Văn học nước ngoài Bản Sao (Replica) - Jack Heath

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi chichi.myluckycharm, 31/12/16.

  1. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    img281.gif img282.gif

    Bản Sao

    Nguyên tác: Replica
    Tác giả: Jack Heath
    Nhóm dịch thuật: NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
    Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
    Kích thước:
    13 x 20 cm
    Số trang: 326
    Ngày xuất bản: 02 - 2014
    Text: @lemontree123 , @chichi.myluckycharm

    Giới Thiệu

    Chloe thức dậy trong một căn hầm tăm tối và chợt phát hiện mình chỉ là một cái đầu đã đứt lìa khỏi cổ. Cô chỉ còn là một cỗ máy, một “bản sao”.
    Nghẹt thở và căng thẳng trong từng khoảnh khắc là những cảm xúc thật sự bạn sẽ có trong cuộc hành trình đi tìm chính mình của nhân vật Chloe.
    Rốt cuộc, Chloe là ai? Hay ai là cô?

    ❂ ✡ ❂ ✡ ❂

    Dành tặng Venetia.

    ❂ ✡ ❂ ✡ ❂

    Hãy trả lời ta, hỡi gã thợ máy,
    liệu Tự nhiên có sắp xếp cho mọi
    cảm xúc tuôn trào nơi loài vật này
    cái kết cục mà nó không thể
    cảm nhận được chăng?
    —Voltaire

    ❂ ✡ ❂ ✡ ❂

    MỤC LỤC

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/1/17
  2. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    DƯỚI HẦM

    TÔI không thể cử động chân.

    Dù tôi cố cựa quậy hết sức thì phần thân từ hông trở xuống vẫn không xê dịch được. Cứ như chân tôi đã bị đổ bê tông. Khi gắng rướn người xuống xem chuyện gì xảy ra, chợt tôi thấy tay mình cũng không thể cử động.

    Tôi không cựa được vai. Cũng chẳng thể cong tay. Thậm chí tôi còn không thể quay đầu.

    Ai đó đã dán tôi lên tường.

    Tôi điếng người. Cơn hoảng loạn chèn ngang cổ khiến phải mất một lúc tôi mới nhận ra rằng tôi không biết mình là ai. Lẽ ra trong đầu tôi phải có một cái tên, một ngày sinh, một thời thơ ấu thì tôi chỉ thấy một sự trống rỗng tối đen như mực đang nhấn chìm tôi. Tôi không là ai cả.

    Tôi gắng cựa quậy thoát ra, nhưng tứ chi tôi không xê dịch được một tẹo nào. Tôi bị tê liệt từ cổ trở xuống. Hai thái dương tôi đau nhức. Tôi không thở được.

    Có lẽ không phải bị dán. Tôi bị liệt rồi.

    Làm sao lại đến nông nỗi này thì tôi cũng không có nhiều thời gian để thoát ra. Tôi đã cảm thấy chóng mặt - trong một, hai phút nếu thiếu không khí tôi sẽ bị suy não. Mà có lẽ nó đã xảy ra rồi cũng nên. Có lẽ đó là lý do tại sao tôi không thể nhớ mình là ai.

    Những bức tường gạch khô khốc mới xây leo lét ánh màu xanh da trời từ một chiếc đèn nê-ông duy nhất đang hắt sáng trên trần. Những chiếc dao rạch, lưỡi cưa và kềm được treo đầy trên những chiếc móc han gỉ. Gỗ được cắt thành nhiều mảnh dài ngắn khác nhau chất đống trong góc phòng. Có lẽ đây là một ga ra, chỉ có điều cái máy nằm khuất trong góc tối kia không phải là một chiếc xe mà thôi.

    Cái máy đó to như một đầu máy xe lửa, cắm đầy những ống nhựa, giống như một mạng lưới những hộp điều áp đứng giữa những ống dài và dày. Đằng sau những tấm bảng bằng thủy tinh plexi, những ống kim tiêm được kẹp chặt ngay đầu những cánh tay rô bốt. Một bóng đèn đang nhấp nháy bên cạnh nút công tắc nguồn.

    Mắt tôi đảo điên dại khắp phòng, rồi tôi thấy mình không chỉ một mình.

    “Thức rồi à!” Một cô gái vừa lau bàn tay vào quần jean vừa nói.

    Cô cũng khoảng tuổi teen, mũi đeo một chiếc khoen lấp lánh và móng tay được tỉa tót gọn gàng. Phấn trang điểm mắt và phấn dặm nền có vẻ hơi dầy, hình như cô muốn người khác nhìn cô trông già hơn. Cặp mắt to tròn của cô cho thấy cô chẳng sợ hãi gì.

    “Giúp tôi với!” Đột nhiên giọng tôi vang rõ một cách bất ngờ, nhưng đó hoàn toàn không phải giọng của tôi.

    Cô gái cột chặt một bím tóc sau tai, trả lời: “Giúp cô ư!”

    “Làm ơn.” Tôi nói. “Tôi không thở được.”

    Cô gái xoay ghế lại, tiếng ghế kêu cọt kẹt. “Lẽ ra giờ này cô chưa được thức.” Cô nói, mắt nhìn chằm chặp vào màn hình vi tính.

    Rồi, tôi nhìn thấy một cô gái đang nằm bất tỉnh.

    Cô được đặt nằm dài trên một chiếc ghế dài, bên dưới một bức tường đầy tuốc nơ vít và mỏ hàn. Một chiếc áo dây xam xám dính vào ngực cô. Chiếc quần lót thùng thình thõng xuống từ hông cô. Mặt cô bị cô gái ngồi ở máy vi tính che khuất, mà tôi thì không thể xoay đầu để nhìn rõ hơn được.

    “Đây là đâu?” Tôi hỏi.

    Cô gái liếc nhìn tôi, nói gần như cười: “Nhà mới của cô.”

    Khi cô xê dịch chiếc ghế đang ngồi, phần còn lại của cô gái kia lộ ra. Nhưng tôi vẫn không thể nhìn thấy khuôn mặt. Chợt tôi nhận ra cô gái ấy không có đầu.

    Đầu của cô gái đã bị cắt đi đâu mất rồi.

    Tôi thét lên như còi báo động. Âm thanh vang ra khắp phòng không chừa chỗ nào. Cô gái đứng bật dậy, giật phắt lấy một chiếc áo sơ mi rách nát đầy vết dầu trên bàn làm việc nhét vào miệng tôi. Rồi cô bịt mũi tôi lại.

    Mắt tôi mờ đi, vì sợ hơn là vì thiếu không khí. Tôi thấy mình như đang rơi thẳng xuống một cái giếng, đầu va vào đá.

    Tôi lịm đi.

    Tôi dần dần tỉnh lại, đầu óc chập chờn như vài ngôi sao mới mọc sau hoàng hôn. Thoát khỏi cơn mê sảng, tôi thấy cô gái vẫn đang ngồi gõ vi tính. Cô đã thay quần áo - giờ cô đang mặc một chiếc áo len tay dài và một chiếc quần túi to. Không biết tôi đã bất tỉnh bao lâu rồi?

    Cô liếc tôi, thấy tôi đang nhìn cô chằm chằm, rồi cô lại nhìn vào màn hình vi tính.

    Tấm vải bịt miệng đã được tháo ra, nhưng tôi vẫn thấy miệng đăng đắng mùi dầu nhớt. Tôi cố thử hét lên lại, nhưng chẳng có tiếng gì thoát ra. Dây thanh quản của tôi đã bị đông cứng giống như toàn bộ cơ thể.

    “Trông cô như đã chết vì sợ ấy”. Cô gái nói, rồi thở dài. “Chả hiểu sao lại vậy. Lẽ ra không khó như thế này.”

    Tôi ngạc nhiên khi thấy thi thể cụt đầu vẫn nằm trên bàn làm việc. Vì tôi đã hi vọng nó sẽ biến đi, giống như trong những cơn ác mộng. Không thấy vết máu nơi cổ. Không hiểu sao cái đầu lại được tách rời ra gọn gàng như một miếng ráp hình lê-gô.

    Cô gái quay mặt về phía tôi. “Tôi sẽ cho cô có tiếng nói trở lại, nhưng nếu cô lại thét lên, tôi sẽ tắt đi ngay. Và có lẽ lần này là tắt luôn đấy. Có hiểu không?”

    Không thể nói có và cũng chẳng thể nói không, tôi chỉ biết chớp mắt. Cô gái quay trở lại máy vi tính rồi kích chuột vài lần. Tôi cảm thấy có dòng nhiệt chảy ngược lên trong cổ họng mình, như hớp phải một chén trà nóng.

    “Cô đang làm gì thế?” Tôi hỏi. Giật mình vì bất ngờ giọng nói của tôi đã trở lại bình thường.

    Cô gái làm ngơ không trả lời. Mắt cô nhìn chòng chọc vào tôi. “Nói tôi nghe tên của cô!”.

    “Cô là ai?”

    “Trả lời câu hỏi.”

    “Tôi không thể.” Tôi nói.

    Cô gái nhướn mày. “Không thể là sao?”

    “Tôi không biết tên mình.”

    “Nói tên cô đi!” Cô gái lặp lại, chờ đợi một câu trả lời khác.

    “Tôi không thể nhớ được.”

    “Lẽ ra cô phải biết chứ.” Cô gái nói. Cặp lông mày nhíu lại với nhau. Môi dưới trề ra. Ngược đời là tôi thấy mình cần phải xin lỗi.

    “Tôi không biết tên mình. Tôi không biết tôi là ai. Tôi không biết gì hết.”

    “Tên cô là Chloe.” Cô gái nói. “Cha cô là Graeme, mẹ cô là Kylie. Cô học tại Trường Trung học Scullin. Cô không nhớ gì cả sao?”

    Tôi cố gắng lắc đầu, nhưng đầu vẫn không cử động được. Tôi bắt đầu nghĩ mình đang bị giam. “Không.”

    Cô gái văng tục, rồi quày quả trở lại chiếc máy vi tính. “Sao lại vậy nhỉ?” Cô làu bàu. “Sao lại không chạy nhỉ?”

    “Xác ai nằm trên cái bàn kia thế?” Tôi hỏi.

    Cô gái nhìn tôi chằm chằm, làm như câu trả lời đã quá rõ ràng rồi. “Của cô chứ còn của ai.” Cô gái nói.

    Tôi chưa kịp có thời gian thét lên lại thì cô gái đã gõ một lệnh lên bàn phím. Tôi lại quay cuồng như rơi vào máng nước.

    Tôi, Chloe Zimetski, mở mắt.

    Đây là tầng hầm trong ngôi nhà tôi đã sống cả đời mình. Những cái búa và cưa kia là của mẹ tôi, bà hay dùng nó để đóng đổ dưới này trước khi nhận thêm ca làm. Một trong những hộp giấy các tông dưới bàn làm việc có đựng một tàu lượn bằng gỗ dán mà mẹ đã làm cho tôi, ngoài ra còn một cái máy bắn đá mà mẹ con tôi thường dùng để phóng tàu.

    Tên mẹ tôi là Kylie Samuels. Cha tôi tên là Graeme Zimetski. Dù kết hôn với cha tôi nhưng mẹ vẫn giữ tên của mình. Lúc lên ba, tôi đã làm cô bé cầm hoa trong lễ cưới của cha mẹ mình. Cái bức hình tôi đang nhai trệu trạo những cánh hoa là một phần trong buổi chiếu hình ở lần sinh nhật thứ 13 của tôi - Thật ngượng chết đi được.

    Cái máy nằm ở góc phòng, với một đống thùng, ống và kim là cái máy tạo dáng 3D. Cái máy đó cũng do mẹ tôi lắp ráp bằng những món đồ bà mua trên mạng.

    Áp lực đè nặng lên đầu tôi bắt đầu làm tôi nhói đau. Trí nhớ của tôi đã trở lại, nhưng chúng chẳng giải thích được gì. Tại sao tôi lại bị giam cầm trong chính tầng hầm nhà mình? Cái cô gái ác ôn giữ tôi trong này là ai? Sao cô ta lại cắt đầu tôi ra được mà tôi lại không chết?

    Cô gái đang làm gì đó với cơ thể của tôi - cái cơ thể của tôi. Tôi thấy những cái dây tạp dề được cột đằng sau lưng cô. Một tấm gương dựa vào tường.

    Tôi hoảng hồn khi thấy cơ thể không đầu của mình đang trần truồng.

    “Tên cô là gì?” Cô gái hỏi, chẳng thèm quay đầu lại. “Chloe Zimetski”, Tôi nói. “Làm ơn thả tôi ra.”

    “Cô bao nhiêu tuổi?”

    Tôi nói tuổi. Rồi trước khi cô gái kịp nói gì, tôi hỏi ngay, “Tại sao cô lại làm điều này?”

    Đôi vai và khuỷu tay của cô gái lắc lư khi tay cô mò mẫm khắp cơ thể của tôi, thi thoảng ngừng lại chỗ này chỗ kia. “Cha mẹ cô sống bằng nghề gì?”

    “Đừng có rờ người tôi nữa!” Tôi bật khóc.

    Cô gái đang xe cọ. Tay cô cầm ngang một cây cọ vẽ kích cỡ bằng một chiếc que đan. Đầu cọ có một chấm sơn màu sô cô la sữa.

    “Cô không có quyền ra lệnh cho tôi.” Cô gái nói.

    “Tôi có ra lệnh đâu. Tôi đang năn nỉ cô mà. Làm ơn thả tôi ra.”

    “Sớm thôi. Ok?” Vừa quay lại công việc cô gái vừa nói, chừng như nói cho cả chính mình.

    Nếu tôi mà hét lên kêu cứu, chắc chắn cô ta sẽ tắt tiếng tôi ngay. Mà lúc này, tất thảy những gì tôi có chỉ là giọng nói của mình.

    “Nói tôi nghe cha mẹ cô làm nghề gì?” Cô gái hỏi.

    “Mẹ tôi làm quản lý dịch vụ thư tín. Ba tôi làm trong bộ quốc phòng.”

    “Là làm gì?”

    “Tôi không biết. Công việc văn phòng. Ba tôi không kể nhiều.”

    Cô gái nhúng cây cọ vào khay ngập màu sơn. “Mật khẩu email của cô là gì?”

    Tôi có thể không nói cho cô gái biết. Nhưng trong email của tôi chả có gì để tôi phải chết vì nó cả. “Darival.” Tôi nói. “D-A-R-I-V-A-L.”

    “Sao cô lại chọn tên đó?”

    “Tôi không nhớ.”

    “Thế còn mã PIN?”

    “Tài khoản của tôi còn chưa tới 800 đô la.”

    “Cứ nói tôi nghe.”

    800 đô la không phải là nhiều, nhưng tôi đã phải làm suốt cả mùa hè mới có được số tiền đó. Tôi đã phải bỏ mất sinh nhật của Henrietta và cả tá lần đi xem phim vì bận làm công việc lau dọn phòng khách sạn.

    “Nói mau lên. Đừng bắt tôi phải chờ!” Cô gái quát.

    “Hai, Năm, Tám, Không.”

    Cô gái bỏ cây cọ vào một lọ nước, sơn từ đầu cọ túa ra như khói nhang. Bật ti vi màn hình trắng đen trên bàn làm việc xong, cô gắn một đầu thu kĩ thuật số vào ti vi. Trên ti vi hiện ra cảnh một chiếc giường bừa bộn chưa dọn, một chiếc cặp sách đổ đạc lộn xộn và một tấm áp phích hình một ca sĩ hip hop nằm lăn lóc trên giường.

    “Chỗ cô ngủ đây à?” Cô gái hỏi tôi.

    “Đúng, phòng tôi đấy. Sao cô lại gắn máy quay vào phòng tôi?”

    “Cô ngủ chỗ này à?”

    “Đúng.”

    Cô gái chuyển kênh. Phòng tắm của tôi hiện ra trên màn hình. “Đây là đâu?”

    Đầu tôi nóng ran vì hãi. “Làm sao cô gắn máy quay vào đó được?”

    “Trả lời câu hỏi.”

    “Phòng tắm của tôi.”

    “Của cô hay của cha mẹ cô?”

    “Của cả nhà. Cô cần biết chi vậy?”

    “Trong tủ chén bên dưới vòi nước có gì vậy?”

    “Gel vuốt tóc. Xà phòng. Giấy vệ sinh.”

    Cô gái lại chuyển kênh. Màn hình hiện ra phòng khách nhà tôi. Một người đàn ông và một phụ nữ đang ngồi ở bàn ăn, trên bàn có một bình hoa cúc rũ xuống. Người đàn ông có râu và có vóc người cao lớn, mũi như mũi của một tay quyền Thái. Gã mặc áo sơ mi xám, đang ngồi nhấm nháp cốc cà phê. Người phụ nữ thì người mảnh khảnh, đầu nhuộm tóc đỏ đang ngồi bắt chéo chân đọc cái gì đó trông như một tờ lịch chương trình truyền hình.

    “Mấy người đó là ai vậy?” Tôi hỏi. “Họ đang làm gì trong nhà tôi vậy?”

    “Không nhận ra họ à?” Cô gái nói.

    “Không.”

    “Họ là cha mẹ của cô.”

    “Không, không phải.” Tôi nói, cố gắng nhướn mày về phía màn hình. “Cha mẹ tôi không giống họ.”

    “Thế cha mẹ cô trông như thế nào?”

    “Họ...” Tôi ngập ngừng. Tôi không thể hình dung ra họ. Một sự cô đơn đáng sợ nghẹn trong cổ họng.

    “Khốn thật. Chế độ nhận diện khuôn mặt của cô vẫn chưa hoạt động.” Cô gái nói.

    “Graeme?” Tiếng người phụ nữ vang lẹt xẹt trên loa. “Trên đường về nhà anh có mua được miếng đế bánh pizza nào không thế?”

    Lạ thật. Khuôn mặt thì của người xa lạ, nhưng tiếng nói nghe chừng lại là tiếng mẹ tôi. Tôi nhìn người phụ nữ chằm chằm, lòng thầm mong có người điều khiển múa rối đứng sau.

    “Vẫn còn hai cái trong tủ lạnh mà.” Người đàn ông nói với cái điệu nói trầm trầm của ba tôi.

    “Nếu ba mẹ tôi mà ở đây.” Tôi nói, “Làm sao cô vô nhà được?”

    “Im. Để tôi nghĩ.” Cô gái tháo chiếc tạp dề ra và loay hoay mặc một chiếc đầm ka ki.

    “Cô muốn gì ở tôi? Sao cô...”

    Cô gái chạm tay vào bàn phím, chợt tôi không nói được nữa. Tôi nhắm chặt mắt lại, cố gắng kìm nén nỗi sợ đang dâng trào.

    Tôi nghe tiếng chân cô gái lọc cọc trên bậc thang, tiếng mở cửa rồi tiếng cửa đóng lại. Một tiếng khóa “cạch” vang lên.

    “Nãy giờ con ở đâu thế?” Người phụ nữ trên màn hình hỏi.

    “Dạ. Ở dưới tầng hầm. Con đang bận làm dự án khoa học.”

    Tôi nhìn vào màn hình ti vi. Có một cô gái đang khoác tay ngang vai mẹ tôi.

    “Đừng có quên tập kèn clarinet trước khi ngủ đấy!” Mẹ tôi nói. “Hôm qua con bỏ rồi đó.”

    Tôi nhìn qua tấm gương mà cô gái bỏ lại. Lần đầu tiên, tôi nhìn thấy mình - tôi chỉ còn là một cái đầu đã bị chặt đứt lìa nằm trên một cái kệ đầy bụi, được dựng đứng bằng một cái mỏ cặp có miếng lót. Trừ nỗi kinh hoàng trong đôi mắt, gương mặt tôi giờ giống hệt mặt kẻ giam cầm tôi.

    * * *

    Cô gái đang đánh cắp cuộc đời của tôi.

    Đầu óc tôi căng lên. Nếu cô gái thuyết phục được cha mẹ tôi rằng cô ta chính là tôi, thế thì tôi còn hi vọng gì nữa đây? Cô ta sẽ giữ tôi ở đây đến khi nào cô thích. Sẽ không ai biết tôi đã biến mất.

    Rồi một khi cô ta đã moi hết được thông tin cần thiết, chắc chắn cô ta sẽ không có lý do gì để tôi sống sót cả. Nếu tiếng máy mà cô dùng để giữ cho đầu tôi còn sống mà không cần cơ thể ồn quá thì cô ta chỉ việc tắt nó đi là xong.

    Tôi cố gắng lắc lư để thoát khỏi cái mỏ cặp, nhưng đầu tôi không còn một chút cơ nào cả. Nhìn mình kỳ quái trong gương, tôi thấy cái sọ không đầu của tôi chẳng xê dịch được tí nào.

    “Tối mai con tự ăn một mình được không?” Trên màn hình ba tôi hỏi.

    “Không.” Kẻ giả mạo nói. “Con sẽ đói chết mất.”

    Mẹ tôi lườm cô gái.

    “Thế ba mẹ định đi đâu à?” Cô gái nói tiếp.

    Tôi hét lên trong đầu: Nhìn nó đi! Nó không phải con gái ba mẹ đâu!

    “Ba mẹ định đi ăn với ba mẹ của Henrietta.” Ba tôi nói. “Mẹ con muốn xem bộ phim mới của nữ diễn viên Cate Blanchett.”

    “Còn ba con,” mẹ nói, “chỉ giỏi ra vẻ không muốn xem mà thôi.” Mẹ gập mép rồi gấp tờ báo lại rồi. “Mẹ sẽ làm món salad cho con trước khi ba mẹ đi.”

    “Con có thể chiên sườn cừu,” cô gái ướm lời, “con sẽ ăn một miếng rồi ba mẹ về cứ quay nóng lên mà ăn.”

    “Mẹ không muốn con đốt luôn cái nhà này đâu. Salad là được rồi.”

    “Dạ, vậy cũng được.” Cô gái đáp.

    Nếu là tôi thì tôi sẽ nói con không còn con nít nữa, con có thể nấu ăn mà không làm cháy gì hết. Nhưng chẳng có dấu hiệu gì là ba mẹ tôi nhận ra hành vi khác thường của kẻ giả mạo cả.

    Tôi phải tự cứu mình sao đây? Tôi không cựa quậy được. Thậm chí còn không thể nói nếu cô gái không cho tôi nói. Sức mạnh duy nhất có thể sử dụng là sự hiểu biết của tôi - chắc là cô gái muốn biết nhiều thông tin hơn. Tôi có thể chơi khăm hay nói láo cô ta. Cô ta không thể cướp toàn bộ con người tôi chỉ bằng cái mật mã email và mã PIN được.

    Nhưng cô ta đã có được nhiều hơn những thứ đó. Cô ta có gương mặt của tôi. Nếu tôi mà tỏ ra không đáng tin, chắc cô ta sẽ giết tôi mất. Tôi hãi hùng khi nghĩ đến cảnh cô gái cưa từng phần cơ thể của tôi rồi đem chôn ở sân sau nhà, trong khi ba mẹ tôi đang xem phim ở rạp. Nên nếu cô ta có gì chưa biết về đời tôi, tôi sẽ giả vờ như quên mất rồi. Ai dám tin cô ta không phải là tôi kia chứ?

    Tôi nhìn lên chiếc máy tạo dáng 3D. Lúc trước tôi từng thấy mẹ dùng nó để làm những cái bát để nhào nguyên liệu, những cây nến hình con cú, thậm chí còn làm được cả một cặp kính mát. Mẹ đặt cố định vật cần làm dưới những máy quét laser, rồi những cái ống tiêm sẽ nhỏ xuống những vật liệu khác nhau - sáp, nhựa thông, chất silicon - phủ hết lớp này đến lớp khác trong những mô hình phức tạp cho đến khi thành hình.

    Có lẽ cô gái đã cắt đầu tôi ra, đặt vào máy scan rồi dùng máy tạo hình để tạo ra một khuôn mặt rỗng đủ giống tôi để lừa cha mẹ tôi. Vài ngày trước, chắc chắn tôi sẽ cho là chuyện này không thể nào xảy ra được. Nhưng mấy ngày đó, tôi không phải là một cái đầu bị cắt lìa nằm trên một cái kệ trong tầng hầm.

    Nếu chỉ nói dối cô ta thôi thì chắc không đủ. Tôi sẽ phải nói dối làm sao đó để cô ta tin. Kiểu nói dối đó sẽ khiến ba mẹ tôi đủ nghi ngờ để đi xuống tầng hầm và xem xét cái “dự án khoa học” kia của cô.

    Nhưng tôi cần phải nghĩ ra ngay cái gì đó để khi nói ra sẽ không khiến kẻ giả mạo kia nghi ngờ gì. Và tôi không biết mình còn được bao nhiêu thời gian.

    “Mẹ ơi!”, cô gái nói, trên màn hình. “Mẹ có muốn con rửa bát đĩa trước khi đi ngủ không?”

    “Khỏi đi con.”

    “Thật không mẹ? Không sao chứ mẹ.”

    “Cứ để đó đi.”

    Kẻ giả mạo trông có vẻ tiu nghỉu - làm như nó thực sự thích rửa bát đĩa lắm vậy. Nó nói, “Vậy thôi. Chúc mẹ ngủ ngon!”. Rồi hôn vào má mẹ.

    Ba nhìn chằm chằm vào cây dương xỉ mọc trong chậu ở góc nhà. Ba nói, “Ngủ ngon nhé, Chloe!”, mắt vẫn không rời khỏi cây dương xỉ. Hay là có máy quay ở đó nhỉ? Ba nhìn thấy máy quay chăng?

    Kẻ giả mạo đi khuất màn hình.

    Ba mẹ vẫn ngồi nguyên ở đó.

    Tôi nhìn vào màn hình ti vi, cầu mong sao họ nói gì đó về hành vi kì lạ của cô con gái của mình. Nhưng họ không nói gì cả. Họ ngồi yên lặng một lúc, rồi mẹ đứng dậy và hỏi ba uống cà phê xong chưa. Ba nói chưa, thế là mẹ bỏ đi.

    Sau một lúc, ba cũng đứng dậy. Ba bước lại cây dương xỉ và ngó vào đó.

    Tôi nghĩ, Ôi! Ba ơi! Cố lên ba ơi!

    Ba siết chặt lòng bàn tay đang nắm cái gì đó bên trong. “Bắt được rồi nhá!” Ba lẩm bẩm, rồi đi rửa tay và đi theo mẹ.

    Không phải máy quay. Chắc chỉ là một con bọ thôi.

    Sau đó, không còn âm thanh gì ở trên đó nữa, chỉ còn màu trắng nhàn nhạt của màn hình ti vi và tiếng kêu yếu ớt của các ống dẫn nhiệt. Tôi chả biết mình có thể chịu được bao lâu nữa trước khi bị điên.

    Một phần trong tôi cứ tự hỏi không biết mình có thật sự tồn tại không.
     
    Chỉnh sửa cuối: 31/12/16
    lemontree123 and V\C like this.
  3. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    NHIỆM VỤ

    TÔI chờ đợi, cảm giác cứ như đã nhiều giờ trôi qua, đầu cứ nghĩ phải gắng ngủ, phải gắng ngủ. Nhưng, thật sự là tôi không thể ngủ được mà không có gối ôm dài hình chữ L của mình. Thế thì tôi hi vọng gì ngủ được với cái đầu bị kẹp trong cái mỏ cặp thế này?

    Tôi mà thoát được khỏi đây, chắc hẳn tôi sẽ nổi tiếng lắm. Cô gái sống sót sau khi bị chặt lìa đầu khiến người ta phải chú ý đến việc làm từ thiện cho người không đầu. Cũng có thể là tôi sẽ bị gọi là kẻ láo toét rồi bị tống vào nhà thương điên cũng nên. Có lẽ tôi nên giữ bí mật toàn bộ chuyện này.

    Đó chỉ là những điều mơ tưởng mà thôi. Tận đáy lòng, tôi biết mình chẳng bao giờ thoát ra khỏi đây được.

    “Tách.” Tiếng khóa cửa vang lên.

    Kẻ giả mạo đang mặc bộ pi-gia-ma của tôi. Khi nó bước xuống bậc thang, các gương mặt của các nhân vật hoạt hình trên bộ pi-gia-ma bị biến dạng méo mó từ khuôn mặt cười sang những khuôn mặt nhăn nhó.

    Không thèm nhìn tôi, kẻ giả mạo ngồi trước máy tính và bắt đầu gõ.

    “Phải sửa lỗi nhận diện,” nó lẩm bẩm, “Phải sửa cho xong.” Nó thở mạnh một cách rất lạ.

    Tôi không nói gì. Mà tôi cũng chẳng thể nói gì được.

    Qua ánh sáng lờ mờ hắt ra từ màn hình vi tính, một giọt nước mắt ánh lên trên gò má kẻ giả mạo.

    Trong khi tôi đang nhìn giọt nước mắt ấy, thì giọt khác lại lăn xuống. Rồi nó một tay nắm chặt góc bàn, tay kia nắm siết góc bàn khác. Lưng nó rung lên theo những tiếng nức nở âm thầm.

    Dù nó đã làm gì với tôi đi nữa, tôi cũng cảm thấy môi mình rung lên theo. Hễ thấy có người khóc là tôi lúc nào cũng khóc theo. Có lẽ, nó đánh cắp gia đình của tôi vì nó không có gia đình chăng.

    Kẻ giả mạo liếc vào gương, thấy tôi đang dòm trừng trừng. Nó nheo mắt lại.

    “Đừng có nhìn tao!” Nó rít lên. Rồi nhấp chuột.

    Thế là mọi thứ lại tối đen, im lặng và lạnh lẽo.

    Chỉ còn hư không.

    Bóng đèn nhấp nháy sáng lên, làm tôi lóa mắt. Giờ thì tôi đang nhìn lên trần. Tôi đã được dịch chuyển đi chỗ khác. Không hiểu sao tôi cảm giác như đã trải qua được một khoảng thời gian. Có lẽ là được một ngày rồi.

    Tôi quay đầu để nhìn khắp ga ra. Không có gì thay đổi. Chỉ trừ việc giờ tôi đã có thể quay đầu. Đầu tôi đã được gắn vào cơ thể rồi.

    Nhưng tôi vẫn không thể ngồi dậy. Nhìn xuống phía ngực, tôi thấy mình đang nằm dài trên bàn làm việc, và đang bị trói bằng một mớ dây ni-lông và khóa thắt lưng bằng nhôm.

    Chả hiểu tại sao sự thay đổi này lại khiến tôi càng sợ thêm. Cái việc cô gái cắt đầu tôi ra mà tôi không chết đã là đáng sợ rồi. Thế mà giờ cô lại cho thấy cô có khả năng ráp tôi lại tùy thích nữa cơ chứ.

    À mà mớ dây ni-lông chừng như có thể nới lỏng ra được. Nếu tôi vặn vẹo được vai mình...

    “Ngừng lại ngay!” Kẻ giả mạo nói khi vừa bước vào và thấy cảnh tôi đang cố vặn mình. Gương mặt của ả - tức mặt của tôi - còn khiến tôi hoảng hơn ngày hôm qua. Giờ thì tôi đã nhận ra đó chính là mặt của mình.

    Kẻ giả mạo chẳng thèm đá động gì về chuyện tối qua. Ả nói, “Ngọ nguậy ngón chân xem nào!”

    Tôi cố làm ra vẻ khó lắm, để khiến ả nghĩ là tôi vẫn còn yếu. Nhưng thật khó mà cưỡng lại việc ngọ nguậy ngón chân khi mà bị bất động lâu đến thế.

    “Giờ thì lắc lư ngón tay xem.”

    Tôi gõ tay vào hai bắp đùi.

    Chợt ả giơ lên một bức hình. “Ai đây?”

    Đó là hình giáo viên môn khoa học của tôi, thầy Fresner. Thầy đang đội chiếc mũ nam sinh rất buồn cười, ngón tay thì kẹp một điếu xì gà. Có vẻ như bức hình được chụp từ xa, bên ngoài mép đường ở khách sạn mà tôi đã làm việc mùa hè.

    “Đó là cậu Derrick,” tôi nói, “em của mẹ.”

    Kẻ giả mạo nhìn lại bức hình. “Chắc không?” “Chắc chứ sao không. Tôi biết cậu từ bé.”

    “Thế thì,” ả nói, “chúng ta gặp phải một vấn đề rồi.”

    Hơi thở của tôi dồn dập hơn. “Tôi không hiểu.”

    “Hoặc chế độ nhận diện khuôn mặt của mày không chạy, hoặc mày đang nói láo tao. Vì mẹ chẳng có đứa em nào, tao chắc chắn.”

    “Mẹ chẳng bao giờ để cập đến cậu Derrick cả,” tôi nói, “hai người họ đã cãi nhau to lắm lúc tôi 12 tuổi, và...”

    “Không có cậu Derrick nào hết!” Ả thét lên. Rồi ả gục mặt vào tay. “Mày làm ơn, trả lời thành thật để tao biết kí ức mày đã trở lại coi nào!”

    Nổi nóng vì bị giam cầm, tôi lớn tiếng. “Kí ức của tao không sao cho đến khi mày bắt cóc tao.”

    “Bắt cóc?”

    “Đúng. Bắt cóc. Dù tao vẫn ở trong nhà mình thì đó vẫn gọi là bắt cóc.”

    Cô gái nhìn chằm chằm tôi một lúc lâu.

    “Mày nghĩ mày chỉ cần bước vào nhà tao,” tôi nói tiếp, “trói tao lại, và bắt tao đưa mọi thông tin mày cần để cướp cuộc sống của tao sao?”

    “Tao không bắt cóc mày. Tao tạo ra mày.”

    Tôi khịt mũi, trong lòng đầy lo lắng.

    “Những câu hỏi đó chỉ để kiểm tra mày,” ả nói. “Tao là Chloe Zimetski. Mày là một bản sao của tao. Tao đã làm việc cả tuần để tạo ra mày.”

    “Không,” tôi nói. Cổ họng nghẹn lại. “Mày mới là bản sao của tao.”

    Ả đặt tay tôi lên tay ả, rồi vặn.

    Tôi rú lên khi thấy cổ tay mình long ra dọc theo một đường nối vô hình, rồi bàn tay tôi nằm chết cứng trong tay ả. Quá hoảng loạn, tôi giẫy giụa trong lớp dây khóa.

    Kẻ giả mạo nghiêng bàn tay để tôi nhìn rõ khớp nối cơ học và mớ dây điện bên trong. “Đó. Thấy không?”

    Tôi choáng hết cả người. Cảm thấy như mình sắp ngất đi lần nữa.

    “Đừng có hét nữa!” Ả nói, rồi nắm lấy mớ tóc của tôi. “Mày là máy. Nên đau đớn là không có thật. Cả việc mày sợ cũng không thật nốt. Đó chỉ là những phản ứng đã được lập trình sẵn mà mày không cần.”

    “Tại sao?” Tôi thở hổn hển.

    “Vì có ngu mới thiết kế ra một chương trình cho mày để khiến mày muốn cảm thấy mình có thật.” Ả nói.

    “Không.” Tôi nói. “Tại sao lại tạo ra tôi?

    “Thì để mày chăm sóc mẹ khi tao đi vắng.” Ả nói.

    “Mẹ tôi à?”

    Ả nghiêng người về phía tôi, cặp mắt buồn buồn. “Không.” Ả nói. “Mày không có Mẹ cũng chẳng có Ba. Mày là silicon, được quấn quanh một khung lõi ti-tan. Mày chưa từng có mặt trên đời này khi tao chưa ráp mày lại.”

    Nói rồi ả lại xoay bàn tay tôi vào đúng khớp. Những vết tàn nhang trên bàn tay chỉ là những vết sơn.

    “Nhưng... ” Đầu tôi vẫn quay cuồng, vì cố xử lý cùng lúc quá nhiều thông tin. Tôi gắng tìm một lỗi sai. “Máy móc không nghĩ. Máy móc không cảm giác được.”

    “Máy móc làm bất kỳ điều gì chúng được thiết kế ra để làm,” ả nói. “Tao xin lỗi. Thật sự xin lỗi. Đó là điều cần phải làm.”

    Tôi từng nghĩ là không ai biết mình đang mất tích. Nhưng thế này thì còn tệ hơn nhiều; vậy ra chẳng có ai biết tôi đang tồn tại cả.

    “Chloe?” Tiếng ba tôi vang lên - giọng của Graeme Zimetski.

    “Con đến đây!” Cô gái đáp. Cô ném một miếng vải che lên bàn làm việc, rồi cả thế giới trở nên tối tăm u ám. Tôi nghĩ đến chuyện hét lên kêu cứu, nhưng phỏng có ích gì? Ba mẹ tôi sẽ không đến cứu tôi. Họ còn không phải là ba mẹ tôi nữa là.

    Tôi nghe tiếng gõ bàn phím, rồi một tiếng “click” vang lên trong đầu tôi. Giờ thì tôi đã nhận ra được cảm giác. Chloe đang tắt tôi.

    * * *

    Tôi không biết phải làm gì.

    Vì dù tôi có thể thoát khỏi Chloe thật thì tôi cũng chả biết đi đâu về đâu. Tôi không có nhà. Không tiền. Không bạn bè và cũng chẳng có gia đình. Tôi vô vọng đến độ có lẽ tôi cứ là một cái đầu không có cơ thể nằm trên kệ thì tốt hơn.

    Chả trách cô gái ấy vừa ra lệnh lại vừa làm như thể tôi không có mặt ở đây. Chả trách cô ta nhìn tôi như một đồ vật. Tôi một đồ vật.

    Nếu tôi tỉnh thì có nghĩa là cô gái đang ở gần đây. Cô sẽ không bật tôi lên nếu cô vắng mặt. Nhưng tôi bị một miếng vải che kín người, nên không nhìn được gì.

    Mày sẽ chăm sóc mẹ khi tao đi vắng. Cô ta sẽ phải thả tôi ra để làm điều đó. Mà cô ta đi đâu, và sẽ đi bao lâu? Rồi nếu thế thì lấy gì cản tôi trốn đi?

    Có thể là tôi đã được lập trình là không trốn đi. Tôi rùng mình. Cũng có thể là khi tôi đi ra cửa trước thì không thể mở cửa được.

    Một cơn gió lạnh lướt qua người tôi, miếng vải che kêu sột soạt khi Chloe kéo nó ra khỏi người tôi.

    “Ba mẹ ra ngoài rồi.” Cô nói.

    Tôi chả biết được điểu đó thì có can hệ gì với mình, nên tôi lặng im.

    “Tao cần làm cái gì đó để cho mày sạch sẽ.” Cô nói tiếp. “Máy móc không có quyền gì cả. Chúng không thể bỏ phiếu, cũng chẳng thể sở hữu gì. Và người ta có giết một bộ máy thì cũng chả mắc tội gì. Nếu có người phát hiện mày là cái gì, họ sẽ xé toạc mày ra từng mảnh để xem mày hoạt động thế nào. Con người chúng tao là thế đấy. Chúng tao không thể không làm vậy.”

    Hình như cô còn muốn nói gì đó tệ hơn, nhưng có gì đó mách bảo tôi không nên xen vào dòng suy nghĩ của cô.

    “Mày sẽ phải tránh xa các bác sĩ, chuyên viên y tế và y tá - hay bất kì ai muốn kiểm tra nhịp đập của mình, vì mày không có. Đừng để ai sờ tay vào mày hay chiếu đèn vào mắt mày, vì đồng tử của mày không giãn nở và các vân tay của mày thì đều giống nhau cả. Còn nữa, mày phải nhớ tránh xa đám kĩ sư, nhất là những người làm nghề liên quan đến rô bốt hay trí tuệ nhân tạo. Nhiều người đã góp phần làm nên phần mềm mã nguồn mở vốn tạo nên bộ óc của mày, nên rất có thể họ sẽ muốn xem nó có hoạt động không. Hiểu chứ?”

    “Cô sẽ thả tôi ra à?”

    “Tao đã nới lỏng dây trói mày rồi. Mày sẽ tự tháo ra được sau khi tao đi. Tao đã cố gắng thêm mọi thứ tao biết vào cơ sở dữ liệu của mày rồi, nhưng tao e là đã bỏ sót gì đó. Rồi sẽ có những khoảng trống trong kí ức của mày, và những kí ức được bịa ra khi phần mềm của mày cố gắng làm đầy những khoảng trống ấy. Mày sẽ không nhớ một số chuyện, và sẽ nhớ sai một số chuyện khác. Nếu có ai đó gọi mày, cứ xin lỗi rồi đi tiếp. Với người thật thì chuyện đó thường xảy ra hoài.”

    “Tao đã bỏ vài tuần gắn thiết bị cảm biến nắm bắt vận động dưới áo tao, nên hẳn mày đã được lập trình đủ cử động cần thiết như đi, nhặt đồ vật, cột dây giày, v.v... Nếu không biết làm gì thì cứ học theo người khác. Tao cũng tải lên những hình ảnh và dữ liệu từ mọi nguồn thông tin xã hội trên mạng có liên quan đến tao. Mày sẽ biết tất cả bạn bè tao trông ra sao, bao nhiêu tuổi, ai biết ai, v.v...”

    “Mày không cần ăn, ngủ hay đi vệ sinh, nhưng dù sao mày cũng phải làm những chuyện ấy để hòa nhập. Hệ thống tiêu hóa của mày về cơ bản là chỉ có một đường ống nhựa dẻo, một bình chứa hai lít, nhưng nó sẽ chạy tốt.”

    Khi tôi còn là một bé gái, tôi thường bế theo một búp bê em bé bằng nhựa đi khắp nơi. Hỏi nó có khát không, rồi đổ nước vào miệng nó, một phút sau lại la rầy nó vì đổ nước ra sàn.

    Những kí ức đó không phải của tôi. Tôi chưa từng là một bé gái - chỉ có Chloe mới từng là bé gái. Và bây giờ, tôi là con búp bê.

    “Tao tạo ra bộ não của mày bằng một trong số bộ xử lý còn thừa của mẹ,” Chloe nói, “nhưng tao đã mua cơ thể của mày từ nhãn hàng Trông Như Thật. Phần mềm của mày là từ Cộng đồng Trí tuệ Nhân tạo Mở. Mày cứ bình thường mà sống cuộc sống của tao. Các trang web của họ sẽ giúp mày học những gì mày có thể và không thể làm. Hãy làm bài tập về nhà và công việc nhà. Nếu được thì hãy tránh những giao tiếp xã hội, nhưng nếu không tránh được thì hãy cư xử thân thiện. Nhớ là đừng để ai nghi ngờ gì về mày đó.”

    “Cô sẽ đi đâu?” Tôi hỏi.

    “Có người đang theo dõi tao.” Cô nói. “Tao bắt gặp gã lần đầu cách nay một tháng. Có lúc tao thấy gã khi đang trên đường đi học, có lúc tao thấy gã khi đang trên đường về nhà. Có một chiếc xe chạy ngang qua nhà mỗi tuần. Tao không biết gã đó là ai, và tao không biết gã muốn gì. Nhưng bây giờ thì gã sẽ theo dõi mày.”

    Tôi thấy sự háo hức trong đôi mắt đầy bất an của cô. “Tôi không hiểu.”

    “Mày là con mồi.” Cô nói. “Khi gã theo dõi mày thì tao sẽ theo dõi gã.”

    Cô ta điên rồi. Tôi là bản sao cơ học của một kẻ tâm thần hoang tưởng.

    “Đừng cố đi theo tao,” cô nói, “tao không muốn xóa tính cách của mày và bắt đầu lại từ mớ tạp nham, nhưng tao sẽ làm nếu cần phải làm.”

    Rồi cô đi lên tầng trên, bỏ tôi một mình trong tầng hầm. Cô không thèm nhìn lại. Giống như thể cô đã hoàn toàn quên mất tôi rồi.

    Tôi nghe tiếng cửa trước mở, rồi đóng lại. Cả căn nhà chìm trong im lặng.

    Tôi gắng lắc người thoát khỏi mớ ni-lông. Mớ dây trói dãn ra, rồi lỏng dần đủ để tôi vặn người thoát ra và giậm chân lên sàn.

    Cuối cùng, tôi đã cử động được. Nhưng tôi không tự do.

    Tôi không muốn sống cuộc đời của Chloe, chơi trò đóng giả cô trước mặt gia đình và bạn bè của cô. Nhưng tôi có thể làm gì đây? Tôi không có căn cước và cũng chả có tiền. Nếu tôi bỏ chạy, tôi sẽ không đi xa được. Nếu tôi nhờ ai giúp, họ sẽ đứng về phía Chloe - cô ta là người, còn tôi chỉ là một cỗ máy. Khả năng biết suy nghĩ và cảm giác của tôi không mang lại cho tôi chút quyền pháp lý nào.

    Khi tôi nhìn chiếc cầu thang dẫn lên lầu, đầu tôi hiện ra một ý tưởng mới. Một khi cô ta nhận ra gã trai “theo dõi cô” chỉ là một gã hàng xóm làm việc gần trường học của mình, cô sẽ không cần tôi nữa. Thế thì lúc đó cô ta sẽ làm gì?

    Từng bước, từng bước tôi dễ dàng rời khỏi nơi tôi sinh ra, chốn ngục tù, phòng tra tấn của mình. Thoáng một cái, tôi đã lên đến đỉnh cầu thang, kéo chốt, nhẹ nhàng mở cửa ra. Một cuộc đời mới đang đón chờ tôi ở phía bên kia.
     
    lemontree123 and V\C like this.
  4. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    THỨ TƯ

    CHỖ giặt là trông đúng như tôi hình dung. Chậu giặt dính tung tóe đầy sơn cũ, máy giặt cửa trên nên chạy không êm lắm, mùi xà phòng tràn ngập không khí - giống hệt như tôi nhớ. Không biết làm thế nào và tại sao Chloe lại khiến tôi ngửi được mùi này nhỉ?

    Tôi áp lòng bàn tay vào tường đá lát. Nó thật trơn láng, và ít lạnh lẽo hơn tôi hình dung. Có lẽ do mấy dây thần kinh nhân tạo nơi bàn tay tôi không nhạy cảm như da thật. Cũng có thể là do sự khác biệt về nhiệt độ của bức tường và của tôi là quá nhỏ.

    Tôi đi xuống bếp. Xoong chảo được úp ngược trên giá treo để làm khô. Mấy miếng hít dán trên tủ lạnh đăng quảng cáo thức ăn nhanh, hình một bác sĩ thú y và một nha sĩ. Mảnh cuối cùng ghi, “Lần hẹn kế tiếp vào ngày 5/11.”

    Tôi băn khoăn không biết răng mình được làm bằng sứ hay bằng thép tráng men. Dù sao thì người đi đến cuộc hẹn đó tốt hơn phải là Chloe thật chứ không phải tôi.

    Tôi đứng lên tấm thảm trong phòng khách. Nó không thay đổi gì so với khi Chloe cho tôi thấy trên màn hình ti vi.

    À cái ti vi. Chloe đặt máy quay ở đâu nhỉ?

    Chỗ lẽ ra phải có máy quay thì lại có một cái mũ đang treo lơ lửng giống như một cái cây chưa lớn. Tôi lùa hết mọi chiếc mũ và khăn quàng ra hòng tìm kiếm một tia lóe lên của ống kính máy quay.

    Không có gì hết. Chắc Chloe đã lấy máy quay đi khi không cần đến nó nữa. Tôi treo dồn đống quần áo lại.

    Khi bước vào phòng của Graeme và Kylie, tôi choáng váng vì nó trông thật không khác gì so với tôi hình dung. Một chiếc giường đôi thấp, một đèn đọc sách đầy hoa văn làm bằng crôm, một chiếc vớ len nằm trong góc nhà mà không hiểu sao tôi biết là mình đã từng thấy. Kí ức của tôi chắc là kí ức dựa trên một bức hình mới chụp trong vài ngày gần đây. Hoặc là thế hoặc là ba mẹ của Chloe là những người ăn ở nhếch nhác.

    Tôi mở tủ quẩn áo, với qua những bộ đổ vét xám của Graeme đang treo trên móc, lôi ra một hộp đựng giày từ một chiếc kệ cao ở phía sau. Những viên đạn bên trong hộp kêu lách cách. Tôi mở hộp ra để tìm khẩu beretta của Graeme. Chloe không mang theo nó.

    Tôi đóng hộp lại rồi trả nó về vị trí cũ trên kệ. Sau khi đảo thêm một cái nhìn bực bội lên chiếc vớ, tôi bước ra ngoài và dật dờ tiến về phòng Chloe, cảm giác như mình đang mơ vậy.

    Đây rồi. Cái giường tôi chưa từng ngủ trên đó, những bộ đồ tôi chưa từng mặc, những quyển sách tôi chưa từng đọc nhưng chả hiểu sao lại biết. Chắc Chloe đã tải chúng xuống từ internet và cài vào bộ não của tôi.

    Tôi nhìn xuống gầm giường. Lôi đệm ra, xem xét dàn khung. Rồi tôi kéo rèm cửa ra, kiểm tra các kẹt ở bậu cửa sổ. Sau đó lấy sách trên kệ xuống, cầm gáy giũ mạnh. Những tờ biên lai thu tiền được dùng làm tờ đánh dấu trang rơi lả tả xuống thảm.

    Tôi thật sự không chắc mình đang tìm gì. Nhưng tôi biết đó không phải là thứ tôi đang tìm.

    Tôi ngồi lên giường, chiếc giường lún xuống sâu hơn tôi nhớ. Máy laptop của Chloe nằm trên bàn cạnh giường. Tôi chộp lấy laptop rồi bật lên, hi vọng các trang web mà Chloe đã nhắc đến sẽ cho tôi biết tôi là ai hay là cái gì.

    Một âm thanh loẹt xoẹt, lào xạo luồn qua tai nghe trên tai tôi.

    Có thể là mái nhà đang rung lên khi gió lạnh thổi qua. Cũng có thể là có người gọi cửa.

    Hay là do tôi tưởng tượng ra chăng, nếu tôi quả có trí tưởng tượng thật.

    Tôi đặt laptop lên giường, đứng dậy nhẹ nhàng hết mức có thể để không gây tiếng động. Rón rén đi ra hành lang trước phòng.

    Tiếng động lại vang lên, lần này thì to hơn. Tiếng động vang lên từ cửa trước. Sao người ta lại không nhấn chuông hay gõ cửa nhỉ. Họ chỉ đập vào tay nắm cửa.

    Tôi đứng nép vào góc cửa, không biết phải làm gì. Tôi có thể bỏ chạy theo ngả cửa sau, nhưng tôi không mang chìa khóa của Chloe bên mình, và tôi cũng không biết cô để chúng ở đâu. Graeme đã biến ngôi nhà thành một pháo đài - đèn bảo vệ ở sân trước và sân sau, các thiết bị cảm ứng với chuyển động có gắn còi báo động trong mỗi phòng, cả những cánh cửa ngoài nhà cũng được khóa hai lớp và được rào chắn bằng cổng có tấm chắn bọc thép, cổng này cũng được khóa hai lớp. Thậm chí cửa sổ cũng được bảo vệ bằng kính an toàn. Thế thì trốn làm sao được.

    Cánh cửa mở ra. Một người phụ nữ bước vào, nhìn tôi rồi thét lên. Một tiếng thét đầy kinh sợ.

    Tôi cũng thét lên. Rồi bà ta thở hắt ra, lấy tay đập nhẹ vào ngực.

    “Chloe!” Kylie Samuel nói. “Con làm mẹ hết hồn à.”

    “Mẹ mới làm con hết hồn đó.” Tôi nói, gượng cười và lùi lại một bước. Không biết đứng gần bao nhiêu thì bà nhận ra mình không phải là con gái bà nhỉ?

    “Cả hai người mới là làm tôi hết hồn đó.” Graeme Zimetski làu bàu, khi ông len qua hai người, tay xách các túi đồ. Ông không nhìn tôi.

    “Con có sao không?” Kylie hỏi. Bà thấp hơn tôi một xíu, tóc nhuộm đỏ và móng tay cắt cụt ngủn. Mũi bà thẳng giống mũi của Chloe, môi bà cong, cằm nhọn. Bà diện một chiếc khăn choàng kiểu cách sang trọng và đi guốc cao, giống như bà vừa mới từ rạp hát về chứ không phải từ rạp chiếu phim.

    “Dạ ổn.” Tôi nói. “Sao mẹ hỏi vậy?”

    Cặp lông mày cắt tỉa rất gọn của bà nhíu lại. “Mẹ không biết.” Bà nói. “Mẹ thấy con có vẻ...”

    Lồng ngực giả của tôi co thắt lại.

    Bà nhún vai. “Thôi không có gì. Chắc mẹ mệt. Con ra giúp ba dọn đồ đi?”

    “Dạ.”

    Tôi quày quả vào bếp, Graeme Zimetski đang đẩy nhẹ hộp trứng và sữa vào kệ tủ lạnh. Tôi lấy một hộp ngũ cốc trong một túi nặng ra và cho vào chạn thức ăn.

    Theo Henrietta, người bạn vốn rất mê thần thoại Hi Lạp, thì Graeme Zimetski có đôi bờ vai giống như vai của thần Cronus, còn mắt thì giống thần Zeus. Ông không quá cao, nhưng người ta lại cho là ông cao quá, đó là vì cái giọng trầm trầm của ông và cái thói quen hay đứng quá gần của ông khi nói chuyện. Những bức hình của ông trước khi cưới Kylie cho thấy ông gầy, cao lêu nghêu và giống như trẻ con, kể cả khi ông bước sang tuổi 30. Nhưng từ đó đến nay, ông đã luyện tập để có một bộ cơ rắn chắc. Ông không tin các phòng tập thể dục - “chỉ phí sức,” ông nói - nhưng nếu ông phải đi đâu đó dưới 20 ki-lô-mét, ông sẽ đạp xe chứ không đi ô tô, còn nếu dưới 10 ki-lô-mét thì ông sẽ chạy bộ chứ cũng chẳng thèm đạp xe.

    Việc biết hết về một người đàn ông mà tôi chưa từng gặp đã khiến tôi phát hoảng.

    “Ba mẹ đi vắng, con ở nhà làm gì rồi?” Ông hỏi.

    Tôi nhún vai, “Dạ không có gì đâu ạ!”

    Ánh mắt chúng tôi chạm nhau lần đầu tiên. “Ba mẹ đã đi được hai tiếng rưỡi. Chắc chắn là con đã làm được gì rồi chứ.”

    “Dạ làm bài tập. Viết email.”

    Mày là Chloe, tôi tự nhủ thầm. Phải là Chloe.

    Đôi tay tôi tự nhiên vẫn thõng xuống ngang hông. Để cho có chuyện làm, tôi bèn đổ nước vào bình. Tiếng vòi nước rít lên. Dòng nước ùng ục trào ra.

    Graeme vẫn nhìn tôi, không nói gì. Đột nhiên tôi nhận ra là mình chưa từng uống nước bao giờ, và tôi chỉ biết là Chloe nói rằng tôi có thể uống được. “Phim hay không ba?” tôi hỏi.

    “Nhảm lắm”.

    Kylie bước vào. “Đâu có nhảm.”

    “Chả có nghĩa gì.” Graeme nói.

    “Nó ẩn dụ mà anh.”

    Tôi đổ nước vào bổn khi ông đang nhìn bà.

    “Anh thích nhạc nền.” Ông thú nhận.

    “Còn buổi tối của con sao rồi?” Kylie hỏi tôi.

    “Dạ tốt ạ!”

    Chiếc bình chợt vỡ nát trong tay tôi. Kylie há hốc miệng.

    Chắc là tôi đã bóp nó quá mạnh. Tôi chỉ có kí ức của Chloe về giữ cho đồ dựng đứng, còn Chloe lại không có sức mạnh cơ học của tôi. Khi nhìn xuống, tôi thấy một mảnh thủy tinh nhỏ cắm vào lớp cao su tổng hợp trên lòng bàn tay. Một cơn đau nhân tạo đột ngột lan ra cánh tay tôi.

    Tôi quay vòng vòng để giấu rìa vết thương trước khi một trong hai người có thể thấy được. Ném phẩn còn lại của chiếc bình vào bồn nước, tôi giật mạnh miếng miểng ra khỏi bàn tay.

    Graeme và Kylie đã đứng sát sau lưng tôi. Graeme hỏi, “Con có sao không?”

    “Dạ, con không sao. Con lấy chổi và ki hốt rác nha?”

    “Con có bị miểng đâm trúng không?”

    “Dạ không. Con không sao mà. Ba xem nè!” Tôi chìa tay ra, nhưng chìa xa xa một chút để họ không nhìn rõ. “Ừ, không có máu. Thôi con lấy chổi đi.”

    “Để mẹ lấy.” Kylie nói, rồi đi về phía tủ chén.

    “Con xin lỗi.” Tôi nói, vừa cúi xuống nhặt những mảnh vỡ trên sàn. “Con không biết sao lại vậy nữa.”

    Graeme nhặt miếng miểng ra khỏi bồn nước. Kylie cầm chổi cúi xuống bên cạnh tôi.

    “Thủy tinh đã chịu nhiều sức ép,” bà nói, “nó đã muốn bể rồi - nó chỉ cần đúng một cơ hội thôi. Con chắc là con không sao đấy chứ?”

    “Mẹ đừng lo. Nhưng con xin lỗi vì làm bể cái bình.”

    Tay tôi vẫn đau nhức. Tôi đoán là tôi đã được lập trình để cảm thấy đau, nhưng tôi không thể hiểu được là tại sao.

    Kylie dốc ki đổ rác vào thùng rác. Graeme và tôi tay cầm đầy miểng thủy tinh theo sau.

    Vừa bật công tắc ấm điện, Kylie vừa nói, “Mẹ pha ấm trà đây. Có ai uống không?”

    Graeme lắc đầu.

    “Con không uống đâu.” Tôi nói, quày quả trở lại nhà bếp. “Con sẽ đi ngủ.”

    Graeme nhìn đồng hồ, một món đổ có hình cây đàn ghi-ta, không có số mà ai đó đã tặng Chloe vào dịp Giáng sinh. “Mới 9 giờ mà.”

    “Con thật sự mệt lắm rồi.” Tôi nói. “Ba ngủ ngon! Mẹ ngủ ngon!”

    “Con yêu ngủ ngon!” Kylie nói, và nghiêng người để hôn má.

    Tôi ngập ngừng. E là bà sẽ nói rằng miệng tôi không khác gì một miếng silicon cả? Không biết bà có nhận ra nó lạnh lẽo như thế nào không?

    Đi lại phía Kylie, tôi cúi người, chạm nhanh vào da bà để hôn phớt một cái. Bà toàn mùi phấn.

    Bà mỉm cười khi tôi bước lại. Nếu bà thấy có gì kì lạ, thì lẽ nào bà lại không chỉ ra. “Ngủ ngon nhé con!” Bà nói.

    “Dạ, mẹ cũng ngủ ngon!” tôi nói, rồi bước về phòng của Chloe. Phải cố gắng lắm tôi mới không chạy.
     
  5. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    “TẨU VI THƯỢNG SÁCH”

    NGAY khi cánh cửa phòng ngủ đóng sập lại sau lưng, tôi liền áp tai vào cửa. Nhưng nếu Graeme và Kylie đang nói chuyện về tôi, chắc họ sẽ chỉ ra dấu thôi. Thế thì tôi cũng chả nghe được gì.

    Laptop của Chloe vẫn bật. Tôi không muốn bị rơi vào trường hợp giống như chuyện cái bình lúc nãy.

    Tôi cần tìm hiểu cơ thể mình hoạt động như thế nào trước đã.

    Màn hình laptop sáng lên khi tôi chạm vào miếng lót chuột. Tôi mở một trang web rồi tìm nhãn hàng Trông Như Thật.

    Khi tìm được trang web cửa hàng, điều tôi thấy trước tiên là hình một phụ nữ bận đồng phục y tá đang quắc mắt nhìn về hướng máy ảnh. Cô dùng rất nhiều màu mắt để trông đẹp hơn nhưng không đủ để che đi sự thật là cô chỉ là một người nộm.

    Tôi lấy một chiếc gương cầm tay từ ngăn kéo trên cùng ở bàn làm việc của Chloe rồi nghiêng nó để nhìn mặt mình. Tôi trông thật hơn nhiều so với bức hình. Chắc Chloe đã “quét” đầu của chính cô chứ không dùng một cái đầu được đúc sẵn.

    Trang Thông tin cho tôi biết rằng nhãn hàng Trông Như Thật là các hình nhân người nộm nhân tạo giống thật nhất trên mạng. Tóc giả của chúng được làm từ tóc người thật. Cơ thể chúng có 126 khớp nối, và được lập trình với 10 tư thế cử động thật đến khó tin. Chúng có thể phản ứng lại với hơn 50 mệnh lệnh bằng giọng nói, gồm cả câu “Hôm nay bạn muốn làm gì?” và có thể được lập trình thêm nhiều hơn nữa. Da của chúng mang lại cảm giác giống như thật, nhất là sau khi đã được làm ấm bằng một bàn ủi điện hay sau khi tắm nước nóng.

    Chloe đã không cảnh báo trước cho tôi biết những điều rợn người thế này.

    Trang mạng tiếp tục cho tôi biết là nhờ vào cặp mắt và chiếc mũi hoạt động rất hiệu quả, người nộm Trông Như Thật có thể được lập trình để nhận diện chủ của mình khi nhìn thấy, thậm chí còn biết nịnh chủ là biết chọn nước hoa nữa cơ chứ.

    Tôi nhấp vào nút những câu hỏi thường gặp FAQ.

    Hỏi: Cô gái người nộm này có thể chịu được sức nặng bao nhiêu?

    Đáp: Nếu ở tư thế thăng bằng đúng cách, người nộm Trông Như Thật có thể dễ dàng mang vật nặng tới 100kg mà không bị cong vòng hay gãy cột sống. Điều này là quá đủ đối với mọi phụ kiện trong cửa hàng của chúng tôi.

    Hỏi: Người nộm có thể thay đổi các tư thế nhanh như thế nào?

    Đáp: Nhấn nút trên thiết bị điều khiển từ xa, cô gái sẽ thay đổi tư thế trong vòng chưa đến 5 giây! Hãy xem một thước phim minh họa.

    Hỏi: Pin người nộm kéo dài bao lâu?

    Đáp: Tùy thuộc vào cách bạn sử dụng các chức năng vận động của cô gái (chẳng hạn như đổi tư thế), bạn cần sạc pin mỗi 6 đến 24 tháng.

    Tôi có thể sạc pin của mình không nhỉ? Nếu không thì sáu tháng nữa tôi sẽ bắt đầu chạy chậm lại dần dần giống như một đồ chơi lên dây cót.

    Một hình nộm khác đang bay lượn phía bên phải màn hình, cái này còn trông thật hơn cả cái trước. Cô gái người nộm mỉm cười với tôi giống như một bệnh nhân chưa hết thuốc mê. Tôi đánh lẹ dòng chữ Cộng đồng Trí tuệ Nhân tạo Mở lên thanh công cụ tìm kiếm, thế là cô gái người nộm biến mất.

    Trên màn hình, trang web Trí tuệ Nhân tạo Mở trông không có vẻ gì đáng sợ lắm. Trang web được chia thành ba mục: Tìm hiểu Trí tuệ Nhân tạo, Download mã nguồn, và Bàn luận. Tôi nhấp vào mục Bàn luận thì thấy nó mở ra một diễn đàn. Một dòng chữ ghi Giới thiệu, tôi liền nhấp vào đó.

    Chào mừng đến với Trí tuệ Nhân tạo Mở! Mục tiêu của dự án này là nhằm tạo ra một bộ não số thực hiện chức năng hệt như não người, hoàn toàn từ những nguyên liệu cơ bản. Chương trình này sẽ giúp các nhà thần kinh học và các nhà tâm lý học hiểu sâu hơn về bộ máy phi thường nằm trong đầu mỗi người chúng ta. Mong các bạn hãy nhấn vào nút “Tài trợ” ở góc phải để ủng hộ dự án này.

    Tôi mở sang mục Yêu cẩu Đặc biệt dành cho người dùng đưa ra những gợi ý chỉnh sửa cho bộ não.

    Bạn có thể sửa lại mã, có ai đó đã viết, để Trí tuệ Nhân tạo sẽ mất hết kĩ năng đã học được nếu nó không dùng chúng thường xuyên được không?

    Có người nói, người thật chú tâm hơn đến điều gì đó nếu nó khác với những mong đợi của họ. Hiện nay, Trí tuệ Nhân tạo chưa có tính tò mò đó. Có nên thêm vào cho nó không?

    Mỗi yêu cầu đều được trả lời bằng một chữ: Đã trả lời.

    Tôi nhìn khắp diễn đàn, chợt một bình luận khiến tôi chú ý. Liệu ta có thể khiến Trí tuệ Nhân tạo không cảm nhận được những cảm xúc tiêu cực như sợ hay buồn không?

    Người điều hành diễn đàn trả lời: Mục tiêu của dự án không nhằm tạo ra một bộ não lý tưởng. Chúng tôi đang cố gắng sao chép cho nó trí tuệ giống như của người thật.

    Người đưa ra yêu cầu hỏi tiếp. Vậy cái việc tác động lên một ý thức bằng bản thiết kế cũng tiến hóa không kém gì so với ý thức của bạn hay của tôi, làm thế thì có đạo đức không?

    Đạo đức thông thường không áp dụng cho máy móc, người điều hành trả lời. Và tốt hơn là bạn nên chuyển câu hỏi này sang trang Bàn luận Triết học.

    Tôi nhấp vào đường dẫn, và thấy một rừng các lập luận về đạo đức. Một số người bàn về việc Trí tuệ Nhân tạo có được phép tự sao chép không. Số khác thì lại quan tâm đến khuynh hướng đạo đức của Trí tuệ Nhân tạo - có nên bắt nó phải tuân thủ một danh sách các qui tắc đạo đức hay nó phải đưa ra các quyết định dựa trên việc suy xét các hệ quả? Nếu vế đầu đúng, thì cần phải có các qui tắc gì? Còn nếu vế sau đúng thì các hệ quả phải được xem xét dựa trên những tiêu chí nào?

    Tôi chợt nhận ra rằng cha mẹ của tôi chính là mấy lão có sở thích kiểu này đây.

    Trở về với trang chủ, tôi nhấp vào mục Tìm hiểu Trí tuệ Nhân tạo, mong muốn là sẽ thấy một trang dữ kiện về bộ não tổng hợp, thế mà tôi lại chỉ thấy một căn phòng trắng, trống rỗng và một danh sách các lựa chọn - tuổi, giới tính, dân tộc, và một số thứ như chiều cao và cân nặng. Khung cảnh mặc định là một nam giới 25 tuổi người Cáp-ca, nên tôi tạm bỏ đấy rồi nhấp vào dòng Bắt đầu Trò chuyện.

    Một người đàn ông hiện ra trong căn phòng trắng. Do độ phân giải nên khó mà nói chắc về anh ta được, nhưng trông có vẻ anh khoảng 25 tuổi, tóc nâu và đang bận một bộ quần áo ấm không có gì đặc biệt. Anh quay lại, đầu gối nhấp nháy.

    “Xin chào?” Anh nói. Thật ra thì giọng anh không vang lên trong loa nghe của laptop mà có dòng chữ phụ đề xuất hiện bên dưới anh.

    Tôi thấy hai cánh tay sởn hết cả gai ốc. Nhìn xuống hai cánh tay, tôi thấy cảm giác đó chỉ là nhân tạo. Làn da bằng silicon của tôi chẳng suy chuyển gì.

    Một nút con trỏ nhấp nháy ở cuối màn hình. Rõ ràng là tôi phải đánh máy phần trò chuyện của mình vào.

    “Xin chào?” Người đàn ông lại nói. “Có ai ở đó không?”

    Con trỏ lại nhấp nháy.

    Người đàn ông nhìn thẳng vào tôi. Sống lưng tôi ớn lạnh hết cả lên.

    “Giúp tôi với!” Người đàn ông nói. “Tôi không biết tôi đang ở đâu!”

    Tôi đóng sầm laptop lại.

    * * *

    Mất một lúc tôi mới nghĩ về những gì mình đã làm. Người đàn ông nhân tạo đó đã đi ngủ, dời sang phòng trắng khác hay đã không còn hiện hữu nữa? Lẽ nào tôi đã giết ông ta rồi sao?

    Về mặt kĩ thuật thì không. Ông ta không sống. Mà tôi cũng có sống gì hơn đâu. Tôi không muốn bị hành quyết bất ngờ như thế.

    Hành quyết nghĩa là giết người.

    Nhưng hành quyết trên máy tính lại là mở một chương trình, làm cho nó sống.

    “... cách nó nhìn chúng ta?”

    Tôi ngóc đầu lên, lắng nghe giọng nói của Graeme.

    “Nó đang tuổi lớn mà...” Kylie nói, “...nên nó sẽ làm nhiều điều mà ba nó không hiểu được đâu.”

    “Nhưng đó không phải là hành vi giống với tuổi mới lớn.”

    Đặt chiếc laptop lên giường, tôi chầm chậm đứng dậy, bước nhẹ đến cửa.

    “Cả mấy tuần nay rồi con bé cứ là lạ làm sao ấy.” Graeme nói tiếp. “Mà cả mấy tháng rồi đó chứ. Từ lúc nó đi cắm trại về đến giờ. Chắc nó gặp chuyện gì rồi, và...”

    “Làm gì có chuyện gì với nó!”

    Đầu tháng 11 vừa rồi, Chloe đã tham gia hội trại năng khiếu cho các bé gái. Về cơ bản đây là hội trại đào tạo nghề nghiệp cho các bé gái trong các lĩnh vực, hầu như trước giờ toàn nam giới. Cô đã được dạy sử dụng phần mềm đồ họa, các công cụ điện tự động và các công thức quản lý tài chính, và cô ghét cay ghét đắng từng phút giây ở đó. Bạn cô chả ai tham gia cả, cô cũng chả kết thêm bạn mới nào, rồi khi xong buổi trại trở về thì cô thấy mình chậm trễ hơn các bạn đồng học rất nhiều.

    Tệ hơn nữa, Graeme và Kylie đã nổi cáu vì tận đến bây giờ Chloe cũng chẳng thèm kể cho họ nghe cô đã trải qua chuyện gì.

    Tôi mở cửa, rón rén đi ra hành lang.

    Giọng Kylie luồn qua bức tường. “Mình không thể can thiệp vào cuộc sống của con bé được. Nó chỉ là một đứa trẻ, với...”

    “Không. Nó không còn là trẻ con nữa. Rõ ràng nó đã là người lớn rồi. Bộ em không muốn biết gì về cô gái trẻ sống trong nhà mình hay sao?”

    “Làm gì mà không biết. Mình trông thấy nó lớn lên từng ngày mà.”

    “Có lẽ mình chưa nhìn thấy cặn kẽ.” Graeme nói.

    Tôi ngạc nhiên vì đến bây giờ Graeme mới nhận ra con gái mình đã trở thành một đứa điên dại hoang tưởng. Thế thì không biết phải mất bao lâu ông mới nhận ra tôi không phải là con bé đây?

    “Nếu anh khiến con bé cảm thấy chúng ta không tin tưởng nó,” Kylie nói, “anh sẽ hủy hoại mối quan hệ mà chúng ta đã nhiều năm xây đắp đấy.”

    “Nếu con bé đang nói dối chúng ta, thì mối quan hệ đó đã tan tành hết rồi. Anh sẽ phải tìm hiểu kỹ chuyện này.”

    Rồi một không khí im lặng kéo dài. Thận trọng không để cho ván sàn kêu cọt kẹt, tôi đứng thẳng như một cây cột bê tông.

    “Để em nói chuyện với nó.” Kylie nói. “Trong tuần này. Con bé sẽ chịu nói chuyện với em.”

    “Em cứ nói chuyện đi.” Graeme đáp. “Nhưng anh không thích cái cảnh con bé suốt ngày cứ ru rú xó hầm. Ngày mai, anh sẽ xuống dưới xem nó đang làm gì.”

    Tôi điếng người. Tôi cần dọn dẹp ngay tầng hầm, xóa sạch mọi dấu vết Chloe đã để lại trước khi Graeme xuống xem xét vào ngày mai.

    Tôi rón rén quay ra hành lang để trở lại phòng của Chloe, vừa đi vừa tính toán. Trên máy tính có một bản phô tô bộ não của tôi. Máy tạo dáng 3D thì có phần ghi chép bản thiết kế của tôi. Mấy cái máy quay thì có lẽ đã được gỡ đi rồi, nhưng cái ti vi và phích cắm thì vẫn còn đó. Đống ni-lông trói tôi cũng vẫn còn đó.

    Càng nghĩ, tôi càng thấy việc dọn sạch tầng hầm là bất khả thi. Đó không phải là dọn dẹp mà là xóa sạch mọi thứ. Graeme và Kylie sớm muộn gì cũng đoán biết tôi là ai thôi. Có lẽ sẽ sớm thôi. Và khi đó, chắc chắn Chloe sẽ gặp rắc rối, nhưng tôi còn gặp nhiều rắc rối hơn.

    Thôi thì tôi phải chạy biến đi thôi.

    Tôi không cần thức ăn, nước uống hay đồ giữ ấm. Chắc chắn là tôi có thể tìm được việc làm. Cũng có thể đi ăn xin. Chỉ cần kiếm đủ tiền để mua pin mới trong sáu tháng sau rồi trả tiền cho người thay pin giúp thôi mà.

    Tôi sẽ nhớ Graeme và Kylie, vì tôi vẫn có cảm giác họ là cha mẹ của mình. Nhưng thà nhớ họ còn hơn để họ tắt tôi đi mãi mãi.

    Tôi lục lọi tủ quần áo, lôi ra một chiếc quần jean, một áo sơ mi và một áo khoác phủ lên bộ quần áo bình thường của mình. Ra mồ hôi không phải là vấn đề lớn, nhưng có lẽ sẽ bẩn lắm.

    Chỗ để giày dép không có đôi giày chạy bộ nào cả. Hẳn là Chloe đã lấy đi rồi. Sau khi loại bỏ guốc và xăng đan, tôi lấy vài chiếc vớ và một đôi giày ballet đen đế bằng. Chúng sẽ hữu dụng cho đến khi tôi tìm được cái gì đó chắc chắn hơn.

    Tôi độn gối vào dưới chăn để giả như có người đang ngủ trên giường, dù nhìn cái dáng thì chắc chẳng lừa được ai nếu họ đến gần.

    Khe khẽ mở cửa ra rồi nhón chân nhẹ nhàng bước ra hành lang, tôi giỏng tai lắng nghe âm thanh từ phòng ngủ ba mẹ. Không có gì. Graeme và Kylie chắc đã ngủ hay sắp ngủ.

    Tôi đi ra cửa trước, ấn nhẹ một cái nút để tắt bóng đèn cảm biến chuyển động được gắn trên bãi cỏ - tôi mong là tắt được. Rồi chầm chậm rút chốt cửa, khẽ cau mày khi chốt khóa kêu lên một tiếng “cách” khô khan.

    Tôi ngập ngừng sững lại, nhưng toàn bộ căn nhà vẫn im ắng. Tôi nhẹ nhàng mở cửa trước, mở khóa cửa rào, rồi rảo bước vào màn đêm lạnh lẽo.

    Nếu đi bên phải thì tôi sẽ đến khu thương mại trung tâm Belconnen, mà chỗ đó thì lúc nào cũng đông người, kể cả lúc này. Còn nếu đi bên trái thì tôi sẽ đi thẳng đến dãy núi Brindabella, một nơi lạnh lẽo và hoang vắng.

    Chọn hướng nào thì cũng nguy hiểm cả. Tôi chọn đi bên trái.

    Một chú chó giống Labrador nhìn tôi chằm chằm từ giữa tấm ván cổng gần đó. Mỗi khi Chloe đi qua thì nó đều gầm gừ, nhưng gặp tôi thì nó lại chỉ nhìn trong sự im lặng đầy bối rối. Tôi trông giống con người, nhưng lại có mùi như chất dẻo. Khi tôi đi khỏi tầm nhìn rồi thì nó mới sủa inh ỏi vào cái gì đó. Nó quên tôi luôn rồi.

    Tiếng bước chân lạo xạo của tôi vang lên giữa những dãy nhà im ắng, tối đen. Tiếng cành lá va đập nhau trên cao, lào xào như tiếng mưa đằng xa.

    Khi tôi bước đi, những khu vườn được chăm bón cẩn thận như co nhỏ lại. Những ngôi nhà được trát xi măng và được sơn phết lại như đang phình to ra. Tôi đang tiến vào những khu vực ngoại ô mới xây, dành cho một thế hệ không quan tâm đến những thứ ngoài trời. Tiếng chó sủa vang lên theo những cơn gió nhẹ.

    Đèn bảo vệ sáng lên mỗi khi tôi bước ngang qua, và tôi tránh sang một bên để né ánh đèn. Đến khi nào người ta thông báo tôi đã bị mất tích, thì tôi muốn họ sẽ tìm được Chloe thật chứ không phải tôi. Điều ấy sẽ khó xảy ra hơn nếu ngộ nhỡ có ai đó đã thấy tôi đi về hướng này.

    Thế là tôi đi lên đỉnh đồi, bên dưới là một khoảng không tối đen vô tận. Một khu rừng. Một nơi tuyệt vời để lẩn trốn.

    Một chiếc đèn bảo vệ khác sáng lên sau lưng tôi, tôi ù chạy thẳng một mạch. Nhưng rõ ràng tôi đã ra khỏi phạm vi cảm ứng của nó rồi mà. Nhất định là có ai đó đã làm nó sáng lên.

    Tôi quay lại. Ánh sáng lờ mờ tỏa lên các bụi cây, các hộp thư và một chiếc xe tải đang đậu, nhưng không có người nào cả. Chắc là một con cáo chạy ngang đã khiến đèn sáng.

    Cũng có thể một người nào đó cũng vừa lẩn vào bóng đêm ở phía bên kia đường, như tôi đang làm.

    Con chó chỉ sủa sau khi tôi đi. Nếu Chloe nói đúng thì sao nhỉ? Nếu quả có người đang theo dõi cô - và giờ thì đang theo dõi tôi?

    Đèn tắt. Bóng đêm tràn tới. Tôi nhìn chòng chọc vào màn đêm thêm một lúc nữa, rồi rảo bước đi tiếp. Hai tay tôi run bần bật. Thật khó trấn tĩnh để không bỏ chạy.

    Có tiếng giày đế mềm khua nhẹ đâu đó trong màn đêm.

    Tôi nên quay lại đối mặt với kẻ đi theo mình hay là tôi nên chạy đây. Tôi không biết làm cái nào sẽ nguy hiểm hơn.

    Sắp đến ngã rẽ, ngay khúc có hàng rào lá thép. Ngay khi rẽ xong, hẳn tôi sẽ có vài phút thoát khỏi tầm nhìn của kẻ theo dõi. Tôi có thể tận dụng thời gian đó để chạy nhanh hết mức mà đôi chân cơ học của tôi chạy được.

    Ngã rẽ dần dần hiện ra gần hơn. Ba bước, hai bước, một bước.

    Tôi rẽ ngay và bắt đầu chạy.

    Mắt tôi chợt thấy gì đó. Ở xa phía trước, hình như có ai vừa mới lẩn vào trong bóng tối.

    Chloe chưa từng nói gì với tôi về việc bị theo dõi bởi hai người cả. Nhưng bây giờ là 11 giờ 30 giữa đêm khuya trong một khu ngoại ô im ắng. Tôi không thể tin là người ở phía trước lại không có liên quan gì với người ở phía sau.

    Tôi đổi hướng, chạy thẳng vào bóng đêm ảm đạm, hi vọng tránh được kẻ theo dõi thứ hai mà không để kẻ theo dõi thứ nhất bắt được. Cây cối và bụi rậm um tùm lờ mờ hiện ra đằng xa. Có lẽ tôi có thể cắt đuôi họ nếu vào được rừng.

    Tiếng giày đập lộp bộp trên đất. Hai bóng đen đang đuổi theo sau tôi. Và nghe tiếng chân thì có vẻ họ sắp bắt kịp tôi...

    Một bàn tay thò ra từ bụi cây kế bên và kéo tuột tôi vào.

    * * *

    Tôi rú lên, “Cứu!”

    Một bàn tay bịt ngang miệng tôi.

    “Im!” Chloe khẽ rít lên. “Ngồi xuống”.

    Tôi lập tức ngừng giãy giụa và lắng nghe. Chloe đang thu mình vào bóng tối, ngồi bất động như một cái máng xối hình đầu người.

    Tiếng bước chân bắt đầu nghe lớn hơn. Nghe như là có ba người hoặc có thể là bốn. Các cơ bắp giả của tôi căng hết cả lên khi những người đó di chuyển ngày càng gần - rồi họ bước ngang qua trước chúng tôi, tiến sâu hơn vào rừng.

    “Đi theo tao.” Chloe thì thầm.

    Cô len lỏi luồn qua các bụi cây như một kẻ bắn tỉa chuyên nghiệp. Tôi bò phía sau cô, cố không va vào nhánh cây non quá nhiều.

    Theo hướng này thì khu rừng trải dài hàng ki-lô-mét. Có rất nhiều chỗ để trốn. Nhưng chúng đông hơn chúng tôi, và trong khi chúng tôi phải bò lê bò lết thì chúng chẳng cần phải làm vậy.

    Có âm thanh gì đó vọng trên đầu chúng tôi.

    Chloe ngập ngừng. “Dừng lại.”

    Tôi rùng mình khi một cơn gió nhẹ thổi qua các ngọn cây và một cái gì đó đang kêu o o ngay phía trên đầu. Gần thế này thì chắc không phải là máy bay trực thăng, nhưng chậm thế thì cũng không phải là chim.

    Khi tiếng ổn tan dẩn đi, Chloe nói “Bọ bay không người lái đó. Nó đang tìm chúng ta. Có thể chúng có máy quay tầm nhiệt. Loại này không thấy mày, nhưng có thể thấy tao. Nên mình phải đi tiếp thôi.”

    Cơ hội của tôi sẽ tốt hơn nhiều nếu chúng tôi tách ra. Nhưng Chloe biết nhiều hơn tôi, nên khi cô tiếp tục bò, tôi vẫn cứ bò theo cô.

    “Họ là ai?” Tôi thì thầm.

    “Chắc chỉ là một kẻ theo đuôi. Giờ tao cũng không biết.”

    “Cô có mang điện thoại theo không?”

    “Để làm gì?”

    Tôi lưỡng lự nhìn cô. “Để làm gì à? Để gọi cảnh sát.”

    Cô ngừng, quay lại nhìn tôi. “Không. Không cảnh sát gì hết.”

    “Cô có điên không vậy?”

    “Chúng ta không thể tin ai được.”

    “Nhưng ngộ nhỡ...”

    “Không ai hết. Mày hiểu không?”

    Tiếng ủng đang giẫm lên đám cỏ khô gần đó. Chúng tôi im lặng.

    Tôi nhìn vào mắt Chloe. Trông cô rất quyết tâm chứ không hề sợ hãi. Dù tôi có khuôn mặt và kí ức của cô, nhưng chúng tôi không phải là cùng một người.

    Một chú chuột bụ bẫm đang chạy nhốn nháo trên nền đất, lông nó co rúm lại. Khi chạy ngang qua chúng tôi, nó giẫm lên tóc của Chloe. Cô không phản ứng gì.

    Cô thật can đảm. Điên khùng, nhưng rất can đảm.

    Chú chuột chạy nhào nhào lên, đi đến đâu nó cũng làm gốc bụi cây rung lên, và rồi - Pằng! Pằng! Pằngl Pằng!

    Tôi bịt tai lại, nhắm nghiền mắt khi nghe tiếng súng rít lên trong gió. Cành lá trên đầu tôi giật giật.

    Rồi cũng đột ngột như khi bắn ra, tiếng súng ngừng lại. Một lúc sau, tôi mới hiểu tại sao. Con chuột đang kêu the thé. Hẳn người bắn cũng đã nhận ra mình đã bắn cái gì. Lúc này, gương mặt của gã hiện rõ giữa các tán lá - cặp mắt nhợt nhạt đảo khắp nền đất, trái táo Adam nhấp nhô dưới cái cổ xăm hình.

    Gã có thấy chúng tôi không? Bóng tối có đủ dày để che chúng tôi không?

    Tiếng ủng của gã lạo xạo lùi xa vào trong màn đêm.

    Tôi đợi cho đến khi nghe chừng gã đã đi xa lắm rồi mới dám khẽ nói, “Hú vía thật.”

    Chloe không trả lời. Thái dương của cô hằn một lỗ đạn.
     
    lemontree123 thích bài này.
  6. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    CÒN LẠI MỘT MÌNH

    RUỘT gan tôi như muốn nổ bung vì kinh hoàng. Chloe đã chết. Chloe đã chết thật rồi. Chúng đã giết cô. Chúng đã giết cô và bây giờ chúng sẽ tìm giết tôi.

    Trong bóng tối, tôi không nhìn thấy máu, và trong một phút quá tuyệt vọng, tôi tự trấn an mình rằng cô vẫn ổn. Nhưng cổ cô không có mạch đập nào cả. Viên đạn đã khiến tim cô ngừng đập ngay lập tức.

    Tôi không nghe thấy lũ người đuổi theo, nhưng không có nghĩa là chúng đã bỏ đi. Có thể chúng đang đứng gần đó nghe ngóng. Tôi sợ đến mức không cử động được.

    Thế là tôi ngồi yên, ẵm lấy cơ thể người tạo ra tôi, và mỗi lần lá cây xào xạc trong gió là mỗi lần tôi giật mình hãi sợ.

    Một tiếng nói vang xuyên qua khu rừng. “...ra khỏi đây ngay. Nhanh.”

    Giọng khác đáp lại. “Chỉ tại mày nổ súng hết, thằng ngu.”

    “Tao có cố tình bắn cho chết đâu.”

    “Liệu đường mà giải thích làm sao mình lạc mất nó đó. Mày biết lão chủ muốn mình mang nó về ngay bây giờ không.”

    Tôi không nghe được câu trả lời của người thứ nhất. Giọng nói của họ loãng dần khi họ rời khỏi khu rừng.

    Chí ít thì đó cũng là ba người đàn ông hung bạo súng ống đầy người. Tôi rướn đầu cách xa cơ thể quá đến độ không biết đứng lên thế nào.

    Nếu tôi cứ ngồi lì ở đây và nói cho cảnh sát biết chuyện xảy ra, thì chắc chắn tôi sẽ bị nhốt lại cho đến khi hết pin. Mà không chắc vụ án này có được giải quyết hay không - tôi là người duy nhất chứng kiến, mà tôi lại chẳng thấy được gì nhiều để giúp cả.

    Và Chloe đã nói là không cảnh sát. ước gì cô cho tôi biết lý do tại sao.

    Tôi có thể làm kẻ hèn nhát và bỏ trốn khỏi thành phố. Nhưng sau đó thì sao? Gương mặt tôi sẽ trở nên nổi tiếng khi Chloe được báo là mất tích, và thậm chí còn nổi tiếng hơn nữa khi người ta phát hiện ra xác cô. Tôi sẽ bị bắt.

    Còn một phương án nữa.

    Im, tôi tự nói với mình.

    Mày có thể giấu xác đi. Mày có thể...

    Im đi, im đi.

    Mày có thể giấu xác và cứ giả làm Chloe. Mày có thể tìm ra mấy gã đó là ai, và tại sao chúng lại đuổi theo cô. Mày có thể...

    Tôi có thể trở thành một tòng phạm giết người. Khi tôi nhìn vào ánh mắt vô hồn, trống rỗng của Chloe, tôi nhớ cô từng nói với tôi: Hãy chăm sóc mẹ khi tao đi vắng.

    Giờ cô đã đi luôn rồi. Nếu cứ sống cuộc đời của cô, tôi có thể giúp cha mẹ cô không phải khóc thương con gái của mình.

    Chloe chưa bao giờ quan tâm gì tôi. Nhưng tôi quan tâm họ. Và dù cô đã làm nhiều điều kinh khủng với tôi, tôi cũng mang nợ cô cuộc sống của mình.

    Tôi nghiến chặt răng. Điều này là không thể. Tôi không biết cách giấu một cơ thể. Thế giới đầy những con vật biết đánh hơi, đào đất. Tôi không thể chôn cô được. Lúc nào đó có thể cô sẽ trở thành món quà bất ngờ cho người chủ không may mắn của một chú chó nào đó.

    Có lần Chloe đã xem một bộ phim có cảnh một người đàn ông bị nhét vào máy cắt gỗ. Cảnh đó khiến cô gặp ác mộng thấy mình bị xẻ ra thành hàng ngàn mảnh vương vãi khắp thế giới, và mỗi khi có người giẫm lên thì cô lại thấy đau nhói. Kylie trấn an cô rằng vì lúc ấy bộ óc của cô đã nhũn ra hết rồi, nên chắc chắn cô chả thấy đau gì đâu, nhưng bà cũng không chắc lắm.

    Tôi không có máy cắt gỗ. Tôi có thể nhấc cô lên và giấu xuống đáy hồ Ginninderra, nhưng tôi lại không có thuyền. Tôi khiếp sợ trước cái ý nghĩ rằng Chloe Zimetski sẽ tuột khỏi chỗ neo chôn giấu cô, rồi nổi lên mặt nước và điểu đó sẽ cho người ta biết tôi là một kẻ giả mạo.

    A! Bê tông. Chó không đào nổi bê tông.

    Một khách sạn đang xây dở nằm cạnh xa lộ. Những chiếc máy ủi chạy bằng dầu diesel giày xéo mặt đất làm cây cối bật gốc. Tôi có thể chôn Chloe dưới cái chỗ sau này sẽ được biến thành một khu đỗ xe được rải nhựa đường, thế thì phải mất vài thế kỷ người ta mới phát hiện được cô.

    Nhưng nếu mang cô đến đó thì lại xa quá. Tôi mò vào túi quần của cô, lần tìm chìa khóa dự phòng xe hơi của Graeme.

    Ánh trăng lộ dần qua hàng cây, chiếu sáng rực vào cái thi thể mà tôi vừa mới quyết định là sẽ đem chôn giấu. Tôi mới vừa sống được vài ngày. Sao chuyện dữ lại xảy đến với tôi nhanh đến vậy cơ chứ?

    Tôi thì thầm, “Sẽ ổn cả thôi, ổn cả thôi phải không?” Chloe không đáp.

    * * *

    Xe của Graeme, một chiếc ô tô mui kín, màu vàng crôm chắc chắn, đang đậu dưới một tán cây ở vỉa hè. Trên xe dính một chiếc đĩa nam châm hình chữ T của Chloe - chắc là ông quên lấy nó ra.

    Trên chìa khóa có nút bấm để bật đèn và mở khóa cửa xe. Tôi bấm rồi chui vào xe.

    Khoan đã. Tôi nào có biết lái xe đâu?

    Khi hai lòng bàn tay tôi chạm vào vô lăng phủ nhựa dẻo, một cảm giác quen thuộc trỗi dậy. Tôi nghĩ mình có thể lái được. Chloe từng nói là cô đã mang các thiết bị cảm biến vận động trên người để lập trình cho tôi những cử động mà tôi cần. Mong sao trong khoảng thời gian đó ít nhất cũng một lần cô từng chạy xe.

    Thắt dây an toàn ngang ngực. Xoay chìa khóa. Tiếng động cơ vang lên, và tôi xoay cần số ngược chiều kim đồng hồ. Chiếc xe lắc lư dịch xa khỏi tán cây. Cảm giác như cũng bình thường thôi. Vậy là tôi có thể lái.

    Nhưng tôi vẫn không bớt căng thẳng. Tôi phải lái giỏi hơn Chloe. Nếu bị cảnh sát bắt đỗ xe vào lề với một cái xác trong cốp xe thì chắc hẳn đó sẽ là một cái kết bất hạnh cho cái hương vị tự do ngắn ngủi mà tôi vừa có được.

    Tôi vô số, cho xe chạy ra làn đường. Những chấm sương mờ lóe lên trên hai đèn pha. Từng cụm mây lơ lửng che khuất mặt trăng khi xe tôi chạy qua những chiếc đèn đường. Tôi vừa lo lắng không biết khi quay trở lại khu rừng thì cái xác sẽ biến mất không. Lại vừa sợ là nó vẫn còn nguyên ở đó.

    Gần đến mấy khúc cua cuối, tôi tắt đèn pha, đề phòng những gã giết Chloe vẫn còn ở gần đó. Nhưng cả khu rừng vẫn im ắng như tờ. Chắc là tôi an toàn rồi.

    Tôi đỗ xe, cứ để ngỏ cửa không khóa, rồi bò vào lùm cây. Trong bóng tối lờ mờ chập choạng, cành nào cũng trông giống nhau cả. Tôi bắt đầu lo mình sẽ bị lạc khi lỡ trườn qua bụi cây mà chúng tôi đã trốn và gần như sắp thoát được. Chân tôi chạm vào cơ thể gầy gò và mềm mại của Chloe.

    Hai tay tôi ôm ngang nách cô, kéo lê cơ thể cô trên đất, và nhăn mặt hoảng sợ mỗi khi làm gẫy nhánh cây gây tiếng động. Rồi tôi bồng cô lên, đầu cô ngửa ra sau. Một bàn tay thõng ngang mặt tôi như muốn nói ngừng lại. Tôi đứng im một lúc, cố trấn an mình rằng cô không thể sống lại như phép mầu thế được.

    Nếu được cân bằng đúng, người nộm Trông Như Thật có thể mang được 100kg. Đúng. Đúng thế.

    Nhưng thực tế thì tôi cảm thấy pin của mình như đang tan chảy.

    Khi trở lại xe, tôi mở cốp xe, dùng đèn kiểm tra xem đầu Chloe có chảy máu không. Tôi không thể mạo hiểm để vết máu dính đầy xe Graeme được. Viên đạn không xuyên qua đầu, nên không có vết máu ở đường ra, nhưng tôi cũng chả dám chắc.

    Trong cốp xe có một hộp các tông đựng máy giặt được giao vào mùa đông năm ngoái được gấp dưới đống dây cáp sạc ắc quy, giá đựng lốp xe và một cuộn băng keo to. Trông cái hộp có vẻ đủ lớn, nhưng để chứa được Chloe thì phải cuộn tròn cô thành một quả bóng. Tôi đặt cô xuống đất, lấy hộp và cuộn băng keo ra. Tôi chọc ngón tay vào một góc cuộn băng keo, lôi ra một đoạn.

    Vài phút sau, Chloe đã được cuộn tròn chặt trong hộp giống như một bào thai nằm trong bụng mẹ.

    “Mình xin lỗi,” tôi nói, và đóng nắp lại, dán chặt rồi đẩy hộp vào ghế sau.

    Tôi leo vào ghế trước, nổ máy và lái ra làn đường. May là trời đêm ít xe, nên từ đây đến đó chỉ mất chừng hai mươi phút.

    Dĩ nhiên là với điều kiện tôi phải nhớ đường.

    Sẽ có những khoảng trống trong kí ức của mày, và những kí ức được bịa ra khi phần mềm của mày cố gắng lấp những khoảng trống ấy.

    Ngộ nhỡ tôi chạy sai hướng thật thì sao nhỉ? Ngộ ngỡ không có cái khách sạn đang xây dở nào hết, và tôi chỉ đang chạy mãi trên một con đường vô tận chả biết đến đâu?

    Kylie thường nói rằng chả có lý gì khi cứ nghĩ ngợi về những chuyện mà mình không thể thay đổi. Chloe lại chẳng bao giờ thấy lời khuyên đó hữu ích gì. Mà tôi thì cũng chẳng thấy câu đó mang lại thêm chút may mắn nào.

    Khu ngoại ô nhỏ dần trong màn đêm và giờ đây tôi đang chạy trên xa lộ, lao vun vút qua những vầng màu cam của những ngọn đèn đêm. Những chú bướm đêm chập chờn trước đèn pha giống như sự tĩnh điện trên một màn hình chiếu phim đã cũ.

    Đèn đồng hồ xăng chỉ ra bình xăng còn chạy được 511 ki-lô-mét. Chắc chắn khi chiếc xe hết xăng ngừng lại thì tôi đã ở cách đây xa lắm rồi. Lúc đó tôi có thể bỏ mặc cái xác trên ghế sau rồi cứ thế mà bước đi, lần mò mãi trên đường thì cũng đến được một thị trấn đủ lớn để tôi lẫn vào. Newcastle chẳng hạn, hay Coffs Harbour cũng được.

    Nhưng nếu thế thì tôi sẽ chẳng bao giờ biết được ai đang theo dõi Chloe và tại sao. Rồi tôi sẽ thất bại trong nhiệm vụ cô đã lập trình cho tôi: Trông nom mẹ.

    Dàn đèn ha lô gien phía trước công trình xây dựng đã hiện ra từ xa. Đây là cơ hội cuối cùng để tôi bỏ hết mà trốn đi.

    Nhưng tôi không làm vậy.

    * * *

    Chết. Tôi không biết là sẽ có bảo vệ.

    Một chú bảo vệ - tầm trung niên, cằm bành, đang gõ bút chì lên mặt bàn - ngồi trong cái văn phòng lớn cỡ hộp vệ sinh di động gần cổng trước. Chú đang xem ti vi chứ không nhìn trông chừng qua lớp cửa kính, nhưng nếu có gì cử động giữa xa lộ và hàng rào công trình thì chắc chú sẽ thấy ngay. Đằng sau văn phòng của chú, một chùm sáng trên một bóng đèn lớn đang đảo đi đảo lại trong đêm.

    Một người thì trông chừng phía trước, còn một người đi vòng khắp xung quanh. Tôi không thấy máy quay, chắc là không có cái nào. Các máy quay bảo vệ thường được giấu kín để khiến bọn trộm biết sợ mà lui. Thay vì mướn người chăm lo bảo dưỡng máy quay, hẳn công ty đã quyết định thuê luôn một người về trông chừng.

    Các khớp ti-tan của tôi căng lên vì sợ. Giờ mà lui thì dễ hơn nhiều. Tôi tự nhủ mình có thể làm được. Mình phải làm bằng được.

    Ngay khi ánh sáng từ khu xây dựng chỉ sang hướng xa xa phía sau tôi. Tôi liền tấp xe vào khoảng tối giữa những ngọn đèn đường rồi ra khỏi xe. Chỗ này khá xa thành phố, nên chắc đủ yên tĩnh để chôn Chloe.

    Tôi lấy chiếc hộp ra khỏi ghế sau, đóng cửa xe và bắt đầu lẩn vào những tán lá hàng cây trong rừng.

    Chiếc hộp các tông giúp cơ thể tôi tránh được mấy vết gai đâm, nhưng mấy cái nhánh con vẫn cào xước mặt mũi và cánh tay của tôi đau hết cả lên. Tôi chợt thấy mình mỏng manh làm sao. Nếu da tôi mà bị rách, nó sẽ không liền lại được. Tôi sẽ bị sẹo mãi mãi.

    Tôi nhanh chóng lẫn vào màn đêm tối đen. Ánh sáng của xa lộ và khu xây dựng bị cây cản hết, trăng thì chỉ còn là một hình lưỡi liềm nhỏ xíu trên bầu trời. Tôi tiếp tục bước đi, cảm giác có vẻ như tôi đi đúng hướng, tự lẩm bẩm rằng cái khách sạn đang xây dở đó to đùng và sáng như thế thì không thể nào đi chệch được.

    Tôi càng chắc chắn hơn khi chiếc hàng rào lờ mờ hiện ra xuyên qua hàng cây, nhờ những bóng đèn ha lô gien trong khu xây dựng. Tôi nấp sau một bụi cây rậm, tháo một chiếc vớ ra để che mặt, rồi đợi.

    Dù chỉ 4, 5 phút sau thì chú bảo vệ xuất hiện, nhưng tôi cảm giác cứ như đã hàng giờ trôi qua vậy. Ánh đèn pha của chú chiếu dọc theo mảnh đất gần hàng rào, rọi lên đống đá và đám cọc đã cắt ngắn. Chú bảo vệ - một người gầy gò, trông hãy còn trẻ - đi tuần cách hàng rào 6, 7 mét gì đó.

    Chừng như chú có vẻ sẽ chạy nhanh hơn tôi, nếu cần phải chạy. Chú đang ngâm nga một bài hát. Chắc chú không biết rõ lời, nên cứ mỗi hai ba chữ thì chú lại hát thành “tang, tang, tàng tàng”.

    Chùm ánh sáng từ đèn pha rọi qua, rà ngang tán lá trên đầu tôi.

    Chú bảo vệ ngừng hát.

    Tôi nín thở, tự rủa thầm là mình đã vô ý thở mạnh lúc đầu. Chắc chú thấy tôi rồi quá? Chạy không ta?

    Chú bảo vệ hắt hơi một cái. Mũi khụt khịt. Rồi đi tiếp cho đến khi khuất dạng.

    Nếu giờ tôi mà cử động quá sớm, có thể chú sẽ nghe thấy. Nhưng nếu tôi mà cứ đợi lâu quá, thì từ đó đến lúc chú đi tuần trở lại, tôi sẽ chẳng còn mấy thời gian. Sau hai phút, tôi nhỏm dậy giống như một bóng ma đội mồ đứng dậy.

    Hàng rào cao hơn tôi một chút, và được làm bằng một lưới dây thép rất dày. Bên dưới không có kẽ hổng để trườn vào, và tôi cũng chẳng có đủ thời gian để đào lỗ.

    Trèo qua nó đã khó. Trèo mà không gây tiếng động còn khó hơn. Còn trèo mà không gây tiếng động lại còn mang theo một xác chết trong hộp thì bất khả thi.

    Dọc hàng rào có một đống cát nhỏ nằm gần bên. Tôi bước song song hàng rào, đặt chiếc hộp các tông lên đỉnh dây thép gai rồi đẩy một cái.

    Chiếc hộp rớt xuống đống cát kêu nhẹ một tiếng “bụp” mà tôi chắc 90% là chú bảo vệ không thể nghe thấy. Một đầu hộp bung ra và thi thể Chloe nhô ra ngoài, băng dán lỏng ra, tay chân cô rớt ra ngoài đất như những xúc tu của bạch tuộc.

    Hàng dây thép gai oằn xuống trong lòng bàn tay tôi khi tôi đu mình lên. Hàng rào rít lên một tiếng không lớn hơn tiếng gió thổi đêm khuya. Tôi nhanh chóng dạng chân ngang đỉnh dây thép gai, chân đung đưa như đang xuống ngựa. Tôi thả người xuống phía bên kia.

    Không còn thời gian để nhét Chloe vào lại hộp nữa. Gót chân cô để lại dấu trên đất khi tôi kéo lê cô ra xa hàng rào bằng một tay, tay kia cầm chiếc hộp.

    Trên mặt đất chăng đầy dây thành hình lưới, để đánh dấu chỗ nào sẽ xây tường. Các trụ bê tông - tức trụ nền - nhô lên trên nền đá và đất giống như những tòa nhà chọc trời thu nhỏ.

    Công trình xây dựng đã khởi công từ lâu so với lần cuối cùng Chloe nhìn thấy. Nếu tôi thành công, chắc chắn Chloe sẽ được giấu kín dưới một khách sạn sẽ hoàn thành trong nay mai thôi.

    Nằm giữa công trình xây dựng có một cái hầm hình chữ nhật chưa lấp đất, đủ sâu cho ngôi nhà mãi mãi của Chloe. Mặt đất rất phẳng, chắc được làm sẵn để chỉ đợi đổ bê tông vào. Đây sẽ là một hầm giữ xe.

    Tôi men theo bờ đến khi tìm được một chiếc thang dựng thẳng xuống. Rồi tôi nhìn quanh một lẩn cuối. Không có chú bảo vệ nào hay ánh đèn nào thấy tôi cả. Vác xác Chloe lên vai, tôi lấy thăng bằng leo xuống hầm.

    * * *

    Chân tôi chạm vào thanh ngang kêu vang lên, vì tôi đu xuống bằng cả hai chân. Lòng tôi vừa mừng vì tôi sẽ không phải mang xác Chloe lên lại chiếc thang này nữa, nhưng cũng vừa sợ vì cái ý nghĩ tàn nhẫn ấy.

    Tôi sắp sửa che đậy một vụ án mạng và sẽ phải sống dối trá hết phần đời còn lại với gia đình nạn nhân. Dù tôi đã được lập trình bằng đạo đức nào đi nữa, thì chắc nó đã không hoạt động rồi.

    Nghĩ về chuyện đó khiến tôi phát mệt. Có thể là Cộng đồng Trí tuệ Nhân tạo Mở cho là rô bốt mà có cảm giác tội lỗi là đủ tốt rồi.

    Khi tôi xuống đến nơi, nền tầng hầm trông phẳng đến độ tôi chừng như cũng muốn biến mất trong đó, giống như tan biến trong vùng cát lún. Nhưng đất dưới chân tôi đã được nén rất cứng. Đào nó cũng không dễ. Tôi vác Chloe và cái hộp đến giữa hầm.

    Không có xẻng, nhưng gần đó có xô và cuốc. Cán cuốc trơn tuột trong lòng bàn tay. Tôi nghiêng lưỡi cuốc theo góc thẳng và bổ xuống nền đất. Một chiếc lỗ ngay ngắn được tạo ra trên nền đất: hẹp, nhưng sâu.

    Tôi lại cuốc tiếp, nhát thứ hai tạo thành một lỗ kế bên lỗ thứ nhất. Phải mất vài phút tôi mới cuốc khoanh vùng xong một khoảng đất vừa cỡ một quan tài.

    Đào bằng xô có vẻ dễ hơn tôi tưởng. Lúc này mặt đất đã có một khoảng trống để tôi có thể cho miệng xô vào bên dưới và khoét dọc các mép. Sau mười lần xúc, chiếc lỗ trông có vẻ đủ rộng. Sau 40 lẩn xúc, nó cũng đủ sâu. Tôi cho là vậy.

    Tôi đóng hộp các tông lại, cho xuống lỗ, và cuộn tròn xác Chloe vào trong đó. Hai tay cô thõng ra ngoài, tôi phải nhét vào hai bên hông cô. Cô vẫn chưa bốc mùi xác chết, và má cô vẫn hổng hào. Trông như thể cô đang ngủ.

    Để chắc ăn, tôi bắt mạch cô lần nữa.

    Không có mạch. Da cô lạnh như tấm kính.

    Tôi nhặt lấy cái xô và bắt đầu xúc đất cho vào lỗ. Đất bắt đầu phủ lên chân cô, lên bụng, lên cổ cô và rồi phủ khắp người cô từ đầu đến chân. Giống như bóng tối lan ra khi mặt trời lặn.

    Thật khó lòng xúc đất đổ lên mặt một con người. Nên khi xúc tôi đã phải quay mặt đi.

    Làm mặt đất phẳng phiu trở lại mất thời gian hơn nhiều so với việc đào lỗ. Thoạt đầu, tôi gắng làm phẳng mặt đất bằng lưỡi cuốc, nhưng nó để lại quá nhiều vết và rãnh. Sau vài nhát thất bại, tôi đổ cát xuống đầy bốn mép, rồi dùng lòng bàn tay làm phẳng đất, xoa thật phẳng mọi chỗ. Chẳng mấy chốc hai tay và chân tôi đen xì xì, nhưng ngó lại nền đất thì có lẽ chẳng ai có thể biết có gì đó bên dưới được.

    Tôi trả xô, cuốc về chỗ cũ và xóa dấu vết của mình trên mặt đất; dấu chân, dấu tay, mấy miếng băng keo. Sạch sẽ. Tôi nhìn lên trời, mây đang trôi lơ lửng ngang đầu, lộ ra hàng ngàn vì sao lấp lánh. Còn khá lâu mặt trời mới mọc...

    Chú bảo vệ gầy nhom lom khom trên mép hầm, nhìn tôi chằm chằm.
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/1/17
    V•C thích bài này.
  7. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    TRÊN ĐƯỜNG TRỐN CHẠY

    “Ê,” chú bảo vệ thốt lên. Rồi chừng như giờ mới hiểu chuyện gì xảy ra, chú hét lên: “Ê!

    Thôi xong. Lộ rồi. Tôi chết chắc, chết mất thôi.

    Đầu tôi lóe lên một ý nghĩ: trong trường hợp này, chạy là hay nhất.

    Tôi phóng hết tốc lực tránh xa khỏi chú bảo vệ.

    Chú sẽ phải mất một lúc chạy vòng quanh mép hầm đến chỗ cái thang. Có lẽ tôi sẽ leo lên kịp trước khi chú chạy đến.

    Mà có lẽ không kịp. Chân tôi dính đất nặng trịch.

    “Có kẻ xâm nhập,” chú bảo vệ hét toáng lên, “Ivan, có kẻ xâm nhập.”

    Chiếc máy bộ đàm của chú kêu bíp bíp. Tôi nghe thịch một tiếng khi chú nhảy thẳng xuống hầm đuổi theo tôi. Chắc hẳn chú thấy chạy quanh miệng hẩm sẽ rất mất thời gian. Giờ thì chú đang chạy thẳng về hướng tôi - chú sắp bắt kịp tôi rồi.

    Hơi thở hổn hển và gấp gáp của chú bắt đầu lớn dần. Cơ thể tôi lại không chịu chạy nhanh lên để cứu tôi.

    Tôi nhảy xổ vào cầu thang, nắm chặt thanh ngang. Leo chừng được khoảng ba mét thì tôi thấy chiếc thang rung lên. Chú bảo vệ đang leo rượt theo tôi, gần sát ngay bên dưới chân.

    Một bàn tay nắm lấy cổ chân của tôi khi tôi đang rướn mình trèo lên miệng hầm. Pin của tôi long lên sòng sọc, và khi tôi hất được tay chú ra, tôi liền đá thẳng vào đỉnh cầu thang. Chú bảo vệ rú lên và né mình tránh mấy miếng cầu thang bay thẳng qua đầu, đang kêu leng keng lét két trước khi rớt xuống đất.

    Tôi quẫy chân trườn thật mạnh và phóng xa khỏi miệng hầm, trên mình lấm lem cả đống đất, lao thẳng về phía hàng rào. Nhưng chú bảo vệ trung niên, Ivan, lại xuất hiện ngay phía bên kia đống bê tông. Tôi cúi nhanh xuống nấp dưới một đống thanh thép dài hai mét dùng để đóng bê tông.

    Tôi chắc là chú không thấy tôi, nhưng chú đang đứng ngay lối đến hàng rào. Tôi không thể di chuyển nếu chú vẫn cứ đứng mãi ở đó.

    Chú bảo vệ kia chắc lúc này đang leo lên cầu thang. Chú mà ra được khỏi miệng hầm thì sẽ thấy ngay. Tôi đã bị mắc kẹt.

    Tôi không nghe thấy tiếng chân của Ivan. Tôi hé nhìn giữa các thanh thép xem thử chuyện gì đang xảy ra.

    Cặp mắt nâu đen của chú nhìn chòng chọc vào tôi. “Đây rồi!” Chú vừa hét vừa chạy thẳng đến chỗ tôi. “Freddie, nó đây này!”

    Tôi quơ đại một thanh thép rồi giật nó ra khỏi đổng thép. Tôi quơ cây vài lần giống như một cầu thủ bóng chày. Thanh thép kêu vun vút trong không khí, oằn xuống một chút.

    Ivan ngừng chạy, mắt trợn trừng. “Ê ê”, chú nói giống như đang dỗ ngựa.

    “Lùi lại,” tôi thét lên. Giọng rung rung như bị nhét vớ vào miệng.

    Ivan nhìn qua vai tôi. Tôi quay lại thì thấy chú bảo vệ trẻ Freddie đang tiến lại gần.

    “Cả hai người, lùi lại.” Tôi nói. Nhưng khi tôi quay lại nhìn Ivan thì chú đã tiến lên thêm một chút.

    Tôi không thể đánh thắng hai người được. Mà cho dù tôi có thể đi nữa, tôi cũng không làm. Tôi không muốn làm họ bị thương. Họ chỉ đang làm phận sự của mình.

    Nhưng tôi không thể để bị bắt được. Cuộc sống của tôi đang bị đe dọa.

    Tôi nghiêng người lao về góc công trình xây dựng. Cả hai người liền chạy theo - Tôi có thể nghe tiếng giày của họ đập thình thịch trên nền đất. Họ sắp bắt được tôi rồi. Nhưng hàng rào chỉ còn cách 15 mét.

    10 mét.

    5 mét.

    Tôi nhấc thanh thép lên vai như một vận động viên phóng lao. Rồi tôi ấn mạnh thanh thép xuống đất.

    Thanh thép cắm phập vào đất và rung lên bần bật. Tôi búng mình vào không khí, tóc phủ hết cả mặt, bàn tay tôi vẫn nắm chặt thanh thép khi tôi phóng mình qua hàng rào như một vận động viên nhảy sào.

    Lẽ dĩ nhiên, vận động viên nhảy sào còn có đệm đỡ chứ tôi thì phải quăng mình thẳng xuống một đám lá, rồi cành cây kêu răng rắc quanh tôi, trước khi tôi rớt xuống một bụi cây.

    Nếu tôi là người, chắc gãy chân rồi - nhưng nếu tôi là người thì tôi lại chẳng dính vào cái vụ lộn xộn này.

    Freddie leo qua hàng rào còn Ivan thì chạy ngược về phía cổng. Nhưng quanh tôi là cả mấy héc ta rừng tối đen như mực bao phủ. Nếu họ không thấy tôi đâu nữa, chắc tôi sẽ thoát.

    Tôi chạy hết sức vào rừng cây, trốn vào trong màn đêm ảm đạm.

    * * *

    Tôi chạy thục mạng có lẽ chừng 5 phút, rồi chậm lại dần, lòng cứ thấp thỏm không biết mấy chú bảo vệ có nghe thấy tiếng chân tôi lúc chạy qua rừng không. Tôi gỡ chiếc vớ rách nát che mặt ra, nhưng trong màn đêm dày dặc, tôi cũng chả nhìn rõ hơn được là mấy.

    Quanh đây không có nhà hay trạm xe buýt nào cả. Ivan và Freddie chắc sẽ nghĩ tôi đậu xe đâu đây thôi. Tôi phải lái xe đi xa thật nhanh mới được.

    Hai cánh tay tôi giơ lên để gạt những nhánh cây đang cào xát thân thể khi tôi chạy loạn xạ trong rừng. Nếu không tìm được tôi không biết hai chú bảo vệ có nhận ra là tôi đang chôn cái gì đó không nhỉ? Không biết họ có đào thi thể Chloe lên không?

    Tôi tự nhủ thầm là chắc không đâu. Thậm chí có thể họ cũng chẳng thông báo gì cho công ty xây dựng là có kẻ đột nhập đâu. Việc đó chả lợi gì cho lý lịch của họ.

    Cây cối thưa dần khi tôi gần ra đến đường cái. Nếu tôi đến được xe trước khi họ tìm thấy nó, chắc tôi sẽ an toàn.

    Nhưng khi tôi ra khỏi bụi rậm cuối cùng và bước vào xa lộ, thì trước mặt tôi đã có hai chiếc ô tô đợi sẵn.

    Trên mái xe thứ hai có một bóng đèn đang chớp xanh chớp đỏ. Một nữ cảnh sát đang đứng sau biển số chiếc ô tô của Graeme, gõ gõ tay vào máy tính bảng. Cô có làn da trắng xanh, eo thon và dáng rất gọn trong chiếc quần tây bó. Chiếc mũ cảnh sát che gần hết khuôn mặt cô.

    Giờ sao ta, chạy hay ở lại? Nhưng cô đã thấy tôi trước khi tôi đưa ra quyết định.

    “Cô đang làm gì đó?” Tôi nói tránh để lừa cô.

    Nữ cảnh sát nhét chiếc máy tính vào túi quần. “Thưa cô, xin vui lòng cho tôi biết lý do tại sao cô đỗ xe ở đây?” Giọng cô nghe chừng không có vẻ thân thiện cho lắm.

    Tôi chỉ ngón tay về phía rừng. “Tôi mắc quá, giờ mới xong.” Tôi nói, cố tỏ ra bối rối.

    Mắt không rời tôi. Nữ cảnh sát nói, “À ra vậy. Cô từ đâu đến đây?”

    “Tôi mới đi hát về.” Tôi nói. Trong xe không có chiếc kèn Clarinet của Chloe, nên tôi nói thêm, “Tôi là ca sĩ”.

    Cô cảnh sát nhìn chiếc xe, rồi nhìn tôi, rồi nhìn vào rừng. “Ba mẹ cô có biết cô đang ở đây không?”

    “Có chứ,” tôi nói. “Ba tôi cho mượn chiếc xe này, mà ông đâu có nói là sẽ gọi cảnh sát nếu sau 3 tiếng mà tôi không về đâu.” Mắt tôi mở to. “Vậy ra đó là lý do cô ở đây à? Tại tôi về trễ sao?”

    “Giờ là 2 giờ 30 sáng.” Cô cảnh sát nói. “Thế buổi hòa nhạc ở đâu?”

    “Buổi biểu diễn bắt đầu lúc nửa đêm ở Potbelly.” Tôi nói, chọn đại một quán bar.

    “À... ừ. Cô cho xem bằng lái?”

    Tôi móc ví của Chloe trong túi quần, mở ví và rút bằng lái ra. Khi tôi đưa bằng lái cho cô cảnh sát, gương mặt Chloe trong ảnh bằng lái hình như đang mỉm cười với tôi. Cô cảnh sát rọi đèn pin lên bằng lái, nhìn tôi rồi đưa lại cho tôi. “Cảm ơn, Chloe,” cô nói. “Cô không phiền mở cốp xe cho tôi kiểm tra chứ?”

    Ấn chìa khóa của Graeme vào, tôi nhấn nút. Nắp cốp xe khẽ bật ra và tôi nắm lấy mở tung lên.

    Cô cảnh sát rọi đèn vào thấy mấy cái dây cáp ắc qui, cái giá để lốp xe, cuộn băng keo và một bản đổ đi đường đã bị chó cắn rách một góc. “Ok.” Cô nói. “Cô có thể đóng lại được rồi.”

    Cốp xe đóng sầm lại và cô cảnh sát chỉ ngón tay về hướng ngược lại trên xa lộ. “Nhà cô đi đường này. Sao cô lại đỗ xe bên lề đó?”

    Tôi nhíu mày. “Không, không phải. Để đến được đây cô phải băng qua đường Antill...”

    “Đường Antill ở phía sau kia cơ mà.”

    “Vậy á?” Tôi thở dài. “Chắc tôi lạc đường rồi. Giờ tôi có thể đến chỗ nào gần nhất để quẹo được vậy?”

    “Phải chạy thêm một ki-lô-mét nữa.”

    “Tốt quá. Cảm ơn.”

    Cô cảnh sát khoanh tay trước ngực. Tôi chưa khiến cô tin hoàn toàn, nhưng cô lại không có cớ gì để bắt tôi?

    Rốt cục cô nói, “Cô hát tôi nghe một bản xem.”

    Tôi cười phá lên, lòng đầy lo lắng. “Gì cơ?”

    “Cô là ca sĩ mà, chẳng phải sao? Cứ hát đại bài nào cũng được.”

    “Ở đây? Ngay bây giờ à?”

    Hình như càng lúc cô càng nghi ngờ. “Cô không hát được à?”

    Chẳng biết tôi có được lập trình hát được không nữa. Chứ Chloe thì không biết hát.

    Thế là tôi hắng giọng, và hát rap.

    “Cho anh chào một tiếng, để anh cho em thấy anh biết em từ lâu rồi. Để anh nói với em, hãy để anh nói với em, để anh hiểu em hơn. Nắm lấy cơ hội, nắm tay anh, cho anh nhảy với em...”

    Cô cảnh sát trông chừng sốc nặng đúng như tôi nghĩ. Tôi không ngạc nhiên gì khi thấy mình thuộc lời bài hát đến vậy, vì có lẽ Chloe đã tải bộ sưu tập Mp3 cùng với đống ebooks của cô cho tôi, nhưng tôi không ngờ là giọng tôi lại nghe giống giọng đàn ông đến vậy. Nhất là cái giọng người đang hát bản rap ưa thích của Chloe.

    Tôi không có dây thanh âm - chỉ có cái loa ở ngay cổ tôi. Tôi có thể bắt chước bất kỳ giọng nói nào. Thậm chí bất kỳ âm thanh nào.

    “Được rồi.” Cô cảnh sát nói.

    Tôi chả biết thanh minh thanh nga gì nên đành đứng im ở đó.

    “Cảm ơn cô đã cộng tác.” Cô nói tiếp. “Chúc cô buổi tối tốt lành!”

    “Cô cũng vậy!” Tôi nói khi cô quay vào lại chiếc xe cảnh sát. Cô thắt dây an toàn, tìm máy tính bỏ túi của mình, đánh xe ra xa lộ rồi lái đi.

    Hai tay tôi run hết cả lên. Lại thêm một cái tật nữa của con người, chả biết cài vào người tôi làm gì không biết. Tôi ngồi phịch xuống ghế, chiếc ghế kêu loẹt xoẹt, và tôi hít thật sâu vài cái - dù là nhân tạo thôi nhưng cũng có ích - rồi tôi bắt đầu nổ máy, lái ra đường.

    * * *

    Các bóng đèn nhà Chloe đã tắt. Mọi thứ im lìm, không tiếng động gì. Sau rèm cũng không thấy bóng ai cử động. Nhưng sự im ắng và tịch mịch ấy không khiến người ta cảm thấy yên lòng.

    Tôi đỗ xe đúng ngay chỗ tôi lấy nó, rồi rón rén đi vào sân cỏ. Cởi giày xong, tôi đút nhẹ chìa khóa vào ổ khóa ở cửa trước, vặn một cái.

    Bên trong vẫn im ắng, tịch mịch, nhưng không hiểu sao tôi lại cứ cảm thấy mình đang bị theo dõi. Dám là có cả trăm người đang ở bên trong, chờ đợi tôi vào rồi bật đèn reo lên “Ngạc nhiên chưa!”.

    Mà chắc không đâu. Tôi bước vào và đóng cửa lại.

    Sau khi mở lại thiết bị cảm ứng chuyển động, tôi lẩn vào trong nhà. Không có dấu hiệu gì cho thấy có người - mà cũng chẳng có dấu hiệu gì là không có người. Tôi ngừng lại gần phòng ngủ của ba mẹ Chloe và giỏng tai lắng nghe.

    Có tiếng ngáy kêu ro ro. An toàn rồi.

    Tôi phải đợi đến sáng mới dám đi giặt vớ. Vì e là tiếng vòi nước nóng kêu to quá sẽ làm cả nhà thức dậy, mà có thể là cả hàng xóm nữa. Vào phòng Chloe, tôi đổ ụp xuống giường.

    Qua rồi. Tôi đã trốn được những kẻ giết Chloe, đã giấu xác cô, thoát khỏi hai chú bảo vệ, lừa được một ả cảnh sát, và đã lành lặn nguyên vẹn về đến nhà. Ngày đầu tiên tự do của tôi đúng là ác mộng mà, nhưng ít nhất thì tôi vẫn sống.

    Tôi kéo laptop của Chloe lại, mở lên. Trên trang tin tức địa phương, các dòng chữ hiện ra: Chính phủ không phụ thuộc vào các nhà thầu quân sự tư nhân, thượng nghị sĩ nói. Các máy tính lượng tử sẽ sớm trở thành hiện thực. Ca sĩ bị bắt gặp đang ở cùng một anh chàng mới.

    Không có tin gì về xác chết được tìm thấy trong một công trình xây dựng cả. Nhưng chắc sẽ sớm có tin thôi, nếu hai chú bảo vệ gọi cảnh sát.

    Một cái thanh gì đó mà tôi không nhớ tên lơ lửng trên thanh công cụ, hiện ra những phần cập nhật thời gian thực từ các phóng viên. Cứ mỗi 5 phút thì lại lóe lên một bản tin mới. Đội Capitals đang rớt lại phía sau, 18 điểm trên 4. Một cơn dư chấn nữa đang khuấy đảo Argentina. Lãnh đạo đảng đối lập nói rằng quốc phòng đang rơi vào vòng mất kiểm soát.

    Tôi không ngủ được, tôi biết rõ nội dung của từng cuốn sách trên kệ nên cũng chả muốn đọc. Mà ra khỏi phòng thì mạo hiểm quá. Tôi chả còn việc gì để làm ngoài ngồi đọc các dòng tin tức.

    Tôi cứ ngồi đọc tin cả ba tiếng đồng hồ. Không có tin gì về xác của Chloe cả.

    Có gì đó đang di động bên ngoài cửa sổ. Graeme đã dậy. Tôi nghe thấy tiếng ông mở và đóng tủ quần áo, bật quạt hút trong phòng tắm, vặn vòi hoa sen. Chắc ông đang tắm nước lạnh, vì mấy ống dẫn nước nóng không rung cũng không kêu o o.

    Ba phút sau thì nước ngừng chảy. Tiếng chân ông thịch thịch quay về phòng ngủ của mình. Tôi chạy ù ra hành lang, vào nhà tắm, một tay kẹp bộ quần áo pi gia ma của Chloe, tay kia ôm chiếc quần jean và áo choàng.

    Nước từ vòi sen chảy suốt cơ thể mới của tôi có cảm giác kỳ kỳ. Tôi gắng vặn vòi hết sức nhưng nước vẫn không đủ nóng. Da tôi không nhạy cảm như da của Chloe. Hai bàn tay tôi dính với đôi bờ vai và cái bụng làm bằng cao su. Khi tôi kì cọ lòng bàn tay cho sạch đất, bọt xà phòng kẹt vào kẽ tay tạo thành những sợi dây vô hình. Tôi cúi đầu để dòng nước nóng đổ từ trên xuống gáy.

    Tôi không còn là người nữa. Đây là cuộc sống mới của tôi.

    Tôi lau mình xong, thì thấy khắp người dính đầy mấy thớ xơ khăn tắm. Vài năm trước, có lần Chloe giả trang làm phù thủy trong lễ hội Halloween, rồi sau đó cũng thấy có mớ lông dính trên cái mũi giả. Chắc từ rày về sau tôi phải tìm cách nào đó tốt hơn để lau khô mình. Còn lúc này tôi chỉ mong sao đừng có ai đứng gần tôi quá vì họ sẽ thấy đám thớ vải ấy mất.

    Quần áo của Chloe không vừa vặn lắm với thân hình người nộm của tôi. Phần bắp đùi và bụng thì hơi rộng, còn phần ngực và mông lại hơi chật. Chắc là Nhãn hàng Trông Như Thật không có người nộm có dáng y khuôn Chloe, nên cô chỉ vớ đại người nộm nào trông cùng cỡ mình nhất mà thôi. Tôi sẽ phải đi mua sắm.

    Nhưng đến giờ thì tôi mới chỉ chạm trán có sáu người, mà lần nào cũng sợ điếng người. Thế thì làm sao tôi sống nổi khi phải đi mua sắm đây?

    Tôi mở cửa phòng tắm thì thấy Graeme đang đứng ngay đó. Tôi giật nảy, rồi cố gắng giả lả bằng một cái ngáp.

    “Chào ba!” Tôi nói.

    “Con dậy sớm vậy?” Ông nói. Giọng ông trầm và mạnh. Đây là câu đầu tiên trong ngày của ông.

    “Con ngủ không được. Cứ nghĩ là dậy sớm sẽ có một ngày tốt đẹp hơn.”

    Ông gật đầu, “Con muốn ba chở đến trường không?”

    Dĩ nhiên. Hôm nay là thứ Năm. Trời ơi, tôi sắp phải lừa luôn đám bạn và thầy cô giáo của Chloe nữa à?

    “Con thấy người không được khỏe lắm ba ơi.” Tôi nói. Vừa cố chỉ thở bằng miệng khi nói để làm ra vẻ mũi tôi bị nghẹt, nhưng chẳng hiệu quả gì. Giọng tôi nghe vẫn khỏe re như mọi khi. “Có lẽ hôm nay con xin nghỉ một buổi.”

    Graeme cau mày. “Không tốt chút nào. Con bị làm sao?”

    “Đau cổ. Nhức đầu.”

    “Thôi thì để ba đưa con đi bác sĩ.”

    Bác sĩ à. Người có thể nhận ra ngay tôi không phải con người sao. “Dạ,” tôi nói, “à ... mà chết rồi. Hôm nay con lại có bài kiểm tra. Môn Văn. Thôi con phải đi học.”

    “Thì thầy cô sẽ cho con làm bài kiểm tra lại.” Graeme nói. “Nếu con ốm, thì đừng đi học nữa. Lỡ đâu con lây cho bạn nào thì sao.”

    “Chắc không phải bệnh đâu ba. Con chỉ mệt thôi.”

    “Thì cứ đi khám cho chắc.”

    “Dạ để con ăn sáng xong xem thế nào rồi tính. Nha ba?”

    Graeme là người rất tin tưởng vào sức mạnh chữa bệnh của bữa ăn sáng. Ông nói, “Ừ. Thế cũng được.”

    Ông theo tôi vào bếp, tôi đổ ngũ cốc dinh dưỡng ra tô rồi phủ lên một ít yaourt. Graeme bật bình nước siêu tốc và mở gói cà phê hòa tan cho vào ly.

    Hệ thống tiêu hóa của mày về cơ bản là gồm một ống nhựa và một bình chứa hai lít, nhưng nó sẽ chạy tốt. Tôi hi vọng Graeme rời đi bỏ mặc tôi một mình vài phút để tôi có thể đổ tô điểm tâm này vào thùng rác. Nhưng ông ngồi gần quá, tôi buộc lòng phải tin vào Chloe thôi.

    Muỗng đầu tiên nghe như có vị bọt nhựa Styrofoam. Lạ thật, vì khứu giác của tôi vẫn ổn, nhưng sao lưỡi tôi lại như chả có tí gai vị giác nào. Chức năng nhai thì vẫn hoạt động bình thường - nhưng nuốt thì lại hoàn toàn khác. Một lỗ tháo nước ngay cổ họng tôi mở ra rồi nuốt tất cả không khí đi vào miệng. Một van tiết nước ra từ hai hàm răng và hai bên má trong, xả trôi thức ăn xuống.

    “Con nghe gì không?” Graeme hỏi.

    Tôi đợi cho đến khi bộ máy đang hoạt động lạo xạo trong miệng tôi ngừng rít lên mới dám nói. “Nghe gì ba?”

    Ông lắng nghe lại. “À không có gì. Không sao đâu con.”

    “Ba đun nước lại đi. Con cũng muốn uống cà phê.”

    Ông bật ấm, nó át tiếng ổn trong miệng tôi khi tôi nuốt thêm 4 muỗng ngũ cốc nữa. Hoạt động được một lúc thì cơ chế phun tháo nước bắt đầu có thể kiểm soát được. Tôi chỉnh nó về chế độ âm thanh an toàn.

    Graeme đặt cốc cà phê xuống trước mặt tôi. Mùi cà phê thơm phức, hơi đăng đắng, nhưng khi tôi nhấp một ngụm, thì vị nó cũng chả khác gì nước. Mấy cái vị giống nhau này khiến tôi muốn nôn ra.

    “Con thấy sao rồi?” Ông hỏi.

    “Đỡ hơn nhiều rồi ba.” Tôi nói, tay vẫn cầm cốc cà phê. “Cảm ơn ba.”

    “Thế giờ con muốn ba chở đi học hay thôi?”

    “Dạ ba chở đi.”

    Ông lấy chìa khóa trên móc xuống. “45 phút nữa đi nhé con.”
     
    lemontree123 and V•C like this.
  8. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    THỨ NĂM

    TÔI ngồi đè lên hai tay khi xe lăn bánh ra đường. Đó là cách duy nhất để không tỏ ra bồn chồn.

    Đường sá đầy ắp xe cộ, người lái xe thì cặp mắt vẫn còn lừ đừ, khách bộ hành thì vừa đi vừa nhắn tin, có người còn chải lại tóc.

    Graeme im lặng lái xe, một tay nắm cần số, mắt nhìn chăm chăm về phía trước.

    Có lẽ ông đang tìm cách diễn đạt và nói lại câu hỏi hôm qua cho tôi? Cũng có thể ông sẽ đợi Kylie hỏi trước? Em không muốn biết gì về cô gái trẻ đang sống trong nhà mình sao?

    Đôi khi cách dễ nhất để lảng tránh một câu hỏi là hỏi trước. “Ba?” Tôi nói.

    Ông khẽ ậm ừ.

    “Ba có nghĩ là việc chi tiêu cho quốc phòng đang vượt quá kiểm soát không?”

    Ông liếc nhìn tôi, vẻ mặt rất ngạc nhiên. “Sao con hỏi vậy?”

    Tôi nhún vai. “Lãnh đạo đảng đối lập nói thế. Con nghe được trên đài.”

    “À,” Graeme nói, “việc họ làm sẽ tốt thôi nếu họ tiến hành nội bộ. Nhưng lúc này thì hầu hết đều đang dồn vào các nhà thầu quân sự tư nhân. Chỗ đó là có vấn đề đó.”

    “Các nhà thầu quân sự tư nhân?”

    “Tức là các tập đoàn quân sự tư nhân. Binh lính bây giờ sẽ làm việc cho một công ty chứ không cho chính phủ nữa.”

    “Nhưng bọn họ đang làm việc cho chính phủ mà,” tôi nói, “nếu đó là nơi quỹ quốc phòng muốn nhắm tới. Phải không ba?”

    “Không hẳn vậy. Chính phủ thuê các nhà thầu quân sự tư nhân, còn nhà thầu quân sự tư nhân lại thuê binh lính, mà số lính này thường là đám lính đã bị sa thải nhục nhã ra khỏi quân đội chính qui.”

    “Nếu vậy tại sao chính phủ lại dùng họ?”

    “Người ta nói vì nó rẻ hơn.” Graeme nói. “Nhưng năm nay, họ lại phải trả nhiều hơn những năm trước - và phải trả bằng một con số nực cười. Giờ thì các công ty tư nhân đang làm rất nhiều N và P...”

    “N và P?”

    “Nghiên cứu và Phát triển.”

    Hình như đôi khi nói chuyện với Graeme giống như là đang đọc bản hướng dẫn lắp ráp vậy.

    “Họ thiết kế thiết bị và vũ khí cho riêng họ, nên họ có thể từ chối bán nó cho việc quốc phòng nếu người ta không thuê lính của họ.” Hai má ông căng lên khi ông nghiến chặt hàm răng lại. “Lựa chọn khác là trang bị cho binh lính những thiết bị đã lỗi thời. Nên nhóm nhà thầu quân sự tư nhân có nhiều quyền lực lắm, nhiều không đếm xuể. Điều đó khiến những người như ba rất sợ.”

    “Vậy rồi ai làm công việc quốc phòng?” Tôi hỏi.

    Giọng ông đầy phẫn nộ. “Những người không nghĩ là cần phải có chiến tranh vì lợi nhuận.”

    Rồi chúng tôi im lặng. Một chiếc xe buýt gầm thấp chạy ngang, bên trong nhốn nháo người thì ngồi ghế người thì đứng trên lối đi giữa xe.

    Tôi nói, “Con bật đài nha ba?”

    “Ừ.”

    Tôi nhấn nút, chỉnh âm thanh. Một nữ phát thanh viên đang nói về đồng đô la đang xuống thấp và tác động của việc đó đối với các nhà bán lẻ. Khi cô nói đến đoạn tin chính, thì vẫn không có tin gì về việc người ta tìm thấy một cái xác trong một công trường xây dựng. Nhưng tôi vẫn không cảm thấy yên tâm. Nhất là khi xác của Chloe chưa được phủ bê tông.

    Mà kể cả vậy thì tôi vẫn chưa yên tâm. Có lẽ phải đến lúc tôi đủ lớn để dọn ra khỏi nhà của Graeme và Kylie, lúc đó thì tôi có thể sống tự lập và làm việc tại nhà, rồi không bao giờ cho ai đến gần để tránh họ phát hiện ra tôi là cái gì.

    Sau đó thì sao? Cứ ngồi yên đó đợi cho đến khi máy móc phụ tùng của tôi long hết ra à?

    Phía trước là Trường Phổ thông Scullin. Chúng tôi cho xe vào dãy hàng dài ô tô, đợi đi vào làn cho khách xuống. Vài đứa trẻ đang cô đơn bước đi, đầu cúi xuống, vai nhô lên. Tôi đoán là từ nay trở đi tôi cũng là một trong số chúng.

    “Chloe.”

    “Dạ. Dạ.”

    “Nếu con có chuyện gì lo nghĩ,” Graeme ôn tồn nói, “cứ nói với ba. Nha con?”

    “Nói chuyện gì ba?”

    “Gì cũng được. Trường học, bạn bè hay cu cậu nào đó...”

    Hoặc về chuyện tôi là một cái máy đang giả làm người, tôi nghĩ thầm.

    Tôi phá lên cười. “Con không có bạn trai nào kể từ khi lên 8.”

    “Ừ.” Ông nói. “Ý ba là con không cần phải ngại ba.”

    “Con đâu có ngại đâu.”

    Graeme giơ một tay lên, làm ra vẻ đầu hàng. “Thì ba có nói vậy đâu. Ba chỉ muốn con biết là mẹ con và ba luôn ở đây vì con. Mãi mãi.”

    “Dạ, con biết rồi.” Tôi nói.

    “Lúc ba còn bé,” ông nói, “ông nội đã mua cho ba một chiếc xe đạp. Hệ thống giảm xóc đôi, tốc độ hai mươi mốt ki-lô-mét một giờ à nha. Thế là ba không đi xe buýt nữa mà đi đâu cũng đi xe đạp. Ngày nọ, ba vào siêu thị mua một thanh sô cô la, khi trở ra thì thấy chiếc xe đạp đã không cánh mà bay. Xích khóa bị cắt làm đôi nằm lăn lóc trên đường. Những người gần đó chả ai thấy gì.

    Ông nội con không phải là người dễ nói chuyện đâu. Ba sợ ông sẽ nói đó là lỗi của ba - lẽ ra ba phải mua một xích khóa chắc hơn; không được la cà trong siêu thị lâu quá; hay lúc đầu ba không nên phí tiền mua đổ ăn vặt - nên ba đâu có dám nói cho ông biết. Ba giả đò là để xe trong ga-ra rồi từ đó hễ khi nào ông kêu ba chạy xe với ông thì ba lại giả vờ là bận làm bài tập. Cho đến khi ba để dành đủ tiền để mua chiếc xe đạp khác, giống hệt như chiếc trước để thế vào, thì ông đã không còn rủ ba chạy xe đạp nữa.”

    Câu chuyện này không có trong kí ức của Chloe. Có lẽ ông chưa bao giờ kể cho cô nghe. Có thể là cô chưa có cơ hội để biết thêm về cha mình, ông mình và mối quan hệ giữa hai người ấy.

    “Ba cứ thế tự xoay xở lớn lên, tự mình giải quyết chuyện của mình.” Ông nhìn tôi. “Ba không muốn con cũng giống vậy, con à.”

    Ngực tôi nhói lên. “Con xuống đây được rồi ba ơi.” Tôi nói. “Cảm ơn ba đã chở con đi học.”

    “Không có gì.” Graeme đáp. “Con đón xe buýt về nha.”

    “Dạ. Bye Bye ba, tối gặp.”

    Tôi mở cửa, một tiếng ồn kinh khủng như cả đoàn tàu chạy ngang vang ra. Nào là tiếng hét, tiếng cười, tiếng la lối. Tiếng lạo xạo của hàng ngàn quyển sách trong hàng trăm chiếc cặp đi học.

    Tôi có thể làm được. Tôi phải làm được điều này.

    Bước ra khỏi xe, tôi vẫy tay chào Graeme rồi đi vào trường. Một tòa nhà lớn bằng gạch xám, cửa sổ lắp kính, tường nhà đầy hình graffiti đã mờ, hiện ra. Trông nó như một nhà tù. Một số đứa trẻ sẽ nói đây quả thật là nhà tù.

    Quanh tôi, đám học sinh bắt đầu lũ lượt kéo nhau vào. Sớm thôi tôi sẽ phải ngồi sánh vai với chúng trong lớp. Rồi với khoảng cách gần như thế, chúng sẽ nhận ra hơi thở nhân tạo của tôi và cả mấy nút bấm dưới bộ tóc giả của tôi nữa.

    Hai bàn tay tôi gần như trong suốt dưới ánh mặt trời. Tôi có thể nhìn thấy lờ mờ cả những cơ xương bằng ti-tan. Cái cơ thể này thì có thể lừa được ai cơ chứ?

    “Ê, Chloe.” Có người gọi.

    Tôi quay lại, nhưng cô bé ấy đã bỏ đi rồi. Chỉ là một lời chào thường lệ, chả có gì đặc biệt.

    “Chào, Chloe.” Cô Blatt, giáo viên âm nhạc của Chloe, mỉm cười lịch sự khi đi ngang qua.

    Lúc Chloe còn bé tí, mẹ Kylie đã diễn mấy trò ảo thuật cho cô xem. Bà túm một chiếc khăn tay vào lòng bàn tay, nắm chặt lại rồi mở lòng bàn tay ra cho cô thấy là nó đã biến mất. Phải làm đi làm lại 4 lần Chloe mới phát hiện trên tay áo mẹ có một chiếc túi màu da người. Rồi khi đã thấy, cô thấy chiếc túi rất to và có màu xam xám khiến cô không tin nổi là tại sao trước đó cô không thấy nó.

    Cơ thể mới của tôi chỉ trông như đồ giả vì tôi biết rõ nó. Đám học sinh và các thầy cô giáo hẳn sẽ cho là tôi cũng có da có xương, có cơ có gân như người thật, nên họ sẽ không quá lưu tâm đến tôi để nhìn ra được sự thật đâu. Tôi có thể an toàn bước đi giữa họ...

    ... cho đến khi họ có lý do để nghi ngờ. Lúc ấy thì không thể đi học được nữa. Một khi Chloe đã phát hiện ra chiếc túi thì trò ảo thuật sẽ không lừa cô được nữa.

    * * *

    Tôi biết tủ đồ của Chloe, biết cả mã khóa, nhưng lại không biết nó nằm ở đâu. Chloe không chú thích cho tấm bản đồ mà cô đã cài vào ổ cứng của tôi. Thậm chí tôi còn không chắc chỗ này có phải đúng hành lang ấy không nữa.

    Các tủ đồ được sắp xếp theo số thứ tự tăng dần, nhưng điều đó chả giúp ích gì nhiều. Nhiều tủ đang mở toang, một số tủ khác thì đang có mấy cô cậu học sinh tựa vào, còn số khác thì được dán chi chít giấy dán và hình vẽ đến độ không tài nào đọc ra được tủ đó số mấy. Tìm tủ đồ của Chloe giống như đi tìm số nhà giữa đêm khuya mà chỉ có trong tay mỗi cái tên đường.

    Nói cho đúng thì đây là ngày đầu tiên tôi đến trường, nhưng tôi phải làm ra vẻ như mình đã đến đây hàng trăm lần rồi. Tôi không thể cho người ta thấy mình không biết tủ đồ của mình ở đâu.

    “Chloe!”

    Bất chợt có người ôm chầm lấy tôi, một lọn tóc quăn của một cô gái phủ ngang mặt tôi. Cổ họng bằng nhựa của tôi cứng lại vì sợ.

    Henrietta. Chloe đã gặp cô này ngay ngày đầu tiên họ đến trường, khi các giáo viên chọn cả hai người vô đội chào đón một thành viên của đội bơi Olympic đến trường phát biểu. “Thay mặt Trường Trung học Scullin,” Henrietta bắt đầu. “Chúng tôi xin cảm ơn anh.” Chloe nói tiếp. Và cứ thế.

    Kể từ ngày đó, họ đã cùng nhau tham gia vào mọi dự án của trường. Thầy cô bắt đầu gọi họ là “hai chị em sinh đôi”. Dù Henrietta cao hơn và da đen hơn Chloe, thế mà có lần một cu cậu học sinh khù khờ còn hỏi họ có phải là chị em sinh đôi thật không nữa chứ. Cả hai đứa cùng phá lên cười, lúc đầu còn khúc khích rồi sau cười ầm lên, cho đến khi cả hai bị đưa lên phòng hiệu trưởng.

    Henrietta buông tôi ra. Trán cô nhăn lại, có vẻ lo lắng. “Cậu không sao chứ?”.

    Chắc tại cô thấy da tôi lạnh. “Có sao đâu, Hen,” tôi nói. Cái tên vừa quen thuộc lại vừa xa lạ. “Sao mình lại có gì chứ?”

    Henrietta nhún vai. “Mình không biết. Hôm qua lúc cậu chào tạm biệt, lúc đó cậu nói cứ như cậu đang suy tính gì đó trong đầu.”

    Quan sát này cho thấy cô là một người bạn tuyệt vời hơn cả Chloe. Năm ngoái, Henrietta bị suy nhược đến mức phải đi khập khiễng cả tháng trời, không ăn, không ngủ được đến mức gần như chỉ có thể lê mình ra khỏi giường. Nhưng ngày nào cô đến trường cũng tươi cười, và Chloe chẳng bao giờ để ý thấy sự gượng gạo đằng sau những nụ cười ấy. Khi Henrietta hồi phục và kể Chloe nghe sự thật, Chloe lại cứ nghĩ là Henrietta đang chọc mình.

    Còn hôm qua, chắc hẳn Chloe biết mình sẽ không gặp Henrietta trong một thời gian. Nhưng cô lại không biết đó là lời chào cuối cùng của mình với cô bạn gái thân thiết nhất này. Chỉ nghĩ về điều đó thôi tôi cũng muốn khóc rồi.

    “Làm gì có chuyện đó.” Tôi nói. Lẽ ra tôi phải nói nhiều hơn về chuyện đó. “Mọi việc vẫn ổn. Cậu thì sao?”

    “Hai đứa mình vẫn chưa nói xong chuyện về cậu mà.” Henrietta nhướn cặp lông mày. “Tối qua ba mẹ cậu vắng nhà, đúng không? Cậu có làm trò gì vui không?”

    Tôi nghĩ lại cảnh chôn xác Chloe. “Chả có gì gọi là vui cả.” Tôi nói. “Còn cậu?”

    “À!” Cô nói. “Tối qua Pete có ghé chơi.”

    Pete là đội trưởng câu lạc bộ thảo luận của trường, tính hay tự mãn nhưng lại là người có sức lôi cuốn. Cậu ta cũng chính là lý do chủ yếu mà Henrietta tham gia nhóm đó. Chloe cũng thích cậu này, nhưng cho là Henrietta sẽ giúp cậu này thành một đội trưởng tốt hơn.

    Tôi thực sự không muốn nói về Pete. Tôi muốn chuồn đi, trốn vào căn phòng thay đồ cho đến khi tan học và mọi người về hết. Nhưng tôi phải cư xử sao cho giống Chloe.

    “Thậ... ật... á?” Tôi nói. “Hi vọng hai đứa điên khùng tụi bay biết cư xử đúng mực.”

    Henrietta thở dài. “Buồn là đúng như vậy. Tuy nhiên,...” cô huých tay vào hông ti-tan của tôi, “mình nghĩ anh ấy thích mình.”

    “Trời đất.” Tôi nói. “Có ngu mới không thích cậu. Vấn đề là, hắn có xứng đáng không?”

    Henrietta trả lời ngay. “Có chứ.”

    Tôi cười. “Đừng nói sớm! Hắn sẽ phải chứng minh là xứng đáng. Cứ bắt hắn mang cho bạn một cây chổi ma thuật xem, giống như trong phim Phù thủy xứ Oz đấy.”

    Henrietta há miệng định văng tục, nhưng chuông reo.

    Bạn thân nhất của Chloe không nhận ra tôi không phải là Chloe. Nên tôi liều hỏi.

    “Hen ơi!” Tôi nói. “Tự nhiên mình quên mất tủ đồ của mình ở đâu rồi. Dẫn mình đến đó được không?”

    Cô bật cười, khoác tay tôi. “Xin sẵn lòng.”

    * * *

    “Máy tính lượng tử,” thầy Fresner nói, “là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Ai có thể cho tôi biết lý do tại sao không?”

    Cả lớp im phăng phắc. Một số không biết, số khác thì lại không muốn thừa nhận là mình biết. Chloe đã cài sách giáo khoa của cô vào bộ não của tôi, nên tôi biết chắc thầy đang muốn nói gì. Nhưng tôi không muốn bị để ý.

    Lớp học có mùi nước tẩy vệ sinh và xà phòng. Bàn học quanh tường được gắn các ống ga dễ cháy để cung cấp năng lượng cho các bóng đèn Bunsen. Chloe từng nghe đồn rằng có lần một học sinh đã bít một trong những ống ga đó bằng miệng một con chuột chết. Mấy cái ống đó bắt đẩu thổi hơi vào con chuột chết cho đến khi nó phình to rồi nổ tung, xác thối văng tung tóe khắp phòng học.

    Chloe chưa bao giờ tìm hiểu xem chuyện đó có thật hay không.

    Thầy Fresner là một người mập mạp, tuổi gần 30, với bộ râu quai nón xồm xoàm màu xám, và có thói quen vừa đi vừa giảng. Một sợi dây dài đã phai màu lòng thòng xuống sàn nhà trước tấm bảng trắng. “Pete,” thầy nói, giọng chắc nịch, “em trả lời được không?”

    Pete đang nghịch một chiếc vòng cườm, có vẻ như Henrietta mới làm cho cậu. Pete có dáng người thấp bé, tóc đen, quăn và đang có râu dê. Hình như cậu không biết câu trả lời, nhưng trước giờ Chloe chưa từng nghe cậu ta thú nhận điều đó.

    “Vì chúng có thể nhỏ hơn rất nhiều so với máy tính thông thường.” Cậu đoán bừa. “Vì phô-tôn nhỏ hơn nhiều so với bóng bán dẫn mà.”

    “Đúng vậy,” thầy Fresner nói, “nhưng hầu hết thiết kế hiện nay đều có cùng kích cỡ và kiểu dáng giống như những bộ xử lý thông thường mà. Và cũng có người cho là máy tính thì chẳng cần nhỏ hơn làm gì. Em có thể đưa ra một câu trả lời hay hơn nữa. Thầy gợi ý nhé - điều chúng có thể làm được thì các máy tính cổ điển không làm được.”

    “Chơi được Modern Warfare 5 mà không bị lag,” một cậu ngồi tít cuối lớp nói.

    “Hay đó. Ai nữa nào?”

    “Chúng không bị các xung điện từ trường tác động.” Cậu lúc nãy nói, có lẽ vì chả ai cười với câu nói đùa lúc nãy của cậu.

    Thầy Fresner ngừng lại. “Em có chắc không hay em chỉ đoán vậy thôi?”

    “Dạ em đoán ạ.” Cậu thú nhận.

    “Thầy nói thêm cho những ai chưa rõ, một xung điện từ trường là thứ diễn ra khi các em cho một dòng điện chạy qua một lõi sắt hay một chất từ tính nào đó. Bất kỳ máy tính nào ở gần đó sẽ bị tắt đi ngay. Cũng có thể là máy tính lượng tử thì không bị ảnh hưởng, nhưng thầy phải tra lại cho chắc. Nhưng đó cũng chưa phải là ý thầy đang muốn nói.”

    Chloe chẳng khuyên tôi tránh xa mấy cục nam châm. Tôi phải thêm ngay chúng vào danh sách những thứ có thể làm lộ tôi hay giết tôi mới được.

    “Chúng có tính năng đa nhiệm.” Cô gái mang kính ngồi kế bên tôi nói. “Nếu thầy yêu cầu một máy tính lượng tử tìm thừa số của một con số, nó có thể thử mọi tổ hợp cùng một lúc thay vì làm từng cái một.”

    “Đúng là nó có thể làm vậy. Thay vì dùng các số 0 và 1, máy tính lượng tử sử dụng các qubit, tức cùng lúc là 0 và 1 cho đến khi chúng được tính toán. Vậy tại sao điểu đó lại hữu ích?”

    Henrietta ngồi phía bên này tôi. Cô giơ tay. Những chiếc nhẫn trên ngón tay cô ánh lên trong ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào.

    “Henrietta.” Thầy Fresner nói.

    “Để phá mã phải không thầy?” Cô hỏi.

    “Chính xác! Khi mà một máy vi tính cổ điển phải mất hàng ngàn năm thử và sai mới tìm được một thuật toán giải mã, thì máy tính lượng tử có thể thử mọi khả năng cùng một lúc và đưa ra câu trả lời trong vài giây.”

    Thầy quay lên bảng và viết dòng chữ Thuật mã hóa.

    Tôi viết sột soạt lên vở của Chloe. Lật sang trang thì tôi đọc được rằng Liên bang Xô Viết đã tấn công Phần Lan vào năm 1939, rằng khí hê li là khí nhẹ nhất trong nhóm khí trơ trong bảng tuần hoàn, rằng trong một nhóm hai mươi ba người thì có đến 50% cơ hội là có hai hoặc hơn hai người có cùng sinh nhật. Có vẻ như nó cho tôi biết mọi thứ trừ điều tôi rất muốn biết: ai đang theo dõi Chloe và tại sao?

    Tủ đồ của Chloe không có manh mối gì. Trong đó có một hộp khăn giấy, vài bức hình của cô và bạn bè đang leo xuống khu leo núi Booroomba Rocks, một thiệp mời sinh nhật của Pete mà Chloe nghĩ là nếu vất đi thì sau này sẽ rắc rối lắm, và một tờ ghi chú đã được gấp lại có ghi, và “Ngạc nhiên chưa!” một dấu hôn bằng son môi. Henrietta thích nhét những chữ kì cục vào tủ đồ của Chloe.

    “Các nhà khoa học hiếm khi nghiên cứu điều gì chỉ vì chúng hữu ích thôi,” thầy Fresner đang nói, “mà thông thường thì họ nghiên cứu vì chúng nguy hiểm. Chloe nào.”

    Mọi người quay lại nhìn tôi. Nỗi sợ xoắn từ trong ra ngoài lồng ngực.

    “Dạ?” Tôi nói.

    “Em có ý gì về lý do tại sao một máy tính lượng tử lại có thể nguy hiểm không?”

    “Hệ thống ngân hàng thế giới phụ thuộc vào phương pháp mã hóa truyền thống.” Tôi nói, trích dẫn nguyên xi trong sách giáo khoa. “Nếu dùng một máy tính lượng tử, người ta có thể đánh cắp hàng tỷ tỷ đô la.”

    “Giỏi lắm.” Thầy Fresner quay lại nhìn cả lớp lúc này đột nhiên trông có vẻ chú ý lắng nghe hơn. “Nếu nằm trong tay kẻ xấu, công nghệ này có thể tạo ra sự tan rã kinh tế trên qui mô toàn cầu khiến cho cuộc Đại suy thoái ngày nay chỉ trông như một sự cố nhỏ mà thôi. Đó là lý do tại sao các quốc gia và các công ty đang ráo riết chạy đua với nhau - ai phát triển được một máy tính lượng tử hoạt động trước sẽ có thể là người đầu tiên biết cách tự bảo vệ mình khỏi một sự tấn công như thế.”

    Một cô gái từ hướng đối diện trong lớp học nhìn tôi chằm chằm. Mái tóc đen óng ả của cô bị một dải băng quấn đầu cuốn ngược lên, để lộ một khuôn mặt đầy tàn nhang. Dưới cái mũi nhọn, đôi môi mỏng của cô mím chặt lại thành một đường thẳng.

    Không biết cô có thể nhìn ra điều mà chả ai nhìn ra được không, tôi nhìn vào mắt cô và mỉm cười lịch sự. Cô không thèm cười lại. Nói đúng hơn thì hình như cô nhìn tôi thêm một lúc nữa rồi mới quay đi. Có lẽ cô ghen tị vì kiến thức sách vở của tôi.

    Tôi không nhận ra cô gái ấy, nghĩa là cô ta không phải bạn trên mạng của Chloe. Nhưng gương mặt cô có nét gì đó như thôi miên người khác. Càng nhìn cô tôi càng cảm thấy bất an.

    Tôi cắm mặt viết lia viết lịa những gì thầy Fresner đang giảng. Thuật mã hóa. Bits/ qubits. Thuật toán.

    Do tôi nhớ hết các sách giáo khoa, những gì thầy nói không có nhiều giá trị học vấn lắm với tôi. Hình như cây bút tự nó viết chữ, tìm kiếm một chủ đề huyền bí hơn.

    Các lý do: kiến thức, nó viết. Các bí mật.

    Nếu Chloe có thông tin mà người nào đó muốn biết thì điều này sẽ giải thích tại sao cô bị theo dõi.

    Nhưng nếu cô không biết cô có thông tin ấy - thế thì hẳn không có gì bí ẩn về việc bị truy đuổi cả.

    Hay là cô đã chuyển thông tin ấy sang cho tôi. Tôi cần phải tìm ra tại sao nó lại quan trọng như thế mới được.

    Cây bút của tôi nguệch ngoạc thêm một chữ nữa. Im lặng.

    Ngộ ngỡ những kẻ truy đuổi đã biết bí mật này rồi thì sao? Chắc hẳn nhiệm vụ của họ là đảm bảo nó không bị lộ ra ngoài. Có lẽ họ đã lên kế hoạch giết Chloe từ lâu rồi.

    Nhưng họ không biết là họ đã giết được Chloe chưa. Nên có thể họ sẽ giết tôi vì điều gì đó mà tôi thậm chí còn không biết mình biết.

    Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Dẫu biết rằng việc tim đập là ảo thôi, rằng trong đó chẳng qua chỉ có một cục pin và một bình chứa hai lít, thì điều đó cũng chả khiến tôi bớt lo lắng.

    “Có chuyện gì hả, bạn thân yêu?” Henrietta thì thầm. Tôi cười giả lả. “Không. Không có gì.”

    Thật ra là chưa có gì thôi.
     
    lemontree123 and V•C like this.
  9. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN

    MÔN Khoa học dài đằng đẵng như mất cả buổi sáng, nhưng thực ra nó chỉ mất 45 phút. Kế tiếp là tập nhạc. Theo như bản đồ trong đầu tôi thì phòng tập nhạc ở phía bên kia sân trường.

    Khi đứa học sinh cuối cùng lao ra khỏi lớp sinh học. Tôi nắm lấy cánh tay Henrietta.

    “Ôi ôi!” Henrietta nói. “Cẩn thận anh Hercules ơi. Gãy tay em mất.”

    “Chết! Tớ xin lỗi.” Tôi nói, buông tay cô ra. Tôi chỉ tay vào cô gái có mái tóc óng mượt lúc nãy đã nhìn tôi chằm chằm và hỏi: “Ai thế?”

    “Ai là ai?”

    “Con bé đó đó. Con bé có dải băng cài tóc và mặt tàn nhang kia kìa.”

    “À, Becky hả.”

    Cả hai chúng tôi ngoảnh đi chỗ khác khi Becky quay sang nhìn về hướng chúng tôi. Tôi không biết cô có thấy tôi chỉ tay vào cô không.

    “Người mới hả?” Tôi nói.

    “Không, cậu mất trí à. Nó học lớp mình cả năm nay rồi - nó nghỉ học một tháng vì anh nó ốm. Mà sao cậu lại hỏi vậy?”

    “Thì tớ không nhớ là đã gặp nó rồi, chỉ vậy thôi.”

    “Ôi trời! Cậu ở hành tinh khác mới xuống à?”

    Mình là Chloe. Tôi tự nói với chính mình. “Ừ. Rảnh thì cậu nhớ ghé chơi,” tôi nói, “tớ sẽ chỉ cho cậu biết hành tinh của tớ.”

    Henrietta cười phá lên. “Tớ phải đi học môn tiếng Ý đây. Giải lao gặp cậu nhé.”

    “Ciao”, tôi nói chữ chào bằng tiếng Ý.

    “Cậu nói gì vậy?” Henrietta nói, trông cô có vẻ lúng túng.

    “Tiếng Ý mà. Có nghĩa là...” Chợt tôi nhận ra là cô đang đùa. “Thôi biến giùm cái đi.”

    Cô cười khoái chí. “Gặp cậu sau nhé.”

    Henrietta đi một hướng, còn tôi bước theo hướng khác, cố gắng bắt kịp nhịp chân của các học sinh đang đi quanh mình. Vai và hông của mọi người va vào tôi khi tôi cố len qua dãy người đông đúc.

    Không khó để nhận ra là có người đang nhìn tôi, dù nhiều lần tôi quay lại kiểm tra thì không thấy ai cả.

    Nơi đây không có không gian riêng tư. Nên chắc chắn sớm muộn gì cũng có ai đó vô tình chạm vào da tôi và phát hiện ra đó chỉ là silicon.

    Lại nữa rồi, tôi lại nghĩ quá nhiều.

    Giáo viên âm nhạc của tôi, cô Blatt, chợt lướt ngang qua tôi. Chiếc khăn trùm đầu màu xám, cặp mắt kính dày cộm và vẻ mặt lúc nào cũng đa nghi của cô khiến cô trông như bà già trăm tuổi, nhưng nếu cô cởi hết mấy thứ đó ra thì chắc sẽ lộ ra cả vài chục thứ khác. Các cô cậu học sinh đang né mình tránh sang bên cho cô đi qua. Thành ra tôi lại đi sau lưng cô giống như một chiếc taxi đang trong đợt kẹt xe chạy theo sau một chiếc xe cứu thương vậy.

    Khi tôi gần đến phòng tập nhạc thì bất ngờ một tiếng ụa ụa kì quái vang lên. Nghe giống như là tiếng nhiễu loẹt xoẹt của tai nghe khi gần đó có người đang gửi tin nhắn.

    Bất chợt tôi rùng mình kinh hãi khi phát hiện ra tiếng đó phát ra từ cổ họng mình.

    Tôi ngậm miệng lại rồi lấy lòng bàn tay bụm chặt miệng, cố gắng chặn tiếng ồn. Chắc bộ khuếch đại âm thanh trong cổ họng tôi trục trặc rồi. Tôi phải trốn khỏi đây ngay trước khi có người nghe được.

    Nhưng âm thanh đang lắng xuống dần, giống như tiếng móng vuốt của một chú chó đang chạy lon ton trên một hành lang lát gạch.

    “Cậu không sao chứ?” Có tiếng hỏi. Một cậu trai trẻ, răng đeo niềng trông cứ như đường rầy xe lửa trên hai hàm răng. Ngoài ra không có ai để ý thấy hành vi kì lạ của tôi.

    Tôi bỏ tay che miệng ra. Không biết có phải chuyện này lúc nào cũng xảy ra khi có người gửi tin nhắn kế bên tôi không? Chắc không đâu. Lúc trong lớp, Henrietta ngồi kế bên tôi cũng nhắn tin đó thôi, nhưng lúc đó giọng tôi đâu có sao.

    “À, mình không sao,” tôi nói, “mình chỉ có cảm giác như sắp nôn thôi.”

    Cậu ta sững người nhìn tôi. “Cậu có thai à?”

    “Ai có thai?” Một giọng nói thứ ba chen vào.

    “Cô ấy.”

    “Chloe có thai à?” Giọng thứ ba nói tiếp.

    Lúc này mọi người đều quay lại nhìn tôi.

    Tôi không có thai. Tôi nói một cách giận dữ và nhìn vào tất cả bọn họ. “Chỉ là tôi... tôi...”

    Tôi giả đò khom người, ho một tiếng, làm ra vẻ tôi sắp sửa nôn vào đám người đang vây lại xem ngày càng đông. Mọi người hoảng loạn tránh về phía sau, nhường chỗ cho tôi chạy qua.

    Thế là quá đủ cho cái vụ hòa mình vào đám đông. Trong khi chạy, tôi tự hỏi không biết cái cơ thể này còn phản bội tôi bao nhiêu lần nữa đây.

    * * *

    Quạt trần trong phòng tập nhạc chỉ có hai chức năng: một là ném ra một âm thanh kẽo cà kẽo kẹt vào những bản ca hòa âm tuyệt vời của chúng tôi và hai là tỏa những làn khí nóng hôi hổi xuống đầu chúng tôi.

    “Vào lớp ngồi hết đi các em!” Cô Blatt nói khi thấy đám học sinh đang lượn lờ đi vào. “Mai là ngày cuối học kỳ rồi vậy mà chúng ta vẫn còn cả khối đoạn cần phải luyện tập cho xong”. Cô chỉ đũa điều khiển vào tay đánh đàn piano giống như một phù thủy đang vung đũa phép. “Làm ơn, chuyển nốt!”

    Người chơi piano nhấn một phím. Cung A thấp B giáng vang ra khắp phòng. Những người đã chuẩn bị sẵn nhạc cụ liền hòa âm theo, vi-ô-lông thì đổi van bấm rồi đẩy lên điệu cao. Những người còn lại liền len qua các hàng ghế và đứng trước chỗ ngồi của mình.

    Tôi đã ngồi sẵn, tờ nhạc ở trước mặt, tay cầm cây kèn clarinet của Chloe. Hai tay tôi lại run lên.

    Lúc Chloe mang trên người các miếng dán nắm bắt cử động để giúp tôi mô phỏng theo, không biết lúc đó cô có chơi clarinet không? Giờ nếu tôi mà chơi thử thì không biết nên để ngón tay ở đâu đây?

    Hầu hết các nhạc cụ đều đang được chơi. Chắc là do thấy bản nhạc chơi chưa được tốt lắm, cô Blatt gõ gõ đũa lên bục cô đang đứng và im lặng chờ đợi. Cái nhìn lạnh lùng của cô khiến khúc nhạc trở nên gấp gáp hơn.

    “Chơi bản Himalayan Tribute.” Cô nói.

    Một vài học sinh xì một tiếng “Vâng!” Số khác thì rên rỉ.

    Tôi với bản nhạc, nhưng cô bé chơi clarinet kế bên - một cô gái gầy gò, mái tóc dường như lúc nào cũng che mất nửa khuôn mặt - đang lật bản nhạc sang đúng trang cần chơi. Cô cũng không phải là bạn trên mạng của Chloe, nhưng Chloe có đánh dấu tên cô vào trong những bức hình của họ, nên tôi biết tên cô này: Fiona.

    Tôi nhìn qua dòng đầu tiên trên bản nhạc. Những nốt đầu là D, G giáng, B, A. Ít ra thì tôi cũng có thể đọc được nhạc. Nhưng không biết tôi có chơi được không nhỉ?

    Cô Blatt giơ đũa lên. Tôi đặt kèn lên môi, giữ ngón tay ngang những chỗ tôi nghĩ là đúng nốt. Trong phòng ai nấy đều nín hơi.

    Cô Blatt hạ đũa xuống và âm thanh vang ra khắp phòng. Tiếng chũm loảng xoảng, tiếng xắc-xô-phôn tu tu, tiếng sáo réo rắt như tiếng chim.

    Nhưng cây clarinet của tôi lại không phát ra tiếng nào.

    Hoảng quá, tôi gắng thổi mạnh hơn, nhưng vẫn vậy. Nhạc cụ trong tay tôi giống như một ống chì.

    Giai điệu tiếp tục vang lên thêm 5 nhịp nữa trước khi cô Blatt vẫy tay ra hiệu ngừng lại. “Cường độ, Kèn trôm-pét phải nhớ cường độ.” Cô nói. “Lẽ ra phải chơi nhỏ dẩn lại.”

    “Cậu không tập trước à?” Fiona hỏi.

    “Có chứ. Tớ nghĩ kèn của tớ hỏng rồi thì phải.”

    “Đưa tớ xem nào.” Cô cầm lấy chiếc clarinet của tôi, thử thổi vài hơi rồi đưa lại cho tôi. “Đâu có sao đâu.”

    “Lại nào!” Cô Blatt nói, và nói luôn cả cho chúng tôi.

    Nốt đầu tiến ré lên đinh tai nhức óc, nhạc cụ của ai cũng kêu, trừ của tôi. Chiếc kèn clarinet của tôi không chịu phát ra tiếng nào - và chợt tôi hiểu được lý do tại sao: Tôi không thở.

    Lồng ngực của tôi có phồng lên và xẹp xuống, và có thể tạo ra những âm thanh như tiếng thở bằng cái loa trong cổ họng tôi, nhưng thực sự thì chả có tí không khí nào vào ra trong đó cả.

    Tôi phùng má lên để kiếm chút áp suất rồi tống một miệng đẩy không khí vào cây kèn. Cây clarinet kêu lách cách, tạo ra một tiếng the thé kì lạ, nhưng chả có nốt nhạc nào ra hồn cả.

    Cô Blatt lại cho ngừng nhạc lại. “Cho tôi nghe dàn clarinet thứ hai nào?”

    Chính là chúng tôi. Giờ thì chẳng còn âm thanh nào để nấp nữa.

    Cô Blatt giơ đũa lên.

    Ngừng lại.

    Rồi hạ xuống. Fiona bắt đầu thổi, âm thanh rất lớn, nhưng cũng không giấu nổi là chỉ có một tiếng kèn của cô mà thôi. Giờ thì ngay cả những ngón tay đang run rẩy cũng không nghe lệnh tôi nữa.

    Cô Blatt cho chúng tôi ngừng lại. “Chloe...”

    “Em có chút rắc rối với cây kèn của em cô ơi.” Tôi nói.

    Nghe không giống như cây kèn có vấn đề gì, cô nói, “chẳng có tiếng gì cả”.

    Cả lớp đổ dồn vào nhìn tôi.

    Tôi biết nốt phải phát ra nghe như thế nào, nhưng tôi không có cách nào thổi được. Chloe bỏ mấy tháng trời ráp cơ thể tôi với bộ não. Nhưng sao cô lại không nhận ra vấn đề này nhỉ?

    Có thể là Chloe đã biết. Và có thể là cô đã cho tôi một giải pháp rồi.

    Tôi gắng thử chiếc kèn thêm vài lần. Em thổi lại nha cô?”

    Cô Blatt nhướn lông mày, im lặng như đồng ý.

    Đặt cây clarinet lên môi, tôi đặt ngón tay lên các nốt giống như đang chơi thật, và một giai điệu du dương hoàn toàn đúng phát ra. Nhưng nó không phát ra từ cây kèn, mà phát ra từ chiếc loa trong cổ họng tôi.

    Fiona trông nhẹ nhõm thấy rõ khi tôi thổi xong khúc nhạc. Cô Blatt nhìn tôi chằm chặp thêm một hồi lâu, chắc cô đang ngạc nhiên không hiểu tại sao sự im lặng của tôi lại trở thành một khúc nhạc du dương đến vậy. Nhưng cô không nói gì, chỉ quay lại nhìn mọi người rồi nói: Lại từ đầu.

    Chợt tiếng còi báo cháy vang lên.

    Như mọi khi, một đám học sinh reo lên mừng rỡ. Cũng như mọi khi, một đám học sinh khác bắt đầu cất nhạc cụ vào túi. Như mọi khi, cô Blatt thét vào mặt chúng tôi át cả tiếng còi báo cháy và tiếng học sinh đang nhốn nháo: “Ngồi xuống. Ngồi hết xuống!”

    Tiếng bíp bíp bíp inh ỏi chỉ nhằm mục đích làm cho chúng tôi chú ý mà thôi. Chúng tôi không được phép sơ tán khi nào chưa có ai thông báo chính thức là có nguy hiểm, và lúc đó âm thanh sẽ chuyển thành một tiếng còi hú.

    Hiếm khi nào môn nhạc lại bị cắt ngang như thế này. Thường thì tiếng còi sẽ vang lên trong suốt lớp học lịch sử của Chloe, và thường thì tiếng còi là do một lớp học môn khoa học cẩu thả ở năm dưới gây ra. Bọn học sinh đó lúc nào cũng tìm cách dùng những bóng đèn Bunsen để gây cháy.

    Có vẻ mọi người không ai còn chú ý gì đến tôi nữa và cả việc tôi không biết cách chơi kèn mới vài phút trước đây. Có lẽ sau khi còi báo động tắt thì sẽ chả còn ai nhớ đến sự cố ấy nữa.

    Một cậu học sinh bắt đầu rên rỉ, giả tiếng còi báo sơ tán. Cô Blatt hét cậu ta im đi khi nghe tiếng cô hiệu trưởng trên loa.

    “Các giáo viên chú ý. Đóng mọi cửa phòng học lại. Dẫn học sinh trong phòng ra bằng ngả cửa sổ. Làm thật nhanh và thật trật tự.”

    Mấy lời cuối của cô hiệu trưởng nghe run run. Cô Blatt nhìn lên trần khi bản thông báo được phát lại, khiến mọi người càng hoang mang.

    Chúng ta đang gặp nguy hiểm gì thế?

    “Được rồi.” Cô nói, sau khi trấn tĩnh lại. “Các em nghe rồi đó. Để nhạc cụ lại trên ghế. Dàn gõ, các em ra mở cửa sổ trước.”

    Những học sinh chơi trống bỏ dùi trống lại và bắt đầu mở chốt cửa sổ.

    “Sao thầy cô lại nói tụi mình làm vậy nhỉ?” Fiona thì thầm. “Chẳng phải làm thế này thì tụi mình sẽ mất thời gian hơn để ra khỏi trường sao?”

    Tôi gật đầu. “Có thể lửa cháy ở hành lang chứ không cháy trong phòng.”

    Cô hé nhìn qua cửa sổ trong phòng. “Tớ không thấy có khói.”

    “Tớ cũng không ngửi thấy gì. Nhưng đây không thể nào là một buổi diễn tập. Vì nó không giống ngày thường.”

    “Nhóm kèn đồng,” cô Blatt nói, “đi theo nhóm gõ”.

    “Lúc nào mà chả vậy.” Một tay chơi trôm-pét pha trò. Một tay chơi kèn tuba cười phá lên, nhưng nghe có vẻ miễn cưỡng. Các học sinh bắt đầu leo qua cửa sổ thoát ra ngoài bụi cây. Nhóm gõ đang hối hả chạy trên bụi cỏ phía trước họ, giống như những con cừu lạc. Các nhóm học sinh từ các lớp khác cũng túa về hướng họ.

    “Chắc là một vụ đe dọa đánh bom.” Fiona nói.

    “Thì cậu cứ nghĩ thầy cô muốn chúng ta thoát khỏi đây bằng con đường nhanh nhất, nếu đúng đây là con đường nhanh nhất.”

    “Tớ nghĩ là người đến báo cho rằng việc sơ tán phải diễn ra như vậy. Đây là một phần trong mệnh lệnh của họ.”

    “Thế chẳng lẽ người ta lại nói chúng ta đừng đi ra?”

    Hai tay cô nắm chặt thành nắm đấm hai bên hông. Tớ không thích điều này chút nào. Cô nói.

    “Nhóm nhạc cụ hơi bằng gỗ.” Cô Blatt nói. “Các em ra đi.”

    Fiona và tôi theo sau nhóm kèn xắc-xô-phôn và những người chơi kèn clarinet khác đến cửa sổ. Bụi bám trên thành cửa nhiều lớp dày; vì cửa sổ không được mở trong suốt mấy tháng hè vừa qua. Cũng may, trường này là một khu nhà một tầng, nhưng những bụi cây bên ngoài thì lại đầy gai nhỏ.

    Các học sinh chơi nhạc khác không kêu ca gì, thế thì tôi cũng vậy. Thà tôi chịu vài vết gai xước còn hơn phải ngồi trong này mà không biết nguy hiểm gì sẽ đến.

    Dầu sao ngay khi tôi nói Fiona ra trước đi. Cô gần như đã nhảy qua cửa sổ và sau đó chạy thục mạng đến khu hình ô-van, hòa vào cùng những học sinh khác. Tôi trèo đằng sau cô, tránh các nhánh cây có nhiều gai nhất rồi chạy thẳng ra sân cỏ.

    Ánh nắng chiếu thẳng vào khuôn mặt nhân tạo của tôi. Tôi nhét tay vào túi quần.

    Henrietta đang đứng nhón chân, nhìn qua đầu nhóm học sinh cùng lớp. Tôi bước về phía cô. “Ê, Hen.”

    Cô ngoảnh lại. “Ôi bạn hiền. Tớ nghe nói cậu có thai hả?”

    Tin đồn lan nhanh thật. “Ừ. Sinh ba lận.” Tôi nói, giống như Chloe sẽ nói. “Cậu có muốn nhận nuôi một đứa không?”

    “Ừ. Nhưng chỉ khi nào màu tóc của nó hợp với đồ đạc nhà tớ thôi. Cậu thấy sao về cái vụ sơ tán này?”

    “Cách làm có vẻ “ngầu” hơn cách cũ. Mà nó cũng cứu tớ khỏi một bản nhạc khó.”

    “Còn tớ thì thoát môn ngữ pháp khó nhằn. Tớ không nghĩ là mình bị buộc không được học tiếng Ý cho đến khi nào nói giỏi tiếng Anh.”

    Tôi cười khúc khích cho có lệ.

    “Tớ đi tìm Pete nhé,” Henrietta nói, “được không?” “Muốn tớ đi theo không?”

    “Mà cậu không được làm tớ xấu hổ đâu nhá?”

    “Tất nhiên rồi.”

    “Thế thì còn đứng đây làm gì, thưa quí cô.”

    Cô ôm tôi rồi lách người ra khỏi đám đông. Tôi đi thơ thẩn đến một nhóm học sinh và lởn vởn gần chúng nó để cố ra vẻ mình thuộc về nhóm ấy.

    “Bị rò khí ga.” Một cậu học sinh nói. “Mình nghe lỏm thấy thầy Fresner nói vậy. Thầy nói mấy bộ cảm ứng nhận thấy có khí chloroflurane hay thứ gì đó đại loại như ga bốc lên.”

    Có lần một lớp khoa học nghịch ngợm nào đó đã không khóa ga, mà nếu không có ai kịp thời phát hiện thì có lẽ đã cháy nổ lớn rồi. Từ đó về sau, máy dò khói được thay hết bằng mấy bộ cảm ứng chất hóa học và sẽ tự động hú còi khi chúng phát hiện bất kì chất hóa học nào trong cả ngàn chất có trong không khí.

    “Vậy là có nguy cơ nổ trường à?” Học sinh khác nói.

    “Nó không gây cháy.” Cậu học sinh lúc nãy nói. “Khí độc mà. Nên đó là lý do tại sao chúng ta không đi ra bằng ngả hành lang. Khí ga sẽ giết cậu, hiểu không.”

    “Mày bịa ra thì có.”

    “Tao không bịa! Thầy Fresner nói vậy mà.”

    “Chất chloroflurane,” một cô gái đọc to từ màn hình điện thoại của cô. “Là một chất lỏng không màu được ha-lô-gien hóa, trước đây thường được dùng để xông gây mê. Trong vòng hai phút phơi nhiễm chất này sẽ gây bất tỉnh nhân sự cho người lớn. Trong vòng 20 phút sẽ gây tổn thương não vĩnh viễn. Phơi nhiễm kéo dài từ 45 phút hoặc hơn sẽ gây chết người.”

    “Hình như có người đã mang chất này vào trường.” Cậu học sinh lúc đầu nói.

    “Mày lại xạo.” Cậu học sinh khác nói.

    Cô gái đưa cậu chiếc điện thoại.

    “Chloe.” Tôi quay lại thì thấy Henrietta đang lắc lắc tay. Cặp mắt đen láy của cô như sắp khóc. “Tớ không tìm được Pete.”

    Tôi ngó quanh. “Họ đã sơ tán cả trường rồi.” Tôi nói. “Chắc chắn cậu ta phải ở đây thôi.”

    “Không có. Tớ tìm khắp nơi rồi. Gọi cả điện thoại mà chỉ nghe tiếng chuông.”

    Trong vòng hai phút phơi nhiễm chất này có thể làm bất tỉnh nhân sự.

    “Hen, cậu phải báo ngay cho thầy cô nào đó đi,” tôi nói, “báo ngay đi!”

    “Tớ báo rồi.” Cô nói. Mặt cô trắng bệch như một bức hình trắng đen. “Nhưng không thầy cô nào cho tớ vào trong kiếm cậu ấy cả. Họ nói trường bị rò rỉ ga. Tớ phải làm sao bây giờ?”

    Đầu óc bắt đầu quay cuồng. Tôi không nghĩ được gì. “Đã báo đội chữa cháy rồi chứ?” Tôi nói. “Reo tự động thế này thì bao giờ chuông báo ngừng kêu?”

    “Nhưng lỡ đâu họ không đến kịp lúc thì sao?” Henrietta nói như thì thào, dường như cô sợ nói lớn những từ ấy. “Lần trước phải mất đến 20 phút!”

    Trong vòng 20 phút sẽ gây tổn thương não vĩnh viễn.

    “Được rồi.” Tôi nói, vừa nắm vai Henrietta. “Nghe kỹ đây. Tớ muốn cậu tiếp tục điện thoại cho Pete. Không được ngừng lại vì bất kỳ lý do gì, và đừng nói ai biết là tớ đã đi mất. Ok?”

    “Cậu định đi đâu?”

    “Tìm Pete. Nhưng cậu không được nói ai biết. Ok?” “Nhưng... khí ga...”

    “Cứ tin tớ, được chứ? Gọi Pete đi. Gọi ngay.” Nói rồi tôi chạy ngược về phía trường.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/1/17
    lemontree123 thích bài này.
  10. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    NHIỆM VỤ GIẢI CỨU

    TÔI không thể quay vào Trường Scullin theo lối ra lúc nãy. Giáo viên hay một học sinh nào đó sẽ thấy và cản tôi.

    Thế là tôi đi ra khỏi khu vực hình ô-van, đánh một vòng tròn quanh trường, đủ xa để không ai nghĩ là tôi đang vào lại trường. Tôi chạy chầm chậm để không gây chú ý, nhưng cũng đủ nhanh để thoát khỏi tầm nhìn vì nhỡ đâu có người bất ngờ nhìn thấy. Ấy là tôi nghĩ thế.

    Chỉ 20 bước thôi tôi sẽ khuất khỏi tầm nhìn. 15 bước. 10.

    Chợt có người la lớn: “Ê!”

    Không biết có phải gọi tôi không, nhưng tôi không quay lại. 5 bước.

    Cuối cùng tôi đã đến được góc trường. Lối vào gần nhất là gần các lớp học nghệ thuật. Tôi chạy hết tốc lực, gió thổi vù vù hai bên tai.

    Nhìn qua cửa sổ, ngôi trường trông lạnh lẽo và ảm đạm hệt như vào những ngày cuối tuần. Nhưng ở nơi nào đó trong ấy vẫn còn một học sinh sót lại. Theo đồng hồ của Chloe, tôi chỉ còn đúng 16 phút để tìm Pete.

    Cánh cửa hiện ra trước mắt. Mấy ngón tay tôi chụp lấy tay nắm.

    Dù không có hai lá phổi, tôi vẫn cảm nhận được mùi. Cộng đồng Trí tuệ Nhân tạo Mở đã lập trình cho tôi cả những khuyết điểm của con người - giọng thì rung rung, tay thì run lẩy bẩy, cảm giác tim đập mạnh đến độ khiến tôi đau hết cả người. Có khi nào họ cũng lập trình cho tôi té xỉu khi ngửi thấy mùi ga, giống hệt như con người, không nhỉ?

    Có thể. Nhưng tôi không thể hèn nhát để Pete chết được. Nghiến chặt răng, tôi giật mạnh tay nắm và một luồng không khí ào ra khắp người tôi.

    Không khí thoang thoảng mùi sơn a-cri-lích còn ướt, có thể là mùi ga mà cũng có thể là mùi dụng cụ sơn vẽ trong các phòng gần đây. Tôi không té xỉu. Có khi cần phải đợi hai phút, nhưng tôi không định cứ đứng đó đợi xem có xỉu không.

    Hành lang đầy tủ đồ của bọn học sinh cuối cấp. Một bức tranh vẽ khu rừng rậm do các học sinh đã tốt nghiệp từ lâu vẽ trên tường. Thùng rác thì đã bị ai đó lật ngược, làm đổ tung tóe đống giấy đã bị vo viên bùi nhùi và một vết kẹo sữa sô cô la trên sàn.

    Tôi rón rén đi xuống hành lang, tìm kiếm chỗ phát ra tiếng chuông điện thoại của Pete. Nhưng vì tiếng kêu inh ỏi của chuông báo động nên tôi không thể nghe thấy tiếng chuông điện thoại trong khoảng cách hơn 20 hay 30 mét. Nếu Pete mà để điện thoại ở chế độ rung, chắc tôi không tìm được cậu ta luôn quá. Anh sẽ bị tổn thương não, rồi tôi sẽ không biết giải thích làm sao khi bỏ Henrietta lại và chạy vào đây.

    Tôi phải tìm ra cậu ta bằng được. Mạng sống của tôi và cậu ấy đều phụ thuộc vào chuyện này.

    Một tiếng “hự” nhỏ phát ra từ gần đâu đây.

    Có thể một cửa sổ bị cơn gió thổi qua. Cũng có thể là Pete vừa mới ngã xuống ngất đi - nhưng nếu thế thì chuyện đó lẽ ra phải xảy ra vài phút trước rồi.

    Tôi gióng tai nghe ngóng, nhưng ngoài tiếng còi báo ra thì chẳng có gì khác. Tôi đi tiếp, mắt đảo liên tục vào mọi góc tối.

    Chẳng bao lâu tôi đã đến ngã ba. Tôi không biết Pete học lớp nào, nên tôi không biết hiện cậu ta đang ở chỗ nào trong trường. Hầu hết lớp học nằm phía tay trái tôi, nên tôi đi theo lối đó, chân giẫm phải những góc gạch lót nền bị bong ra.

    Một vòi nước uống thò ra từ trong tường. Vũng nước đọng bên dưới đang kêu xèo xèo giống như một loại phản ứng hóa học nào đó. Chắc chắn trong không khí có gì đó rất độc hại, nhưng tôi không bị ảnh hưởng gì. Nó không thể giết được tôi. Vì tôi cũng chả sống gì hơn so với mấy bức tranh trên tường.

    Lại một tiếng “hự” nữa. Và một âm thanh nữa - nghe như tiếng hắng giọng.

    Đó là tiếng chuông điện thoại của Pete. Ra là cậu ta thu âm tiếng đó để không phải tắt điện thoại trong lớp. Chắc cậu ta ở gần đây thôi.

    Những cánh cửa nhà vệ sinh nằm xa hơn một chút dọc hành lang. Nếu lúc đó Pete xin ra ngoài đi vệ sinh thì có lẽ lúc ra cậu ta đã gặp phải đám khí ga độc đang rò rỉ ra, và không làm sao sơ tán cùng với mọi người được.

    Tôi đặt tay lên cửa phòng vệ sinh nam, lòng bần thần vì cảm thấy kì kì sao sao đó nếu bước vào trong đó, cho dù là đang ở hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng này. Cánh cửa cọt kẹt mở ra.

    Phòng vệ sinh vắng tanh. Chả hiểu sao tôi lại cảm thấy cái mùi - chất tẩy và nước tiểu - có vẻ nồng nặc. Gương mặt giả của tôi nhìn chằm chằm vào hình mình trên chiếc gương bụi bặm.

    Tôi bước vào, và cúi xuống nhìn vào dưới cửa phòng vệ sinh.

    Pete đang nằm úp mặt trong phòng vệ sinh kế cuối, dưới đầu có một vũng máu. Mũi bị gãy lệch sang một bên, chắc là khi cậu té. Hai tròng trắng trong mắt hiện ra rõ bên dưới hai mi mắt nửa khép nửa mở. Hàm đang há ra thở hổn hển, và bọt mép sùi ra như a-xít quanh môi.

    Tôi kéo cậu ra khỏi buồng, xoay người cậu lại, rút điện thoại đang reo trong túi cậu ra và trả lời. “Tớ tìm được Pete rồi, Hen. Lát gặp.”

    Tôi tắt máy trước khi Henrietta kịp trả lời. Còn 8 phút nữa Pete sẽ bị tổn thương não vĩnh viễn. Tôi vác cậu lên vai. Cậu ta nặng hơn Chloe. Tôi sẽ không thể nào di chuyển nhanh được. Hai tay cậu lại quá dài đến nỗi gần như chúng phải lê trên sàn khi tôi chệnh choạng đỡ cậu ra khỏi nhà vệ sinh, cánh tay tôi quàng ngang bắp đùi cậu. Tôi đi về hướng lớp học khoa học của tôi, đó là lối ra gần nhất.

    Khi tôi ra đến hành lang mà trước đó tôi đã bị kêu là mang thai, có tiếng bước chân nặng nề phát ra từ những chiếc ủng đang tiến đến ngay đường đi của tôi.

    Chắc đội chữa cháy đã đến rồi. Nếu họ bắt gặp, tôi sẽ không biết trả lời với họ làm sao tôi có thể thở được. Tôi phải tránh chạm mặt họ trên đường ra.

    Tôi tiếp tục đi, vừa đi vừa gióng tai nghe ngóng. Một lon đồ uống có ga, vỏ màu đen nằm hướng mặt lên trời ở phía trước. Một làn hơi trắng đang phun ra bên trên nó - một phản ứng hóa học nữa. Trừ phi...

    Tôi đi chậm lại. Một lon đồ uống có ga thì không thể tạo ra điều này được. Cái này có một tay nắm. Một nút bấm. Một cục pin. Nó là một lựu đạn hóa học.

    Vậy đây không phải là rò rỉ ga. Mà là một cuộc tấn công.

    Dạ dày tôi sôi lên khi nghe mấy tiếng bước chân ngày càng to hơn. Một bóng đen xuất hiện ngay góc đằng xa, theo sau còn ba bóng nữa. Mỗi người đều mang một mặt nạ ngừa hơi độc, nhưng họ không phải là lính cứu hỏa. Bốn khẩu “shotgun bắn nguyên băng” đang đung đưa trong tay họ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/1/17
    lemontree123 thích bài này.
  11. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    SĂN ĐUỔI

    TÔI nép nhanh sang một bên, chui đại vào một phòng học, nép mình sát tường, hi vọng bốn gã mang súng ấy không trông thấy.

    Tiếng bước chân của họ có vẻ không đổi nhịp. Tôi an toàn - trừ phi họ vào đây.

    “Dấu vết đây này.” Một giọng nói. Tiếng nói nghèn nghẹt do chiếc mặt nạ ngừa hơi độc làm nghẹt lại nhưng vẫn mang đậm tiếng nói của đàn ông. Khàn và hùng hổ.

    “Có ai thấy một cái hộp không?” Có người nói. “Một cái túi?”

    “Không, thưa Sếp.”

    Ý nghĩ đầu tiên của tôi - đây là một cuộc tấn công khủng bố - không đúng lắm. Họ đến đây để lấy thứ gì đó. Nhưng đó là thứ gì mà quan trọng đến mức họ phải tấn công một trường trung học ngay giữa ban ngày thế này?

    “Được rồi,” tên cầm đầu nói, “tản ra. Đồng hồ đang chạy, nên phải nhanh lên. Gói hàng có thể nằm trong một tủ đồ nào đó, trên nóc tủ hay bị kẹt giữa ghế và bàn. Báo ngay khi thấy nó.”

    “Vâng, thưa Sếp.”

    Những tiếng ủng nhà binh rộn ràng tỏa đi khắp hướng.

    Tôi chợt sợ hãi giống như cổ đang mắc vào một chiếc thòng lọng. Cho dù “gói hàng” là gì đi nữa, tôi cũng mong họ nhanh nhanh tìm được nó cho rồi. Vì nếu họ không tìm thấy thì trước sau gì cũng có kẻ vào đây lùng sục. Mà tôi và Pete lại không có gì để phòng thân cả. Tôi có thể miễn nhiễm với khí ga, nhưng một viên đạn vẫn có thể khoét một cái lỗ lớn như quả bóng bowling trên người tôi.

    Không biết tôi có chết ngay không? Hay tôi phải tật nguyền cho đến khi có người tìm thấy và tắt phần thân thể còn lại của tôi đi?

    Phòng này chắc chắn là không có ai học khi có tiếng chuông báo động, vì các cửa sổ góc tường bên kia vẫn còn đóng kín. Bản lề cửa trông có vẻ hoen gỉ và cứng ngắc. Không biết tôi có mở nó ra được trước khi họ nghe thấy tiếng và chạy lại không?

    Quá trễ rồi. Một trong những tên lính săn đang đi về phía này.

    Tôi có thể đặt Pete nằm xuống để lừa họ nghĩ là có người đang ngủ. Nhưng khí ga độc chết người như thế này thì họ đã sẵn sàng giết người rồi. Nếu họ thấy hai học sinh đang nằm bất tỉnh ở đây, có thể họ sẽ kết liễu luôn cho xong.

    Thế là tôi chạy vội về phía bàn giáo viên, khom người phía sau bàn, nhưng không chui vào trong. Tôi nhét tay chân Pete vào trong để tránh bị nhìn thấy.

    Cửa mở. Một cái bàn kêu lạch cạch. Tên lính săn đã vào trong.

    Hắn bước lại chỗ bàn giáo viên trước. Túi đạn kêu leng keng khi hắn bước đi.

    Tôi lấy tay bịt miệng Pete lại, tạm thời bịt tiếng thở của cậu. Chiếc bàn bị va chạm mạnh kêu cọt kẹt khi tên lính săn với xuống phía dưới, dùng tay kiểm tra bên trong.

    Sau khi thấy không có gì, hắn bỏ đi. Chầm chậm, cẩn thận, tôi trườn qua sàn, giữ sao cho giữa chúng tôi và hắn luôn có chiếc bàn ở giữa khi hắn bước sâu vào trong phòng học, kiểm tra bàn ghế của học sinh.

    Tôi luồn dưới bàn giáo viên, kéo theo Pete. Chúng tôi trườn sát bên nhau đến mức tôi thấy cả lông tơ trong lỗ tai của Pete.

    Tiếng bàn ghế kêu lạo xạo. Tiếng bước chân huỳnh huỵch. Tiếng tay cào sột soạt. Nếu tên lính săn này không bỏ cuộc sớm, Pete chắc sẽ thành thực vật luôn quá.

    Tiếng bước chân ngày càng gần hơn. Gần hơn. Và rồi chợt xa dần khi hắn bước ra khỏi cửa lớp. Vài giây sau, tôi chẳng còn nghe thấy gì ngoài tiếng còi báo động.

    Tôi trườn ra khỏi gầm bàn, chống đầu gối lên nhìn...

    Tôi thấy tên lính vẫn đứng ở ngay cửa. Hắn đang quay mặt khác hướng chúng tôi, nhưng khi tôi chui vào lại, Pete chợt khạc đờm một tiếng.

    Tến lính quay ngoắt lại. Cặp mắt ti hí rất sáng của gã nhắm thẳng vào tôi khi hắn nâng nòng súng lên.

    Tôi do dự mất vài giây, không biết có nên đầu hàng không, thì thấy ngón tay gã đang động vào vòng đai cò súng trước khi tôi quay lại, phóng thẳng về phía cửa sổ, thân hình của Pete nảy trên vai tôi.

    Tiếng cò súng kêu “cách”...

    Tiẽng súng kêu “bùm”...

    Và một luồng gió tạt thẳng vào lưng tôi như một chiếc xe lửa mới lướt ngang qua người.

    * * *

    Tôi tỉnh lại khi nghe thấy những tiếng nói cãi cọ giận dữ.

    “Mày bắn con bé Chloe Zimetski à!”

    “Tao không biết đó là con bé. Nhưng nhìn nó không có vẻ gì là bị thương cả, và...”

    “Điều đó không quan trọng, thằng ngu!”

    Đau đớn. Bối rối. Tôi khẽ oằn mình trên nền đất giống như một chú nhện bị trúng thuốc xịt trừ sâu. Tôi bị điếc, vì hệ thống mi-crô trong tai tôi đã bị tiếng súng làm cho quá tải.

    Lật người lại, tôi nhìn thấy cửa sổ đã bị vỡ vụn khi tôi lao vào nó. Pete nằm sóng xoài phía bên trái tôi. Phía bên phải là một khẩu shotgun hết đạn và một túi hột cườm nhỏ. Bốn tên thợ săn đang hối hả chạy về phía cửa.

    Một trong những kí ức của Chloe chợt lóe lên. Graeme có lần đã mang về nhà một “viên đạn kiểu hạt đậu” - một loại đạn súng săn mới được đánh giá là ít gây chết người hơn chứ không hẳn là không gây chết người, vì nó có thể phá vỡ nội tạng và gây ra việc chảy máu bên trong có thể dẫn đến chết người.

    Tôi không có nội tạng. Nên ngoài đau ra thì viên đạn hạt đậu chẳng làm tôi bị thương chút nào.

    “Chúng ta phải xem xét con bé.” Một tên thợ săn nói.

    Tôi không thể để họ chạm đến mình được. Họ sẽ phát hiện ngay tôi là cái gì thôi.

    Tôi nắm lấy khẩu súng và co mình lại.

    “Nó thức rồi, nó thức rồi!” Gã hét lên.

    Đoàng! Tôi kéo cò, và khẩu súng rung lên trong đôi tay. Phát súng trúng ngay vai gã thợ săn như một viên đạn pháo. Gã xoay tròn như một diễn viên múa ba lê rồi mới nhảy ụp sang một bên. Gã không chết. Không bất tỉnh. Nhưng chắc là lúc này gã điếng người lắm đây.

    Tôi kéo mạnh thoi nạp đạn. Tách-Tách. Một vỏ đạn rỗng bật ra, một viên đạn mới được nạp vào ổ súng, đúng lúc gã thợ săn thứ hai giương súng lên. Trái tim giả của tôi đập thình thịch như có tiếng sấm trong tai.

    Tôi bóp cò. Trượt rồi. Viên đạn đậu bay tự do đập vào tường. Tôi lại kéo mạnh thoi nạp đạn, người sợ run cả lên. Khẩu súng của gã thợ săn vừa vào tầm thẳng hàng với mặt tôi. Tôi bắn tiếp.

    Viên đạn trúng ngay bụng gã. Dù gã có mặt áo chống đạn thì cũng bị gập cong người lại. Tiếng gió rít ra từ người gã giống như tiếng một trái bóng bị búa dần thịt đập vào.

    Hai tên gục. Còn hai tên nữa. Tách-Tách.

    Nhưng hai tên kia lại tháo chạy ra cửa. Tôi gần như không có thời gian để tìm hiểu xem mình có thắng hay chưa thì một trái lựu đạn đã bay vào phòng. Trái này khác với trái lúc nãy tôi thấy - nó tỏa ra những lớp khói vàng xung quanh, giống như bầy ong vậy.

    Tôi nhìn trái lựu đạn nảy lên, một lần, hai lần, rồi nổ tung. Tôi xoay mặt về phía cửa sổ và bóp cò.

    Kính cửa vỡ tan thành hàng trăm mảnh lấp lánh. Liệng súng xuống đất, tôi chộp lấy tay Pete và chạy, nhào thẳng vô một chiếc ghế ngáng đường.

    Cạnh ghế xén ngang ống quyển và tôi tru lên khi người đập xuống mảnh kính bên ngoài, oằn người lại vì cú va chạm. Pete rớt ụp mặt xuống đất. Chắc khi thức dậy, cậu ấy sẽ trông thê thảm lắm đây. Henrietta sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi vì đã hủy hoại nhan sắc của Pete.

    Lựu đạn trong phòng phát nổ, cả căn phòng sáng rực lên cùng với một âm thanh như tiếng sét. Giờ thì bất kỳ lúc nào mấy gã thợ săn còn lại sẽ đến và thấy tôi qua cửa sổ.

    Tôi vác Pete lên vai và chạy ngược hướng gió, cố gắng thoát khỏi vòng lửa. Chiếc cằm đầy máu của Pete va vào hông tôi bùm bụp. Trước mặt, không có học sinh hay thầy cô nào hết. Tôi chạy hết sức ra khúc quanh trước tòa nhà, mong sao mấy gã thợ săn không dám bắn mình trước mặt hàng trăm nhân chứng.

    Vài giây sau, đám học sinh di tản đã hiện ra trước mắt. Henrietta đã thấy tôi đang chạy đến.

    “Pete!” Cô thét lên và chạy thẳng về phía tôi.

    Cả đám học sinh quay lại nhìn cô và rồi khi nhìn theo ánh mắt của cô, họ nhìn thẳng vào tôi. Tôi sợ điếng người.

    Henrietta và tôi chạy lại gặp nhau. Tôi đặt Pete xuống đất.

    “Cậu ấy nằm ngay lối ra đó,” tôi nói, “chắc cậu ấy hít phải khí ga độc khi đang chạy di tản.”

    Henrietta có vẻ không nghe thấy lời nói dối của tôi. Cô nâng cằm Pete trên tay và vừa khóc vừa gào mãi tên cậu ta.

    Tôi ngó lại phía trường trong khi đám đông bắt đầu tụ lại xung quanh.

    Không có dấu hiệu gì cho thấy mấy gã thợ săn bám theo. Đã hai lần tôi nghe thấy họ nói là họ muốn xem xét tôi. Thế là sao nhỉ?

    Cô Blatt là giáo viên đứng gần nhất. Tôi hét lên với cô: “Có người trong trường.” “Họ mang mặt nạ phòng khí ga và cả súng nữa. Em đã nhìn thấy họ qua kính cửa sổ.”

    Mắt cô giãn to ra. “Mọi người!” Cô kêu lớn. “Quay lại! Đến phía quảng trường hình ô-van! Nhanh!”

    Henrietta làm ngơ. Khi đám đông bắt đầu lẩn đi, cô hô hấp nhân tạo cho Pete. Điều đó thật ngốc vì hai lý do. Một là, bạn chỉ nên hô hấp nhân tạo nếu nạn nhân thực sự đã ngừng thở, mà Pete thì vẫn đang thở. Hai là, trong phổi Pete vẫn còn khí ga độc.

    “Ôi, mình chóng mặt quá!” Herietta nói, giọng cô yếu dần. Rồi cô nhào qua một bên, lăn đè lên người Pete như Juliet và Romeo vậy.

    Mình tôi không thể mang hai đứa bất tỉnh đến chỗ an toàn được - nhưng cô Blatt đã nhấc Pete lên. Tôi xốc Henrietta lên.

    Không khí có vẻ đang rung lên.

    Tôi quay về hướng trường, tìm kiếm nguồn gây ra sự rung động đó. Tiếng súng chăng? Hay lại là lựu đạn gây choáng? Hay là động đất nhỉ?

    Đằng sau tòa nhà, một chiếc máy bay trực thăng đang cất cánh.

    Đó là một vật giống như một con bọ mảnh khảnh, mờ xỉn trong lớp sơn xám. Cánh quạt rít lên vù vù trong gió như tiếng cưa gỗ. Bên trong khung cửa mở ngỏ của chiếc trực thăng là bốn gã thợ săn được buộc dây an toàn vào thành bên trong máy bay. Hai gã đang nắn bụng và vai, cố gắng làm cho mấy chiếc xương trật khớp về vị trí cũ.

    Một gã có một chuỗi hình xăm quanh cổ, chuỗi hình xăm này còn rộng hơn cả đầu gã. Phải mất một lúc lâu tôi mới nhớ được là đã từng thấy gã trước đây.

    Gã chính là người đã bắn chết Chloe.

    Khó mà nói được điều gì đằng sau cặp mắt kính bảo hộ của gã, nhưng tôi thề là gã đang nhìn tôi chằm chằm...

    ... và gã đang cầm một khẩu súng trường.

    Rõ ràng dù có nhân chứng thì cũng chả là vấn đề gì với gã. Sợ bị bắn, tôi kéo Henrietta ra xa khỏi trường nhanh hết mức có thể, chạy thẳng đến dưới tán cây nằm phía xa quảng trường hình ô-van. Những tiếng kêu của các học sinh khác đã át đi tiếng chân thình thịch của tôi trên cỏ trong khi tôi chờ đợi nghe thấy tiếng súng vang lên trên trời.

    Nhưng gã thợ săn không nổ súng. Dù công việc của mấy gã đó có là gì đi nữa, thì việc nổ súng giết hàng loạt người là không được ưu tiên. Khi nhìn lại, tôi thấy dưới thân chiếc trực thăng có gắn 6 bánh xe căng tròn. Chắc nhờ đó mà không ai nghe thấy tiếng họ tiếp đất - họ đã lái vào. Rồi khi cảnh sát nhận ra cần phải gọi hỗ trợ trên không thì mấy gã thợ săn đã đi mất tiêu.

    Chiếc trực thăng bay lên cao, cho đến khi chỉ còn là một chiếc bóng mờ trong làn mây, không để lại dấu vết gì, như chưa từng tồn tại.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/1/17
    lemontree123 thích bài này.
  12. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    PHÁT HIỆN

    CÁC giáo viên đi vòng quanh như những người chăn cừu đang lùa đám học sinh vào vòng tròn bên trong. Tôi đứng cạnh những chiếc xe cứu thương trong khi các y sĩ khám cho Henrietta và Pete đang nằm sóng soài trên cáng. Cả hai đều bất tỉnh và khó mà nói ai trông tệ hơn ai.

    “Cháu không nhớ được chuyện gì xảy ra ngoài đó cả.” Pete nói, giọng cậu nghèn nghẹn vì mặt nạ thở ô xi. “Lúc đó cháu đang trong nhà vệ sinh... và rồi...”

    “Mất trí nhớ là tác dụng phụ bình thường, nhỏ thôi.” Viên y sĩ vừa nói vừa soi đèn pin vào mặt Pete. “Nhìn vào đèn này”.

    Pete nhìn theo, nước mắt trào ra. Đoàn quay phim truyền hình đang thu cận cảnh từ ngoài cổng trường. Một phóng viên tóc tai chỉn chu đang nói chuyện điện thoại với trợ lý sản xuất của cô, kêu ông ta phải cầm giấy tờ truyền thông đến bệnh viện cho Henrietta và Pete kí. Báo chí đã ồ ạt vây quanh các thầy cô và cứ mỗi phút lại có người đến, không lâu sau số lượng phóng viên báo chí đã đông hơn cả đám học sinh.

    Những kẻ khủng bố tấn công trường trung học ngay giữa thủ đô quốc gia - đây quả là một tin sẽ chấn động thế giới trong nhiều ngày.

    “Cậu ấy sẽ không sao chứ?” Henrietta hỏi.

    Viên y tá đang nắm cổ tay cô, so sánh nhịp mạch của cô với tiếng tíc tắc trên đồng hồ của mình. “Phải về bệnh viện làm một vài xét nghiệm mới rõ được”.

    “CÔ ấy đã cứu sống cậu đấy, Pete à.” Tôi nói.

    Pete nhìn Henrietta. “Thật à?”

    “Không.” Cô nói, và liếc tôi. “Nó cứ nói quá.”

    “Nó đã hút chất độc ra khỏi phổi cậu.” Tôi nói tiếp. “Lại còn hô hấp nhân tạo nữa cơ.”

    “Này!” Henrietta ré lên. Quay sang Pete, cô nói: “Anh thấy sao rồi?”

    “Anh khỏe rồi.” Pete nói. Tôi nghĩ là cậu ta chỉ ra vẻ cứng cỏi vậy thôi. “Anh nghĩ không cần phải đến bệnh viện làm gì đâu.”

    “Cần chứ, tin tôi đi.” Một y tá nói. “Trông em giống như mới té cầu thang vậy đó. Thôi, chúng ta đi nào.”

    Rồi Pete được cáng vào trong xe cứu thương.

    “Em sẽ đến bệnh viện thăm anh.” Henrietta nói với theo.

    “Để mình gọi đến trước và đặt giường đôi cho hai người nha!” Tôi nói với cô.

    Henrietta nhào đến thụi tôi, nhưng tôi đã né kịp. Tôi cười to, còn cô thì cố nhịn cười.

    Chợt tôi nao người. Trong một phút tôi đã hoàn toàn quên mất rằng tôi và Henrietta chỉ vừa mới gặp hôm nay, còn cái cô Chloe bạn thân của cô đã bị chôn dưới một công trình xây dựng rồi.

    Phải chăng cả đời mình sau này sẽ sống thế này ư? Cứ mỗi lần tôi nhớ mình là ai hay là cái gì thì lồng ngực tôi lại nhói đau như có người đang đá thích thịch vào đó?

    Gương mặt của Henrietta chợt trở nên nghiêm trọng, giống như cô biết tôi đang nghĩ gì vậy.

    “Mà sao cậu lại kêu mình đừng nói với ai về việc cậu đã đi đâu?” Cô hỏi.

    “Thì họ sẽ đổ xô đi tìm mình chứ sao nữa.” Tôi nói. “Rồi họ sẽ bắt mình trở lại nhóm thế thì mình làm sao tìm Pete được.”

    “Sao cậu biết cậu sẽ cứu được Pete?”

    “Mình cứu đâu. Cậu ấy nằm ngay ngoài cửa. Chắc cậu ta không sao đâu.”

    Henrietta nắm chặt tay tôi. “Mình chưa bao giờ nghĩ cậu lại có thể trở nên quá...”

    “Quá sao?”

    “Quá gì gì đó. Mình không biết nữa.”

    Tôi cố gượng cười. “Cảm ơn nhé, mình cũng nghĩ vậy đó.”

    Viên y tá đẩy cáng của Henrietta vào trong xe cứu thương.

    “Về đến nhà mình sẽ nhắn tin cho cậu nhé, Ok?” Cô nói.

    “Ok.”

    Viên y tá đóng cửa, rồi quay sang tôi. Anh này có đôi chân rắn chắc, còn đôi bàn tay thì nở nang như tay của thợ sửa ống nước hay cầu thủ bóng bầu dục vậy. Bên dưới đôi lông mày rậm là cặp mắt trắng dã.

    “Tôi cũng cần kiểm tra em.” Anh nói.

    Tôi lùi lại. “Em đã bước vào trường đâu.”

    Anh rút trong túi áo ra một chiếc đồng hồ đeo tay và giơ nó lên giống như một nhà thôi miên. “Em đã đứng gần cửa. Nên em có thể đã bị nhiễm rồi. Đừng lo, chỉ mất một phút thôi mà.”

    Anh với lấy cổ tay tôi. Tôi vung tay ra xa. “Đừng đụng vào em”.

    Nhiều gương mặt quay sang phía chúng tôi. Nào là học sinh, giáo viên và cả phóng viên nữa.

    “Anh chỉ muốn kiểm tra mạch thôi mà,” viên y tá khẽ nói, “và xem đồng tử em có bị dãn ra không. Đâu có đau gì đâu.”

    “Em có bác sĩ riêng rồi. Tôi nói. Tan học em sẽ đi khám.”

    Không khí chợt chùng xuống. Anh liếc nhanh sang đám nhân viên truyền thông rồi quay lại nhìn tôi.

    “Vậy cũng được.” Anh nói. “Nhưng phải chắc là em sẽ nói với bác sĩ của em mọi điều xảy ra hôm nay đó. Có hiểu không?

    Tôi gật đầu. Anh leo vào xe cứu thương và đóng cửa. Nhiều người nâng máy quay lên. Các phóng viên chụp nhanh xe cứu thương khi nó chạy đi.

    “Em ơi!” Một phụ nữ đang cầm mi-crô gọi.

    Tôi nhìn cô. Phải, em đó. Cô nói, vừa vẫy tay ra hiệu vừa khoe ra vài chiếc răng rất đẹp. “Có muốn lên ti vi không nè?”

    Tôi lắc đầu và quay sang chỗ khác.

    “Chloe!” Thầy Fresner vẫy tay.

    Tôi nghiêng người. “Dạ, sao hả thầy?”

    “Em thấy đám khủng bố phải không?” Thầy nói. Vài chòm tóc của thầy nhô lòe xòe ra bên dưới chiếc mũ lưỡi trai - hẳn thầy đã phải nhét vội đám tóc vào dưới mũ trong lúc sơ tán.

    “Em chỉ nhìn qua cửa sổ thôi à,” tôi nói, “em không có nhìn rõ họ được.”

    “Ừ, thì cảnh sát muốn hỏi em vài điều.”

    “Cảnh sát hả? Em...”

    Thầy liếc sang bên và tôi nhận ra một nữ cảnh sát quen thuộc đang đứng gần đó. Cô nhìn tôi và tôi cũng nhìn cô.

    Nếu ở thành phố khác làm gì có chuyện cảnh sát tuần tra lại đi điều tra vụ những kẻ khủng bố tấn công. Nhưng tôi lại sống ở thủ đô, mà ở thủ đô thì cảnh sát địa phương cũng là cảnh sát liên bang. May thật.

    “Chloe Zimetski.” Cô nói.

    “Cô nhớ tốt thật đấy.” Tôi nói. Những lời này nghe có vẻ thân thiện, tôi nghĩ vậy.

    “Cô là thám tử Anders.” Cô vừa nói vừa xắn tay chiếc áo gió màu xanh nước biển của mình. “Còn đây là thám tử Ericson.”

    Viên cảnh sát kia trông cứ như pho tượng một chính trị gia - trông to lớn hơn ngoài đời nhưng không chắc có khỏe mạnh thật không. Dưới sống mũi cháy nắng, cằm ông nhô ra như mũi của một chiếc nhà thuyền. Ông không nhìn tôi mà cứ nhìn chăm chăm lên bầu trời làm như ông đang chờ chiếc trực thăng bay trở lại vậy.

    “Vụ hát hò thế nào rồi?” Anders hỏi, nghe giọng thì có vẻ cô chỉ hỏi cho có lệ vậy thôi.

    Tôi nhún vai. “Từ lúc gặp cô đêm qua đến giờ em đã làm gì được đâu.”

    Thầy Fresner nhướn mày nhìn tôi.

    Anders nói với thầy: “Cảm ơn thầy nhé. Nếu cần gì chúng tôi sẽ gọi.”

    Thầy gật đầu, rồi quay lại với đám học sinh đang ồn ào đằng kia.

    Anders đang tìm gì đó trên chiếc máy tính bảng của cô. Có lẽ là địa chỉ và số giấy phép lái xe của tôi. “Thế là,” cô nói, “em đã nói chuyện với những kẻ khủng bố à.”

    “Hả? Đâu có. Em chỉ nhìn thấy họ thôi.”

    “Nhưng em có nghe họ nói chuyện, đúng không?”

    Gì cơ. Nghe qua cửa kính trong khi còi thì cứ hú á? Làm sao mà nghe được. “Không,” tôi nói, “em chỉ nhìn thấy họ thôi.”

    Anders chống một tay vào hông. “À, xin lỗi em. Chắc tôi hiểu lầm. Em có thể cho tôi biết họ trông ra sao không?”

    “Họ mang mặt nạ phòng hơi ga, và cả găng tay nữa. Đồ họ toàn màu đen thôi. Ai cũng có vũ khí hết.”

    Thám tử Ericson đưa cho Anders một chiếc máy tính bảng, rồi cô đưa cho tôi. Trên màn hình, một người đàn ông trợn tròn mắt đang đứng ở đàng xa. Một khẩu súng phóng điện đang nã vào một tấm bia.

    “Họ có xài thứ này không?” Anders hỏi.

    Tôi lắc đầu.

    Cô vuốt màn hình. “Còn thứ này?”

    Cũng người đàn ông đó, giờ thì mang đồ bịt tai đang nhắm bắn bằng một ống rất lớn. Tôi chỉ có thể đọc được dòng chữ “khẩu pháo bắn âm thanh” ở bên cạnh mà thôi. Khi người đàn ông kéo cái cần ở phía trên, khẩu pháo bắn ra một âm thanh inh tai giống như tiếng cưa gỗ mà đem cưa sắt vậy.

    Không. Tôi nói, trong lòng thẩm nghĩ không hiểu sao mấy viên cảnh sát lại nghĩ những gã khủng bố lại xài cái loại vũ khí kì cục này. “Họ xài súng liên thanh Remington.”

    Anders nhướn mày. “Em biết súng của họ à.”

    “Ba em làm trong bộ quốc phòng mà”.

    “Thế ba em có khẩu này à?”

    “Em không nghĩ ba có đâu.”

    “Thế ba em có khẩu súng nào không?”

    “Sao giờ lại nói chuyện về ba em thế?”

    Anders nhún vai rồi cất máy tính bảng đi. “Tò mò thôi mà. Họ còn mang gì nữa không?”

    “Em chỉ thấy được vậy.”

    Thám tử Ericson hỏi: “Còn lựu đạn thì sao?” Trong khi vẫn nhìn chằm chằm lên bầu trời. Ông nói giọng như Stephen Hawking, một giọng nói chẳng biểu lộ chút tình cảm nào.

    Lựu đạn hóa học trên sàn thì làm sao nhìn thấy được từ bên ngoài cửa sổ. “Không, cháu chỉ thấy được vậy.” Tôi nói. “Nhưng cháu không nhìn rõ được họ đeo thứ gì bên thắt lưng.”

    “Thế còn dấu hiệu nhận diện nào khác không?” Anders hỏi. “Như trên quần áo hay trên da của họ?”

    “À khi chiếc trực thăng bay đi, có một người đã gỡ mặt nạ ra và em thấy gã có xăm quanh cổ đó.”

    “Hình xăm kiểu gì?”

    “Xa quá em không thấy được. Kiểu như một hình gì đó, màu tối, chạy từ đây đến đây này.” Tôi chỉ vào những điểm trên cổ họng mình.

    “Thế sao mà em lại thấy được họ trong khi không ai thấy cả thế?”

    “Thì em ở phía bên kia trường mà. Ở khúc này nè.” Tôi chỉ.

    “Ở chỗ em cứu được Peter đó hả?”

    “Pete chứ. Dạ đúng vậy đó.”

    “Và em biết Pete ở đó là vì...” Cô tra máy tính rồi nói tiếp “Henrietta nói cho em biết à?”

    “Bạn ấy nói không tìm được Pete. Em không biết Pete ở đâu cho đến khi tìm được cậu ấy.”

    “Sao Henrietta không tự mình đi tìm?”

    Cứnói dối mãi thế này khiến tôi sợ mình bị lộ mất.

    “Chị phải hỏi bạn ấy chứ.” Tôi nói. “Lúc đó Henrietta sợ lắm. Có lẽ bạn ấy nghĩ Pete còn ở bên trong, ở chỗ mà chúng em không đến được.”

    “Giả định này nghe cũng có vẻ đúng. Thế sao em lại nghĩ khác?”

    “Em có nghĩ khác đâu. Em chỉ nghĩ có lẽ sẽ nhìn thấy Pete qua cửa sổ, và có thể báo với mấy chú chữa cháy khi họ đến.”

    “Rồi em thấy cậu ấy nằm ngay trên đất.” Anders nói. “Ngay ngoài cửa phòng?”

    “Vâng.”

    “Và một mình em mang cậu bé đi cả quãng đường về đây, về chỗ cả nhóm?”

    “Dạ. Cậu ta cũng đâu có nặng gì.” Tôi nói. “Hoặc cũng có thể là do em cảm thấy không nặng, vì chất adrenaline”.

    “Em cho chúng tôi số nhé.” Ericson nói. “Phòng khi có chuyện cần hỏi thêm.”

    Tôi cho họ số điện thoại di động của Chloe. Họ đã biết tôi sống và học ở đâu rồi nên ngần ngại không cho số thì cũng chẳng ích gì.

    “Cảm ơn em đã hợp tác.” Anders nói. “Chúng tôi sẽ liên lạc sau.”

    Rồi cả hai thám tử quay người rời đi.

    “À còn một điều nữa,” Anders quay lại nói, “tôi có hỏi nhân viên quầy bar ở Phoenix. Không ai nhớ là đêm qua em có trình diễn gì ở đó.”

    Tôi cố gắng tỏ ra bình thường. Không biết cô ta có làm chuyện đó thật không?

    Không đâu. Chỉ là giả đò kiểm tra mình thôi.

    “Đâu phải ở Phoenix,” tôi nói, “em ở Potbelly mà.”

    “À thì ra là vậy.” Cô nói, tỏ ra không ngạc nhiên gì. “Thôi cảm ơn em lần nữa nhé.”

    Hai người biến mất vào trong đám đông, miệng thầm thì gì đó với nhau. Có lẽ họ đang nói về tôi. Mà cũng có thể họ chỉ muốn tôi nghĩ vậy.

    * * *

    Cô hiệu trưởng thông báo rằng trường hiện giờ không an toàn và phải mất 6 đến 10 tiếng nữa khí ga mới tan hết. Giờ thì danh sách học sinh đã kiểm tra xong, chúng tôi phải tự học ở nhà buổi chiều. Mà nhìn thái độ của cô thì biết rằng điều đó có nghĩa là cho phép nghỉ cả ngày.

    “Cô không buộc các em không được nói chuyện này trên truyền thông,” cô nói thêm, “nhưng cô thật sự không mong điều đó. Đến khi nào mà ta chưa biết rõ chuyện gì xảy ra ở đây, bất kỳ điều gì các em nói cũng có thể khiến người ta hiểu sai, và cô không muốn thấy em nào lố lăng trên truyền hình quốc gia cả.” Cô nhoài người lên phía trước. “Hãy nghĩ thử xem việc đó xấu hổ đến thế nào.”

    Sợ bị xấu hổ là một động cơ mạnh mẽ. Không cần nói với lũ trẻ rằng tóc tai hay trang phục của chúng luộm thuộm quá, cảnh báo này còn hiệu quả hơn tất cả những gì cô hiệu trưởng đã nói. Được cảnh báo đúng lúc, các học sinh tản đi mà không trả lời gì với những lời kêu gọi của giới báo chí. Một số học sinh trẻ hơn đã lấy điện thoại ra gọi cho bố mẹ. Số khác ùa về bãi đậu xe bus, chí chóe nhau về việc nên đi trung tâm mua sắm nào và ngấu nghiến ở chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh nào khi ra khỏi trường. Gần như ai cũng quên mất vụ tấn công rồi.

    Các học sinh năm trên đi đến bãi đậu xe. Tài xế thì đùa nghịch với chìa khóa, hành khách thì cứ luôn miệng gọi “shotgun”. Fiona thì đang la cà với hai tay thổi sáo.

    “Ê, Chloe,” cô gọi, “chúng tớ đến rạp chiếu phim đây. Muốn đi cùng không?”

    Nếu được thì hãy tránh những giao tiếp xã hội, nhưng nếu không tránh được thì hãy cư xử thân thiện.

    “Xin lỗi,” tôi nói, “mình có hẹn với bác sĩ lúc 4 giờ 30 phút rồi. Không biết mình có về kịp không nữa đây.”

    Đôi lông mày của Fiona nhướn lên. Có lẽ cô đã nghe tin đồn tôi có thai.

    “Ừ.” Cô nói. “Để lần sau vậy.”

    “Lần sau trường lại bị khủng bố tấn công nữa hả?”

    “Tớ nghĩ lần sau là vào ngày nghỉ cơ mà,” cô nói, “nhưng thôi sao cũng được. Gặp cậu sau nhé.”

    “Tạm biệt.”

    Đám học sinh lon ton đi về phía xe của Fiona, và tôi cứ thấp thỏm không biết mình sẽ làm gì cho hết buổi chiều đây.

    Đến trường của Chloe, xem xét kỹ tủ đồ của cô, gặp gỡ bạn bè và thầy cô của cô rồi nhưng không có gì giúp tôi hiểu được tại sao cô lại là mục tiêu bị theo dõi, hay ai theo dõi cô. Tôi đã kiểm tra rất kỹ phòng cô, nhưng giờ thì cả ba lẫn mẹ cô đều đã đi làm cả, có lẽ đây là cơ hội tốt để tôi kiểm tra nốt phần còn lại trong nhà.

    Tôi bước ra đường, một chiếc xe bus của trường đang xình xịch đỗ lại. Tôi đứng vào hàng và trong khi chờ đợi, tôi lôi trong ví ra chiếc thẻ đi xe bus My Way của Chloe. Đến giờ tôi mới thấy là chiếc ví hầu như chả có gì; không biên lai, không hình ảnh, không thẻ khách hàng thân thiết ở các quán cà phê và cũng không có mấy mảnh giấy ghi nhớ mà người ta thường hay viết nguệch ngoạc lên đó. Chỉ có một thẻ ngân hàng, một thẻ thư viện và một bằng lái.

    Cứ như là người ta đã xóa sạch dấu vết để tôi khỏi điều tra. Mà cũng có thể là cuộc sống của cô cũng trống rỗng như cuộc sống của tôi vậy.

    Tôi lên xe bus, cà thẻ My Way vào thiết bị cảm ứng, chờ nghe tiếng bíp và nhìn quanh tìm chỗ ngồi. Tôi thấy có một chỗ kế bên một cô gái đang nói chuyện điện thoại, cô này có vẻ không để ý gì tôi.

    Sau khi nhét cặp của Chloe xuống dưới chân, tôi chợt thấy Becky - cô gái mặt tàn nhang trong lớp học khoa học. Cô đang cà thẻ, và khi tiếng bíp vang lên, cô nhìn quanh tìm chỗ và thấy tôi.

    Cô nhìn tôi một lúc. Rồi cô bước ngang qua làm như không nhìn thấy tôi, rồi ngồi gần cuối xe. Đám con trai đang ngồi ghế phía sau cô khều khều nhau và cười rú lên, chợt tôi nhận ra cô rất xinh hoặc có lẽ sẽ rất xinh nếu cô chịu cười. Cô gục đầu xuống, để mặc những lọn tóc đen phủ xõa ngang mặt.

    “Ôi! Chúa ơi.” Cô gái ngồi kế tôi rú lên trong điện thoại. “Anh không tin được hôm nay em gặp chuyện gì đâu.”

    Tôi hiểu cảm giác của cô.

    * * *

    Xe bus thả tôi xuống ngay đầu đường nhà Chloe, ngay khi cửa xe cọt kẹt đóng lại và xe bus lăn bánh khỏi lề đường, tôi bắt đầu bước về phía cuối đường.

    Tôi bước thật nhanh, vì mấy gã thợ săn đã nói muốn “xem xét nó” nên tôi chỉ an toàn khi đã vào trong căn nhà được gia cố như pháo đài của Graeme mà thôi.

    Khi lê bước ngang qua những căn nhà hàng xóm, nhìn qua cửa sổ tôi cũng đoán biết được nhanh cuộc sống của những người ở đó. Một cụ già đang sơn tường phòng khách theo màu sắc giống như màu tường lúc trước. Một phụ nữ đang cử động xoay mình trên một chiếc máy thể dục, người lấp lánh ánh mồ hôi còn mắt thì nhìn chăm chăm vào màn hình ti vi. Một chú mèo giống ragamuffin đang nhìn chòng chọc vào tôi trên bậu cửa sổ. Khi gió thổi qua, tôi ngửi thấy mùi nước sốt bay ra từ một hiệu bánh gần đó.

    Tôi lấy thư trong hòm thư của Chloe, và trong lúc bước đi trên đường xe chạy vào nhà tôi kiểm tra địa chỉ người gửi trên lá thư. Có cái là địa chỉ của một công ty điện thoại, có cái là địa chỉ của chị gái của Graeme đang sống ở Beorneo. Có thư là của người chủ trước căn nhà của chúng tôi, dù những người này đã chuyển đi đến vùng khác hơn 20 năm rồi nhưng hàng tháng vẫn có thư gửi về địa chỉ này.

    Tôi mở khóa, đẩy cửa và thả cặp của Chloe xuống đằng sau cửa. Có vẻ như tôi đã làm điều này hàng ngàn lần rồi, cho dù tôi chưa từng làm lần nào. Tôi đang sống trong một trạng thái mà điều gì cũng như đã từng làm rồi vậy.

    Trong những tuần cuối cùng của đời mình, Chloe đã dành hầu hết thời gian ở tầng hầm để tạo ra tôi. Nếu tôi muốn tìm xem cô không biết gì về điều muốn biết thì tầng hầm có lẽ là nơi tốt nhất để điều tra.

    Tiếng bậc thang kêu cọt kẹt khi tôi bước xuống. Cái nơi sinh ra tôi này không có vẻ gì là đã bị làm lộn xộn lên trong hai mươi bốn tiếng qua. Tôi nhặt vội mấy miếng dán ni-lông và nhét chúng vào hộp cùng với ti vi và dây cắm. Rồi tôi đẩy chiếc hộp vào khoảng trống tối om bên dưới bàn làm việc, sao cho giống như chưa từng có ai đụng đến nó trong nhiều năm. Nếu Graeme xuống đây tìm kiếm gì đó về dự án của Chloe, thì ông cũng chả tìm được gì nhiều.

    Các ngăn kéo chứa đầy dụng cụ phần cứng - đinh, tuốc nơ vít và mấy hộp phấn giống như mấy viên người ta dùng để trét hồ bơi. Một ngăn chứa đầy bo mạch chính, các bộ vi xử lý và vài bộ phận máy tính. Đây có lẽ là nơi Chloe lắp các bộ phận cho bộ não của tôi. Ngoài ra còn rất nhiều thứ lặt vặt linh tinh khác mà có lẽ nếu mất thì Chloe cũng chẳng thể nào biết được.

    Tôi quay sang chiếc máy vi tính. Tôi đã biết cô dùng nó để kiểm soát mình khi tôi lần đầu tiên được cô “bật lên” và cũng có thể trước đó cô cũng dùng để chỉnh sửa chương trình của tôi. Biết đâu cô có giữ một nhật ký điện tử thì sao.

    Tôi mở máy tính lên. Máy tính được khóa mật khẩu. Chà! Có vẻ hứa hẹn đây, vì máy tính xách tay của cô không có mật khẩu. Tôi thử gõ mật khẩu email của Chloe. Đúng ngay chóc.

    Ổ cứng của máy tính gần đầy, vì nó lưu trữ dung lượng cũng tương đương với một bộ não người. Các thư mục được đặt tên theo chức năng thần kinh: trí nhớ ngắn hạn, trí nhớ dài hạn, phối hợp tay - mắt, trí tưởng tượng, ngôn ngữ, v.v... Tôi đọc qua toàn bộ danh mục, nhưng không có thư mục nào có tên Những gì tôi biết về những người theo dõi tôi cả.

    * * *

    Tôi mở phần tìm kiếm lên và đánh vào chữ người theo dõi. Chỉ có một kết quả, mà đó lại là phần định nghĩa từ điển cho từ này, được giữ bên trong một thư mục có tên là Từ vựng.

    Chợt có tiếng cửa trước đóng sầm lại ở trên. Tôi ngạc nhiên nhìn lên. Graeme và Kylie thường mãi tận 6 giờ mới về mà.

    “Cảm ơn vì đã đến”. Đó là giọng của Graeme.

    “Không có gì.” Một giọng khác nói. Giọng nữ, rất nhẹ - nhưng không phải giọng của Kylie. “Cũng không khó thoát lắm.”

    Không chắc vì những gì mình nghe được, tôi nhón chân và rón rén bước lên bậc thang. Cửa tầng hầm tuy dày nhưng vẫn nghe được.

    “Tôi phải gặp cô.” Giọng Graeme nghe như rên rỉ. “Trường của con gái tôi bị tấn công.”

    “Bị tấn công? Ai tấn công?”

    “Mấy người có súng, lựu đạn hóa học và cả một chiếc xe bay nữa.”

    Không khí chợt im lặng. Rồi tôi nổi hết gai ốc lên khi nghe tiếng người phụ nữ.

    “Ông không biết đó là họ sao.” Cô nói. “Mà cho dù có là họ, thì cũng chẳng liên quan gì đến ông.”
     
  13. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    ĐIỀU TRA

    GỖ cửa tầng hầm lành lạnh buốt cả tai. Tôi có thể nghe thấy rất rõ tiếng nói chuyện của Graeme và người phụ nữ, nhưng thật cũng chẳng giúp tôi hiểu gì. Làm sao mà Graeme lại có quan hệ với người đã giết con gái mình cơ chứ?

    “Cô nói với tôi đó là một sự trùng hợp à?” Graeme rít lên. “Không. Cô phải làm tốt hơn chứ.”

    Có tiếng bước đi. Họ đang đi ra cửa trước.

    “Nghe này.” Người phụ nữ nói, vẫn trong tầm tôi nghe được. “Họ không biết tôi là người đã lấy BCL. Mà nếu họ có biết, họ cũng không thể biết là tôi đã giao nó cho anh. Trừ phi anh nói với người khác?”

    “Làm gì có ai. Cô nghĩ tôi khùng hả?”

    Không khí chợt chùng xuống.

    “Này!”

    “Ừ, thế anh muốn tôi nghĩ gì đây?” Người phụ nữ hỏi. “Anh không tin mấy sếp của tôi với cái BCL. Tốt thôi. Thế thì cũng đừng tin tôi. Nhưng anh cũng đâu có tin mấy lão sếp của anh và anh sẽ không phá hủy nó đâu.

    “Phá hủy nó à? Đó là một bước đột phá khổng lồ. Một cuộc cách mạng. Tôi không thể...”

    “Ừ, thế thì anh định cứ mãi không làm gì cho đến bao lâu đây?”

    “Tôi đang cố,” Graeme rít lên, “tìm cho ra xem những kẻ đang dòm ngó bộ quốc phòng là ai. Làm sao tôi lại dám mạo hiểm đưa BCL cho người mà tôi không tin chắc chứ?”

    Tôi không hiểu được BCL có nghĩa là gì. BCL có thể là chữ viết tắt của hàng triệu thứ. Họ đang nói về cái gì thế? Chẳng lẽ là nói về Ba Con Lợn đất nếu bạn muốn có được Ba Cái Lệnh của tôi và nhanh chóng kiếm được Bộ Cánh Lục sao.

    “Nếu anh không nói với ai là anh có nó,” người phụ nữ nói, “thì họ không thể nào nhắm vào con gái anh được. Nếu họ chính là người tấn công trường học của con bé - và tôi không nói đó là họ - thế thì nhất định phải có một nguyên do khác.”

    Nhưng họ quả đang nhắm vào tôi mà. Họ đang truy nã Chloe thật, trước khi họ giết cô.

    “Đó là những người nhẫn tâm. Cô nói họ sẵn lòng trả cả gia tài để lấy lại BCL mà.”

    “Đúng vậy.”

    Graeme nói: “Thế đó chẳng phải cũng là lý do hợp lý cho việc họ muốn bắt cóc Chloe sao?”

    “Muốn ư? Ừ. Có thể ư? Không. Như tôi nói rồi đó, họ đâu có biết anh có liên quan.”

    “Cô từng nói họ có tay trong trong sở cảnh sát mà.”

    “Graeme, tin tôi đi. Không ai biết anh có nó đâu.”

    Ông nói: “Nếu họ bắt con gái tôi để trả thù...”

    “Đừng có vớ vẩn. Những người đó không quan tâm gì ngoài tiền đâu. Đó là thứ khiến chúng ta tốt đẹp hơn họ. Nếu họ bắt con gái anh, thì chắc chắn là để lấy tiền chuộc thôi - nhưng nếu họ biết rõ về anh, hẳn họ đã bắt con gái anh ngay ở đây rồi.”

    “Thế sao lại tấn công trường học? Họ đang định làm gì?”

    Người phụ nữ thở dài. “Tôi sẽ tìm hiểu khi đi làm. Nếu đó là họ thì sẽ có manh mối gì đó. Được chứ?”

    “Tôi chắc chắn họ.”

    “Được rồi, tôi sẽ xem xét. Giờ thì tôi không thể làm gì hơn được.”

    “Cô sẽ cho tôi biết ngay khi cô tìm ra được điều gì được không?” Graeme nói.

    “Dĩ nhiên. Chúng ta đang ngồi chung một chiếc xuồng mà.”

    “Đúng vậy. Vì cô đã lôi tôi vào đó mà.”

    “Chúng ta đang làm điều đúng đắn, và anh biết điều đó.” Người phụ nữ trả lời. “Bản thân bộ trưởng quốc phòng là người trong sạch.”

    “Sao cô biết chắc được thế?”

    Tôi là người lạc quan mà.

    Graeme thở dài. “Thôi được rồi. Tôi sẽ đưa BCL cho bà ta trong vòng 48 giờ tới.”

    “Tốt rồi. Tôi phải đi nếu không họ sẽ nghi ngờ.”

    Tiếng bước chân lạch cạch đằng sau sảnh chính hướng ra cửa trước.

    “Nhớ gọi cho tôi!” Graeme nói, khi tiếng cửa cọt kẹt mở ra.

    “Được.”

    Cửa trước đóng lại. Tiếng giày sột soạt xa dần trên lối đi trong vườn. Rồi tất cả trở nên im ắng; có lẽ Graeme đang nhìn qua lỗ cửa để kiểm tra xem người phụ nữ có bị theo dõi không. Mà cũng có lẽ chỉ là ông nghĩ vậy thôi.

    Rồi ông bắt đầu rảo bước. Tiếng bước chân của ông ngày càng gần cửa hầm.

    Nỗi sợ chạy dọc sống lưng của tôi. Tôi rón rén liều bước nhanh xuống bậc thang. Dưới đây chả có chỗ nào trốn được cả nên tôi đành phải ngồi trước màn hình vi tính. Dưới bàn có một vài tai nghe đang treo lơ lửng. Tôi lấy chúng ra và úp lên tai.

    Cửa tầng hầm cọt kẹt mở ra. Không quay đầu lại nhìn, tôi lúc lắc đầu như đang nghe nhạc.

    “Chloe đó à?” Graeme nói. Tôi giả lảng không nghe. Phải đợi đến khi ông gần bước xuống hết cầu thang tôi mới quay lại nhìn ông và nhảy dựng lên ghế.

    “Ba hả?” Tôi nói. “Ba làm con sợ hết hồn à.”

    “Sao con về nhà sớm thế?” Ông nói, vẻ rất thận trọng.

    Ông cũng biết là tại sao mà, nhưng tôi không thể nói vậy. “Trường được nghỉ. Có một vụ rò rỉ khí ga - à, lúc đầu thì nghe nói là rò rỉ khí ga, nhưng thật ra là có khủng bố! Nhưng ai cũng ổn cả, ba đừng lo.”

    “Con nói thật chứ?”

    “Dạ. Những kẻ khủng bố thả khí ga gây bất tỉnh trong trường, nhưng mọi người đều an toàn cả. Chỉ có một đứa bị bất tỉnh thôi, và Henrietta cũng dính phải khi nó làm hô hấp nhân tạo cho thằng đó, giờ thì cả hai đều phải nhập viện rồi - nhưng cả hai đều tỉnh táo trước khi được cho lên xe cứu thương. Nó sẽ nhắn tin cho con khi ra khỏi viện.”

    Graeme đặt tay lên vai và siết chặt bờ vai làm bằng silicon của tôi. “Nhưng con ổn chứ?”

    Tôi cười, “Yên tâm đi ba. Chẳng đáng sợ đến vậy đâu, vì con cứ nghĩ đó là một cuộc diễn tập cho đến khi chúng con được cho về nhà sớm.”

    “Cảnh sát có bắt được họ không?”

    “Theo con biết thì không. Họ đã trốn thoát bằng máy bay trực thăng.” Cố giữ giọng tự nhiên, tôi hỏi, “Ba có nghĩ ra lý do gì tại sao bọn khủng bố lại tấn công trường con không?”

    Graeme lắc đầu. “Họ không giết ai cả, nên có vẻ như không phải là khủng bố.”

    “Thế khủng bố phải như thế nào?”

    Ông cúi xuống hôn lên trán tôi. Tôi cố gắng không nhúc nhích. “Đừng lo con à.” Ông nói. “Chúng ta sẽ sớm biết thêm thôi. Ba mừng là con không sao.” Ông nhìn vào màn hình vi tính qua vai tôi. “Cái gì vậy?”

    “Bài tập khoa học của con. Môn thần kinh học đó ba.”

    “Thật tiến bộ nhỉ. Khi ba còn đi học, tụi ba chẳng bao giờ học được thứ gì cụ thể hơn môn sinh học.”

    Tôi nhún vai. “Các học sinh khác thì học về prô-tê-in. Con thì muốn biết sâu hơn một chút.”

    Ông cười khúc khích. “Đúng là con của ba có khác.”

    Tôi quay lại máy vi tính và cố làm ra vẻ mình đang làm việc. Ông mở một ngăn kéo cạnh tôi và nhướn mày.

    Ba đang tìm gì vậy? Tôi hỏi.

    “Ba... Vài tuần trước ba có mua một số bộ phận tại cửa hàng phần cứng và có để nó ở đây mà.” Ông càng lúc càng lục lọi khắp cả ngăn kéo một cách gấp gáp hơn. “Con có dời đi thứ gì ở đây không?”

    Tôi thì không, nhưng Chloe thì chắc có. “Không, con đâu có đụng vào.”

    Ông nhìn tôi chằm chằm. Ánh mắt của ông căng thẳng đến độ không chịu nổi.

    “Con chắc không?” Ông hỏi.

    “Con chắc mà. Ba mất gì hả?”

    Tôi có thể nhìn thấy sự lo lắng hiện ra trên gương mặt của ông, nhưng rõ ràng ông không muốn nói tôi biết đang xảy ra chuyện gì. Ông mở ngăn kéo khác. Lục tung đồ đạc lên. Đóng sầm nó lại và lùi lại, lấy hai tay vuốt mái tóc lưa thưa của mình.

    “Ba!” Tôi nói. “Có chuyện gì vậy ba?”

    “Không có gì,” ông lẩm bẩm, “không có gì.” Cổ ông nổi gân xanh. Tay ông nắm chặt thành nắm đấm.

    Xung điện chạy khắp những dây dẫn tạo ra bộ não của tôi. Các khớp thần kinh kim loại như muốn bốc cháy.

    Anh không vui khi con bé cứ dành hết thời gian trong tầng hầm.

    Ngộ nhỡ BCL, dù nó là cái gì đi nữa, được giấu dưới đây thì sao nhỉ? Ngộ nhỡ có người đã đột nhập vào nhà lúc sáng và trộm mất rồi thì sao? Ngộ nhỡ vụ tấn công trường học lúc sáng chỉ là một đòn gây phân tán?

    Lý thuyết này nghe không ổn lắm - vì lẽ ra giờ thì Graeme vẫn đang làm việc nếu trường không bị tấn công. Tôi vẫn đang ở trường. Và rõ ràng là những gã thợ săn tin là họ đang tìm kiếm cái gì đó ở đó cơ mà.

    Nhưng tôi đang gần đến với sự thật rồi. Chắc chắn tôi phải biết được sự thật mới được.

    * * *

    Kylie về đến nhà khi Graeme đang làm món cơm chiên rau củ cho bữa chiều. “Chloe!” Bà thét to, ngay khi vừa đi ngang qua cửa. “Con không sao chứ?”

    Tôi đang ngồi trên đi-văng viết nguệch ngoạc trên vở học, giống hệt như Chloe thường làm. Những từ viết ở đây đều có thể là động cơ của những gã thợ săn - tống tiền, gián điệp, báo thù - nhưng ở trên cùng tôi lại viết Những chủ đề trong Kịch Hamlet để phòng ngộ nhỡ có người đọc được.

    Điều này khá nguy hiểm, nhưng tôi không biết nên viết gì nữa. Tôi đã phát hiện được rằng người phụ nữ bí ẩn đã trộm BCL từ ông chủ của cô và đưa nó cho Graeme. Còn Graeme lẽ ra phải đưa nó cho ai đó trong bộ quốc phòng, nhưng ông lại không tin họ nên không đưa thứ đó. Ông đã giữ nó ở trong ngôi nhà này, và giờ thì nó đã biến mất. Chủ của người phụ nữ đã gửi lính đi tìm vật này ở Trường Trung học Scullin - mấy gã này chắc cũng là những gã đã đi theo Chloe.

    Nhưng tại sao họ lại theo dõi cô? Họ là ai? Tại sao họ lại nghĩ BCL ở trường học? Mà cái BCL là cái gì cơ chứ?

    Đầu tôi tràn ngập quá nhiều câu hỏi có thể khiến nó nổ tung.

    Kylie nhìn tôi. Tôi chưa trả lời câu hỏi của bà.

    “Con không sao đâu mẹ.” Tôi nói. “Mẹ thì sao?”

    “Mẹ nghe được chuyện xảy ra ở trường.” Bà vừa nói vừa thả phịch chiếc túi xách xuống ghế. “Mấy người đó không làm hại gì con chứ?”

    “Con không sao mà. Họ còn chưa đến gần con nữa là.”

    Bà nắm tay tôi và xiết chặt, khiến tôi hoảng lên. Tay tôi có vẻ là thứ ít thật nhất trong cơ thể tôi - những thứ làm bằng cao su mềm này thường bị bẻ cong đi sai hướng. Nhưng Kylie có vẻ không chú ý gì lắm.

    “Nếu mà có chuyện gì giống thế này xảy ra nữa, con phải chạy ngay.” Bà nói. “Chạy nhanh hết sức nha con. Nhớ đó!”

    “Con có chạy mà. Và con không sao. Mẹ thấy không? Con học nhanh lắm chứ bộ.”

    “Con có muốn tuần sau nghỉ học không?” Bà nói. “Con có bị chấn thương không?”

    “Cảm ơn mẹ, nhưng con nói cả triệu lần rồi. Con ổn mà.”

    Graeme dùng muôi múc thức ăn ra ba cái tô và hai cái hộp dùng an toàn cho lò vi sóng. Rồi cả ba người ngồi vào bàn bắt đầu ăn. Tay tôi cầm đũa có vẻ không thạo lắm - có lẽ vì tôi chưa được lập trình cầm đũa - nên tôi dùng thìa để ăn. Không ai phàn nàn gì.

    Kylie cứ hỏi mãi về vụ tấn công ở trường. Bà còn hỏi kỹ hơn cả mấy viên cảnh sát ở đó. Giọng bà át cả tiếng lạch cạch trong miệng tôi khi nuốt thức ăn. Để trả lời bà, tôi phải tô vẽ ra cả một câu chuyện, nào là chuyện tôi tìm kiếm vô vọng quanh bên ngoài trường, nào là việc Pete nằm như xác chết dính nhựa đường, rồi mang anh ta nặng như thế nào. Nếu không phải là tôi đang kể sự thật thì ít ra tôi cũng đang giải trí cho bà, và không hiểu sao tôi cảm thấy kỳ lạ là mình cần phải làm cho Kylie hãnh diện về mình.

    Nhưng dù sao tôi cũng rất mong mình có thể được nói thật với ai đó.

    Graeme nhìn lơ đãng, hầu như không nói gì. Đôi môi ông sưng lên vì ông cứ bặm lại mãi. Khi được nhắc, ông nói ngày làm việc của ông “mệt lắm”, nhưng lại chẳng nói thêm được gì. Tôi đang mong tìm thêm được manh mối để xác định người phụ nữ mới ghé thăm ông, nhưng ông không cho tôi biết được gì.

    Khi câu chuyện đã vãn, tôi ngừng ăn và mang tô đến bồn rửa.

    “Cảm ơn ba.” Tôi nói. “Ngon quá đi.”

    “Con ăn xong rồi à?” Ông nói. “Ăn hết luôn hả?”

    “Dạ.”

    “Gần đây con ngày càng ăn ít đi. Không phải là con đang nhịn đói đấy chứ?”

    Tôi ưỡn mình ra, người tôi cong hơn Chloe một chút. “Ba xem con có lãng phí không nào?”

    “Ừ.” Ông nói, giọng bối rối. “Nếu tí nữa con có đói thì trong tủ lạnh còn đó nhé.”

    “Dạ.”

    Tôi rửa tô và thìa, lau khô và cất chúng vào tủ chén.

    “Mẹ ngủ ngon!” Tôi nói. “Ba ngủ ngon!”

    “Giờ mà con đã ngủ rồi à?” Kylie nói. “Mới chỉ...”

    “Còn bài tập, rồi bài nghiên cứu nữa, mẹ biết mà. Mai con có bài kiểm tra.”

    “Ba tưởng hôm nay con kiểm tra rồi chứ.” Graeme nói.

    “Bị hủy vì khủng bố mà.”

    “À, ừ. Thôi con gắng học nha.”

    Tôi vào phòng vệ sinh để xả bồn chứa thức ăn của mình - cái quá trình thải này may sao lại giống hệt như con người. Rồi tôi rửa tay, đi vào phòng của Chloe và đóng cửa. Hết một ngày. Tôi hi vọng ngày mai sẽ dễ dàng hơn.

    Quả là tôi có việc phải nghiến cứu thật, nhưng không phải cho việc học ở trường. Tôi không thể rũ bỏ được cô gái mặt tàn nhang với mái tóc óng mượt ra khỏi đầu. Becky là ai nhỉ? Cô ta với mình có chuyện gì? Tại sao Chloe không nghĩ cần phải cảnh báo mình về cô ta?

    Số của Becky không có trong danh bạ điện thoại của Chloe. Tôi bật máy tính xách tay của Chloe và lên mạng xã hội. Becky không có trong danh sách bạn bè của Chloe. Nhưng vì tôi biết được tuổi và trường của cô nên không mất nhiều thời gian để tìm được hồ sơ của cô.

    Tên đầy đủ của cô là Becky Lieu. Hầu hết hoạt động của cô trên trang của mình là cập nhật những câu nói status khó hiểu và những chuyện tiếu lâm mà tôi không hiểu được, dù cũng có một vài cuộc nói chuyện có bạn bè Chloe xen vào:

    Becky: Đến tiệc trễ một chút có chảnh không nhỉ? Mình đã luyện tập bóng chuyền sau giờ học, rồi lại phải đi xe bus về nhà lấy đồ mặc. Thời gian thì khít khao quá.

    Pete: Chắc rồi. Cậu dắt theo ai đến hả?

    Becky: Tớ lại nghĩ cậu sẽ đưa khách đến chứ.

    Fiona để lại lời bình trong một ô cũ hơn của Becky.

    Becky: Anh từng nói với em rằng cứ không nói gì thì sẽ đau khổ lắm. Nhưng em cảm ơn vì tất cả những gì anh đã làm. Em cũng xin lỗi vì những gì mình đã làm. Giờ thì không còn gì để nói nữa rồi, nhưng sao em vẫn cảm thấy anh đang dày vò trái tim em. Đã hai trăm ngày rồi đó. Em vẫn nhớ anh.

    Fiona: Mình xin lỗi. Tất cả chúng ta đều nhớ anh ấy. Nếu muốn nói chuyện thì gọi cho mình nhé.

    Henrietta nói rằng Becky đã nghỉ cả tháng trời khi anh cô bị bệnh. Tôi đoán là anh vẫn chưa khỏe lại.

    Một vài người đăng hình của Becky. Cô đang ở nhà hàng, đang làm điệu bộ khuôn mặt: trợn mắt, chu môi. Có lẽ vì người chụp nói cô cười lên. Rồi có hình cô đang ngồi xếp bằng dưới gốc cây ở trường, chân bắt tréo trên mắt cá, đi chân đất, đang vừa ăn quả kiwi vừa nhìn đội bóng nữ. Còn có hình trong đó gương mặt cô rất nổi, dù chỉ ở phía sau. Bức khác thì chụp cận cảnh cô đang cười toe toét, một tay quàng qua cổ Pete, tay kia cầm ly nước ngọt. Henrietta đứng cạnh bên, mắt nhìn có vẻ đau khổ lắm, dù tôi thấy cái vụ quàng cổ kia chẳng có gì là tình tứ cả.

    Nhưng tôi thì biết gì về tình tứ, lãng mạn cơ chứ? Tôi có trái tim đâu.

    Sau khi xem xong cả trăm bức hình, tôi cũng không hiểu thêm được gì đáng giá. Becky là một bí ẩn - một cô gái nằm ngoài rìa cuộc sống xã hội của Chloe, vừa mới mất anh trai, chơi bóng rổ, thích ăn mứt, chụp hình thì thích làm điệu vẻ mặt, và có lẽ thật chưa bao giờ vượt ra khỏi lối sống của mình.

    Khi gần như tôi không tìm được điều tôi muốn tìm thì nó lại xuất hiện. Đó là một bức hình chụp từ buổi sinh nhật của Pete. Có vẻ Becky không có ở đó, nên tôi bấm đi tiếp - rồi não tôi chợt mường tượng ra gì đó từ mắt tôi, thế là tôi bấm quay lại. Nhìn cận cảnh, một cậu bé đang nhấc chiếc mặt nạ của Người Sắt ra khỏi đầu để uống nước. Ở cảnh nền là cảnh nhảy múa, cười nói, ngồm ngoàm khoai tây chiên.

    Bên ngoài cửa sổ, Becky và Chloe đang ngồi ở hành lang. Chloe đang nói gì đó, lông mày cô nhướn lên, còn Becky đang ngồi nghe chăm chú.

    Tôi phóng to ra để nhìn bức hình. Nhưng cho dù ở đây có người đọc được khẩu hình miệng giỏi nhất thế giới thì cũng chẳng đọc được câu gì từ bức hình cả.

    Ngoài thái độ hằn học mà Becky ném ra mỗi lần gặp tôi thì chỉ có duy nhất một bằng chứng cho thấy tôi và cô có biết nhau. Họ nói chuyện gì với nhau nhỉ? Và tại sao họ phải nói lén với nhau ngoài đó để không cho ai biết?

    * * *

    Hầu hết máy tính đều có chế độ ngủ. Tôi thì không.

    Tôi ngả lưng xuống, tấm khăn trải giường bùi nhùi một đống quanh mắt cá chân, tôi nằm đó nhìn ánh trăng hắt lên tường như những tấm rèm cửa đang lung lay. Chiếc giường không có gì là thoải mái giống như trước đây. Hai vai và hai bắp chân tôi lạnh ngắt. Cơ thể tôi không phát ra tí nhiệt nào bên dưới tấm chăn cả.

    Kylie đã dạy Chloe một mẹo khi cô không ngủ được. Cô sẽ chọn đại ba con số bất kỳ rồi cố gắng chia chúng bằng hai con số bất kỳ khác. Nếu cô đạt đến ba con số thập phân thì cô sẽ phải bắt đầu lại với ba con số khác. Cái trò này vừa chán, vừa mệt nhưng cũng hấp dẫn lắm - một cách hoàn hảo để làm ý thức mệt đi.

    Nhưng cái trò này lại không giúp gì cho tôi. Khi tôi chơi thì kết quả liền xuất hiện ngay. 127 chia 31 bằng 4.096774193548387 rồi lặp lại. Tính chính xác đến như thế khiến tôi phát khiếp lên được, nên tôi ngừng chơi.

    Nhưng tôi cũng giống con người ở chỗ không thích ngồi không mà không làm gì. Chloe không bao giờ ngồi xem ti vi. Cô chỉ bật ti vi khi dọn dẹp phòng khách. Trên xe bus đến trường, cô ghi lại những ghi chú nghiên cứu của mình. Thậm chí lúc chạy bộ, cô cũng tự chơi kèn clarinet trong đầu. Nếu cô thấy mình đang làm một việc ngớ ngẩn nào đó, cô sẽ điện cho Henrietta, mở loa ngoài rồi vừa nghe Henrietta nói vừa làm. Không may là cả Henrietta lẫn cha mẹ cô đều không trả lời điện thoại lúc khuya thế này...

    À những cuộc điện thoại thì sao.

    Có thể thư điện tử và tin nhắn đã bị chặn, nên Graeme mới phải gọi điện cho người phụ nữ lúc nãy để mời cô ta đến nhà. Một người thận trọng hẳn sẽ chặn ID của người gọi mình. Còn một người cực kỳ cẩn trọng thì sẽ xóa phần lưu cuộc gọi ngay sau đó.

    Graeme có phải loại người cực kỳ thận trọng ấy không nhỉ? Có lẽ không đâu. Nếu tìm trong những cuộc gọi gần đây, có thể tôi sẽ tìm được số của người phụ nữ ấy.

    Tôi ngồi dậy. Graeme và Kylie đã đi ngủ. Máy điện thoại nhà chúng tôi chỉ chứa được 15 cuộc gọi gần nhất mà thôi, nên tôi cần kiểm tra số điện thoại trước khi nó bị xóa.

    Tôi mở cửa phòng ngủ của Chloe, nhìn chằm chằm vào màn đêm. Mọi thứ bắt đầu sáng hơn, tối hơn, mờ đi, sắc nét hơn khi bộ truy cập hình ảnh của tôi tự động điều chỉnh độ tương phản. Không có gì động đậy trong màn đêm.

    Khi rón rén đi vào phòng khách, tấm thảm bên dưới đôi chân trần của tôi kêu lóc bóc. Nút sáng trên điện thoại hắt lên màn hình ti vi. Tôi cầm lấy chiếc điện thoại và kiểm tra những số gọi gần nhất. Có cảm giác như mỗi tiếng bíp đều kêu ầm lên đinh tai nhức óc, nhưng giữa tôi và ba mẹ đang ngủ của Chloe cách nhau đến tận hai bức tường. Nếu họ mở cửa phòng, tôi sẽ có đủ thời gian để đặt điện thoại lại chỗ cũ trước khi họ thấy. Tôi có thể giả đò là đi lấy nước uống - vì giữa đêm chuyện đó là bình thường mà.

    Ngày hôm nay chỉ có hai cuộc gọi, cả hai đều gọi sau khi người phụ nữ đến nhà. Có lẽ Graeme đã xóa hết số rồi.

    Hoặc cũng có thể ông gọi bằng điện thoại di động. Mà lúc đó ông cũng đâu có ở đây. Họ về cùng nhau mà.

    Mà lúc này, điện thoại của ông lại nằm sát bên ông như mọi khi: trên bệ sạc ngay cạnh giường.

    Tôi rón rén bước lại phòng của họ. Đặt tay lên tay nắm cửa. Cố gắng lấy dũng khí để vặn, nhưng lại không dám.

    Tôi phải ăn nói sao đây? Nếu họ thức giấc thấy tôi đang ở trong phòng họ giữa đêm khuya, tôi có thể nói được gì đây?

    Thôi để sáng mai vậy. Khi ông đi tắm, lúc đó tiếng nước tắm sẽ che giấu cho tôi. Đó chính là lúc tôi sẽ lấy chiếc điện thoại.

    Tôi thả tay nắm ra, nhón bước trở về phòng của Chloe, rồi đóng cửa lại. Tôi nằm trên giường, nhìn chòng chọc lên trần nhà, chờ đợi cơn buồn ngủ vốn sẽ không bao giờ đến.
     
  14. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm IV

    THỨ SÁU

    TIẾNG nước chảy phá vỡ dòng suy nghĩ rối bời của tôi. Graeme đang tắm.

    Tôi trườn ra khỏi giường và bước nhanh đến hành lang vào phòng của cha mẹ Chloe. Phòng họ chỉ khép hờ. Hẳn Graeme vừa mới ra để vào phòng tắm.

    Tôi nhìn lén qua khe hở. Một bàn chân của Kylie thò ra khỏi chăn, chân bà mang vớ len, ngón chân chạm sàn nhà. Bà đang ngủ úp mặt xuống giường.

    Tôi cúi người lại, đẩy nhanh cửa để không gây tiếng động. Khi khe cửa đủ rộng để len vào, tôi bò đến chiếc bàn cạnh giường. Một dây sạc được gắn với hộp điện bên dưới giường. Tôi lần theo nó đến chiếc điện thoại, chộp ngay lấy và vuốt màn hình.

    Nó bị khóa bằng mã PIN. Tôi đánh thử ngày sinh của Kylie. Thành công.

    Kỵlie thở khọt khẹt dưới chiếc gối, và mấy thanh gỗ giường kêu lên kèn kẹt. Tôi điếng người. Chăm chú lắng nghe.

    Không có tiếng gì nữa. Bà không thức giấc, bà chỉ trở mình.

    Theo nhật ký điện thoại, thì hôm qua Graeme đã gọi bốn cuộc điện thoại đi nước ngoài. Một cuộc là sau khi người phụ nữ ghé đến. Hai cuộc là trước khi trường bị tấn công. Cuộc còn lại là gọi đến một trụ cáp viễn thông địa phương và chỉ kéo dài hai phút.

    Tôi ghi nhớ số rồi khóa điện thoại của Graeme lại như cũ.

    Tiếng vòi sen ngừng chảy.

    Chắc là ông đang vội lắm. Tôi không có thời gian thoát ra khỏi phòng trước khi ông quay lại. Nên tôi gắn điện thoại lại bộ sạc rồi chui xuống gầm giường và nằm bất động hoàn toàn.

    Tiếng cửa mở. Graeme đi chân đất - hai gót chân chai sần, ngón chân đầy lông - giậm mạnh xuống sàn đi về phía chiếc bàn cạnh giường. Tiếng chìa khóa kêu leng keng. Tiếng khóa ví đóng lại. Chiếc điện thoại được lấy đi khỏi tầm nhìn của tôi.

    Vài giây sau, đôi chân trần ấy huỳnh huỵch đi về phía tủ áo. Một bàn chân biến mất rồi xuất hiện lại trong một chiếc vớ đen mỏng. Nguy rồi, tôi quay đầu lại.

    Đôi giày của Graeme đang nằm dưới gầm giường cùng tôi.

    Bàn chân kia biến mất và không xuất hiện ra nữa. Chắc là Graeme đang rắc rối gì đó với chiếc vớ.

    Tôi lấy ngón tay cặp đôi giày và nhấc lên. Cứ thế mà kéo chúng ra cho đến khi mũi giày lộ ra ngoài cạnh giường. Rồi nhẹ nhàng đặt chúng xuống.

    Bàn chân kia của Graeme đã xuất hiện trở lại, ngón chân đang ngọ nguậy trong chiếc vớ. Cả hai bàn chân đều hướng về đôi giày.

    Tôi nhìn chúng chằm chằm, mong sao ông không quì gối xuống.

    Ông không quì gối. Ông chỉ khom người chứ không quị xuống, và tôi thấy ánh phản chiếu lấp lánh của những chiếc móng tay đã được cắt gọn và chiếc đồng hồ đeo tay mạ bạc trước khi đôi giày được lấy ra khỏi tầm nhìn.

    Kylie đang lẩm bẩm gì đó.

    Graeme nói: “Gì vậy?”

    “Anh đi làm vui nhá!” Kylie nói, giọng bà nghèn nghẹn dưới gối.

    “Ừ, em cũng vậy nhá.” Rồi im lặng một lúc, ông nói tiếp. “Em dậy sớm đi.”

    “Ừm...mm.”

    Sau khi cột chặt dây giày, Graeme bước ra khỏi phòng.

    Kylie đã thức, nhưng chưa dậy. Có lẽ an toàn hơn là đợi bà ra khỏi phòng thì tôi mới nên chui ra khỏi gầm giường. Nhưng tôi không biết phải mất bao lâu nữa.

    Tôi vẫn đang lưỡng lự chưa quyết thì chợt nghe tiếng gõ cửa phòng nào đó trong nhà.

    “Chloe?” Lại một tiếng gõ nữa. “Con có muốn ba chở đến trường không?”

    Thôi rồi. Ông đang đứng trước cửa phòng tôi.

    “Con thức chưa vậy?”

    Tôi nghiến chặt răng, mong sao ông không bước vào phòng.

    Tiếng tay nắm cửa rít lên. Tiếng bản lề kêu cọt kẹt.

    Chợt im lặng.

    Tiếng chân của Graeme bước nhẹ xuống phía dưới hành lang, đến cuối nhà.

    “Chloe à?”

    Ngôi nhà này không lớn lắm. Có thể tôi sẽ đủ thời gian trườn ra khỏi gầm giường trước khi ông quay lại. Mà cũng có thể không.

    Tôi không trườn. Tiếng bước chân gấp gáp của Graeme đang quay lại hành lang. Tiếng cửa mở ra lại.

    “Anh không thấy Chloe đâu cả.”

    Giọng Graeme nghe đầy hoảng loạn, nhưng giọng Kylie nghe có vẻ còn ngái ngủ. “Cái gì?”

    “Con bé không có trong phòng. Anh gọi cảnh sát đây.”

    Cái gì? Khoan. Đợi một chút.” Kylie trở mình trên giường ngay trên đầu tôi. “Chắc con bé đang trong phòng tắm chứ gì...”

    “Anh vừa mới tắm ra mà.” Graeme la lớn. “Con bé...”

    “Bình tĩnh nào anh. Xem xe còn ở trước nhà không?”

    “Để anh đi xem.” Greame lại quày quả vội vã bước ra.

    Tôi không biết bao lâu nữa thì họ sẽ tìm dưới gầm giường.

    Đôi chân của Kylie đã ở trên sàn nhà. Bà vừa thở vừa vùng vằng gì đó, hầu như chỉ những từ nói tục phát ra lúc hoảng hốt. Nếu cho bà biết con gái của bà đã chết rồi nên chẳng còn bị hại gì nữa đâu thì chắc cũng chẳng an ủi bà gì mấy.

    Bà đứng dậy, vớ lấy chiếc áo choàng rồi loạng choạng đi ra khỏi phòng.

    Tôi bò ra khỏi gầm giường và đứng đằng sau cửa nghe ngóng. Đây quả là một tình thế lưỡng nan. Nếu họ thấy tôi trong nhà, tôi sẽ phải lấy lý do gì để nói với họ đây? Còn nếu họ thấy tôi ở ngoài, thì cớ gì tôi lại đi ra ngoài như thế?

    Tôi có thể giả đò mình đã ngủ mà không nghe thấy gì hết. Nhưng tôi không biết Graeme đã tìm kiếm kỹ phòng của Chloe như thế nào rồi. Không biết ông có thể chắc chắn 100% là tôi không ở trên giường không nhỉ?

    “Chloe?” Kylie gọi. Trời ơi - giọng bà nghe như là đang ở trong phòng của Chloe.

    Graeme thì đang thét ầm lên, “Chloe!”. Giọng ông vang qua cửa sổ. Ông đang ở ngoài sân sau, thế là tôi có cơ hội chạy ra cửa trước.

    Tôi trườn khỏi gầm giường ngó đầu ra khỏi cửa. Không nhìn thấy Kylie bên trong phòng của Chloe. Tôi rón rén đi ra hành lang, vào phòng khách. Chạy qua khỏi phòng giặt ủi và tầng hầm. Đến cửa trước.

    “Chloe?” Graeme đang quay trở vào. Sân sau khá nhỏ nên không mất nhiều thời gian để ông kiểm tra hết.

    Tôi nắm lấy tay cửa, giật tung cửa và chạy thẳng ra cổng vòm trước nhà. Chạy thẳng xuống cầu thang, ra đường lái xe vào nhà, và rồi...

    “Chloe!”

    Tôi quay lại. Graeme đang đứng ngay cổng vòm nhìn tôi chằm chằm.

    “Chào ba!” Tôi nói. “Ba có ngửi thấy mùi gì cháy không?”

    Kylie xuất hiện ngay phía sau ông. “Con làm gì ngoài này thế?” Bà hỏi.

    “Mùi khói làm con thức giấc. Có mùi khói. Ba mẹ không ngửi thấy hả?”

    Lời nói dối tuôn ra từ miệng tôi hết sức trơn tru. Ba mẹ Chloe ngửa mặt lên trời hít hít.

    “Không. Làm gì có.” Kylie nói.

    Tôi giả đò ngửi ngửi không khí. “Ơ, sao giờ nó tan mất rồi.”

    Graeme ôm chặt lấy tôi. “Con làm ba sợ chết khiếp. Cả mẹ nữa.”

    “Con xin lỗi ba.”

    Ông buông tôi ra và hít một hơi thật sâu. Cả ba người cùng nhau đi vào nhà. Vậy là số điện thoại của người phụ nữ bí ẩn đã được ghi vào trong bộ não điện tử của tôi rồi.

    * * *

    Những từ nói tục, những bức phác họa vụng về, những lời buộc tội được vẽ nguệch ngoạc thành một bức vẽ. Giống như hầu hết trạm xe bus khác, băng ghế đợi luôn được tô vẽ giống như những bức tường của viện tâm thần. Có lẽ chờ đợi lâu quá làm người ta phát điên lên hết thì phải.

    Chiếc xe bus di chuyển nặng nề trên con đường phía trước tôi trông như một con khủng long mập ú thuộc loài ăn cỏ. Tôi chìa chiếc thẻ xe bus My Way của Chloe ra. Tiếng thắng xe kêu ken két.

    Cửa xe xì xì mở và tôi bước lên, gật đầu chào cô tài xế và cà thẻ vào bộ cảm ứng. Cô tài xế đóng cửa mà chẳng thèm nhìn tôi một cái. Gương mặt cô cứng đờ với những lọn tóc bùi nhùi như thép và cặp kính đen to kềnh. Từ trí nhớ của Chloe, tôi biết rằng một số học sinh thường cư xử vô lễ với cô, và cô đáp lại bằng cách làm ngơ tất cả chúng tôi. Có lẽ cô đang giả đò như mình đang lái một chiếc xe bus chẳng có người đi vòng quanh thành phố.

    Chỉ còn một ghế trống - chiếc ghế bên cạnh Becky.

    Tay tôi nắm lại thành nắm đấm trong túi áo. Điều gì sẽ khiến tôi dễ bị phát hiện hơn nhỉ? Ngồi cạnh cô gái vô danh lúc nào cũng khó chịu với Chloe hay trước mặt rất nhiều bạn học cùng lớp tôi lại từ chối ngồi cạnh cô?

    Tôi ngồi xuống, vô tình chạm tay vào tay cô. “Chào!” Tôi nói.

    Becky dịch người vào trong, quay mặt ra cửa sổ.

    Mấy đứa con trai ngồi băng ghế sau đang lảm nhảm gì đó về một trò chơi vừa mới ra lò. Mấy đứa ngồi phía trước lại đang đeo tai nghe. Thế là Becky và tôi có chút riêng tư. Nhưng tôi nói gì bây giờ? Điều gì sẽ giúp tôi hiểu được những gì cô và Chloe nói chuyện với nhau tại tiệc sinh nhật của Pete?

    “Mình xin lỗi, được chứ?” Tôi nói.

    Cô quay lại nhìn tôi. Mắt cô trợn lên như mắt của một tượng sáp. “Cậu xin lỗi á?”

    “Ừ. Lúc đó mình lỡ lời.”

    Miệng cô há hốc lòi cả 10 chiếc răng, cô nói, “Cậu lỡ lời á?”

    Dù Chloe có làm gì thì rõ ràng là điều đó tệ lắm đây. “Mình xin lỗi. Mình phải làm gì để hối lỗi đây?”

    “Sáu tuần là đã quá trễ để làm gì đó rồi.” Cô lại nhìn ra cửa sổ.

    Sáu tuần. Vậy ra từ bữa tiệc sinh nhật của Pete đến giờ đã lâu đến vậy rồi.

    Tôi cứ nghĩ là chuyện tôi với Becky không phải là chuyện cá nhân. Có vẻ tôi đã lầm. Có thể là chuyện về bạn trai của Becky lắm chứ, có thể lắm! Chắc là Chloe đã gần gũi với cậu bạn trai của Becky quá rồi?

    Nhìn qua cặp mắt kính mờ mờ, tôi thấy nước mắt đang chảy ra trên mắt cô. Bản năng bảo tôi nên ôm lấy cô, nhưng có lẽ sẽ bị cô đẩy ra, rồi những hành khách trên xe sẽ chú ý. Nên tôi không làm gì cả. Tôi ngồi im bên cạnh cô gái đang khóc, chờ đến trạm để xuống xe.

    Đến trạm, tôi theo đám học sinh xuống xe, bước ra ánh nắng. Không thể nào tự thuyết phục mình là ánh mặt trời sẽ không làm tôi trông giống như người giả, tôi chạy nhanh đến trường. Một cậu con trai ở cổng trường đang xin tiền để gây quĩ nghiên cứu bệnh đái tháo đường. Hầu hết ai cũng bỏ vài xu vào hộp quyên tiền, nên tôi cũng làm vậy.

    Môn học đầu tiên của tôi là khoa học. Tôi có đủ sách mình cần, nên tôi không cần đến tủ đồ nữa. Điều này giúp tôi có thêm thời gian để gọi nhanh một cuộc điện thoại.

    Tôi không muốn dùng điện thoại di động của Chloe, cho dù là ẩn số. An toàn nhất là gọi điện thoại từ một người không có can hệ gì với Graeme. Nên tôi đến quầy điện thoại trả tiền ở căn tin trường. Hàng ngày có cả trăm đứa trẻ sử dụng điện thoại này khi điện thoại di động của chúng bị tịch thu.

    Tôi quay số 1-8-3-1 để chặn ID người gọi, rồi nhập số điện thoại lấy từ danh bạ điện thoại của Graeme.

    Chuông đổ hai lần.

    “Cảm ơn bạn đã gọi đến Công ty Bảo an Ares. Bạn đang nói chuyện với Nadine.”

    Giọng cô gái trong điện thoại làm tôi lạnh cả người. Đích thị đó là giọng người phụ nữ đã đến nhà gặp Graeme.

    “Cho tôi gặp Sam Fletcher!” Tôi nói, chọn đại một cái tên.

    “Xin lỗi. Tôi không biết ai có tên đó cả.”

    “Lẽ nào tôi gọi sai văn phòng hả?” Tôi lặp lại số của người phụ nữ, cố tình thay đổi một số.

    Qua những tấm cửa kính, tôi có thể thấy Becky đang đi ngang qua cậu con trai với hộp quyên tiền. Cô lấy hết tiền trong ví ra - ít nhất là 8 đô la - rồi nhét hết vào hộp. Anh chàng cười toét miệng với cô, nhưng cô bỏ đi không thèm cười lại.

    “Xin lỗi,” Nadine nói, “số ở đây là 5 3 4 4”.

    “À ra vậy. Chúc một ngày tốt lành.”

    Tôi tắt máy. Nadine, thuộc Công ty Bảo an Ares ư. Cô ta có quan hệ gì với Graeme? Và Công ty Bảo an Ares làm cái gì?

    Mấy câu hỏi cứ luẩn quẩn mãi trong đầu tôi khi tôi đi đến lớp khoa học. Đến nơi rồi mà tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời nào cả.

    “Chào buổi sáng, Chloe!” Thầy Fresner nói khi tôi bước vào.

    “Dạ, em chào thầy!”

    Tôi là người đến đầu tiên. Tôi nhào vào ghế của mình và đợi người khác đến.

    “Thầy mong là em đã hồi phục sau sự chấn động ngày hôm qua?”

    “Dạ em ổn rồi thầy.”

    “Tốt. Thầy cũng mừng là Pete không sao, nhưng lần sau em phải báo cho giáo viên biết chuyện gì đang xảy ra đó.”

    Henrietta đã nói với một giáo viên là Pete mất tích, và họ chẳng làm gì cả. Nhưng tôi không thấy có gì tốt khi tranh luận về điều này. “Dạ em hiểu rồi thưa thầy.”

    “Ừ. Vậy được.”

    Những học sinh khác đang vào và chiếm chỗ ngồi. Thầy Fresner nói, “Được rồi các em, chúng ta sẽ tiếp tục chỗ mà chúng ta đã nghỉ vào ngày hôm qua. Ai có thể cho thầy biết bộ xử lý cơ học lượng tử mạnh nhất thế giới được tạo ra ở đâu nào?”

    “Ở Đại học Bristol.” Có người trả lời.

    “Chính xác. Thế nó mạnh như thế nào?”

    “Cũng không quá mạnh.” Cô gái ngồi kế tôi nói.

    Có vài tiếng cười. Phía bên kia, Becky đang thọc móng tay vào gầm bàn.

    “Cũng đúng,” thầy Fresner nói, “nó đang gắng tìm thừa số nguyên tố của 21, nhưng điều đó thì ai trong các em cũng có thể tính nhẩm được.”

    Dừng lại. Tua lại.

    Bộ xử lý Cơ học Lượng tử à.

    Cô nói họ sẽ trả cả gia tài để lấy lại BCL à.

    * * *

    Tôi cảm thấy như miệng tôi đang há hốc ra khi mọi thứ bắt đầu tập trung vào chủ điểm.

    Công ty Bảo an Ares. Các tập đoàn quân sự tư nhân. Lính làm việc cho một công ty chứ không phải cho chính phủ.

    Vậy là Công ty Bảo an Ares đã tạo ra một máy tính lượng tử. Một chiếc máy tính có thể làm được nhiều việc hơn là tìm thừa số của 21. Nếu nằm trong tay người xấu, công nghệ này có thể sẽ tạo ra một cuộc phá hủy tài chính trên qui mô toàn cầu vốn sẽ khiến cuộc đại suy thoái trông như một tiếng nấc cụt mà thôi.

    Nadine chắc chắn đã cho rằng Công ty Bảo an Ares là xấu xa. Nhưng Graeme lại không muốn giao nó cho bộ quốc phòng. Cũng chẳng trách được, vì công nghệ này có thể lật ngược cả thế giới mà.

    Và giờ đây, nếu tôi đoán đúng về sự tìm kiếm hoảng loạn của Graeme ở tầng hầm thì nó đã mất tích rồi.

    “Thưa thầy, em xin đi vệ sinh ạ?” Becky nói.

    “Ừ.” Thầy Fresner đáp. Khi cô đứng dậy, thầy nói, “Ai cho thầy biết thuật toán Shor là gì nào?”

    Cô gái ngồi kế tôi giơ tay. Tôi nhìn theo Becky đi ra khỏi lớp. Trông cô vẫn ủ rũ, và chợt tôi thắc mắc không biết cô thực sự muốn đi đâu.

    Liệu cô có biết gì về BCL không? Phải chăng đó là điều cô và Chloe đã nói tại bữa tiệc sinh nhật của Pete?

    Becky là mắt xích không khớp. Một mối nối cho phần ẩn dấu nhất cho cuộc đời của Chloe.

    Tôi cố gắng nhại lại một âm thanh xem từ chương trình ti vi mà tối qua Graeme đã xem. Một cụ già trên giường bệnh đang ho sù sụ và thở khò khè.

    Âm thanh vang ra từ miệng tôi là một tiếng lọc cọc, nghèn nghẹn và nghẹt đờm. Ai cũng quay lại nhìn tôi chằm chằm.

    “Em xin đi uống nước thầy ơi?” Tôi kêu lên the thé.

    “Đi đi em.” Thầy Fresner lập tức nói. Tôi chạy ra khỏi cửa và đi theo Becky, vừa đi vừa tắt máy điện thoại của Chloe.

    Đi bộ theo dấu một người khó hơn tôi nghĩ. Hành lang trường vắng tanh, chẳng có ai ngoài Becky và tôi, nên không có tiếng gì át tiếng chân tôi cả. Nhưng tôi không thể chậm lại được. Mỗi lần cô rẽ thì có nguy cơ tôi sẽ mất dấu cô.

    Cô đi rất thận trọng. Đầu lúc nào cũng cúi xuống cửa sổ mỗi lớp học khi cô đi ngang.

    Nhưng đến giờ thì cô chưa làm gì đáng nghi cả. Nhà vệ sinh đi hướng này là đúng rồi. Nếu cô đi qua nhà vệ sinh luôn thì tôi chắc là cô đang mưu tính gì đó.

    Tóc của Becky, hôm nay được thắt bím rất gọn, nảy tưng tưng khi cô bước đi. Hai tay cô bắt chéo cứ như đang bế một em bé mới sinh vậy.

    Cửa nhà vệ sinh hiện ra phía bên trái cô. Cô đi ngang qua cửa nhà vệ sinh nam, nơi tôi tìm thấy Pete. Rồi cô đảo mắt nhìn quanh lần cuối trước khi đẩy cửa bước vào bên trong nhà vệ sinh nữ, còn tôi không biết có nên bước vào hay không.

    Nếu cô điện thoại, tôi muốn nghe xem cô nói gì. Nhưng đi xa đến đây mà không bị phát hiện thì đã khó lắm rồi, nhưng sẽ còn khó hơn nữa nếu vào trong đó. Trong đó không gian thì hẹp mà gương thì lại nhiều.

    Rõ ràng cô muốn có sự riêng tư, nên cô sẽ vào buồng nhỏ. Vấn đề là tôi có đủ im lặng khi mở cửa nhà vệ sinh không thôi.

    Tôi đặt bàn tay lên cửa và đẩy nhẹ mà không hiểu sao mấy cửa nhà vệ sinh lúc nào cũng nặng hơn cửa bình thường. Nhưng cửa không kêu gì. Tôi đặt ngón tay vào giữa cánh cửa và khung cửa để không cho nó đóng sầm lại, rồi đi thẳng vào nhà vệ sinh.

    Becky đang nhìn tôi chằm chằm.

    Cậu đang làm gì the? Cô hỏi.

    “Thế bạn đang làm gì?” Tôi trả lời không kịp nghĩ. Nước mắt đang rơi lã chã trên hai má cô. Cằm cô sũng nước mắt.

    “Mình hỏi trước.” Cô rít lên.

    Tôi tiến lên phía trước. “Nghe nè, mình...”

    “Đừng có lại gần tôi.”

    Tôi đứng im, bối rối. Mấy ngón chân của tôi co lại trong đôi giày. “Mình chỉ muốn biết bạn bị gì thế?”

    Cô nhìn tôi giống như tôi vừa mới đâm thẳng vào trái tim cô vậy. “Cậu biết rõ chuyện gì mà.”

    “Cứ cho là mình không biết gì đi.” Tôi nói. “Nói cho mình biết mình có thể giúp bạn sao đây.”

    “Cậu nói láo.” Cô nói. Giọng cô như nghẹn lại. “Cậu nói cậu cần mình.”

    “Thì mình cần cậu thật mà.” Tôi nói mà không biết cô đang nói về điều gì.

    “Chiếc hôn đó không nghĩa lý gì với cậu cả.” Cô thổn thức.

    Tôi nghĩ lại bức hình. Becky và Chloe đang nói chuyện nghiêm túc dưới hiên nhà Pete.

    Làm sao Chloe lại quên điều này?

    Tại sao cô không nói mình biết cô đang yêu?
     
    lemontree123 and Luciana Newt like this.

Chia sẻ trang này