Tuyển tập Dung-trai tùng-thoại

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học nước ngoài' bắt đầu bởi Beringen, 13/6/21.

  1. Beringen

    Beringen Banned

    Dung-trai tùng-thoại là nhan đề hậu sinh đặt cho hợp tuyển những bài kí mà tác gia Thành Hiện (成俔, 성현 ; 1439 - 1504) soạn giai đoạn 1499 - 1504.

    Năm 1498, Thành Hiện là một trong số ít quan viên thoát nạn trong sự kiện Mậu-ngọ sĩ-họa (戊午士禍, 무오사화), nhưng từ đó đến khi tạ thế không được trọng dụng nữa. Thất thế, trong khoảng các năm 1499 - 1504, Thành Hiện tận dụng thời gian rỗi soạn một tuyển tập mà ngày nay gọi Dung-trai tùng-thoại (慵齋叢話, 용재총화), gồm ước chừng 324 bài kí Hán văn, nhưng phải đến năm 1525 người trưởng nam Thành Thế Xương (成世昌, 성세창 ; 1481 - 1548) mới san định thành 3 quyển, khắc ấn bí mật tại Khánh Châu phủ - địa điểm cách khá xa kinh kì - nhằm tránh tai mắt triều đình. Nhờ vậy, tác phẩm được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, bất chấp bao phen lửa loạn, được sĩ nhân ngâm tụng từ lâu, hầu như được học giới hiện đại coi là pho tư liệu trọng yếu và cũng hấp dẫn nhất về bối cảnh sơ kì Triều Tiên.

    Năm 1909, Triều-tiên cổ-thư san-hành hội (朝鮮古書刊行會, 조선고서간행회) đã sưu tầm lại các thủ bản Dung-trai tùng-thoại để đưa vào bộ Đại-đông dã-thừa (大東野乘, 대동야승), ấn phẩm mà ngày nay tại Nam Cao Ly gọi Hàn-quốc dân-tục văn-học tự-điển (韓國民俗文學詞典), thuộc thể loại cố sự và tự luận, do tác giả Lý Khang Ốc (李康沃, 토론자) tường bày. Ngày nay, tại Khuê-chương các Đại-học Thủ-Nhĩ (Seoul) lưu trữ bộ ba tập Dung-trai tùng-thoại, còn Đại-học Diên-Thế lưu bộ năm tập.

    ❖​

    Ở thời điểm khởi thảo, Dung-trai tùng-thoại là 10 cuốn sổ tường trình không theo thứ tự nào, gồm những điều vụn vặt mà tác giả xưng Tôi nhớ được đến đâu thì chép ra đến đấy. Bản thân tác giả là quan viên nhiều năm, trải không ít thăng trầm trên hoạn lộ, cộng với việc có hai người anh cũng là quan lớn, trâm anh thế phiệt, nên kinh nghiệm tích trữ được đã giúp ông tạo ra một tác phẩm quý giá.

    Đối với giới nghiên cứu, Dung-trai tùng-thoại là nguồn tư liệu phong phú và xác đáng nhất về phong tục tập quán trải từ thời Cao Ly đến sơ kì Triều Tiên. Gồm : Phong hóa, lịch sử, địa lí, học thuật, tông giáo, văn học, âm nhạc và thư pháp. Bên cạnh đó, Dung-trai tùng-thoại cũng phác lại chân dung khá nhiều nhân vật đặc biệt của một giai đoạn lịch sử Triều Tiên ở mọi giai cấp từ thấp lên cao. Tác phẩm cũng ghi lại một số văn thi phẩm và tiếu lâm phổ biến đương thời mà nay khó tìm lại dấu vết.

    Năm 2001, dựa theo những biên chép của ông Thành Hiện về Thành Quân quán, lối khoa cử cùng sinh hoạt giới nho sinh Triều Tiên, kênh KBS đã công bố bộ phim Thành Quân Quán phi văn (成均館緋聞, 성균관 스캔들), gây cơn sốt toàn Á châu.

    Năm 2014, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn phát hành cuốn Tản mạn xứ kim chi là tuyển lựa chừng 50 bài kí đặc sắc nhất trong Dung-trai tùng-thoại, do bà Đào Thị Mỹ Khanh đặt nhan đề và dịch.

    Nguyên văn :
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [​IMG]
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 15/6/21
  2. Beringen

    Beringen Banned

    THÀNH HIỆN

    Tác gia Thành Hiện có biểu tự Khánh Thúc (磬叔), hiệu Dung Trai (慵齋), Hư Bạch Đường (虛白堂), Phù Hưu Tử (浮休子), Cúc Ổ (菊塢), lại có thi hiệu Văn Đái (文戴). Ông sinh trưởng trong một vọng tộc với nhiều đời là trọng thần định cư ở Xương Ninh, cha ông là võ quan Thành Niệm Tổ (成念祖, 성염조 ; 1398 - 1450) thuộc Trung Xu phủ, bản thân ông cũng là một quan chức cao cấp dưới hai triều vua Thành Tông và Yên Sơn. Ông vốn là con út, hai người anh Thành Nhâm (成任, 성임 ; 1421 - 1484) và Thành Khản (成侃, 성간 ; 1427 - 1456) đều là học giả lớn đương thời, được coi như những người tiên phong làm thay đổi cái nhìn về văn học so với các tác gia kinh điển.

    Năm 1462, triều vua Thế Tổ, Thành Hiện đỗ kỳ Thức-niên văn-khoa.
    Đến năm 1466, trong một kỳ thi tuyển dụng hiền tài, Thành Hiện lại đỗ nữa, được bổ làm quan Ti-lục (trật bát phẩm).
    Năm 1468, vua Duệ Tông đăng cơ, Thành Hiện được bổ làm quan viên ở Nghệ Văn quán. Thời gian này, ông cùng anh cả Thành Nhâm được cử làm sứ thần sang triều cống Đại Minh, các thi phẩm đi sứ của ông được hợp thành cuốn Quan quang lục (觀光錄).
    Năm 1475, Thành Hiện lại cùng ngài Hàn Minh Quái đi sứ nhà Minh. Cũng năm này, Thành Hiện đỗ một kỳ thi văn khoa và được bổ làm quan Đại-ti-gián (trật tam phẩm).
    Năm 1485, lần thứ ba Thành Hiện đi sứ nhà Minh, sau khi về nước thì được bổ làm Hình-tào Tham-phán, rồi Quan-sát-sử (trật nhị phẩm) ở Bình An đạo. Thời gian này, có lần ông được tiếp đón hai vị sứ thần Đổng Việt và Vương Sưởng từ Đại Minh sang, cùng nhau xướng họa thi phú. Sau đó, ông lại đảm nhiệm chức Đồng-tri (trật nhị phẩm) ở Trung Xu phủ, rồi lần thứ tư sang sứ nhà Minh với tư cách tạ ơn, trở về lại làm chức Quan-sát-sử ở Khánh Thượng đạo rồi vinh thăng Lễ-tào Phán-thư (trật nhị phẩm).
    Năm 1494, vua Yên Sơn đăng cơ, bổ Thành Hiện kiêm nhiệm chức Đại-đề-học (trật nhị phẩm) và Công-tào Phán-thư (trật tam phẩm).
    Năm 1498, Thành Hiện là một trong số ít quan viên thoát nạn trong sự kiện Mậu Ngọ sĩ họa (戊午士禍, 무오사화), nhưng từ đó đến khi qua đời không còn được trọng dụng nữa.
    Trong khoảng các năm 1499 - 1504, Thành Hiện tận dụng thời gian rỗi soạn một tuyển tập mà ngày nay gọi là Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話, 용재총화), gồm ước chừng 324 bài ký bằng Hán văn, nhưng phải đến năm 1525 mới được người con trai ông là Thế Xương tìm cách ấn hành ở Khánh Châu phủ. Tác phẩm này hầu như được giới học giả hiện đại coi là pho tư liệu quan trọng nhất và cũng đầy hấp dẫn về bối cảnh sơ kỳ Triều Tiên.
    Năm 1504, sau khi Thành Hiện mất được vài tháng thì lại xảy ra sự kiện Giáp Tí sĩ họa (甲子士禍, 갑자사화), vua Yên Sơn hạ lệnh quật xác ông lên xử trảm. Chỉ đến khi Yên Sơn bị phế, Thành Hiện mới được minh oan và tôn vinh là một quan viên thanh bạch.

    Đương thời Thành Hiện nức danh vì thông thạo nhạc lý và văn chương. Ông từng kiêm nhiệm chức Chưởng-nhạc viện Đề-điệu, cùng Liễu Tử Quang (柳子光, 유자광 ; 1439 - 1512) biên soạn sách Nhạc học quỹ phạm (樂學軌範), còn thụ mệnh nhà vua tu chỉnh những bài ca dao Cao Ly như Song hoa điếm (雙花店), Lý Sương khúc (履霜曲), Bắc điện (北殿), Cải san (改刪). Ngoài thi tập Quan quang lục và cuốn nhàn lục Dung Trai tùng thoại, Thành Hiện còn để lại các tác phẩm Hư Bạch Đường tập (虛白堂集), Phong nhã lục (風雅錄), Phù Hưu Tử truyện (浮休子傳), Phù Hưu Tử đàm luận (浮休子談論), Tấu nghị bại thuyết (奏議稗說), Cẩm nang hành tích (錦囊行跡), Tang du bị lãm (桑楡備覽), Phong tao quỹ phạm (風騷軌範), Kinh luân đại quỹ (經綸大軌), Thái bình thông tái (太平通載).

    Theo : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [​IMG]
     

Chia sẻ trang này