Biên khảo Dưới uy linh Perun (Под десницей Перуна)

Thảo luận trong 'Sách tiếng nước ngoài' bắt đầu bởi Uillean, 12/1/22 lúc 16:56.

  1. Uillean

    Uillean Lớp 2

    Перун (Перунъ, Пярун, Piorun «гром») — бог-громовержец в славянской мифологии, покровитель князя и дружины в древнерусском языческом пантеоне. Имя Перуна возглавляет список богов пантеона князя Владимира в «Повести временных лет». Судя по положению в этом и в других русских списках богов, был высшим богом в пантеоне Киевской Руси.

    [​IMG]

    Согласно теории основного мифа — одно из центральных божеств славянской мифологии, громовержец, обитающий на небе, антагонист живущего на земле змеевидного Велеса.
     
  2. Uillean

    Uillean Lớp 2

    [​IMG]

    Tự xưa lắm, gốc sồi vững chãi đã làm chốn phượng thờ, tượng trưng cho thần lôi điện.

    [​IMG]

    Chừng thiên niên kỉ thứ III trước Công Nguyên, các người nói ngữ hệ Ấn-Âu định cư miền sâm lâm Âu châu bắt đầu tiến hành canh nông. Họ thường bỏ ngỏ gốc sồi ở giữa thửa đất canh tác. Đối với khách bộ hành, những cây hùng vĩ này được nhân cách hóa thành thần tính tối thượng, nghĩa là có thể điều khiển sấm chớp chí mây mưa.

    [​IMG]

    Chư tộc Kelt định cư Tây Âu từ thiên niên kỉ I trước Công Lịch thờ lôi thần Toranos. Thần nuôi một con hươu làm trợ thủ đắc lực. Vậy nên tín vật thiêng nhất của thần là cái gạc.

    [​IMG]

    Như thế, thói thờ lôi thần của rợ Kelt đã tồn tại ở Âu châu từ sơ khởi thiên niên kỉ I trước Công Nguyên. Những nhẫn hay xuyến bọn vu sư (druí) thường đeo trong giáo lễ bao giờ cũng chạm đầu bò đực, tức là hi vật cúng thần Taranos.

    [​IMG]

    Đấng Zeús, chúa tể chúng thần trong đại miếu Cổ Hi Lạp, cũng cai trị lôi điện. Hễ lâm hạn hán, dân Hi Lạp bèn khấn thần Zeús ban mưa : "Lậy đấng Zeús tối linh, xin rót mưa xuống, cho các đồng vàng Athênai cùng thung lũng !".

    [​IMG]

    Trong thần thoại Scandza vốn bảo lưu những nguyên mẫu khá toàn vẹn của lớp dị giáo Ấn-Âu tối cổ, lôi thần Þórr đã đả bại con mãng Miðgarðsormr - một nhân cách hóa thế giới mãnh ma. Cứ truyền thuyết thì, con mãng này ngụ đáy đại dương thuở thái sơ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/1/22 lúc 18:38
  3. Uillean

    Uillean Lớp 2

    [​IMG]

    Đối với chư tộc Slav cổ đại, cây sồi là linh vật của lôi thần Perun. Sử quan Byzantium là Procopius Caesariensis cho biết, các người Slav sườn Đông (Sclaueni) "tin rằng trên đời chỉ có đấng tạo lôi điện là muôn muôn trị, cho nên phải hi sinh bò đực cúng thần".

    [​IMG]

    Theo thế giới quan Slav, mọi súc vật đều là bạn lữ với đấng Perun. Hãy xem mặt xuyến chạm đầu dê được dùng trong lễ cúng lôi thần, cổ vật được tìm thấy ở di chỉ tế đàn Gnyozdovo, tỉnh Smolensk, ước thế kỉ X.

    [​IMG]

    Còn đây những cổ vật bằng đồng chạm tượng lôi thần, chừng thế kỉ X-XII.

    [​IMG]

    Þórr của người Scandza với Perun của dân Slav tất yếu chung khởi nguyên và ý nghĩa, vì vẫn được mô tả là nam nhân đứng chống nạnh. Cũng có thể làm sao bản nhỏ của một đại ngẫu tượng ngồi ngôi báu để ở tổ đình mỗi bộ lạc.

    [​IMG]

    Một thần miếu Perun đã được dựng ngay trung tâm thành Kiev năm 980, làm chốn tôn nghiêm bậc nhất Rus cổ đại. Vì vương công Vladimir Svyatoslavich - nhà sáng lập - chủ trương thống nhất cõi Rus bằng tín ngưỡng độc thần Perun.

    [​IMG]

    Theo Vãng sự kí, tại thánh địa, một hi lễ cúng thần Perun phải mất tám hôm sửa soạn : "Nay đà trưng tập được vô số nam thanh nữ tú ; hễ đứa nào được chọn, thời hi sinh cúng thần ngay". Và nhờ sự hiến hi này, dân Kiev mong sao thượng thần đoái thương mà đừng đổ mưa trước vụ gặt.

    [​IMG]

    Tế xong, người ta bày tiệc linh đình ngay trước sân nhà vương công. Trong bữa yến, để tỏ tri ơn thần linh đã nhận của lễ, họ đem công vụ ra bàn bạc, vả cho ngâm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Nên dư âm những bữa đại yến của đức Vladimir Hồng Dương đã gieo vào lòng chúng ta qua các dân thoại.

    [​IMG]

    Các đại trú xứ Slav cuối thế kỉ X đều có thần miếu Perun ngay cạnh, thường là tọa lạc các mỏm đồi. Ở đấy, người ta dựng hàng rào thiêng, để bên trong hoàn toàn làm chốn thờ thần tượng và thi thoảng nổi lửa hiến hi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/1/22 lúc 22:52
  4. Uillean

    Uillean Lớp 2

    [​IMG]

    Nhánh Tây Slav cũng sùng bái thần Perun. Nhất là ở một thắng cảnh đã đi vào hội họa. Đảo Rügen có một khu cổ tích liệt hạng của bộ lạc Rani, lưu giữ vô vàn xương bò đực cùng các gia súc khác được hiến hi cho lôi thần.

    [​IMG]

    Tựu trung, giải pháp cho những vấn đề trọng yếu nhất giữa các cộng đoàn Slav không chỉ bằng yến hội linh đình, mà còn chốn tôn nghiêm. Ngay từ sơ kì trung đại, tập quán này đã lan truyền khắp các cộng đoàn dị giáo Âu châu. Tỉ dụ ở Băng Đảo, khu cổ tích Þingvǫllr nguyên là chốn tập họp của các dị giáo đồ cùng giới bình dân.

    [​IMG]

    Năm 948, hoàng đế Kōnstantinos Porphyrogennētos kể hi lễ cúng thần Perun dưới gốc sồi như sau : "Ở Chortica, bọn Rhos cúng gà trống sống, một đứa cắm mũi tên bao quanh và đứa khác soạn bánh, thịt... Rồi bỏ gà vào lửa".

    [​IMG]

    Trong hi lễ cúng thần Perun còn phải có lưỡi búa thiêng, biểu tượng thắng lợi của ngài trước Con Mãng Trung Nguyên. Hiện vật này là chiếc móc cài khoảng thế kỉ X ở Nam ngạn Ladoga, nơi có vẻ như từng làm thánh địa của người dị giáo.

    [​IMG]

    Vô hình trung, sinh hoạt của tổ tiên ta đã thấm nhuần tư tưởng dị giáo. Thậm chí, những công cụ đá tìm ra trong quá trình khai quật liền được đặt "thần tiễn Perun" bởi chỉ đeo làm bùa hộ mạng.

    [​IMG]

    Thế nhưng, đạo bùa phổ dụng nhất vẫn là dây xuyến nhỏ trên đầu. Ngay đến đầu thế kỉ XX, các sắc tộc Nga và Baltika vẫn nhan nhản thói sùng bái chiếc rìu để hộ mạng trước thiên tai, hay thậm chí những bất hạnh ảnh hưởng kinh tế và sinh hoạt nông dân.

    [​IMG]

    Khả dĩ giả thiết rằng, ở thế kỉ XII-XIII các cửa thần điện Perun trang trí họa tiết đầu rìu tương tự xuyến của nữ lưu bộ lạc Vyatichi - tổ tiên dân Moskvy và ngoại ô Moskva ngày nay.

    [​IMG]

    Vả cũng tương tự thần Zeús Hi Lạp, Perun là thần trọng yếu của các dân Slav. Khoảng giữa thế kỉ X, khi kết minh ước với triều Byzantium, dân Rus đã đem binh khí và thần Perun ra phát thệ.

    [​IMG]

    Theo truyền thống, lôi thần dị giáo được dành riêng một kho của cải. Vì thế, ở khu vực Tây Slav thường có những kho lẫm chất đầy su cướp được của vương công quý tộc cùng giám mục Anh hoặc Đức sau mấy hồi công phạt.

    [​IMG]

    Riêng kim sức tịch thâu được có thể làm chiến lợi phẩm cúng thần Perun, tỉ như mấy hiện vật tìm thấy ở đảo Hiddensee này.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/1/22 lúc 22:42
  5. Uillean

    Uillean Lớp 2

    [​IMG]

    Tuy nhiên, giới thân sĩ kính thờ Perun lại vô năng trong việc tập trung hóa quốc gia non trẻ. Thành thử vương công Vladimir Svyatoslavich quyết Cơ Đốc hóa toàn cõi Rus. Vì thế chốn ngự thiêng liêng của lôi thần Perun được chuyển thành thờ đấng tiên tri Ilya (אֵלִיָּהוּ), tức nơi Thánh Kinh vẫn gọi "bầu giời" (רקיע).

    [​IMG]

    Tự bấy toàn cõi Rus dần xuất hiện những thánh địa mới cạnh ngẫu tượng Perun đã hỏng nát. Bô lão Dobrynya đã dựng một thánh địa như thế ở gần Novgorod năm 983 theo dụ của vương công Vladimir, lại đích thân giám sát việc dọn phế tích năm 989 : Ông cầm kiếm chém đổ thần tượng, rồi sai người kéo hết khỏi thánh địa, đặng bỏ xuống sông Volkhov.

    [​IMG]

    Rồi cơ sở của dị giáo cổ hủ cũng thất sủng ở cực Bắc Âu châu - miền Scandza.

    [​IMG]

    Ở đấy cũng như cõi Rus, các tín hữu đã tìm ra một Cơ Đốc nhân thay vị lôi thần gốc Scandza. Ấy là đức thánh Olav, thường được mô tả cầm rìu. Thánh hội khi quảng bá hệ tư tưởng vào giới bình dân thường chú trọng khiến ai cũng dễ tiếp thu. Do đó, trước hết phải thông qua các thuộc tính dễ thẩm thấu đối với người cựu giáo.

    [​IMG]

    Vậy nhưng ngay cả khi đã Cơ Đốc toàn tòng, tổ tiên ta vẫn bảo lưu những tàn tích của tín ngưỡng phụ hệ. Thí dụ, một phù điêu gỗ Novgorod thế kỉ X-XI chạm con cừu đực tế thần Perun.

    [​IMG]

    Đến tận thế kỉ XIV, bọn thợ khắc xương Novgorov vẫn chạm lên sản phẩm kẻ tử thù của Perun - Con Mãng Trung Nguyên đương nuốt vầng dương (nhật thực toàn phần).

    [​IMG]

    Trong thời kì rất lâu ở Rus vẫn lưu truyền các tích trò cùng ca dao dị giáo liên đới hi lễ Perun. Một hoạt cảnh nghi lễ này được chạm trên ngói Novgorod thế kỉ XV.

    [​IMG]

    Trận đấu của đấng Perun với rồng, theo thế giới quan Slav sẽ kết thúc bằng một cơn bão, nên nó trở thành khởi nguyên cho nhiều nghi lễ dân gian. Người Bǎlgariya gọi "pererana", người Srbija gọi "prporusha" : Cứ mỗi độ xuân về, phụ nữ trong thôn lại họp ở mỏm đồi gần Dubovo đặng dội nước lên người nhau.

    [​IMG]

    Mặt nạ dân gian ở Slovenija tới giờ vẫn tái hiện hình dung các bạn lữ bốn chân của dị giáo lôi thần Perun. Và như vậy cái uy linh của ngài vẫn tồn tại trong tâm khảm chư tộc Slav hàng bao thế kỉ nay.
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/1/22 lúc 00:17
  6. Uillean

    Uillean Lớp 2

    NÚI TRỌC

    Núi Trọc (tiếng Ukraina : Девич-гора, tiếng Nga : Лысая-гора, tiếng Belarus : Лысая-гора) là một thành tố trọng yếu trong tín ngưỡng dân gian Slav, có liên đới thuật phù thủy và quyền năng siêu nhiên.

    Theo truyền thuyết, giới phù thủy và yêu tinh quỷ quái nói chung thường họp nhau ở những "mỏm núi trọc" (лысых горах) nhằm lễ shabbat của quỷ.

    Ngay từ thời kì liên minh Rus tiền Cơ Đốc, các mỏm núi trọc ở Đông Âu là nơi thực hành lễ tế thần Perun của các tín đồ dị giáo. Thông thường, núi trọc gồm ba thành phần : Hẻm phù thủy - tức là trung tâm thực hiện tế lễ, hẻm ngư nhân - tương truyền ở đấy có những cái ao đầy mĩ nhân ngư, hang tử thần - nghĩa là địa điểm mai táng huyền bí.

    Tập quán này được cho là bắt đầu mai một khi các cuộc viễn chinh Teuton đem Cơ Đốc giáo tới, và kế tiếp những cuộc xâm lăng tàn khốc của rợ Kim Trướng, rồi Hắc Tử Bệnh khiến việc thực hành tế lễ bị gián hoặc. Sang trung đại hậu kì, các quốc gia Đông Âu dưới sự ảnh hưởng của liên bang Ba Lập về căn bản đã cải sang Cơ Đốc giáo. Từ lúc này, việc thực hành các nghi thức dị giáo bị chối bỏ rồi thất truyền, cho nên địa điểm núi trọc linh thiêng thần bí chỉ còn trong huyền thoại dân gian, bảy thực ba hư.

    Đỉnh núi trọc trong huyền thoại gồm rất nhiều địa điểm, nhưng mật độ dày nhất tập trung ở Ba Lan, Belarus, một phần Ukraina và Nga. Trong đó, đồi Devich ở quận Holosiivs'kyi thuộc Trung Tây thủ đô Kiev (Ukraina) là nổi tiếng nhất. Ngày nay, địa điểm này vẫn là chốn tụ họp của những tín đồ tân dị giáo, sùng bái Tolkien và chuộng văn hóa thứ cấp.

    Kể từ cận đại tới nay, huyền thoại núi trọc trở thành một hình tượng độc đáo trong kho tàng văn nghệ Slav. Mà theo tác gia Vladimir Dal, quả thật núi trọc là một phần trong "đức tin, thói mê tín dị đoan và thành kiến của người Nga" (О поверьях, суеверьях и предрассудках русского народа).


    [​IMG]
    Họa phẩm mô tả núi Trọc ở Kiev thuở bán khai

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/1/22 lúc 16:46
  7. Uillean

    Uillean Lớp 2

    BABA YAGA

    Biệt hiệu : Bà chúa chim thú rừng rậm kiêm người canh cổng cõi chết (Хозяйка леса, повелительница зверей и птиц, охранительница границ царства Смерти)
    Thân tộc : Gió Bấc, Mặt Trăng, Mặt Trời
    Chốn ngụ : Xứ Xa Thật Là Xa


    [​IMG]

    Theo quan điểm của nhà ngôn ngữ học Max Vasmer, từ vựng Baba Yaga (tiếng Nga : Яга, яга-баба, еги-баба, ягая, Ягишна, Ягабова, Егибоба ; tiếng Belarus : Ба́ба-Яга́, Ба́ба-Юга́, Ягіня ; tiếng Bulgaria : Ба́ба Я́га ; tiếng Ukraina : Баба-Язя, Язя, Язі-баба, Гадра ; tiếng Ba Lan : jędza, babojędza ; tiếng Tiệp : jezinka, Ježibaba «ведьма», «лесная баба» ; tiếng Serb : Баба Јага ; tiếng Slovenija : jaga baba, ježi baba) gồm các nghĩa phái sinh "bà già" + "đầm lầy, rừng rậm, cáu bẳn, gớm ghiếc, nham hiểm, độc ác, đa nghi, biếng trễ...". Một số tác gia khác cũng đề xuất thêm mối tương quan với những ngữ hệ ngoại vi Slav như quần đảo Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, thậm chí cả Latin. Tuy nhiên, lối hiểu phổ thông nhất tại Đông Âu kể từ cận đại cho tới ngày nay chỉ có bà già đầm lầy.

    Trong kho tàng văn hóa dân gian Slav, nhân vật Baba Yaga nhìn chung có một số thuộc tính (атрибут) ổn định : Thông thạo ma thuật (vì thế còn có biệt danh phù thủy đầm lầy), hay di chuyển trên cái cối gỗ biết bay và điều khiển bằng cái chày với cây chổi rễ, sống ở bìa rừng trong túp lều chân gà mà xung quanh có hàng rào bằng xương sọ phát sáng. Trí tuệ dân gian thường hình dung Baba Yaga là mụ già gầy ốm gù lưng, tóc bạc như cước, mắt ti hí, cái mũi khoằm có mụn, hàm chỉ còn đôi ba chiếc răng, giọng nói the khé khàn khàn. Baba Yaga nhìn chung ăn mặc rất thô lậu, thường chít khăn mỏ quạ và xỏ giày ống, đặc biệt nhanh nhẹn dù tuổi đã cao lắm. Đặc biệt, khứu giác mụ thính tới mức có thể đánh hơi người lạ bước vào rừng. Ngoài ra, tuy bị liệt vào dạng nhân vật phản diện nhưng tác giả dân gian không nghiêm trọng hóa hình tượng này, nên có thể coi Baba Yaga là kiểu nhân vật "được chăng hay chớ", tính khí bốc đồng và rất thất thường.

    Theo tín ngưỡng dân gian, Baba Yaga sống ở xứ Xa Thật Là Xa, bên kia sông Smorodina, chỗ cầu Kalinov, là nơi giao thoa thế giới này với thế giới khác. Bản thể Baba Yaga đáng được coi là kẻ canh cổng vào cõi chết và làm hoa tiêu dẫn linh hồn xuống địa ngục. Vả chăng, dẫu cho hình vóc vô cùng xấu xí nhưng kiểu mẫu Baba Yaga lại liên hệ mật thiết với tự nhiên và bếp lửa. Nên học giới cho rằng, hình tượng Baba Yaga là di tích của linh vật giáo Slav cổ đại, nghĩa là một dạng thần hộ mạng trong gia đình.

    Hỡi nhà chân gà, nhà chân gà !
    Quay lưng rừng già, quay mặt về ta !
    (câu thần chú mở cửa)

    Baba Yaga luôn gắn bó với các hình tượng hung thần Koshchey Bất Tử, sơn long Zmey Gorynych và mèo Bayun. Đồng thời, kiểu mẫu này lại đối lập với các hình tượng nàng Vasilisa (nhan sắc) và chàng Ivan (tuổi trẻ).
    Theo một vài điển tích, Baba Yaga luôn tự huyễn về "nhan sắc yêu kiều" của mình nhưng lại không để lòng giận khi có kẻ chê bôi. Tuy vậy, mụ sẵn sàng trừng trị bất cứ ai bước vào khu rừng thiêng trái phép, dù trong thực tế, Baba Yaga không phải thần rừng.
    Gia sản Baba Yaga gồm con cú (đôi khi quạ, khướu, sáo đen), chiếc gương thần, mũ tàng hình, hài vạn dặm, cái lò tự róm. Có thuyết cho rằng, mụ có cả chiếc niêu tự nấu và không bao giờ cạn cháo. Nhưng trong hết thảy bảo bối, cái quý nhất Baba Yaga sở hữu là con ngựa thần có cánh, hễ mụ huýt gió thì ngựa từ không trung sà xuống.
    Thuộc hạ đắc lực của Baba Yaga là bọn yêu tinh trong rừng rậm và một đàn thiên nga hung dữ.
    Kì thực Baba Yaga không phải thần linh, ác quỷ hay yêu quái, nhưng nhờ trí tuệ cao phàm nên mụ nắm được nhược điểm của mọi thế lực hắc ám trên thế gian. Anh hùng tráng sĩ thường tới cầu cạnh, thậm chí nịnh bợ, để Baba Yaga tiết lộ điều thần mật.
    Trong các xuất phẩm điện ảnh hiện đại, Baba Yaga được thể hiện là nhân vật vô cùng dí dỏm, giỏi ca vũ và có sở thích đánh bài với lão mộc tinh.


    [​IMG]

    Nhân vật Baba Yaga được nhận định là kiểu mẫu có sức hấp dẫn và cũng phổ cập nhất trong các loại hình văn nghệ Slav. Vì thế, cho tới nay khó thống kê chính xác số lượng tác phẩm có nhắc đến dạng nhân vật này.

    Vào năm 2004, thôn Kukoboy quận Pervomaisky thuộc tỉnh Yaroslavl (Nga) đơn phương tuyên bố là "bản quán" (родина) nhân vật Baba Yaga nhằm phục vụ nhu cầu tăng trưởng du lịch, một bảo tàng Baba Yaga cũng được thành lập ngay tại địa phương. Chủ trương này đã bị Thượng Tòa lên án gay gắt.
    Năm 2018, tượng Baba Yaga đã được khánh thành tại Chelyabinsk và Dubai. Ngoài ra còn có các lưu niệm đài tại Tyumen và Yekaterinburg.
    Năm 2019, lại có một bức tượng được dựng tại London.
    Trong văn hóa dân gian Việt Nam, các nhân vật Sun Yrit và chằng tinh có thể coi là tương tự Baba Yaga về đặc tính. Ở các thập niên 1980-90, dư luận Việt Nam thường đồng hóa nhân vật Baba Yaga với Bà La Sát, quen gọi những người bẳn tính là "bà la sát" hoặc "mụ la sát".


     
    Chỉnh sửa cuối: 13/1/22 lúc 16:54

Chia sẻ trang này