi địa chỉ của cô ta kia mà. Chính mình trông thấy hẳn hoi".
    "Mình đánh mất mảnh giấy rồi".
    "Đánh mất!" Cậu ta đưa cả hai tay lên vò mớ tóc rậm vàng rơm. "Mình đã nhọc công với thằng cha Binding cả tiếng đồng hồ ở ngoài trời để như thế này đấy hẳn! Đánh mất! Xem nào, không chừng Otto nó lại biết ấy chứ". "Otto cũng chẳng biết đâu".
    Lenz nhìn tôi. "Đồ tài tử vứt đi! Còn tồi tệ hơn thế nữa! Cậu không biết rằng đó là một cô gái tuyệt vời hay sao? Lạy Chúa!" Cậu ta ngước mắt trông trời. "Rốt cuộc bọn mình đã gặp được của báu nhường ấy, thế mà cái đồ bù loong rầu rĩ này lại đánh mất địa chỉ!"
    "Mình hoàn toàn chẳng thấy cô ta có gì ghê gớm đến thế".
    "Vì cậu là một con lừa", Lenz đáp, "một thằng mặt nạc không biết chút gì vượt quá trình độ của lũ điếm ở tiệm Quốc Tế. Chính cậu ấy, ông nhạc công dương cầm ạ! Mình nhắc lần nữa cho mà biết: đó là một dịp may, dịp may hiếm có, cái cô thiếu nữ đó! Dĩ nhiên cậu thì biết cái cóc khô gì về chuyện này! Cậu có ngắm kỹ cặp mắt của nàng không nào? Dĩ nhiên không... cậu chỉ chiêm ngưỡng độc ly rượu của cậu thôi".
    "Câm mồm đi!" Tôi ngắt lời Lenz, khi nhắc tới ly rượu cậu ta đã vô tình khơi sâu vết thương còn há miệng.
    "Và đôi tay nàng", cậu ta tiếp tục, chẳng thèm đếm xỉa đến tôi, "đôi tay thon, dài như của một cô con lai da màu, cái này thì Gottfried khá sành, cậu có thể tin được. Đấng Moses[6] thiêng liêng! Rốt cuộc gặp được một cô gái đáng giá: xinh đẹp, tự nhiên và đây mới là điểm quan trọng bậc nhất, nàng gây được bầu không khí..." cậu ta ngừng lời... "cậu có hiểu thế nào là bầu không khí không đã?"
    "Là hơi vẫn bơm vào lốp xe", tôi gắt gỏng.
    "Biết ngay mà", cậu ta dai giọng vẻ thương hại và đầy khinh bỉ, "hơi, sao không biết! Không khí hào quang, sự tỏa sáng, ấm áp và bí ẩn... đó là thứ khiến cho sắc đẹp trở nên có hồn và sống động... nhưng nói mà làm gì... bầu không khí của cậu là hơi rum cơ..."
    "Có câm đi không, tao lại đập vào sọ bây giờ", tôi gầm gừ.
    Nhưng Gottfried vẫn tiếp tục lải nhải và tôi chẳng làm gì cậu ta cả. Cậu ta hoàn toàn không biết những gì đã diễn ra, cũng chẳng ngờ mỗi lời mình nói đều như xát muối vào ruột tôi. Nhất là những lời đả động đến rượu. Tôi đã đào sâu chôn chặt, đã hoàn toàn khuây khỏa; thế mà giờ đây cậu ta lại khơi lên hết. Cậu ta tán tụng cô gái không tiếc lời, và tôi gần như cũng tin mình đã thật sự để buột khỏi tay một cái gì hết sức đặc biệt, không còn mong thấy lại.
    Sáu giờ chiều, tôi đến tiệm cà phê Quốc Tế trong tâm trạng bực bội. Đây là chốn nương thân của tôi: Lenz cũng thừa nhận với tôi như vậy. Khi bước chân vào, tôi ngạc nhiên thấy tiệm có vẻ rộn rã hơn. Trên quầy bày bánh ngọt và những chiếc gatô to bự, anh chàng Alois chân bẹt đang chạy vào phòng trong với một khay đầy bộ uống cà phê kêu lanh canh. Tôi đứng sững. Cà phê đựng trong bình ư? Hẳn ở đây phải có một lũ người say bét nhè đang nằm la liệt dưới gầm bàn.
    Nhưng ông chủ quán giải thích cho tôi. Hôm nay người ta liên hoan chia tay với Lilly, cô bạn gái của Rosa ở phòng trong. Tôi vỗ trán, ừ nhỉ, tôi chả được mời đến dự là gì! Thậm chí tôi còn là người đàn ông độc nhất, như Rosa đã nói đầy ngụ ý... vì kể làm gì cái thằng Kiki đồng tình luyến ái cũng sẽ có mặt. Tôi vội vã quay ra, đi mua một bó hoa, một trái dứa, một cái mõ đồ chơi trẻ con và một thanh sô-cô-la.
    Rosa chào đón tôi với nụ cười của một mệnh phụ. Ả diện áo dài đen khoét rộng cổ và ngự ở đầu bàn. Những chiếc răng vàng của ả lóe sáng. Tôi hỏi thăm con nhóc của ả, gửi ả cầm về cho con bé chiếc mõ bằng nhựa và thanh sô-cô-la. Mặt ả sáng rỡ lên.
    Tôi quay sang trao cho Lilly trái dứa và bó hoa. "Xin chúc cô hạnh phúc!" "Anh ấy bao giờ cũng là một con người hào hoa, phong nhã!", Rosa nói. "Giờ thì lại đây, anh Robby, ngồi giữa hai chúng em đây này".
    Lilly là bạn thân nhất của Rosa. Ả đã qua một thời oanh liệt. Ả từng là nỗi thèm khát không bao giờ đạt được của mỗi ả điếm hạng xoàng: một gái chơi nơi khách sạn. Một gái chơi khách sạn không khi nào đứng đường... ả ở trong khách sạn và tiếp khách cũng tại đó. Hầu hết các ả điếm không làm được như thế... họ không có đủ váy áo và cũng chẳng đủ tiền để có thể chờ đợi lâu lâu mới có khách chơi. Tuy chỉ hành nghề trong những khách sạn tỉnh lẻ, nhưng suốt từng ấy năm, Lilly đã dành dụm ngót nghét bốn ngàn mác. Bây giờ ả muốn lấy chồng. Gã chồng tương lai của ả là chủ một cửa hiệu nhỏ chuyên nhận bắc các loại ống dẫn. Biết tỏng quá khứ của ả, nhưng gã mặc kệ. Trong tương lai gã có thể yên tâm được; điếm mà lấy chồng lại đáng tin cậy. Các ả nếm mùi đời và đã chán ngấy. Các ả sẽ thủy chung.
    Lilly sẽ cưới vào thứ Hai tới. Hôm nay Rosa đãi một tiệc cà phê chia tay cô bạn thân. Các ả đến đông đủ để ngồi với Lilly lần chót. Sau lễ cưới, ả chẳng thể đặt chân đến chốn này.
    Rosa rót cho tôi một tách cà phê. Alois nhón chân đi vào với một chiếc bánh gatô bự có rắc nho khô, hạnh nhân và vỏ chanh xanh tẩm đường. Rosa xắt vào đĩa cho tôi một miếng rõ to. Tôi hiểu mình phải làm gì. Vẻ sành sõi, tôi nếm một miếng và làm bộ mặt sửng sốt cực độ. "Cha mẹ ơi, thứ này chắc chắn không thể mua ở tiệm..."
    "Bánh em tự làm đấy". Rosa sung sướng khoe. Ả là một tay nấu nướng cừ khôi và rất thích được khen. Đặc biệt món thịt kho và bánh gatô ả làm thì đố ai bì kịp. Con gái Bohemia có khác.
    Tôi đưa mắt nhìn quanh. Họ ngồi đó vây quanh bàn, những cô thợ trong vườn nho của Chúa, những kẻ sành người đời nhưng không biết dối lừa, những người lính của tình yêu;... Wally, Người Đẹp, mới đây vừa bị đánh cắp mất con chó trắng trên một chuyến xe đêm... Lina, bất chấp cái chân gỗ vẫn tìm được người tình: Fritzi, ả điếm si mê chàng Alois chân bẹt, dẫu rằng nếu muốn, ả đã có thể sở hữu một căn hộ riêng lẫn tay nhân tình vẫn bao ả;... Margot với đôi má đỏ hây hây bao giờ cũng lượn lờ trong bộ cánh nàng hầu, nhờ đó chuyên vớ được khách sộp;... Marion, cô em trẻ nhất, rạng rỡ và vô tư lự;... Kiki, kẻ không được coi là đàn ông, bởi hắn mặc váy đàn bà và tô son điểm phấn;... Mimi, con vật tội nghiệp, đi đứng lúc nào cùng khó khăn do cái tuổi bốn mươi lăm và chứng giãn tĩnh mạch;... vài cô nàng bán bar và hầu bàn mà tôi không quen;... cuối cùng là Muttchen, khách mời danh dự thứ hai, nhỏ thó, xám xịt, và nhăn nheo như một trái táo héo mùa đông, ai cũng tin cậy mụ, mụ là niềm an ủi, là chỗ dựa của những cô gái ăn sương, Muttchen với cái nồi xúc xích đến từ góc phố Nikolai là quán ăn điểm tâm biết bay, là công sở lưu động về đêm, ngoài những chiếc xúc xích Frankfort con con, mụ con bán vụng thuốc lá, kẹo cao su, và có thể còn bố thí.
    Tôi biết cần xử sự ra sao. Không một lời đả động tới chuyện làm ăn, không một ám chỉ khiếm nhã vào tối nay... quên đi thành tích tuyệt vời của Rosa đã khoác cho ả cái biệt danh "con ngựa sắt", quên đi những dan díu tình ái của Fritzi với lão buôn gia súc Stefan Grigoleit;... quên đi những điệu nhảy uốn éo của Kiki xung quanh giỏ bánh muối vào lúc tảng sáng. Cuộc trò chuyện này chỉ có thể làm danh giá cho đám các bà các cô.
    "Cô chuẩn bị xong cả rồi chứ, Lilly?", tôi hỏi.
    Ả gật đầu. "Em đã có sẵn của hồi môn từ lâu rồi".
    "Món hồi môn tuyệt vời", Rosa nói. "Không thiếu từ cái khăn đăngten trở đi".
    "Người ta cần khăn đăngten để làm gì?", tôi hỏi.
    "Kìa anh Robby!" Rosa nhìn tôi đầy trách móc, khiến tôi vội vã nói rằng tôi nhớ ra rồi. Những cái khăn đăngten... rồi chiếc thuyền buồm nhỏ bằng gỗ, dĩ nhiên rồi, chúng là biểu tượng cho sự phong lưu trưởng giả, biểu tượng thiêng liêng của hôn nhân, của thiên đường đã mất. Phải, tất cả bọn họ đâu có bản tính đĩ điếm, họ là những kẻ thất cơ lỡ vận do cuộc sống tư sản đưa lại. Mơ ước thầm kín của họ là chiếc giường cuối: chứ đầu phải lối sống trác táng. Nhưng họ không đời nào để lộ ra.
    Tôi ngồi vào đàn dương cầm. Rosa chỉ mong có thế. Cũng như thảy các cô gái này, ả yêu âm nhạc.
    Để chia tay, tôi chơi lại một lần nữa tất cả các bài mà Lilly và các cô bạn của ả ưa thích. Mở đầu là bài Lời cầu nguyện của nàng trinh nữ. Tuy cái nhan đề không hoàn toàn thích hợp với bối cảnh nhưng đây cũng chỉ là một khúc hát đòi hỏi kỹ thuật cao, nhiều luyến láy. Tiếp đến bầy chim nhỏ, Ráng hồng trên đỉnh Alpes, Khi tình yêu chết, Bạc triệu của chú hề, và cuối cùng: Tôi muốn trở lại quê hương, bài ca mà Rosa đặc biệt yêu thích. Gái điếm là những kẻ chai sạn nhất, đồng thời lại cũng đa cảm nhất. Thảy các ả đều hát theo. Anh chàng Kiki đồng cô một mình một giọng.
    Lilly ra về. Ả phải đi đón vị hôn phu của ả. Rosa nồng nhiệt ôm hôn bạn. "Tốt đẹp cả nhé, Lilly! Đừng để bị bắt nạt nhé!"
    Lilly đi khỏi với hai tay ôm đầy quà tặng. Có quỷ thần chứng giám, gương mặt ả đổi khác hoàn toàn so với trước đây. Những nét trơ trẽn vốn hằn trên tất thảy những kẻ nào dính dáng đến thói đê tiện của con người giờ đã bị xóa sạch, gương mặt trở nên mềm dịu hơn và thật sự phảng phất chút gì đó của một nàng trinh nữ mới lớn.
    Chúng tôi ra trước cửa vẫy theo Lilly. Đột nhiên Mimi òa khóc. Chính ả cũng từng có chồng. Trong chiến tranh, chồng ả chết vì lao phổi. Giá như anh ta tử trận thì ả đã được lĩnh một món tiền tuất nho nhỏ và không phải ra đứng đường. Rosa vỗ về lưng ả. "Thôi nào, Mimi, đừng sướt mướt thế đi! Vào đây, bọn ta làm thêm một ngụm cà phê nữa!"
    Cả đám kéo nhau trở vào cái tiệm Quốc Tế tối tăm chẳng khác gì một bầy gà lên chuồng. Thế nhưng không khí không được như trước. "Để kết thúc, hãy chơi thêm một bài nữa đi, anh Robby!", Rosa nói "Cho chúng em tươi tỉnh lên tí!"
    "Được", tôi đáp. "Chúng ta hát bài Hành khúc anh em chiến hữu cũ nhé".
    Sau đó tôi cũng cáo biệt. Rosa còn dúi cho tôi một gói bánh ngọt nữa. Tôi tặng gói bánh cho thằng con của Muttchen lúc ấy vừa bắc xong chảo xúc xích buổi tối ở ngoài phố.
    Tôi ngẫm nghĩ xem nên làm gì bây giờ. Đến quán rượu thì tôi không muốn một chút nào, cũng chẳng thiết vào rạp chiếu bóng; hay về xưởng vậy? Tôi phân vân ngó đồng hồ. Tám giờ tối. Lúc này Koster hẳn đã quay về. Có mặt cậu ta, Lenz sẽ không thể lải nhải hàng giờ về cô gái nữa. Tôi bèn về xưởng.
    Trong phòng sáng đèn. Không riêng trong phòng... mà khắp sân đều sáng choang. Có một mình Koster ở đấy. "Làm trò gì ở đây thế, Otto?", tôi hỏi. "Hay là cậu bán được chiếc Cadillac rồi?"
    Koster cười. "Đâu có, Gottfried nó chỉ rọi đèn một chút cho vui".
    Cả hai đèn pha của chiếc Cadillac đều sáng rực. Chiếc xe được đẩy vào vị trí sao cho luồng đèn xuyên qua cửa sổ chiếu ra sân, xói vào giữa cây mận nở đầy hoa trắng. Cái cây đứng đó trắng xóa như phấn, trông thật đẹp. Bóng tối ở hai bên chẳng khác gì biển đen rì rầm vỗ sóng.
    "Tuyệt vời", tôi nói. "Thế cậu ấy đâu rồi?"
    "Đi kiếm chút gì về ăn".
    “Một ý xuất chúng đấy. Mình cảm thấy người hơi lung liêng. Nhưng có thể chỉ vì đói".
    Koster gật đầu. "Ăn bao giờ cũng tốt. Đó là nguyên tắc cơ bản của thảy các chiến binh cũ. Chiều nay mình cũng làm một việc có chiều lung liêng. Mình đã đăng ký cho chiếc Karl đua đấy".
    "Thật sao?", tôi hỏi. "Đua lần thứ sáu?". Cậu ta gật đầu.
    "Nhưng mẹ kiếp, Otto, toàn những chiếc xe cự phách cả".
    Cậu ta lại gật. "Braumuller trong chiếc xe thể thao thượng hạng".
    Tôi xắn tay áo lên. "Thế thì bắt tay vào việc thôi, Otto! Ta sẽ lau dầu kỹ lưỡng cho cái xe thân yêu nhất của cả bọn".
    "Hẵng khoan!", con người lãng mạn cuối cùng vừa về đến nơi bèn kêu lên "Ních no bụng cái đã!" Cậu ta giở đồ ăn tối ra... pho mát, bánh mì, xúc xích hun khói rắn như đá, và cá trích. Vừa ăn chúng tôi vừa uống bia ướp lạnh. Ba thằng ăn lấy ăn để như cánh thợ đập lúa đói rã vẫn ăn. Rồi cả bọn đến bên chiếc Karl. Hai giờ liền chúng tôi loay hoay với nó, kiểm tra và bôi dầu từng bộ phận một. Sau đó Lenz và tôi lại chén thêm lần nữa. Bây giờ Lenz bật luôn cả đèn của chiếc Ford. Ngẫu nhiên mà một đèn pha của nó vẫn lành lặn sau cú đấm đêm nào. Từ cái khung xe quằn vênh, cái đèn trân trân ngó xéo lên trời. Lenz hài lòng quay người lại. "Thế đấy, Robby, giờ hãy lôi lũ chai ra đây. Bọn ta sẽ uống mừng hội cây trổ hoa".
    Tôi đặt lên bàn chai cognac, chai gin và hai cái ly.
    "Thế ly của cậu đâu?", Gottfried hỏi.
    "Mình không uống".
    "Cái gì? Tại sao không?"
    "Vì mình đã chán ngấy cái trò nhậu nhẹt khốn kiếp này".
    Lenz quan sát tôi một lát. Đoạn cậu ta bảo Koster: "Thằng bé của tụi mình quá chén mất rồi, Otto ơi".
    "Cậu ta đã không muốn uống, thì mặc cậu ta".
    Lenz rót cho mình một ly đầy. "Ít bữa nay chú chàng có hơi điên điên".
    "Điên thôi đã may", tôi đáp.
    Phía sau mái nhà của xí nghiệp đối diện nhô lên vầng trăng to và đỏ ối. Chúng tôi ngồi im hồi lâu. "Nói thử xem, Gottfried", tôi mở đầu, "cậu là một chuyên gia trong tình yêu, đúng chứ?"
    "Chuyên gia thôi ư? Mình là bậc thầy già đời trong tình yêu", Lenz khiêm tốn đáp.
    "Hay lắm. Cụ thể mình muốn biết có thật khi yêu con người ta bao giờ cũng xử sự ngớ ngẩn không".
    "Sao lại ngớ ngẩn?"
    "À như thể bị ngà say ấy. Lảm nhảm, tán nhăng tán cuội và bịp bợm".
    Lenz phá lên cười. "Nhưng bé yêu ơi! Toàn bộ trò yêu đương chẳng qua cũng chỉ là trò bịp bợm. Thói bịp bợm do Bà Mẹ Thiên Nhiên sinh ra. Hãy nhìn cây mận kia xem! Nó cũng đang bịp bợm đấy. Nó tự tô điểm đẹp hơn bản thân nó. Thật là quái dị nếu tình yêu lại dính dáng đến sự thật, ơn Chúa, những nhà luân lý chết tiệt dẫu sao cũng chưa trấn áp được hết thảy".
    Tôi nhỏm dậy. "Cậu cho rằng không thể có tình yêu mà không có chút bịp bợm sao?"
    "Hầu như không, bé ạ".
    "Nhưng dẫu sao con người vẫn có thể tự biến mình thành lố bịch một cách đáng nguyền rủa".
    Lenz cười nhăn nhở. "Hãy nhớ lấy một điều, chú em: không, không và không bao giờ ta có thể biến bản thân ta thành lố bịch trước người đàn bà, một khi ta làm chút gì đó vì nàng. Ngay cả trong những vai kịch đóng tồi nhất. Xin cứ làm những gì cậu muốn... trồng cây chuối, ba hoa những điều thậm ngu ngốc, phô trương như một con công, hoặc nghêu ngao hát trước cửa sổ nhà nàng, chỉ một điều xin chớ: ấy là chớ thực tế! Chớ nghiêm chỉnh!"
    Tôi trở nên hoạt bát. "Ý kiến cậu thế nào, Otto?"
    Koster cười. "Chắc cũng thế thôi".
    Cậu ta đứng dậy và mở nắp máy chiếc Karl. Tôi đi lấy chai rum và một cái ly, đặt trên bàn. Otto cho xe khởi động. Tiếng máy nổ rất trầm và ấm. Lenz gác cả hai chân lên bậu cửa sổ, mắt trân trân nhìn ra ngoài. Tôi ngồi xuống bên cậu ta. "Đã bao giờ cậu say rượu khi cùng ngồi với một phụ nữ chưa?"
    "Thường xuyên", cậu ta đáp, không hề nhúc nhích.
    "Rồi sao?"
    Cậu ta hiếng mắt nhìn tôi. "Ý cậu muốn hỏi là sau khi mình lỡ thất thố ấy à? Không bao giờ xin lỗi, bé yêu ạ. Không nhiều lời. Hãy gửi hoa. Không thư từ gì sốt. Chỉ có hoa mà thôi. Hoa sẽ phủ kín tất tật. Thậm chí cả những nấm mồ".
    Tôi nhìn Lenz. Cậu ta không động đậy. Cặp mắt cậu ta lóng lánh phản chiếu ánh sáng trắng bên ngoài. Động cơ ô-tô vẫn nổ, khẽ rù rì, tuồng như mặt đất đang rung rung dưới chân chúng tôi.
    "Giờ đây mình có thể thực sự bình tâm uống tí chút", tôi nói và mở chai rượu.
    Koster tắt máy, đoạn quay sang Lenz. "Bây giờ trăng đủ sáng để có thể nhìn thấy ly rượu rồi đấy, Gottfried. Tắt đèn xe đi. Đặc biệt là chiếc Ford. Với cái đèn pha hắt ngược lên, của nợ ấy khiến mình liên tưởng đến chiến tranh. Hay ho gì đâu khi đêm đêm đèn cứ rọi lên trời rình máy bay...".
    Lenz gật đầu. "Nó nhắc mình nhớ tới... chà, thôi mặc!" Cậu ta đứng lên và tắt các ngọn đèn pha.
    Trăng đã lên khỏi mái xí nghiệp. Mỗi lúc một tỏ. Và lúc này lơ lửng như một chiếc đèn lồng vàng treo trên cành mận. Những cành lá khẽ đung đưa trong gió thoảng. "Quái lạ thật", Lenz nói sau một lát im lặng, "Cả sao thiên hạ dựng tượng đài cho đủ loại người... mà không một lần tạc một vầng trăng hoặc một cái cây đang đâm hoa?"
    Tôi về nhà sớm. Khi mở cửa hành lang, tôi nghe có tiếng nhạc. Lại chiếc máy quay đĩa của cái cô thư ký Erna Bonig. Một giọng nữ trong trẻo và khẽ khàng. Rồi dồn dập tiếng vĩ cầm trầm đục, tiếng búng bănggiô. Và giọng hát lại cất lên, thiết tha, êm ái, như ngập tràn hạnh phúc. Tôi lắng tai nghe cho rõ lời. Cái giọng nữ hát lên khe khẽ trong khoang hành lang tối tăm này, giữa chiếc máy khâu của bà Bender và hòm xiểng của gia đình Hasse, nghe sao xúc động lạ lùng. Tôi nhìn chiếc đầu lợn lòi nhồi treo trên cửa bếp. Tôi nghe ả người ở xủng xoảng với đống bát đĩa. "Làm sao em có thể sống thiếu anh", tiếng hát vẳng lại từ sau cánh cửa cách tôi vài bước chân.
    Tôi nhún vai, bỏ vào buồng mình.
    Ở phòng bên có tiếng cãi vã giận dữ. vài phút sau có người gõ cửa, Hasse bước vào.
    "Tôi có làm phiền anh không?" ông hỏi, vẻ mệt mỏi.
    "Không phiền gì đâu ạ", tôi nói. "Bác uống chút gì nhé?"
    "Tốt hơn là đừng. Tôi ngồi nhờ một lát thôi".
    Ông đờ đẫn nhìn ra trước mặt. "Anh thế mà lại sướng", ông nói, "anh độc thân..."
    "Ồ, chuyện vớ vẩn", tôi đáp. "Lúc nào cũng ngồi thu lu một mình thế này cũng chẳng ra sao... Bác cứ tin tôi đi..."
    Ông ngồi ủ rũ trong chiếc ghế bành. Mắt ông đục lờ trong ánh sáng mờ ảo mà những ngọn đèn đường ngoài kia hắt vào. Đôi vai trễ, gầy guộc... "Tôi đã hình dung cuộc đời hoàn toàn khác", ông nói sau một lát im lặng. "Chúng ta ai cũng thế cả", tôi nói.
    Nửa giờ sau ông lại về phòng bên để dàn hòa với vợ. Tôi đưa ông vài tờ báo và nửa chai Curasao sót lại không biết từ đời thưở nào trên nóc tủ - một thứ rượu ngọt, vị khó chịu, nhưng lại rất tốt cho ông. Thì ông có hiểu quái gì về rượu đâu.
    Nhẹ nhàng, gần như không tiếng động, ông đi ra, một cái bóng chìm trong bóng tối, tuồng như ông đã tắt ngâm. Tôi đóng cửa lại sau lưng ông. Từ hành lang lại bay vào cái thứ âm nhạc giẻ rách tựa một chiếc khăn lụa màu - tiếng vĩ cầm, tiếng bănggiô trầm đục - "Làm sao em có thể sống thiếu anh..."
    Tôi ra ngồi bên cửa số. Ngoài kia, nghĩa trang đắm mình trong ánh trăng lơ. Những khối vuông sặc sỡ của các biển đèn quảng cáo nhảy nhót trên những ngọn cây, và những tấm bia đá sáng lấp lánh. Chúng câm lặng, không chút sợ hãi. Xe hơi lao vèo vèo sát chúng, ánh đèn pha quét loang loáng trên những dòng chữ nhòa nhạt bởi phong sương.
    Tôi ngồi như thế khá lâu, nghĩ tới đủ thứ chuyện. Nhớ cả ngày nào chúng tôi từ mặt trận trở về, trẻ trung, mất lòng tin, như những người thợ mỏ được lôi lên khỏi một đường hầm bị sập. Chúng tôi muốn tuần hành chống lại thói dối trá, thói vị kỷ, lòng tham và sự nhẫn tâm, những thứ đã gây nên cái thảm họa mà chúng tôi đã phải trải qua... chúng tôi đã từng tàn ác, từng không có sự tin cậy nào khác ngoài sự tin cậy thằng bạn kề bên mình, và một niềm tin nữa chưa hề biết phản bội: đó là tin vào bầu trời, thuốc lá, cỏ cây, bánh mì và mặt đất... nhưng chúng tôi đã đạt được gì chứ? Tất cả đều bị sụp đố, bị ngụy tạo, bị quên lãng, và kẻ nào không quên nối, kẻ đó chỉ còn sống trong bất lực, tuyệt vọng, lãnh đạm và rượu mạnh, cáo chung rồi cái thời đại của những ước mơ trượng phu vĩ đại. Những kẻ siêng năng hể hả. Tham nhũng. Lầm than.
    "Anh thế mà lại sướng, anh độc thân" Hasse đã nói như vậy. Kể cũng hay thật... kẻ nào độc thân, kẻ đó không sợ bị bỏ rơi. Nhưng thỉnh thoảng tối đến, tòa nhà giả tạo sụp đổ, cuộc sống biến thành một giai điệu nức nở, dai dẳng, một con lốc của khát vọng điên cuồng, của thèm muốn, sầu muộn, và niềm hy vọng được thoát khỏi trạng thái tê liệt vô nghĩa này, thoát khỏi cái điệp khúc vô nghĩa của chiếc đàn oóc quay tay muôn thưở này, rồi muốn đến đâu thì đến. Chao, cái nhu cầu ít ỏi được một chút tình người - nó không thể là hai bàn tay và một gương mặt cúi xuống với ta sao? Hay nó cũng chỉ là lừa gạt, từ bỏ và trốn tránh? còn cái gì khác hơn là sự cô đơn?
    Tôi đóng cửa số lại. Không, không còn gì khác cả. Mảnh đất dưới chân ta đây quá hẹp, không đủ chỗ cho những thứ khác.
    Nhưng sáng hôm sau tôi ra khỏi nhà từ rất sớm, tôi gõ cửa một hiệu hoa nhỏ trước khi đến xưởng. Tôi chọn một bó hồng và nhờ chủ hiệu gửi đi tức khắc. Tôi có cảm giác kỳ lạ khi thong thả ghi lên tấm thiếp cái địa chỉ: Patrice Hollmann.

    • Chú thích:
    [6] Moses: Người sáng lập ra đạo của người Israen. (N.D.).
     
    chichi.myluckycharm thích bài này.
  7. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Chương 5

    Koster đã đánh bộ complê tàng của mình đến sở Tài chính, cậu ta tính chuyện xin giảm thuế cho chúng tôi. Trong xưởng còn lại mỗi Lenz và tôi. "Bắt đầu thôi, Gottfried" tôi nói, "ta sửa sang cho anh chàng Cadillac kềnh càng này đi".
    Chiều qua bài quảng cáo của chúng tôi đã được rao đăng. Như vậy hôm nay chúng tôi có thể lường đến chuyện tiếp khách hàng... nếu như có ai đó tìm đến. Có nghĩa là phải chuẩn bị cho chiếc xe.
    Trước tiên chúng tôi láng một lượt nước bóng ra ngoài lớp sơn xe. Chiếc xe bóng lộn lên, trông phải đáng giá trên trăm mác nữa. Rồi chúng tôi tra vào động cơ xe thứ dầu quánh nhất mà mình có. Pittông không còn hoàn hảo nên đã hơi kêu. Nhờ dầu đặc, nhược điểm đó đã được khắc phục, máy nổ êm tuyệt. Chúng tôi cũng phết dầu đặc vào hộp số và bánh visai, sao cho chúng chạy êm ru.
    Rồi chúng tôi cho xe chạy thử. Gần đây có một quãng đường cực xấu. Chúng tôi vượt nó với tốc độ năm mươi kilômét giờ. Giàn đồng lách cách. Chúng tôi xì bớt một phần tư hơi ra khỏi các lốp xe, rồi thử lần nữa. Đã khá hơn. Chúng tôi lại xì bớt hơi. Bây giờ không còn xốc chút nào.
    Chúng tôi quay xe về xưởng, phết mỡ vào chiếc mui xe cọt kẹt, lót thêm vào giữa các khe một ít cao su, đổ nước nóng vào bộ tản nhiệt để máy nổ dễ dàng, và một lần nữa dùng máy thối bụi xịt dưới gầm xe cho gầm xe cũng sáng bóng lên. Xong xuôi, Gottfried Lenz giơ hai tay lên trời. "Giờ hãy đến đây, hỡi vị khách hàng được chúc phúc! Hãy đến đây, hỡi chủ nhân ông đáng yêu của những chiếc ví dày cộm! Chúng tôi mong mỏi ngài như chú rể ngóng đợi cô dâu!"
    Cô dâu vẫn chưa chịu đến. Thấy vậy chúng tôi đẩy cái đầu máy kếch xù của lão chủ hiệu bánh lên mặt hố và bắt đầu tháo trục trước. Chúng tôi lặng lẽ làm việc mấy giờ liền, chẳng nói chẳng rằng. Bỗng từ cây xăng vẳng vào tiếng Jupp huýt sáo bài Nghe kia có gì đi vào... Tôi nhảy lên khỏi hố, nhìn ra cửa số. Một lão thấp béo lượn lờ quanh chiếc Cadillac. Dáng vẻ tư sản, khôn ngoan. "Nhìn xem, Gottfried" tôi thì thào, "cô dâu đó chăng?"
    "Chính cựa", mới thoáng nhìn, Lenz đã tuyên bố, "Trông cái mặt lão kia! Chưa gặp ai mà lão đã thủ thế rồi. Nhanh chạy ra tiếp lão đi! Mình ở lại đây làm lính dự bị. Mình sẽ ra ứng cứu nếu cậu không đương đầu nổi với lão. Nhớ các mánh khóe mình đã bày cho đây!"
    "Được rồi". Tôi đi ra.
    Lão đàn ông nhìn tôi với cặp mắt đen thông minh. Tôi tự giới thiệu. "Tôi là Lohkamp".
    "Tôi là Blumenthal".
    Tự giới thiệu là mánh khóe thứ nhất của Gottfried, cậu ta quả quyết rằng sau đó không khí sẽ lập tức trở nên thân mật hơn. Mánh khóe thứ hai là phải mở đầu hết sức dè dặt và thăm dò khách hàng để có thể bập vào những điểm lợi hại.
    "Ngài tới để xem chiếc Cadillac phải không ạ, thưa ngài Blumenthal?" Tôi hỏi. Blumenthal gật đầu.
    "Nó đây", tôi chỉ chiếc xe.
    "Tôi thấy rồi". Blumenthal đáp.
    Tôi liếc nhanh lão ta. Hãy dè chừng! Tôi nghĩ, một tay quỷ quyệt đây! Chúng tôi đi qua sân. Tôi mở cửa xe và cho máy chạy. Rồi tôi im lặng để Blumenthal có thời gian xem xét. Thế nào lão chẳng bới ra điểm gì đó để chê bai, khi ấy tôi sẽ lựa lời đối đáp.
    Nhưng Blumenthal không xem. Lão cũng chẳng chê bai. Lão nín thinh như tôi, và đứng ngay đơ tựa trời trồng. Tôi không còn cách nào khác là phó mặc cho may rủi.
    Từ tốn, tôi bắt đầu mô tả tuần tự chiếc Cadillac, chẳng khác gì bà mẹ phô đứa con của mình, vừa nói tôi vừa thăm dò xem lão có hiểu tí gì về xe cộ không. Nếu lão là tay sành xe hơi, tôi phải kể tỉ mỉ về động cơ và khung xe... còn nếu lão mù tịt, tôi sẽ huyên thiên về đủ các thứ tiện nghi, phụ tùng.
    Nhưng đến lúc này lão vẫn kín bưng. Lão mặc cho tôi nói kỳ tới khi tôi cảm giác mình chơi vơi như trái bóng bay thì thôi.
    "Ngài định dùng chiếc xe vào việc gì ạ? Để đi lại trong thành phố hay đi du lịch?" cuối cùng tôi hỏi, xem may ra tìm được một điểm mà vin vào chăng.
    "Mọi việc" Blumenthal đáp.
    "Thế ạ! Ngài định lái lấy hay dùng tài xế?"
    "Còn tùy".
    Còn tùy. Lão ném ra những câu trả lời như một con vẹt. Hình như lão là hội viên "Hội những người anh em câm lặng".
    Để khiến lão hoạt bát lên, tôi gắng tìm bất kỳ một thứ gì cho lão thử. Thông thường nhờ vậy các khách hàng sẽ trở nên cởi mở hơn. Chứ cứ đà này, tôi e lão ngủ gật mất.
    "Chiếc xe đồ sộ thế, nhưng mui lại đóng mở rất dễ dàng", tôi nói. "Ngài thử đóng mà xem. Chỉ cần dùng một tay".
    Nhưng Blumenthal cho rằng không cần thiết. Lão nhìn cũng đủ. Tôi đóng sập các cánh cửa, và lay lay những chiếc tay cầm.
    "Không chút lỏng lẻo. Chắc như bánh Lái! Ngài lắc thử xem".
    Blumenthal chẳng buồn thử. Lão coi đó là lẽ đương nhiên. Thằng cha đúng là quả hạt dẻ chết tiệt khó nhá.
    Tôi giới thiệu với lão các tấm kính xe. "Quay lên quay xuống dễ như bỡn. Để cỡ nào, giữ nguyên cỡ đó".
    Lão vẫn không nhúc nhích.
    "Mà lại toàn kính không vỡ cơ đấy ạ", tôi tiếp, lòng đã hơi hoang mang. "Lợi vô kể! Ở đằng kia trong xưởng có chiếc Ford..." tôi thuật lại câu chuyên thương tâm xảy ra với vợ lão chủ hiệu bánh, có thêm mắm thêm muối chút đỉnh, bằng cách cho một đứa trẻ nữa cùng lâm nạn.
    Nhưng Blumenthal có cuộc sống nội tâm khép kín như một két bạc.
    "Xe nào chẳng có kính không vỡ", lão ngắt lời tôi, "có gì đặc biệt đâu". "Không loại xe nào được lắp toàn kính không vỡ cả", tôi đáp, gay gắt những vẫn cố mềm mỏng. "Giỏi lắm chỉ tấm kính trước, mà ở đôi loại thôi. Chứ cửa sổ to bên cạnh mà được lắp kính không vỡ thì đào đâu ra".
    Tôi bóp còi kêu bim bim rồi xoay sang mô tả những tiện nghi bên trong... thùng, nệm ngồi, các túi, bảng đồng hồ điện - tôi liệt kê tỉ mỉ không thiếu thứ gì, thậm chí còn bật lửa cho Blumenthal châm thuốc và thừa dịp đưa thuốc lá ra mồi để lấy lòng lão, nhưng lão từ chối.
    "Cám ơn, tôi không hút", lão nói và nhìn tôi vẻ chán chường đến nỗi tôi đột nhiên sa vào một mối ngờ vực khủng khiếp: có lẽ lão không hề định tìm đến chúng tôi, có lẽ lão chỉ lạc nẻo tới đây chứ lão chủ tâm mua một cái gì hoàn toàn khác kia: một chiếc máy thùa khuyết hoặc một chiếc radiô, và lão chỉ hơi tần ngần dừng bước ở đây trước khi tiếp tục đường lão.
    "Ta đi thử một vòng chứ, thưa ngài Blumenthal?" cuối cùng, đã rất thối chí, tôi đề nghị.
    "Đi thử à?" Lão hỏi lại, cứ như lão vừa nghe tôi rủ ra ga làm một chuyến chu du bằng tàu hỏa không bằng.
    "Phải, đi thử. Ngài cần thấy tận mắt chiếc xe chạy ra sao chứ. Nó như tấm ván đặt trên mặt đường, cũng giống đặt trên đường ray vậy, và mày cứ thế lôi nó lướt đi, cỗ xe nặng nề thế mà chỉ còn như một chiếc lông to lao vun vút..."
    "Dào ôi, thử thiếc gì..." lão phẩy tay ra ý khước từ. "Những chuyến đi thử có ăn nhằm gì đâu. Bao giờ cũng vậy, dùng xe ít bữa mới thấy các khuyết tật của nó".
    Cố nhiên rồi, đồ quỷ già rắn hơn gang, tôi giận dữ rủa thầm, dễ thường lão tưởng ta đây sẽ tông tốc khai ra với lão chiếc xe trục trặc chỗ nào chắc?
    "Được, thì thôi vậy", tôi nói, vất bỏ mọi hy vọng. Rõ ràng lão chẳng muốn gì cả.
    Nhưng lão đột nhiên xoay người lại, nhìn chăm chăm vào mắt tôi và hỏi khẽ, rất nhanh, giọng cương quyết: "Chiếc xe giá bao nhiêu?"
    "Bảy ngàn mác", tôi bật nhanh như tên bắn, mặt tỉnh khô không động đậy một sợi lông mi. Tôi biết không được để lão già này nhận thấy mình suy nghĩ, dù chỉ trong nháy mắt. Mỗi giây do dự sẽ đi đứt cả ngàn mác, cái ngàn mác mà lão sẽ cò kè đòi bớt. "Đúng bảy ngàn", tôi khẳng định lại, bụng nghĩ: cứ xùy ra đây năm ngàn, chiếc xe là của lão. Nhưng Blumenthal chẳng xùy ra đồng nào. Lão chỉ phì một hơi ngắn: "Đắt quá!" "Tất nhiên!" tôi nói, thầm tính chuyện cho đi cái vụ mời chào này.
    "Tất nhiên là nghĩa thế nào?" Blumenthal hỏi, giọng bỗng khá hiền hậu. "Ngài Blumenthal", tôi cắt nghĩa, "ở thời buổi này, ngài đã thấy kẻ nào trả lời khác ngài khi nghe nêu một cái giá hay chưa?"
    Lão chăm chú nhìn tôi. có chút gì như ánh cười lướt qua gương mặt lão. "Đúng vậy. Nhưng chiếc xe quả khá đắt".
    Tôi không dám tin vào tai mình. Rốt cuộc thì nó đây rồi, cái giọng thật của lão. Giọng của một kẻ rõ ràng quan tâm đến mặt hàng! Hay đây lại là trò tinh quái khốn khiếp mới của lão?
    Đúng lúc đó, một công tử bột hào hoa phong nhã đi vào sân. Chàng ta rút trong túi ra một tờ báo, xem lại số nhà lần nữa, rồi mới tiến lại gần tôi. "Ở đây có bán chiếc Cadillac phải không?"
    Tôi gật đầu, há hốc mồm nhìn chiếc can sậy vàng óng và đôi găng tay bằng da thú của anh chàng.
    "Tôi có thể xem qua được chứ?" chàng công tử bột hỏi tiếp, mặt tỉnh khô. "Chiếc xe này đây", tôi nói, "nhưng có lẽ ngài vui lòng chờ cho một lát, tôi đang dở chút việc. Ngài ngồi tạm trong kia được chứ ạ?"
    Chàng công tử bột lắng nghe tiếng động cơ rù rì, nét mặt thoạt đầu cau lại vẻ săm soi, sau giãn ra tán thưởng, đoạn theo tôi đi vào xưởng.
    "Đồ ngốc", tôi gầm gừ với hắn rồi tất tưởi quay lại chỗ Blumenthal.
    "Nếu ngài dùng chiếc xe một lần rồi, ngài sẽ suy xét đúng nó đắt hay rẻ", tôi nói. "Ngài cứ việc thử nó bao lâu tùy thích. Hay tôi tới nhà đón ngài chạy thử xe vào buổi tối cũng được, nếu như thế tiện cho ngài hơn".
    Nhưng sự rung động thoảng qua đã bay biến. Blumenthal lại đứng đó như một nhạc trưởng tạc từ đá granit. "Thôi khỏi cần", lão nói, "giờ tôi phải đi. Trường hợp tôi có ý định thử xe, tôi còn có thể gọi điện cho anh mà".
    Tôi hiểu tạm thời không thể làm gì hơn. Lão là loại người không thuyết phục nổi.
    "Tốt thôi", tôi nói, "nhưng ngài không muốn cho tôi số điện của ngài sao, để tôi có thể báo tin cho ngài trường hợp có một ai khác quan tâm đến chiếc xe?"
    Blumenthal nhìn tôi một cách kỳ quái. "Người quan tâm chưa hẳn là người mua".
    Lão móc trong túi ra một hộp xì gà chìa mời tôi. Đột nhiên lão còn hút thuốc nữa chứ. Thậm chí loại Corona - Coronas hẳn hoi... hẳn lão có hàng núi tiền. Nhưng tôi đâu thèm bận tâm tới điều đó nữa. Tôi rút một điếu. Lão vui vẻ bắt tay tôi và bỏ đi. Tôi nhìn theo lão, nguyền rủa lão, khẽ thôi, nhưng rủa cho thật hả. Đoạn tôi bỏ vào xưởng.
    "Thế nào?" Chàng công tử bột Gottfried Lenz chào đón tôi.
    "Mình đóng trò được đấy chứ hả? Thấy cậu ngắc mãi mới được một câu mình muốn thử cứu cậu. May mà Otto đã thay bộ đồ ở đây để đến sở Tài chính. Thấy bộ đồ bảnh của cậu ta treo đó... mình bèn phi nước đại vào, đóng bộ, rồi nhảy qua lối cửa sổ và lại hiện diện ở đây trong vai một quý khách đứng đắn! Bợm đấy chứ, hả?"
    "Ngu ngốc thì có", tôi đáp. "Lão cáo hơn cả hai thằng mình góp lại! Mở mắt ra mà nhìn điếu xì gà đây này. Một mác rưỡi một điếu chứ đùa đâu. cậu đã đuối mất của mình một tay tỉ phú".
    Gottfried giật điếu thuốc từ tay tôi, đưa lên mũi hít hít và châm lửa hút. "Mình đã đuổi hộ cậu một thằng cha lừa đảo. Tỉ phú đâu có hút loại xì gà này. Lũ ấy chỉ dám dùng loại đáng giá mỗi điếu một xu".
    "Dớ dẩn", tôi đáp, "những kẻ lừa đảo không tự xung là Blumenthal. Chúng tự xưng là bá tước Blumenthal hoặc đại loại thế".
    "Lão sẽ trở lại", Lenz nói, tràn trề hy vọng như mọi khi, và phun khói thuốc xì gà của tôi vào mặt tôi.
    "Lão ấy thì đừng mong", tôi quả quyết. "Nhưng cậu đào đâu ra cây can sậy và đôi găng tay thế?"
    "Mượn. Ở đằng kia, trong cửa hiệu của Benn và Co. Mình quen một cô em bán hàng ở đó. có lẽ mình còn mua đứt chiếc can ấy chứ, mình thích nó".
    Cậu ta mãn nguyện múa cái que bự ấy trong không khí.
    "Gottfried này" tôi nói, "cậu ru rú ở đây thật uống, cậu biết mình khuyên cậu gì không? Hãy tìm đến gánh hát tạp kỹ. Đó mới là sở trường của cậu".
    "Ban nãy có người gọi điện cho ông" Frida, ả hầu mắt lác của bà Zalewski nói với tôi lúc trưa khi tôi nhảy về đến nhà.
    Tôi quay phắt lại. "Lúc nào?"
    "Trước đây nửa giờ. Một bà".
    "Bà ta nói gì?"
    "Bà ta định gọi lại vào buổi tối. Nhung tôi đã bảo ngay rằng vô ích thôi. Ông có bao giờ ở nhà buổi tối đâu".
    Tôi trợn mắt nhìn ả. "Cái gì? cô đã nói thế hả? Trời đất, phải có kẻ dạy cô cách nói chuyện điện thoại mới xong".
    "Tôi biết nói chuyện điện thoại", Frida tỉnh rụi đáp. "Còn tối tối ông hầu như có bao giờ chịu ở nhà".
    "Cái đó không can hệ gì đến cô", tôi rủa. "Lần sau dễ thường cô còn thóc mách xem bít tất của tôi có thủng lỗ nào không đây".
    "Chứ sao", Frida đáp và ranh mãnh nhìn tôi với cặp mắt toét ba vành sơn son. Chúng tôi là kẻ thù cố hữu của nhau.
    Tôi những muốn dúi ả vào nồi súp của ả, nhưng cố kiềm chế, thọc tay vào túi tìm đồng một mác ấn vào tay ả, đoạn, hỏi vẻ dàn hòa. "Thiếu phụ không xưng danh sao?"
    "Không", Frida nói.
    "Giọng cô ta thế nào? Hơi trầm đục và dường như khàn khàn một chút, phải không?"
    "Không biết", Frida lạnh lùng đáp, cứ như tôi chẳng hề ấn vào tay ả đồng một mác.
    "Cái nhẫn cô đeo ở tay kia xinh quá, quả là mê hồn", tôi nói, "còn bây giờ cô thử nghĩ kỹ hộ xem nào, chẳng lẽ cô không nhớ nổi sao?"
    "Không", Frida đáp, một niềm vui hiểm độc ánh lên trên gương mặt ả.
    "Thế thì treo cổ cô lên, đồ chổi cùn của quỷ", tôi thét và bỏ mặc ả đứng đó.
    Đúng sáu giờ tối tôi đã có mặt ở nhà. vừa mở cửa, tôi thấy một cảnh tượng khác thường. Bà Bender, nữ hộ lý chăm sóc trẻ bé, đứng trong hành lang, vây quanh bà là toàn thể các bà các cô sống trong nhà trọ. "Anh lại đây", bà Zalewski gọi.
    Nguyên nhân của cuộc tụ tập là một đứa bé quãng sáu tháng, được quấn nơ đủ màu. Bà Bender đưa nó từ nhà nuôi trẻ của mình về trong một chiếc xe nôi. Đó là một đứa bé hoàn toàn bình thường; thế mà các bà cúi xuống nó với một vẻ mặt vui sướng đến điên cuồng, làm như nó là đứa trẻ đầu tiên thế giới sản sinh ra. Họ lại còn ríu rít trầm trồ, múa các ngón tay trước mắt cái sinh vật bé bỏng ấy và chúm môi dẩu mỏ với nó. Ngay đến Erna Bonig, mình khoác kimônô thêu rồng, cũng tham dự vào cuộc truy hoan của tình mẫu tử thuần khiết, lý tưởng này.
    "Nó chẳng phải là một hình hài tuyệt đẹp sao?" bà Zalewski hỏi với cái nhìn đắm đuối.
    "Phải đợi hai, ba chục năm nữa mới đánh giá đúng được", tôi đáp, mắt liếc máy điện thoại. Mong sao chuông điện thoại không réo lên vào giữa lúc ai nấy đều đang tụ tập ở đây.
    "Anh thử ngắm kỹ nó xem nào!" bà Hasse ra lệnh. Tôi nhìn. Một đứa bé như mọi đứa trẻ khác. Tôi chẳng khám phá nối một điểm gì khác thường ở nó. Họa chăng là hai bàn tay bé tí tẹo, và thật kỳ lạ khi nghĩ bản thân mình cũng đã từng nhỏ xíu như thế. "Con sâu nhỏ tội nghiệp", tôi nói, "nó vẫn chưa hề biết cái gì đang chờ đợi nó. Tôi muốn xem xem nó ra đời để tham dự cuộc chiến nào đây".
    "Anh Robby", bà Zalewski nói. "Anh không có chút tình cảm nào sao?"
    "Quá nhiều đằng khác", tôi đáp, "nếu không tôi đã chẳng nghĩ như vậy". Đoạn tôi rút lui về phòng mình.
    Mười phút sau chuông điện thoại réo. Nghe gọi tên mình, tôi chạy ra. Thì đã hẳn, cả đám các bà các cô vẫn còn đó! Họ cũng chẳng buồn giải tán khi tôi áp ống nghe vào tai và nghe tiếng Patrice Hollmann cám ơn tôi đã gửi tặng hoa. Trái lại, thằng bé, kẻ có vẻ biết điều nhất đám và đã chán ngấy cái trò khỉ, bỗng khóc toáng lên. "Xin lỗi cô", tôi tuyệt vọng nói vào ống máy, "tôi không thể nghe rõ lời cô, ở đây có một đứa bé đang gào; nhưng không phải con tôi đâu". Các bà thi nhau suỵt suỵt như một ổ trăn khống lồ để dỗ nín cái thằng cu đang oa oa đó. Các bà đã nhanh chóng thành công, ông lỏi ngày càng gào khỏe hơn. Đến lúc này tôi mới nhận ra nó quả là một đứa bé phi thường: có lẽ hai lá phối của nó phải lấn dài xuống tận hai chân, nếu không làm sao lý giải nối cái tiếng hét váng óc ấy. Tôi ở vào một tình huống khó xử; trong khi mắt phóng những tia giận dữ vào đám đàn bà phô diễn tình mẫu tử, miệng tôi lại phải lựa những lời khả ái để nói vào ống máy - tôi là bão bùng giông tố từ đỉnh đầu xuống mũi, và là trời xuân ngập nắng từ mũi xuống cằm - tôi cũng không hiểu tôi đã làm cách nào mà vẫn hẹn gặp được với nàng vào chiều mai.
    "Bà nên xây lấy một phòng điện thoại cách âm", tôi nói với bà Zalewski. Nhưng bà đâu chịu thua. "Để làm gì?" bà hỏi, mắt lóe sáng, "Anh có nhiều chuyện cần giấu diếm thế kia à?"
    Tôi nín lặng, cố dằn lòng. Chớ nên sinh sự với những tình mẹ đang phẫn nộ. Họ có sau họ cái luân lý của toàn thế giới.
    Mấy thằng tôi hẹn gặp nhau buổi tối tại nhà Gottfried. Tôi ăn ở một quán nhỏ, rồi đi đến đây. Dọc đường, tôi ghé vào cửa hàng thời trang nam giới lịch sự nhất mua cho mình một chiếc càvạt mới rõ bảnh gọi là để mừng ngày hôm nay. Tôi vẫn ngạc nhiên vì mọi sự trôi chảy quá và tự thề rằng ngày mai tôi sẽ nghiêm nghị như ông tổng giám đốc của một nhà thầu tang lễ.
    Phòng của Gottfried là cả một thắng cảnh. Trong đó treo đầy các kỷ vật mà cậu ta tha từ Nam Mỹ về. Những tấm thảm dừa sặc sỡ trên tường, vài chiếc mặt nạ, một cái đầu lâu khô cong, những cái nồi đất sét kỳ dị, lao phóng, và vật trưng bày chính yếu là bộ sưu tầm lớn những tấm ảnh phủ kín cả một bức tường - những cô nàng thổ dân, gái lai đen, những con vật xinh đẹp, nâu óng uyển chuyển, hờ hững và duyên dáng đến kỳ lạ.
    Ngoài Lenz và Koster còn có cả Braumuller và Grau. Mặt rám nắng, tóc đỏ như đồng, Théo Braumuller ngả người trên đi-văng ngắm say sưa bộ sưu tập ảnh của Gottfried. Anh ta lái xe đua cho một hãng xe hơi và lâu nay kết thân với Koster. Mồng sáu tới anh ta cũng tham dự cuộc đua mà Otto đã đăng ký tham dự với chiếc Karl.
    Kềnh càng, béo phị, Ferdinand Grau đã khá say ngồi bên bàn. Thấy tôi, anh đưa bàn tay to bè ra kéo tôi lại gần: "Robby", anh cất giọng lè nhè, "cậu đến làm gì với cái bọn hư hỏng này? cậu chẳng tìm thấy gì ở đây đâu. Đi đi. Hãy cứu lấy cậu. với cậu hãy còn kịp!"
    Tôi đưa mắt sang Lenz. cậu ta nháy mắt với tôi. "Ferdinand đang rủng rỉnh. Đã hai ngày nay cậu ta nốc rượu khóc người tình đã chết. Chả là vừa bán được một bức chân dung lấy tiền ngay!".
    Ferdinand Grau là họa sĩ. Nhưng anh đã chết đói từ lâu, nếu như không có một cách kiếm ăn riêng. Anh truyền thần ảnh những người quá cố thành những bức chân dung sống động tuyệt vời cho đám thân nhân thương tiếc không nguôi của họ. Nhờ thế mà anh sống... thậm chí sống rất phong lưu. Chẳng ma nào mua những bức tranh phong cảnh của anh. vì thế trong lúc chuyện trò, bao giờ anh cũng đượm vẻ bi quan.
    "Khách hàng lần này là một lão chủ quán, Robby ạ". Anh nói, "một lão chủ quán đã làm nộm bà dì có gia tài trong dầu và dấm". Anh lắc đầu. "Ghê tởm!"
    "Nghe này, Ferdinand" Lenz khuyên, "cậu chẳng nên dùng những lời lẽ gay gắt đến thế, cậu đã sống nhờ vào một trong những đức tính cao đẹp nhất của con người, đó là lòng hiếu thảo".
    "Láo toét", Ferdinand nói, "mình sống nhờ vào lương tâm tội lỗi mới đúng. Lòng hiếu thảo chẳng là gì khác ngoài lương tâm tội lỗi. Chẳng qua người đời muốn tự bào chữa về tất cả những điều xấu xa họ đã gây nên và đã cầu nguyện cho kẻ quá cố quý hóa lúc sinh thời". Anh đưa tay thong thả vuốt mái tóc đỏ rực của mình. "Cậu thử nghĩ, không biết bao nhiêu lần lão chủ quán đã cầu cho thần chết tóm lấy cổ bà dì lão... để bù lại, giờ đây lão cho truyền thần bà cụ bằng những màu sắc thanh nhã nhất và treo bức chân dung ngay phía trên đi-văng. Lão ưa bà già sống trong tranh hơn. Hiếu thảo! Bao giờ con người cũng chỉ sực nhớ đến những đức tính tốt đẹp hiếm hoi của mình khi đã muộn. Thế rồi hắn xúc động vì lẽ đáng ra hắn đã có thể xử sự hào hiệp biết bao và hắn tự cho mình là có phẩm hạnh. Phẩm hạnh, nhân từ, độ lượng...!", anh phẩy bàn tay to bè mập ù của mình, "người ta chỉ mong tìm thấy các đức tính ấy ở những kẻ khác, để có cơ chôn chúng cùng họ cả thể".
    Lenz cười ngoạc miệng. "Cậu đang lay các cột trụ của xã hội loài người đấy, Ferdinand!"
    "Những cột trụ của xã hội loài người là tham lam, sợ sệt, và sa đọa", Ferdinand đáp. "Con người ác độc nhưng lại ưa điều thiện... nếu như kẻ khác mang lại điều thiện" - Anh chìa ly của mình cho Lenz. "Thế, giờ hãy rót rượu cho mình đi và đừng có huyên thuyên suốt tối... cho người khác còn nói với chứ".
    Tôi bước qua đi-văng sang chỗ Koster ngồi. Tôi bỗng nảy ra một ý. "Otto, giúp mình một việc được không? Chiều mai mình cần chiếc Cadillac".
    Đang mê mải ngắm nghía ảnh một vũ nữ lai đen ăn mặc hở hang, Théo Braumuller ngoảnh sang hỏi "Cậu đã biết cua đường rồi sao? Cho tới nay mình tưởng cậu chỉ biết thẳng tiến nếu có ai đó cầm lái hộ cậu thôi cơ đấy".
    "Théo ơi, cứ yên chí", tôi đáp "đến cuộc đua mồng sáu tới bọn này sẽ băm nhừ cậu ra".
    Braumuller cười sằng sặc.
    "Thế nào, Otto?" tôi hồi hộp hỏi.
    "Chiếc xe không được bảo hiểm đâu, Robby", Koster nói.
    "Mình sẽ bò như sên và bóp còi inh ỏi như xe khách ấy. Chạy dăm cây số trong thành phố thôi mà".
    Otto lim dim cặp mắt chỉ còn bằng hai khe hở nhỏ, và mỉm cười.
    "Được thôi, Robby, mình sẵn lòng".
    "Dễ thường cậu cần chiếc xe cho đồng bộ với chiếc càvạt mới của cậu?" Lenz đã sấn lại gần, hỏi.
    "Câm mõm lại", tôi nói và đẩy cậu ta sang bên.
    Nhưng cậu ta không hề suy suyển. "Xem cái nào, bé yêu!" cậu ta sờ cái càvạt lụa. "Tuyệt. Thằng bé của tụi ta đóng vai đĩ đực. Dễ thường toan đi kiếm vợ".
    "Đồ hát rong, hôm nay thì đừng hòng chọc tức được thằng này", tôi nói. "Kiếm vợ à?" Ferdinand Grau ngẩng đầu lên. "Mà tội gì cậu ta lại không đi kiếm vợ chứ?". Anh quay sang tôi, tươi tỉnh hẳn lên. "Xin cứ việc, Robby ơi! Cậu có thể để làm chuyện đó. Thơ ngây rất cần cho tình yêu, mà cậu thì có nó. Hãy giữ gìn lấy sự ngây thơ. Đó là món quà Chúa ban. Đã đánh mất rồi thì chẳng bao giờ hòng lấy lại được nữa".
    "Đừng thèm để tâm đến lời hắn" Lenz cười khẩy. "Sinh ra ngu không nhục. Chết ngu mới nhục".
    "Câm đi, Gottfried!" Loáng cái, bàn tay hộ pháp của Ferdinand đã xua bắn Lenz ra.
    "Việc gì đến cậu, đồ lãng mạn rởm. cậu thì chẳng được điểm gì cho bõ tiếc".
    "Cứ tuôn ra cho hả, Ferdinand ạ", Lenz nói. "Phun ra bằng hết bao giờ cũng nhẹ người đi đấy".
    "Cậu là thằng lỉnh việc", Ferdinand nói, "một thằng lỉnh việc bẳng nhẳng". "Bọn ta thế cả", Lenz cười nhếch mép. "Bọn ta chỉ còn sống nhờ ảo vọng, sống vay".
    "Chính thế", Ferdinand nói, mắt lần lượt nhìn chúng tôi dưới cặp lông mày chối xể. "Ảo vọng quá khứ và vay mượn tương lai". Đoạn anh quay sang tôi, "Robby, mình vừa nói đến ngây thơ. Chỉ những kẻ hay ghen ghét mới gọi ngây thơ là ngu ngốc, cậu chớ vì thế mà tự ái. Đó đâu phải nhược điểm, đó là cái khiếu trời cho".
    Lenz toan bác lại, nhưng Ferdinand nói tiếp. "Cậu hiểu ý mình đây. Mình muốn nói đến một tấm lòng chất phác, chưa bị sự hoài nghi và siêu trí tuệ nghiến ngấu. Parsifal ngu ngốc, ông ta mà khôn ngoan, ông ta đã không đời nào chiếm được viên đá thần thiêng liêng. Chỉ kẻ nào ngu mới chiến thắng trong cuộc đời; những kẻ khác thấy quá nhiều trở ngại và chưa khởi sự đã ngã lòng, vào thời buổi khó khăn, thơ ngây là tài sản quý giá nhất - một tấm áo khoác thần diệu che lấp mọi hiểm nguy mà kẻ cực khôn ngoan cứ đâm đầu vào như bị thôi miên".
    Anh tợp một ngụm rượu và nhìn tôi với một cặp mắt xanh to tướng như một mảnh trời trên gương mặt nứt nẻ của anh. "Đừng bao giờ ham biết quá nhiều, Robby ạ. càng biết ít, càng dễ sống. Biết nhiều thì tự do đấy... nhưng lại bất hạnh. Nào, hãy cùng mình nâng cốc vì sự ngây thơ, sự ngu ngốc và những gì liên quan đến nó... vì tình yêu, niềm tin vào tương lai, những giấc mơ về hạnh phúc... vì sự ngu ngốc tuyệt diệu, cái thiên đường đã mất..."
    Anh ngồi đó, kềnh càng, nặng nề, thốt nhiên chìm đắm vào suy tư và men say, như một mỏm gò đơn côi của nỗi sầu muộn không sao chạm tới được. Đời anh thế là hỏng, và anh biết vô phương làm lại. Anh ở trong xưởng họa lớn của mình và dan díu với mụ quản gia. Một mụ đàn bà cứng rắn, cục cằn. Ngược lại, tuy tạng người to béo hộ pháp, Grau lại nhạy cảm và dễ xiêu lòng. Anh không sao bỏ nổi mụ ta và có lẽ anh cũng bất cần. Anh bốn mươi hai tuổi.
    Biết rằng anh say, nhưng nhìn anh như thế tôi vẫn cảm thấy hơi rùng mình khác lạ. Anh ít khi đến bù khú với cả bọn mà hầu như thường xuyên uống một mình trong xưởng họa của mình.
    Một nụ cười thoáng lướt trên gương mặt anh. Anh ấn ly rượu vào tay tôi. "Uống đi, Robby. Hãy cứu lấy cậu. Nhớ lấy những điều mình đã khuyên cậu".
    "Được rồi, Ferdinand!"
    Lenz lên dây cót chiếc máy hát. cậu ta có cả đống đĩa mọi và cho chạy vài đĩa... những khúc hát về dòng Missisipi, về những luống bông và về những đêm hè oi ả bên các dòng sông xanh miền nhiệt đới.
     
    chichi.myluckycharm thích bài này.
  8. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Chương 6

    Patrice Hollmann sống trong một tòa nhà tầng đồ sộ quét vôi vàng, cách phố một vạt cỏ hẹp. Trước lối vào là một ngọn đèn đường. Tôi đậu chiếc Cadillac ngay ở đó. Dưới ánh sáng lung linh, trông chiếc xe chẳng khác gì một chú voi đen lực lưỡng, bóng nhẫy.
    Tôi đã tiếp tục hoàn thiện bộ cánh của mình. Ngoài chiếc càvạt, tôi sắm thêm một cái mũ mới và đôi găng tay... lại còn diện nhờ áo khoác của Lenz, một chiếc măng-tô màu xám tuyệt đẹp may bằng thứ len Shetland mịn nhất. Đóng bộ như vậy, tôi muốn xua tan cái ấn tượng nát rượu mà tôi đã gây cho nàng.
    Tôi bấm còi xe. Lập tức đèn cầu thang ở cả năm tầng bừng sáng như pháo bông, cầu thang máy bắt đầu kêu rù rù. Tôi nhìn nó tụt xuống như một chiếc gàu xúc sáng trưng thòng từ trời xuống. Patrice Hollmann mở cửa và nhanh nhẹn chạy xuống mấy bậc thang. Nàng mặc một chiếc áo khoác ngắn lông nâu và một chiếc váy chẽn cũng màu nâu.
    “Xin chào!” Nàng chìa tay cho tôi. “Được ra ngoài trời thế này tôi rất thích. Tôi đã ru rú suốt ngày trong nhà rồi”.
    Tôi rất ưa cái cách bắt tay của nàng - một cái xiết mạnh mẽ hơn người ta tưởng. Tôi ghét cay ghét đắng những kẻ cứ chìa bàn tay mềm nhũn như cá ươn ra cho người khác bắt.
    “Sao cô không nói sớm với tôi?” Tôi đáp. “Nếu biết, có phải tôi đã tới đón cô từ trưa rồi không”.
    “Anh nhàn rỗi thế kia à?”
    “Không hẳn. Nhưng tôi có thể nghỉ việc”.
    Nàng hít một hơi thật sâu. “Không khí tuyệt diệu. Có hương vị mùa xuân”.
    “Nếu cô thích, chúng ta có thể đi vòng vo ngoài trời bao lâu cũng được”, tôi nói. “Ra ngoại ô, đi xuyên rừng... Tôi có đưa theo một chiếc xe hơi”. Nói rồi, tôi chỉ chiếc Cadillac, thản nhiên như đang chỉ một chiếc Ford cà khổ.
    “Cadillac cơ à?” Nàng ngạc nhiên nhìn tôi. “Của anh sao?”
    “Vâng, nhưng chỉ tối nay thôi, còn thì nó thuộc về xưởng chúng tôi. Chúng tôi đã tân trang cho nó và rắp tâm làm ăn cú quyết định trong đời với nó đấy”. Tôi mở cửa xe. “Trước hết ta đến tiệm Chùm nho và ăn chút gì đã nhé? Ý cô thế nào?”
    “Đồng ý là sẽ ăn, nhưng sao cứ phải ở tiệm Chùm nho mới được nhỉ?”
    Tôi chưng hửng nhìn nàng. Chùm nho là tiệm ăn lịch sự duy nhất mà tôi biết.
    “Thú thật tôi không biết tiệm nào khác”, tôi nói. “Vả lại tôi nghĩ đã đi chiếc Cadillac thì phải tìm cái tiệm nào cho xứng”.
    Nàng cười: “Trong tiệm Chùm nho thiên hạ hẳn phải khách khí và buồn tẻ lắm. Ta tìm chỗ nào khác đi”.
    Tôi đứng đực ra. Những giấc mơ trọng đại của tôi tan thành mây khói. “Thế cô nêu một chỗ nào vậy. Các quán khác mà tôi hay lui tới có phần lỗ mãng. Tôi e không hợp với cô”.
    “Sao anh lại nghĩ vậy?”
    “Ấy là tôi cảm tưởng...”
    Nàng thoáng nhìn tôi. “Ta thử tới đó xem sao”.
    “Được”. Tôi dứt khoát đảo lộn toàn bộ chương trình của mình. “Vậy tôi biết một chỗ, nếu cô không thấy khiếp. Chúng ta lại quán bác Alphonse”.
    “Alphonse, nghe được đấy”, nàng đáp, “và tối nay tôi cũng chẳng biết khiếp là gì”.
    “Alphonse là chủ quán bia”, tôi nói, “bạn thân của Lenz”.
    Nàng cười: “Hẳn đâu đâu Lenz cũng có bạn?”
    Tôi gật. “Cậu ta dễ dàng kiếm bạn lắm. Thì cô đã chứng kiến tình thâm giao của cậu ta với Binding rồi đấy thôi”.
    “Phải, có Chúa chứng giám”, nàng đáp. “Bắt thân nhanh như chớp”.
    Chúng tôi khởi hành.
    Alphonse là một người đàn ông nặng nề, ít nói. Gò má nhô cao. Mắt nhỏ. Tay áo xắn ngược. Hai cánh tay như khỉ đột. Kẻ nào vào quán mà xử sự chướng tai gai mắt bác, đều bị bác đích thân quăng ra ngoài. Kể cả các chàng hội viên hội thể thao Trung thành với Tổ quốc. Đối với những tên khách bất trị, bác thủ sẵn dưới quầy một cái búa. Quán của bác nằm ở vị trí thuận lợi, ngay sát nhà thương. Thế là Alphonse tiết kiệm được khoản tiền chuyên chở nạn nhân.
    Bác đưa bàn tay to lông lá ra chùi cái mặt bàn sáng màu đồng bằng gỗ thông. “Bia chứ?”, bác hỏi.
    “Cho rượu mạnh và chút gì ăn đi”, tôi nói.
    “Còn quý cô đây?” Alphonse hỏi.
    “Quý cô cũng muốn dùng một ly rượu mạnh”. Patrice Hollmann đáp.
    “Cứng cựa thật, cứng cựa thật”, Alphonse nói. “Có món sườn lợn với bắp cải muối đấy”.
    “Lợn nhà tự mổ chứ?” tôi hỏi.
    “Dĩ nhiên!”
    “Nhưng quý cô hẳn muốn dùng món gì nhẹ hơn cơ”.
    “Cô không đùa đấy chứ”, Alphonse đáp “Mời cô xem thử món sườn cái đã”.
    Bác gọi gã hầu bàn bưng ra một xuất. “Lợn sữa tuyệt vời nhé”, bác nói. “Món này đã từng đoạt giải. Hai giải nhất”.
    “Tất nhiên rồi, ai mà khước từ cho nổi”, Patrice Hollmann đáp với vẻ tự tin khiến tôi sửng sốt, tưởng như nàng đã lui tới quán này hàng năm nay.
    Alphonse nháy mắt, “Vậy hai xuất nhé?”
    Nàng gật.
    “Hay lắm! Tôi sẽ đích thân đi lấy”.
    Đoạn bác lui vào bếp. “Tôi đã hết e ngại quán này”, tôi nói, “Cô chiếm được cảm tình của bác Alphonse nhanh như cơn lốc. Đích thân tôi đi lấy!... Thường thì bác ta chỉ làm thế đối với khách quen thôi”.
    Alphonse trở lại. “Tôi thêm cho mỗi người một xúc xích mới làm”.
    “Sáng kiến hay đấy”, tôi nhận xét.
    Alphonse nhìn chúng tôi đầy thiện cảm. Rượu mạnh được bưng ra. Ba ly. Một dành cho Alphonse. “Nào, xin chúc mừng”, bác nói. “Chúc cho con cái chúng ta có được cha mẹ giàu”.
    Chúng tôi dốc tuột ly rượu vào mồm. Cô gái không chỉ nhấp nhấp ở môi, nàng cũng cạn luôn một hơi.
    “Cứng cựa thật, cứng cựa thật”. Alphonse nói và kéo giày lệt xệt về quầy.
    “Cô thấy rượu mạnh thế nào?”, tôi hỏi.
    Nàng rùng mình. “Hơi nặng. Nhưng tôi không thể để mất thể diện trước bác Alphonse”.
    Món sườn lợn quả ngon tuyệt. Tôi làm luôn hai xuất đầy, và nàng ngồi trong quán mới tự nhiên, thoải mái làm sao. Không chút kiểu cách, nàng cạn thêm ly rượu mạnh nữa với Alphonse.
    Bác ngầm nháy mắt với tôi ra ý tán thưởng. Mà Alphonse là kẻ sành đời. Bác chẳng hẳn sành về sắc đẹp và văn hóa... nhưng chắc chắn bác rất hiểu những gì thuộc về bản chất và giá trị nội dung.
    “Nếu cô gặp may, cô sẽ còn được biết điểm mềm yếu trong con người Alphonse”, tôi nói.
    “Tôi rất muốn xem thử”, nàng đáp. “Trông bác ta chẳng có vẻ gì mềm yếu cả”.
    “Thế mà có đấy!” Tôi chỉ vào chiếc bàn đặt cạnh quầy: “Kia kìa...”
    “Cái gì? Chiếc máy quay đĩa ấy à?”
    “Không phải chiếc máy quay đĩa. Các bài đồng ca cơ! Alphonse ưa thích đồng ca lắm. Không nhạc nhảy, nhạc cổ điển cũng không... chỉ đồng ca thôi: đồng ca nam, đồng ca nam nữ... trên đĩa hát của bác ta chỉ rặt đồng ca là đồng ca. Kìa bác ấy lại đấy”.
    “Ngon chứ?” Alphonse hỏi.
    “Ngon sánh ngang các cụ bà nhà ta vẫn nấu”, tôi đáp.
    “Thế còn quý cô?”
    “Đời tôi chưa bao giờ được nếm món sườn tuyệt đến thế”, quý cô đáp chững chạc.
    Alphonse thỏa mãn gật đầu. “Giờ tôi cho hai người nghe thử những chiếc đĩa mới của tôi. Các người cứ là sửng sốt nhá!”.
    Bác đi lại chiếc máy quay đĩa. Kim chạy xào xạo, và một dàn đồng ca nam giọng vang như sấm hùng hồn cất tiếng hát bài Tĩnh mịch trong rừng thẳm. Rõ là một sự tĩnh mịch đinh tai nhức óc chết tiệt.
    Vừa nghe nhịp đầu, cả quán đã im phắc. Alphonse trở nên đáng gờm cho kẻ nào không chịu tỏ ra ta đây cũng thưởng thức. Bác đứng bên quầy, hai cánh tay lông lá tì trên mặt kính. Nét mặt bác thay đổi dưới sức mạnh của âm nhạc. Bác đâm ra mơ mộng... mơ mộng như một con khỉ đột có thể thả hồn chơi vơi. Các bài đồng ca có một mãnh lực phi thường đối với bác. Chúng biến bác hiền như nai con. Ngay giữa cuộc ẩu đả... hễ dàn đồng ca nam cất tiếng hát là bác buông địch thủ, như thể có chiếc đũa thần đụng phải, lắng tai nghe và sẵn sàng dàn hòa. Trước kia, thời bác hay nổi cơn thịnh nộ hơn, bác gái luôn đặt sẵn trên máy những đĩa hát bác đặc biệt yêu thích. Hễ tình thế trở nên nguy hiểm và thấy bác lăm lăm tay búa hùng hổ từ sau quầy nhào ra, bác gái vội đặt kim lên đĩa... Thế là Alphonse buông búa, lắng tai nghe, rồi dịu luôn. Thời gian trôi, và giờ đây điều đó chẳng còn cần thiết nữa... Bác gái đã mất, chân dung bà - quà tặng của Ferdinand Grau, bù vào đó họa sĩ cứ việc đến quán ăn khỏi trả tiền - treo phía trên quầy... ngay Alphonse cũng đã già đi, lạnh lùng hơn. Hết đĩa, Alphonse lại gần.
    “Tuyệt vời”, tôi nói.
    “Nhất là giọng tênô đầu”, Patrice Hollmann đế thêm.
    “Chính thế”, Alphonse nói, lần đầu tiên trở nên sôi nổi. “Cô sành lắm! Giọng tênô đầu thuộc loại cừ khôi”.
    Chúng tôi cáo biệt bác. “Chào Gottfried hộ tôi nhé”, bác nói. “Bảo cậu ấy sao lâu nay không thấy thò mặt đến đây”.
    Chúng tôi đứng trên hè phố. Ánh sáng đèn đường trước nhà nhảy nhót trên tán một cây cổ thụ. Các cành khô đã nhú chồi xanh, và nhờ những tia sáng mờ, lung linh hắt từ dưới lên, cái cây trông như to hơn, cao hơn, tưởng chừng như ngọn của nó mất hút trong bóng hoàng hôn... nó giống một bàn tay khổng lồ xòe rộng vươn lên bầu trời trong nỗi khao khát khôn cùng.
    Patrice Hollmann khẽ rùng mình.
    “Cô lạnh à?”, tôi hỏi.
    Nàng so vai và luồn hai bàn tay vào ống tay áo khoác lông của nàng.
    “Một thoáng thôi, ở trong kia ấm quá mà”.
    “Cô ăn mặc hơi phong phanh”, tôi nói. “Tôi còn lạnh nữa!”.
    Nàng lắc đầu. “Tôi không thích mặc những đồ dày. Và tôi mong sao trời mau ấm trở lại. Tôi ghét lạnh. Nhất là cái lạnh ở thành phố”.
    Tôi đỡ nàng lên xe và lấy chăn phủ lên đầu gối nàng. Nàng trùm cao thêm chút nữa. “Tuyệt vời! Thế này dễ chịu lắm. Lạnh phát buồn cả người”.
    “Đâu chỉ lạnh mà thôi”. Tôi ngồi vào tay lái. “Chúng ta đi dạo chút nhé?”.
    Nàng gật. “Rất vui lòng”.
    “Đi đâu bây giờ?”.
    “Cứ thong thả xuyên qua thành phố. Muốn đến đâu thì đến”.
    “Được”.
    Tôi nổ máy, chúng tôi cho xe chạy chầm chậm, không mục đích, xuyên qua thành phố. Đây là giờ xe cộ đông nhất vào chiều tối. Chúng tôi len lỏi hầu như không tiếng động, xe chạy êm thế đấy. Nó tựa một con tàu lặng lẽ trôi trên những dòng kênh muôn sắc của cuộc đời. Đường phố cuồn cuộn chảy, những vòm cổng sáng rực, ánh điện nhấp nháy, những dãy đèn đường, cái náo động êm ái, ngọt ngào của cuộc sống lúc hoàng hôn, cơn sốt dịu của đêm thắp sáng, và bên trên tất cả, giữa các đường viền mái nhà, bầu trời mênh mông màu xám bạc với ánh sáng hắt lên từ thành phố.
    Cô gái lặng lẽ ngồi bên tôi; qua cửa kính xe, ánh sáng và bóng tối luân chuyển trên gương mặt nàng. Chốc chốc tôi lại nhìn sang nàng, giờ đây nàng gợi tôi nhớ đến buổi tối đầu tiên tôi gặp nàng. Gương mặt nàng nghiêm trang hơn, có vẻ gì xa lạ hơn trước, nhưng tuyệt đẹp... Đó chính là gương mặt đã khiến tôi xao xuyến và không sao quên nổi. Tôi cảm tưởng như nó chứa đựng chút bí ẩn của sự tĩnh lặng, cái bí ẩn mà chỉ những vật gần gũi thiên nhiên mới có - cây cỏ, mây trời, muông thú... và đôi khi một người đàn bà.
    Chúng tôi đi ra những đường phố yên tĩnh vùng ngoại ô. Gió mạnh lên. Dường như gió đang thổi đêm đến. Tôi dừng xe bên một khoảng trống rộng, xung quanh, trong những mảnh vườn nhỏ, những căn nhà xinh đang say ngủ.
    Patrice Hollmann cựa mình như chợt tỉnh dậy.
    “Tuyệt thật”, lát sau nàng nói. “Tôi mà có xe thì tối nào tôi cũng thong thả đi rong thế này. Có một chút gì huyền ảo khi được lặng lẽ lướt qua mọi nơi như thế. Ta tỉnh và mơ cùng một lúc. Tôi có thể tưởng như người ta không cần có những người khác nữa, khi tôi đến...”
    Tôi móc túi lấy một bao thuốc lá. “Tối đến, người ta cần có ai đó, phải không?”
    Nàng gật. “Vâng, tối đến. Khi trời tối dần kỳ lạ lắm”.
    Tôi bóc bao thuốc. “Thuốc lá Mỹ đây. Cô ưa loại này chứ?”
    “Vâng. Thậm chí ưa hơn cả”.
    Tôi châm lửa cho nàng. Ngọn lửa gần và ấm áp nơi đầu que diêm rọi sáng gương mặt nàng, đôi bàn tay tôi trong khoảnh khắc, và thốt nhiên tôi có những ý nghĩ điên rồ, tưởng như chúng tôi đã thuộc về nhau từ lâu lắm.
    Tôi hạ kính cửa xe xuống để khói thuốc thoát ra ngoài.
    “Bây giờ có muốn lái một chút chăng?” Tôi hỏi. “Chắc chắn cô sẽ thấy thú vị đấy”.
    Nàng quay sang tôi. “Tôi muốn lắm; nhưng tôi không biết lái”.
    “Không biết thật à?”
    “Thật. Tôi chưa học lái bao giờ”.
    Tôi vớ được dịp. “Lẽ ra ông Binding phải bày cô từ lâu mới phải”, tôi nói.
    Nàng cười. “Binding quá si mê xe của mình. Ông ta chẳng cho ai mó vào nó cả”.
    “Rõ ngớ ngẩn”, tôi nói, khoái chí vì có cơ hội chơi lão béo một vố. “Tôi để cô lái thoải mái. Cô ngồi vào đây”.
    Cho bay mọi lời căn dặn của Koster, tôi xuống xe để cô gái ngồi vào tay lái. Nàng trở nên lo lắng.
    “Nhưng tôi không lái được thật mà”.
    “Được chứ”, tôi nói, “cô lái thừa sức. Có điều cô chưa biết đó thôi”. Tôi bày cho nàng cách rồ máy, gài số.
    “Thế”, tôi nói, “và bây giờ ta đi nào”.
    “Khoan đã!” Nàng chỉ một chiếc xe buýt đang lầm lũi trườn dọc phố. “Ta không cho nó chạy qua cái sao?”
    “Không đời nào!” Tôi nhanh nhẹn rồ máy và gài số.
    Nàng nắm cứng lấy tay lái, mắt căng thẳng nhìn con đường trước mặt. “Lạy Chúa, chúng ta phóng nhanh quá!”
    Tôi nhìn đồng hồ đo tốc độ. “Cô đang cho xe chạy đúng hai mươi lăm cây số giờ. Trong thực tế là hai mươi cây. Tốc độ thích hợp cho một chiếc xe chạy đường trường”.
    “Thế mà tôi cứ ngỡ những tám mươi cây số giờ cơ đấy”.
    Sau ít phút, nàng đã chế ngự được cái sợ ban đầu. Chúng tôi chạy xuôi một con đường rộng, thẳng tắp. Chiếc Cadillac hơi lạng sang hai bên, tuồng như trong thùng xăng của nó không chứa xăng mà đầy ắp rượu cognac, thỉnh thoảng nó lại suýt quẹt vào lề đường một cách đáng ngại, nhưng dần dần chú chàng chạy đã chững chạc lắm, và sự thể xoay chiều đúng như tôi dự đoán: tôi giành được lợi thế bởi chúng tôi bỗng trở nên thầy trò, và tôi tận dụng triệt để cơ hội ấy.
    “Coi chừng”, tôi nói, “phía trước có cảnh sát”.
    “Ta dừng xe chăng?”
    “Quá muộn mất rồi”.
    “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông ta chặn hỏi tôi? Tôi không có bằng lái”.
    “Thì cả hai ta sẽ vào tù”.
    “Vì Chúa!” Nàng hốt hoảng quơ chân tìm cần phanh.
    “Nhấn ga!” Tôi kêu “Nhấn ga! Dận mạnh vào. Ta phải phóng vèo qua thật hiên ngang, xấc xược là biện pháp hữu hiệu nhất đối chọi với pháp luật”.
    Viên cảnh sát chẳng buồn để mắt đến chúng tôi. Cô gái thở phào. “Tôi chưa hề nghĩ đám cảnh sát giao thông diện mạo lại đáng gờm như bầy rồng phun lửa!” Nàng nói khi chúng tôi đã vượt qua đó hàng trăm thước.
    “Họ chỉ phun lửa khi ta tông vào họ”. Tôi từ từ kéo cần phanh. “Thế, đây là con đường phụ vắng vẻ tuyệt đẹp. Ta sẽ tập cho ra tập. Trước hết hãy tập cho xe lăn bánh, dừng bánh”.
    Patrice Hollmann làm tắt máy mấy lần. Nàng cởi khuy áo khoác lông của mình. “Nó làm tôi phát bức! Nhưng tôi sẽ tập bằng được”.
    Hăng hái, tập trung, nàng ngồi bên tay lái chăm chú xem tôi làm mẫu. Rồi nàng tập quành, miệng thốt lên những câu xúc động, rời rạc, nàng sợ chết khiếp khi phải đương đầu với những luồng đèn pha đi ngược chiều, tựa như chúng là lũ quỷ, và nàng rất mực kiêu hãnh khi xe đã vượt lên êm đẹp. Chẳng mấy chốc, trong cái không gian nhỏ bé lờ mờ sáng nhờ ánh đèn đài và đồng hồ xe, đã nảy nở một tình cảm bè bạn như nó vẫn thường nhanh chóng hình thành trong những công việc mang tính chất kỹ thuật và thực hành... Nửa giờ sau, khi chúng tôi đổi chỗ để tôi lái xe về, chúng tôi đã trở nên thân thiết với nhau hơn là giả sử hai đứa vừa cùng nhau tâm sự về toàn bộ đời mình.
    Đến phố Nicholai tôi dừng xe. Chúng tôi đỗ ngay dưới một tấm biển quảng cáo phim đỏ rực. Lớp nhựa đường ánh lên mờ mờ như một thứ phẩm nhuộm đỏ sẫm đã phai màu. Bên vệ đường lấp lánh một vũng dầu lớn đen nhầy.
    “Nào”, tôi nói. “bây giờ ta xứng đáng được công khai hưởng một ly rượu. Ta đi đâu uống nhỉ?”
    Patrice Hollmann suy nghĩ một loáng. “Hay lại đến cái quán xinh xắn đáng yêu có những chiếc thuyền buồm nhỏ ấy được không”, nàng đề nghị.
    Trong tích tắc tôi cảnh giác cao độ. Giờ này, trăm phần chắc cả trăm, thế nào anh chàng lãng mạn cuối cùng cũng ngồi lù lù ở đó. Tôi đã hình dung ra vẻ mặt cậu ta... “Ôi dào”, tôi nói nhanh! “Quán ấy thì có gì đặc biệt nhỉ. Có nhiều tiệm còn hay ho hơn nhiều...”
    “Tôi không biết... hôm vừa rồi tôi thấy quán ấy xinh xắn đáng yêu lắm”.
    “Thật không?” tôi sửng sốt hỏi. “Hôm rồi cô thấy thích nó à?”
    “Vâng”, nàng cười đáp. “Rất thích đằng khác...”
    Té ra vậy! Tôi tự nhủ, thế mà tôi cứ tự sỉ vả mình mãi! “Nhưng tôi tin giờ này ở đấy chật ních những người” tôi thử bàn lùi thêm lần nữa.
    “Thì ta cứ đến đó thử xem”.
    “Ừ, thì đến”. Tôi suy tính nên xoay cách nào đây.
    Vừa đến nơi, tôi đã nhanh nhẹn xuống xe. “Tôi ngó qua một loáng thôi. Sẽ quay lại ngay”.
    Ngoài Valentin, không thấy ai quen trong tiệm. “Này cậu”, tôi hỏi, “Gottfried đã đến đây chưa?”
    Valentin gật đầu. “Rồi, cùng Otto. Họ đã bỏ đi cách đây nửa giờ”.
    “Tiếc quá”, tôi thở phào. “Mình rất muốn gặp họ”.
    Tôi trở ra xe. “Ta có thể liều một phen”, tôi nói “Ngẫu nhiên mà hôm nay trong quán chẳng đông mấy”. Dẫu sao để đề phòng, tôi vẫn đậu chiếc Cadillac ở góc phố tiếp đó, khuất trong chỗ tối nhất.
    Nhưng chúng tôi ngồi chưa ấm chỗ đã thấy mớ tóc vàng rơm của Lenz xuất hiện bên quầy rượu. Mẹ kiếp, tôi nghĩ, giờ sẽ lộ chuyện đây. Tôi những muốn thư thư vài tuần nữa.
    Có vẻ như Gottfried chỉ ghé qua chực đi ngay. Tôi vừa khấp khởi tưởng thoát nợ thì thấy Valentin nhắc cậu ta tôi đang ngồi đằng kia. Đáng đời cái tội nói dối ban nãy. Vẻ mặt Gottfried khi cậu ta nhìn thấy hai chúng tôi xứng là một trang khảo cứu xuất sắc cho một diễn viên điện ảnh ham học hỏi. Mắt cậu ta trồi ra như hai hòn bi ve, và tôi e răng hàm dưới của cậu ta sẽ long ra mất. Đáng tiếc đúng giây phút này không một nhà đạo diễn nào có mặt trong quán; nếu có tôi đoán chắc ông ta đã giúp Lenz ngoi lên trong giới điện ảnh. Chẳng hạn để thủ những vai như vai một thủy thủ đắm tàu bỗng thấy hiện trước mặt một con rắn biển đang phun phì phì.
    Gottfried nhanh chóng trấn tĩnh lại. Tôi ném cho cậu ta một cái nhìn van vỉ, xin cậu hãy biến đi cho. Nhưng cậu ta đáp lại bằng một nụ cười nhếch mép đểu giả, vuốt chiếc áo vét trên mình cho phẳng nếp, và bước lại gần.
    Tôi biết điều gì đang đe dọa mình nên tấn công ngay. “Cậu đã đưa cô Bomblatt về nhà rồi à?” Tôi hỏi để trung lập hóa cậu ta.
    “Ừ”, cậu ta trả lời, không một sợi mi mắt nào động đậy khả đi tiết lộ rằng một giây trước đó cậu ta còn không biết có một có nàng Bomblatt tồn tại trên đời.
    “Cô ta gửi lời chào cậu, nói sáng mai cậu gọi điện cho cô ta sớm”.
    Trả miếng búa bổ đây. Tôi bèn gật đầu. “Mình sẽ gọi. Mình hy vọng cô ta sẽ mua chiếc xe”.
    Lenz lại mở miệng. Tôi đá vào ống chân cậu ta và lừ mắt cảnh cáo khiến cậu ta mỉm cười không nói nữa.
    Chúng tôi cạn vài ly rượu. Tôi chỉ uống loại sidecar vắt nhiều chanh. Tôi không muốn tự mình lại bắt quả tang mình say.
    Gottfried đang cực kỳ phởn chí. “Mình vừa lại đằng nhà cậu”, cậu ta nói, “mình định rủ cậu đi. Sau đó mình ra quảng trường Chợ. Ở đấy có một chiếc đu quay mới rất chúa sừng. Ta đi chơi tí không?” Cậu ta nhìn Patrice Hollmann.
    “Đi ngay!” nàng đáp. “Tôi yêu đu quay hơn hết thảy mọi thứ!”
    “Vậy ta nhổ rễ luôn thôi”, tôi nói. Tôi phấn khởi vì được thoát ra ngoài. Ngoài trời, mọi sự sẽ đơn giản hơn.
    Đám đàn ông quay đàn - những trạm gác vòng ngoài cùng của quảng trường Chợ. Tiếng nhạc rền rĩ ngọt ngào, buồn bã. Trên những tấm nhung nhàu nhã phủ đàn, đôi khi có một con vẹt hoặc một chú khỉ nhỏ run rẩy trong chiếc áo đỏ bằng vải thô. Rồi những tiếng rao hàng lảnh lót của đám người bán nhựa mác-tít gắn đồ sứ, dao cắt kính, mật ong Thổ Nhĩ Kỳ, bóng bay và vải may complê. Ánh sáng xanh lạnh lẽo, mùi những ngọn đèn đốt bằng khí cácbua. Những thầy đoán số, các nhà chiêm tinh, những căn lều bán bánh quế, những chiếc đi thuyền, những gian hàng với các trò giải trí và cuối cùng, ầm ĩ tiếng nhạc, sặc sỡ, lộng lẫy và rực sáng như những tòa lâu đài: những ngọn tháp xoay tròn của chiếc đu quay.
    “Nhanh nào các bạn!” Lenz xông vào Con đường xuyên núi non, thung lũng với cái đầu bù xù. Đây là nơi dàn nhạc lớn nhất chợ chơi. Cứ mỗi vòng quay lại có sáu chàng thổi kèn trompet bước ra khỏi sáu cái bục sơn son thiếp vàng, họ quay người về mọi phía vẫy vẫy, múa may những chiếc kèn, rồi lại lùi về. Thực là huy hoàng.
    Chúng tôi ngồi vào một con thiên nga lớn và cứ thế xoay vù vù khi lên khi xuống. Thế giới lướt qua lộng lẫy, chao đảo rồi rơi trở lại một đường ngầm tối đen, chúng tôi xuyên qua đường hầm ấy trong tiếng trống khua loạn xạ để rồi liền đó lại được chào đón trong ánh sáng rực rõ và tiếng kèn trompet.
    “Tiếp tục” Gottfried kéo chúng tôi đến một chiếc đu bay với những khinh khí cầu và phi cơ. Chúng tôi trèo lên một khinh khí cầu và chao lượn ba vòng liền.
    Khi xuống tới đất, chúng tôi hơi hụt hơi. “Bây giờ đến chỗ bánh xe quỷ!” Lenz tuyên bố.
    Bánh xe quỷ là một mặt tròn phẳng khổng lồ, ở giữa hơi lồi, luôn quay nhanh dần, và ta phải chống chọi để không bị nó hất xuống. Gottfried trèo lên với chừng hai chục người nữa. Cậu ta nhảy loi choi như một thằng cha lên cơn khùng và được hoan hô nhiệt liệt. Rốt cuộc còn lại một mình cậu ta và một chị bếp có cặp mông đồ sộ như mông ngựa cày. Khi cuộc chơi trở nên khó nhá, chị chàng khôn lỏi ngồi phệt ngay xuống chính giữa mặt tròn, và Gottfried loi choi lượn vòng sát chị ta. Những kẻ khác đã bị lẳng ráo xuống đất. Rốt cuộc, số phận cũng túm gáy con người lãng mạn cuối cùng, anh chàng chếnh choáng nhào vào lòng chị bếp, rồi, vẫn trong vòng ôm của chị, lăn lông lốc sang một bên. Khi trở xuống chỗ chúng tôi, Lenz đã khoác tay chị bếp và thân mật gọi chị là Lina. Lina mỉm cười ngượng nghịu. Lenz hỏi chị muốn dùng gì để cậu ta đãi. Lina bèn nói uống bia chắc là đã khát, cả hai biến vào một rạp vũ dân gian vùng Bavarois Thượng[7].
    “Còn chúng mình? Chúng mình đi đâu bây giờ?”
    Patrice Hollmann hỏi, hai mắt long lanh.
    “Vào mê cung ma quỷ”, tôi nói, tay chỉ một căn lều lớn.
    Mê cung là một con đường đầy rẫy sự kinh ngạc. Đi được vài bước, đất chòng chành dưới chân, những bàn tay quờ quạng trong bóng tối, từ các góc ló ra những bộ mặt quỷ sứ, lũ ma hú hét... Chúng tôi chỉ cười, nhưng một lần cô gái giật mình lùi lại trước một cái đầu lâu sáng xanh lè. Trong khoảnh khắc, nàng ngã người trong cánh tay tôi, hơi thở của nàng phớt trên mặt tôi, và tôi cảm thấy tóc nàng khẽ vướng vào môi mình... ngay sau đó nàng lại cười, tôi buông nàng ra. Tôi buông nàng, nhưng một cái gì trong tôi không buông nàng. Chúng tôi ra ngoài đã lâu mà tôi vẫn cảm thấy đôi vai nàng trên cánh tay tôi, cảm thấy làn tóc mềm mại, và hương đào thoang thoảng của da thịt nàng. Tôi tránh không nhìn nàng. Thốt nhiên, nàng đã trở nên khác hẳn đối với tôi.
    Lenz đã chờ tôi. Cậu ta đứng một mình. “Lina đâu rồi?” tôi hỏi.
    “Đang nốc rượu”, cậu ta đáp, đầu hất về phía căn lều nông dân, “với một tay phó rèn”.
    “Xin có lời chia buồn”, tôi nói.
    “Nhảm nhí”, Gottfried nói, “bây giờ ta chuyển sang những trò đàn ông nghiêm túc thôi”.
    Chúng tôi vào một căn lều, nơi người ta thi thố tài ném những chiếc vòng cao su cứng sao cho chúng ngoắc vào những cái móc, ném trúng thì được thu về đủ mọi thứ linh tinh.
    “Nào”, Lenz nói với Patrice Hollmann và hất mũ ra sau gáy, “bây giờ chúng tôi sẽ thu lượm cho cô một đống hồi môn”.
    Cậu ta ném trước tiên và được một chiếc đồng hồ báo thức. Đến lượt tôi đoạt một con gấu bông. Chủ lều vừa trao giải cho chúng tôi vừa mời chào luôn miệng để lôi kéo các khách hàng khác. “Xem còn mời chào được mấy nả”. Gottfried cười mỉm và chiếm luôn một cái chảo rán. Tôi làm thêm chú gấu thứ hai. “Chà, may khiếp”, chủ lều nói khi trao đồ cho bọn tôi.
    Lão có ngờ đâu cái gì đang chờ đợi lão. Lenz từng là tay ném lựu đạn búa bổ nhất đại đội, và mùa đông đến, hễ rỗi việc, hàng tháng ròng chúng tôi tập ném mũ lên mọi loại móc có trước mắt chúng tôi. So ra thì những chiếc vòng này chỉ là trò trẻ con. Gottfried nhẹ nhàng giành một lọ hoa bằng pha lê. Tôi lượm có đến nửa tá đĩa hát. Lão chủ lều lầm lì đẩy các thứ cho chúng tôi, đoạn kiểm tra lại các móc của lão. Lenz nhắm, ném, và chiếm luôn giải nhì, một bộ đồ uống cà phê. Giờ đây, chúng tôi có cả đám khán giả vây quanh. Tôi ném một lèo luôn ba vòng vào một móc. Kết quả: Bức Madeleine thiêng liêng sám hối đóng trong khung thiếp vàng.
    Lão chủ lều nhăn nhó như thể đang ngồi trên ghế nhổ răng, lão từ chối không cho chúng tôi tiếp tục ném vòng. Chúng tôi định thôi, nhưng đám khán giả làm ầm lên. Họ đòi lão để chúng tôi chơi tiếp. Họ muốn nhìn lão sập tiệm. Lina to mồm nhất, chị ta đã cùng bác phó rèn trở lại đây từ bao giờ. “Thiên hạ chỉ được quyền ném trượt thôi hả?” chị ta la to, “còn ném trúng thì không được quyền, đúng chứ?” Bác phó rèn gầm lên hưởng ứng.
    “Tốt lắm”, Lenz nói, “mỗi thằng một cú nữa đi”.
    Tôi ném trước, đoạt một cái chậu với một chiếc bình và hộp đựng xà phòng. Rồi đến lượt Lenz. Cậu ta cầm năm vòng, loáng cái đã ném bốn chiếc vào một móc. Trước khi ném nốt chiếc thứ năm, cậu ta cố tình nghỉ một lát để tăng hiệu quả cuộc trưng diễn và rút thuốc lá ra. Ba người đàn ông vội chìa lửa cho Lenz. Bác phó rèn vỗ vai cậu ta. Lina cắn khăn mù xoa vì quá hồi hộp. Sau đó, Lenz nhắm, và rất nhẹ nhàng để chiếc vòng khỏi bật ra, cậu ta ném chiếc thứ năm chồng lên bốn chiếc kia. Vòng móc lại trên móc. Tiếng hò reo vang rền. Lenz đoạt giải độc đắc - một chiếc xe nôi trong có chăn hồng và gối đăng ten.
    Lão chủ lều vừa đẩy chiếc xe ra vừa chửi thề. Chúng tôi chất tất cả lên xe, kéo nhau sang lều bên, Lina đẩy xe. Bác phó rèn thấy vậy bèn buông những lời bông đùa cợt nhả khiến tôi chỉ muốn cùng Patrice Hollmann lùi sau họ một quãng. Ở lều tiếp theo người ta chơi trò ném vòng lọt qua những chai rượu vang. Ném lọt chai nào, được chai ấy. Chúng tôi quơ sáu chai liền. Lenz xem nhãn rượu, rồi biếu cả cho bác thợ rèn.
    Còn một lều nữa có trò chơi tương tự, nhưng ông chủ đã đánh hơi thấy nguy hiểm, nên khi chúng tôi đến, ông ta tuyên bố đóng cửa. Bác phó rèn gây gổ, bác đã nhòm thấy những chai bia có thể đoạt được. Nhưng chúng tôi ngăn bác. Ông chủ lều này chỉ còn một cánh tay.
    Chúng tôi về chiếc Cadillac với một đám lẵng nhẵng theo sau. “Làm thế nào bây giờ?” Lenz vừa hỏi vừa gãi đầu. “Tốt hơn hết ta buộc chiếc xe nôi vào sau xe mà kéo”.
    “Tất nhiên”, tôi nói, “nhưng cậu phải ngồi vào xe nôi mà điều khiển để nó khỏi tung bê”.
    Patrice Hollmann phản đối. Nàng sợ nhỡ Lenz làm thật. “Được”, Gottfried nói, “vậy chúng ta hãy phân loại. Hai con gấu bông này cô nhất định phải cầm. Cả những chiếc đĩa bát nữa. Thế còn cái chảo?”.
    Cô gái lắc đầu. “Nó sẽ trở thành tài sản của xưởng vậy”, Gottfried tuyên bố. “Hãy nhận nó về, bậc thầy tráng trứng lão thành Robby ơi. Còn bộ đồ uống cà phê?”.
    Cô gái hất đầu về phía Lina. Chị bếp đỏ mặt. Gottfried trao đồ cho chị ta trịnh trọng như trao giải thưởng. Đoạn cậu ta lôi ra cái chậu men. “Thế cái chậu rửa này? Xin biếu ông bạn láng giềng đây, phải không? Có ích cho nghề của bác. Cả chiếc đồng hồ báo thức nữa. Cánh thợ rèn có tật ngủ say như chết”.
    Tôi đưa Gottfried cái lọ hoa. Cậu ta trao nó cho Lina. Chị ta ấp úng chực từ chối. Mắt chị ta dán chặt vào thánh Madeleine sám hối. Chị ta sợ nhỡ nhận lọ hoa rồi thì bức tranh sẽ về tay bác thợ rèn. “Tôi ham mê nghệ thuật”, chị ta thốt lên. Chị ta đứng đó thèm thuồng đến tội nghiệp, miệng cắn cắn những ngón tay đỏ lựng để kìm bớt xúc động.
    “Thưa quý tiểu thư”, Lenz quay lại Patrice Hollmann hỏi với vẻ mặt trịnh trọng, “Tiểu thư nghĩ sao ạ?”
    Patrice Hollmann cầm bức tranh, đưa nó cho chị bếp. “Bức tranh đẹp lắm, chị Lina ạ”, nàng nói.
    “Hãy treo nó trên đầu giường chị và hãy yêu quý nó”, Lenz tiếp lời, Lina vồ lấy bức tranh. Mắt chị ta đẫm lệ. Chị ta nức to lên một tiếng vì biết ơn.
    “Còn mày nữa”, Lenz nói với chiếc xe nôi, vẻ trầm tư. Mặc dù còn tràn trề hạnh phúc vì bức Madeleine, mắt Lina đã lại sáng lên thèm thuồng. Bác phó rèn tán rằng người ta chẳng thế nào biết được bao giờ người ta sẽ cần đến cái của ấy và phá lên cười thích thú, buông rơi cả một chai vang. Nhưng Lenz không thuận. “Khoan, ban nãy tôi vừa trông thấy...”, cậu ta nói và biến mất. Vài phút sau cậu ta về đẩy chiếc xe đi. “Xong rồi”, cậu ta bảo khi trở lại. Chúng tôi lên chiếc Cadillac. “Hệt như Lễ Chúa giáng sinh ấy!” Lina nổi hoan hỉ giữa đống chiến lại phẩm của mình, đoạn chị ta chìa bàn tay to bè, đỏ lựng, ra bắt tay tạm biệt chúng tôi.
    Bác phó rèn còn ghé đầu vào giây lát nói riêng với chúng tôi. “Nghe này”, bác dặn, “phòng có lúc các cậu cần cho thằng nào nếm đòn... tôi ở phố Leibnitz, nhà số 16, qua sân sau, lên tầng hai, rẽ trái. Rủi chúng đông, tôi kéo theo cả phường hội của tôi”.
    “Nhất trí”, chúng tôi đáp và phóng xe đi. Khi chúng tôi quành xe ở góc quảng trường Chợ, Gottfried chỉ ra cửa xe. Kìa, chiếc xe nôi của chúng tôi với một đứa bé bằng xương bằng thịt, bên cạnh, một người đàn bà xanh xao đang ngắm nghía chiếc xe, vẻ mặt vẫn chưa hết bối rối.
    “Được đấy chứ, hả?” Gottfried hỏi.
    “Anh hãy cho nốt chị ta những con gấu này đi!” Patrice Hollmann kêu lên.
    “Có lẽ cho một con thôi”, Lenz nói, “cô phải giữ một con chứ”.
    “Không, cho cả hai đi”.
    “Được”. Lenz nhảy khỏi xe, ném vào lòng người đàn bà hai thứ đồ chơi bằng nhung nọ, rồi ba chân bốn cẳng chạy biến như đang bị truy đuổi, không để cho bà ta kịp mở miệng nữa. “Dào”, cậu ta thở phào “giờ thì mình mệt lử vì cái thói hào hiệp của mình. Cho mình xuống Quốc Tế nhé. Phải làm một ly cognac mới xong”.
    Cậu ta xuống xe, tôi đưa cô gái về nhà. Lần này khác với lần trước. Nàng đứng trong khung cửa, ánh đèn đường lung linh trên gương mặt nàng. Nàng xinh đẹp quá. Giá như tôi được theo nàng.
    “Xin chào”, tôi nói, “cô ngủ ngon nhé!”
    “Chúc anh ngủ ngon!”
    Tôi nhìn theo nàng cho tới khi đèn trong nhà tắt. Đoạn, tôi lái chiếc Cadillac về. Một cảm giác kỳ lạ đến trong tôi. Nó không giống với cảm giác ta thường có những tối nào, khi ta si mê một cô gái. Lần này đượm tình âu yếm hơn. Tình âu yếm và niềm khát vọng được buông thả lòng mình trọn vẹn. Buông mình phiêu diêu đến đâu thì đến...
    Tôi lại tìm Lenz ở tiệm Quốc Tế. Tiệm hầu như vắng teo. Fritzi ngồi trong góc tiệm với anh bồi Alois người tình của ả. Anh chị chàng đang cãi nhau. Gottfried ngồi cùng Mimi và Wally trên chiếc đi-văng cạnh quầy rượu. Cậu ta tỏ ra khả ái với cả hai, với cả Mini, ả gái xề tội nghiệp.
    Các ả sửa soạn đi. Họ phải hành nghề; lúc này là thời điểm chính. Mimi rên rỉ và than thở vì chứng giãn tĩnh mạch của ả. Tôi ngồi xuống bên Gottfried.
    “Cứ việc nổ với mình đi”, tôi nói.
    “Để làm gì, bé yêu”, cậu ta đáp khiến tôi ngạc nhiên. “Cậu xử sự hoàn toàn đúng”.
    Tôi nhẹ cả người khi thấy Lenz nhìn nhận sự việc đơn giản đến thế. “Lẽ ra mình nên kể sơ sơ từ trước”.
    Cậu ta phẩy tay. “Vớ vẩn!”
    Tôi gọi một ly rum “Cậu hiểu không”, tôi nói. “mình chẳng biết tí gì về nàng. Cũng không rõ nàng quan hệ thế nào với Binding. Có thật hôm đó hắn đã kể ít nhiều với cậu?”
    Cậu ta nhìn tôi “Cậu đâm lo vì lẽ đó sao?”
    “Không”.
    “Mình cũng muốn tin như vậy. À mà chiếc áo khoác hợp với cậu lắm”.
    Tôi đỏ mặt.
    “Việc gì mà đỏ mặt. Cậu rất phải. Mình những mong được như cậu”.
    Tôi nín lặng một lát. “Vì sao, Gottfried?” cuối cùng tôi hỏi.
    Cậu ta lại nhìn tôi. “Vì tất thảy những thứ khác đều là rác rưỡi, Robby ạ. Vì thời nay không còn gì đáng sống cả. Hãy nghĩ đến những điều Ferdinand đã nói với cậu hôm qua. Cái thằng phết màu xác chết béo bệu, già đời ấy không phải là không có lý. Nào, giờ thì lại đây, ngồi vào đàn và chơi vài bài hát cũ của lính xem nào”.
    Tôi chơi bài Ba bông huệ và Rừng Argonner. Trong tiệm vắng tanh, tiếng đàn vang lên có vẻ ma quái, nếu nhớ lại cái thời chúng tôi thường xuyên hát những giai điệu ấy.

    • Chú thích:
    [7] Trong điệu vũ, diễn viên vừa nhảy vừa đập tay vào đùi, đầu gối và bàn chân mình (N.D).
     
  9. kaoaye

    kaoaye Lớp 7

    Chương 7

    Hai ngày sau, Koster nhào ra từ cái văn phòng khổ của chúng tôi. “Robby, lão Blumenthal của cậu vừa gọi điện. Lão yêu cầu cậu mười một giờ lái chiếc Cadillac đến chỗ lão. Lão muốn chạy thử”.
    Tôi quẳng cả mỏ lết lẫn cờ lê.
    “Mẹ kiếp, Otto... phen này khéo trúng quả!”
    “Mình đã bảo các cậu thế nào”, từ cái hố dưới gầm chiếc Ford, Lenz kêu vọng lên. “Lão sẽ trở lại, mình đã nói mà. Phải luôn luôn tin lời Gottfried!”
    “Câm mồm đi, đang chuyện nghiêm chỉnh”, tôi hét chõ xuống. “Này, Otto, mình có thể bớt giá nhiều nhất bao nhiêu?”
    “Nhiều nhất hai ngàn. Quá lắm thì hai ngàn hai. Trường hợp cùng đường, đành hai ngàn rưỡi. Nếu cậu thấy đang ngã giá với một thằng điên, thì hai ngàn sáu vậy. Nhưng nhớ bảo cho hắn biết là bọn ta sẽ nguyền rủa hắn đời đời”.
    “Được”.
    Chúng tôi chùi cho chiếc xe bóng lộn lên. Tôi ngồi vào xe. Koster đặt tay lên vai tôi. “Robby, nên nhớ: thời là lính cậu đã nhiều phen sát cánh với bọn mình. Hãy bảo vệ danh dự của xưởng chúng ta đến giọt máu cuối cùng. Có chết thì đứng mà chết, tay đặt trên ví lão Blumenthal”.
    “Nhất trí”, tôi cười khì.
    Lenz móc trong túi ra một chiếc mề đay và giơ nó trước mặt tôi. “Sờ vào tấm bùa của mình đi, Robby!”
    “Thì sờ”. Tôi nói, tay chạm vào tấm bùa.
    “Úm ba la, cầu xin thần vĩ đại Siva”, Gottfried niệm thần chú, “xin thần ban cho kẻ nhát gan này lòng can đảm và sức mạnh! Gượm đã, đây, cậu cứ cầm theo vẫn hơn. Thế, bây giờ hãy nhổ nước bọt ba lần nữa”.
    “Xong ngay”, tôi nói và nhổ ba lần xuống đất, ngay trước chân Lenz, rồi phóng xe đi, khi qua chỗ Jupp, chú cao hứng vẫy chào tôi bằng cái vòi xăng.
    Dọc đường tôi mua vài bông cẩm chướng và cắm chúng rất nghệ thuật vào những bình pha lê gắn trong xe. Tôi tính dùng chúng lấy lòng bà Blumenthal.
    Tiếc rằng Blumenthal tiếp tôi tại văn phòng chứ không phải ở nhà lão. Tôi phải chờ mười lăm phút. Cưng ơi, tôi nghĩ, đây biết tỏng mánh khóe của cưng, cách đó cũng đừng hòng khiến đây mềm lòng. Trong phòng đợi, tôi hỏi dò một cô nàng đánh máy mà tôi mua chuộc được bằng bông cẩm chướng cài trên khuyết áo của mình về chuyện làm ăn của Blumenthal. Lão thầu đồ dệt kim, khối lượng hàng hóa lớn, có chín nhân viên trong văn phòng, là một thành viên trầm tính của công ty, kẻ cạnh tranh đáng gờm nhất của hãng Meyer và con trai , chàng Meyer con sở hữu một chiếc Essex màu đỏ hai chỗ ngồi... thu lượm được chừng ấy tin thì Blumenthal cho gọi tôi.
    Lão lập tức khai hỏa. “Anh bạn trẻ”, lão nói, “tôi không có nhiều thời giờ. Cái giá vừa rồi là mộng ước của anh. Vậy nói thật đi, chiếc xe giá bao nhiêu?”
    “Bảy ngàn mác”, tôi đáp.
    Lão quay phắt đi. “Thế thì chịu”.
    “Ngài Blumenthal”, tôi nói, “ngài hãy xem lại chiếc xe lần nữa...”
    “Không cần thiết”, lão ngắt lời tôi, “vừa rồi tôi đã nhìn kỹ...”
    “Nhìn và xem là hai việc khác nhau”, tôi giải thích. “Ngài cần xem xét các chi tiết xe. Lớp sơn hảo hạng, của hãng Voll và Ruhrbeck riêng nó đã đáng giá hai trăm rưỡi mác, bộ lốp mới toanh, giá in trong tập quảng cáo là sáu trăm mác, vị chi tám trăm rưỡi. Rồi đệm xe, bọc loại nhung mịn nhất...”.
    Lão phẩy tay. Tôi bắt đầu lại từ đầu. Tôi mời lão chiêm ngưỡng chiếc xe lộng lẫy, tấm mui da tuyệt đẹp, bộ tản nhiệt mạ kền, cặp ba-đờ-sốc tối tân giá sáu chục mác... tôi ngoái nhìn chiếc xe như đứa trẻ ngóng về mẹ và tìm cách thuyết phục Blumenthal quá bộ xuống xem. Cũng như Antées, tôi biết rằng mặt đất sẽ truyền thêm sức mạnh cho tôi. Vả lại nếu mặt hàng được chỉ ra tường tận thì nỗi sợ hãi trừu tượng do giá cả gây nên sẽ giảm hắn.
    Nhưng Blumenthal cũng biết rằng sức mạnh của lão nằm phía sau bàn giấy. Lão bỏ kính xuống và mãi lúc này mới thật sự tấn công tôi. Chúng tôi quần nhau như hổ với trăn. Blumenthal chính là con trăn. Tôi chưa kịp đảo mắt ra xung quanh đã bị lão bớt ngoéo ngàn rưỡi mác.
    Tôi đâm hoảng, bèn thọc tay vào túi, nắm chặt chiếc bùa của Gottfried. “Ngài Blumenthal”, tôi cất giọng khá mệt mỏi, “bây giờ là một giờ, hẳn ngài phải đi dùng cơm!” Tôi muốn bằng bất kỳ giá nào thoát khỏi căn phòng này, nơi giá cả cứ tan ra như tuyết.
    “Hai giờ tôi mới ăn”, Blumenthal lạnh lùng đáp, “nhưng anh biết tôi đề nghị gì không? Ta có thể chạy thử xe bây giờ”.
    Tôi thở phào.
    “Sau đó chúng ta sẽ nói chuyện tiếp”, lão thêm. Tôi lại cảm thấy nghẹn thở.
    Chúng tôi đánh xe về nhà lão. Tôi ngạc nhiên thấy kể từ lúc ngồi vào xe lão thay đổi hẳn, tuồng như được thay thế bởi một người khác. Hiền hậu, lão kể tôi nghe câu chuyện tiếu lâm về hoàng đế Franz Josep mà tôi đã biết từ lâu. Để đáp lại, tôi hiến lão câu chuyện vui về tay soát vé tàu điện; lão lại xổ một tràng về chàng tẩm lạc đường vùng Sacsen, và lập tức được tôi hưởng ứng bằng một thiên diễm tình Scotland... về đến trước cổng nhà lão, chúng tôi mới trở lại nghiêm trang. Lão bảo tôi đợi một lát, lão vào đón vợ lão ra.
    “Cadillac béo yêu quý của ta”, tôi nựng chiếc xe, tay vỗ về bộ tản nhiệt, “phía sau những câu chuyện tiếu lâm hẳn lại ẩn náu một trò ma quỷ mới đây. Nhưng cứ yên trí, bọn ta sẽ kiếm được cho chú mày một mái nhà yên ấm. Lão mua chú mày đấy... một khi tên Do Thái đã trở lại, hắn sẽ mua. Còn nếu một tín đồ Thiên Chúa giáo trở lại, cứ là còn xơi nhé. Hắn sẽ đòi chạy thử cả chục chuyến để đỡ tiền tắcxi, và rồi hắn chợt nhớ ra là thay vì chiếc xe, hắn cần một thiết bị nhà bếp kia. Không, không, người Do Thái chơi được, họ biết họ muốn gì. Nhưng ta thề với chú mày, bạn béo tốt bụng của ta ạ: ta mà còn nhượng bộ kẻ hậu duệ chính tông của lão Judas Macchabée hiếu chiến một trăm đồng mác nữa thôi, thì suốt đời ta, ta sẽ không nhấp một giọt rượu nào nữa”.
    Bà Blumenthal xuất hiện. Tôi nhớ lại mọi lời khuyên của Lenz, và từ tay lính chiến, tôi hóa thân thành một anh chàng hào hoa phong nhã. Thấy thế, Blumenthal chỉ nhếch một nụ cười khả ố. Lão quả là lòng lim dạ sắt. Lẽ ra lão nên thầu đầu máy xe lửa, chứ không phải hàng dệt kim. Tôi thu xếp để lão ngồi vào ghế sau, còn vợ lão ngồi bên tôi.
    “Tôi được phép đưa bà đi đâu đây, thưa quý bà?” tôi hỏi, giọng ngọt như mía lùi.
    “Tùy anh”, bà đáp, miệng mỉm một nụ cười mẫu tử.
    Tôi bắt đầu gợi chuyện. Thật dễ chịu khi được ở bên một con người vô hại. Tôi nói năng nhỏ nhẹ tới mức Blumenthal chỉ nghe câu được câu chăng. Như vậy tự do thoải mái hơn. Nguyên việc có lão ngồi ám đằng sau đã đủ khó chịu lắm rồi.
    Chúng tôi dừng xe. Tôi bước xuống, mắt chằm chằm nhìn địch thủ. “Dẫu sao ngài cũng phải thừa nhận rằng chiếc xe chạy êm như ru, thưa ngài Blumenthal”.
    “Êm như ru thì đã đáng gì, hở anh bạn trẻ”, lão đáp với vẻ niềm nở kỳ lạ, “một khi thuế má nuốt chửng con người ta. Thuế chiếc xe này nặng hết sức. Nói để anh biết”.
    “Ngài Blumenthal”, tôi nói, gắng giữ giọng đừng run, “ngài là một nhà thương gia, tôi có thể nói chuyện đứng đắn với ngài. Đó không phải thuế, mà là một khoản chi. Ngài thử nghĩ, thời buổi này công việc kinh doanh đòi hỏi cái gì nào, Ngài cũng biết... không phải vốn như trước đây..., cái nó cần là tín dụng! Và làm cách nào để nhận được tín dụng chứ? Bao giờ cũng vẫn nhờ vào vẻ ngoài của ta. Một chiếc Cadillac vừa vững chãi, vừa thanh lịch... đường bệ nhưng không lỗi thời... một quảng cáo sống cho việc kinh doanh”.
    Blumenthal vui vẻ quay sang vợ. “Anh ta có cái đầu Do Thái đấy chứ? Này anh bạn trẻ”, lão nói, vẫn với giọng thân mật, “thời buổi này, cách quảng cáo hữu hiệu nhất cho tình đoàn kết là đánh bộ quần áo tồi tàn và đi xe buýt. Giá như hai ta có trong tay số tiền chưa trả cho số xe hơi lịch sự đang lượn quanh đây, thì ta có thể ngồi rung đùi được. Tôi lấy tình thân mà nói cho anh biết”.
    Tôi nhìn lão ngờ vực. Lão mưu tính chuyện gì dưới cái vỏ ân cần này? Hay sự có mặt của bà vợ đã làm giảm tinh thần chiến đấu của lão? Tôi quyết định nổ súng. “Một chiếc Cadillac thế này không thể đem so với một chiếc Essex, có phải thế không ạ, thưa quý bà? Cậu chủ trẻ của hãng Meyer và con trai sử dụng cái của ấy đấy, thứ mà tôi đây giá có được biếu cũng chẳng buồn nhận, một cỗ xe trượt đỏ chóe, trông mà ngứa con mắt...”.
    Nghe tiếng Blumenthal thở phì phì, tôi vội vã tiếp: “Vả lại màu sắc chiếc xe đây lại hết sức phù hợp với bà, thưa quý bà... xanh cobalt dịu đi với màu vàng óng của mái tóc...”.
    Bỗng Blumenthal cười khằng khặc như cả một khu rừng đầy khỉ rộ lên. “ Meyer và con trai ... khá lắm, khá lắm...”, lão nấc lên. “Và bây giờ lại còn tán nhăng tán cuội... tán nhăng tán cuội!”.
    Tôi nhìn lão. Tôi không tin vào mắt mình nữa; lão không đóng kịch! Tôi lập tức đưa tiếp nhát cưa đang dở. “Ngài Blumenthal, ngài cho phép tôi sửa lời ngài chút ít. Đối với một người phụ nữ không bao giờ có chuyện tán nhăng tán cuội cả. Đó là những lời tán dương mà khốn nỗi càng ngày càng hiếm đi trong cái thời đại thảm hại của chúng ta. Phụ nữ không phải cái két bạc, mà là một bông hoa... họ không đòi hỏi sự khách quan mà khao khát vầng thái dương tươi sáng biết mơn trớn. Mỗi ngày, hãy nói với họ đôi lời êm đẹp thì hơn là suốt đời nai lưng làm việc vì họ. Xin nói để ngài biết, âu cũng do chỗ tình thân. Và tôi đâu có tán nhăng tán cuội... tôi chỉ đơn giản dẫn ra một nguyên tắc vật lý: màu xanh lục đi đôi với màu vàng óng”.
    “Gầm khá đấy, chú sư tử non”, Blumenthal rạng rỡ nói. “Hãy nghe đây, anh Lohkamp! Tôi biết tôi còn có thể bớt của anh trọn ngàn mác nữa...”.
    Tôi lùi lại một bước. Quân Satăng hiểm độc, tôi nghĩ, cú đòn ta hằng lo ngại đây. Tôi đã mường tượng thấy mình không một giọt rượu kéo lê đến mãn kiếp, và tôi hướng sang bà Blumenthal cặp mắt nai con thống thiết.
    “Kìa, bố nó...” bà nói.
    “Mặc tôi, mẹ nó”, lão đáp. “Thế đấy, lẽ ra tôi có thể... nhưng tôi không bớt. Là thương gia, tôi thấy khoái cung cách làm ăn của anh. Còn hơi quá giàu trí tưởng tượng, nhưng dẫu sao... anh đã khéo nhắc đến Meyer và con trai đấy. Bà cụ thân sinh ra anh là người Do Thái?”
    “Không”.
    “Vậy anh đã từng ở trong xưởng may quần áo chăng?”
    “Phải”.
    “Ấy đấy, từ đó mà anh có cái phong cách này. Nghề gì?”
    “Tâm hồn”, tôi đáp, “tôi đã từng mơ ước trở thành giáo viên”.
    “Anh Lohkamp”, Blumenthal nói. “Phục anh! Nếu khi nào anh không có chỗ làm, hãy gọi điện đến tôi”.
    Lão viết một tấm séc trao cho tôi. Tôi không còn tin ở mắt mình. Trả trước! Một chuyện lạ! “Ngài Blumenthal”, tôi nói, lòng đã bị chinh phục, “xin ngài cho phép tôi được trao luôn cùng chiếc xe hai gạt tàn pha lê và một tấm thảm cao su thượng hạng không lấy tiền”.
    “Hay lắm”, lão nói, “lão già Blumenthal thế là cũng có lúc được biếu xén chút đỉnh”. Đoạn lão mời tôi hôm sau lại dùng bữa cơm chiều. Bà Blumenthal mỉm cười với tôi, âu yếm như một người mẹ.
    “Sẽ có cá măng nhồi”, bà dịu dàng nói.
    “Một món ăn ngon tuyệt”, tôi đáp, “Vậy tôi xin đưa xe đến cho ông bà luôn thể. Sáng sớm mai chúng tôi sẽ cho sang tên ngay”.
    Tôi bay như cánh én về xưởng. Nhưng Lenz và Koster đã đi ăn. Tôi còn phải dằn sự đắc thắng của mình lại. Chỉ có Jupp ở đây. “Bán rồi à?” chú hỏi.
    “Mày muốn biết lắm đấy, đồ vô tích sự”, tôi nói. “Đây cho mày một đồng tiền. Đi mà lắp lấy một chiếc phi cơ”.
    “Nghĩa là đã bán”, Jupp cười ngoác miệng.
    “Giờ tao đi kiếm cái gì ăn đây”, tôi nói, “nhưng hãy liệu hồn nếu mày hé với họ trước khi tao trở lại”.
    “Cậu Lohkamp”, chú nói giọng thề thốt, tung tung đồng tiền trong không khí, “tôi câm lặng như nấm mồ mà”.
    “Trông mày có vẻ thế thật”, tôi nói và nhấn ga.
    Khi tôi quay về đến sân, Jupp ra hiệu cho tôi. “Có chuyện gì?” tôi hỏi. “Lại không giữ được mõm phải không?”
    “Kìa cậu Lohkamp! Tôi câm như thóc ấy chứ!” Chú toét miệng cười. “Có điều... lão xe Ford đang ở trong ấy”.
    Tôi đỗ chiếc Cadillac ngoài sân, bước vào xưởng. Lão chủ hiệu bánh có đó, đang cúi xuống một cuốn sách mẫu màu. Lão vận một chiếc áo khoác kẻ carô ngắn đến thắt lưng, dính cái băng tang rộng bản. Đứng bên lão là một cô nàng kháu khỉnh với cặp mắt đen linh lợi, chiếc áo khoác viền lông thỏ xinh xinh phanh cúc và đôi giày da sơn bé tí xíu. Cô nàng mắt đen thích màu son chói, nhưng lão thợ bánh ngại màu đỏ, vì lão đang để tang vợ. Lão đề nghị màu nâu vàng.
    “Ối dào”, cô nàng mắt đen hờn dỗi, “xe Ford thì phải sơn sao cho thật nổi, nếu không trông chẳng ra quái gì”.
    Cô ả ngầm ném cho chúng tôi những cái nhìn đồng lõa và nhún vai, khi lão thợ bánh cúi xuống, ả nhếch miệng, nháy mắt với chúng tôi. Một con bé nhí nhảnh! Cuối cùng hai người đồng tình chọn màu xám lục. Cô ả muốn đặt tấm mui màu sáng. Nhưng lão thợ bánh nhất quyết phản đối: phải có cái gì đó chứng tỏ lão đang để tang vợ chứ. Và lão yêu cầu một tấm mui da đen. Cả ở đây nữa lão lại tranh thủ kiếm chác, vì đằng nào lão cũng nhận tấm mui không mất tiền, mà da thì đắt hơn vải đứt đuôi.
    Hai người đi ra. Nhưng sau đó còn dừng lại trên sân một hồi. Mới thoáng thấy chiếc Cadillac, ả mắt đen đã lao bổ đến nó. “Xem này, anh yêu, xe thế mới là xe chứ! Tuyệt! Em thích lắm!”
    Loáng cái, ả đã mở cửa chui lọt vào trong xe, mắt lác xệch vì hân hoan quá đỗi. “Đệm ra đệm! Phi thường! Cứ như ghế bành trong câu lạc bộ! Khác xa chiếc Ford!”
    “Thôi nào, ta đi”, anh yêu cau có nói.
    Lenz huých tôi... tôi cần phải vào trận, tìm cách tròng chiếc xe vào cổ lão thợ bánh. Tôi nhìn Gottfried từ đầu xuống chân, chẳng nói chẳng rằng. Cậu ta huých tôi cái nữa mạnh hơn. Tôi huých trả và xoay lưng lại cậu ta.
    Vất vả lắm lão thợ bánh mới lôi được viên ngọc đen của lão ra khỏi chiếc xe, lão bỏ đi, lưng hơi khòm xuống, bụng rất bực tức.
    Chúng tôi nhìn theo cặp già trẻ. “Một thằng cha có những quyết định chóng vánh!”, tôi bình phẩm. “Sửa xe... vợ mới... phục thật!”
    “Thế đấy”, Koster nói, “lão còn được cô ả hành cho bằng sướng!”
    Hai người chưa khuất sau góc phố, Gottfried đã nhảy lên đùng đùng. “Ma quỷ hút hết hồn cậu rồi hay sao, hở Robby? Để lỡ một dịp như thế! Đến đứa trẻ con cũng biết phải xáp vô ra sao!”
    “Hạ sĩ Lenz”, tôi đáp, “yêu cầu anh đứng nghiêm khi thưa chuyện với cấp trên! Anh tưởng tôi đây khích lệ chế độ song hôn, nỡ đem gả chiếc xe hai lần hay sao?”
    Được nhìn Lenz lúc này thật đã đời! Hai mắt cu cậu tròn xoe như hai hòn bi.
    “Chớ đem chuyện thiêng liêng ra mà đùa cợt”, cậu ta ấp úng.
    Bỏ mặc cậu ta, tôi quay sang Koster. “Otto, hãy giã từ đứa con Cadillac của bọn ta! Nó không còn thuộc về bọn ta nữa rồi! Từ nay nó sẽ cho ngành thầu đồ lót vay mượn vẻ hào nhoáng của mình! Cứ hy vọng rằng nó sẽ có một cuộc sống đẹp đẽ. Kém phần hào hùng như khi sống với bọn ta... nhưng bù vào đó, lại ổn định hơn”.
    Tôi chìa tấm séc ra. Lenz chút nữa thì té xỉu.
    “Lẽ nào... hả? Không lẽ... trả tiền rồi?” Cậu ta hỏi lào thào, giọng khản đặc.
    “Vậy anh tưởng thế nào, hở quân mới tập tọng vào nghề”, tôi vừa hỏi vừa phe phẩy tấm séc. “Đoán xem!”
    “Bốn!” Lenz kêu, mắt nhắm nghiền.
    “Bốn rưỡi!” Koster nói.
    “Năm!” Jupp từ cây xăng gào với sang.
    “Năm ngàn rưỡi!” Tôi thét to.
    Lenz giật tấm séc từ tay tôi. “Vô lý! Hẳn đây là tấm séc của một ngân sách rỗng”.
    “Hạ sĩ Lenz”, tôi trịnh trọng nói, “anh ngờ vực chừng nào, tấm séc này đáng tin chừng ấy. Ông bạn Blumenthal của tôi còn tốt gấp hai chục lần thế. Bạn tôi, anh hiểu không, người bạn đã mời tôi chiều mai lại nhà dùng món cá măng nhồi. Anh hãy đọc lấy! Kết thân, nhận tiền trả trước, được mời dùng cơm chiều: bán hàng là thế đấy! Thôi, giờ cho phép anh đứng tư thế nghỉ!”
    Gottfried gắng trấn tĩnh. Cậu ta cố đấm ăn xôi. “Nhưng còn lời rao của mình, bùa phép của mình!”
    Tôi quăng trả cậu ta tấm mề đây. “Đây, trả cậu cái xích cổ chó! Mình đã quên bẵng nó”.
    “Cậu bán không chê vào đâu được, Robby ạ” Koster nói. “Ơn Chúa, thế là tụi mình thoát được cái của nợ ấy”.
    “Số tiền này tha hồ xài mệt nghỉ”.
    “Cậu ứng trước cho mình năm chục mác chứ?” tôi hỏi.
    “Một trăm. Cậu xứng đáng được ngần ấy”.
    “Cậu không muốn nhận ứng chiếc măng-tô xám của mình cả thể sao?” Gottfried nheo mắt hỏi.
    “Muốn đi nhà thương hả, cái đồ con hoang ủ dột, khỏe xọc mũi vào việc của người khác!” Tôi vặc lại.
    “Các chú, hôm nay ta dừng ở đây thôi!” Koster đề nghị.
    “Hôm nay kiếm thế đủ rồi. Cũng không nên trêu tức Chúa. Chúng ta sẽ lôi chiếc Karl đi chơi, luyện cu cậu cho cuộc đua sắp tới”.
    Jupp đã bỏ mặc cây xăng từ lâu. Chú hồi hộp chùi hai bàn tay.
    “Cậu Koster, vậy là tôi phải đảm nhận trông coi xưởng chứ ạ?”
    “Không đâu, Jupp”, Otto cười đáp, “mày cũng cùng đi!”
    Trước tiên chúng tôi đến nhà băng giải quyết tấm séc. Lenz chỉ yên dạ khi biết tấm séc hợp lệ. Rồi chúng tôi phóng xe đi, nhanh tới mức ống xả phụt ra cả tia lửa.
     
    chichi.myluckycharm thích bài này.

Chia sẻ trang này