Truyện ngắn - Tản văn Đồng thoại Nga

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học nước ngoài' bắt đầu bởi Beringen, 11/6/21.

  1. Beringen

    Beringen Banned

    Số là đúng năm e-thuvien huyền thoại giải thể, mình có lập chủ đề ĐỒNG THOẠI NGA, được khá nhiều phản ứng tích cực, phải nói là dạo đó tràn trề hi vọng sưu tầm được những bản truyện dịch rải rác của những Aleksandr Pushkin, Aleksandr Afanasyev, Lev Tolstoy, Dmitry Mamin-Sibiryak, Aleksey Tolstoy, Samuil Marshak, Yevgeny Shvarts, Korney Chukovsky, Nikolay Nosov, Tatyana Tolstaya... Nhưng đáng tiếc, sau khi e-thuvien đóng cửa, có thời gian khá lâu sinh hoạt cộng đồng đọc bị ảnh hưởng tiêu cực, nhưng thôi thì nhắc lại chẳng để làm gì.

    Nay mình mạo muội lập chủ đề này với thiển ý trưng cầu sự góp sức của cộng đồng để kiến tạo mảng văn chương này trên không gian mạng điện tử. Vì cũng phải nói là mình rất bất ngờ, cộng đồng đọc Việt Nam quãng hai thập niên nay chỉ nhai đi nhai lại dăm chục cuốn truyện Tô Liên cũ, trong khi các thập niên 1970-80 ấn bản dịch văn học Nga tại Việt Nam rất phong phú.

    Tất nhiên, không gì bằng sự tiên phong, mình cũng xắn tay vào đóng góp một số tư liệu mà bản thân tích lũy được. Tuy không nhiều, nhưng âu cũng là tấm lòng thành của mình cho cộng đồng. Cảm ơn các bạn !

    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/6/21
    htahta, Arabiya, lydunhien and 3 others like this.
  2. Beringen

    Beringen Banned

    Tác phẩm sơ khởi mà mình đăng chủ đề cũ tại e-thuvien là Nàng Vasilisa xinh đẹp, nguyên bản tiếng Nga là Vasilisa thông thái (Василиса Премудрая) hoặc Marya Morevna (Марья Моревна). Truyện do tác gia Aleksandr Nikolayevich Afanasyev sưu tầm tại khu vực Shadrinsk (tỉnh Kurgan, Đế quốc Nga), ấn hành trong tập Dân thoại Nga (Народные русские сказки) năm 1873, kèm minh họa của ông Ivan Bilibin. Hình ảnh ấn tượng tới mức rùng rợn trong truyện là khi Vasilisa bước ra khỏi khu rừng và trên tay cầm cái đầu lâu phát sáng (tình tiết khá giống truyện Tấm Cám).

    Truyện này vốn được coi là phần đầu trong bộ ba huyền thoại công chúa Vasilisa. Nay mình mạn phép đổi về nhan đề gốc :

    VASILISA THÔNG THÁI

    [​IMG]

    Cách đây đã lâu lắm, trong lĩnh địa của vị sa hoàng nào đó, có một cặp vợ chồng già cùng cô con gái Vasilisa sinh sống. Họ chỉ có một căn lều nhỏ làm nhà nhưng cuộc sống của họ rất thanh bình và hạnh phúc.
    Tuy nhiên, ngay cả bầu trời trong xanh nhất cũng có thể trở nên u ám, và cuối cùng thì sự bất hạnh cũng bước qua ngưỡng cửa nhà họ. Người mẹ già ngã bệnh trầm trọng, rồi đến khi cảm thấy rằng cái chết của mình sắp tới gần, bà gọi Vasilisa tới bên giường, đưa cho cô một con búp bê nhỏ và dặn:
    - Hãy làm như nó bảo, con yêu. Hãy chăm sóc tốt cho con búp bê nhỏ và đừng bao giờ cho ai xem nó. Nếu như có bất cứ chuyện gì xấu xảy ra với con thì hãy cho búp bê thứ gì đó để ăn và xin lời khuyên của nó. Nó sẽ giúp con thoát khỏi mọi rắc rối.
    Và rồi người mẹ qua đời sau khi trao cho Vasilisa nụ hôn cuối cùng, nụ hôn chia ly.
    Người cha buồn rầu và đau lòng được một thời gian rồi sau đó ông ta tái hôn. Ông nghĩ rằng ông sẽ mang đến cho Vasilisa một người mẹ thứ hai, nhưng thay vì thế ông lại mang đến cho cô một người mẹ kế độc ác.
    Bà mẹ kế có hai cô con gái riêng, họ là hai trong số những cô gái hằn học, ghê gớm và khó chiều nhất từng sống trên đời. Bà mẹ kế yêu chúng tha thiết, luôn luôn hôn hít và chiều chuộng chúng, song bà ta lại rầy la Vasilisa và chưa bao giờ để cho cô yên. Vasilisa cảm thấy thật bất hạnh vì mẹ kế và các chị kế mắng mỏ, gắt gỏng với cô, bắt cô làm việc quá sức mình. Họ mong rằng cô sẽ trở nên gầy gò, hốc hác với quá nhiều việc phải làm, và rằng gương mặt cô sẽ biến thành đen đủi, xấu xí bởi gió và nắng. Cả ngày họ nhằm vào cô, hết người này đến người kia la hét:
    - Đến đây, Vasilisa. Mày ở đâu rồi Vasilisa ? Nhặt củi đi, đừng có mà chậm chạp đấy! Nhóm lửa đi, nhào bột đi! Rửa đĩa đi, vắt sữa bò đi! Cọ sàn nhà mau, ngay bây giờ! Làm việc đi và đừng có làm mất cả ngày đấy!
    Vasilisa làm tất cả những gì cô bị sai bảo, cô hầu hạ tất cả mọi người và luôn làm việc nhà đúng giờ. Rồi từng ngày trôi qua cô lớn lên càng xinh đẹp hơn, đến mức mà vẻ đẹp của cô khó có thể vẽ lại được và khó có thể diễn tả bằng lời, nhưng đúng là một điều kỳ diệu thật sự và thật vui mừng khi được chiêm ngưỡng. Chính là con búp bê nhỏ đã giúp Vasilisa trong tất cả mọi việc.
    Sáng sớm tinh mơ, Vasilisa sẽ vắt sữa bò và sau đó, khi tự khóa cửa nhốt mình trong phòng để thức ăn, cô cho búp bê chút sữa và nói:
    - Tới đây nào, búp bê nhỏ, uống sữa đi em, búp bê yêu dấu của chị và chị sẽ kể cho em tất cả những rắc rối của chị.
    Và búp bê sẽ uống sữa, làm hài lòng Vasilisa, làm mọi việc cho cô. Vasilisa ngồi dưới bóng râm kết hoa lên bím tóc của cô, còn những luống rau thì được nhổ cỏ, nước được mang tới, lửa được nhóm lên và cải bắp được tưới trước khi cô nhận biết được điều đó. Búp bê chỉ cho cô một loại thảo mộc được dùng để chống rám nắng, Vasilisa sử dụng nó và càng trở nên đẹp hơn.
    Một ngày cuối thu, người cha rời khỏi nhà và không trông đợi được gì là ông sẽ quay về sớm. Bà mẹ kế và ba chị em bị bỏ lại đơn độc. Họ ngồi trong lều, bên ngoài trời thì tối, mưa và gió rít. Căn lều nằm ở bìa rừng của một khu rừng rậm rạp, và sống trong rừng là Baba – Yaga, một phù thủy ranh mãnh và xảo quyệt, người mà trong nháy mắt có thể nhai ngấu nghiến người khác.
    Lúc này, bà mẹ kế đang giao việc cho mỗi chị em làm: đứa thứ nhất bà giao cho dệt đăng-ten, đứa thứ hai đan bít tất và Vasilisa thì quay sợi. Sau đó bà ta dập tắt hết tất cả lửa trong nhà ngoại trừ một miếng gỗ cháy ở góc nhà nơi ba chị em làm việc rồi đi ngủ.
    Miếng gỗ cháy kêu răng rắc và tanh tách, được một lúc thì tắt.
    “Chúng ta làm gì đây?” hai cô con gái của bà mẹ kế thốt lên. “Trong lều tối quá mà chúng ta lại phải làm việc. Một người trong số chúng ta phải tới nhà Baba – Yaga để xin lửa thôi.”
    “Chị sẽ không đi đâu.” đứa lớn hơn trong hai đứa nói. “Chị đang làm đăngten và kim của chị đủ sáng cho chị nhìn thấy.”
    “Em cũng không đi.” đứa thứ hai nói. “Em đang đan tất và hai cái kim của em đủ sáng để em nhìn thấy.”
    Rồi cả hai đứa cùng la lên: “Vasilisa là người phải đi xin lửa. Đến nhà Baba – Yaga ngay, Vasilisa!” Rồi chúng đẩy Vasilisa ra khỏi lều.
    Xung quanh cô là bóng đêm, rừng rậm và gió dữ dội; Vasilisa sợ hãi, cô bật khóc và lấy con búp bê nhỏ ra khỏi túi.
    “Ôi búp bê nhỏ yêu quý ơi…” cô nói giữa những tiếng thổn thức. “Họ bắt chị đến nhà Baba – Yaga để xin lửa, và Baba – Yaga thì ăn thịt người, xương, tất thảy.”
    “Đừng lo lắng” búp bê trả lời. “Chị sẽ ổn thôi. Khi em ở cạnh chị thì không có bất cứ thứ gì tồi tệ xảy ra cho chị hết.”
    “Cám ơn vì đã an ủi chị, búp bê nhỏ.” Vasilisa nói và cô bắt đầu lên đường.
    Hoa hồng dại mọc như một bức tường quanh cô và trên bầu trời không hề có dấu hiệu nào của vầng trăng lưỡi liềm, không có ngôi sao nào chiếu sáng.
    Vasilisa run rẩy đi về phía trước, giữ chặt búp bê nhỏ gần mình.
    Bất ngờ cô trông thấy một chàng trai ngồi trên lưng ngựa phi nước đại vượt qua. Anh ta mặc toàn màu trắng, con ngựa của anh ta màu trắng và bộ yên cương làm bằng bạc của con ngựa phát ra ánh sáng trắng trong bóng tối.
    Bây giờ đã là bình minh, Vasilisa lê bước đi thì sẩy chân và vấp ngón chân vào rễ và gốc cây. Những giọt sương lấp lánh trên bím tóc dài của cô còn tay cô thì lạnh buốt và tê cóng.
    Đột nhiên một kỵ sĩ khác phi ngựa nước đại qua. Anh ta mặc quần áo màu đỏ, con ngựa của anh ta màu đỏ và yên cương ngựa cũng là màu đỏ.
    Mặt trời mọc, khẽ chạm vào Vasilisa, sưởi ấm cô và làm tan những giọt sương trên tóc cô.
    Vasilisa chưa bao giờ dừng lại nhưng cũng phải đi bộ mất cả ngày, và khi cô tiến đến một khoảng rừng thưa nhỏ thì trời cũng gần tối.
    Cô trông thấy một căn chòi gỗ đứng ở đó. Hàng rào xung quanh nó được làm từ xương người và đặt trên đỉnh là những cái đầu lâu. Cánh cổng không phải là cổng mà là xương chân người, những cái then cổng không phải là then mà là xương cánh tay và khóa cổng không phải là khóa mà là một chuỗi những cái răng nhọn.
    Vasilisa khiếp đảm và đứng yên không nhúc nhích. Bỗng nhiên một kỵ sĩ phi ngựa đến. Anh ta mặc đồ màu đen, con ngựa của anh ta màu đen và yên cương ngựa cũng là màu đen. Kỵ sĩ phi nước đại tới cánh cổng và biến mất như thể tan vào không khí.
    Màn đêm buông xuống. Và trông kìa! Những con mắt của những cái đầu lâu đội trên hàng rào bắt đầu bừng sáng, và trời trở nên sáng như thể ban ngày.
    Vasilisa sửng sốt vì khiếp sợ. Cô không thể nhấc chân mình đi, chân cô dường như hóa đá tại chỗ và từ chối mang cô đi xa khỏi cái nơi khủng khiếp này.
    Rồi bất ngờ cô cảm thấy mặt đất dưới chân đang rung chuyển, và kia là Baba – Yaga đang bay đến trong một cái cối, đung đưa cái chày của mụ như cái roi và dọn đường bằng một cái chổi.
    Mụ ta bay tới cánh cổng, hít ngửi không khí rồi thốt lên:
    - Ta ngửi thấy mùi thịt người. Đứa nào ở đây thế?
    Vasilisa tới gần Baba – Yaga, cúi chào mụ ta thật thấp và nói rất khúm núm:
    - Là cháu ạ, Vasilisa, thưa bà. Các chị kế của cháu cử cháu tới để xin bà ít lửa.
    “Ồ, là cháu à.” Baba – Yaga đáp lại. “Mẹ kế của cháu là bà con của ta. Được thôi, ở lại với ta một thời gian và làm việc, rồi sau đó chúng ta sẽ xem xem nhìn thấy cái gì.”
    Và mụ quát lên thật to:
    - Tháo khóa ra, then cổng rất chắc chắn của ta! Mở ra, cánh cổng rộng lớn của ta!
    Cánh cổng đung đưa mở ra, Baba – Yaga cưỡi cái cối đi vào và Vasilisa bước đằng sau.
    Bây giờ ở chỗ cánh cổng mọc lên một cây bu-lô và nó làm như thể sắp đánh Vasilisa bằng cành cây.
    “ Đừng có đụng đến con bé, chính ta đem nó tới đấy.” Baba – Yaga nói.
    Họ bước vào nhà, nằm trên bậc cửa là một con chó, và nó làm như thể sắp cắn Vasilisa.
    “ Đừng có đụng đến con bé, chính ta đem nó tới đấy.” Baba – Yaga nói.
    Họ tiến vào bên trong và ở hành lang một con mèo già hay gầm gừ gặp họ, nó làm như thể sắp cào Vasilisa.
    “ Đừng có đụng đến con bé, mèo già hay gầm gừ ạ, chính ta đem nó tới đấy.” Baba – Yaga nói.
    “Cháu thấy chưa Vasilisa…” quay lại phía cô, mụ ta nói thêm, “không dễ dàng chạy trốn khỏi ta đâu. Mèo của ta sẽ cào cháu, chó của ta sẽ cắn cháu, cây bu-lô của ta sẽ quất cháu, móc mắt cháu và cánh cổng thì sẽ không mở cho cháu ra ngoài đâu.”
    Baba – Yaga vào phòng của mụ và nằm dài trên ghế.
    “Lại đây, cô gái có lông mày đen, đem cho bọn ta chút gì để ăn.” mụ ta kêu.
    Và cô gái có lông mày đen chạy vào và bắt đầu cho Baba – Yaga ăn. Cô đem cho mụ ta một nồi canh củ cải đỏ và nửa con bò, mười bình sữa và một con lợn quay, hai mươi con gà và bốn mươi con ngỗng, hai cái bánh nướng nguyên và thêm một miếng, rượu táo, rượu mật ong và rượu ủ tại nhà, một thùng bia và một xô nước cơvat.
    Baba – Yaga ăn và uống hết tất cả mọi thứ nhưng mụ chỉ cho Vasilisa một khoanh bánh mỳ.
    “ Còn giờ thì, Vasilisa…” mụ ta nói, “ cầm lấy bao tải hạt kê này và nhặt từng hạt một. Và chú ý nhặt ra tất cả những hạt màu đen đấy, vì nếu cháu không làm ta sẽ ăn thịt cháu.”
    Rồi Baba – Yaga nhắm mắt lại và bắt đầu ngáy.
    Vasilisa cầm mẩu bánh mỳ đặt trước búp bê nhỏ và nói:
    - Tới đây nào, búp bê nhỏ, ăn bánh mỳ đi em, búp bê yêu dấu của chị và chị sẽ kể cho em tất cả những rắc rối của chị. Baba – Yaga giao cho chị một việc khó làm, và bà ta đe dọa sẽ ăn thịt chị nếu chị không làm.
    Búp bê nhỏ trả lời:
    - Đừng đau lòng và đừng khóc mà hãy nhắm mắt lại và đi ngủ. Vì buổi sáng thì khôn ngoan hơn buổi tối.
    Và lúc Vasilisa đã ngủ, búp bê gọi to :

    Chim hét xanh ơi, bồ câu ơi, chim sẻ ơi, nghe tôi gọi,
    Có việc phải làm, tôi đương lo sợ
    Cuộc sống của Vasilisa phụ thuộc vào sự giúp đỡ của các bạn,
    Những người bạn có cánh của tôi.
    Đến đây và đáp lại lời tôi gọi,
    Các bạn đang được cần đến, một và tất cả.

    Và những chú chim đang bay đến từ khắp các hướng, từng đàn, từng đàn chim, nhiều hơn mắt chúng ta có thể nhìn và lưỡi có thể kể. Chúng bắt đầu líu lo và kêu gù gù để bắt tay vào làm việc, nhặt hạt kê từng hạt một thực sự rất nhanh. Những hạt tốt cho vào bao tải, còn những hạt đen cho vào diều chim, và trước khi chúng nhận ra thì đêm đã qua và bao tải đã đầy lên.
    Chúng chỉ vừa xong khi kỵ sĩ mặc đồ trắng phi nước đại qua cánh cổng trên con ngựa trắng của mình. Ban ngày đang hé rạng.
    Baba – Yaga thức dậy và hỏi:
    - Cháu đã làm xong việc ta bảo cháu chưa thế hả, Vasilisa?
    - Vâng, xong rồi ạ, thưa bà.
    Baba – Yaga vô cùng tức giận nhưng chẳng còn gì để nói.
    “Hừm…” mụ ta khụt khịt mũi, “ta phải đi săn và cháu hãy cầm lấy cái bao tải đằng kia, nó đựng đầy hạt đậu và hạt giống cây thuốc phiện, hãy nhặt hạt đậu ra khỏi hạt giống và để chúng thành hai đống riêng. Và chú ý, nếu cháu không làm thì ta sẽ ăn thịt cháu đấy!”
    Baba – Yaga ra ngoài sân và huýt sáo, cái cối và cái chày lướt nhanh đến chỗ mụ.
    Kỵ sĩ mặc đồ đỏ phi ngựa nước đại qua, và mặt trời mọc.
    Baba – Yaga trèo vào trong cối rồi bay khỏi sân, đung đưa chày như thể cái roi và dẹp đường đi bằng cái chổi của mụ.
    Vasilisa lấy một mẩu bánh mỳ khô, cho búp bê ăn và nói:
    - Thương xót chị với, búp bê nhỏ, em thân mến, hãy giúp đỡ chị.
    Và búp bê gọi:
    - Lại đây với tôi nào, ôi những chú chuột trong nhà, trong kho thóc và trên cánh đồng, vì ở đây có việc để làm đấy.
    Và những con chuột chạy đến, từng bầy, từng bầy chuột, nhiều hơn mắt chúng ta có thể nhìn và lưỡi có thể kể, rồi trước khi một tiếng đồng hồ qua đi thì công việc đã xong.
    Trời tối dần và cô gái có lông mày đen dọn bàn, bắt đầu đợi Baba – Yaga trở về.
    Kỵ sĩ mặc đồ đen phi nước đại qua cánh cổng, đêm xuống, và mắt của những cái đầu lâu đội trên hàng rào bắt đầu rực sáng. Và rồi thân cây cối rên rỉ, kêu răng rắc, lá cây xào xạc. Baba – Yaga, mụ phù thủy ranh mãnh và xảo quyệt, người có thể trong nháy mắt nuốt chửng người khác đang trở về nhà.
    “Cháu đã làm xong việc ta bảo cháu chưa thế hả, Vasilisa?” mụ ta hỏi.
    “Vâng, xong rồi ạ,thưa bà.”
    Baba – Yaga vô cùng tức giận, nhưng mụ ta chẳng thể nói gì được.
    “Được, đi ngủ thôi. Ta sẽ ngủ một tí”
    Vasilisa đi đằng sau bếp lò và cô nghe thấy Baba – Yaga nói:
    “Nhóm bếp lò lên, làm cho lửa thật to, cô gái lông mày đen. Khi nào thức dậy ta sẽ đem nướng Vasilisa.”
    Rồi Baba – Yaga nằm xuống ghế, tựa cằm lên một cái giá, tự che đậy bằng chân mụ và bắt đầu ngáy to đến nỗi khiến cả khu rừng rung chuyển, lắc lư.
    Vasilisa bật khóc và lôi búp bê của cô ra, đặt một mẩu bánh mỳ trước mặt nó.
    “Tới đây nào, búp bê nhỏ, ăn chút bánh mỳ đi, búp bê yêu dấu của chị và chị sẽ kể cho em tất cả những rắc rối của chị, vì Baba – Yaga muốn nướng chị rồi ăn chị…” cô nói.
    Và búp bê nói cho cô biết phải làm gì để thoát khỏi rắc rối mà không phải khó nhọc.
    Vasilisa vội vã đến chỗ cô gái lông mày đen và cúi chào cô ta thật thấp.
    “Cô gái lông mày đen ơi, làm ơn giúp tôi với!” cô thốt lên. “ Khi cô đang nhóm lò thì hãy đổ nước lên củi để chúng không cháy được. Đây là chiếc khăn tay bằng lụa của tôi để đền ơn cô vì việc này.”
    Cô gái lông mày đen trả lời:
    - Được thôi, bạn thân mến, tôi sẽ giúp cô. Tôi sẽ nhóm lò thật lâu, và tôi sẽ cù gót chân của Baba – Yaga và cào chúng nữa nên bà ta có thể ngủ qua cả buổi tối. Và cô chạy xa đi, Vasilisa!”
    - Nhưng ba kỵ sĩ sẽ không bắt tôi và đem tôi về chứ?
    - Ồ, không đâu. Kỵ sĩ mặc đồ trắng là ban ngày rực rỡ, kỵ sĩ mặc đồ đỏ là mặt trời vàng và kỵ sĩ mặc đồ đen là đêm đen, họ sẽ không đụng đến cô đâu.
    Vasilisa chạy vào hành lang, con mèo hay gầm gừ vụt đến bên cô và chuẩn bị cào cô. Nhưng cô ném cho nó một cái bánh nướng và nó không đụng tới cô nữa.
    Vasilisa chạy xuống khỏi hành lang, con chó lao tới và chuẩn bị cắn cô. Nhưng cô ném cho nó một miếng bánh mỳ và con chó để cho cô đi.
    Vasilisa bắt đầu chạy ra khỏi sân, cái cây bi-lô cố gắng đánh cô và móc mắt cô. Nhưng cô treo lên cây một sợi ruy băng và cây bi-lô để cô đi qua.
    Cánh cổng chuẩn bị đóng sập trước cô nhưng Vasilisa tra dầu vào bản lề và nó mở ra.
    Vasilisa chạy vào khu rừng tối, vừa lúc kỵ sĩ mặc đồ đen phi ngựa nước đại qua và xung quanh trở nên đen sì. Làm thế nào cô về nhà mà không có lấy một ánh lửa được? Cô sẽ nói gì? Tại sao ư, mẹ kế của cô sẽ hành cô cho đến chết.
    Thế nên cô nhờ búp bê nhỏ giúp mình và làm theo lời nó nói.
    Cô lấy một trong những cái đầu lâu ở hàng rào và cắm nó vào một cây gậy, bắt đầu đi băng rừng. Những con mắt của đầu lâu rực sáng và nhờ ánh sáng của chúng đêm tối sáng như ban ngày.
    Về phần Baba – Yaga, mụ ta thức dậy, vươn mình, rồi mụ thấy rằng Vasilisa đã đi mất thì mụ vội vàng lao vào hành lang.
    Mụ gặng hỏi:
    - Mày đã cào Vasilisa khi nó chạy qua chứ, mèo?
    Và con mèo đáp lại:
    - Không, tôi đã để cho cô ấy đi qua, vì cô ấy cho tôi một cái bánh nướng. Tôi đã phục vụ bà mười năm trời nhưng bà chẳng bao giờ cho tôi nhiều hơn một mẩu bánh mỳ.
    Baba – Yaga vội vàng chạy ra sân. Mụ gặng hỏi:
    - Mày đã cắn Vasilisa đúng không, chó trung thành của ta?
    Con chó trả lời:
    - Không, tôi đã để cho cô ấy đi qua, vì cô ấy cho tôi một ít bánh mỳ. Tôi đã phục vụ bà quá nhiều năm nhưng bà chẳng bao giờ cho tôi nhiều hơn một cái xương.
    “Cây bi-lô, cây bi-lô!” Baba – Yaga rống lên. “Mày đã móc mắt Vasilisa rồi chứ?”
    “Không hề, tôi đã để cho cô ấy đi qua, vì cô ấy buộc lên cành của tôi một sợi ruy băng. Tôi đã mọc ở đây được mười năm rồi, và bà chẳng bao giờ treo lên một sợi dây.” Cái cây bi-lô trả lời.
    Baba – Yaga chạy đến cánh cổng.
    “Cổng ơi, cổng!” mụ ta thốt lên. “ Có phải mày đã đóng sập cửa để Vasilisa không qua được không?”
    “Không hề, tôi đã để cho cô ấy đi qua, vì cô ấy tra dầu vào bản lề của tôi. Tôi đã phục vụ bà quá lâu nhưng bà thậm chí chưa bao giờ đổ nước lên chúng.” cánh cổng đáp lại.
    Baba – Yaga nổi cơn tam bành. Mụ ta bắt đầu đánh chó đập mèo, phá cửa và chặt hạ cây bi-lô, và sau đó thì mụ ta mệt đến mức quên hết tất cả về Vasilisa.
    Vasilisa chạy về nhà và cô thấy rằng chẳng có ánh sáng nào trong nhà. Các chị kế của cô vội vàng ra ngoài và bắt đầu la rầy, mắng mỏ cô.
    “Cái gì khiến mày đi kiếm lửa lâu như thế hả?” họ quát hỏi. “Chúng tao dường như không thể giữ được một tí lửa nào trong nhà cả. Chúng tao đã cố gắng nhóm lửa hết lần này đến lần khác nhưng vô ích, và ngọn lửa mà chúng tao lấy từ nhà hàng xóm thì tắt ngay lúc được mang về. Có thể cái của mày sẽ sáng mãi được đấy.”
    Chúng mang cái đầu lâu vào căn lều, những con mắt của nó nhìn chằm chằm vào bà mẹ kế cùng hai cô con gái và thiêu đốt họ như ngọn lửa. Bà mẹ kế và hai cô con gái cố gắng trốn đi nhưng dù chạy đi đâu những con mắt của đầu lâu vẫn dõi theo họ và không bao giờ để họ ra ngoài tầm nhìn.
    Cho đến sáng thì họ đã bị cháy xém, cả ba người, chỉ duy có Vasilisa vẫn không hề bị thương.
    Cô chôn cái đầu lâu bên ngoài căn lều và một bụi cây hoa hồng đỏ mọc lên tại chỗ đó.
    Sau đó, không còn muốn ở lại trong căn lều đó nữa, Vasilisa đi tới thị trấn và ở nhờ nhà một bà lão.
    Một ngày cô nói với bà lão rằng:
    - Bà ơi, cháu chán việc ngồi một chỗ chẳng làm gì cả lắm. Bà mua cho cháu một ít sợi lanh, thứ tốt nhất mà bà tìm được nhé.
    Bà lão mua cho cô một ít sợi lanh và Vasilisa bắt tay vào quay sợi. Cô làm việc rất nhanh và khéo, guồng quay sợi hoạt động mạnh và chỉ vàng tuôn ra đều và mỏng như một mái tóc. Cô bắt đầu dệt vải và nó biến thành mảnh đến nỗi có thể chui qua đầu mũi kim như sợi chỉ vậy. Cô tẩy trắng tấm vải và nó trở nên trắng hơn tuyết.
    “Đây này, bà ơi, bà đi và bán tấm vải này rồi giữ tiền cho mình nhé.” cô nói.
    Bà lão nhìn tấm vải và há hốc miệng kinh ngạc.
    “Không đâu con ơi, tấm vải như thế này chỉ duy nhất hợp với hoàng tử mà thôi. Ta nên mang nó đến cung điện.”
    Bà mang tấm vải đến cung điện, và khi hoàng tử nhìn thấy nó, chàng kinh ngạc.
    “Bà muốn bao nhiêu cho tấm vải này?” hoàng tử hỏi.
    “Tấm vải quá đẹp để đem ra mua bán, ta mang đến cho ngài làm quà tặng.”
    Hoàng tử cảm ơn bà lão, tặng quà cho bà và đưa bà về.
    Nhưng chàng không thể tìm được người nào làm áo cho chàng từ tấm vải đó, vì tài nghệ phải tuyệt vời như thớ vải vậy. Nên chàng lại cho đòi bà lão đến và nói:
    - Bà đã dệt tấm vải này nên hẳn là bà biết phải làm thế nào để làm được áo từ nó.
    - Không phải ta là người đã quay sợi hay dệt tấm vải này đâu, thưa hoàng tử, mà là một thiếu nữ tên là Vasilisa.
    - Vậy thì hãy để cô ấy làm cho ta một chiếc áo.
    Bà lão trở về nhà và bà kể hết việc đó cho Vasilisa nghe.
    Vasilisa làm ra hai chiếc áo, thêu chúng bằng chỉ bạc, đính lên những viên ngọc trai to tròn rồi đưa chúng cho bà lão để mang tới cung điện, còn cô thì ngồi bên cửa sổ với đồ thêu.
    Một lát nữa thôi người mà cô nhìn thấy là một trong những người hầu của Nga hoàng đang chạy về phía cô.
    “Hoàng tử mời cô tới cung điện,” người hầu nói.
    Vasilisa tới cung điện và khi trông thấy cô, hoàng tử đã bị say đắm bởi vẻ đẹp của cô.
    “Ta không thể chịu đựng được việc lại để nàng đi mất, nàng sẽ là vợ của ta,” hoàng tử nói.
    Chàng đặt cả hai bàn tay trắng như sữa của Vasilisa vào tay mình và để cô ngồi xuống chỗ bên cạnh chàng.
    Và rồi Vasilisa cùng hoàng tử cưới nhau, khi cha của Vasilisa trở về sau đó ông cũng vào ở trong cung điện với họ.
    Vasilisa cũng đưa bà lão đến sống cùng cô, và về phần con búp bê nhỏ của cô thì cô luôn mang nó theo trong túi.
    Cứ như vậy họ đã và đang sống đến ngày nay, và họ đang chờ đợi chúng ta tới chơi.
     

    Các file đính kèm:

    htahta, Arabiya, hallage and 2 others like this.
  3. Beringen

    Beringen Banned

    Sử thi Truyện ngư ông và con cá vàng (Сказка о рыбаке и рыбке) do tác gia Aleksandr S. Pushkin khởi thảo ở thôn Boldino đầu tháng 10 năm 1933. Theo khảo cứu gần đây thì ông dựa vào bản truyện anh em Grimm, tuy nhiên huyền thoại này lại có mẫu gốc ở ngụ ngôn Aesop, nghĩa là cách Pushkin-Grimm tới hai thiên niên kỉ.

    Ngày trước VTV3 từng có bản dịch xuôi theo phim hoạt họa, sau này (quãng mấy năm trước) có bác Thái Bá Tân dịch lại 1/3, nhưng các bản này đều lược đi một số chi tiết đậm chất Nga (và chỉ ở ngữ cảnh Nga mới hiểu), như là "bánh gừng" bị gọi là "bánh quý" hay "máng giặt" bị nhầm là "máng lợn", hoặc "biết nói như Cơ Đốc hữu" thành "biết nói tiếng người"... Vả chăng, theo sáng tạo của Pushkin, nhân vật cá vàng vốn là hải vương, cho nên trong một số ngữ cảnh, ngư ông đã gọi nó là "bệ hạ".


    Dưới đây trích bản dịch của mình, chắc chắn là thô nhưng mục phiêu của mình là nắm cái tinh thần tác phẩm gốc :

    Nơi ấy có ông lão sống với vợ mình,
    bên bờ biển nơi làn nước sâu xanh thẳm.
    Họ cùng nhau trong túp lều lụp xụp,
    đặng suốt ba mươi năm từ hạ sang đông.
    Ông lão thường chài cá làm kế sinh nhai,
    còn mụ vợ ngày ngày xe sợi dệt lưới.
    Có lần ông lão lại ra biển quăng lưới,
    nhưng hễ kéo lên chỉ những bùn từ đáy.
    Ông lão lại quăng lưới ra xa hơn nữa,
    và lần này không vớ được gì ngoài rong rêu.
    Tới lần thứ ba ông quăng lưới xa hơn,
    trơ một con cá nhỏ mắc cạn mà thôi.
    Nhưng không phải cá thường, mà cá vàng.
    Bấy giờ bỗng cá ngỏ lời kêu xin ông,
    tiếng nó trong trẻo như thể một con người :
    Xin cho tôi về biển khơi, thưa ông lão !
    Tôi sẽ đền ơn ông món chuộc quý giá,
    xin đáp ứng bất cứ khi nào ông đòi.
    Ông lão có thoáng ngạc nhiên và sợ hãi,
    ông đã chài cá suốt ba mươi mùa hè,
    nhưng chưa khi nào được nghe cá biết nói.
    Thế là bằng thận trọng mà trấn an cá,
    rồi dịu dàng ông nói với nó như sau :
    Cầu phước cho ngươi, cá vàng nhỏ thân mến !
    Tạ lòng ngươi, nhưng ta chẳng cần trả ơn.
    Hãy về nhà đi, trở lại với biển xanh,
    và dạo chơi nơi ngươi chẳng trở ngại gì !
    Vội về tới nhà, ông lão bèn kể lể
    cho mụ vợ nghe truyện lạ lùng vừa qua.
    Sáng ngày tôi vừa bắt được một con cá,
    cá vàng đấy, chẳng phải tầm thường đâu.
    Nó biết nói như Cơ Đốc hữu, xin tôi
    thả cho về lại với biển sâu xanh thẳm.
    Còn hứa trả ơn bằng món chuộc hậu hĩnh,
    và đáp ứng bất cứ khi nào tôi đòi.
    Nhưng làm sao tôi có thể đòi khoản chuộc
    Nên đã thả ra mà không đòi hỏi gì.
    Mụ vợ bèn nổi cơn giận mắng nhiếc chồng :
    Ôi cái đồ khờ, lão muôn phần dại dột !
    Không thể đòi khoản chuộc một con cá ư ?
    Ít ra ông có thể đòi máng giặt mà,
    chứ cái nhà mình nứt toác rồi, thấy chưa ?
    Ông lão nghe vậy bèn quay lại bờ biển,
    nơi những con sóng đương nô giỡn hiền hòa.
    Ông cất tiếng gọi con cá vàng thật to,
    thế là cá bơi lên và hỏi ông rằng :
    Có truyện gì ư, ông lão muốn gì thế ?
    Ông lão bèn cúi chào cá và đáp rằng :
    Xin lượng thứ cho, thưa bệ hạ cá vàng !
    Mụ nhà vừa quở mắng tôi ghê gớm quá,
    không cho tôi được yên dầu chỉ chốc lát.
    Mụ bảo rằng, mụ đòi cái máng giặt mới,
    Vì máng giặt nhà tôi đã hỏng từ lâu.
    Nghe thế, con cá vàng lầm bầm mà rằng :
    Chớ lo, xin Chúa phù hộ, ông về đi,
    rồi ổn thôi, nhà ông sẽ có máng mới.
    Vội về tới nhà, ông lão đã trông thấy
    mụ vợ ông đang giặt giũ bằng máng mới.
    Nhưng rồi thậm tệ mụ đay nghiến ông hơn :
    Ôi cái đồ khờ, lão muôn phần dại dột !
    Gặp cá chỉ đòi một cái máng giặt thôi ?
    Rồi ông thu được gì từ cái máng này ?
    Hãy quay ra gặp con cá, đồ ngốc ạ,
    cúi thật thấp mà đòi ngôi nhà tử tế.
    Ông lão đành trở ra bờ biển lần nữa,
    biển xanh đã nổi những gợn sóng lăn tăn.
    Ông lại cất tiếng gọi cá vàng thật to,
    thế là cá bơi lên và cất tiếng hỏi :
    Có truyện gì ư, ông lão muốn gì nữa ?
    Cúi thật thấp, ông lão phân trần mà rằng :
    Xin lượng thứ cho, thưa bệ hạ cá vàng !
    Quả rằng mụ vợ còn đay nghiến tôi hơn,
    mụ chẳng để tôi yên dầu trong chốc lát,
    Con mụ bẳn tính bảo rằng muốn nhà mới.
    Nghe thế, cá vàng lại lầm bầm mà rằng :
    Chớ lo, xin Chúa phù hộ, ông về đi.
    Được thôi, rồi ông sẽ có căn nhà mới !
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/6/21
    htahta, Arabiya, hallage and 3 others like this.
  4. Beringen

    Beringen Banned

    Sử thi Truyện công chúa chết và bảy tráng sĩ (Сказка о мёртвой царевне и о семи богатырях) cũng được Aleksandr S. Pushkin khởi thảo trong tháng 10 năm 1833 khi về nghỉ mát tại thôn Boldino. Truyện này Pushkin trực tiếp dựa vào bản Nàng Bạch Tuyết (Schneewittchen) của anh em Grimm, nhưng ông hạn chế ở mức tối đa các tình tiết huyền ảo (thay vì biến hóa, bà mẹ kế chỉ sai con hầu Chernavka đi làm các việc bạc ác theo mưu của mụ thôi), ngoại trừ chiếc gương thần. Cũng trong truyện, nàng công chúa [vô danh] đã được hứa hôn cho hoàng tử Yelisey, nhưng khi trốn khỏi sa cung thì gặp ngôi nhà của bảy tráng sĩ, rồi về sau họ cũng cầu hôn nàng (tuy rằng nàng khước từ).

    Dưới đây là một đoạn dịch của mình (cam đoan là không hề đạo văn của ai cả, vì bản dịch tiếng Việt [nếu có] của các dịch giả trước đây mình không tìm được, cũng vì không tìm được nên mới cố công dịch trong 2 năm ròng đó chứ, vì căn bản truyện quá hay) :

    Cùng đoàn tùy tùng công cán lâu,
    Царь с царицею простился,
    Sa hoàng từ giã vợ hiền yêu.
    В путь-дорогу снарядился,
    Song kia bà hậu ngồi thinh lặng,
    И царица у окна
    Nguyện ước đoàn tụ đức lang quân.
    Села ждать его одна.
    Qua đêm đến ngày bà cứ ngóng,
    Не видать милого друга !
    Vò võ đăm đăm một chốc mòng.
    Только видит : вьется вьюга,
    Mắt quầng mòn mỏi dần trĩu nặng,
    Снег валится на поля,
    Ngắm cảnh đồng hoang đã võ vàng.
    Вся белешенька земля.
    May nhờ Ơn Trên đêm Linh Thánh,
    Вот в сочельник в самый, в ночь
    Bà sinh lệnh ái được phước lành.
    Бог дает царице дочь.
    Dặm trường thân hành lâu đến thế,
    Издалеча наконец
    Ngày nọ chinh phu cũng trở về.
    Воротился царь-отец.
    Trân trân nhìn chồng bao khắc khoải,
    На него она взглянула,
    Hân hoan tiếng thở khẽ môi cười.
    Тяжелешенько вздохнула,
    Rồi bà lịm mãi trên giường son,
    Восхищенья не снесла,
    Bao quanh ran tiếng kinh cầu hồn.
    И к обедне умерла.
    Sa hoàng ngồi đấy lòng trăn trở,
    Долго царь был неутешен,
    Nhưng ngài đâu thể nối duyên tơ.
    Но как быть ? И он был грешен ;
    Nước mắt cho người bao lưu luyến,
    Год прошел, как сони пустой,
    Qua năm tái giá xua muộn phiền.
    Царь женился на другой.

    Bà hoàng hậu mới, đích thực rằng,
    Правду молвить, молодица
    Tạo hóa cho đặng mãi xuân xanh.
    Уж и впрямь была царица :
    Sắc sảo tinh thông ham học hiểu,
    Высока, стройна, бела,
    Thanh tao vóc dáng quá yêu kiều.
    И умом и всем взяла ;
    Nhưng cũng bà này, xét công bằng,
    Но зато горда, ломлива,
    Kiêu căng đố kị cũng lắm đằng.
    Своенравна и ревнива.
    Bao lăm của cải kếch sù thế,
    Ей в приданое дано
    Chỉn yêu chiếc gương nhỏ cận kề.
    Было зеркальце одно ;
    Gương này cỏn con mà độc đáo,
    Свойство зеркальце имело :
    Thốt ra tiếng nói như người nào.
    Говорить оно умело.
    Ôm gương tỉ tê khôn dứt truyện,
    С ним одним она была
    Ưng lòng bà hậu cứ triền miên.
    Добродушна, весела,
    Hôm sớm sớm hôm bà chào nó,
    С ним приветливо шутила
    Kiêu sa khẩn nài gương đáp cho :
    И, красуясь, говорила :
    Gương xinh thổ lộ cùng ta hay,
    Свет мой, зеркальце ! Скажи
    Không đâu khác ngoài lẽ thực đấy.
    Да всю правду доложи :
    Rằng thế gian, ai lộng lẫy nhất,
    Я ль на свете всех милее,
    Và nhan sắc nào xứng bậc nhất ?
    Всех румяней и белее ?
    Thưa ngài hoàng đây, khó chối thật :
    Ты, конечно, спору нет ;
    Rằng thế gian, bà lộng lẫy nhất,
    Ты, царица, всех милее,
    Vả nhan sắc bà đáng bậc nhất.
    Всех румяней и белее.

    Sa hoàng ái nữ qua thời gian,
    Но царевна молодая,
    Êm đềm cảnh sống Tạo Hóa ban.
    Тихомолком расцветая,
    Tháng lớn năm khôn đã đến thời,
    Между тем росла, росла,
    Như hoa chớm rộ cứ ngời ngời.
    Поднялась - и расцвела,
    Chân mày đen láy, da ửng hồng,
    Белолица, черноброва,
    Từ tốn bao dung nặng tấm lòng.
    Нраву кроткого такого.
    Nàng chọn trong đám một hôn phu,
    И жених сыскался ей,
    Ngẫu nhiên hoàng tử Yelisey.
    Королевич Елисей.
    Cả thế gian, ai lộng lẫy nhất,
    Я ль, скажи мне, всех милее,
    Vả nhan sắc nào xứng bậc nhất ?
    Всех румяней и белее ?
    Ngài hoàng quả đẹp, khó chối thật.
    Ты прекрасна, спору нет ;
    Nhưng nay công chúa lộng lẫy nhất,
    Но царевна всех милее,
    Vả nhan sắc nàng đáng bậc nhất.
    Всех румяней и белее.
    Hỡi chiếc gương soi thực gớm ghê,
    Ах ты, мерзкое стекло !
    Toan lời gian dối đáng trách chê.
    Это врешь ты мне на зло.
    Này gương hãy khéo mà tỏ bày,
    Но скажи : как можно ей
    Rằng con bé sao được nhất đây ?
    Быть во всем меня милей ?
    Chi bằng thanh tẩy xứ sở ta,
    Признавайся : всех я краше.
    Đặng tìm không ai sánh được cả.
    Обойди всё царство наше !
    Nhưng nay công chúa thời đẹp nhất,
    А царевна всё ж милее,
    Và nhan sắc nàng mới xứng nhất.
    Всё ж румяней и белее.
    Khá đem công chúa vào rừng xanh,
    Ты царевну в глушь лесную
    Trói tay buộc chân cùng bịt trán.
    Уведи. Связав, живую
    Rồi níu thân cây, chờ sói tới,
    Под сосной оставишь там
    Cho chúng vồ vập cùng xé xơi.
    На съедение волкам !
    Sự thể ra sao - bà hoàng hỏi,
    Где красавица-девица ?
    Muôn tâu lệnh bà, con xin nói :
    Всё скажу тебе - она
    Trong rừng sâu nàng cứ dong chơi,
    Там, в лесу, стоит одна.
    Đến khi con dụ rồi buộc trói,
    Крепко связаны ей локти ;
    Làm miếng mồi ngon cho thú đói.
    Попадется зверю в когти,
    Còn chẳng kịp thốt những tiếng chi,
    Меньше будет ей терпеть,
    Vả trong chốc lát cũng lịm đi.
    Легче будет умереть.
    Thế rồi tin đồn đã lan mau :
    И молва трезвонить стала :
    Sa hoàng lệnh ái biệt nơi đâu ?
    Дочка царская пропала !
    Khiến ngài bao hôm cứ buồn rầu.
    Тужит бедный царь по ней.
    Vậy nhưng hoàng tử Yelisey,
    Королевич Елисей,
    Tha thiết nguyện cầu đấng uy linh,
    Помолясь усердно богу,
    Mà dong tuấn mã suốt hành trình.
    Отправляется в дорогу
    Đặng tìm cho được vị hôn thê,
    За красавицей душой,
    Mong người trong mộng chóng trở về.
    За невестой молодой.
     
    Chỉnh sửa cuối: 11/6/21
  5. Beringen

    Beringen Banned

    Tác phẩm có nhan đề rất dài Truyện sa hoàng Saltan... (Сказка о Царе Салтане, о сыне его славном и могучем богатыре Князе Гвидоне Салтановиче и о прекрасной царевне лебеди) là thử nghiệm ban đầu của Aleksandr S. Pushkin vào năm 1831 khi đổi hướng sang sáng tác đồng thoại nhằm bắt kịp trào lưu văn chương đương thời. Truyện do Pushkin dựa theo các huyền thoại Đầu gối dát vàng khuỷu tay dát bạc (По колена ноги в золоте, по локоть руки в серебре) và đảo Buyan, đều khởi nguồn ở cổ thành Novgorod.

    Sử thi này có kết cấu rất phức tạp, nếu không nói là phức tạp nhất trong các sử thi Nga, bởi số lượng nhân vật và hình tượng đồ sộ nén chặt trong thiên sử thi không quá dài. Mình mạo muội đăng bản dịch phim (thật ra lời thoại trong phim cũng tuân thủ nguyên bản Pushkin mà thôi) :

    Có ba thiếu nữ bên cửa sổ,
    Ngồi quay tơ dưới ngọn đèn vàng.
    Три девицы под окном,
    Пряли поздно вечерком.



     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 13/6/21
    htahta, Arabiya, y42b5yis.vzn and 2 others like this.
  6. Beringen

    Beringen Banned

    Thiên truyện khá dài Hoàng tử Ivan, con chim lửa và con sói xám (Сказка об Иване-царевиче, Жар-птице и о Сером-волке) in trong tập Dân thoại Nga năm 1873 của Aleksandr N. Afanasyev, nội dung có nhiều tương đồng với truyện Cây khế ở Việt Nam. Nhưng theo cụ Nguyễn Đổng Chi, truyện Cây khế vốn do tác gia Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc chép lại cố sự Trung Hoa, nên có lẽ loại truyện về nhân vật bắt được lông chim thần phát xuất sớm nhất chỉ kể từ trung đại và lan sang các nền văn hóa khác nhau qua con đường tơ lụa đó thôi.

    Theo khảo cứu tại Nga, truyện này bắt nguồn từ tác phẩm Scala Coeli san hành bằng La-mã ngữ năm 1480. Theo giảng nghĩa gần đây, tình tiết hoàng tử Ivan dấn thân vào gian nguy để cứu công chúa Yelena là phỏng theo cổ tích chàng Paris quyến rũ phu nhân Helene trong thần thoại Hi Lạp. Hình tượng con sói xám cũng được đồng nhất với Yelena, tức là cuối truyện, khi Ivan ngỏ ý buồn rầu vì Yelena chết, con sói bèn hóa thành Yelena để kết hôn với chàng.

    Hiện tại mình không tìm được bản dịch tiếng Việt từ nguyên bản Nga (nhớ là hồi nhỏ có đọc sách giấy rồi), trên mạng thì chỉ thấy bản dịch từ Pháp văn - ít nhiều bị giản lược hoặc sai nghĩa.

    Nguyên văn : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Pháp văn : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


     
    Chỉnh sửa cuối: 11/6/21
  7. Beringen

    Beringen Banned

    Thiên truyện Giấc mộng tiên tri (Вещий сон) do tác gia Aleksandr N. Afanasyev sưu tầm tại vùng Rostov (tỉnh Yaroslavl). Dưới đây là hình chụp bản dịch của bà Cầm Nguyên, vì lí do bản quyền nên mình mạn phép không gõ lại :

    Bản Nga : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Bản Việt : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    [​IMG]
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 17/6/21
  8. Beringen

    Beringen Banned

    Tiểu thuyết Xứ sở gương cong (Королевство кривых зеркал) được tác gia Vitaly Georgyevich Gubarev đăng dài kì trên tạp chí Thanh Niên Cận Vệ năm 1951 và tới năm sau thì tác giả chuyển thành kịch bản sân khấu. Kì thực đây là tác phẩm văn chương nổi tiếng nhất thời Soviet, nhưng vì tính ám chỉ đan cài dày đặc trong truyện nên sách ít được phổ biến ra ngoài không gian Tô Liên. Riêng ở Việt Nam chỉ biết tới bản điện ảnh năm 1963 của đạo diễn Aleksandr Rou mà thôi.

    Tác phẩm kể về cô bé Olya tinh nghịch gặp được cái bóng mình là Aylo trong gương, thế rồi họ đi vào vương quốc gương cong để cứu nghệ nhân Gurd (đọc ngược "drug" / bằng hữu), đồng thời giải thoát xứ sở khỏi tên vua ngốc Yagupop 77 ("popugay" / con vẹt) cùng lão thượng thư nham hiểm Nushrok ("korshun" / diều hâu). Bản điện ảnh của ông Aleksandr Rou khắc họa các hình tượng này rõ hơn, về sau bà Dương Khiết học theo phong cách này để chế tác các nhân vật yêu tinh quỷ quái trong Tây du kí (cuối phim thường có cảnh yêu quái chết thì hiện hình động vật).

    Nguyên văn : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 11/6/21
  9. Beringen

    Beringen Banned

    Tác phẩm Bong bóng, sợi rơm và chiếc hài (Пузырь, соломинка и лапоть) có lẽ phải xếp vào dạng ngụ ngôn kiểu Aesop. Truyện rất ngắn, do tác gia Aleksandr N. Afanasyev tầm khảo. Tuy kết cấu dung dị nhưng đây hóa ra là một trong những truyện trứ danh nhất trong hợp tuyển Afanasyev.


    Ngày xưa có ba người bạn thân là bong bóng, sợi rơm và chiếc hài.
    Một hôm, chúng rủ nhau vào rừng đốn củi. Đến một con sông, chúng không biết làm thế nào để vượt qua.
    Chiếc hài bèn bảo bong bóng :
    - Này bong bóng, cậu cho chúng tớ ngồi lên cậu để bơi qua sông chứ ?
    Nhưng bong bóng tinh ranh nói :
    - Không, hài ạ ! Để sợi rơm căng ra từ bờ này sang bờ kia, còn chúng mình đi trên nó thì hơn.
    Thế là sợi rơm căng ra. Khi chiếc hài đang qua sông thì sợi rơm đứt bục. Hài ngã xuống nước.
    Thấy thế bong bóng cười ha hả, nó cười to đến mức vỡ tan tành.

    Жили-были пузырь, соломинка и лапоть.
    Пошли они в лес дрова рубить. Дошли до реки и не знают, как перейти через реку.
    Лапоть говорит пузырю :
    - Пузырь, давай на тебе переплывем !
    - Нет, лапоть ! Пусть лучше соломинка перетянется с берега на берег, мы по ней перейдем.
    Соломинка перетянулась с берега на берег. Лапоть пошел по соломинке, она и переломилась. Лапоть упал в воду.
    А пузырь хохотал, хохотал, да и лопнул.
     
  10. Beringen

    Beringen Banned

    Truyện vừa Hoa bảy cánh diệu kì (Цветик-семицветик) được tác gia Valentin Katayev đăng trên tạp chí Văn Học ngày 10 tháng 02 năm 1940, với nội dung rất trong sáng và giàu mĩ cảm, đặc biệt thích hợp các bé gái.

    Câu truyện kể về cô bé Zhenya được bà tiên tặng đóa hoa có bảy cánh, mỗi cánh một màu khác biệt và ứng với một điều ước. Thế nhưng Zhenya cứ tiêu dần những cánh hoa vào sở thích chợt đến chợt đi, để tới lúc nhìn lại thì đã trễ.

    Hiện tại mình chỉ có bản dịch cuốn phim năm 1948, nhưng xin cung cấp bản dịch Anh ngữ của bạn Lê Hải Đoàn - chủ trang Sách Đẹp. Vì lí do bản quyền, các bạn hãy vào trang chủ đọc toàn văn. Phải nói rằng, một thiên truyện cực hay, y như Tuổi Hoa sau này vậy. Bản phim hoạt họa cùng tên rất quen thuộc đối với thế hệ người Việt trưởng thành thập niên 1980-90, là cái thời ăn ngủ với phim Nga, chứ vô tuyến không tràn ngập phim 3D thớ lợ dạy trẻ con đánh đấm như bây giờ.

    Nguyên tác : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Bản dịch : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link





    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/6/21
    htahta, Arabiya, viettran_ru and 2 others like this.
  11. Beringen

    Beringen Banned

    Đoản thiên Có cánh, rậm lông và nhờn bơ (Крылатый, мохнатый да масленый) do bà Irina Valerianovna Karnaukhova (Ирина Валериановна Карнаухова, 1901 - 1959) soạn lại tác phẩm Chuột nhắt, chim sẻ và dồi nướng (Von dem Mäuschen, Vögelchen und der Bratwurst) của anh em Grimm.

    Bản thân mình thấy bản truyện Ukraina hay và đỡ chợn hơn (cuối truyện, ba đứa không chết mà chỉ ngồi thưởng thức bánh gừng và mật ong với nhau trong bữa tối ấm cúng). Đồng thời, tác giả thay nhân vật dồi nướng bằng bánh xèo cho hợp tập quán Đông Âu hơn. Nhớ là hồi 1994 mình có đọc cuốn tranh truyện của Nhà xuất bản Kim Đồng rồi, hình như KĐ cũng chỉ dịch lại bản tiếng Nga, phần minh họa cũng vậy.

    Nguyên tác : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Xin giới thiệu một phần bản dịch phim của mình, phim được thực hiện đúng thời điểm truyện phát hành tại Việt Nam :

    Bìa rừng nọ, trong túp lều gianh có ba anh em nhà kia :
    Se Sẻ có cánh, Chuột Nhắt rậm lông và Bánh Xèo nhờn bơ.
    Tôi là Sẻ có cánh, sinh ở ngoài đồng.
    Tôi là Chuột rậm lông, sinh ở nhà mèo.
    Còn tôi Bánh Xèo nhờn bơ, sinh ở trong chảo.
    Canh cải bắp thơm nức béo ngậy.
    Để được thế, công tớ nhảy vào nồi đấy.
    Nhưng công tớ kiếm củi, gặm củi rồi róm lửa bằng đuôi,
    lò cháy mới có canh nóng hổi chứ.
    Công tớ hái nấm lượm đậu thì canh mới đậm đà chứ.
    Chúng nó cứ sống như thế, mỗi đứa một phận sự,
    đỡ đần cho nhau ngày này qua tháng khác.
    Nhưng đến một hôm...


     
    htahta, Arabiya, amylee and 2 others like this.
  12. Beringen

    Beringen Banned

    Trung thiên Đóa hoa đỏ thắm (Аленький цветочек) do tác gia Sergey Timofeyevich Aksakov dựa gián-tiếp vào tác phẩm Giai nhân và dã thú (La belle et la bête) của ngài Charles Perrault, một câu truyện có tương đối nhiều dị bản tại Âu châu và Cận Đông, bắt nguồn từ huyền thoại Psukhḗ và Kupidon. Tuy nhiên, ở lần xuất bản năm 1858, ông Aksakov đề tựa như sau : Theo lời kể của quản gia Pelageya (со слов ключницы Пелагеи). Có nghĩa là, Aksakov chịu ấn tượng về truyện này tự thuở ấu thơ, khi lớn lên thì quyết định soạn thành sách.

    Tác phẩm này có sự biến đổi rõ rệt so với nguyên bản Tây Âu nhằm thích ứng hợp với phong hóa bản địa Nga. Vì thế ở thời Soviet, đây là một trong những tác phẩm được chuyển soạn nhạc kịch và điện ảnh nhiều nhất.

    Nguyên văn : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    :rose:

    Hiện tại mình chưa tìm được bản dịch Việt ngữ nào, chỉ có cách coi phim thôi. Một số bản phim chuyển thể Đóa hoa đỏ thắm cũng vào hạng xuất sắc nhất tại Nga vậy, điều đó chứng minh mĩ cảm rất cao trong tác phẩm Aksakov.


    Các con yêu quý ạ, sớm mai thuyền cha phải đến nơi xa lắm, ra tận hải ngoại. Chuyến này xa nhà bao lâu chửa rõ, nhưng cha bảo đây : Khi vắng cha, các con phải chan hòa thương yêu nhau. Được thế, cha hứa mang về bất cứ quà gì các con muốn. Cứ mạnh dạn thưa xem nào !

    [Con nói trước đi, Cả, Gordeya Stepanovna !] Hãy mang cho con một miện vàng cẩn đá quý, lấp lánh sáng như ngọn lửa xanh dưới nước.

    [Còn con, Lyubava yêu dấu, thiên nga trắng của cha, con muốn gì nào ?] Con chỉ xin một trang sức mọn thôi ạ. Một cái gương pha lê, cũng giản dị thôi, nhưng hễ soi mặt thì con chả bao giờ già, mà cứ thế trẻ trung xinh đẹp mãi mãi.

    [Giờ tới lượt con, Út, Nastenka ạ, cha yêu con nhất nhà đấy !] Có hôm con mơ thấy một đóa hoa đỏ thắm, trên thế gian chẳng hoa nào sánh bằng.

    Tạm biệt Nastenka, cha sẽ mang đóa hoa đỏ thắm về cho con.
     
    htahta, Arabiya and amylee like this.
  13. Beringen

    Beringen Banned

    Thiên sử thi Ruslan và Lyudmila (Руслан и Людмила) tuy không xứng vào hàng kiệt tác, mà nhìn chung nội dung khá khó ngay cả đối với người Nga, bởi tác gia Aleksandr S. Pushkin biên soạn khi vừa tất nghiệp Trung học Hoàng Thôn - cái độ tuổi vừa bước vào ngưỡng cửa cuộc đời. Đây là sử thi có độ dài chỉ kém Yevgeny Onegin, diễn biến tương đối trúc trắc và nhuốm màu hắc ám, giản dị vì tác phẩm này là thử nghiệm cho những sáng tác dài hơi và có ý tưởng nghệ thuật rõ ràng của Pushkin, chứ không như những thi phẩm được soạn vội trong những lúc cao hứng ở hội học sinh hay khi vui chơi bạn bè.

    Tác phẩm này hoàn toàn không dễ dịch, mình chỉ rón rén lược dịch được đoạn vào đề thôi. Phải nói là một trường thiên vô cùng lộng lẫy với vô số hình tượng khó giảng nghĩa. Cảnh được coi là kinh điển nhất trong văn nghệ Nga là tráng sĩ Ruslan nắm chòm râu lão Chernomor mà lượn khắp không trung, hay là Ruslan được cái đầu khổng lồ ở bãi tha ma biếu thanh kiếm quý. Mà nghe nói, bản dịch tiếng Việt của trứ tác này rất nổi tiếng trong giới trẻ Việt Nam thập niên 70-80, tuy nhiên mình chả tìm đâu ra được, mong các bạn tương trợ.

    [​IMG]

    Theo tự thuật của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, ông sáng tác Ruslan và Lyudmila trong giai đoạn 1818-20, tức là khi vừa tất nghiệp trường Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Mà theo Pushkin, công việc này giản dị chỉ là tiêu khiển trong những ngày sống "bơ phờ nhất" (самую рассеянную). Vả lại, lúc ấy thể trạng ông không ổn định gì lắm.

    Ông đã dựa chủ yếu vào thi pháp Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link trong trứ tác Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Orlando furioso) để biên soạn Ruslan và Lyudmila. Vốn dĩ Pushkin đã đọc Orlando qua bản dịch Pháp ngữ từ thời còn học và lấy làm rất hào hứng, hơn nữa, cội nguồn Orlando cũng ở Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Tuy nhiên, theo khảo cứu ở Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hậu kì, để hoàn thành Ruslan và Lyudmila, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã bổ sung những cảm hứng từ tác phẩm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, hay những giai thoại tráng sĩ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Cũng theo nghiên cứu, một vấn đề sau rốt là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã thử thách văn tài chớm nở bằng cách hí phỏng bài tình thi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Двенадцать спящих дев) của thi hào Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Vì thế, ngay sau khi đọc ấn bản Ruslan và Lyudmila, Zhukovsky đã gửi tặng Pushkin bức chân dung mình kèm lạc khoản "Thầy chiến-bại tặng trò chiến-thắng" (Победителю-ученику от побеждённого учителя), nên có thể coi là một thành công về mặt thi pháp của Pushkin. Tuy nhiên, tới đầu thập niên 1830, khi suy xét lại quãng đời thanh xuân của mình, ông than rằng đấy chỉ là "trò nghịch dại" (в угоду черни).

    Nguyên văn : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link




     
    Chỉnh sửa cuối: 12/6/21
    htahta, Arabiya and amylee like this.
  14. Beringen

    Beringen Banned

    Sử thi Chó và mèo (Пёс и кот) của tác giả Hovhannes Tumanyan (Յովհաննէս Թումանեան, 1869 - 1923), nguyên bản tiếng Armenia được tác gia Samuil Marshak soạn lại bằng Nga văn. Hiện tại mình chỉ tìm được bản dịch Anh ngữ của bạn Lê Hải Đoàn, ngoài ra chưa rõ truyện đã có bản dịch thẳng từ tiếng Nga hay chưa.

    Nga ngữ : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Việt ngữ : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

     
    htahta, Arabiya and amylee like this.
  15. Beringen

    Beringen Banned

    Sử thi tương đối dài nhan đề Con ngựa gù (Конёк-Горбунок) được tác giả Pyotr Pavlovich Yershov san hành năm 1834, hoàn toàn nhờ sự tán trợ và khích lệ của thi hào Aleksandr S. Pushkin. Tuy nhiên, vì nội dung có những đoạn ngầm biếm trích sa hoàng nên bị giới kiểm duyệt cấm tái bản trong khoảng hai thập niên. Thế nhưng, kể từ khi được cấp phép ấn hành trở lại, Con ngựa gù trở nên một trong những đồng thoại Nga vang danh trên thế giới, được dịch sang hàng chục ngôn ngữ.

    Câu truyện về Con ngựa gù khá li kì, dường như kết hợp hai huyền tích con chim lửa và đảo Buyan. Đại để, chàng ngốc Ivan đi ra canh đồng ban đêm đúng hôm thiên mã (nguyên bản tiếng Nga là "ngựa lửa", có liên đới văn hóa Chuvash) trở dạ, thế là cậu nghiễm nhiên làm chủ một con ngựa biết bay. Nhờ con ngựa, về sau Ivan chinh phục được biết bao thử thách, rồi cuối cùng giết được sa hoàng để cưới vị hôn thê của ngài - nàng công chúa có lai lịch gần giống Vasilisa thông thái, nên có lẽ cũng là lệnh ái hải vương.

    Mình đoan chắc truyện này nhất định có bản dịch Việt văn rồi - vì đây là một trong những đồng thoại phổ biến nhất thời Soviet, duy là không tìm được, nhờ các bạn vậy. Chỉ biết rằng, VTV3 đã từng chiếu nguyên vẹn 1 cuốn phim điện ảnh và 2 cuốn phim hoạt họa dựa theo tác phẩm này.

    Nguyên văn : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link




     
    Chỉnh sửa cuối: 13/6/21
    htahta and Arabiya like this.
  16. Beringen

    Beringen Banned

    Trung thiên Truyện thời gian uổng phí (Сказка о потерянном времени) nguyên ủy là kịch bản sân khấu mà tác giả Yevgeny Shvarts soạn năm 1940. Vì cái tứ rất độc đáo nên truyện được chuyển thể vô số lần trên sân khấu và điện ảnh Tô Liên trước kia, cũng như Nga hiện đại.

    Tác phẩm kể về bốn phù thủy già tìm ra cách gom nhặt những thời gian trôi lãng phí của người đời. Họ bèn đi vào thành phố kiếm các cô bé cậu bé mải chơi, ưa dậy trễ, để đánh cướp tuổi thanh xuân về để trẻ mãi không già. Nhớ năm ngoái mình đọc được bản dịch Việt ngữ từ xa xưa lắm, độ 12 trang kèm minh họa khá nhộn, nhưng giờ không kịp lưu lại nên chả tìm lại được, chắc bạn nào có ? Nay mình có tại đây bản dịch của chú Phan Việt Hùng (chủ nhiệm báo Nhi Đồng), thực hiện cách đây chừng mươi năm nhân VTV6 chiếu phiên bản điện ảnh của truyện này.

    Nguyên tác : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    Ngày nảy ngày nay, có một chú bé tên là Pê-chi-a Du-bốp. Cậu ta học lớp Ba trường Tiểu học số 14 và là học sinh cá biệt trong lớp. Pê-chi-a học Văn rất kém, học Toán khá tồi, thậm chí ngay cả môn Âm nhạc cũng đội sổ trong lớp nốt.
    Giữa học kỳ I, Pê-chi-a tuyên bố trước cả lớp :
    – Tớ sẽ đuổi kịp các cậu thôi. Đến cuối học kỳ các cậu sẽ thấy.
    Hết học kỳ I, Pê-chi-a vẫn lẹt đẹt cuối lớp. Ấ thế mà lúc nào cậu ta cũng mạnh miệng nói : “Tớ sẽ đuổi kịp các cậu. Vẫn còn kịp chán !”. Đấy, lúc nào cũng đi học muộn, mà vẫn cứ nói như thế thì ai mà tin được cơ chứ.

    Sáng nọ, Pê-chi-a lại đi học muộn. Cậu ta chạy hộc tốc đến chỗ gửi quần áo, thở hổn hển :
    – Bác Na-ta-xa ơi, cho cháu gửi áo khoác với.
    Bác Na-ta-xa ngồi ở góc phòng, hỏi vọng ra :
    – Ai gọi tôi đấy ?
    – Cháu là Pê-chi-a Du-bốp mà bác – Cậu bé trả lời.
    – Sao hôm nay giọng cháu rè rè thế ? – Bác Na-ta-xa hỏi.
    -Cháu cũng không rõ nữa, tự nhiên nó bị thế đấy ạ.
    Bác Na-ta-xa đi ra, và kinh ngạc kêu lên :
    – Ôi giời ơi !

    Pê-chi-a hơi giật mình, hỏi :
    – Có chuyện gì thế bác ?
    – Ôi… ôi… ông… nói… ông… là… Pê-chi-a. Nhưng… nhưng… ông… lại là ông nội của Pê-chi-a, phải không ạ ?
    – Sao lại là ông nội ? Cháu là Pê-chi-a Du-bốp, học sinh lớp Ba mà.
    Bác Na-ta-xa nói :
    – Con mời ông ra ngắm gương đi.
    Cậu bé ra trước gương và suýt ngất xỉu. Pê-chi-a nhìn thấy cậu ta đã biến thành một ông lão gầy gò, cao lêu đêu. Trên mặt ông lão là một bộ râu trắng xồm xoàm. Da dẻ ông lão nhăn nheo, xanh xao.
    Pê-chi-a không tin vào mắt mình nữa. Cậu ta đưa tay lên mặt. Trời ơi, đúng là có bộ râu xồm xoàm trên mặt thật.

    Hoảng quá, Pê-chi-a kêu lên thấy thanh :
    – Mẹ ơi ! Mẹ ơi !
    Rồi ba chân bốn cẳng lao vút ra khỏi trường học.
    Cậu ta vừa chạy thục mạng, vừa nghĩ : “Nếu như mẹ mà không nhận ra mình nữa, thì coi như xong đời !”.
    Pê-chi-a chạy về nhà, sốt ruột nhấn chuông đến ba lần.
    Mẹ ra mở cửa. Mẹ nhìn Pê-chi-a im lặng, và cậu cũng im lặng hồi hộp nhìn mẹ. Pê-chi-a đứng đó, tay sờ bộ râu bạc, mắt đỏ hoe chực khóc.
    – Xin lỗi, cụ hỏi nhà ai ạ ? – Cuối cùng mẹ cũng cất lời.
    – Mẹ ơi, mẹ không nhận ra con sao ? Pê-chi-a nức nở.
    – Xin lỗi, có lẽ cụ nhầm nhà rồi ạ – Mẹ trả lời.
    Pê-chi-a lủi thủi đi khỏi nhà mình, vừa đi vừa nghĩ :
    – Mình đúng là một ông lão cô đơn, bất hạnh. Không có mẹ, không có con, cháu cũng không có nốt. Bạn bè cũng không…Mà người già thì người là giáo viên, người là bác sĩ, người là công nhân…Còn mình thì chỉ là học sinh lớp Ba, không nghề ngỗng, chẳng ai cần. Thậm chí mình cũng không có lương hưu, vì mới “đi làm” có ba năm. Đi “làm” kiểu gì mà toàn xơi “gậy” với “ngỗng”. Ôi, mình đúng là một ông già bất hạnh. Không, một đứa bé bất hạnh thì đúng hơn…Không hiểu rồi đời mình sẽ ra sao đây ?
    Cứ lẩn thẩn nghĩ như vậy, Pê-chi-a không nhận ra mình đã đi xa dần thành phố và lạc vào một khu rừng.
    – Kệ, rừng thì rừng, mình vào đây nghỉ ngơi tí đã – Pê-chi-a nghĩ bụng.

    Thấp thoáng sau rặng thông là một ngôi nhà nhỏ. Pê-chi-a đẩy cửa bước vào. Nhà trống trơn, không có một ai trong nhà. Trên tường là một chiếc đồng hồ quả lắc, còn quanh bàn là bốn chiếc ghế đẩu. Ánh đèn dầu toả xuống đỏ quạch.
    Pê-chi-a nằm xuống đống cỏ khô ở góc phòng, khóc thút thít khi nhớ lại những chuyện đã qua. Nước mắt cậu thấm ướt cả bộ râu bạc. Lát sau, cậu thiếp đi vì quá buồn ngủ.
    Pê-chi-a thức giấc vì có những tiếng động lạ. Cậu hé mắt ra nhìn. Ai đó đã vặn to chiếc đèn dầu lên. Xung quanh bàn có bốn đứa trẻ đang ngồi. Trước mặt chúng là chiếc bàn tính to sụ. Bọn trẻ vừa mãi mê gảy bàn tính, vừa tranh cãi rất hăng.
    – Hai năm, thêm năm năm nữa, thêm bảy năm, rồi thêm ba… E hèm. Đây, là phần tôi, tức là phần của Xéc-gây. Còn đây là của bà nhé, bà Ôn-ga. Này, bà Máp-pha, nhận lấy này. Còn đây là phần ông đấy, Pan-chê-lây ạ…
    Bọn trẻ này là ai ? Mà sao chúng nó nhăn nhó, càu quạu thế nhỉ ? Chúng ho hắng, giọng khàn khàn y hệt các ông bà già. Mà sao chúng không gọi nhau bằng tên như ở lớp học, mà gọi nhau là ông bà trịnh trọng đến thế ? Đêm hôm khuya khoắt rồi, chúng nó còn tụ tập nhau trong căn nhà giữa rừng này làm gì ?
    Pê-chi-a khẽ thu người lại, không dám thở to và nghe như nuốt những lời của bọn trẻ. Và cậu điếng người khi hiểu ra cớ sự.
    Thì ra đó không phải là những đứa trẻ bình thường. Chúng là những lão phù thủy, mụ phù thủy độc ác sống trong khu rừng này từ bao đời nay. Bọn chúng đã biết một điều đương nhiên trong cuộc sống loài người : đó là những kẻ phí hoài thời gian thường không nhận ra mình đã già đi như thế nào. Bọn phù thủy già đã đi săn tìm những đứa trẻ lười học, suốt ngày phung phí thời gian vào những việc vô bổ để biến chúng thành các ông già bà lão. Bọn chúng đã “tóm” được Pê-chi-a và một cậu bé, hai cô bé lười học khác nữa và thực hiện phép thuật độc ác. Tuổi xuân của các cô bé, cậu bé này bị bọn phù thuỷ xảo quyệt này chiếm lấy để chúng trẻ lại, trở về lứa tuổi học trò.
    Thật là đáng sợ. Nhưng sẽ phải làm gì tiếp đây ? Không lẽ Pê-chi-a và ba cô bé, cậu bé khác không bao giờ lấy lại được thời gian đã phung phí hay sao ?
    Trong khi Pê-chi-a đang lo lắng như vậy thì bọn phù thủy vẫn mải mê gảy bàn tính.
    Tên cầm đầu Xéc-gây bỗng nhổm dậy, đi đến chiếc đồng hồ quả lắc. Gã quay quay kim dài, kim ngắn… rồi ghé sát tai nghe ngóng tiếng bánh xe răng cưa đang xè xè chạy. Rồi gã lại chạy về bàn, gẩy gẩy bàn tính loạn cả lên. Cứ nhiều lần như vậy, rồi gã ngoắc tay thì thào với đồng bọn.
    – Tôi đã biết rồi, thưa các vị. Bọn trẻ lười học kia có thể lấy lại tuổi thanh xuân của mình.
    – Sao cơ ? Sao cơ ? – Cả ba đứa kia há hốc mồm ra hỏi.
    – Để yên tôi nói cho. Nhưng trước tiên ta phải đi đánh hơi cái đã.
    Nói rồi, Xéc-gây và đồng bọn đi kiểm tra xung quanh nhà xem có kẻ lạ nghe trộm không. Chúng khụt khịt mũi, rồi dùng đinh ba chọc khắp nơi, chọc cả vào đống cỏ khô, nơi Pê-chi-a đang thu mình nín thở như một con gián. Cũng may là chúng chọc không trúng người cậu bé. Pê-chi-a tay ôm chòm râu bạc, người cứng đờ đi vì sợ hãi.
    Yên trí không có người lạ, Xéc-gây bắt đầu thì thào với ba tên kia :
    – Nó là thế này, thế này… Nếu như ngày mai, cái bọn trẻ mà chúng ta biến thành người già ấy, mà tìm được nhau và rủ nhau đến đây vào lúc 12 giờ đêm thì chúng ta nguy to. Nếu bọn lười ấy mà quay ngược kim đồng hồ 77 vòng thì chúng nó sẽ trẻ lại và chúng ta cũng toi đời luôn.

    Cả ba tên phù thủy còn lại tê người đi vì sợ. Lát sau mụ Ôn-ga mới rụt rè hỏi :
    – Làm sao mà bọn nó biết được điều này cơ chứ ?
    Gã Pan-chê-lây cười khẩy :
    – 12 giờ đêm thì cái bọn chậm rề ấy làm sao mà đến được. Đi học còn suốt ngày muộn nữa là.
    Mụ Máp-pha tỏ ý coi thường ra mặt :
    – Cái bọn ấy thì đếm đến 77 còn nhầm, nói chuyện gì đến việc quay kim đồng hồ cho đúng.
    Tên cầm đầu Xéc-gây kết luận :
    – Nói gì thì nói, ta cẩn thận vẫn hơn. Còn bây giờ thì đi làm thôi.
    Cả bọn phù thủy nhảy chân sáo ra khỏi nhà, y như lũ trẻ con vậy. Vừa nhảy, chúng vừa ho lụ khụ, y hệt các cụ già.
    Đợi bước chân của bọn phù thủy im hẳn, Pê-chi-a mới lồm cồm bò ra khỏi chỗ nấp. Để không mất thời gian, cậu ba chân bốn cẳng chạy vào thành phố, truy tìm những đứa học trò lười cũng bị biến thành ông bà già như cậu.
    Trời mới tờ mờ sáng, đường phố thưa thớt người và xe cộ qua lại. Chỉ có các chú công an là vẫn nghiêm chỉnh đứng ở các ngã tư điều khiển giao thông. Lang thang một lúc, mắt nhìn láo liên xung quanh, Pê-chi-a mới phát hiện ra một bà cụ đang xách chiếc làn đi chợ. Cậu hí hửng chạy đến, hỏi :
    – Cụ ơi, cụ cho cháu hỏi, có phải cụ là… học sinh không ạ ?
    – Cái gì ? Cái gì cơ, nói to lên ! – Cụ già đáp.
    – Cho cháu hỏi cụ có phải học sinh lớp Ba không ạ ? – Pê-chi-a gào lên.

    Không nói không rằng, bà cụ tức giận cầm chiếc làn đập cho “ông lão” Pê-chi-a một cái.
    Pê-chi-a lại thất thểu đi tiếp. Trời lúc này đã sáng rỡ, mọi người bắt đầu vội vã đi làm. Những chiếc xe buýt, tàu điện hối hả chở hành khách. Những chiếc xe tải chạy ngược xuôi, vận chuyển cho kịp hàng hóa đến các cửa hàng, đến nhà máy, đến ga đường sắt. Các bác lao công khẩn trương dọn sạch những đống tuyết, rắc cát lên đường đi để mọi người bước vội không bị trơn ngã, không bị mất thời gian vô ích trên đường. Đã bao lần nhìn thấy những cảnh này, nhưng giờ Pê-chi-a mới hiểu tại sao mọi người lại sợ đi muộn, sợ bị tụt lại phía sau như thế.
    Pê-chi-a vẫn mải mê đi tìm các ông bà già trên phố. Đã bao nhiêu người trung niên, người già trên đường cậu nhìn thấy, nhưng không ai có vẻ là học sinh phổ thông bị hoá phép thành. Ai nấy đều tất bật đi làm việc. Kia là một ông xách chiếc cặp, chắc hẳn đó là một giáo viên. Kia là một bác xách chiếc xô và chiếc chổi, có lẽ đó là một người thợ quét vôi. Một chiếc xe cứu hỏa phóng vù qua, trong cabin lấp ló một bác trung niên. Bác ấy là chỉ huy đội cứu hỏa thành phố. Rõ ràng là không một ai bỏ phí thời gian của mình vào những việc vô bổ. Chỉ có cậu là lang thang, là chậm chạp, chẳng ai cần đến.
    Đến gần trưa thì Pê-chi-a đã mệt nhoài. Chẳng gì thì cậu cũng đã là một ông già, đi bộ nhiều thế mệt là phải. Cậu ngồi xuống một chiếc ghế để nghỉ. Đưa ánh mắt mệt mỏi nhìn quanh, Pê-chi-a phát hiện ra trên một chiếc ghế gần đó có một bà cụ đang ngồi khóc hu hu.
    Pê-chi-a hí hửng định chạy đến hỏi han, nhưng rồi bụng bảo dạ : “Cứ đợi một lát xem bà ấy làm gì cái đã”.
    Bà cụ đã thôi khóc, ngồi vung vẩy đôi chân. Rồi bà mở cặp, lôi ra một tờ báo và mẩu bánh nướng lẫn nho khô. Bà vừa ăn nhồm nhoàm vừa đọc báo, thỉnh thoảng lại cười một mình. Bà cụ lật trang báo. Pê-chi-a nhìn thấy rõ đó là tờ “Sự thật Thiếu nhi”. Ôi, sao lại có chuyện lạ đời thế nhỉ ?
    Bà cụ đã đọc xong tờ báo và phát hiện ra một cái gì đó trong đống tuyết. Bà thò tay vào đó và moi ra một quả bóng nhựa. Chắc hẳn đó là quả bóng của bọn trẻ con đã để quên, hoặc đánh mất khi chơi cũng nên. Bà cụ lau sạch quả bóng, và sau đó bắt đầu tung bóng từ tay này sang tay khác một cách say mê.
    Pê-chi-a không kìm được sự sung sướng, lao vút đến chỗ bà :
    – Bà ơi bà, hê-hê-hê !
    Bà cụ dừng tay ngạc nhiên nhìn Pê-chi-a râu tóc bạc phơ đang hớn hở :
    – Bà ơi, cháu biết ngay bà là học sinh như cháu nhé !
    Bà cụ cầm tay Pê-chi-a, hồ hởi đáp :
    – Đúng rồi, cháu là Ma-ru-xia, học sinh lớp Ba. Thế cụ là ai ạ ?
    Sau khi rõ mọi chuyện, Pê-chi-a và Ma-ru-xi-a nắm tay nhau tung tăng đi tìm những người bạn cùng cảnh ngộ. Suốt ba giờ đồng hồ, cả hai không tìm thấy một cụ nào có vẻ là học sinh bị hoá phép. Bỗng Pê-chi-a nhìn thấy một bà cụ đang chơi nhảy lò cò trong sân một khu tập thể. Hai bạn mừng rỡ chạy đến, hỏi :
    – Bà ơi, có phải bà là học sinh không ạ ?
    – Đúng rồi, cháu là học sinh lớp Ba, tên là Na-đen-ca. Thế ông bà là ai đấy ạ ?

    Pê-chi-a và Ma-ru-xi-a kể cho Na-đen-ca biết chuyện, rồi cả ba cùng nhau đi tìm cậu bé còn lại. Cả ba đi khắp những nơi các ông già bà lão thường hay tụ tập, trong sân khu tập thể, trong công viên… nhưng đều không tìm thấy ai.
    Trời tối dần. Khu tập thể bắt đầu sáng đèn. Cả Pê-chi-a, Ma-ru-xi-a và Na-đen-ca đều tỏ ra vô cùng lo lắng.
    Bỗng Ma-ru-xi-a kêu lên mừng rỡ :
    – Nhìn kìa ! Nhìn kìa !
    Phía đuôi chiếc tàu điện bên kia đường là một cụ già đang đu người, chòm râu bạc phất phơ bay theo chiều gió. Không ai bảo ai, cả ba bạn chạy thục mạng đuổi theo chiếc tàu điện. May quá, đến ngã tư gặp đèn đỏ thì tàu điện dừng lại. Cả ba xông đến, kéo ông lão xuống :
    – Ối ối, các ông các bà làm gì thế này ?
    – Có phải cụ là học sinh không ạ ?
    – Đúng thế, cháu là Va-xi-a, học sinh lớp Hai.
    Cả ba bạn xúm nhau giải thích cho Va-xi-a mọi chuyện. Sau đó, để tiết kiệm thời gian, bốn bạn quyết định đi tàu điện ra ngoại ô, để đến kịp khu rừng có bọn phù thủy đáng ghét trước lúc nửa đêm.
    Trên tàu điện có một nhóm học sinh đi học về. Thấy các ông bà lão lục tục lên xe, cả bọn đứng lên nhường chỗ :
    – Cháu mời các ông, các bà ngồi ạ !
    Cả bốn bạn nhìn nhau ngượng chín người, không có một ai dám ngồi xuống ghế.
    Thấy thế, những cô bé, cậu bé rõ ràng là rất ngoan này, cố nài nỉ :
    – Các ông bà cứ ngồi đi ạ. Cả cuộc đời các ông bà đã lao động mệt nhọc rồi, xin mời các ông bà ngồi nghỉ cho đỡ mệt ạ.
    Cả bốn bạn chưa biết từ chối ra sao thì may quá, tàu điện đã chạy đến bến dẫn vào rừng.
    Từ giờ, ta hãy gọi đây là những ông lão, bà lão cho đúng với vẻ ngoài của họ nhé.
    Ông lão Pê-chi-a chạy trước. Hai bà lão và ông lão chạy lạch bạch, hổn hển theo sau. Trời tối đen như mực. Cả nhóm chạy tứ tung mà vẫn không tìm thấy ngôi nhà gỗ đâu. Pê-chi-a hối hận :
    – Hôm qua để tiết kiệm thời gian nên tớ cứ chạy mà không để ý nhớ đường đi. Bây giờ tớ mới thấy là đôi khi cũng cần biết tốn thời gian một chút, để sau đó tiết kiệm được nhiều thời gian.
    Bốn ông bà lão cứ loay hoay trong rừng tối đen. Bỗng có cơn gió nổi lên, xua tan đám mây đen. Mặt trăng lộ ra chiếu ánh sáng mờ ảo xuống khu rừng.
    Pê-chi-a leo lên một cây bạch dương và nhìn thấy ngay gần đó ngôi nhà gỗ quen thuộc lấp ló sau rặng thông. Các cửa sổ sáng đèn, chứng tỏ có người trong đó. Pê-chi-a nhanh nhẩu tụt xuống, thì thào :
    – Suỵt ! Không ai nói câu gì nhé ! Theo tớ.
    Cả bốn ông lão bà lão dò dẫm trên con đường tuyết trơn trượt dẫn đến ngôi nhà gỗ. Pê-chi-a nhìn qua cửa sổ. Trời, chỉ còn 5 phút nữa là đến nửa đêm. Bọn phù thủy đang nằm ngủ mê mệt trên đống cỏ khô.
    – Bọn chúng ngáy to quá ! – Ma-ru-xi-a thì thào.
    – Suỵt ! – Pê-chi-a tỏ ra nghiêm khắc.

    Cả bọn mở của nhẹ nhàng và tiến đến chiếc đồng hồ quả lắc. Chỉ còn 1 phút nữa là đến 12 giờ đêm. Pê-chi-a thận trọng cầm chiếc kim đồng hồ, chờ đến đúng nửa đêm. Một, hai, ba… cậu khẽ khàng quay ngược chiếc kim đồng hồ, vừa làm vừa đếm khẽ.
    Bọn phù thủy bỗng rú lên những tiếng khủng khiếp, vùng đứng lên nhưng lạ thay, không đứa nào nhúc nhích được cơ thể. Chúng lớn nhanh một cách kỳ lạ, thoáng chốc đã trở thành người lớn. Những mái tóc của chúng dài ra nhanh chóng, chuyển sang màu bạc phơ, rủ xuống khuôn mặt giờ đã đầy những nếp nhăn sần sùi.
    – Đỡ tớ lên với – Pê-chi-a hét lên với các bạn – Tớ đang càng ngày càng bé đi, không với tới được kim. Ba mươi mốt, ba mươi hai, ba mươi ba…
    Các bạn đỡ Pê-chi-a lên. Khi chiếc kim quay ngược đến vòng thứ bốn mươi, bọn phù thủy đã trở thành những kẻ già nua, gớm ghiếc. Càng lúc, chúng càng trở nên lùn tịt. Đến vòng cuối cùng, vòng thứ bảy mươi bảy, bọn phù thủy hét lên một tiếng kinh hoàng và tan biến thành khói, như chưa hề tồn tại trên mặt đất này.

    Các bạn nhỏ nhìn nhau mừng rỡ. Không ai là ông lão bà lão như lúc trước nữa. Thời gian phí hoài đã được các bạn lấy lại, để trở thành những cô cậu học trò như xưa.
    Tất nhiên là các bạn trong câu chuyện này đã thoát được phép thuật độc ác của bọn phù thủy, còn bạn, bạn hãy luôn nhớ một điều rằng : Những kẻ phí hoài thời gian vào những việc vô bổ, không bao giờ nhận ra mình đã bị già đi như thế nào đâu.
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 14/6/21
    htahta and Arabiya like this.
  17. Beringen

    Beringen Banned

    ĐẢO BUYAN

    Truyền thuyết Buyan được nhắc đến ít nhất kể từ văn bản Cưu thư (Голубиная книга), tương ứng thế kỉ XV tại cộng hòa Novgorod. Tuy nhiên, địa danh này chỉ trở nên phổ biến trong dân gian Nga nhờ sử thi Truyện sa hoàng Saltan (Сказка о Царе Салтане...) của thi hào Aleksandr S. Pushkin, nghĩa là phải đợi thêm 4 thế kỷ sau.

    Ngày nay, có rất nhiều tạp thuyết về ý nghĩa thật của danh từ Buyan (Буян), nhưng tựu trung đều quy về ngữ hệ Đột Quyết - một thành tố vô cùng trọng yếu tạo nên tiếng Nga cận đại. Mà đa phần sự giải nghĩa đều hướng tới bản chất của xã hội Novgorod, thường được coi là thời đại phát đạt nhất của văn hóa thủ công mĩ nghệ, giao thương và kết cấu đô thị Nga.

    [​IMG]

    Tương truyền, Buyan là một ốc đảo chơ vơ ngoài bể cả, tứ bề sương giăng dày đặc, phải là người có nhuệ khí lắm hoặc được Ơn Trên soi lối thì may ra mới tới được nơi này. Dù vậy, Buyan cũng chỉ hiện ra khi nước triều rút, còn lúc triều lên thì đảo biến mất như không tồn tại, đã có lời đồn rằng một số ngư phủ hoặc người đắm thuyền thấy được Buyan trong chớp mắt.

    ❀​

    Buyan vốn là nơi thời gian ngưng đọng, chốn trú ngụ của ba anh em thần gió Bắc, Tây và Đông, rồi cả nàng Zorya tóc vàng - nữ thần bình minh, em út của các thần thái dương, nguyệt cầu, tinh tú, sau khi đã chu du khắp thế gian phục vụ tạo vật. Đây cũng là nơi thần thì tiết Perun dự trữ khí hậu, để đến lúc thì tung ra khắp thế gian. Chính vì thế, đảo được Bề Trên ban tặng những quyền năng kì diệu, hễ tráng sĩ nào muốn tiễu trừ sự dữ đều phải tới đây xin một ơn huệ.

    Ở giữa đảo cũng là điểm cao nhất, có gốc sồi cổ thụ, trên cây sồi có treo một chiếc rương, trong rương lại nhốt một thỏ, trong con thỏ có con vịt, trong con vịt thì có quả trứng, trong trứng lại có chiếc kim vàng. Chiếc kim được coi như mạng vận hung thần Koshchey Bất Tử, bởi hễ bắn cây kim này vào y thì y ắt tan xương nát thịt, vĩnh viễn không tồn tại trên đời nữa. Ngoài ra, thần linh còn cất trên đảo tảng đá thiêng Alatyr, có khả năng tịch tà, trị bịnh và nhất là ban cho nhân loại sự ước gì được nấy, cùng bộ lông cừu đen có khả năng đem sự thịnh vượng cho ai sở hữu. Nhưng chư thần ủy thác đá thiêng cho con chim mỏ sắt vuốt đồng Gagana, còn lông cừu đen cho con rắn khôn ngoan Garafena. Muốn chiếm được báu vật thì tất yếu phải hạ được hai con quái này.

    Vì thế, hung thần Koshchey được coi là hiểm họa đối với sự sinh tồn của Buyan. Y luôn lẩn quẩn quanh đảo trong hình dạng lúc là con diều hâu khi là trận gió mù, hòng chiếm báu vật linh thiêng để ngoi lên làm chủ nhân ông cả thế gian.

    ❀​

    Đảo Buyan tuy rất nhỏ, tới mức soi kính hiển vi cũng không thấy trên dư đồ, nhưng lại là một cảng thị vô cùng phồn vinh. Thành Ledenets (Леденец / "[sặc sỡ lấp lánh như] kẹo mật") nằm ở lưng đồi nên có ngay những mỏ vàng mỏ bạc phẩm chất cao, bên trong thành phố lại có gốc cổ thụ nữa, dưới cổ thụ có con sóc biết hát và nhằn hồ đào thành đá quý. Các gấm nhung vải vóc ở đây cũng đều thượng hạng vì được tay thợ khéo dệt ra. Nhìn chung, con người nơi đây sống sung túc, mở hội quanh năm và chẳng bao giờ biết ưu phiền.

    [​IMG]
    Thời kì sa hoàng Nikolay Đệ Nhị nỗ lực trấn áp các lực lượng có tư tưởng cách mạng, thi hào Aleksandr S. Pushkin đã sáng tác sử thi Truyện sa hoàng Saltan để ngụ ý về sự khai phóng. Trong tác phẩm, ông đề xuất đảo Buyan làm một hình mẫu lý tưởng của xã hội cộng hòa, nơi mà nhà cai trị chỉ mang tính tượng trưng và nếu có đăng cơ thì phải được số đông tán thành.

    Nền cộng hòa "kiểu Buyan" lấy cần lao tích cực và ý thức trách nhiệm làm phương tiện xác lập quyền dân sự cũng như kiến tạo cộng đồng, qua hình tượng đảo quốc phi chủ nhân và cũng không tồn tại bất cứ lực lượng võ trang nào. Khi có biến, đảo dân chỉ việc ra bờ bể gọi anh hùng Chernomor dẫn theo 32 tráng sĩ kiêu dũng lên bảo vệ, sau đó đoàn khổng nhân về lại đáy bể mà không mưu cầu trả ơn.

    Kiểu mẫu Buyan về sau được Lenin áp dụng trong chính sách tân kinh tế và được các chính phủ Tô Liên kế thừa trong các giai đoạn lịch sử khốc liệt cần tới ý thức công dân nhất. Đặc biệt, tại Tô Liên từng có những thành công nhất định trong chính sách nông trang tập thể. Theo tài liệu lưu trữ được công bố thời cải tổ, trong cuộc họp bất thường đảng Bolshevik về việc tái cấu trúc các nước cộng hòa Soviet sau nội chiến thành nước cộng hòa duy nhất, Buyan là một trong những quốc danh được ưu tiên, nhưng sau đó "Soviet" được chọn vì dễ phát âm hơn.

    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 14/6/21
    htahta, Arabiya and amylee like this.
  18. Beringen

    Beringen Banned

    Đoản thiên Theo lệnh cá măng (По щучьему веленью) được nhà ngữ văn học Aleksandr N. Afanasyev giới thiệu năm 1873 với nhan đề là Chàng ngốc Yemelyan (Емеля дурак, Сказка о Емеле-дурачке). Phải nói rằng, đây là truyện tiêu biểu nhất tại Nga về lớp nhân vật ngốc gặp hạnh vận. Tuy nhiên, ẩn sau chuỗi tình tiết kì quái là vấn đề trưởng thành trong tâm lý và trí tuệ của mỗi con người. Vả chăng, nhân vật Yemelyan về sau được đồng nhất với hình tượng chàng Ivan trong văn hóa đại chúng.

    Hiện tại mình chỉ biết ấn bản tranh truyện Việt ngữ năm 1985 do Nhà xuất bản Cầu Vồng viện trợ. Ngoài ra từng được đọc một dịch phẩm mãi sau này, trong đó dịch giả (có lẽ không thạo ngữ văn mà chỉ chuyển ngang từ-đối-từ) đặt nhan đề đại khái Theo ước-nguyện của con cá-chó. Thế nhưng nghe nói, câu thần chú «Theo lệnh cá-măng, theo ước-muốn của ta» (По щучьему веленью, по моему хотенью) từng rất thông dụng trong lứa học trò thập niên 1970-80.

    [​IMG]

    Vì thế, mong các bạn đóng góp bản dịch Việt ngữ !

    Nguyên tác : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


     
    htahta and Arabiya like this.
  19. Beringen

    Beringen Banned

    Đoản thiên Ayoga (Айога) do Nhà xuất bản Giáo Dục (Hà Nội) soạn lại ấn bản tiếng Nga của Nhà xuất bản Nhi Đồng (Moskva), đưa vào sách Kể chuyện lớp 3 trang 64, năm 1983.

    Tình tiết các cô bé thích ngắm vuốt qua chậu đồng khá phổ biến trong các đồng thoại miền thảo nguyên Sibir. Ngoài ra, thiên nga cũng là linh vật của người Nanay tự ngàn đời, cho nên Ayoga thể hiện rất rõ bản sắc Nanay. Mời các bạn đọc truyện :

    [​IMG]

    AYOGA

    Ngày xưa, có một cô bé người Nanay tên là Ayoga. Cô bé rất xinh. Mọi người đều yêu cô. Thậm chí có người nói rằng không một làng nào trong vùng có người xinh hơn cô cả. Ayoga kiêu hãnh lắm. Cô tự ngắm mình, lúc thì trong chậu đồng đánh bóng, lúc thì trên dòng nước trong, càng ngắm càng tự thấy hài lòng.

    Ayoga lười hết sức, lúc nào cũng chỉ tự ngắm nghía. Một hôm mẹ cô bảo :
    – Ayoga, con đi xách nước đi !
    Cô đáp :
    – Con ngã xuống nước mất !
    Mẹ bảo :
    – Con bám vào bụi cây ấy !
    Ayoga đáp:
    – Cây bật gốc thì chết !
    – Thì con phải bám vào bụi chắc ấy chứ !
    – Tay con xước hết ra mất !
    Mẹ cô lại bảo :
    – Con đeo bao tay vào.
    – Bao tay cũng đứt hết – Ayoga đáp. Rồi cô lại lấy chậu đồng ra soi xem mình đẹp đến như thế nào.
    – Con lấy kim khâu bao tay lại !
    – Kim gãy mất !
    – Lấy cái kim to ấy – Cha cô nói.
    – Kim ấy sẽ làm thủng tay con !
    – Lấy cái đê da cứng mà đeo !

    Vừa lúc ấy, một cô bé hàng xóm bảo mẹ Ayoga :
    – Để cháu đi lấy nước cho bác nhé !
    Cô ra đi và xách nước về. Bà mẹ nhào bột, làm bánh, nướng bánh. Ayoga nhìn những chiếc bánh, kêu lên:
    – Mẹ cho con một cái !
    – Bánh nóng cầm bỏng tay – Mẹ cô trả lời.
    – Thì con đeo bao tay – Ayoga nói.
    – Bao tay ướt rồi.
    – Con sẽ đem phơi.
    – Phơi, nó sẽ cứng.
    – Con sẽ bóp cho nó mềm.
    – Thế thì đau tay – Mẹ cô đáp – Việc gì con phải làm việc cho phí hoài nhan sắc. Tốt hơn hết là để mẹ đem bánh cho cô bé lúc nãy không tiếc sức mình xách nước giúp mẹ.

    Bà mẹ lấy bánh đem cho cô bé hàng xóm. Ayoga giận lắm. Cô bỏ nhà ra sông soi bóng mình dưới nước. Cô bé hàng xóm thì ngồi ăn bánh. Ayoga nhìn cô bé. Cổ Ayoga dướn lên đâm ra dài ngoẵng. Cô bé bảo Ayoga :
    – Bạn lấy bánh này mà ăn !
    Ayoga càng tức. Cô xì lên một tiếng, rồi vung hay tay lên. Những ngón tay xoạc ra, toàn thân cô trắng toát vì giận. Cô vùng vẫy mãi đến nỗi hai tay biến thành đôi cánh.
    – Ta không cần gì cả.a..a…!
    Rồi không đứng vững trên bờ nữa, Ayoga ngã nhào xuống nước và biến thành con Thiên Nga. Thiên Nga vừa bơi vừa kêu :
    – Ái chà, ta đẹp làm sao ! Ôi, đẹp nhất là ta.a..a…
    Nó cứ bơi, bơi mãi cho đến lúc quên hẳn không nói được tiếng Nanay nữa.
    Có mỗi tên mình là nó không quên, và hễ gặp ai nó cũng kêu lên để người ta biết xưa kia nó là thiếu nữ :
    – A.y..o…ga…, A.y..o…ga…!

    ❀​

    «Айога» — Иллюстрации Р. Халилова
    Нанайская народная сказка
    Рисунки Р. Халилова
    Издательство «Малыш» Москва, 1983
    Мягкая обложка — Энциклопедический формат
    16 страниц — Тираж 150.000 экземпляров

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
     
    htahta and Arabiya like this.
  20. Beringen

    Beringen Banned

    MÈO KAZAN

    Mèo Kazan (Кот Казанский) là một nguyên mẫu lịch sử và văn nghệ thịnh hành tại Nga từ trung đại hậu kì tới nay.

    [​IMG]

    Theo truyền thuyết và các cứ liệu lịch sử, thành Kazan trung đại trung kì (có lẽ kể từ đại dịch Hắc Tử Bệnh) nhà nào cũng nuôi một giống mèo bắt chuột rất hung dữ («бойцовых» котов-мышеловов). Đặc thù loài mèo này là vóc dáng to khỏe với cái đầu tròn, thóp phồng, mõm rộng, cổ bự, răng rất sắc và xương vai vạm vỡ, đuôi ngắn. Theo khảo cứu của ông Igor Bashmakov, giống mèo này chỉ có hai màu lông trắng và xám tro, ria tua tủa và mắt tinh (устую длинную шерсть белого или серого окраса, богатые усы и большие выразительные глаза).

    Những đặc điểm như thế tương thích nhu cầu phòng bệnh của nhân loại đương thời. Tuy nhiên, tới hiện đại mèo Kazan về cơ bản đã tuyệt chủng trên lĩnh thổ Liên bang Nga. Giống mèo được gọi "Kazan" ngày nay chỉ là những hậu duệ lai và thuần tính hơn hẳn, khả năng bắt chuột cũng kém tinh bằng. Dẫu vậy, theo quan điểm một số nhà nhân chủng học, mèo Kazan cũng chỉ là hậu duệ mèo ri mà người Kazan có lẽ đã đem từ Trung Đông về theo tuyến đường giao thương, đồng nghĩa hoàn toàn có thể khôi phục được cá thể.

    Trong các thời kì sau khi hãn quốc Kazan cáo chung tới khoảng thế kỷ XIX, mèo Kazan là thành phần thiết yếu trong các quân doanh và công thự Đế quốc Nga, được liệt vào động vật quý tộc. Tại Đông Cung ngày 13 tháng 10 (tức 24 tháng 11) năm 1745, sa hoàng Yelizaveta Petrovna đã ban một đạo dụ có nội dung trợ cấp đặc biệt cho 30 con mèo Kazan (Эрмитажные коты) bảo vệ các tác phẩm nghệ thuật khỏi hư hại.

    [​IMG]
    Họa phẩm Václav Hollar năm 1663 : Phác họa chân dung mèo cưng của đại công tước Moskva (Le vray portrait du chat du grand duc de Moscovie)

    Hình tượng mèo Kazan có thể coi là liên đới rất rõ ràng với nhân vật truyền thuyết mèo Bayun. Cả hai kiểu mẫu này xuất hiện hầu như đồng thời trong sinh hoạt văn nghệ tại Đế quốc Nga.

    Những thuộc tính đặc trưng cùng độ phổ biến của mèo Kazan gây cảm hứng sâu sắc cho các dòng văn nghệ dân gian Nga sớm nhất cũng từ thế kỷ XVII. Ý thức này được cho là khởi nguồn từ dòng hội họa rập khuôn màu (Лубок / mộc bản, thạch bản, đồng bản), mà phổ cập nhất là các bức Chuột chôn mèo (Мыши кота погребают, thế kỷ VII) và Ông miêu Kazan (Кот Казанский, thế kỷ VIII).

    Trong cả hai dòng đồ họa này, ở phần bình chú kèm theo đều phải có câu thán "Ới ông miêu, ông đã đi rồi" (Кот брысь, он же Алабрыс) và danh hiệu "Ông miêu Kazan, trí tuệ Astrakhan, túi khôn Sibir..." (Кот Казанской, ум Астраханской, разум Сибирской...). Nội dung chủ yếu tả cảnh đàn chuột dưới sự chỉ huy của con to nhất đang kéo cỗ xe trượt tuyết, trên xe chở xác một con mèo Kazan bụ bẫm bị trói chân tay. Xung quanh còn có những con chuột rước kèn trống và vật tùy táng vô cùng nhộn nhịp, còn có mấy con đi theo làm bộ than khóc, tuy nhiên vô hình trung chỉ gây cảm tưởng giống đám hỉ chứ chẳng lấy vẻ gì là tang gia bối rối. Mà như vậy, mèo Kazan đã chuyển hóa thành hình tượng trào phúng trong văn nghệ dân gian Nga.

    Khoảng từ đầu thế kỷ XVIII trở đi, dòng tranh Chuột chôn mèo đột nhiên phát triển quá nhanh mạnh về số dị bản và lượng phát hành mỗi năm, trở thành dòng hí họa phổ biến nhất trong phong tục truyền thống Nga tự bấy cho tới nay. Mà theo giới nghiên cứu, hiện tượng đó tất yếu có những liên đới mật thiết với sự kiện tang lễ Pyotr Đại Đế năm 1725. Thậm chí, điều ấy cũng đáng được coi là biểu hiện cho sinh hoạt khai phóng mà vị sa hoàng này tích cực xúc tiến trong những năm cầm quyền vinh quang. Các tác phẩm Chuột chôn mèo tự lúc này được tích hợp thêm chủ đề mới, đấy là "bản cáo trạng những hành vi có tầm quốc gia lịch sử" của sa hoàng Pyotr I (обвинительным актом его деяний государственных и исторических).

    [​IMG]
    Bức Ông miêu Kazan (Кот Казанский) kèm phi lộ "Ông miêu Kazan, trí tuệ Astrakhan, túi khôn Sibir, sinh thời vinh hiển, ăn uống hảo hạng, đánh rắm thơm lừng", có lẽ phúng dụ Pyotr Đại Đế

    Cũng từ thời điểm Pyotr Đại Đế băng hà, Chuột chôn mèo trở thành dòng hội họa trào phúng chính trị phổ dụng nhất trong sinh hoạt văn nghệ truyền thông Nga.

    Chẳng hạn như, tại Đại hội II Xã hội Dân chủ Lao công Đảng (1903), hai phái Bolshevik và Menshevik đều dùng hình tượng Chuột chôn mèo để đả kích nhau trên chiến tuyến báo chí. Năm 1969, đạo diễn Mikheil Chiaureli lại mượn ý V. A. Zhukovsky để thực hiện cuốn phim hoạt họa Chuột chôn mèo như thế nào (Как мыши кота хоронил), mà sau này theo con gái ông là đạo diễn Sofiko Chiaureli, ý tưởng bộ phim nhằm vào cá nhân Iosif Stalin.

    [​IMG]
    Phúng dụ Vladimir Ilyich Lenin tại Đại hội II của tác giả P. N. Lepeshinsky

    Năm 2008, tác giả Kiều Thạch (Kiều Thu Hoạch) công bố bài xã luận Tranh Đám Cưới Chuột trong mối quan hệ loại hình lịch sử văn hóa (Tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật số xuân Mậu Tí, 2008). Trong đó, ông dẫn ít nhất hai bức họa mộc bản Lão thử thú thân (老鼠娶親) ở thôn Than Đầu huyện Thiệu Dương (tỉnh Hồ Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) mà văn hào Lỗ Tấn từng có bài tham nghị từ đầu thế kỷ XX. Tác giả Kiều Thạch cho rằng, hai bức Đám cưới chuột ở các phường nghề Đông Hồ và Hàng Trống cùng sử thi Nôm Đám cưới chuột ở thôn Liễu Đôi (xã Liêm Túc huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam) chỉ là sao bản dòng đồ họa phổ biến và tương đối lâu đời tại Hoa Nam (nguyên văn : Phía Nam sông Dương Tử). Ở đoạn kết, ông tiếp tục lý giải, các điển tích và dòng hội họa Lão thử thú thân Trung Hoa cũng chỉ là sự bắt chước "ngụ ngôn Ấn Độ cổ đại" (?), mà nội dung chính là nhà chuột gả con cho mèo rồi cả đàn bị mèo xơi thịt. Tuy nhiên, ông không nói rõ, quan điểm này dựa theo căn cớ nào.

    Trong khoảng một thập niên từ khi bài báo xuất hiện, cộng đồng mạng xã hội Việt Nam phát sinh cuộc tranh cãi kịch liệt về tường tích tranh Đám cưới chuột. Một phía cho rằng, đó chỉ là biểu hiện sự hàm hóa trong sinh hoạt văn nghệ Việt Nam từ trung đại tới nay - mà điểm trọng yếu là học hỏi các phong tục tập quán Trung Hoa ; phía khác lại nêu rằng, người Trung Hoa đã "sao chép, bắt chước, ăn cắp" một trong những "thói tục" cổ truyền Việt Nam, và rằng, Đám cưới chuột đích thực là "công sáng tạo" của người Việt. Một số lại bới điểm khác biệt giữa dòng tranh Việt Nam và Trung Hoa như số lượng chuột, lối tạo hình, đoạn kết câu truyện... nhằm đề cao "tinh thần dân tộc, trí tuệ bác học, tính minh triết" của tiền nhân Việt Nam.

    Ở phạm vi Trung Hoa đại lục, khu vực Hoa Nam và Hoa Bắc có các phường nghề chuyên chế tranh Tết Nguyên Đán và trung thu đề tài Lão thử thú thân như Dương Liễu Thanh ở Thiên Tân, Đào Hoa Ô ở Giang Tô, Duy huyện ở Sơn Đông. Ngoài ra còn các vùng Sơn Tây, Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Hà Bắc, An Huy, Thượng Hải, Phúc Kiến, Quảng Đông... tựu trung tương đối phát đạt. Ban sơ đấy chỉ là tập quán cúng chuột đêm ba mươi, những mong loài này đỡ gây hại để sang tân niên được an lành, bớt hạn vận. Về sau, dân gian lại bổ sung truyền thuyết Lão thử giá nữ (老鼠嫁女) để giảng nghĩa phong tục. Tập quán này dần theo người Khách Gia ra Đài Loan và xuống Đông Nam Á chỉ kể từ thế kỷ XIX mà thôi.

    Tuy nhiên, điển tích Lão thử giá nữ ở Hoa Nam Hoa Bắc cũng chỉ phát xuất từ truyền thống Hạ lão thử giá nữ (贺老鼠嫁女) của người huyện Bình Dao tỉnh Sơn Tây, rằng các ngày từ mồng 07 tới 25 tháng Giêng âm lịch phải nặn bánh bột hoặc quấy kẹo vừng đắp lên tường chúc phúc để họ chuột đừng cắn phá nhà cửa, mong sao cho sang tân niên được thái hòa thịnh vượng. Tục này xuất hiện khoảng thế kỷ XVIII nhưng không sớm hơn triều Càn Long và có liên đới sự phát đạt của con đường tơ lụa. Đây cũng chính là thời kì giao thương giữa hai đế quốc Nga La Tư và Đại Thanh trở nên đặc biệt sôi động, do đó dễ xảy ra những tiếp biến văn hóa.

    Nguyễn Dư (Ngày Tết thử bàn một tấm tranh Tết) : "[...] Nếu đúng là tấm tranh có hai phần như vậy thì chúng ta lại phải trả lời câu hỏi vì sao nghệ nhân lại vẽ hai đám rước khác nhau trên cùng một tấm tranh ? Căn cứ vào lời chú trong tranh «Bằng liệt tân khắc lão thử thủ tân» (Bằng liệt mới khắc lại chuột già lấy vợ), chúng ta được biết rằng tấm tranh này mới được khắc lại, không rõ năm nào. Đây chỉ là một trong số nhiều dị bản (Durand đưa ra 3 bản, Trung Quốc có 4 bản, mới đây Nguyễn Đăng Chế lại "phục hồi vốn cổ", khắc thêm 1 bản). Các dị bản được nghệ nhân sửa đổi tùy hứng. Ngày nay chúng ta có tranh ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ. Tôi cho rằng trong quá trình tái tạo, có nghệ nhân nào đó đã đem ghép hai tấm tranh cùng vẽ đám rước - rước dâu và vinh quy - để làm thành một tấm mới. Việc làm gán ghép này đã vô tình tạo ra một nội dung "đầu mèo đuôi chuột" khó hiểu. Các nghệ nhân đời sau tiếp tục chép lại tấm tranh ghép này, không thắc mắc gì cả. Trường hợp ghép tranh như vậy còn được thấy ở tấm Du Xuân Đồ trong sách của Durand. Ai đó đã ghép hai tấm tranh Tết biệt lập của bộ tranh Oger, đồng thời sửa đổi cả các câu thơ Nôm của chính bản. Chúng ta có thể tạm kết luận rằng tấm tranh Tết nổi tiếng của ta đã được ghép từ hai tấm tranh khác nhau, nửa trên là Đám Cưới Chuột, nửa dưới là Trạng Chuột Vinh Quy. Các chữ trong tranh đã được người đời sau sửa đổi, thêm bớt một cách tùy tiện".

    [​IMG]
    Lão thử giá nữ đồ

    Tựu trung, hình mẫu mèo Kazan sớm gây nên trào lưu sáng tác các tác phẩm phái sinh vô cùng phong phú về thể tài.

    Đồng thoại Truyện cậu bé, Baba Yaga và chim ưng xanh (Сказка о Сизом Орле, Баба-Яге и мальчике), tác giả khuyết danh, 1794-5.
    Đoản thiên Đám cưới chuột, tác giả Tô Hoài, 1942.
    Ca khúc Đám cưới chuột, tác giả Lê Tiến Đạt (ban Gạt Tàn Đầy) soạn năm 1996 và hoàn thiện năm 2006.
    Phim hoạt họa Chuột chôn mèo như thế nào (Как мыши кота хоронил), đạo diễn Mikheil Chiaureli, Kartuli Pilmi, 1969.
    Phim hoạt họa Mèo và đội chuột (Кот и компания), đạo diễn Aleksandr Guryev, Soyuzmultfilm, 1990.
    Phim hoạt họa Mèo và nhà chuột, ai táng ai (猫和老鼠谁将被埋葬, Я видел как мыши кота хоронил, I saw mice burying a cat), giám chế Trịnh Lập Quốc & cố vấn Dmitry Geller, Học viện Động họa Cát Lâm, 2011.
    Phim hoạt họa Bảo thạch sơn : Truyện anh lính (Гора самоцветов. Про солдата), đạo diễn Valentin Telegin, Pilot, 2014.
    Phim hoạt họa Dân gian cố sự. Lão thử giá nữ nhi (民間故事·老鼠嫁女兒), tổng giám chế Lâm Phúc Văn, Nissi Digital Media Co-Ltd, 2020.

    [​IMG]
    Nguyên bản bức Lão thử táng miêu (Мыши кота погребают) do tác giả khuyết danh sáng tác năm 1725, quàn tại Quốc gia Bác vật quán Liên bang Nga

    [​IMG]
    Bức Lão thử táng miêu (Мыши кота погребают) chế năm 1881, có lẽ ứng sự kiện sa hoàng Aleksandr II bị ám sát

    [​IMG]
    Bức Lão thử táng miêu (Мыши кота погребают) năm 1894, có thể liên đới sự kiện sa hoàng Aleksandr III hoăng

    [​IMG]
    Điêu tượng gỗ Chuột kéo mèo tới sân nguyện đường (Мыши кота на погост волокут) do nghệ nhân F. D. Yeroshkin tạc cuối thế kỷ XIX
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/6/21
    htahta and Arabiya like this.

Chia sẻ trang này