Hoàn thành R Cover of night (Màn đêm) - Linda Howard

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi halucky, 27/2/15.

  1. hoahuynh2011

    hoahuynh2011 Lớp 1

    Ôi lại được theo dõi dự án mới của halucky, thật mong chờ quá đi.
     
  2. halucky

    halucky Lớp 11

    Chương 28 (halucky)


    BÔNG TUYẾT ĐẦU TIÊN RƠI XUỐNG chỉ sau năm giờ chiều hôm ấy. Cate đứng khựng lại, sửng sốt nhìn chằm chằm vào nó. Thêm vài bông nữa theo sau bông đầu tiên; rồi tất cả biến mất trong một cơn gió xoáy.

    “Anh thấy không?” cô hỏi Cal.

    “Có.”

    Đó là đợt tuyết đầu mùa, mặc dù không ai nghe nói tới. Với một tí may mắn, vài bông này không rủ thêm lũ bạn. Mưa bắt đầu rơi mau hơn cách đấy vài giờ. Nhiệt độ lạnh như thường lệ, giảm xuống đều đặn hàng giờ khi họ leo ngày càng cao, họ chấp nhận một thực tế là có khả năng tuyết sẽ rơi.

    Tuyết không tốt vì vài lý do, cái lớn nhất là họ không thể tiếp tục công việc. Những dấu chân đã đủ phụ bạc khi chúng chỉ ra nơi họ đang dậm bước; nếu lối đi phủ đầy tuyết, họ sẽ mạo hiểm mạng sống của mình. Họ không ăn mặc cho trời tuyết hay thời tiết lạnh như này. Áo poncho của họ là để bảo vệ chống lại gió và mưa, chúng không có các lớp cần thiết để giữ ấm.

    Cô rùng mình vài lần, thậm chí cô đã mặc áo khoác nỉ, kéo mũ áo cũng như mũ áo poncho lên chùm đầu.

    Cal rút tấm bản đồ sơ họa về khu hầm mỏ bị bỏ hoang do Roy Edward vẽ.

    “Ta có gần cái nào trong đó không?”

    Cate hỏi, tiến lại cạnh anh, nhìn vào mảnh giấy. Cô hy vọng thế; họ phải thoát khỏi thời tiết này trước khi đêm xuống, điều mà sẽ xảy ra sau vài giờ nữa thôi. Họ sẽ đóng băng mất nếu phải ở ngoài này cả đêm.

    “Anh không nghĩ vậy,” anh trả lời. Anh chỉ vào điểm đánh dấu X. “Đó là cái gần nhất, và theo tính toán của anh chúng ta đang ở đây.” Anh chỉ tới vị trí khác. “Nếu Roy Edward ở đâu đó gần chính xác với dự đoán của ông, chúng ta cách nơi đó ít nhất một dặm, cộng với chừng năm trăm feet chiều cao. Với tốc độ đang di chuyển, ta không thể tới kịp trước trời tối. Ngay cả nếu ta có thể, ta cần phải dừng lại bây giờ, hong khô quần áo và sưởi ấm. Giày của em ngấm nước rồi.”

    Không may là anh đúng. Bàn chân cô quá lạnh và đau nhức sẵn sàng đi cà nhắc. Để tới nơi nào đó đòi hỏi phải leo trèo, cô không thể thực hiện được.

    “Chúng ta sẽ làm gì?”

    “Em đi tới chỗ nào đó tránh được gió và ở lại trong khi anh thám thính xung quanh. Anh sẽ kiếm nơi nào đó để trú.”

    Vì gió đang cuộn lên theo mọi hướng, cô không biết nên đi đâu. Rồi anh tìm thấy một cây linh sam lớn với cành lá rậm dày nên mặt đất bên dưới nó còn khô ráo, cô ngồi xuống đó, co gối lại bên dưới áo poncho cố giữ lại chút hơi ấm cho cơ thể. Cô ngước lên nhìn anh qua màn mưa, nhận ra rằng khuôn mặt anh ửng đỏ thế nào do cơn mưa và gió lạnh, chợt nhớ rằng anh chẳng mặc ấm hơn tí nào so với bản thân mình. Lợi thế duy nhất của anh là đôi bốt không thấm nước, nên bàn chân anh vẫn còn khô.

    “Cẩn thận nhé,” cô nói, vì đó là điều duy nhất cô nghĩ được.

    “Nếu không tìm thấy một mỏm đá nhô ra, anh sẽ làm cho ta một mái che.”

    Anh bắt đầu tháo tất cả dụng cụ leo núi, đặt nó bên cạnh Cate, xếp cuộn dây lên trên cùng. Anh nhẹ nhàng vuốt má cô rồi bước đi. Tất cả anh mang theo là cái cuốc chim. Cô quan sát anh sải bước đi dưới trời mưa tràn đầy năng lượng như thể có lò xo thép gắn trong đôi chân anh, trong khi từng cơ bắp của cô đau nhức, không chỉ vì bài tập luyện nghiêm ngặt cô đưa ra cho hai người ngày hôm ấy mà còn bởi cơn run rẩy kéo dài.

    Mệt mỏi cô kéo vạt trước áo poncho lên trên mũi để không khí hít vào ấm hơn. Ngay lập tức cô cảm thấy khá hơn nhiều, có thể chịu đựng cái lạnh, mặc dù gió vẫn rít lên qua hàng cây và mưa nhỏ giọt xung quanh. Những cành linh sam dốc xuống tạo thành một dòng chảy tự nhiên, giống như cái ô sống tỏa ra trên đầu.

    Họ đã rời Trail Stop được hai mươi tư giờ. Chuyện gì tiếp tục đây? Cô và Cal đã không nói chuyện, vì cả ngày họ căng mình ra trên mặt đá hoặc đi bộ lên dốc, cả hai việc đó đều khiến cho cuộc trò chuyện không hề dễ dàng. Họ dừng lại khi bắt buộc, rồi gấp gáp lên đường, luôn luôn ý thức về thời gian đang trôi đi.

    Nửa giờ sau, tuyết bắt đầu hòa lẫn trong mưa. Cate nhìn chằm chằm vào nó, như quyết tâm xua những bông tuyết trắng đi. Cô không ngại trận mưa tuyết bất chợt, mặc dù cô ước thời tiết ấm như hôm qua; cô chỉ không muốn có tuyết trên mặt đất. Xuống tới thung lũng, có khả năng họ không gặp tí tuyết nào.

    Khi những bông tuyết trở nên lớn hơn, mặt đất bắt đầu phủ một màu trắng trong bóng chiều dần dần thẫm lại, cô tự hỏi Cal ở đâu và anh đang làm gì.

    Cal nhặt một cành cây to bằng ngón tay cái, dùng nó chọc vào mọi bụi cây trông như thể đang che giấu một cái hang nhỏ, một mái đá nhô ra hay bất kể thứ gì có thể đem lại cho họ vừa đủ một chỗ trú chân cho đêm sắp tới. Anh biết rõ rằng gấu vẫn chưa chui vào hang – mùa này còn quá sớm – nên anh dắt cái cuốc chim vào lưng quần, và thay vào đó mở cúc túi bên phải chiếc áo khoác rằn ri, rút khẩu chín li tự động ra. Bình thường anh đeo bao da trên thắt lưng hoặc buộc nó vào đùi mình nếu đang làm nhiệm vụ, nhưng trong khi leo núi đá, anh không muốn có nó làm cản trở. Để thay thế anh cẩn thận cất nó vào áo khoác và chắc chắn túi luôn được cài cúc. Khi áo khoác được cuộn lại nhét sau lưng, khẩu tự động cứ thúc vào cơ thể anh. Khẩu súng lục không phải thứ vũ khí tốt nhất để đối mặt với một con gấu, nhưng nó tốt hơn một trăm lần so với một cái cuốc chim.

    Anh tự cho phép bản thân chỉ dành nhiều thời gian để tìm một hang đá. Có khá nhiều mỏm đá, nhưng nó hoặc quá nông hoặc đá có nhiều vết nứt hoặc nền đất bên dưới không ổn định. Vài cái có nước chảy ra; vì một trong những yêu cầu là nơi trú ẩn phải khô, những trường hợp đó đã bị loại bỏ. Nếu không sớm tìm thấy một cái, anh phải dùng chút ánh sáng nghèo nàn còn lại để dựng một mái che. Vì mặt đất không thực sự bằng phẳng, anh hy vọng không phải làm việc đó.

    Cuối cùng anh nhìn thấy thứ gì đó có khả năng dùng được. Một mũi đá granite thò ra, hơi hếch lên, nằm cân bằng trên một phiến đá khổng lồ khác. Chúng sẽ không trượt đi đâu – chúng đã ở đó rất lâu rồi, chúng hầu như bị che phủ bởi những cây trưởng thành mọc trên đỉnh mũi đá. Một cây linh sam khổng lồ khác mọc trên rìa phía nam của khoảng trống bên dưới, một phần che chắn nó. Gạt sang bên những cành lá đang lòa xòa che gần hết mặt đất, anh cúi xuống xem xét bên trong. Nó dài và rộng khoảng mười feet, không hơn năm feet chiều sâu, và điểm cao nhất ở khoảng trống cũng bằng vậy. Thế là tốt, vì không gian chật hẹp giữ ấm tốt hơn một nơi rộng rãi.

    Mang theo đèn pin nhỏ, anh bật nó, quét ánh sáng vào từng góc, kiểm tra rắn rết, xác chuột chết, chuột sống, bất kể thứ gì anh đều không muốn chia sẻ đêm nay. Có vài mảnh vỡ, tất nhiên, và vài con côn trùng vội vã chuồn khỏi chùm sáng. Ngọn lửa sẽ chăm sóc chúng.

    Anh bẻ một cành linh sam nhỏ, dùng nó quét dọn nơi trú ngụ được chọn, rồi dùng cuốc chim phạt thêm nhiều cành nữa từ những cây xung quanh, không lấy quá nhiều từ một cây nào, trải nó lên phần nền trống trải thành từng lớp xen chéo nhau. Cây thường xanh (những cây lá xanh quanh năm như thông, tùng, bách) không chỉ góp phần xua đi mùi ẩm mốc, những cành cây dẻo dai còn đem lại một thứ giống như đệm ngủ. Anh có thể ngủ trên nền đất, cuộn mình trong chăn, nhưng Cate sẽ dễ chịu hơn trên cái đệm cho dù lổn nhổn.

    Ít nhất họ sẽ có một ngọn lửa đêm nay. Sườn dốc nơi họ đang ở quay mặt về hướng đông, cách xa những tay súng. Đám cây phía trên cao sẽ lọc khói qua những cành lá của chúng, tán ra để khói không tụ thành chùm, và kiểu gì thời tiết cũng xua tan nó. Một chút ánh lửa và nhiều hơi ấm sẽ được duy trì giúp họ thoải mái hơn. Bên cạnh đó, anh có thể hong khô giầy cho Cate.

    Mưa chuyển hoàn toàn thành tuyết, nó bắt đầu xoáy xuống đủ nhanh biến mặt đất thành một màu trắng thay vì ẩm ướt. Anh không thích thế, không chỉ vì tuyết, còn bởi sau khi trời tối nhiệt độ sẽ tụt rất nhanh, bất cứ thứ gì ẩm ướt sẽ phát triển một lớp băng bao phủ trơn trượt. Hy vọng duy nhất của họ là đợt tuyết này di chuyển nhanh về phía trước để cơn mưa ấm hơn lại phía sau.

    Anh có nhiều việc khác phải làm, nhưng không muốn để Cate ngồi một mình giữa trời lạnh này lâu hơn. Càng nhanh chóng đưa cô ngồi vào nơi trú ẩn anh vừa dọn dẹp, càng nhanh chóng cởi đôi giầy và tất ướt của cô ra, sưởi ấm bàn chân cho cô. Anh có thể hoàn thành việc gia cố nơi trú ẩn sau đó.

    Đến lúc anh lần đường quay về bên cô thì chỉ còn khoảng hai mươi phút chiếu sáng; lớp tuyết mỏng trơn trượt đến khó tin. Vài lần anh phải dùng tới cuốc chim để giữ mình lại. Những giọt nước còn đọng trên cành cây đang bắt đầu đóng băng, tạo nên âm thanh lách cách khẽ khàng trong gió.

    “Anh tìm được một chỗ cho ta,” anh nói, cô ngước nhìn lên từ nơi cô vùi khuôn mặt vào giữa hai đầu gối. Áo poncho được kéo lên qua mũi để giữ ấm không khí cô hít thở, mặc dù đôi mắt cô trông tỉnh táo hơn, chúng bắt đầu lộ rõ một cơn đau âm ỉ, điều mà khiến anh lo lắng hơn nhiều. “Nó khô ráo, nên ta có thể đốt một đống lửa.”

    “Lời anh nói thật lôi cuốn.”

    Cô bò ra khỏi tán cây với nhiều năng lượng hơn cô thể hiện. Quãng thời gian nghỉ ngơi đã giúp cô khỏe lại. Cô sẽ trong bộ dạng tốt hơn nếu anh khăng khăng bắt cô đi bốt, nhưng anh đâu mong chờ trời mưa và tuyết rơi chứ. Anh cũng không mắc chứng viêm khớp để bản thân được cảnh báo về thời tiết thay đổi, anh cũng chẳng được xem kênh dự báo thời tiết cách đấy vài ngày. Tất cả anh biết là một mùa bão tuyết sớm kỷ lục đã được dự đoán.

    “Nước mưa bắt đầu đóng băng,” anh nói. “Đi lại khó khăn vì mặt đất rất trơn. Đừng vội bước trừ khi em bám được vào thứ gì đó.”

    “Được mà.”

    Cô lôi cái búa của mình ra, nắm chặt trong bàn tay trái khi anh cúi xuống đám dụng cụ anh để lại lúc trước. Anh đi ra, di chuyển dễ dàng như không mang gì, còn cô cẩn thận theo sau.

    Cate cảm thấy lạnh kinh khủng và ướt át, nhưng trong khi ngồi nghỉ, cô liên tục co gập những ngón chân để lưu thông máu, nên cô không vụng về như lúc trước. Dù vậy, cô hy vọng nơi trú ẩn anh tìm được không xa, vì ánh sáng đang nhạt dần mà tuyết rơi ngày càng nặng hơn, lọt xuống giữa những tán lá trong sự im lặng lạ kỳ.

    Cô mong tuyết đã rơi dưới thung lũng. Cô mong những tay súng đang cắm chốt bên sườn núi kia bị đè bẹp bởi mười feet tuyết. Cô mong chúng bị ngấm mưa cả ngày, và giờ bị đóng băng thành người kem. Những ngọn núi thường có tuyết trong khi dưới thung lũng thì chưa, cô hy vọng đây không phải một trong những lần đó.

    “Chúng ta sẽ phải quay về sao?” cô nhẹ nhàng hỏi.

    “Có khả năng.” Anh không hề tô vẽ. Cô mừng thầm. Cô có thể đối phó với thực tế tốt hơn với một viễn cảnh màu hồng, cũng như đối phó với những lời ước dễ dàng hơn với thực tại. “Trừ khi trời quá xấu buộc ta phải chờ đợi.”

    Anh dừng lại ở khoảng đất đặc biệt trơn, dùng cuốc chim cuốc từng bậc trên mặt đất. Với áo poncho phủ qua chỗ đồ dùng trên lưng, anh trông giống con quái vật dị hình, nhưng cô cũng tưởng tượng ra mình có hình dáng tương tự.

    Về thể chất cô khổ sở như mình từng nhớ. Hơi nước hổn hển thoát ra khỏi miệng, cô bèn cố gắng ngậm nó lại thở bằng mũi, điều đó tạo cho cô một hiệu ứng kéo pháo. Bản thân cô bị phân tâm bởi ý nghĩ làm thế nào cô thể hiện trò này cho bọn trẻ trong mùa đông. Chúng rất thích trò kéo pháo.

    “Nó đây rồi,” cuối cùng anh lên tiếng, gạt sang bên đám cành lá của cây linh sam khổng lồ, dùng đèn pin chỉ cho cô thấy bên trong một mỏm đá xiên nghiêng. “Anh đã quét dọn nó, trải những cành lá linh sam xuống làm đệm. Chui vào và thư giãn trong lúc anh đi kiếm củi.”

    Cô không hỏi anh có ý định tìm đâu ra củi khô; cô có niềm tin tuyệt đối rằng nếu ngoài kia có, anh sẽ tìm thấy. Cô dừng lại ở lối vào, cởi áo poncho ướt ra, treo nó lên một cành cây linh sam, rồi nhanh chóng chui vào bên trong. Thêm một cái đèn pin sẽ thật hữu ích, nhưng cô không có.

    “Đây,” anh nói, lôi ra một cái ống nhựa mảnh màu xanh khỏi bọc đồ. Ngay khi nhìn thấy, cô biết nó là gì, cô từng nhìn thấy chúng trong cửa hàng bán dụng cụ ngoài trời. Anh uốn cong nó để bắt đầu phản ứng hóa học và ống nhựa phát sáng.

    Ánh sáng quả là tuyệt vời. Cô ngay lập tức cảm thấy tốt hơn, mặc dù vẫn lạnh và khổ sở như trước.

    Anh quỳ ở lối vào, bắt đầu lấy ra những đồ dùng và dụng cụ, cố gắng thao tác mà không phải cởi áo poncho, anh đặc biệt không muốn chăn đắp và tấm đệm ngủ bị ướt. Tất cả đám dụng cụ leo núi được để ở phía cuối; cô tháo đồ của mình ra và cũng đặt xuống đó.

    Cô đã bắt đầu quen với trọng lượng của nước trong đai đeo, nhưng ngay khi hạ nó xuống, cô thở phào nhẹ nhõm khi cơ lưng và vai được thả lỏng. Nước là phần lớn gánh nặng của họ, mỗi người mang khoảng hai mươi pound nước, tương đương hai ga lông rưỡi.

    “Em còn đôi tất khô nào không?”

    “Trong túi của em.”

    “Trước khi làm gì khác, cởi giầy và tất ướt ra, hong khô chân, và đi tất sạch vào.”

    Rồi anh bước đi, khom mình trong đêm tối. Cô dõi theo ánh đèn pin nhấp nhô một lúc, rồi làm chính xác cái điều anh dặn. Anh là chuyên gia về sự sống còn, không phải cô.

    Cô đặt đôi giầy ướt sang bên cạnh, khó khăn cởi hai đôi tất. Bàn chân cô trắng bệch. Cô khum bàn tay quanh những ngón chân, nhưng tay cô cũng lạnh thành thử nó chẳng giúp ích được nhiều. Nhanh nhẹn cô chà sát đôi chân, vừa làm khô chúng vừa để máu lưu thông. Thứ cô cần là một chậu nước nóng để sục chân vào, nhưng mũi đá này lấy đâu ra, cô tiếp tục xoa và chà xát, từ từ làm ấm cả bàn tay và bàn chân.

    Thứ ánh sáng màu xanh lá cây mà ống nhựa phát ra mờ mờ, kỳ ảo nên cô không thể khẳng định những ngón chân có chút ửng hồng hay không, nhưng cảm giác chúng có phần ấm hơn. Vội vàng cô lấy đôi tất sạch ra khỏi túi và đi vào. Hoan hỉ vì chúng giữ lại một phần hơi ấm cơ thể cô; như kiểu gói chân cô trong khăn nóng vậy. Cảm giác nhanh chóng nhạt dần, nhưng trong một lúc nó thật tuyệt vời.

    Chiếc quần nỉ thể thao của cô bị ướt từ đầu gối trở xuống, cô không có cái nào khác để thay. Rồi cô nhớ ra chiếc quần giữ nhiệt mình nhét trong túi áo khoác. Cô lấy nó ra, nhanh chóng cởi quần thể thao ướt và mặc vào quần giữ nhiệt. Nó khô, nhưng cảm giác thật mỏng manh giữa cái giá lạnh, cô bèn quàng chăn quanh mình, bắt đầu sắp xếp không gian ít ỏi trong nơi trú ẩn.

    Việc đó bao gồm trải tấm đệm ngủ lên trên lớp cành lá anh thu dọn lúc trước, rồi đặt cuộn chăn của anh lên trên cùng. Cô chuyển đai nước vào sâu phía trong, nơi cô hy vọng nó không bị đông lại, lấy ra một chai nước cho cả hai người. Thực phẩm ăn liền là đồ điểm tâm, vài hộp nho khô cá nhân và mấy thanh kẹo Payday cỡ nhỏ. Thật ngạc nhiên, bọc đồ của anh có mấy gói bim bim ngô. Cô nhún vai, có lẽ anh là một fan của bim bim ngô. Dễ hiểu điều đó. Vài ngày mỗi tháng, cô sẵn sàng chết vì sô cô la – có thể không chính xác thế, nhưng cô chắc chắn hạ gục những quý bà cao tuổi ở bãi đậu xe cửa hàng tạp hóa để có được vài thanh Hershey đút túi.

    Một nụ cười nở trên môi cô. Tanner từng tặng cho cô một nụ hôn của Hershey khiến cô cảm thấy tốt hơn. Cô bật cười rồi hồ hởi ôm cậu bé, thừa nhận rằng sô cô la có thể hàn gắn tất cả đau thương.

    Cal xuất hiện trở lại, mang theo một ôm đầy những cành cây lớn nhỏ bên dưới áo poncho. Anh thả phịch xuống một chỗ khô ráo, cầm lấy cuốc chim ngay lập tức đào một hố nhỏ bên mép trong mũi đá. Khi làm xong, anh lên tiếng, “Anh cần thêm đá,” và lại bước đi. Tìm hòn đá không mất nhiều thời gian như tìm củi khô. Anh đi vài chuyến, lót dưới đáy hố các hòn đá. Rồi sắp xếp một lớp cành con, và các que củi lên trên. “Đây chỉ là để cho ngọn lửa bắt đầu; anh sẽ đi kiếm thêm,” anh nói khi đưa tay tóm lấy túi bim bim ngô và xé nó. Anh tọng một lát mỏng vào miệng, rồi lấy ra miếng khác. Đặt nó sang bên, anh lấy hộp diêm chống thấm nước và quẹt một que, thay vì dí ngọn lửa vào đống cành con, anh nhặt miếng bim bim lên, cẩn thận giữ nó trên que diêm.

    Cô ngạc nhiên miếng bim bim bắt đầu bén lửa, ngọn lửa cuộn trong đường cong của miếng ngô giống như một đứa bé đang nhún nhảy.

    “Tôi sẽ bị nguyền rủa,” cô lẩm bẩm.

    “Hàm lượng dầu cao,” anh nói, trượt miếng bim bim xuống dưới đám cành cây con.

    Cô cúi xuống, say sưa ngắm nhìn miếng bim bim khi những cành nhỏ bén lửa và cuộn khói bốc lên.

    “Nó sẽ cháy trong bao lâu?”

    “Không biết được. Kéo dài vừa đủ. Đừng để lửa cháy quá to; đút củi đủ để nó duy trì cho tới lúc anh quay lại mang thêm.” Anh bước vào bóng tối.

    Ngọn lửa làm cô mê mải, thứ hơi ấm bắt đầu tắm khuôn mặt cô đúng thật là thiên đường. Cô quan sát miếng bim bim cho tới khi nó không còn và bị cám dỗ đốt một miếng khác, thay vì thế cô cẩn thận theo dõi một ngọn lửa nhỏ, để nó gần tắt trước khi đút một que củi nhỏ khác vào.

    Anh tích được một đống những cành củi và vỏ cây khô trông như quả núi nhỏ ở góc xa nơi trú ẩn trước khi ước chừng nó đủ. Rồi anh cắt những nhánh dẻo dai của các cây gần đấy, thả chúng xuống dưới mái đá, nhanh chóng xếp chúng thành một cái khung, dùng sợi dây dài buộc lại với nhau. Anh bắt đầu đan các nhánh còn lại vào và ra cái khung, chồng chéo, đan xen nhau. Khi làm xong, anh dựng một cạnh của khung tựa vào mép ngoài khoang trú, ấn một thanh củi xuống đất để chống đỡ cho cạnh kia. Anh làm một bức ngăn chắn phần lớn khoảng trống để giữ lại thật nhiều hơi ấm quý giá cũng như để tránh gió, anh thực hiện việc đó hơn nửa giờ một chút.

    Anh thờ phào nhẹ nhõm, đưa bàn tay chà xát khuôn mặt, cô nhận thấy anh mệt mỏi thế nào.

    “Ngồi xuống đi,” cô nói, chuyển lên tấm đệm, nhường chỗ cho anh. Cô đưa anh chai nước và túi đồ ăn nhanh. “Tôi còn có nho khô và thanh kẹo Payday nếu anh muốn ăn.”

    “Cả hai,” anh nói. “Chúng ta đã đốt khá nhiều calo hôm nay rồi.”

    Họ im lặng trong lúc ăn, quá mệt phải tập trung vào cử động nhai. Khi ăn nho khô, cô cảm nhận đường trong đó chạy đua xuyên dòng máu trong cơ thể như một đám lửa lan nhanh. Cô đặt vỏ hộp giấy bên cạnh đống lửa, sẽ đốt nó sau.

    Anh chú ý đến đôi giầy của cô, chuyển nó lại gần ngọn lửa, cũng làm vậy với đôi tất. Đó là lúc anh nhìn thấy chiếc quần nỉ thể thao. Anh đóng băng trong giây lát, rồi từ từ với tay kéo nó lại gần lửa hơn, sắp xếp sao cho phần ống quần bị ướt gần hơi nóng nhất. Anh phóng cái liếc thật nhanh về phía cô, rõ ràng thắc mắc liệu cô có mặc gì bên dưới tấm chăn.

    Mỉm cười, cô tách hai mép chăn lộ ra chiếc quần giữ nhiệt. Căng thẳng rời bỏ đôi vai, anh trao cô một nụ cười rầu rĩ. “Em làm anh đứng cả tim.”

    Sau khi ăn xong, chẳng có gì thú vị ngoài đi ngủ. Anh cởi bốt, đặt gần ngọn lửa. Chui vào chăn, duỗi dài cơ thể, chắn giữa cô và khoảng hở.

    Cate nằm xuống tấm đệm, kéo chăn đắp quanh mình.

    “Ta không phải canh chừng đêm này à?”

    “Không cần.” Giọng anh lơ mơ ngái ngủ.

    “Ta sẽ lần lượt dùng tấm đệm.”

    “Anh ở đây ổn mà. Anh từng ngủ trên nền đất nhiều đêm hơn anh còn nhớ.”

    Cô định phản đối, nhưng mí mắt quá nặng. Cô thở dài và ngủ.

    Cô thức dậy vài lần sau đó – một giờ, có lẽ vài giờ, run rẩy vì không khí lạnh len lỏi bên dưới mép chăn. Cô mở mắt, nhìn thấy Cal đang ngồi, đút vài que củi khác vào đống lửa, hiển nhiên cái lạnh cũng đã đánh thức anh. Ngọn lửa bùng lên sáng hơn khi que củi bén lửa và bắt đầu cháy, nhưng cô không thể khẳng định có chút khác biệt nào về hơi nóng.

    Đêm đã lạnh hơn nhiều. Cô cảm nhận được sự khác nhau giữa không khí bên ngoài và không khí luồn vào qua bức ngăn anh làm. Họ sẽ phải chịu đựng cái lạnh đến mức nào nếu bức ngăn không có ở đó? Cô co về một bên, kéo đầu gối lên cố gắng giữ lại hơi ấm của cơ thể. Anh liếc nhìn, thấy cô mở mắt.

    “Lạnh à?” anh hỏi, cô gật đầu. Anh thêm que củi khác để ngọn lửa cháy to hơn.

    Cô xem đồng hồ đeo tay nhưng trong ánh sáng chập chờn không thể đọc nổi. “Mấy giờ rồi nhỉ?”

    Anh hẳn đã kiểm tra đồng hồ vì anh trả lời luôn, “Mới quá nửa đêm.” Ít nhất, họ còn vài giờ nữa cho giấc ngủ.

    “Tuyết vẫn đang rơi à?” Cô khát, bèn ngồi dậy uống nhanh ngụm nước, rồi vội vàng rúc lại dưới chăn.

    “Ừ. Có ba đến bốn inch tuyết trên mặt đất.”

    Ba hay bốn inch chưa phải một lượng tuyết khổng lồ, nhưng trong nhiều trường hợp, nó giống như một trận bão tuyết. Họ đơn giản không được trang bị để đối mặt với tuyết; họ không mặc đủ ấm, cộng với lớp băng bên dưới khiến cho nhiệm vụ dù đơn giản nhất cũng thành nguy hiểm. Mà tuyết vẫn đang rơi.

    Anh nằm xuống, quay lưng về phía cô, cái cách họ đã ngủ trong tầng hầm, ngoại trừ lúc này họ không khum lấy nhau. Tất nhiên, tấm đệm hầu như không đủ rộng cho một người, nhưng vẫn có những tùy chọn khác.

    Cô cân nhắc những lựa chọn khác, tự hỏi liệu mình đã thực sự sẵn sàng tiếp nhận một bước nhảy như thế. Cô nhìn vào gáy anh, vào mái tóc sậm vàng bù xù, và câu trả lời thật đơn giản có. Vâng, cô sẽ rất hạnh phúc thức dậy mà nhìn thấy cái đầu đó trên gối bên cạnh mình trong suốt quãng đời còn lại. Cô muốn anh. Cô muốn khám phá những bí mật của anh, những thứ tạo nên con người anh, từng chi tiết phức tạp trong anh. Cô muốn làm tình với anh, cười với anh, chia sẻ cuộc sống của mình cùng anh. Dù anh có hứng thú với một góa phụ và hai đứa con nhỏ hay không, là điều cô phải tìm hiểu, nhưng ít nhất cô biết anh có hứng thú với cô ở mức độ cơ bản.

    “Cal,” cô thì thầm, giơ tay chạm vào lưng anh.

    Đó là tất cả. Anh xoay người, nhìn vào cô chăm chú, ánh mắt xanh xám như pha lê của anh tỉnh táo và kiên định. Thời gian trải dài giữa họ, một sự căng thẳng tế nhị kéo căng từng cơ bắp trong cô, thứ mà đang ồn ã với một nhu cầu thầm hỏi và được đáp lời.

    Anh tung chăn mình, cúi bên cạnh cô, luồn tay xuống dưới chăn cởi chiếc quần giữ nhiệt và quần lót của cô, đặt chúng lên trên đống dụng cụ. Sự trần trụi đột ngột khiến trái tim nổ sấm ầm ầm trong lồng ngực, cô khép chặt hai chân kìm lại hơi nóng và cảm xúc vì choáng váng. Bất ngờ cô cảm thấy quá khuấy động, cô sợ rằng mình sẽ tới ngay lần chạm đầu tiên của anh. Cô không muốn thế, cô muốn cảm nhận anh bên trong mình, cảm nhận sự ngọt ngào của những cơn cực khoái khó nhọc ngày càng gia tăng cho tới lúc cô không chịu đựng nổi mà vỡ òa.

    Quỳ bên cạnh cô, anh cởi quần, kéo nó xuống. Vật đàn ông nhô ra, vươn lên, những đường gân xanh nổi lên còn phần đầu tối lại vì ứ máu. Cô giơ tay túm lấy anh, nhưng anh bắt lấy tay cô, cử động cô nhìn thấy quá dứt khoát, chỉ như một vạch mờ.

    “Không.” Đôi mắt nheo lại khi anh nhấc chăn, di chuyển lên trên cô, hích đầu gối vào đôi chân đang khép chặt của cô mở nó ra rồi đẩy mình vào giữa. “Anh đã chờ rất lâu để được làm tình với em; anh không muốn tới trong tay em.”

    Cô hiểu, ồ, cô hiểu. Cô muốn thả lỏng nhưng không thể, toàn bộ cơ thể cô xoắn chặt và căng cứng. Đôi chân cô kẹp vòng quanh anh, kéo anh lại với mình. Hông cô nâng lên, tìm kiếm, nhưng góc độ chưa đúng và vật cương cứng của anh như một cây gậy cứng ngắc giữa hai người, cô đưa đẩy, thở hổn hển vì nhức nhối. Anh chiến đấu với vòng kìm kẹp của cô, đẩy mình ra xa đủ để giữ bàn tay mình giữa hai người trong lúc cô tuyệt vọng cố gắng kéo anh trở lại.

    “Chúa ơi,” anh nói giữa hàm răng nghiến chặt. “Cate – ôi lạy Chúa! Để anh – “ Anh kéo đầu dương vật vào đúng chỗ, đưa dần vào trong cô, rồi đẩy mạnh.

    Cô nghe thấy hơi thở mình đứt quãng, gần như nức nở. Nó đau. Cô ngạc nhiên sao nó đau nhiều thế. Cô đã ẩm ướt và bị khuấy động, nhưng hầu như khóa chặt bởi căng thẳng. Cô muốn khóc. Cô muốn gào thét. Cô muốn đẩy anh để thoát khỏi cái cảm giác bị kéo căng, nóng và đầy đặn này, cùng lúc cô lại muốn anh đẩy thật mạnh và nhanh cho tới khi cảm giác khủng khiếp này trôi đi, cô có thể thư giãn trở lại. Ngón tay cô đào sâu vào lưng anh, nhận thấy rằng cơ bắp anh cũng căng chặt như của chính mình.

    Anh hớp vào từng ngụm không khí, toàn bộ cơ thể run rẩy như thể đang ráng sức chống lại áp lực khó mà cưỡng lại. Cô quay đầu, nhìn thấy ngón tay anh chìm sâu trong lớp cành lá bên dưới tấm đệm, những múi cơ trên cẳng tay anh nổi lên, rung rung.

    Anh phát ra một âm thanh thô bạo, ấn trán mình lên trán cô. “Nếu anh di chuyển, anh sẽ tới.”

    Nếu anh không di chuyển, cô sẽ chết.

    Họ cố gắng dựa vào nhau, tuyệt vọng chiến đấu giành lấy quyền kiểm soát cơn ham muốn hoang dại đang kìm chặt họ. Cô rên rỉ, cảm giác như thể cô bị bắt vào một trận xoáy lốc, bị xé thành nhiều mảnh, cuốn cô ngày càng gần sự hủy hoại không thể chịu được. Cô khẽ thét lên, cơ bắp bên trong cô siết chặt quanh anh. Tầm nhìn của cô mờ đi, thế giới rời xa, và cô bắt đầu lên.

    Sự kiểm soát của anh bị phá vỡ, anh chống mình lên trên cô, toàn bộ cơ thể anh dâng lên, uốn cong, ấn mạnh, đẩy vào thật sâu, cô hét lên một lần nữa. Anh run rẩy bởi tác động của cơn cực khoái, run rẩy, chửi rủa và rên rỉ, những âm thanh đó như xé toạc lồng ngực anh.

    Từ từ, rất từ từ, anh đổ sụp lên trên cô.

    Cô bắt đầu nhận ra anh nặng đến khó tin, với một người trông gầy gò đến thế. Và anh nóng, hơi nóng cơ thể anh đang chống lại không khí lạnh lẽo đang len lỏi chen vào cái khoang bé nhỏ của họ. Cô vẫn bám chặt vào lưng anh, đành buộc bàn tay nới lỏng. Chúng trượt xuống dưới lưng anh, vuốt ve cặp mông trần mượt mà.

    Gò má cô ẩm ướt. Cô không biết tại sao mình khóc, thực sự không biết; cô thở hổn hển, cố gắng làm chậm nhịp tim phi mã của mình lại, nhưng những giọt nước cứ thế rỉ ra từ khóe mắt. Anh hôn chúng đi, rúc vào thái dương cô, hàm cô, cuối cùng dừng lại trên khuôn miệng. Cô cảm nhận sự dính nhớp của tinh dịch trào ra ngoài, nhưng anh không rút khỏi cô mặc dù cô biết anh đã mềm đi. Ở lại trong cô, để dành cho lần nữa.

    Lần thứ hai chậm hơn rất, rất nhiều. Cô tới lần nữa, mặc dù anh thật khó nhọc, anh không đạt đỉnh, anh dường như không quan tâm. Anh chỉ di chuyển trên cô như gợn gió trên mặt hồ, cưỡi cô đạt cực khoái lần thứ ba trước khi cô cầu xin anh dừng lại. Cô sẽ đau nhức, cô ngờ rằng anh cũng thế, nhưng cô vẫn ghét cái giây phút da thịt họ tách ra, cô phải cắn môi giữ lại tiếng kêu phản đối.

    Họ xoay sở lau sạch mình bằng ít nước đóng chai; rồi anh kéo quần lên, với một tiếng lầm bầm anh đổ xuống tấm đệm, kéo cô xuống nằm lên trên mình. Với hai cái chăn đắp, cùng chia sẻ hơi ấm, cô ấm hơn nhiều so với lúc trước nên nhanh chóng gà gật, thức dậy khi anh chuyển động bên dưới mình.

    Cô chạm vào mặt anh, yêu cảm giác bộ râu lởm chởm châm vào lòng bàn tay, và cũng yêu cái cách anh ấn nhẹ một nụ hôn vào đó trước khi uể oải nhắm lại mắt.

    “Anh ngừng đỏ mặt,” cô thì thầm, lần đầu ngón tay theo đường cong của bờ môi trên của anh. Chủ đề đó tự nhiên trở thành quan trọng. “Tại sao anh dừng đỏ mặt?”

    Anh mở mắt, nhìn chằm chằm điềm tĩnh vào cô. “Vì em bắt đầu.”

    Gần đây cô đã đỏ mặt khi ở cạnh anh; cô thấy bối rối bởi sự thay đổi đột ngột trong cảm xúc của mình đối với anh đến nỗi cô cảm thấy hoàn toàn bất ổn.

    “Khi em chuyển đến đây” anh tiếp, “anh biết em chưa sẵn sàng.” Giọng nói trầm mặc của anh bao bọc xung quanh cô như một sự động chạm. Tuyết bên ngoài đã lặng tiếng, tất cả âm thanh lúc này là tiếng tí tách nhỏ nhẹ của ngọn lửa và giọng nói của anh. “Em vẫn còn sốc bởi sự ra đi của chồng mình, quá đau buồn. Em đã dựng một bức tường xung quanh, không để bản thân nhận ra anh là một người đàn ông.”

    “Em có nhìn anh” cô phản đối. “Anh chỉ dường như quá nhút nhát—“

    Một nụ cười khẽ uốn cong vành môi anh. “Đúng. Cả thị trấn bàn luận về việc trông thấy anh đỏ mặt và lắp bắp như một đứa trẻ còn đi học khi em ở gần bất cứ chỗ nào.”

    “Nhưng đó là – Thực sự bắt đầu từ khi nào? Cách đây ba năm?” Cô ngạc nhiên. Không, cô sửng sốt, hoàn toàn bị sốc. Cô không thể hoàn toàn không biết tí gì, quá mù quáng về một điều mà ngay cả một đứa trẻ mười ba tuổi cũng nhận ra.

    “Từ lần đầu tiên anh nhìn thấy em.”

    “Sao anh không nói gì?” Cô phẫn nộ vì ai cũng biết, chỉ mình cô là hoàn toàn mù tịt.

    “Em chưa sẵn sàng,” anh nhắc lại. “Chỉ có hai người đàn ông mà em xưng hô là ‘ông’ (‘mister’) – Creed và anh. Nghĩ về nó xem.”

    Cô đâu cần phải nghĩ về chuyện đó. Sự thật hiển hiện như tấm biển quảng cáo trên đường quốc lộ. Họ là hai người đàn ông duy nhất thích hợp ở Trail Stop – Gordon Moon thì không tính – cô kiên quyết giữ một khoảng cách.

    “Khi em gọi anh bằng tên đầu, anh biết bức tường đã sụp đổ,” anh nói, nâng đầu lên để hôn cô.

    Mọi người đều biết.” Cô không thể tin nổi.

    “Không chỉ như thế - uh – anh cho rằng mình có lời thú tội khác. Nhà em không cần sửa chữa nhiều thế đâu. Họ phá hỏng nó, làm vài việc như là cắt một đường dây hay nới lỏng một phụ kiện đường ống nên em có một đường ống bị rò rỉ, chỉ để ném chúng ta vào nhau. Họ nghĩ rằng thật hài hước khi quan sát anh lúng túng nếu em nói chuyện với anh.”

    Cô nhìn anh chăm chú, cố gắng quyết định xem nên cười hay tức giận. “Nhưng – nhưng,” cô lắp bắp.

    “Anh chịu được.” Anh mỉm cười với cô. “Anh là một người kiên nhẫn. Và họ đang làm cái việc là đưa chúng ta lại với nhau. Họ không muốn mất một người đàn ông chăm chỉ.”

    Ra thế, giờ thì cô hoàn toàn ở giữa biển khơi. “Tại sao họ lại mất anh?”

    “Anh rời khỏi binh đoàn được một tháng khi tới Trail Stop. Anh đi tuần tra trên biển khắp mọi nơi, không chắc mình muốn làm gì nên anh tới thăm Creed. Ông ấy là sĩ quan chỉ huy của anh trong quân đội, bọn anh trở thành bạn bè. Ông ấy đã rời khỏi… à, cách đây tám năm, anh đoán thế, anh không gặp ông kể từ đó, nên anh đi tìm ông. Anh ở đây được vài tuần, sẵn sàng để rời đi thì em chuyển đến. Anh trông thấy em, anh ở lại. Đơn giản là vậy.”

    Chuyện đó có gì đơn giản chứ? “Em tưởng anh sống ở đây! Em nghĩ anh ở đây nhiều năm rồi!” Cô gần như rên rỉ, mặc dù cô không hiểu tại sao, có thể bởi vì cô cảm thấy mình như một con ngốc.

    “Không có. Anh ở đây lâu hơn em hai tuần.”

    Cô chăm chú nhìn xuống vào biểu hiện dịu dàng trong mắt anh, nhận thấy sự dẻo dai, trọn vẹn, sức mạnh kiên định của một người đàn ông trong anh, và cô muốn khóc. Cô mở miệng, định nói điều gì đó thật quan trọng và ý nghĩa, nhưng từ ngữ thoát ra lại khác.

    “Nhưng em có cái miệng như vịt ấy!”

    Anh chớp mắt, hoàn toàn thành thật, “Anh thích vịt mà.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 26/6/15
  3. hathao

    hathao Lớp 1

    Lại tiếp chương mới rồi. Cảm ơn HLK nhé.
     
    halucky thích bài này.
  4. halucky

    halucky Lớp 11

    Chuẩn bị kỉ niệm "4 tháng" truyện này. Thật kì cục. Mình chỉ định dịch truyện này trong hơn 2 tháng thôi. Giờ ngồi đếm lại đã hơn 3 tháng rồi. Tuy nhiều chương nhưng mỗi chương lại ngắn. Xin lỗi mọi người phải ngóng nhé,
     
    uyenki, ttha, NHTB and 6 others like this.
  5. vu thu giang

    vu thu giang Mầm non

    Thanks Halucky
     
    halucky thích bài này.
  6. hoahuynh2011

    hoahuynh2011 Lớp 1

    Cảm ơn halucky.
     
    halucky thích bài này.
  7. halucky

    halucky Lớp 11

    Chương 29 (halucky)


    HỌ NẰM ĐẤY BÊN NHAU mặt đối mặt, trò chuyện và hôn nhau, để cảm xúc thân mật mới khám phá ngự trị. Không có gì họ làm được cho Trail Stop, không nơi nào họ có thể đi. Tuyết vẫn đang rơi, nhưng ở đây, trong cái hốc trên mặt đất này, có ánh sáng, có hơi ấm và cảm giác đủ đầy. Họ không ngừng chạm vào nhau, mỗi người để cho niềm khao khát cháy bỏng dẫn dắt, hấp thụ càng nhiều càng tốt chi tiết của người kia. Những ngón tay dò hỏi của Cal tìm thấy một vết sẹo trên bụng dưới của cô, dừng lại, lần theo nó.

    “Cái gì thế?”

    Vài vết sẹo làm phiền cô, nhưng không phải cái đặc biệt này, bởi vì nó có nghĩa cô có được hai đứa con còn sống. Cate đặt tay mình lên tay anh, yêu cái sức mạnh gân guốc, dẻo dai mà lại chạm vào cô quá đỗi dịu dàng.

    “Vết mổ đẻ. Em mang thai bọn trẻ, đến lúc còn mười tám ngày nữa là đến kì sinh nở, mọi việc vẫn ổn, rồi em làm việc. Như bị tác động, đứa bé đầu tiên, Tucker, gặp rắc rối. Dây rốn của nó bị quấn. Vết mổ đã cứu sống nó.”

    Cal có vẻ hốt hoảng, mặc dù sự việc đã lùi vào quá khứ được bốn năm.

    “Nhưng nó không sao? Em ổn chứ?”

    “Vâng cho cả hai câu hỏi.” Cô cười khúc khích. “Anh biết Tucker gần cả cuộc đời nó rồi mà. Nó lớn nhanh như thổi từ ngày được sinh ra.”

    “Nó là thế,” Cal đồng ý, rồi bắt chước cái giọng cao lanh lảnh của Tucker: “Mimi nên trông con tốt hơn!”

    Cate cười vang. “Không phải một trong những khoảnh khắc đáng khen ngợi của nó, em thừa nhận. Em đã quá khiếp sợ vì Derek qua đời, sợ rằng mình không làm tốt công việc là nuôi nấng chúng, sợ không chu cấp được cho chúng. Kể từ khi những người hàng xóm tốt bụng của ta ‘giúp’ anh bằng cách phá hoại nhà em, em thực sự cân nhắc tới việc cắt giảm chi phí bằng cách đề nghị cho anh một phòng ăn ở miễn phí, đổi lại việc sửa chữa.”

    Anh cũng cười to, lắc lắc cái đầu. “Đó cũng là thỏa thuận anh có với Neenah. Ồ, không gồm thức ăn, thức ăn là một phần của lời mời đúng không?”

    “Đúng thế, giờ thì em biết sự thật.” Cô hôn anh, say sưa trong tự do có được để làm việc đó. “Dù thế nào anh cũng sửa miễn phí cho em đúng không?”

    “Còn tùy. Anh thích trao đổi hơn.” Anh di chuyển bàn tay xuống mông cô, ép nhẹ vào nó chỉ để cô biết một kiểu trao đổi mà anh ưa thích.

    Một điều tò mò lóe lên trong cô. “Chỉ là anh học tất cả công việc sửa chữa đó như nào? Anh mới rời khỏi Thủy quân thôi mà.”

    Anh nhún vai. “Anh có đôi bàn tay khéo léo, anh đoán thế. Anh đăng kí vào ngày sinh nhật thứ mười bảy – “

    “Mười bảy!” cô kinh ngạc. Mười bảy tuổi ... mười bảy tuổi chỉ là một đứa bé.

    “À, anh tốt nghiệp phổ thông khi anh mười sáu, mà chẳng có ai muốn thuê một đứa mười sáu tuổi làm toàn thời gian cả. Anh không muốn vào cao đẳng vì quá trẻ để ngồi ở đó. Chẳng có nơi nào phù hợp cho anh, ngoại trừ Thủy quân lục chiến. Anh nhận một bằng kĩ sư điện trong lúc còn tại ngũ, cộng với anh là một thạc sĩ chuyên ngành cơ khí, và, chết tiệt, là ai đó đóng được búa vào đinh, quét sơn lên tường. Có gì quá khó về việc đó đâu chứ? Giờ anh đang nghiên cứu làm cách nào tráng men lại cái bồn tắm cũ. Gì thế?”

    Anh không hiểu được, cô nghĩ. Anh thực sự không hiểu được. Cô hôn anh lần nữa. “Không có gì. Chỉ là anh là người đàn ông chăm chỉ nhất em từng gặp.”

    “Nó không giống các công việc phổ biến trong dân chúng ở Trail Stop, anh biết anh không bao giờ trông thấy em nếu anh ra ngoài làm việc ở đâu đó và quay về vào ban đêm. Bên cạnh đó, anh thích công việc làm chủ của chính mình.”

    Cô hiểu ý anh. Dù có căng thẳng, cùng lúc, việc sở hữu nhà nghỉ B&B, ngập sâu hay bơi trong những nỗ lực của chính mình, là một sự thỏa mãn thật đặc biệt.

    Anh ngẩng đầu lên, có một chút băn khoăn. “Có phiền em không, việc kết hôn với một người đàn ông chăm chỉ?”

    Kết hôn. Ra là nó, một từ to đùng, một chữ K to tướng. Cô gần như chưa để tâm trí làm quen với việc yêu anh, thì anh đã chuyển sang bước kế tiếp. Với anh, dù vậy, đây không phải một điều mới lạ; anh đã dành ba năm qua làm quen với ý tưởng.

    “Anh muốn cưới em ư?” cô rít lên.

    “Anh không đợi em ba năm chỉ vì tình dục,” anh nêu ra một thực tiễn đến ấn tượng. “Anh muốn tất cả mọi thứ. Em, cặp sinh đôi, kết hôn, ít nhất một đứa con chung, và ừ, tình dục.”


    “Không bỏ sót tình dục,” cô nói khẽ.

    “Không, thưa cô, em không thể.” Anh xác nhận điểm đó.

    “Ồ. Trong trường hợp này, đảo ngược trật tự, mặc dù, anh thực sự chưa hỏi câu hỏi thứ hai: có hay không.”

    “Câu trả lời cho câu hỏi anh không hỏi là có?”

    “Đúng thế. Vâng, em sẽ lấy anh.”

    Một nụ cười chậm rãi bắt đầu trong mắt anh, làm nhăn khóe mắt, lan sang miệng.

    “Cho câu hỏi đầu tiên, em sẽ lấy anh không quan trọng anh làm gì, vậy em đoán câu trả lời cho câu đó là không.”

    “Anh không kiếm được nhiều tiền—“

    “Em cũng thế.”

    “—nhưng nếu em thêm vào tiền trợ cấp của quân đội, anh khá ổn.”

    “Cộng với Neenah sẽ phải bắt đầu chi trả cho mọi sửa chữa của bà, một khi anh chuyển tới B&B.”

    “Tuy nhiên, anh sẽ phải sửa lại trần nhà cho bà miễn phí, vì anh là kẻ đã đục một lỗ trên đó mà.”

    “Đó là việc duy nhất đấy.”

    Tâm trạng vui vẻ của họ nhạt dần sau đó, khi họ được nhắc nhở về hoàn cảnh họ bỏ lại phía sau, về những người đã chết. Cô rúc vào gần anh hơn, đột nhiên cảm thấy lạnh, cần thứ gì đó để neo bám vào.

    “Thật vô cảm, việc mấy gã đàn ông làm.”

    “Ừ. Không có gì về việc đó là hợp lý. Em đã đưa chúng đồ dùng của Layton, chúng có thứ chúng muốn, chẳng có lí do gì—“

    Anh dừng lại, cau mày, cô thấy anh đăm chiêu. Sau đó một phút đến lượt cô nói, “Gì vậy?”

    “Em đã đưa gã một va li,” anh nói chậm rãi, “nhưng anh mang hai cái lên gác.”

    “Chiếc va li là tất cả Layton xách vào –“ Giờ thì cô dừng lại, nhìn anh chằm chằm với nỗi sợ hãi bắt đầu lộ rõ. “Dụng cụ cạo râu! Em không thể nhét nó vào va li vì đôi giầy. Em quên mất nó.”

    “Anh sẽ thắc mắc nếu không có đồ cạo râu nào trong va li. Nên bất kể chúng muốn thứ gì, chúng hẳn nghĩ em vẫn còn giữ nó.”

    Tất cả mẩu ghép rơi vào đúng chỗ, mọi thứ đột nhiên có ý nghĩa. Nước mắt cay xè, lăn xuống gò má cô. Bảy người đã chết vì cô quên không đưa Mellor cái túi đồ cạo râu chó chết. Cô vừa tức giận vừa bị tàn phá, nếu gã bận tâm nhấc điện thoại gọi đến, cô sẽ gửi cho gã cái thứ khỉ gió đó mà. Chết tiệt, cô sẽ gửi chuyển phát nhanh!

    Một ánh nhìn quả quyết, lạnh lẽo xâm nhập đôi mắt Cal. Họ thức nằm đó nói chuyện thêm một giờ nữa, anh trình bày kế hoạch của mình. Cate không thích nó; cô tranh luận, cầu xin rằng họ quay về cùng nhau, nhưng lần này anh không hề lay chuyển. Anh ôm cô, hôn cô, nhưng anh không thay đổi suy nghĩ.

    “Lúc này anh có góc bắn vào chúng tốt hơn rồi,” anh nói. “Em từng lo lắng anh phải lội xuống nước; giờ thì anh không phải. À, không tính việc lội qua suối. Anh không phải ngâm mình trong nó.”

    Biểu hiện một chút cách biệt vẫn còn lại trong mắt anh, cô biết anh đang nhẩm tính chi tiết công việc, cân nhắc lợi thế, triển khai chiến lược.

    Cuối cùng, kiệt sức, cô thiếp đi, và tỉnh dậy lúc rạng đông để Cal làm tình với mình. Anh yêu cô thật lâu và cẩn thận, nén lại như thể anh không chịu được để khoảnh khắc đó kết thúc. Cô đau, nhưng nếu niềm khoái lạc có hòa lẫn cảm giác khó chịu, cô sẽ không bận tâm. Sợ rằng cô có thể mất anh ngay sau khi vừa tìm được, cô ôm anh thật chặt và cầu nguyện.


    Cách đấy hơn một nghìn năm trăm dặm, Jeffrey Layton đứng cạnh bồn rửa mặt trong một phòng trọ ọp ẹp ở Chicago, cạo râu bằng dao cạo dùng một lần. Gã đang trong tâm trạng kinh khủng. Chuyện này sẽ diễn ra. Gã chắc chắn nó sẽ trơn tru. Nhưng giờ là ngày thứ mười một, một phần nghìn số tiền gã yêu cầu từ Bandini vẫn chưa xuất hiện trong tài khoản.

    đã nói với Bandini cho hắn mười bốn ngày để chuyển số tiền, nhưng Layton chưa từng có ý định ngồi chờ lâu như thế. Gã biết Bandini sẽ làm mọi việc săn lùng cho ra gã, và gã cũng không có ý đợi ân huệ của Bandini. Trước khi hắn khởi động câu chuyện này, gã đã quyết định mười ngày là phải có. Nếu gã không nhận được tiền trong vòng mười ngày, gã sẽ không bao giờ có được.

    Được rồi. Gã sẽ không nhận được tiền.

    Gã cố tình để lại một dấu vết ở Podunk, Idaho (Podunk: ý chỉ một thị trấn nhỏ trầm lặng, thiếu tiếp xúc với tiến bộ bên ngoài) tính toán mất bao lâu ai đó lần ra thẻ tín dụng gã chi trả ở đó. Ý định của gã luôn luôn là lái xe trở lại Chicago, ẩn náu giữa khung cảnh đồng bằng, trong một thành phố mà Bandini sẽ không bao giờ ngờ tới là tìm ra gã, một cách ẩn giấu tuyệt vời ngay trước mũi hắn. Gã vẫn không rõ liệu cái kẻ không phải người địa phương mà gã nghe thấy trong phòng ăn nhà nghỉ B&B có phải người Bandini thuê hay không, nhưng đó không phải một rủi ro mà gã chuẩn bị để đối phó. Trọng âm hoàn toàn khác nhau, điều đó là chắc chắn, với kiểu chân thành giả tạo mà gã có thể khẳng định rằng dân địa phương cũng xem thường. Thay vì có nguy cơ bị nhìn thấy, hay cảnh báo tên kia bằng cách mở và đóng cửa trước, Layton quyết định để lại B&B vài đồ dùng giá rẻ mình đã mua, trèo qua cửa sổ với ổ di động trong túi, cuốn xéo ngay khi còn có thể.

    Gã tháo biển số Idaho thay bằng biển Wyoming; rồi, khi về tới Illinois, gã lái xe lòng vòng cho tới lúc nhìn thấy một chiếc có bề ngoài tương tự chiếc xe thuê mà gã đang lái, thay biển Wyoming bằng một trong những biển đến từ Illinois.

    Gã trả cho căn phòng nghèo nàn này bằng tiền mặt, dùng tên giả, chỉ lái xe tới cửa hàng mua hamburger hoặc chọn dịch vụ chuyển đồ ăn Trung Quốc đến tận nơi, hàng ngày gã kiểm tra tài khoản qua chiếc BlackBerry.

    Chẳng có chuyện gì xảy ra. Ngày thứ mười đã là hôm qua. Đến lúc gã phải tới gặp FBI rồi, nhưng gã quyết định chờ cho trọn ngày. Hôm nay gã sẽ dạy Salazar Bandini phải chú trọng hơn khi Jeffrey Layton kể ra vài điều về hắn.

    Đừng bao giờ tiết kiệm chi trả cho người làm ra quyển sổ.

    Gã đã có toàn bộ câu chuyện, điều gã có thể kể cho FBI. Khi tìm được những tệp dữ liệu ẩn gã đã sửng sốt, đặc biệt khi nhìn thấy những cái tên trong đó. Gã tải tệp dữ liệu về ổ di động, nhưng bị Bandini phát hiện, kể từ đó Layton bắt đầu chui lủi. Cuối cùng, gã cắt được cái đuôi là tay chân của Bandini, gã chắc chắn FBI sẽ rất hứng thú với những gì ghi trên ổ đĩa. Họ có lẽ sẽ thắc mắc tại sao gã không đơn giản là nhấc điện thoại yêu cầu chuyện này, nhưng gã đã có câu trả lời cho điều đó: gã nghe ngóng rằng Bandini có một nguồn tin trong FBI, và gã không chắc chắn ai đó nhận được cuộc gọi của gã lại không phải cái nguồn tin kia. Gã thực sự nghe thấy thế, nên gã đang nằm chờ. Gã đã tính toán rằng nếu gã chuyển ổ di động vào vài két an toàn cá nhân sẽ ngăn chặn được chứng cứ - và bản thân gã – khỏi biến mất.

    Dù thế nào không phải rằng gã không lên kế hoạch biến mất. Họ có khả năng hình dung ra Bandini đã tóm được gã. Gã không quan tâm, không quan tâm ngay cả nếu họ muốn gã cung cấp lời khai hay điều gì tương tự thế. Việc họ làm với những thông tin ghi trên ổ đĩa là đủ; Layton đoán họ có thể xoay sở ra một tội danh ngay cả không có lời khai của gã.

    Không phải vấn đề của gã.

    Gã rất thích biến thành con ruồi đậu trên bờ tường theo dõi Bandini bị hạ bệ, nhưng gã còn phải bảo vệ mạng sống của bản thân. Gã đã lựa được một chỗ cho mình. Gã đã tạo cho mình một nhân dạng mới. Cuộc sống sẽ ổn thôi – không tốt bằng nếu Bandini chuyển tiền cho gã, nhưng đủ tốt.

    Sau khi cạo râu xong, gã mặc vào bộ vest, lựa chọn chính xác cho một công việc bình thường, một kẻ chẳng có chút giá trị mà họ dự kiến.

    Bộ đồ còn tốt nhưng không đắt tiền. Có thẩm mĩ nhưng không phong cách. Bộ vest này cho phép gã trà trộn, gần như trở thành vô hình. Gã ghét nó.

    Đúng mười giờ gã trả phòng trọ, lái xe tới văn phòng FBI địa phương ở Dearborn. Gã nên sáng ý hơn; nên bắt taxi để không phải tìm nơi đậu xe. Gã ghét tìm bãi đậu: đúng là việc làm phí thời giờ. Gã lái lòng vòng vài phút, tìm kiếm, bỏ qua vài lô với biển thông báo “open” vì chúng xa hơn ý muốn của gã. Gã không muốn đậu xe quá xa để phải đi bộ khiến gã chảy mồ hôi, đó không phải ấn tượng gã muốn tạo cho mình. Chờ đã, có lẽ được. Có lẽ mồ hôi là ý tưởng hay. Có lẽ nó khiến hắn trông có vẻ lo lắng.

    Đúng. Đó là ý tưởng hay. Với suy nghĩ đó, gã tìm cơ hội đậu xe tiếp theo hiện ra.

    Gã có hai tòa nhà phải đi bộ qua để tới Dirksen Building, nơi FBI đặt trụ sở. Bầu không khí tháng Chín ấm áp, ẩm ướt khiến mồ hôi toát ra ngay lập tức. Gã phải bước qua cửa an ninh, rồi quầy lễ tân kiểm tra lại. Đến lúc tới được nơi gã muốn, là gặp ít nhất hai đặc vụ thuộc bộ phận chống gian lận tài chính hoặc bất cứ là gì họ gọi, gã gần như ngừng toát mồ hôi, gã thấy bực mình. Tất cả mọi cố gắng đều đi tong.

    Gã lấy ổ di động ra khỏi túi, giơ lên cho họ thấy là gì, rồi đẩy nó về phía đặc vụ gần nhất. “Sổ sách bí mật của Salazar Bandini,” gã nói cộc cằn. “Thưởng thức đi.”

    Bảy inch tuyết trên mặt đất, nhưng thời tiết quang đãng hơn và không khí trong như pha lê. Về phía bên phải họ nhìn thấy được những ngọn núi xa xa và một phần hình dáng trùng đế giày của Trail Stop. Phạm vi có tuyết chạy dài xuống phía dưới khoảng một nghìn feet; dưới thung lũng chưa có tuyết rơi.

    Cate từ bỏ nỗ lực thuyết phục Cal quay trở về cùng mình. Lời giải thích của anh là hợp lý. Tuyết và băng đã thay đổi mọi chuyện. Chặng đường họ dự kiến mất bốn ngày sẽ kéo dài ít nhất sáu ngày, và đó là nếu họ không gặp rắc rối dọc đường đi. Họ không thể đi theo lộ trình nào vì băng đá. Băng có thể hoặc không thể tan; họ không biết dự báo thời tiết. Nếu thời tiết ấm lên, băng và tuyết tan, nó sẽ gây ra sự cố khác.

    Họ mang đủ thức ăn và nước uống chỉ cho bốn ngày và hai người, mà một ngày rưỡi đã trôi qua. Nếu tiếp tục, họ sẽ hết thức ăn trước khi tới được nhà gỗ của Creed hai ngày.

    Thiếu quần áo phù hợp cũng là một vấn đề. Họ đã mạo hiểm, chỉ mang theo một lượng tối thiểu, vì đồ dùng mang theo sẽ cản trở việc leo trèo. Không có cách nào để họ tiếp tục.

    Cate đồng ý với tất cả lập luận đó. Là giải pháp của Cal khiến cô lo lắng.

    Anh tống cô quay về một mình. Quay về sẽ nhanh hơn nhiều lúc leo lên, vì cô có thể dùng dây tụt xuống các tảng đá. Cô dễ dàng về tới Trail Stop trong vài giờ.

    Anh sẽ tìm kiếm mấy gã đàn ông cùng khẩu súng trường.

    Cô chỉ ra rằng anh phải vượt qua nhiều vùng đất gồ ghề, phải ở ngoài trời tuyết mà không có quần áo ấm, những tình huống nguy hiểm khác vẫn tồn tại. Ở một vài vị trí, anh phải lội qua suối, sẽ bị ướt và ngấm lạnh; tất cả sự phản đối ban đầu của cô vẫn còn đó.

    Anh không đồng ý. Anh nói rằng anh biết Mellor sẽ bất chấp tất cả, để lấy lại được thứ gã nghĩ Cate giữ, gã sẽ làm mọi việc dù khác người. Nếu Mellor sẵn sàng đi cả chặng đường dài tới tít tận vùng đất này, họ phải thừa nhận rằng không có gì cản được gã, và gã chắc chắn không ngồi chờ lâu. Gã không đủ khả năng ngồi chờ lâu, vì bao vây toàn bộ một cộng đồng, tấn công mọi người là một việc làm không chín chắn; gã không thể kiểm soát may rủi hay can thiệp từ bên ngoài. Marbury có thể quay lại hỏi thêm vài câu. Một đội sửa chữa từ công ty điện lực có khả năng xuất hiện. Bất cứ chuyện gì đều có thể xảy ra.

    Cho đến lúc này Mellor có lẽ đã đưa ra đòi hỏi. Nếu thứ gã muốn không sẵn sàng, không lý do gì để gã phải kiên nhẫn. Gã có thể phóng đạn lửa vào các ngôi nhà, đốt chúng. Mellor có khả năng làm việc này. Mellor có thể làm thế lắm. Cate lấy làm ngạc nhiên Cal có cả một bách khoa toàn thư về bạo lực và phá hủy trong đầu. Điểm mấu chốt là anh cho rằng chỉ còn lại ít thời gian trước khi tình huống bùng nổ, nhiều bạn bè nữa của họ bị giết.

    Cô không thể chạm vào anh. Anh đã dựng lên vài rào chắn tinh thần kiên cố bên trong; tập trung vào việc cần làm. Cuối cùng cô tuyệt vọng ngồi im lặng, quan sát anh tạo ra đôi giày tuyết xù xì, giúp họ di chuyển nhanh trên tuyết mà vẫn giữ được giầy của họ khô ráo.

    Giầy thể thao của cô chưa khô hẳn, da giầy cứng lại vì đặt quá gần lửa, anh lấy túi ni lông đựng khẩu phần ăn điểm tâm của họ đút chân cô vào trước khi xỏ giầy. Cái túi cứ lùng bùng dưới chân, anh phải cắt bỏ khóa kéo để nó khỏi cọ xát vào gót chân cô, nhưng ni lông sẽ ngăn nước thấm qua tất. Đôi giầy tuyết sẽ giữ chân cô chỉ ngập sâu trong tuyết đến đỉnh mũi giầy, điều đó sẽ giúp chân cô không nhanh chóng bị ướt trở lại.

    Anh bắt chéo chân ngồi trên đệm, đăm chiêu như đang suy tính. Anh sẽ chặt vài cây con kích cỡ bằng ngón tay cái, cắt tỉa nó nhờ con dao to đa chức năng của mình. Anh cắt vài đoạn ngắn hơn, tiện khấc mỗi đầu cũng như cắt một đoạn dây dài hai foot. Rồi anh rũ sợi dây ra, chia nó thành từng tao nhỏ riêng lẻ.

    Tiếp theo anh uốn thân cây con thành hình chữ U, kéo hai đầu lại gần nhau, buộc lại chắc chắn bằng mẩu dây nhỏ. Các thanh được tiện khấc vừa vặn bên trong lòng chữ U tạo thành giằng ngang chống đỡ và mỗi đầu tì vào cây con. Kết quả giầy đi tuyết thô sơ nhưng bền chắc. Anh cắt thêm dây, buộc giầy đi tuyết vào bàn chân phải cho cô. Trong khoảng vài phút anh hình thành tiếp chiếc giầy đi tuyết bên trái, để cô đi lại thử nghiệm.

    Cô chưa từng đi giầy tuyết trước đây, cô nhanh chóng phát hiện ra rằng có một dáng đi bình thường là điều không thể. Bạn không dùng giầy tuyết cho đi bộ, bạn sẽ có cái dáng lạch bạch và lê la từng bước, vì bạn vừa phải giữ cẳng chân mình duỗi thẳng như những vận động viên trượt tuyết băng đồng, vừa phải nâng cao đầu gối để mũi giầy không lún sâu trong tuyết.

    Thế mà, đôi giầy tùy cơ ứng biến này đã phát huy tác dụng. Cô nổi trên lớp tuyết thay vì chìm sâu trong nó.

    Vụng về, cô lê bước trở lại nơi trú ẩn Cal đang thao tác với đôi giầy của mình. Nheo mắt, anh nghiên cứu đôi giầy của cô để chắc chắn những nút buộc còn giữ được.

    “Khi em ra khỏi vùng có tuyết,” anh hướng dẫn, “chỉ cần cắt các sợi dây. Em có con dao phải không?”

    “Trong túi em.”

    “Quay về nhà Richardson chính xác lối chúng ta đã đi. Tuyến đường em đi sẽ được an toàn. Kể ngay với Creed điều chúng ta khám phá; ông ấy cần biết vì tình huống có thể thay đổi bất cứ lúc nào.”

    “Em sẽ.”

    Cô cảm thấy ớn lạnh vì lo sợ cũng nhiều như vì thời tiết, cô cẩn thận thêm một que củi khác vào ngọn lửa nhỏ. Cô không lo lắng cho bản thân, ngay cả cô sẽ trở về một mình, tụt dây xuống vách đá một mình. Một trăm thứ có thể xảy ra với cô, tất cả những sự cố đó có khả năng trở thành tai nạn. Cal cố tình đẩy mình vào một tình huống nơi có kẻ tích cực cố gắng giết anh. Cô chưa từng quá lo sợ trong đời, cô không thể bảo vệ anh nhiều hơn cô từng bảo bệ Derek khỏi vi khuẩn tấn công.

    Nếu có chuyện xảy ra với Cal, cô sẽ bị phá hủy mà không thốt được thành lời. Cô không thể trải qua chuyện đó một lần nữa, không thể mất người đàn ông cô yêu. Một phần trong cô sẽ chết, khả năng tiếp nhận tình yêu của sẽ thui chột mãi mãi. Không có người mới nào bước được vào trái tim cô. Cô biết điều đó, nhưng cô không kể về nó, không đặt hành trình tội lỗi đó lên anh. Anh là một anh hùng, cô đau đớn nghĩ, một anh hùng thực sự, mạo hiểm cả mạng sống của mình để bảo vệ thế giới. À, không phải toàn bộ thế giới, nhưng những người mà anh quan tâm tới. Đó chẳng phải may mắn của cô sao? Sao cô không phải lòng một giáo viên dạy toán hay đại loại thế?

    “Này,” anh nói nhẹ nhàng, khi cô ngước lên, giật mình, cô nhận ra rằng anh đang quan sát mình với một biểu hiện quá dịu dàng khiến cô gần như vỡ òa thành nhiều mảnh. “Anh biết mình đang làm gì còn chúng thì không. Chúng là những tay súng cừ, có lẽ những tay săn bắn khá, nhưng anh còn giỏi hơn. Hỏi Creed thì biết. Anh sẽ ổn mà. Anh hứa với em – anh hứa – chúng ta sẽ làm đám cưới, thêm đứa con nữa mà ta đã nói chuyện, và thật nhiều năm sống bên nhau. Đặt nhiều niềm tin ở anh giống như anh có ở em.”

    Cô xoay sở nhìn chòng chọc vào anh qua làn nước mắt đang làm mờ tầm nhìn. “Em không tin được là anh quá không trung thực khi anh tranh luận, không nói cho em.”

    “Anh không tranh luận,” anh nói.

    “Đúng thế mà”

    Từ từ, anh dập tắt lửa bằng cách vốc từng vốc tuyết bỏ vào, rồi tán tro ra. Cô khóc lần nữa, nhìn theo những hòn than lụi dần. Anh để lại phần lớn dụng cụ leo núi của mình để di chuyển nhanh hơn. Anh mang theo cuộn dây và cuốc chim. Cô được an ủi một chút bởi khẩu tự động và bao da mà anh đeo vào thắt lưng với con dao nhét ở trong. Anh đút ít thức ăn vào túi, cầm thêm một chai nước. Rồi anh dùng con dao, khoét một lỗ giữa chăn, trượt nó qua đầu mình.

    Anh cắt vài dải vải từ mép chăn, ra hiệu cho cô bước lại gần. Nhẹ nhàng anh nắm bàn tay cô, cuốn dải vải quanh chúng tạo thành chiếc găng tay tạm thời. Rồi anh chặt hai cành cây khỏe mạnh cho cô dùng làm gậy đi bộ, giữ cô thăng bằng trên đôi giầy tuyết. Cho tới khi nắm chặt chiếc gậy, cô không nhận ra mình cần bảo vệ đôi tay thế nào.

    “Anh yêu em,” anh nói, cúi xuống hôn cô. Môi anh lạnh và mềm mại, gò má lởm chởm râu thô ráp. “Giờ đi đi.”

    “Em cũng yêu anh,” cô trả lời, rồi bước đi. Cô buộc bản thân rời xa anh, cô chỉ bước được khoảng năm mươi yard khi dừng lại, ngoái đầu nhìn.

    Anh đã mất hút.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
    thanhbt, huonggiang, vanphi and 17 others like this.
  8. meocontb

    meocontb Lớp 2

    Cảm ơn @halucky , sắp đến hồi kết rồi.
     
    halucky thích bài này.
  9. vu thu giang

    vu thu giang Mầm non

    Cảm ơn bạn. Cố lên!
     
    halucky thích bài này.
  10. hathao

    hathao Lớp 1

    Hay quá. Cảm ơn HLK.
     
    Breeze and halucky like this.
  11. Carrot7411

    Carrot7411 Mầm non

    Hay quá. Cảm ơn bạn đã dịch và cho mọi người đọc.
     
    Breeze and halucky like this.
  12. halucky

    halucky Lớp 11

    Chương 30 (halucky)

    MỘT KHI AN TOÀN RA KHỎI nơi trú ẩn đã ở với Cate, Cal dùng gậy đi bộ tự tạo chống xuống đất, đẩy mình về phía trước như thể đang trượt trên ván, lợi dụng từng chút tốc độ một. Anh không cuốc bộ hàng dặm dài địa hình đồi núi, lãng phí thời giờ; anh xoay sở lao thẳng xuống, không bị lộn vòng và cuối cùng tiếp đất mà không đập đầu vào đá. Anh muốn xuống tới thung lũng trong lúc còn vài giờ chiếu sáng.

    Anh dùng ống ngắm cảm biến nhiệt. Nó nặng, ban ngày hình ảnh bị mờ, không rõ. Anh đánh cược sinh mạng mình – anh đang đánh cược sinh mạng mình – những gã kia đã đặt ống ngắm cảm biến nhiệt sang bên giữa ánh sáng ban ngày, dùng ống ngắm và ống nhòm thông thường thay vào đó để theo dõi. Đó là thứ anh sẽ dùng trong trường hợp này, nơi chúng đang phải đối phó với những con người bình thường, hầu hết ở lứa tuổi trung niên, những người thỉnh thoảng có đi săn, nhưng phần lớn là làm việc trên cánh đồng hay trong những cửa hàng. Đấu lại những người như thế, cách thức giám sát thông thường đã là đủ tốt.

    Nhưng chúng không biết về anh. Anh không phải người bình thường, chẳng có cách nào chúng phát hiện ra anh bằng cặp ống nhòm, thứ mà nhãn quan thu hẹp hơn nhiều so với một ống ngắm phóng đại. Anh không ngồi đợi màn đêm buông xuống. (He wasn’t waiting for the cover of night). Đến lúc hoàng hôn, chúng xoay sang ống ngắm cảm biến nhiệt, anh đã ở sân trước của chúng rồi, thực tế là ngay dưới mũi chúng, chúng không biết chuyện gì cho tới khi là quá muộn.

    Cate là mục tiêu của chúng – Cate. Anh không quan tâm mục tiêu của chúng là gì, thứ gì chúng muốn; cho đến khi anh bị dính líu, chúng đã kí bản án tử hình cho chính mình.

    Cate về đến thung lũng giữa trưa đó, cơ bắp run rẩy vì mệt mỏi. Cái dáng đi bất thường vì đôi giầy tuyết khiến cho cơ đùi đau nhức, run run. Ở lượt tụt dây xuống cô buộc phải làm lần đầu tiên, cô vẫn ở trong phạm vi có tuyết, cô đành để mặc đôi giầy tuyết khó chịu, điều đó tạo nên một trải nghiệm thú vị. Dù thế nào, cô không ưa thích tụt dây xuống và chưa từng làm nó một mình. Nếu quan sát bình thường, tụt dây có vẻ dễ dàng nhưng không hề vậy. Nó đòi hỏi phải được diễn tập, làm quen, nếu cô trượt đi, nếu cô thao tác sai, cô có thể bị thương tật thậm chí mất mạng. Cánh tay và bả vai cô đau nhức vì không quen leo trèo.

    Khi cuối cùng cũng thoát khỏi tuyết, cô cắt dây buộc đôi giầy tuyết – ngay lập tức rơi xuống, lộn nhào vài vòng, đập mạnh đầu gối phải vào một hòn đá lớn. “Mẹ nhà…” nó! Chửi thề giữa hai hàm răng nghiến chặt, cô ngồi dậy trên mặt đất ẩm ướt, đung đưa qua lại giữ lấy đầu gối chấn thương, tự hỏi mình có khả năng tiếp tục đi bộ. Nếu không thể, thì cô quá kém.

    Khi cơn đau từ quằn quại giảm xuống đơn thuần chỉ còn nhức nhối, cô cố gắng kéo ống quần nỉ thể thao và quần giữ nhiệt lên để xem xét đầu gối, nhưng quần giữ nhiệt quá chặt. Cô gượng đứng dậy, đầu gối khuỵu xuống giữa nỗ lực đầu tiên. Oh, khỉ thật. Cô còn phải đi bộ. Khớp chân nên ủng hộ cô, cô còn lượt tụt dây khác phải thực hiện, dài hơn chặng đầu.

    Cô nắm chặt gậy đi bộ, chống nó xuống đất dùng nó làm đòn bẩy đu đưa cô lại gần một thân cây còi cọc. Tóm được một cành dưới thấp, cô kéo bản thân đứng lại tại chỗ, lắc lư khoảng một phút, giữ chặt lấy cành cây vì mạng sống thân thương, từ từ dồn trọng lượng lên đầu gối. Có đau, nhưng không đến nỗi tệ như cô lo sợ.

    Cách duy nhất để kiểm tra đầu gối là kéo ống quần lên, nên cô làm. Da bị xước xát, một khối u bắt đầu sưng to và thẫm lại ngay dưới xương bánh chè. Ít nhất, không phải chính xương bánh chè.

    Một cái khăn bọc băng đá buộc vào chân sẽ dễ chịu ngay lúc này. Cô quay lại, ngước lên nhìn tuyết và lắc đầu. Không ngay cả đắp một khối tuyết lên đầu gối sung sướng cỡ nào, cô không thể leo trở lại độ dốc đó.

    Bám vào cây giữ thăng bằng, cô bước một bước thăm dò. Lại đau, nhưng khớp chân chịu được và cảm giác có thể di chuyển. Chấn thương không gì hơn là một vết bầm dập, dây chằng không bị đứt. Khi đặt được toàn bộ trọng lượng lên cẳng chân, cô tiếp tục xuống dốc, chửi thề theo từng bước vì dù sao đi xuống dốc vẫn là quá sức với đầu gối.

    Lượt tụt dây cuối cùng, chặng dài nhất, đúng là cơn ác mộng. Cô phải chống cả hai chân để giữ hoặc trượt sang ngang đập vào vách đá. Đầu gối phải của cô không muốn chống vào thứ gì, không chấp nhận bất kỳ va chạm nào. Nó đã sưng phồng, hầu như không thể uốn cong. Khi cuối cùng xuống dưới chân núi, cô đã tắm trong mồ hôi.

    Không khí dưới thung lũng mát mẻ, thật mừng là vậy. Cô ngước nhìn những đỉnh núi cao chót vót xung quanh, vào cái mũ trắng chúng đang đội, bụi kéo xuống nửa đường sườn dốc gồ ghề. Nơi đó cô đã ở, tất cả lối đi đều hướng lên đó.

    Cal vẫn còn ở trên đấy, nhưng anh sẽ nhanh chóng đi về phía tây, hướng tới rãnh cắt. Cô gửi đi một lời cầu nguyện ngắn gọn nhưng tha thiết mong cho đôi cánh an toàn nâng đỡ anh, rồi quay lại bắt đầu lê những bước dài quanh mũi đất tới nơi cô và Cal đã trèo xuống dựng đứng. Cô nhớ rằng chân vách đá chẳng có gì ngoài những hòn đá lổn nhổn, cô gần như bật khóc. Cô không thể trông mong đứng trên đầu gối đau, cũng chắc chắn không thể bò qua các hòn đá vì cô không chịu được dồn trọng lượng lên một phần đầu gối sưng phồng. Cách duy nhất cô có thể điều đình là ngồi xuống, trượt từ hòn đá này đến hòn đá khác. Ồ, vui vẻ đi.

    Cô không phải làm thế, ít nhất không phải toàn bộ chuyến đi. Trong hai ngày rưỡi cô rời khỏi, người dân thị trấn đã tổ chức canh chừng để họ không bị bất ngờ. Roland Gettys phát hiện ra cô, trèo xuống vách đá giúp đỡ. Vượt qua những hòn đá, leo lên đỉnh vách đá mất nhiều thời gian và nỗ lực đáng kể hơn cô mong đợi – miễn sao cô thoát khỏi ngọn núi.

    Roland đưa cô tới nhà Richardson vì đó là ngôi nhà gần nhất. Anh ta để cô lại cửa ra vào nhà họ rồi vội vã quay trở lại vị trí canh gác. Trước sự ngạc nhiên của Cate, tầng hầm gần như trống rỗng, ít nhất so với đám đông có mặt lúc cô và Cal rời đi. Gena và Angelina còn ở lại, Gena chưa thể đi bộ trên mắt cá chân bong gân; cô đi cà nhắc. Creed và Neenah ở đó – lý do tương tự - cùng Perry và Maureen. Ai đó căng dây ngang hầm, treo những tấm chăn lên tạo thành từng ô nhỏ kín đáo.

    Creed trao cho cô một cái nhìn sắc lẻm khi cô lảo đảo bước vào một mình.

    “Cal đâu rồi?”

    “Anh ấy đi theo chúng,” cô hổn hển, lún xuống cái ghế mà Maureen nhanh chóng đẩy về phía cô. “Anh ấy đang cố - Anh ấy nói chúng sẽ không tìm ra anh từ hướng đó.”

    “Cháu muốn chút nước không?” Maureen hỏi đầy quan tâm. “Hay gì đó để ăn?”

    “Nước,” Cate trả lời. “Làm ơn.”

    “Chuyện gì xảy ra thế?” Creed hỏi, giọng cứng rắn. “Điều gì thay đổi?”

    “Joshua,” là Neenah, quở trách nhẹ nhàng.

    “Không sao,” Cate nói. “Cal nhớ ra… Anh ấy cất đồ lên gác mái giúp cháu – Đồ của Layton. Đó là một túi đựng đồ cạo râu. Khi những gã này – Mellor – khi Mellor nói gã muốn cái va li, cháu túm lấy cái va li và đưa gã, cháu không hề nghĩ tới cái túi đựng đồ cạo râu. Nó vẫn còn trên gác mái. Thứ chúng muốn hẳn ở trong đó. Đó là lý do chúng quay lại.”

    “Tôi sẽ đi lấy nó,” Perry lên tiếng, liếc nhanh về phía Creed. “Trông nó như nào?”

    “Nó là một túi da Dopp Kit màu nâu. Nó nằm trên sàn.” Cate nhắm mắt, hình dung ra căn gác. “Khi ông lên tới đỉnh cầu thang, hãy rẽ phải. Ông sẽ nhìn thấy hai cái mũ leo núi treo trên tường. Túi da nằm đâu đó trên sàn gần đấy, trừ khi Cal xê dịch sang bên cạnh khi anh ấy lấy dụng cụ leo núi.”

    Perry rời đi, Cate nhận lấy cốc nước từ Maureen, uống ừng ực.

    “Chân cháu bị sao thế?” Maureen hỏi, có vẻ lo lắng.

    “Cháu rơi xuống một tảng đá, va phải đầu gối. Cháu không nghĩ có bất kì tổn thương nào tới xương, ngoại trừ sưng và đau.” Đó là một cách nói khéo léo nhằm giảm bớt đi. Điều cô không từ bỏ là một túi đá chườm và hai viên aspirin.

    “Chị rơi đúng chỗ đấy,” Gena lên tiếng, cố gắng tỏ ra vui vẻ, quên đi chuyện kinh khủng. Gương mặt cô ấy nhợt nhạt, đôi mắt trũng sâu. “Đó là một vết cắt cần chỉnh hình.”

    “Cô ấy nói đúng,” Neenah nói, rời khỏi Creed đến bên cô. “Cháu hãy lau rửa sạch sẽ rồi kiểm tra xem đầu gối thế nào.”

    “Cháu không có quần áo để thay đâu,” Cate nói, quá mệt mỏi để mà quan tâm.

    “Ta sẽ lo chuyện đó,” Maureen nói khi giúp Cate tới một chiếc ghế kê ở góc khác của tầng hầm, nơi bà kéo một cái chăn che chắn tạo ra một góc riêng tư. “Nói ta hay thứ cháu cần, ta sẽ bảo Perry quay về lấy giúp.”

    “Tội nghiệp ông ấy. Ông ấy sẽ kiệt sức vì phải chạy đi chạy lại.”

    Cô nhắm mắt, để họ cởi quần áo cho mình trừ đồ lót, đứng trên một chân dựa vào hai người nên họ cởi được cả hai cái quần. Cảm giác thật dễ chịu khi chiếc khăn mát lạnh xoa xoa khắp mặt, hai cánh tay và bàn tay.

    “Vết sưng phồng thực sự tệ đấy,” Neenah lẩm bẩm. “Cháu không nên dùng tới đầu gối này.”

    “Cháu đâu có lựa chọn nào.”

    “Ta biết, nhưng giờ cháu sẽ có. Chúng ta sẽ sắp xếp vài miếng đệm để gác chân này lên và trợ giúp nó, cháu sẽ cảm thấy thoải mái hơn nhiều.”

    Cái khăn được nhúng vào nước lạnh lần nữa rồi phủ lên đầu gối cô. Nó không phải một túi đá chườm nhưng nước lạnh cũng đủ dễ chịu. Maureen xuất hiện với hai viên con nhộng trong lòng bàn tay; Cate nhận lấy không hỏi chúng là gì, cô không bận tâm.

    Neenah cùng Maureen di chuyển các tấm đệm, mấy cái hộp và chồng quần áo cũ, tạo ra một kiểu ghế tựa trên sàn, rồi giúp cô ngồi lên. Cô ngồi trên tấm đệm, dựa vào cái thùng, chồng quần áo kê dưới đầu gối. Sự trợ giúp thật tuyệt vời. Họ đắp chăn cho cô rồi rời đi, để lại cô một mình.

    Cô ngủ ngay lập tức, không nghe tiếng Perry khi ông trở về.

    Creed đánh thức cô một lúc sau đó, tập tễnh đi tới ‘căn buồng’ của cô nhờ cây ba toong và lôi theo cái ghế. Neenah theo sau, cầm túi da Dopp Kit, trao cho ông ánh nhìn hậm hực.

    “Ông ấy không nghe tôi,” bà giải thích cho Cate, mặc dù bên dưới sự hậm hực trông bà có vẻ hài lòng khó hiểu.

    “Cháu hiểu cảm giác,” Cate nói gượng gạo.

    “Đây có đúng túi cạo râu không?” Creed hỏi, cầm lấy nó từ Neenah.

    Cate gật đầu. “Không có cái nào khác trong nhà. Bác tìm thấy gì không?”

    “Chẳng có gì. Ta đổ mọi thứ ra, mở mọi thứ có thể mở--“

    “Và cả vài thứ không thể,” Neenah xen vào.

    Ông liếc xéo lên nhìn bà, cái liếc trĩu nặng yêu thương đến nỗi hơi thở Cate hít vào nghe thấy được. Chuyện này diễn ra khi nào nhỉ?

    Ồ, câu trả lời thật hiển nhiên: cùng lúc với chuyện xảy ra giữa cô và Cal.

    “Không có gì ở đây đâu,” Creed nói. “Ta đã xem xét đường chỉ may, khóa kéo, tách chúng ra thành từng phần. Nếu có bất kì thứ gì giá trị, đổ tội được, hay cái điều khiển từ xa thú vị trong túi này, ta đã không tìm thấy.”

    Cate nhìn chằm chằm cái túi, buộc đầu óc mệt mỏi của mình làm việc. “Chúng chỉ nghĩ nó ở đây,” cô nói chậm rãi.

    “Nghĩ cái gì ở đây?” Giọng Creed sắc nhọn.

    “Cháu không biết. Nhưng dù có là gì, chúng cho rằng nó ở đây vì khi kiểm tra va li của Layton, bộ cạo râu không ở trong nó. Layton có nó – cái thứ, nó, dù là gì. Ông ta mang nó theo. Khi ông ta trèo qua cửa sổ và rời đi, ông ta đang chạy trốn, nên tất nhiên sẽ mang theo mình dù nó là gì.”

    “Cháu biết ông ta trèo qua cửa sổ và trốn đi à?”

    Từ từ cô lắc đầu, nhớ lại những gì mình nói với người đàn ông bí ẩn gọi đến ngày hôm ấy, giả vờ là người của Công ty cho thuê xe quốc gia.

    “Lúc đó, cháu cho rằng ông Laytaon gặp tai nạn ở đâu đó. Khi có người gọi đến tìm ông ta, cháu nói ông Layton đã biến mất, ông ấy không làm thủ tục trả phòng và để lại đồ của mình, nên cháu sợ ông ấy gặp tai nạn trong núi. Cháu không đề cập tới việc ông ấy trèo qua cửa sổ.”

    “Đặt một quan điểm hoàn toàn khác lên sự biến mất của Layton,” Creed nói. “Nếu chúng biết chuyện cửa sổ, chúng đã nhận ra ông ta đã chuồn đi, và hợp lí khi nói rằng ông ta mang theo thứ chúng đang tìm kiếm. Nên giờ chúng nghĩ cháu giữ nó, ngay cả nếu cháu nói với chúng khác đi, chúng sẽ không tin cháu, không sau tất cả chuyện này.”

    Tất cả chuyện này. Bảy mạng người. Creed bị thương. Thiệt hại về nhà cửa và xe cộ chưa thể kể hết, tất cả vì một thứ thậm chí chẳng có ở đây. Đột nhiên choáng váng, Cate vùi mặt vào lòng bàn tay và khóc.

    Yuell Faulk chưa từng lo lắng hơn trong đời. Hắn không thể liên lạc với Toxtel cũng như Goss ba ngày nay. Hắn gửi chúng đi lấy về một vật đơn giản, nhưng chúng đã đi cả tuần. Lẽ ra chúng quay về cách đây vài ngày rồi mới phải.

    Bandini mong chờ nghe tin tức từ hắn, nhưng Yuell không có gì để báo cáo. Hắn không thể báo chúng lấy lại được ổ di động hay tìm ra Layton – không gì hết.

    Hắn hoảng sợ; hắn thừa nhận thế. Hắn bật một bóng đèn trong văn phòng của mình làm như thể hắn vẫn còn trong đó, một cách dễ dàng ai cũng quan sát thấy cửa sổ, và rời đi bằng một lối ngầm dẫn hắn tới một con hẻm. May cho hắn. Hắn không chui vào xe và lái qua ai đó đang theo dõi mình để về nhà.

    Hắn cuốc bộ qua vài tòa nhà rồi bắt taxi. Sau ba mươi phút lái xe vu vơ, lòng vòng, gã xuống xe, đi thêm vài tòa nhà khác, bắt tiếp một taxi khác. Hắn quan sát cẩn thận cả hai lần. Không ai theo dõi hắn. Hắn đề phòng dừng taxi cách nhà mình vài tòa nhà, chờ cho nó khuất khỏi tầm mắt trước khi quay đầu theo hướng ngược lại.

    Cuối cùng hắn cũng vào nhà. Bóng tối, không gian quen thuộc bao bọc hắn. Thường thường, hắn có thể thư giãn ở đây, nhưng trừ khi hắn nghe tin từ Toxtel hay Goss hắn không thể thư giãn ở bất cứ nơi nào. Mẹ kiếp, hắn có cần tự mình đi một chuyến tới Idaho? Nếu chúng xử lý tình thế kém, tại sao chúng không gọi và thừa nhận nó? Hắn nghĩ tới vài việc, cách nào đó khắc phục tình hình, nhưng hắn phải biết được chuyện gì đang diễn ra.


    Hắn bật đèn, khao khát một đồ uống đặc quánh dễ chịu, nhưng hắn cần biết được nếu điều gì đó sụp xuống. Không đồ uống nào dành cho hắn hết trừ khi hắn nghe—

    “Faulkner.”

    Yuell không quay về phía giọng nói, cách hầu hết mọi người thường làm. Hắn nhảy sang bên, hướng về lối cửa ra vào.

    Nó không hiệu quả. Tiếng một vũ khí im lặng nhả ra ngay trước cơn đau bùng nổ sau lưng hắn. Hắn buộc bản thân còng mình, di chuyển mặc cơn đau và cú sốc, rồi cảm nhận viên đạn khác xuyên trúng người. Chân hắn co giật dữ dội, không kiểm soát được, hắn đập mạnh vào tường. Hắn cố gắng với tìm vũ khí, nhưng chẳng có gì nơi nó mong đợi có mặt, bàn tay hắn lơ lửng trong không khí, tóm lấy hư không, đúng là cái thứ ngu ngốc chết tiệt.

    Trong bóng tối, một hình dáng vô danh lờ mờ bước qua hắn, Yuell biết là ai. Hắn nhận ra giọng nói đó, hắn nghe thấy nó trong cơn ác mộng.

    Hình dáng đó chĩa vào khuôn mặt hắn, rồi một tiếng nhả đạn khác, Yuell không nghe thấy nó – hay điều gì khác, không bao giờ nữa.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
    thanhbt, vanphi, uyenki and 14 others like this.
  13. halucky

    halucky Lớp 11

    Xin lỗi mọi người, phần sau nhét vô spoiler bị "nuốt" mất rồi. Mai post bổ sung ạ.
     
    NHTB, Breeze, kimduyen and 3 others like this.
  14. halucky

    halucky Lớp 11

    Chương 31 (halucky)

    CAL NẰM SẤP HƯỚNG VỀ PHÍA NAM nơi anh thầm đánh dấu là vị trí nổ súng xa nhất. Một nơi tốt đấy. Về mặt chiến lược, đó là nơi nên sắp đặt một tay súng nếu gã muốn ngăn chặn một người leo xuống từ bên đó cũng như tìm cách đi vào rãnh cắt hay vòng sau lưng gã. Khe núi hẹp và dài giống như một đường băng bowling, không bị cản trở nhiều – cho ống ngắm cảm biến nhiệt, thế đấy. Anh đoán đúng về việc chúng chuyển sang ống ngắm và ống nhòm thông thường giữa ban ngày, mặc dù một tay bắn tỉa hơn hẳn mấy cậu chàng nhiều tuổi này cũng cần nhiều kỹ năng mới phát hiện ra anh khi mà anh không muốn bị nhìn thấy.

    Creed luôn gọi anh là tên khốn lén lút bẩm sinh. Thật mừng là vài thứ không bao giờ thay đổi.

    Anh chờ đợi, muốn biết đến lúc thay ca. Đêm đầu tiên anh đếm được bốn vị trí nổ súng khác nhau, nhưng sau đó chỉ còn hai – hai vị trí lợi thế nhất nhằm đánh bật bất cứ ai cố gắng đi vào rãnh cắt. Không ai ngay cả những tên cắm chốt ở kia có thể làm việc không ngừng nghỉ trong ba ngày rưỡi mà không đổi ca và giải quyết vài nhu cầu cơ bản. Bạn không chỉ cần ngủ, bạn còn cần thức ăn, nước uống và thỉnh thoảng vài chuyến đi tới sau bụi cây. Nếu tỉnh táo bạn có thể bóp cò đủ nhanh, nhưng nếu mắc ảo giác bạn sẽ bắn bâng quơ, nếu thần kinh bị rối loạn bạn sẽ bắn cả vào người do thám của chính bạn, mặc dù anh bỏ qua khả năng đó. Hoặc các tay súng đang ngủ giữa ban ngày, hoặc ai đó đang thay ca cho chúng. Bốn tay súng đêm đầu tiên, hai tên sau đó. Phép tính thật đơn giản. Chúng đang chia ca.

    Điều đó tạo ra một khoảng trống lớn theo hướng về phía cây cầu, Mellor đã gặp rắc rối lớn khi tạo ra sai lầm kiểu đó. Sẽ có một vị trí canh gác khác ở cây cầu, được trang bị vũ khí tầm ngắn; thế nghĩa là theo lý thuyết tiếp tục với hai ca mỗi ca hai tư giờ cho hai tên, trong tổng cộng sáu tên tất cả.

    Sáu tên, sáu dân thường, nghĩa là ít nhất hai phương tiện, có lẽ hơn thế. Chúng sẽ đậu xe gần đấy, ngoại trừ trên đường cực xấu, nơi chúng không bị phát hiện trong trường hợp ai đó đi tới Trail Stop. Có khả năng có người đến, nếu chúng không chuẩn bị sẵn sàng. Conrad và Gordon Moon rất thích bánh nướng của Cate, thường thường ít nhất mỗi tuần một lần làm một chuyến tới. Có thể Cate có khách hàng đặt lịch trước. Vài cái cớ cho vụ sập cầu, đường dây điện và điện thoại bị đứt, nhưng trò đố chữ sẽ không kéo dài lâu.

    Theo thời gian, những tay này đã nhận ra chúng đang va phải bức tường khó khăn, chẳng bao lâu chúng sẽ di chuyển mọi người lần nữa. Anh sẽ thích hơn nếu không gửi cô về Trail Stop, nhưng không có chỗ nào ở đây cả. Cô không phải đi theo anh, không phải ở lại trên núi; cô phải có thức ăn và nơi nghỉ. Ít nhất ở Trail Stop, Creed sẽ trông chừng cô.

    Đêm tối không phải thời điểm tốt cho những tên kia di chuyển. Chúng có ống ngắm cảm biến nhiệt; chúng có thể nhìn ra mục tiêu. Nhưng chúng mắc phải một lỗi chiến thuật khi đánh sập cây cầu, gây khó khăn cho việc vượt qua suối. Anh phải lần lên thượng nguồn nửa dặm mới tìm thấy một chỗ anh lội qua được mà không bị cướp đi bàn chân. Một lỗi chiến thuật khác chúng mắc là chờ đợi; giờ đây người dân thị trấn đã bố trí vài rào chắn nơi Cal chỉ cho họ, họ đã tản ra, và họ đang điên tiết như quỷ ấy.

    Tuy nhiên, khi loạt đạn bắt đầu, mọi thứ đều có thể xảy ra, Cate đã ở bên kia rồi.

    Anh có hai lựa chọn: bỏ qua ba tên đang trực, xác định phương tiện của chúng, chăm sóc ba tên có lẽ đang nghỉ ngơi; hoặc xóa sổ cả sáu tên, từng tên một, làm như thể chúng chống lại lẫn nhau. Anh làm được chuyện đó; anh có thể sắp đặt hiện trường đó mà không vấn đề gì cả. Anh thích ý tưởng đó rất nhiều. Anh không hề muốn một trong những tên khốn đó còn sống thoát ra.

    Bình thường anh là người dễ tính, nhưng bạn không muốn chọc tức anh đâu. Ngay lúc này, anh đang bị chọc giận, một cơn giận đùng đùng.

    Anh tiếp tục theo dõi đồng hồ. Đổi ca trực sẽ không diễn ra vào khoảng thời gian ngu ngốc như là chín giờ sáng hay chín giờ tối; chúng sẽ thay ca vào lúc giữa trưa, nửa đêm, hoặc sáu giờ sáng và sáu giờ tối. Nếu anh không thấy bất kì sự chuyển đổi nào lúc sáu giờ chiều, thế nghĩa là từng tay súng đã canh gác từ trưa và mệt mỏi rồi, thật khó khăn cho phiên trực thêm sáu giờ nữa. Một nhà chiến thuật thông minh sẽ bố trí xen kẽ, có một lượt hoán đổi giữa ca lúc trưa và nửa đêm, và một lượt khác giữa ca sáu giờ sáng và sáu giờ tối, để không có tình trạng ai đó luôn luôn khỏe khoắn trong khi ai khác quá mệt mỏi, nhưng hầu hết mọi người nhảy ngay tới sự đơn giản – một khả năng dễ dự đoán. Nó khiến tâm trí bị chùn bước.

    Lúc sáu giờ tối, tất cả yên tĩnh. Anh không phát hiện ra bất kỳ hoạt động nào.

    Quá tệ. Nếu một ca trực sảng khoái diễn ra lúc sáu giờ, anh sẽ phải đợi cho tới nửa đêm, để chúng trở nên mệt mỏi, và chúng kéo dài mạng sống lâu thêm tí chút.

    Yên lặng như một con rắn, từng cử động chậm rãi và cẩn trọng, Cal trườn phía cao trên núi, nơi anh đã đánh dấu vị trí những tay súng, bắt đầu lục soát kỹ càng, tìm kiếm tay súng đầu tiên. Cal đã chú ý che giấu bóng mình, bằng tấm chăn màu ô liu xám xịt quấn quanh. Anh còn cắt từng dải chăn, buộc chúng quanh bàn tay và những ngón tay, vừa giữ ấm vừa giúp anh không để lại bất kì dấu vân tay nào mách lẻo mọi việc. Một dải khác buộc quanh đầu, các cành cây, lá cây gài bên dưới nó. Khi anh yên lặng, đêm trần trụi trôi qua ngay phía trên.

    Thời gian trôi đi, anh không nhìn thấy gì hết. Anh bắt đầu tự hỏi liệu mình có xác định nhầm vị trí hoặc bọn chúng đã di chuyển xung quanh; nếu là cái sau, anh có khả năng bị nhìn ra và ngay lúc này đã bị nhắm bắn. Nhưng đầu anh chưa bị nổ tung, anh còn tiếp tục trườn bò đầy khó khăn, tìm kiếm điều gì đó, bất kể điều gì, sẽ phản bội vị trí của các tay súng.

    Một tia sáng kim loại yếu ớt cách khoảng năm mươi feet về phía trước, bên phải, rồi một chút ánh sáng màu xanh lá cây ngay lập tức lóe lên. Cái tên đê tiện ngu ngốc đã bật đồng hồ đeo tay để kiểm tra thời gian. Ngu xuẩn. Bạn đừng đeo một cái đồng hồ hiển thị ánh sáng sau, bạn dùng một cái có kim dạ quang với mặt đồng hồ có nắp đậy đóng mở. Sự quái gở thực sự lẩn khuất đâu đó giữa những điều vụn vặt, và cái điều vụn vặt nhỏ đó đã phản bội tay súng. Mặt khác nó là một vị trí tốt; gã kia đang nằm sõng xoài, tạo ra một bệ bắn vững chắc, gã phủ kín tảng đá. Đầu gã không ngóc lên trên, đó là lý do tại sao Cal không phát hiện ra gã trước đó.

    Gã hoàn toàn tập trung quét ống ngắm liên tục, chậm rãi, thậm chí sau hàng giờ đó. Gã không cảm nhận được sự gần kề của Cal, ngay cả khi Cal gửi đi vài lời thì thầm. Gã chết mà không hề biết cái Chết đang vẫy gọi, xương sống của gã bị gãy ở đốt thứ hai.

    Một kế hoạch khó khăn để trở thành hoàn hảo. Nó đòi hỏi kỹ năng, kỹ thuật, và rất nhiều sức mạnh. Một trở ngại khác để thành thạo được là không có nhiều người đủ ngu ngốc để cho bạn thực hành trên họ. Với lý do đó, nó thường được thực hành trong những tình huống thực tế, nơi một sai lầm có thể hao tiền tốn của.

    Gã đó mềm đi, mùi khó chịu nói với Cal rằng gã đã chết, mặc dù âm thanh răng rắc nghe thấy được minh chứng đủ cho gã. Anh đập đập vào thi thể cho tới khi tìm thấy con dao đi săn dắt vào thắt lưng, nơi anh biết nó ở đó. Anh rút con dao và kiểm tra kỹ. Anh sẽ lấy nó. Anh trượt con dao vào trong thắt lưng, hy vọng không vô tình chọc vào thân mình, rồi lặng lẽ kéo gã lên trên tảng đá, như thể gã bị trượt chân. Nó xảy ra. Quá chán.

    Anh nhặt súng trường của gã, quàng vào vai, anh nhìn vào ống ngắm khi quét qua sườn núi, tìm kiếm dấu hiệu nhiệt phát sáng. À ha. Vị trí tiếp theo cách đấy một trăm yard, thấp hơn một chút, bằng phẳng hơn và ngắm bắn chính xác hơn. Xa hơn nữa, nơi anh cho là vị trí cây cầu, một tia sáng khác lóe lên. Đúng là nó.

    Ba tên, đúng như anh nghĩ. Anh quét cao hơn, rồi thấp hơn, để chắc chắn. Không có gì, ngoại trừ một số động vật nhỏ và vài con hươu.

    Súng trường quả là một phần tuyệt vời của công việc; cảm giác như có ma thuật trong tay, sự cân bằng hoàn hảo. Tiếc thay, anh phải để lại trên tảng đá tham gia cùng cái gã đã sở hữu nó. Bây giờ, nó trông thực sự giống một tai nạn, kiểu như gã đó đứng lên, trượt chân, đâm đầu xuống tảng đá, mang theo súng trường của mình.

    Lặng lẽ, anh bắt đầu theo dõi tay súng tiếp theo.

    Goss cảm thấy tất cả đang rơi xuống địa ngục. Gã ngồi trong lều chơi bài poker cùng Teague và em họ hắn, Troy Gunnell, nhưng tâm trí không đặt vào trò chơi nên gã thường xuyên thua.

    Toxtel đang trên bờ vực của sự suy nhược thần kinh. Sau khi nói cho ông già thứ chúng muốn, họ chẳng … nghe tin gì nữa. Không cả một cái liếc trộm qua khe cửa. Bạn không thể thương lượng với người sẽ không nói chuyện. Chúng không nhìn thấy chuyển động nào phía đấy gần đây, nhưng Goss biết rõ rằng họ đang di chuyển qua lại đằng sau công sự mà họ dựng lên. Bằng cách nào đó họ đã lấy lại các thi thể. Teague bảo rằng, họ hoặc bị nước băng làm ướt sũng, hoặc bằng cách nào đó trèo qua rào chắn mà họ có thể trốn phía sau, nghe như một bộ phim về chiến tranh thời trung cổ, Goss đi ngay tới lời giải thích đơn giản nhất: nước.

    Teague rất tự hào về những ống ngắm này, thứ có thể bị đánh lừa bởi nước lạnh. Tuyệt vời.

    Teague cũng mất bình tĩnh. Trông hắn như quỷ ấy, hắn nổ lốp bốp những viên thuốc giảm đau hạ sốt như thể chúng là kẹo vậy, nhưng hắn đang hoạt động, ngoại trừ bị ám ảnh bởi cái tay Creed, hắn tạo cảm giác như thế khi nói chuyện. Ba gã bạn của hắn dường như không nhận thấy bất cứ điều gì buồn cười về hắn, như kiểu hắn đang đối phó với ảnh hưởng của chấn thương. Bản thân cũng bị như thế cách đây một tuần, Goss có thể cảm thông.

    Ngày hôm nay có hai người cuốn đi trên đường vô tình như thể họ không lái qua nơi cây cầu đã biến mất khỏi tầm nhìn. Đúng, họ nhìn thấy nhưng cho rằng nó từng ở đấy là một sự nhầm lẫn. Mất bao lâu cây cầu sẽ được sửa chữa? Vài ngày, có thể lắm?

    Họ chỉ là những người tối dạ, Goss nghĩ, người mà sẽ phàn nàn ầm ĩ với bất cứ ai họ tưởng là sẽ sửa cây cầu. Bất kể hôm nào, ai đó của công ty đường cao tốc sẽ xuất hiện.

    Như thể có vài đám mây mù khổng lồ thu hút những ý nghĩ giống nhau, vì Teague đột nhiên lên tiếng, “Anh bạn của anh trông như sẵn sàng bùng nổ, mất kiểm soát.”

    Goss nhún vai. “Anh ta chịu nhiều áp lực. Chưa bao giờ thất bại trong việc giữ lời hứa trước đây, cộng với việc anh ta và ông chủ đi lại với nhau lâu rồi.”

    “Anh ta để cái tôi can dự vào.”

    “Tôi biết.”

    Gã đã âm thầm trợ giúp bằng cách khuyến khích Toxtel tham gia vào mọi cơ hội, đồng ý với những ý tưởng dù điên rồ nhất, cố tình làm sai bất kỳ ý định nào mà Toxtel nảy ra. Toxtel không phải tên ngốc, còn lâu mới thế, nhưng niềm tự tôn của gã đang bị đe dọa, gã không biết làm cách nào để thoái lui vì gã chưa từng chùn bước. Một chuỗi liên tục những thành công có thể trở thành một điều bất lợi nếu nó diễn ra trong thời gian dài, vì một người sẽ đánh mất cách nhìn nhận.

    Toxtel chắc chắn đã đánh mất cách nhìn nhận.

    Có lẽ đã đến lúc kết thúc chuyện này và rời đi, Goss suy tính, bỗng nhiên thấy vui vẻ với ý nghĩ. Không có cách nào tiếp tục che đậy thất bại này. Quá nhiều người đã chết, quá nhiều thiệt hại đã gây ra. Tất cả gã phải làm là chắc chắn chuyện này bay trở về Faulkner, mà đó lại là điều dễ dàng để làm nhất trên đời.

    “Đến lượt tôi,” gã nói, ngáp dài, khi ván bài kết thúc. “Tôi sẽ nói chuyện với Hugh, có thể thay ca anh ta sớm hơn nếu anh ta thấy mệt.”

    “Vẫn còn vài tiếng nữa mới tới nửa đêm. Thế sẽ kéo dài ca trực của anh đấy,” Teague nói.

    “Ừ, đúng, đừng nói gì với anh ta là tôi đã nói, tôi trẻ hơn mà.”

    Gã đứng lên, duỗi dài người, nhấc cái áo khoác nặng nề, chắc chắn đã mang găng tay và mũ len trùm đầu. Thời tiết nơi đây có thể thay đổi trong chớp mắt. Trời đã đi từ chỗ quang đãng, lạnh lẽo sang ấm áp và nhiều mây, rồi lạnh lẽo và nhiều mây, rồi lại lạnh và mưa, còn giờ thì quay lại quang đãng và lạnh – như kiểu có bao nhiêu ngày thì có bấy nhiêu sự thay đổi. Sáng nay núi đã có tuyết bao phủ. Mùa đông đang đến, gã mong mỏi rời khỏi Idaho.

    Hugh, anh bạn già thân thiết. Gã sẽ nhớ anh ta.

    Không thực sự.

    Gã phải chắc chắn chuyện này hướng trở lại Faulkner. Có lẽ cắm một lời ghi chú trên Hugh rằng, “Yuell Faulkner đã thuê tôi làm việc này”? Đúng, đúng thế. Nó phải là vật gì đó thu hút sự chú ý của cớm, nhưng không phải như vậy rõ ràng họ sẽ hạ thấp giá trị của nó so với một vật được cài vào bí mật sao. Có quan hệ mật thiết với Bandini cũng là một sự dính dáng tốt đẹp, đảm bảo mang tới cho Faulkner một đống rắc rối, từ kẻ tốt đến kẻ xấu.

    Gã xỏ găng tay khi đi tới chiếc Tahoe, mở cửa, lần mò lấy di động ra khỏi ngăn đồ trước ghế ngồi. Di động là vô dụng ở đây, giữa những ngọn núi, nhưng gã đâu hứng thú thực hiện một cuộc gọi. Gã bật điện thoại, nhập số của Faulkner vào danh bạ. Không tên, chỉ có số thôi. Cớm sẽ lần ra nó. Tắt máy, gã đặt nó trở lại ngăn, ở ý nghĩ thứ hai gã lấy nó ra lần nữa, trượt vào túi mình. Rồi ở ý nghĩ thứ ba, mỉm cười, một lần nữa nhét di động lại ngăn. Đúng. Như thế sẽ hiệu quả hơn.

    Một chồng giấy trong Tahoe, bản đồ, danh sách và những bản sơ họa. Một trong những tờ giấy rơi xuống sàn xe, bị giẫm lên, nhìn chung bị lấm bẩn. Goss cầm bút, vụng về đề tên Bandini lên tờ giấy bẩn, đặt một dấu hỏi sau nó, rồi gạch ngang cái tên để nó gần như không đọc được – gần như thôi, chứ không phải hoàn toàn. Gã đổ tất cả giấy tờ xuống sàn xe phía sau, thả rơi cây bút giữa ghế lái và bảng điều khiển.

    Rồi, huýt sáo, gã bước xuống lối mòn tối đen tới nơi Toxtel đang đứng – hay đúng hơn, ngồi – thao thức cô đơn, chờ đợi ai đó bên kia nói chuyện với mình.

    Cal hòa tan vào bóng một thân cây, làm cho bản thân trở thành một phần của bụi rậm. Anh còn cách tên canh gác thứ ba không hơn năm feet, kẻ mà anh nhận ra là Mellor, thì anh nghe thấy một tên đang hướng về phía họ, đang huýt sáo.

    Anh đứng bất động, đầu cúi xuống còn đôi mắt nheo lại gần như là hai khe hẹp. Anh đã bôi bùn lên mặt để che dấu làn da nhợt nhạt, nhưng anh dễ dàng rơi vào khu vực anh đang tiếp cận khi bị săn đuổi, nếu bản năng mách bảo anh phải cúi đầu và nhắm mắt, anh đã làm. Gã đến rất gần, tia sáng của đôi mắt đã tố giác gã.

    Tay súng thứ hai đang nằm trong vũng máu, con dao của tên thứ nhất cứa đứt cổ họng gã. Hai tên đã bị hạ, còn bốn tên nữa. Anh bị cám dỗ hạ hai tên cùng một lúc, nhưng rồi từ bỏ ý tưởng. Kiểm soát tiếng ồn và hiện trường là quá khó khăn. Anh giữ lại kế hoạch ban đầu là tiêu diệt từng tên một.

    “Anh đến sớm,” Mellor lên tiếng, đứng dậy từ vị trí canh gác của mình. Gã mặc chiếc áo khoác nặng nề và cầm súng lục thay vì khẩu súng trường. Cal thầm lắc đầu với cái cách gã đang phô bản thân ra để có thể bắn súng. Gã hẳn cảm thấy an toàn lúc đêm tối, nghĩ rằng không ai ở Trail Stop nhìn ra mình.

    “Cho rằng có thể thay ca cho anh,” gã kia nói. Cal cũng nhận ra gã. Huxley. “Teague và em họ hắn đang chơi bài porker trong lều nếu anh muốn nghỉ ngơi trước khi ngủ.” Vừa nói gã vừa cúi xuống, nhặt cái chăn, giũ tung nó, bắt đầu gấp lại.

    “Tôi không chơi bài,” Mellor trả lời, quay ra nhìn chằm chằm qua vùng nước tới những ngôi nhà chìm trong bóng tối. “Có chuyện gì với những người kia thế?” bỗng nhiên gã hỏi. “Họ lẩn thẩn chắc? Tôi đã cố gắng tìm hiểu chuyện gì đang diễn ra, điều họ muốn, mọi thứ. Họ chỉ rút lại và chốt chặt.”

    “Teague nói họ đang—“

    “Mẹ cái tên Teague. Nếu hắn biết mình đang làm gì, chúng ta đã có ổ di động và quay về Chicago rồi.”

    Ổ di động. Ra đó là thứ chúng muốn. Nhưng Cate có một máy tính; nếu có thiết bị điện tử nào trong đồ đạc của Layton, Cate đã nhận ra, nhận ra nó có khả năng là thứ chúng muốn. Cô không thấy gì, vì nó không ở đó. Nó đã biến mất cùng Layton.

    “Tôi nhớ anh bảo hắn được đánh giá cao.” Huxley che cái chăn được gấp lên cánh tay. Có gì đó thật buồn cười về cách gã giữ nó, với bàn tay bên trong nếp gấp.

    “Tôi đã gọi cho gã mà tôi quen.” Mellor lẩm bẩm, quay lại. “Tôi tin---“

    Huxley bắn ba phát, âm thanh bị bóp nghẹt bởi cái chăn, nên nó không ầm ĩ hơn so với nó không được ngăn cản. Mellor giật mạnh khi hai phát trúng ngực, một cú đúp, rồi viên bảo đảm trúng vào trán gã. Gã đổ xuống như một bao thức ăn. Huxley không thèm kiểm tra xem gã đã chết chưa, không hề nuối tiếc đối tác một thời của mình bằng cái liếc mắt lần hai; gã đơn giản quay lại, bước đi, trở lại cái lối gã đã đến.

    Giờ thì, chuyện này không phải thú vị sao? Một mối bất hòa, hay một việc làm bí mật? Lặng lẽ Cal theo sau, hòa mình vào bóng tối, một phần của chính màn đêm. Huxley không nỗ lực giữ im lặng; gã sải bước trên đường như thể đang bước đi trong thành phố. Tới một khúc cong gã dời đường đi, bước xuống một lối mới bên trái. Các xe chắc được giấu sau chỗ đấy, Cal nghĩ; những bụi cây bị san phẳng như thể thứ gì đó to lớn đã đè lên chúng.

    Một cái lều dựng lên giữa khoảng trống, với năm xe ô tô đậu xung quanh: bốn chiếc bán tải và một chiếc Tahoe. Một chiếc đèn lồng cắm trại treo trong lều, rọi ánh sáng không đủ của nó xuống hai gã đàn ông đang chơi được nửa ván bài porker. Qua cửa lều để mở, Cal nhìn thấy những túi ngủ cuộn tròn trên nền.

    “Toxtel thích đứng canh hả?” một gã to lớn với vết bầm tím khổng lồ, sinh động trên mặt hỏi, nhìn lên. “Hay anh ta nghĩ họ đột nhiên sẽ nói chuyện đêm nay?”

    “Chỉ là cẩn thận, tôi đoán vậy,” Huxley nói, giơ cánh tay lên, chuẩn bị bóp cò. Hoặc gã đã nghĩ rất nhiều về việc làm thế nào với hai tên đàn ông, hoặc gã đã thực hành cho tới khi nó trở thành bản năng thứ hai. Có gì đó về gã gần như máy móc: không do dự, không hứng thú, không cảm xúc gì cả. Hai phát súng ở đây, vào gã to lớn trước, rồi hai phát nữa vào tên còn lại, phát sau quá nhanh khiến tên thứ hai không kịp phản ứng. Rồi nòng súng quét trở lại tên to lớn, cử động được kiểm soát hoàn hảo, gã phân phát viên bảo đảm. Quay tới tên kia, một lần nữa, không cảm xúc, tằng tằng, tằng tằng, tằng, tằng. Giống như một vũ điệu.

    Huxley ngồi xổm bên thi thể tên đàn ông to lớn, nhét mấy ngón tay đeo găng vào túi quần phải, lôi ra một chùm chìa khóa. Gã ném khẩu súng lục xuống đất giữa hai cái xác, bước ra khỏi lều tới một trong những chiếc bán tải.

    Cal quan sát gã lái đi, ánh mắt thu hẹp, trầm tư. Anh có thể tóm gã bất cứ lúc nào, nhưng gã đã làm công việc thay anh, cùng lúc một cách hiệu quả đặt anh hoàn toàn vào cảm giác yêu mến, điều này dường như là tốt nhất. Để cảnh sát đoán được chuyện gì đã xảy ra. Bất kể việc mờ ám Huxley là gì, nó không bao gồm đồng bọn của gã.

    Cal bước vào trong lều, moi chùm chìa khóa khỏi cái xác thứ hai. Liếc nhìn xuống chùm khóa, anh nhận ra một cái thuộc về chiếc Dodge, không ngần ngại anh đi tới chiếc Dodge Ram bốn bánh kềnh càng và leo vào. Anh sẽ có mặt tại nơi ở của Creed trong mười lăm phút.

    Neenah ở lại với Creed trong phòng khám ngày hôm sau khi chân ông được chụp X quang, và công trình làm bằng tay của Cal được kiểm tra. Khi bác sĩ hỏi ai đã khâu, Creed chỉ nói rằng một người bạn cũ được đào tạo về y tế trong quân đội, rồi thả rơi chủ đề. Thế là đủ; vị bác sĩ ngay lập tức chấp nhận “anh lính cứu thương” và hài lòng.

    Hóa ra ông bị một vết rạn xương – như Cal đã nói với ông – họ bó cho ông bằng vải mềm thay vì bó bột thạch cao. Ông phải đeo vải bó cho tới khi hai tuần sau quay lại, chụp X quang lần nữa, nhưng bác sĩ cho rằng vết xương rạn sẽ được chữa lành. Trong tất cả, đó là tin tốt. Họ cho ông một đôi nạng; bác sĩ hướng dẫn ông cách dùng chúng mà ảnh hưởng ít nhất tới cẳng chân, họ còn nói rằng nếu ông làm theo lời dặn, trong hai tuần nữa ông có thể bước đi trở lại trên đôi chân của mình.

    Neenah mỉm cười nhẹ nhõm khi nghe được chuẩn đoán bệnh của Creed.

    “Em đã lo anh bị tổn thương vĩnh viễn, phải giữ cái dáng đi khập khiễng suốt đời,” bà nói khi chui vào chiếc ô tô đi thuê. Làm cách nào bà kiếm được chiếc xe nhanh thế, ông không tài nào biết được. Có lẽ ai đó trong văn phòng cảnh sát trưởng đã giúp. Bà lái chiếc xe đến tận bậc thềm phòng khám để đón ông, giữ cho ông phải đi bộ ít nhất.

    “Đó là cách duy nhất tôi biết đi cà nhắc là thế nào,” ông trả miếng, khiến bà cười vang. Ông yêu tiếng cười của bà, yêu cái cách bà vén tóc ra sau và đôi mắt bà lấp lánh. Tình trạng căng thẳng và áp lực trong mấy ngày qua đã để lại nhiều quầng thâm bên dưới mắt bà, thỉnh thoảng ông còn nhận thấy nỗi đau khắc vào khuôn mặt bà, nhưng trong khoảnh khắc tất cả đã tan biến. Ông thích mọi việc diễn ra như thế, muốn xua đi nỗi đau trong bà. Ông biết mình không thể, biết mỗi người ở Trail Stop sẽ phải đối phó với chuyện xảy ra theo cách riêng của mình. Ông không thoát khỏi tổn thương của chính mình, không ngừng suy nghĩ về cẳng chân. Hồi ức cũ lại nổi lên, mang những cảnh bạo lực trở lại, thứ đã chạm vào cuộc sống của họ. Ông đã cùng họ xử lý trước đây và lần này ông vẫn sẽ làm vậy, những hồi ức được chia sẻ với những người đàn ông, những người cùng nhau chiến đấu. Những chi tiết có khác nhau, nhưng đều có những người bạn bị mất.

    Cuộc thảm sát ở Trail Stop, nó được gọi như thế bởi cánh báo chí hút máu, là tin tức lớn ngay lúc này. Một dòng không ngừng những nhà báo lũ lượt kéo về thị trấn, tạo nên một cảnh tượng quá tải nhà trọ ngay lập tức vì người dân Trail Stop đã đến đây và cần nhiều chỗ cho họ ở.

    Cuối cùng mọi chuyện sẽ lắng xuống, nhưng bây giờ văn phòng cảnh sát trưởng đang tổ chức lấy lời khai từ mọi người, rồi vật lộn để tìm phòng trọ cho quá nhiều người tới khi dịch vụ điện và điện thoại được khôi phục cho cộng đồng, và một số người tiếp tục được bảo vệ cho tới khi cây cầu được xây lại. Những cây cầu không thể mọc lên qua một đêm, ngay cả những cây cầu nhỏ. Có lời nhận xét rằng họ có khả năng không trở về nhà được cho tới Giáng sinh.

    Creed biết điều tốt hơn. Ông đã làm vài cuộc gọi tới vài người, người mà quen biết vài người khác, và thói quan liêu nhanh chóng giúp sắp xếp, cây cầu ở Trail Stop được nhét lên đầu danh sách các dự án. Creed mong đợi cây cầu mới sẽ sẵn sàng trong vòng một tháng.

    Mặc dù vậy, mọi thứ vẫn là một mớ hỗn độn ở Trail Stop. Thực phẩm trong tủ lạnh và tủ đông sẽ bị hỏng, mưa sẽ hắt qua những ô cửa sổ bị vỡ, gây hư hại cho sàn nhà và các bức tường, cộng với những vấn đề nhỏ như tất cả những lỗ đạn, những đồ dùng bị hư hỏng hay phá hủy, xe cộ bị tàn phá… các giám định viên bảo hiểm sẽ bận rộn một thời gian.

    Ít nhất cảnh sát dường như nghiêng về kịch bản có rắc rối nào đó trong hàng ngũ bọn tội phạm, nên một trong số chúng quay ra trừ khử phần còn lại. Trừ khi Cal lên tiếng nói khác đi, đó là giả thuyết mà Creed công khai mất tiền mua.

    Về mặt cá nhân, Creed biết một điều hoàn toàn khác. Ông đã tham gia quá nhiều nhiệm vụ với tên khốn khéo léo không bao giờ nhận lấy thành tích về mình. Cal luôn hoàn thành công việc. Không quan trọng việc đó là gì, cậu ấy là quân át chủ bài của Creed trong những tình huống còn cam go hơn lần này. Cậu không bao giờ là người to con nhất, không bao giờ nhanh nhất hay khỏe mạnh nhất, nhưng vì Chúa, cậu ấy luôn là tay khó nhằn nhất.

    “Anh cười như chó sói ấy,” Neenah quan sát, có lẽ là lời quở trách rằng ai đó có thể nhìn thấy.

    Sự so sánh làm ông giật mình. “Nụ cười chó sói ư?”

    “Không hẳn. Hơn kiểu nhe răng một chút.”

    Được thôi, như thế sự so sánh là có căn cứ.

    “Tôi chỉ đang nghĩ về Cate và Cal. Thật mừng hai người đến với nhau.”

    Đó chỉ là một nửa lời nói dối. Ông đúng là đang nghĩ tới Cal. Nhưng, chết tiệt, thật tốt đẹp cái cách cậu ấy nhìn thấy Cate cách đây ba năm và treo mình ở đó trong suốt quãng thời gian này, chờ đợi cô ấy chú ý tới cậu – và trong lúc chờ đợi, cậu ấy đã lặng lẽ gắn kết với bọn trẻ của cô, len mình vào cuộc sống của cô hoàn toàn tới mức cô ấy không biết phải làm gì nếu thiếu cậu. Đó là Cal. Cậu ấy quyết định điều mình muốn, rồi khiến nó xảy ra. Bỗng nhiên Creed lấy làm mừng Cal không muốn Neenah, nếu không ông có lẽ phải giết người bạn tốt nhất trên đời.

    Creed hướng dẫn Neenah tới căn nhà của mình, và lần đầu tiên trong đời ông băn khoăn liệu mình có vứt đồ lót trên sàn nhà. Ông biết mình không làm thế - kỷ luật trong quân đội đã ăn quá sâu vào ông – nhưng nếu ông có từng thế, ông không muốn vào lần đầu tiên Neenah tới thăm nhà.

    Ông bước tới cửa trước, bắt đầu mở khóa, thì chú ý ngay tới nơi Cal đã phá cửa sổ. Ông cười lớn, tiến sâu vào trong, mở cửa, rồi chuyển chiếc nạng sang một bên để bà có thể đi trước ông vào trong.

    Ông yêu nơi này. Quá đỗi mộc mạc, vừa nhỏ cho ông, nhưng không phải quá chật, có hai phòng ngủ ở đó. Phòng bếp hiện đại, không phải ông dùng nó nhiều, đồ nội thất có kích cỡ vừa vặn với ông và đủ thoải mái ngủ ở trên. Đồ trang trí theo phong cách phụ nữ đơn giản, nếu bạn gọi nó là trang trí. Đồ nội thất được đặt ở nơi ông muốn, và giường ngủ được trang trí. Đó là chừng mực hiểu biết của ông về việc nhà.

    Bà không còn nơi nào để ở, ông nhận ra. Nhà bà hứng chịu rất nhiều đạn, cộng với bà không thể về đó ngay lúc này. Văn phòng cảnh sát trưởng đã đưa tới một chiếc trực thăng để không vận những người dân bị mắc kẹt tới thị trấn, đó được coi là cách nhanh và dễ dàng nhất.

    “Nó giống anh,” bà nói với nụ cười thanh thản. “Không bóng bẩy. Em thích nó.”

    Ông chạm một ngón tay vào má bà, nhẹ nhàng vuốt ve làn da mịn màng. “Em có thể ở đây với tôi,” ông mời mọc, đi thẳng tới trung tâm cái điều mình mong mỏi.

    “Anh có muốn em làm tình với anh không?”

    Ông gần như sụp ngã, đôi nạng bỗng dưng không điều khiển nổi, nhưng ông nhận ra mình không có khả năng nói dối người phụ nữ này, không thể nhìn vào đôi mắt xanh ấy và thốt lên điều gì ngoại trừ sự thật tuyệt đối.

    “Ôi quỷ thật, có chứ, nhưng tôi muốn làm chuyện đó bất kể em sống ở đâu.”

    “Anh biết em từng là tu sĩ chứ?”

    Làm sao mà bà lại bình tĩnh thế trong khi trái tim ông đột nhiên đập quá nhanh, ông sợ rằng nó trượt ra ngoài mất.

    “Tôi có nghe. Em là một trinh nữ ư?”

    Bà mỉm cười, miệng cong lên một chút. “Không, em không phải. Nó có quan trọng không?”

    “Điều quan trọng là tôi nhẹ nhõm như quỷ ấy. Tôi đã năm mươi tuổi rồi; tôi không thể chịu được kiểu căng thẳng đó.”

    “Anh không muốn biết tại sao em không còn làm tu sĩ nữa chứ?”

    Ông kiềm chế lại một câu trả lời, đánh bạo đoán. “Vì em thích tình dục quá nhiều để mà từ bỏ nó?”

    Bà cười phá lên. Bà dường như nghĩ rằng điều đó thật vui nhộn, trên thực tế, bà không ngồi trên đi văng cười lớn nữa mà bắt đầu khóc. Ông bắt đầu cho rằng bà không thích sex nhiều đến thế. Ông đánh cược rằng mình có thể thay đổi suy nghĩ của bà. Bây giờ ông đã chậm hơn, ông biết về nhiều điều, và khi nói về tình dục nó luôn là một điều tốt đẹp.

    “Em trở thành một tu sĩ vì em quá e sợ cuộc sống, quá sợ phải sống,” cuối cùng bà nói. “Em rời bỏ tu viện vì đó là những lý do sai lầm cho em ở đó.”

    Ông nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh bà, đặt cặp nạng sang bên. Với một cánh tay vòng quanh bà, ông nâng mặt bà lên.

    “Em có nhớ nơi chúng ta dừng lại ngay trước khi cây cầu bị nổ và nhà em bị trúng đạn không?”

    “Ang áng,” bà trả lời, vẻ lấp lánh trong mắt bà nói với ông rằng bà đang trêu chọc.

    “Em muốn quay trở lại chỗ đó, hay em muốn đi tới giường ngủ và làm tình?”

    Gò má bà ửng hồng, bà nhìn ông với sự thành thật tuyệt đối. “Giường ngủ.”

    Cảm ơn người, Jesus. “Được rồi, nhưng trước tiên có hai điều tôi muốn em sáng tỏ.”

    Bà gật đầu, ánh mắt màu xanh nước biển trong sáng khóa chặt vào ông.

    “Tôi có điều quan trọng muốn nói với em nhiều năm rồi, tôi yêu em và tôi muốn lấy em.”

    Miệng bà mở ra. Mặt bà trắng, rồi hồng trở lại, ông hy vọng rằng bởi niềm vui sướng. Bà nói, “Thế là ba điều.”

    Ông suy nghĩ điều đó một phần giây rồi nhún vai trước khi kéo bà vào lòng, hôn bà. “Thực tế, tôi cho rằng nó chỉ là một phần riêng biệt của một điều lớn thôi.”

    “Anh biết đấy, em nghĩ anh đúng.”

    Bà ngọ nguậy chống lại ông, kết thúc bằng việc ngồi dạng chân trên hông ông với cánh tay vòng quanh cổ ông khi họ hôn nhau điên cuồng. Sau một lúc, bà trần truồng một nửa và quần ông mở khóa, bà thở hổn hển khi nằm lên bộ ngực đẫm mồ hôi của ông. Bàn tay bà ở trong quần ông, bà đang vuốt ve lên và xuống, xương sống ông cứng lại, ông nghĩ rằng mình có thể chấp nhận ván lát sàn. Giường ngủ là điều cuối cùng trong tâm trí ông.

    “Chuyện này khá hơn là tốt,” bà nói dữ dội.

    “Nó sẽ mà,” ông hứa khi nhẹ nhạng đặt bà vào vị trí.

    “Nếu em từ bỏ tất cả chuyện này mà không quan hệ tình dục, nếu em trở thành một bù nhìn khác, em—“

    “Em yêu,” ông nói rõ ràng, bật tung ra suy nghĩ sáng suốt cuối cùng hai mươi phút sau đó, “Lính thủy không đốt cháy người rơm.”

    “Cate!”

    Sheila ào ra khỏi nhà, nức nở trong sự khuây khỏa mặc dù Cate đã gọi cho mẹ mình ngay lập tức khi cô có cơ hội chạm tới điện thoại cách đấy hai ngày. Cô đã lo lắng muốn nói chuyện với mẹ mình trước khi tin tức đánh vào hãng thông tấn, và cô muốn nói chuyện với bọn trẻ. Chúng đã ngon giấc trên giường nhưng Cate cố nài Sheila đánh thức chúng dậy, cô có thể nghe thấy được tiếng phản đối ngái ngủ của chúng, rồi âm thanh đó nhạt đi khi chúng nhận ra Mommy đang ở trên điện thoại.

    Với tất cả những câu hỏi của cảnh sát, Cal nhận trách nhiệm trả lời, họ không được phép rời đi cho tới sáng hôm đó. Tới lúc có điện và cây cầu được xây dựng lại, hai người không thể về nhà, bố mẹ Cate mời họ ở lại cùng ông bà ở Seattle tới khi điều kiện cho phép.

    Cate bị nhấn chìm trong vòng tay của mẹ mình, ôm thật chặt, hôn hít, rồi lại ôm. Cha cô cũng ra khỏi nhà ôm chầm lấy cô, rất chặt, và theo sát ngay sau là hai cậu bé nhem nhuốc, vừa nhảy nhót, vừa hò hét, chúng không quyết định được điều chúng muốn là hét gọi “Mẹ ơi!” hay “Chú Hawwis!” nên chúng gọi cả hai.

    Cal nhanh chóng bắt tay cha Cate rồi quỳ xuống với bọn trẻ vây xung quanh. Sự biến đổi trong ba năm qua, cô đã quen với việc bị bỏ rơi trong sự có mặt của người đàn ông chăm chỉ, người mà sau tất cả, đã dạy chúng chửi thề là thế nào. Làm sao một người mẹ cạnh tranh được với chuyện đó? Cô phát hiện ra bản thân cười nhăn nhở như một kẻ ngốc về cảnh tượng anh với bốn cánh tay nhỏ bé quấn chặt quanh cổ trong lúc cả hai tranh nhau kể với anh tất cả tin tức về chuyến thăm tới nhà Mimi. Anh trông như thể bị nghẹn, chúng bám quá chặt và say sưa làm thế.

    “Ta biết mình đúng mà,” Sheila lên tiếng, nhìn xuống anh với vẻ hài lòng.

    “Đúng về chuyện gì ạ?” anh xoay sở thở hắt ra.

    “Rằng có chuyện gì đó đang diễn ra giữa cậu và Cate.”

    “Vâng, ma’am, bà đúng. Cháu đã chờ cô ấy ba năm qua.”

    “Ồ, làm tốt lắm. Hai người sẽ kết hôn chứ?”

    “Mẹ à!”

    “Vâng, ma’am,” Cal nói, không hề đỏ mặt.

    “Bao giờ vậy?”

    Mẹ!”

    “Ngay khi có thể ạ.”

    “Trong trường hợp đó,” Sheila nói, “Ta sẽ để cậu ở đây với nó. Nhưng không giở trò bịp bợm với con gái ta dưới mái nhà ta được đâu.”

    Cha cô trông như thể nghẹn vì cười. Cal cũng gần như chết nghẹn vì bọn trẻ. Cate thì nghĩ rằng chết nghẹn vì phẫn nộ.

    “Không có chuyện đó đâu, ma’am,” Cal quả quyết với mẹ cô.

    “Đồ nói dối,” Sheila nói mạnh mẽ.

    Cal nháy mắt với mẹ vợ tương lai của mình. “Vâng, ma’am” anh nói dứt khoát, cười toe toét.

    Vài tuần sau đó, người đàn ông từng được gọi là Kennon Goss, cũng từng là Ryan Ferris, tình cờ đi bộ qua một nghĩa trang bên ngoài Chicago. Gã dường như bước đi không mục đích, dừng lại đọc những cái tên, rồi lại bước vẩn vơ.

    Gã bước qua một ngôi mộ mới. Có một vật đánh dấu được dựng lên tạm thời, tên ghi trên đó là Yuell Faulkner, cùng ngày sinh và ngày mất được liệt kê. Gã đàn ông không dừng lại, không thèm chú ý tí nào đến ngôi mộ. Gã đã bỏ qua nó, tới nghiên cứu một lăng mộ cổ bằng đá của một cậu bé chết vào năm 1903, và từ đó đến ngôi mộ của của một cựu chiến binh được trang trí với hai lá cờ Mĩ cỡ nhỏ.

    Một trong những điều trớ trêu của cuộc đời, gã đàn ông nghĩ. Faulkner đã chết vào đêm đó, cách vài giờ. Anh bạn già Hugh Toxtel có lẽ không phải chết; sự hy sinh không tự nguyện của gã sau tất cả là không cần thiết. Gã chẳng thèm quan tâm tới Teague và em họ hắn, Troy. Mặc dù vậy, gã thắc mắc về Billy Copeland và cậu chàng trẻ tuổi Blake; gã không giết chúng, vậy ai làm?

    Nghĩ lại đêm đó, thỉnh thoảng gã nhớ về một làn gió nhẹ, như thể thứ gì đó hay ai đó đang di chuyển gần kề gã. Nhưng nhiều lần khác, cảm giác thông thường nói với gã rằng đó là một làn gió – làn gió thực sự; được gây ra bởi chuyển động của không khí. Điều đó không giải thích lý do vài lần gã bật dậy trên giường, giật mình ra khỏi một giấc ngủ ngon bởi cảm giác kì lạ mà giấc mơ của gã đã gợi lên, cảm giác bị theo dõi.

    Gã rất mừng đã lê thân mình ra khỏi Idaho, nhưng gã không thể ở lại Chicago. Đã đến lúc chuyển đi. Có lẽ nơi nào đó ấm áp. Có thể là Miami. Gã nghe tin tức thấy có một loạt các vụ giết người ở đó. Kẻ giết người rõ ràng đang thu thập nhãn cầu.

    Điều gì là kì quặc?

    THE END
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/7/15
    thanhbt, linhhaman, Ly Thy and 17 others like this.
  15. kimduyen

    kimduyen Lớp 1

    Kết thúc rồi, cảm ơn HLK nhé
     
    halucky thích bài này.
  16. Breeze

    Breeze Mầm non

    Hoan hô @halucky, vậy là thêm 1 truyện của Linda Howard hoàn thành rồi. Cám ơn @halucky nhiều. Mong gặp lại em trong dự án kế tiếp.
     
    halucky thích bài này.
  17. Trần Thu Hà

    Trần Thu Hà Mầm non

    Cảm ơn HLK đã hoàn tất 1 tác phẩm nữa (tốc độ thật chóng mặt). Mong gặp lại HLK ở dự án tiếp theo.
     
    halucky thích bài này.
  18. thuhuong244

    thuhuong244 Lớp 4

    Chúc mừng bạn halucky đã hoàn thành xong một tác phẩm hay của Linda Howard. Hôm nay mình mới đọc lại 1 lèo từ đầu đến cuối, không dứt ra được. Cảm ơn bạn halucky nhiều nhiều nhiều vì đã dịch hay + chọn truyện hay.
    *Tung hoa tung hoa*:rose:
    Thật mong chờ dự án tiếp theo của bạn quá.
     
    teacher.anh, halucky and ttha like this.
  19. meocontb

    meocontb Lớp 2

    Truyện đã kết thúc cute_smiley60, truyện này nam chính ít đất diễn quá, không giống các truyện khác của bà, cảm ơn @halucky nhiều nhiều. Không biết @halucky đã ấp ủ dự án nào tiếp theo chưa, lần trước mình thấy bạn dịch tiếp cuốn "Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link" rất hay, không biết series Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link này có gây được hứng thú cho @halucky không?
     
    NHTB, ttha and halucky like this.
  20. halucky

    halucky Lớp 11

    @meocontb, mình thích Sunset embrace nhưng nghe nói phần hai của series không hay như phần đầu. Mình đang có ý định cũng dịch một truyện hơi hướng miền tây: Angel Creek - L. Howard (khà khà), phần hai series Quý bà miền tây. Đừng cười nhé, chắc nốt truyện này của L.H là thôi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/6/15

Chia sẻ trang này