Tác giả Đỗ Tiến Đức

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi Beringen, 26/6/21.

  1. Beringen

    Beringen Banned

    Tác gia Đỗ Tiến Đức sinh ngày 11 tháng 10 năm 1937 tại tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), tất nghiệp trung học tại Hà Nội và di cư vào Nam năm 1954.

    Tại quê hương mới Sài Gòn, Đỗ Tiến Đức hoàn tất hai bằng cử nhân Học-viện Quốc-gia Hành-chánh và Đại-học Luật-khoa. Sau đó ông học tiếp sinh-viên sĩ-quan khóa III trường Đồng Đế (Nha Trang) và khóa I trường Cao-đẳng Quốc-phòng (sau đổi là Đại-học Quân-sự).

    Đầu thập niên 1960, Đỗ Tiến Đức kinh qua các chức vụ trong ngạch thông tin trực thuộc các bộ Thanh-niên và Thông-tin biên chế quân khu II rồi IV. Năm 1967, ông được bổ nhiệm giám đốc Nha Thông-tin rồi Nha Điện-ảnh, đồng thời làm giáo sư các viện đại học Đà Lạt, Cửu Long và Minh Đức. Chính trong thời gian này, Đỗ Tiến Đức chủ trương sự kiện Ngày Điện-ảnh thường niên nhằm kích động sự phát triển điện ảnh tại Việt Nam. Ban đầu sự kiện chỉ thu hút mối quan tâm của công chúng cũng như nghệ sĩ quốc nội, sau đó trở thành một trong những sự kiện văn nghệ lớn nhất Á châu, có sự hiện diện của nhiều minh tinh Á châu cũng như quốc tế (thập niên 1960-70 tại Á châu chỉ có Nhật Bản, Đài Loan, Hương Cảng, Việt Nam [Cộng Hòa] duy trì đại hội điện ảnh quốc tế thường niên). Thậm chí có một thời gian ngắn, điện ảnh chiếm ngân khoản lớn nhất trong tổng thu nhập quốc nội Việt-nam Cộng-hòa (mà nay thường quy ra GDP) trong bối cảnh chiến sự leo thang.

    Sau năm 1975, ông Đỗ Tiến Đức di cư sang Mĩ, tiếp tục tiến hành các đại hội điện ảnh hải ngoại. Ngoài ra, ông lập thêm báo Thời Luận tại Los Angeles và duy trì hoạt động tới nay.


    Sự nghiệp Đỗ Tiến Đức gắn liền với văn chương, điện ảnh và báo chí, bên cạnh việc giảng học cũng như làm công chức chính phủ. Ngay từ năm 1954 khi mới vào Nam, ông đã có truyện đăng báo, bẵng đi một thời gian bận học tập và công tác quản lý, kể từ năm 1968 ông tiếp tục làm báo và ra sách.

    Đến nay, vẫn chưa có thống kê chính xác số lượng tác phẩm Đỗ Tiến Đức. Tuy nhiên, đối với Đỗ Tiến Đức, văn chương không phải cứu cánh "cơm áo gạo tiền", cho nên ông không xoay ngòi bút theo thị hiếu nhất thời của độc giả, cũng ít bị ý thức hệ chính trị tông giáo chi phối. Các trứ tác Đỗ Tiến Đức đúng ra thuộc về ngòi bút kinh nghiệm và có chiều sâu nội tâm, rất đáng đọc đối với hậu thế để hiểu hơn về con người Việt Nam những năm chiến tranh tiêu điều.​
     
    meetdak and KienPham like this.
  2. Beringen

    Beringen Banned

    YÊU

    Giai đoạn giao thoa thập niên 1960-70, tại Á châu đột ngột hình thành một điểm sáng điện ảnh, đấy là cái tam giác Đài Loan - Hương Cảng - Việt Nam [Cộng Hòa], vừa học hỏi vừa hợp tác với nhau, đi kèm sự suy vi của các nền điện ảnh lâu đời hơn là Nhật Bản và Phi Luật Tân.

    Khán giả không còn hào hứng với những cuốn phim võ sĩ kiêu hùng kiểu Nhật hay tâm lý hành động nửa Phi Luật Tân nửa Hollywood nữa. Vì giai đoạn này không khí chiến tranh đã hừng hực tại tụ điểm mang tên Việt Nam cùng với các phong trào phản chiến và hiện sinh từ Bắc Mĩ dội về, nên thị hiếu điện ảnh thời này tại Á Đông hướng tới những truyện tình lâm ly bi đát có yếu tố thanh xuân hơn. Hay cách khác, phim ảnh lúc này phải tập trung phục vụ giới trẻ, với cốt truyện hoàn toàn trẻ, thay vì đáp ứng nhu cầu đại chúng với lối biểu đạt tâm lý quá phức tạp.

    Vào năm 1970, bộ phim Chiều kỷ-niệm của hãng Viet-Nam Films thắng lớn về doanh thu. Phim là đề án do nhà sản xuất kiêm tài tử Thẩm Thúy Hằng chế tác, còn phu quân Nguyễn Xuân Oánh là nhà đầu tư chính. Bộ phim có nguồn kinh phí chỉ vừa phải, bối cảnh hẹp và chú trọng diễn xuất, mà nội dung hoàn toàn hướng về tình cảm lứa đôi và cũng đậm chất Á Đông. Xuất phẩm điện ảnh này được đem chiếu khắp Á châu và sang cả Bắc Mĩ, mở ra xu hướng điện ảnh mới lạ ngay tại Việt Nam và gây ảnh hưởng sang các nước cùng khu vực.

    Trong các năm tiếp theo, điện ảnh Việt-nam Cộng-hòa tìm cách chấn hưng cũng như đánh bạt phim nhập cảng bằng việc khai thác các phương thức biểu đạt mới. Cho nên, dòng phim diễm tình đẫm nước mắt là cách thực hiện tối ưu nhất, vì phí tổn thấp nhưng có thể đạt tới tầm nghệ thuật và mức doanh thu rất lớn. Nhưng cũng phải chờ tới năm 1973 mới có cuốn phim Yêu của đạo diễn Đỗ Tiến Đức gây tiếng vang ngang với Chiều kỷ niệm, nếu không nói là xuất sắc hơn.

    Cuốn phim này có cái nền là tập truyện năm chương cùng tên của kí giả Chu Tử, nằm trong loạt tác phẩm... nhan đề một chữ của ông. Tuy nhiên, thành công vang dội cả về nghệ thuật và doanh thu khiến đạo diễn Đỗ Tiến Đức quyết định san hành tập truyện phim, thành thử cả truyện gốc và truyện phim đua nhau tái bản để đáp ứng thị hiếu công chúng. Trong các lần tái bản tại hải ngoại, tác gia Đỗ Tiến Đức bổ sung nhiều hình ảnh tư liệu và các bài hồi tưởng để độc giả trẻ có cái nhìn đa chiều hơn về một sự kiện văn nghệ Việt Nam từng gây thanh danh ở tầm quốc tế. Giả sử mai này sách không được tái bản thêm hoặc các bản lưu hành trên mạng xã hội bị mất, e rằng những người trẻ sinh thế kỉ XXI lại cho rằng, điện ảnh Việt Nam thời trước chẳng có gì đáng coi, thậm chí thua xa phim ảnh Nhật Bản, Đài Loan, Hương Cảng... Như thế quả là đáng tiếc và cũng bất công đối với giới văn nghệ nước nhà !

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 26/6/21

Chia sẻ trang này