Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn. Trần Gia Ninh

Thảo luận trong 'Giới thiệu sách hay chưa có trên TVE-4U' bắt đầu bởi tducchau, 19/9/15.

Moderators: CreativeIdiot
  1. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    Đọc “Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn”*
    Cuốn tiểu thuyết lịch sử về thép và súng của người Việt

    [​IMG]

    Sau nhiều năm đi tìm lời giải cho mấy chữ Kim-Thiếp Vũ Môn (KTVM), tác giả Thâm Giang Trần Gia Ninh đã bổ sung thêm những sự kiện sách sử Việt chưa từng chép về hai sáng tạo tuyệt vời của tổ tiên ta.

    Cầm quyển sách lên, những người biết chữ Hán sẽ lập tức chú ý đến dòng chữ vuông trên trang bìa, bởi chữ vuông khổ lớn thứ nhất với bộ Kim 金 (vàng) bên trái, chữ Thiếp 妾 (vợ lẽ) không thấy có trong bất cứ từ điển Hán tự nào, chỉ biết tạm đọc là Kim Thiếp. Vậy Kim Thiếp là gì? Điều băn khoăn ấy bám theo độc giả cho tới khi đọc gần hết cuốn sách.

    Tiếp đó, bốn chữ Mấy lời cẩn bạch ở trang đầu, với ghi chú từ cẩn bạch là Kính trọng bày tỏ, đã cho thấy Trần Gia Ninh thạo chữ Hán - điều kiện tiên quyết của người nghiên cứu sử Việt cổ.

    Lịch sử là tài sản chung của mọi người, nói lịch sử là nói sự thật. Nhưng tiểu thuyết lại đòi hỏi phải hư cấu. Vậy hư cấu thế nào thì vừa? Có lẽ nên hư cấu sao cho độc giả đã bắt đầu đọc là muốn đọc tới cùng; khi ấy họ không còn câu nệ lắm với sự thật lịch sử. Tác giả “Ba chàng ngự lâm (Les Trois Mousquetaires)” Alexandre Dumas từng nói, “sự thật lịch sử” chỉ là cái đinh để nhà văn móc chiếc áo (ý nói câu chuyện) của mình lên.

    Vậy Trần Gia Ninh có “móc chiếc áo của mình” lên sự thật lịch sử hay không?

    Đọc Huyền thoại KTVM ta nhận thấy, tác giả hoàn toàn tôn trọng các sự thật có ghi chép trong chính sử, ngoài ra còn bổ sung thêm những sự kiện sách sử Việt chưa từng chép. Đây là một điểm sáng làm nên giá trị về nội dung của tác phẩm. Cũng có thể sử sách từng chép những sự kiện ấy, nhưng xâm lược phương Bắc thi hành chính sách tiêu diệt văn hóa bản địa đã tiêu hủy hết mọi thư tịch do người Việt viết. Vì thế vườn lịch sử nước ta còn có vô số báu vật bị vùi sâu dưới lớp đất thời gian, đang chờ những người tâm huyết dày công dò tìm, đào bới lấy lên để mọi người cùng chiêm ngưỡng. Trần Gia Ninh là một trong những “thợ đào vàng” hiếm hoi ấy.

    Từ tấm bìa có ba chữ 雨門 (Kim-Thiếp Vũ Môn) di bút của ông nội còn giữ được, anh phỏng đoán đây là bìa một cuốn sách viết những sự việc có liên quan tới thác Vũ Môn ở quê mình. Vì thế mấy chục năm qua, anh cất công tìm kiếm khắp nơi các thư tịch, tư liệu liên quan, nhằm giải mã mấy chữ vuông thần bí ấy. Và bây giờ, khi được cử giữ ghế trưởng lão của họ Trần Gia Phố nổi tiếng đất Hoan Châu (Nghệ An-Hà Tĩnh), anh tráp lại các tư liệu đã sưu tầm và viết nên Huyền thoại KTVM, coi đó là tấm lòng của kẻ hậu sinh tưởng nhớ ông cha tổ tiên mình.

    Huyền thoại KTVM dường như muốn chứng minh một sự thật: Tổ tiên ta giỏi lắm! Đây không phải là lời “mẹ hát con khen”. Năm 971 khi sang thăm nước ta, sứ thần nhà Tống là Lý Giác đã làm bài thơ Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu, nghĩa là Ngoài trời này còn có trời khác, nên soi cho thấu- tác giả kể, và cho rằng Lý Giác muốn khuyên người Trung Hoa chớ nên coi thường người Việt, một dân tộc rất có bản lĩnh trí tuệ.

    Đọc KTVM, bạn như được xem cuốn phim nói về một giai đoạn lịch sử bi hùng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược đầu thế kỷ XV.

    Năm 1404, vua Minh Thành Tổ mượn cớ “Phù Trần diệt Hồ” cho quân hộ tống Trần Thiêm Bình [1] tiến vào nước Việt. Khi chúng mới sang tới đất Bắc Giang, Hồ Quý Ly bày mưu dùng súng thần cơ do người Việt chế tạo đánh cho địch đại bại phải cút về nước. Năm 1407, giặc Minh kéo đại binh sang, bắt được Hồ Quý Ly và con là Hồ Nguyên Trừng tại Hà Tĩnh. Nhà Minh thi hành chính sách cai trị hà khắc khiến dân ta điêu đứng suốt hai chục năm trời. Chúng đốt hết mọi thư tịch do người Việt sáng tác, mang về Trung Quốc tất cả các loại hỏa khí cùng nhiều nhân tài, thợ giỏi, gái đẹp người Việt.

    "Các ghi chú trong cuốn tiểu thuyết lịch sử này nhiều và nghiêm túc, tới mức độc giả ngạc nhiên như đang đọc một khảo cứu khoa học. Tác giả chú giải từ nhiều ngôn ngữ Hán, Nôm, Phạn, Anh, Pháp. Nội dung chú giải gồm đủ thứ, từ niên đại sự kiện, công thức hóa học của sắt thép, quặng, cho tới các nghi thức tôn giáo của đạo Bà La Môn. Tác giả còn sưu tầm được một số chữ Việt cổ hiện còn ở Nghệ Tĩnh, như rào (sông), nác (nước), mấn (váy), cân gấy (con gái)...

    Các ghi chú về lịch sử, địa lý, nhân vật, thư tịch cổ rất đáng chú ý. Nhiều sách sử của Việt Nam và Trung Hoa được trích dẫn, như Minh Thực Lục, Lam Sơn Thực Lục, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,.. thậm chí cả Nghệ An Ký ít người biết, như để cho thấy nội dung cốt lõi của sự việc nêu trong sách đều có căn cứ, vì đây là một tiểu thuyết khảo luận-học thuật!"



    Năm 1418, Lê Lợi ở Lam Sơn (Thanh Hóa) dấy binh nổi dậy, tập hợp được nhiều nhân tài văn võ như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn... Mới đầu, Lê Lợi thua nhiều thắng ít, sáu năm sau, nhờ Nguyễn Chích bày mưu tiến về Hoan Châu, xây dựng căn cứ địa trên vùng núi. Xứ này địa linh nhân kiệt lại có địa thế hiểm yếu. Một số cựu tướng sĩ nhà Trần ở đây đã tổ chức đội quân Cốc Sơn chống giặc Minh. Nhờ có tài chế thuốc nổ và luyện sắt tốt đúc súng, đội quân này rất mạnh. Lê Lợi xin kết nghĩa huynh đệ với họ. Được các anh tài Hoan Châu hợp sức, lực lượng Lê Lợi ngày càng mạnh. Cuối cùng quân ta vây địch ở Đông Quan (Hà Nội), giết Liễu Thăng chỉ huy quân Minh sang tiếp viện ở Chi Lăng. Chủ tướng Vương Thông phải giảng hòa xin rút quân về nước.

    Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua. Đáng tiếc là, như mọi chính quyền chuyên chế xưa nay, sau đại thắng, khi chuyển sang thời bình, triều nhà Lê suy thoái dần. Lê Sát lộng quyền, hãm hại nhiều công thần tài giỏi, kể từ Nguyễn Trãi. Tên tuổi các anh tài Hoan Châu cùng di sản sáng tạo của họ bị lãng quên dần.

    Trần Gia Ninh chuyển tải giai đoạn lịch sử bi hùng kể trên dưới hình thức tiểu thuyết võ hiệp chương hồi, một thể loại không dễ viết nhưng hợp với việc ca ngợi những nhân vật những anh tài trí tuệ có số phận bi hùng trong thăng trầm của lịch sử. Xem ra tác giả đã thành công khi dẫn bạn đọc vào những trường đoạn hấp dẫn với lối hành văn khoa trương, ngôn từ cổ xưa, đồng thời sử dụng các bút pháp hiện thực, trữ tình lãng mạn, các yếu tố đời thường pha trộn với truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích. Cấu trúc tiểu thuyết khá linh hoạt về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện. Như đang kể chuyện Hồ Nguyên Trừng năm 1445 được vua nhà Minh thăng chức lại nhảy sang chuyện sinh viên Việt Nam tại Đại học Bắc Kinh năm 2007 đi tìm mộ Trừng nhưng chỉ tìm thấy tấm bia do Trừng soạn.

    Cuối cùng, khi đọc tới đoạn Vĩ Thanh, độc giả mới hết băn khoăn: thì ra 雨門 (Kim-Thiếp Vũ Môn), chính là Thép Vũ Môn, thứ kim loại do những người thợ Việt tài giỏi ở vùng thác Vũ Môn luyện được và thích hợp dùng để đúc Thần Cơ Thương- một loại súng nòng dài cầm tay từng giúp Trần Khát Chân đánh tan cuộc xâm lăng của Chế Bồng Nga năm 1390, rồi lại giúp cuộc kháng chiến do Lê Lợi lãnh đạo (1418-1427) đuổi được giặc Minh ra khỏi nước ta.

    Ai đó sẽ hỏi: Trung Quốc phát minh ra thuốc súng và làm được súng trước ta cơ mà? Đúng thế, nhưng họ làm súng thần công chứ không làm súng vác vai như tổ tiên ta sau khi học được cách chế thuốc súng. Vả lại phải có thứ thép như thế nào mới làm ra được loại súng ấy chứ!

    Tra Từ điển chữ Nôm bạn sẽ thấy (Kim-Thiếp) tiếng Việt đọc là thép. Người thợ tài hoa Trần Hằng lấy chữ Kim-Thiếp ấy làm gia huy khắc trên các sản phẩm của mình.

    Tóm lại, những người thợ xứ Hoan Châu (Nghệ-Tĩnh) đã sáng tạo ra hai công nghệ hàng đầu thế giới hồi thế kỷ XIV-XV: công nghệ luyện thép Vũ Môn và công nghệ dùng thép này để đúc súng nòng dài. Đáng tiếc là chuyện ấy sách sử nước ta không chép.

    Nhưng lạ thay sử sách Trung Hoa và nước ngoài lại có chép! Như Minh Sử [2] viết: Minh Thành Tổ đánh Giao Chỉ lấy được phép Thần Cơ Thương Pháo, lập riêng Thần Cơ Doanh luyện tập. (Doanh là một cấp đơn vị quân đội, ngày nay gọi là tiểu đoàn).

    Đúng thế, năm 1407, Hồ Quý Ly và con là Hồ Nguyên Trừng (còn gọi là Lê Trừng) bị quân Minh xâm lược bắt sống đưa về Bắc Kinh; để cứu mạng cha mình, Trừng đã dâng phép chế súng cho nhà Minh. Người Trung Hoa giữ tuyệt mật kỹ thuật này và năm 1410 đã dùng nó để đánh cho quân Mông Cổ tan tác. Trừng được vua Minh hậu đãi, sau làm tới chức Thượng thư Bộ Công (tương đương hàm Bộ trưởng, lo về Quân giới ngày nay), quân đội nhà Minh khi tế súng đều phải tế Trừng [3]! Nhà kỹ nghệ quân giới tài hoa biệt danh Nam Ông (Ông già nước Nam) ấy đã viết một tập ký sự lấy tên là Nam Ông Mộng Lục (Ghi chép giấc mơ của Nam Ông) để bày tỏ nỗi lòng luôn nhớ về cố quốc. Năm 2011 người Trung Quốc đã xuất bản sách này.

    Huyền thoại thế mà có thật!

    Mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh) với trữ lượng 550 triệu tấn hiện đã bắt đầu được khai thác. Hơn trăm năm trước, Cao Thắng đã lập xưởng chế súng trường giống như của Pháp cho nghĩa quân Phan Đình Phùng cũng tại cứ địa Hương Khê. Trần Gia Ninh [4] là hậu duệ của họ Trần Gia Phố có chính tổ là Trần triều Phò mã Khâm sai Ngự sử Trần Hằng, người đầu tiên luyện được Thép Vũ Môn. Gia tộc này có truyền thống trọng trí tuệ, khinh danh vọng; hậu duệ của họ hiện nay đa phần là nhà trí thức hoạt động khoa học kỹ thuật, văn học, y học ở khắp đất Việt và các nước khác.

    Như vậy là sau nhiều năm đi tìm lời giải cho mấy chữ 雨門 (Kim-Thiếp Vũ Môn), Trần Gia Ninh đã dầy công viết nên cuốn tiểu thuyết Huyền thoại KTVM để bổ sung thêm những sự kiện sách sử Việt chưa từng chép dưới hình thức văn học. Những cố gắng đầy tâm huyết ấy của Trần Gia Ninh xứng đáng để chúng ta tìm hiểu và ngưỡng mộ.


    "Sử Việt gọi là Hỏa súng, Trung Hoa đời nhà Minh gọi là Thần Cơ Thương (súng thần), là một loại súng cầm tay nòng dài (như súng hỏa mai ngày nay), do người Việt sáng chế. Vật liệu cần nhất để chế súng là sắt mềm (nhuyễn thiết), tức là sắt ít carbon. Kỹ thuật luyện kim của người Việt theo truyền thuyết đã có truyền thống từ thời Thánh Gióng Hùng Vương và phát triển mạnh nhờ giao du với Ấn Độ và Trung Hoa. Người Việt luyện được sắt này nhờ tìm ra bí quyết sử dụng than có nhiệt lượng của gỗ quý rừng Trường Sơn để nâng nhiệt độ lò lên cao, cùng quặng sắt và phụ gia tốt, đặc biệt là có chứa các nguyên tố vi lượng (như Mo) của Hoan Châu. Cùng thời điểm đó, người Trung Hoa chỉ luyện được sắt cứng (như gang, là sắt chứa nhiều carbon và tạp chất), nên không thể dùng để chế tạo súng cầm tay nòng dài được. Sử sách Trung Hoa thừa nhận, nhà Minh đã chiếm đoạt bí quyết chế tạo súng thần khi đánh chiếm nước Việt đầu thế kỷ 15 (rồi để nó bị rò rỉ sang phương Tây qua các cuộc chiến với người Tatar, cho nên vào nửa cuối thế kỷ 15, người Ottoman rồi người Bồ Đào Nha mới học được cách chế tạo súng hỏa mai (matchlock musket).

    Về Hỏa súng, Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi một câu: “Trần Khát Chân liền ra lệnh các Hỏa súng nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Chế Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Bồng Nga chết”. Sử sách cũ Trung Hoa thì ghi chép tỉ mỉ hơn và ngày nay được các tài liệu nghiên cứu của Trung Hoa và thế giới thừa nhận. Những sáng tạo này đến giờ vẫn được lưu truyền trong dân gian ở các vùng Nghệ -Tĩnh."



    Theo Nguyên Hải
    (Nguồn Tạp chí Tia sáng, 09.2015)​

    ______

    [1]. Một kẻ tự nhận con cháu vua Trần nước ta, chạy sang cầu cứu nhà Minh đưa hắn về làm vua nước Việt.

    [2]. "Minh Sử" là một sách lịch sử theo thể kỷ truyện do Trương Đình Ngọc thời Thanh viết và biên soạn từ năm 1645 đến năm 1739.

    [3]. “Minh sử cảo” của Chu Quốc Trinh (1557-1632) chép trong cung đình tế “Kim cổ hiệu giác thiết pháo chỉ thần” (tạm dịch: “Xưa nay tế thần súng bằng sắt”, mà theo “Vạn Lịch dã hoạch biên” của Thẩm Đức Phù (1578-1642) thì Lê Trừng chính là người đầu tiên chế tạo hỏa khí cho Trung Quốc; sách “Dã ký” chép thêm “Nay phàm tế binh khí đều tế Lê Trừng”.

    ______

    * 432 trang, NXB Văn học ấn hành năm 2015.

    ** Hai góc nhìn... :)

    Tác giả khi còn là nhà khoa học, đang chỉ đạo học trò thực hành chế tạo thiết bị trong phòng thí nghiệm
    upload_2015-9-19_11-42-55.png
    Và khi là tác giả Thâm giang Trần Gia Ninh viết Huyền thoại KIM THIẾP VŨ MÔN
    upload_2015-9-19_11-43-55.png

    *** Trần Gia Ninh là bút danh của một tiến sĩ khoa học đã và đang hoạt động năng nổ trong ngành vật lý nước ta.
    :rose: 3D_14 :rose:
    3D_16

    "Huyền thoại thế mà có thật! Tổ Tiên ta giỏi quá!"
     
    Chỉnh sửa cuối: 26/9/15
    tamchec, pandora3, motsachgia and 3 others like this.
  2. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    Nhà khoa học bỗng dưng viết… tiểu thuyết dã sử


    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Ông vốn là bạn quen lâu năm của tôi. Ngày ông còn là viện trưởng một viện thuộc Viện Khoa học Việt Nam, ông đã nổi tiếng là người luôn đi tiên phong trong chế tạo các thiết bị điện tử tinh vi đạt chuẩn quốc tế, như lần đầu tiên ở nước ta viện của ông đã làm được kính hiển vi điện tử “hiệu ứng đường hầm”có thể nhìn thấy vật thể ở kích thước phân tử…Ông về hưu gần chục năm nay, vẫn chưa ai thay được cái chức “Chủ tịch hội đồng khoa học viện…” Một nhà khoa học tài năng thực sự. Ấy vậy mà mới rồi ông đưa tôi tập bản thảo dầy dặn, bảo: “Anh xem và cho ý kiến”. Tôi ngạc nhiên vì đấy lại là một cuốn tiểu thuyết dã sử, chẳng liên quan gì đến chuyên môn của ông. Tác giả lấy bút danh “Thâm giang Trần Gia Ninh” (Ông yêu cầu tôi không nêu tên thật) và tựa tiểu thuyết là “Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn”. Cuốn tiểu thuyết sinh động, hấp dẫn, mô tả thời kỳ lịch sử ở nước ta cách nay hơn 600 năm. Vào cuối quý 1-2015, Nhà xuất bản Văn học đã ấn hành cuốn tiểu thuyết này và chỉ sau khi ra mắt bạn đọc được ít bữa, Nhà xuất bản Văn học lại cùng Nhà xuất bản Trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh thính nhạy với thị trường văn hóa đọc, đã đề nghị tác giả cho được phối hợp tái bản cuốn sách…

    Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn được viết theo kiểu chương, hồi như Tam Quốc diễn nghĩa hay Thủy Hử vốn quen thuộc với bạn đọc nhiều thế hệ ở nước ta. Nhưng tác giả đã “lưu ý” tôi trước: Tam Quốc diễn nghĩa vốn được coi là “bảy thật, ba giả”, còn cuốn này ông viết dựa trên chính sử nước ta, cộng thêm sử liệu nhà Minh, có cả bản tiếng Anh do sử gia phương Tây viết và cả thần phả, gia phả các dòng họ ở địa phương. Vậy nên “giả” rất ít, “thật” khá nhiều. Chẳng thế mà, dịch giả tiếng Trung có uy tín, là nhà văn Trần Đình Hiến (Người dịch hầu hết các tác phẩm của Mạc Ngôn đoạt giải Nobel) vừa đọc xong tác phẩm của Thâm giang Trần Gia Ninh, đã gọi điện ngay cho tôi, câu đầu tiên ông đánh giá: “Nguồn tư liệu từ sử sách và điền dã cực tốt!”

    Cuốn sách hơn 400 trang khổ lớn, với 14 chương và 35 hồi kể chuyện những anh tài tinh hoa Việt ở một giai đoạn lịch sử gần 30 năm của thế kỷ 15, mà thời đó nước ta gọi là Giao Chỉ. Nhà Trần đến giai đoạn suy vi, giặc Minh xâm lược và nổ ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau 10 năm nằm gai nếm mật Lê Lợi đã lên ngôi hoàng đế, lập nên triều đại mới. Mạch truyện được bắt đầu từ việc Minh Thành Tổ cất quân thôn tính Giao Chỉ, đánh bại nhà Hồ, Hồ Nguyên Trừng con trai cả của Hồ Quý Ly dâng bí quyết chế tạo súng thần cơ và được trọng dụng. Từ đây hé lộ một dụng ý xuyên suốt của tác phẩm, là viết về những nhân tài khoa học công nghệ của nền văn minh Việt đã rực rỡ thời đó. Ngay từ thế kỷ 15, người Giao Chỉ đã đi đầu trong việc luyện kim, rèn kiếm sắc, đúc súng thần cơ, pha chế thuốc nổ… Và nhờ công nghệ vũ khí cướp được ở Giao Chỉ, năm 1410 Minh Thành Tổ đã đánh bại đội quân hùng mạnh của người Tacta từng tung hoành khắp miền Trung Á rộng lớn. Nhưng, kẻ xâm lược phương Bắc mưu kế hiểm độc, ngày đó còn có chủ ý bắt người tài Giao Chỉ đem về phục vụ cho mục đích chiến tranh của chúng, đồng thời hủy diệt nền văn hóa bản địa để dễ bề cai trị bằng chính sách ngu dân. Lâu nay sử sách của ta cũng từng nhắc đến người con cả của Hồ Quý Ly, ở phần mở đầu cuốn Huyền thoại… cũng nêu nỗi lòng, thân phận nhà kỹ thuật cận đại này khi bị cầm tù ở phương Bắc. Song không dừng lại ở việc miêu tả một nhân vật có tài nhưng hèn nhát, yếm thế như vậy, tác giả lần đầu tiên đưa ra một hệ thống nhân vật là những nhà kỹ thuật tài giỏi khác cùng thời, có người là bạn đồng môn với Hồ Nguyên Trừng, họ có lòng yêu nước, quyết đem trí tuệ cống hiến cho đất nước, đánh đuổi kẻ xâm lăng bờ cõi. Về luyện thép, rèn kiếm có: Trần Hằng, La My, Ba Lậu Kê (đạo sĩ Bà La Môn, gốc Ấn Độ), Trần Hà Ất…; về điều chế thuốc súng, tạo khí cụ nổ có Trần Quốc Trung, Nguyễn Thời Kính, Nguyễn Tuấn Thiện… Họ đã đồng tâm hiệp lực với những những tướng tài, mưu sĩ giỏi trong các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược, là những nhân vật lừng danh trong sử sách như: Nguyễn Chích, Lê Văn Linh, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Lê Lai, Bùi Bị, Đinh Liệt, Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Súy… Nhân vật Lê Lợi được ngòi bút của tác giả miêu tả khá chân thực, một minh chủ, có cơ mưu lại biết trọng dụng người tài, cuối cùng lập được kỳ công để lên ngôi hoàng đế (Nhưng tiếc thay, lúc thời bình vị vua xuất thân từ kỳ hào đó lại không còn chí công vô tư như thời nằm gai nếm mật, mà nghe lời xiểm nịnh hãm hại những công thần bậc nhất như Nguyễn Chích, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Trãi). Cũng khá ngạc nhiên khi trong cuốn sách vai trò phò tá mưu lược hàng đầu lại thuộc về những người ít được thời nay nhắc tới là Lê Văn Linh, Nguyễn Chích chứ không phải chỉ là Ức Trai Nguyễn Trãi. Ta còn gặp trên từng trang viết các nhân vật lịch sử phản diện đa dạng về tính cách, hành vi ứng xử như: Sái Phúc, Hoàng Trung, Mã Ký, Vương Thông, Liễu Thăng… Chúng vừa tham lam, tàn bạo lại sẵn mưu ma chước quỷ đã gây nhiều nợ máu với lê dân trăm họ ở dải đất miền Trung nước ta ngày đó, thuộc các châu Hoan, Ái, Hóa… Một nhân vật lịch sử như Phan Liêu, khi đánh giá về cuộc đời, số phận, công tội của hắn, các sử gia còn tranh cãi đến tận hôm nay. Phan Liêu tuổi trẻ, tài cao vốn là con nuôi một đại thần thời Hậu Trần lúc đó đang trấn thủ Nghệ An. Tướng Minh Trương Phụ đánh Nghệ An, Phan Liêu ép cha nuôi đang lúc ốm yếu đầu hàng, phò tá giặc giết Nguyễn Biểu, bắt vua Trần Trùng Quang và Đặng Dung. Y còn bày mưu cho Sái Phúc vây bắt thợ giỏi và con gái đẹp đưa về thiên triều, rồi phá tan cả làng nghề rèn Kẻ Chàng, Kẻ Treo. Sau thấy mình công to mà không được trọng dụng, y phản lại nhà Minh, dựng cờ khởi nghĩa nhưng không thành, phải trốn chạy vào rừng. Trước đấy, trong một trận giúp quân Minh vây đánh làng Kẻ Treo, bất ngờ y gặp và cứu được cô gái Xuân Liên, tài sắc vẹn toàn và y đem lòng yêu. Chính nhờ được Xuân Liên khuyên nhủ, y đã quay lại chống giặc Minh. Khi đã gia nhập nghĩa quân Lê Lợi, thành thân với Xuân Liên, chiếm được thành Đỗ Gia, ngẫu nhiên y mới biết chính mình là kẻ đã giết cha Xuân Liên trong cuộc đàn áp nghĩa quân trước đây, thì trong lòng rất ân hận. Ruốt cuộc, y đã tìm đến cái chết trong một trận đánh để chuộc lỗi lầm. Rõ ràng đây là nhân vật phức tạp, được khắc họa sâu, đậm nét. Có thể kể thêm một nhân vật phản diện khác được cuốn sách miêu tả khá thành công, là Sái Phúc. Đó là một kẻ xâm lược có đầu óc thực dụng, không từ một thủ đoạn tàn bạo nào để làm đẹp lòng hoàng đế Trung Hoa. Ở hệ thống nhân vật chính diện, ngoài Lê Lợi như trên đã nói, các danh thần triều Lê như Nguyễn Chích, Lê Văn Linh, Bùi Bị, Nguyễn Súy…được miêu tả võ công cũng như tính cách khá đậm nét, chỉ tiếc rằng không nhân vật nào đạt tới một chân dung hoàn chỉnh.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Tác giả khi còn là nhà khoa học, đang chỉ đạo học trò thực hành chế tạo thiết bị trong phòng thí nghiệm.

    Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn
    được viết theo lối kể chuyện, tiết tấu nhanh, không nặng về miêu tả diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật. Nhưng không vì vậy mà cuốn sách kém hấp dẫn bởi thiếu những “điểm nhấn” cần thiết. Ta gặp ở đây vô số những tình tiết đặc sắc, mới lạ về truyền thống thượng võ của người Giao Chỉ, về mối quan hệ thuần phác, sòng phẳng giữa người với người thời đó, về phong tục tập quán, cảnh quan môi trường… Như ở chương 9 “Bạch Ngọc sơn trang. Tuấn Thiện nhập làng…” miêu tả quá trình tìm hiểu, điều chế thuốc súng của một nhóm các tướng trận mạc, kiêm “nhà công nghệ” là những trang viết thật sinh động, độc đáo, tác giả vốn là nhà khoa học nên miêu tả quá trình điều tra, tìm hiểu các thành phần của thuốc súng cho hỏa hổ, hỏa tiễn, pháo nổ là rất cụ thể, chính xác. Đoạn văn ở trang 246, về trận thư hùng diễn ra trên thuyền trong một đêm trời đầy sao giữa biển của viên tướng trẻ nhà Minh Hàn Uy với đại tướng quân “Nụy khấu” Nguyễn Súy thật hấp dẫn, tưởng như ta được đọc trong những sách kiếm hiệp nổi tiếng thời xưa. Một “đặc sản” nữa của cuốn tiểu thuyết là những miêu tả về tình yêu lứa đôi. Đó là mối tình Hà Ất-Mai Ly trong sáng tuyệt vời bên thác Vũ Môn; mối tình dang dở song thơ mộng của quận chúa Huy Chân và dũng tướng Nguyễn Tuấn Thiện; mối tình oan trái, bi kịch của Xuân Liên-Phan Liêu; mối tình đượm màu huyền bí, siêu thoát của Hàn Uy- Hà Hoa lập nên dòng họ Samurai ở nước Lưu Cầu (sau thuộc Nhật Bản)… Tác giả không chủ ý làm văn chương, song đôi khi ta gặp những đoạn miêu tả khá văn chương. Như nói về cái chết của “nhà kỹ thuật” ẩn danh Trần Hằng trong rừng sâu đượm vẻ bi hùng: “Lúc đó trời đất tối sầm, giông tố ầm ầm. Một tiếng sét vang động núi rừng. Sét đánh vào ngọn cây trầm cổ thụ cao nhất, lửa cháy rực. Kỳ lạ, lửa chỉ cháy một khoảng rừng nhỏ, làm đổ mấy cây trầm xuống cháy khô, chất thành một đống như có người sắp xếp, rồi tắt hẳn bên cạnh một tảng đá lớn. Hà Ất đặt xác cha lên đống gỗ trầm đó, phủ lá trầm lên rồi châm lửa. Ngọn lửa bùng lên, thấy mùi hương trầm lan tỏa khắp nơi, phút chốc chỉ còn lại đám tro tàn của hài cốt. Thu dọn tro cốt cho vào hộp đâu đấy, Hà Ất lấy kiếm đẽo gọt tảng đá…” (trang 133). Hay khi tả thác Vũ Môn: “… những hôm trời quang mây tạnh, đứng ở chân núi nhìn lên trông như gắn vào trời xanh một giọt nước khổng lồ, tách hẳn lòng suối, từ trên cao đổ vào khoảng không làm thành cái chài hình cung chụp xuống dài khoảng trăm thước để chắp nối với lòng suối ở bậc dưới” (trang 154)… Cũng cần phải nêu thêm một dụng công của tác giả về sử dụng ngôn ngữ, sao cho phù hợp với ngôn ngữ của người sống cách nay 6 thế kỷ. Gặp rất nhiều thổ ngữ trong câu thoại của các nhân vật, như: con khái tức con hổ, ló-lúa, mấn-váy, cân gấy-con gái, trụt-dốc… Hoặc những mô tả khá tỉ mỉ về trang phục thời ấy: “Khố bằng vải gai, bẹ cau hoặc da hươu thắt qua háng từ trước ra sau…”; “Đàn bà con gái ở nhà thì ngực trần, đi xa đeo yếm vuông bằng vải gai hoặc da hươu che đến rốn. Phía dưới cũng không khoác gì, cách rốn một quãng thì đeo một cái túi nhỏ hình chữ nhật, có tua, to bằng bàn tay, vừa để che mình dưới một cách lỏng lẻo, vừa để các thứ lặt vặt”…

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Và khi là tác giả Thâm giang Trần Gia Ninh viết
    Huyền thoại KIM THIẾP VŨ MÔN.

    Trong các giấy tờ ông nội tác giả vốn là một nhà nho mù nổi tiếng vùng Hương Khê (Hà Tĩnh) để lại, có hai câu Hán Nôm “Kim thiếp”, nhiều năm sau con cháu không hiểu được nghĩa. Trong quá trình tích lũy tư liệu để viết cuốn tiểu thuyết chương hồi này, cuối cùng thì tác giả đã hiểu được, đó chính là thương hiệu của một loại thép “chém sắt như bùn” mà tổ tiên từng luyện được ở chân núi Vũ Môn. Và “Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn”, chính là câu chuyện sáng tạo kỳ diệu về “Thép Vũ Môn” của con dân nước Việt hơn sáu trăm năm trước.

    Quê hương tác giả có thác Vũ Môn vắt trên lưng chừng núi Giăng Màn, giờ đứng ở thị trấn Hương Khê vẫn nhìn thấy. Hiện còn, cây thị nghìn tuổi đã chứng kiến Hội thề giữa chủ tướng Lam Sơn Lê Lợi với chủ tướng Cốc Sơn Nguyễn Tuấn Thiện; đền thờ Bạch Ngọc Hoàng hậu và Quận chúa Huy Chân; xóm Lò nơi luyện sắt đúc súng vẫn còn tên và dấu tích xưa ở Gia Phố… Đặc biệt, ngôi nhà thờ dòng họ Trần của tác giả vẫn còn lại trên nền đất cũ nhìn ra sông Ngàn Sâu, nơi mà 600 năm trước Trần Hà Ất-Mai Ly đã chọn dựng nhà, khởi đầu cho dòng họ Trần Gia Phố. Bao nhiêu năm nay tác giả âm thầm tích lũy tư liệu và nghiền ngẫm, “Cuối cùng thì tôi đã tráp lại thành quyển sách mỏng này như là tấm lòng của kẻ hậu sinh ghi nhớ về tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Và cũng mong góp chuyện gẫu cho kẻ sĩ lúc nhà du” (Mấy lời cẩn bạch & Dẫn nhập).

    Tuy tác giả nói vậy, nhưng tôi không cho rằng quyển sách này chỉ có “kẻ sĩ” mới đồng cảm, mà chắc hẳn nhiều bạn đọc đều có thể trải nghiệm và chia sẻ tấm lòng yêu quê hương, đất nước. Khi nhà khoa học của chúng ta cho ra mắt tác phẩm đầu tay là một cuốn tiểu thuyết dã sử đề cao tài-trí Việt với một nội dung thật độc đáo, sinh động, hấp dẫn như vậy, phải chăng đây chính là một “hiện tượng” bất ngờ, thú vị cho văn học hôm nay?


    Phạm Quang Đẩu
    (Nguồn Bán Nguyệt San "TINH HOA VIỆT" số 6, ra 25/6/2015)​
     
    Chỉnh sửa cuối: 26/9/15
    teacher.anh thích bài này.
  3. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    Đọc sách “Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn”:
    Tổ tiên ta giỏi quá!


    Thị trường sách gần đây xuất hiện khá nhiều tác phẩm văn thơ của các tác giả không phải là nhà văn chuyên nghiệp và đã ở tuổi xưa nay hiếm. Một số tác phẩm của họ rất đáng đọc, như cuốn Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn (viết tắt Huyền thoại KTVM) của Thâm Giang Trần Gia Ninh do NXB Văn học xuất bản năm 2015.

    [​IMG]

    Sách dầy 432 trang khổ 14,5x20,5 cm. Tên sách ngoài dòng chữ Việt còn in hai hàng dọc chữ vuông. Chữ thứ nhất với bộ Kim (vàng) bên trái, cùng chữ Thiếp (vợ lẽ) bên phải đã lập tức khiến người đọc chú ý, bởi lẽ chữ này không thấy có trong bất cứ từ điển Hán tự nào, chỉ biết tạm đọc nó là Kim Thiếp. Vậy Kim Thiếp là gì? Điều băn khoăn thú vị ấy bám riết theo độc giả cho tới khi đọc gần hết cuốn sách.

    Ở trang đầu, tác giả viết: Chúng tôi xin nói ngay rằng sách này nhắc cho hậu thế về những thân phận con người, về số phận bi hùng của những anh tài trí tuệ đất Việt xưa trong thăng trầm của lịch sử. Như vậy có thể thấy đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử.

    Ai đó từng nói viết tiểu thuyết lịch sử khó như đi trên dây, không thể nghiêng về sử cũng như văn. Trần Gia Ninh quả là rất tự tin khi dám thử sức ở thể loại văn chương này.

    Lịch sử là tài sản chung của mọi người, nói lịch sử là nói sự thật. Nhưng tiểu thuyết lại đòi hỏi phải hư cấu. Vậy hư cấu thế nào thì vừa? Có lẽ nên hư cấu sao cho độc giả đã bắt đầu đọc là muốn đọc tới cùng; khi ấy họ không còn câu nệ lắm với sự thật lịch sử. Có người cho rằng «ba phần sự thực, bảy phần hư cấu» là vừa phải. Alexandre Dumas tác giả «Ba chàng ngự lâm» nói “sự thật lịch sử” chỉ là cái đinh để nhà văn móc chiếc áo (ý nói câu chuyện) của mình lên.

    Đọc Huyền thoại KTVM ta thấy tác giả đã tôn trọng các sự thật có chép trong chính sử, và bổ sung những sự kiện sử Việt chưa từng chép. Đây là một điểm sáng làm nên giá trị về nội dung của Huyền thoại KTVM. Cũng có thể sử sách từng chép các sự kiện ấy, nhưng bọn xâm lược phương Bắc đã tiêu hủy mọi thư tịch của người Việt viết. Vì thế vườn lịch sử nước ta còn vô số báu vật bị vùi sâu dưới lớp đất thời gian, đang chờ những người có tâm huyết với quê hương, tổ quốc dày công dò tìm, đào bới lấy lên để mọi người cùng chiêm ngưỡng. Trần Gia Ninh là một trong những «thợ đào vàng» hiếm hoi ấy.

    Từ tấm bìa có 4 chữ (Kim-Thiếp Vũ Môn) di bút của ông nội còn giữ được, anh phỏng đoán đây là bìa một cuốn sách viết những sự việc có liên quan tới thác Vũ Môn ở quê mình. Vì thế mấy chục năm qua anh cất công tìm kiếm khắp nơi các thư tịch của ông nội cũng như của cả vùng văn hiến Hoan Châu (Nghệ An—Hà Tĩnh). Do có may mắn đi hầu khắp các nước, anh đã sưu tầm được nhiều tư liệu liên quan, cuối cùng giải mã được mấy chữ vuông thần bí ấy. Và bây giờ khi được cử giữ ghế trưởng lão của họ Trần Gia Phố nổi tiếng Hoan Châu, anh tráp lại các tư liệu đã sưu tầm và viết nên Huyền thoại KTVM như một bộ sử về tổ tiên mình.

    Huyền thoại KTVM dường như muốn chứng minh một sự thật: Tổ tiên ta giỏi lắm! Đây không phải là lời «mẹ hát con khen». Năm 971 khi sang thăm nước ta, sứ thần nhà Tống là Lý Giác viết tặng vua Lê Đại Hành bài thơ Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu, nghĩa là Ngoài trời này còn có trời khác, nên soi cho thấu — tác giả kể, và cho rằng Lý Giác muốn nhắc nhở đồng bào ông biết rằng thế giới này đâu chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có một mặt trời Việt Nam, người Trung Hoa chớ nên coi thường người Việt, một dân tộc rất có bản lĩnh trí tuệ.

    Quả thật nước ta nhỏ yếu mà lại chống được giặc xâm lược quân đông gấp bội là nhờ tổ tiên ta đã phát huy được trí tuệ tuyệt vời. Kim-Thiếp Vũ Môn là một trong những kết quả sáng tạo công nghệ đã được ông cha ta dùng để đánh thắng quân xâm lược.

    Tác giả tỏ ra nghiêm chỉnh khi trình bày các sử liệu mới sưu tầm được. Có thể nhận thấy điều đó từ những ghi chú cuối trang : số lượng nhiều, chất lượng nghiêm túc, tới mức độc giả ngạc nhiên như đang đọc một khảo cứu khoa học. Như 42 trang của Chương VI có tới 37 ghi chú.

    Tác giả dùng chữ Hán, Nôm, Phạn, Anh, Pháp để chú giải đủ thứ, từ niên đại sự kiện, công thức hóa học của sắt thép, quặng, cho tới các nghi thức tôn giáo của đạo Bà La Môn. Có chỗ cả chục dòng thơ chữ Hán kèm bản dịch chiếm hết một ghi chú. Tác giả còn sưu tầm được một số chữ Việt cổ hiện còn ở Nghệ Tĩnh, như rào (sông), nác (nước), mấn (váy), cân gấy (con gái) ...

    Nhiều sách sử của Việt Nam và Trung Hoa được trích dẫn, như Minh Thực Lục, Lam Sơn Thực Lục, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư... thậm chí cả Nghệ An Ký ít người biết. Điều đó cho thấy nội dung cốt lõi của sự việc nêu trong sách đều có căn cứ.

    Tất cả các địa danh cổ đều được chú thích rõ địa điểm cụ thể ngày nay, người đọc khó có thể nghi ngờ. Các đoạn tả cảnh vùng Hương Khê, núi Giăng Màn, sông Ngàn Sâu, thác Vũ Môn... khiến ta có cảm giác tác giả là thổ công vùng này.

    Đọc Huyền thoại KTVM, bạn như được xem cuốn phim nói về một giai đoạn lịch sử bi hùng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược đầu thế kỷ XV.

    Năm 1404, vua Minh Thành Tổ mượn cớ «Phù Trần diệt Hồ» cho quân hộ tống Trần Thiên Bình [1] tiến vào nước Việt. Khi chúng vừa tới Bắc Giang, Hồ Quý Ly bày mưu dùng súng thần cơ tự tạo đánh cho địch phải rút về nước. Năm 1407 giặc Minh kéo đại binh sang chiếm nước ta, bắt được Hồ Quý Ly và con là Hồ Nguyên Trừng tại Hà Tĩnh. Nhà Minh thi hành chính sách cai trị hà khắc và cố tình tiêu diệt nền văn hóa Việt. Chúng đốt mọi thư tịch do người Việt sáng tác, mang về Trung Quốc tất cả các loại hỏa khí cùng nhiều nhân tài, thợ giỏi người Việt.

    Năm 1418, Lê Lợi ở Lam Sơn (Thanh Hóa) dấy binh nổi dậy, tập hợp được nhiều nhân tài văn võ như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn... Mới đầu Lê Lợi thua nhiều thắng ít, sáu năm sau phải lui về vùng núi Hoan Châu xây dựng căn cứ địa. Xứ này địa linh nhân kiệt lại có địa thế hiểm yếu. Một số cựu tướng sĩ nhà Trần ở đây đã tổ chức đội quân Cốc Sơn chống giặc Minh. Nhờ có tài chế thuốc nổ và luyện sắt tốt đúc súng, quân Cốc Sơn rất mạnh. Lê Lợi xin kết nghĩa với họ. Được các anh tài Hoan Châu hợp sức, lực lượng Lê Lợi mạnh dần. Cuối cùng quân ta vây địch ở Đông Quan (Hà Nội), phục kích ở Chi Lăng, giết Liễu Thăng, kẻ dẫn quân Minh sang tiếp viện. Rốt cuộc chủ tướng Vương Thông phải giảng hòa xin rút quân về nước.

    Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua. Đáng tiếc là, như mọi chính quyền chuyên chế xưa nay, sau đại thắng, khi chuyển sang thời bình, triều nhà Lê suy thoái dần. Lê Sát lộng quyền, hãm hại nhiều công thần tài giỏi, kể từ Nguyễn Trãi. Tên tuổi các anh tài Hoan Châu cùng di sản sáng tạo của họ bị lãng quên dần.

    Trần Gia Ninh chuyển tải giai đoạn lịch sử bi hùng kể trên dưới hình thức tiểu thuyết võ hiệp chương hồi. Thể loại này khó viết nhưng hợp với việc ca ngợi các nhân vật nghĩa hiệp. Tác giả đã thành công khi dẫn bạn đọc vào những trường đoạn hấp dẫn với lối hành văn khoa trương, ngôn từ cổ xưa, đồng thời sử dụng các bút pháp hiện thực, trữ tình lãng mạn, các yếu tố đời thường pha trộn với truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích. Cấu trúc tiểu thuyết khá linh hoạt về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện. Như đang kể chuyện Hồ Nguyên Trừng năm 1445 được vua nhà Minh thăng chức lại nhảy sang chuyện sinh viên Việt Nam tại Đại học Bắc Kinh năm 2007 đi tìm mộ Trừng nhưng chỉ tìm thấy tấm bia do Trừng soạn.

    Và khi đọc tới đoạn Vĩ Thanh, độc giả mới vỡ lẽ: thì ra Kim-Thiếp Vũ Môn chính là Thép Vũ Môn, thứ sắt pha chất Môlipđen do những người thợ Việt tài giỏi ở vùng thác Vũ Môn luyện được, gọi là sắt mềm, thích hợp dùng để đúc loại súng nòng dài cầm tay có tên Thần Cơ Thương Pháo từng giúp Trần Khát Chân đánh tan cuộc xâm lăng của Chế Bồng Nga năm 1390, rồi lại giúp cuộc kháng chiến của Lê Lợi (1418-1427) đuổi giặc Minh ra khỏi nước ta.

    Ai đó sẽ hỏi: Trung Quốc phát minh ra thuốc súng và làm được súng trước ta cơ mà? Đúng thế, nhưng họ chỉ đúc được gang (sắt cứng) làm súng thần công chứ không đúc được sắt mềm làm súng cầm tay như tổ tiên ta. Vả lại, phải có thứ thuốc súng thích hợp với loại súng ấy chứ!

    Tra Từ điển chữ Nôm bạn sẽ thấy Kim-Thiếp đọc là thép. Người thợ tài hoa Trần Hằng lấy chữ ấy làm gia huy khắc trên các sản phẩm của mình. Người Hán không đọc hiểu chữ này, vì chữ Nôm là chữ viết do người Việt sáng tạo dựa trên cơ sở chữ Hán.

    Như vậy, người Nghệ-Tĩnh đã sáng tạo ra hai công nghệ hàng đầu thế giới hồi thế kỷ XIV-XV: công nghệ luyện thép Vũ Môn và công nghệ dùng thép này để đúc súng nòng dài vác vai.

    Đáng tiếc là chuyện ấy sách sử nước ta không chép. Nhưng sử Trung Hoa và nước ngoài lại có chép! Minh Sử viết: Minh Thành Tổ đánh Giao Chỉ lấy được phép Thần Cơ Thương Pháo, lập riêng Thần Cơ Doanh luyện tập. (Doanh là một cấp đơn vị quân đội, tương đương tiểu đoàn).

    Đúng thế, năm 1407, Hồ Quý Ly và con là Nguyên Trừng bị quân Minh bắt đưa về Bắc Kinh; để cứu mạng cha, Trừng đã dâng phép chế súng cho nhà Minh. Người Trung Hoa giữ tuyệt mật kỹ thuật ấy; năm 1410 họ dùng nó đánh bại quân Mông Cổ. Trừng được vua Minh hậu đãi, sau làm tới Thượng thư Bộ Công (tương đương hàm Bộ trưởng lo về Quân giới ngày nay), quân nhà Minh khi tế súng đều phải tế Trừng! Để bày tỏ nỗi lòng luôn nhớ về cố quốc, nhà kỹ nghệ quân sự tài hoa biệt danh Nam Ông ấy đã viết tập ký sự “Nam Ông Mộng Lục” (Ghi chép giấc mơ của Ông già nước Nam). Năm 2011 người Trung Quốc đã xuất bản sách này.

    Huyền thoại thế mà có thật!

    Mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh) trữ lượng 550 triệu tấn hiện đang bắt đầu được khai thác. Hơn trăm năm trước, Cao Thắng đã lập xưởng chế súng trường kiểu Pháp cho nghĩa quân Phan Đình Phùng cũng tại cứ địa Hương Khê. Trần Gia Ninh [2] là hậu duệ của họ Trần Gia Phố có chính tổ là Trần triều Phò mã Khâm sai Ngự sử Trần Hằng, người đầu tiên luyện Thép Vũ Môn. Gia tộc này có truyền thống trọng trí tuệ, khinh danh vọng; hậu duệ của họ hiện nay đa phần là nhà hoạt động khoa học kỹ thuật, văn học, y học ở khắp đất Việt và các nước khác.

    Như vậy là sau nhiều năm đi tìm lời giải cho mấy chữ (Kim-Thiếp Vũ Môn), Trần Gia Ninh đã phát hiện được hai sáng tạo tuyệt vời của tổ tiên ta bị sử sách lãng quên. Tiếp đó, anh lại dầy công viết nên cuốn tiểu thuyết Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn để công bố phát hiện đó dưới hình thức văn học. Những cố gắng đầy tâm huyết ấy của Trần Gia Ninh thật đáng để chúng ta tìm hiểu và ngưỡng mộ./.


    Theo Nguyễn Hải Hoành
    (Nguồn Tạp chí Văn Hiến Việt Nam)​
     
    Chỉnh sửa cuối: 26/9/15
  4. Homo Sapiens

    Homo Sapiens Lớp 3

    Ôi quên mất, xin lỗi mọi người!
     
    tducchau thích bài này.
Moderators: CreativeIdiot

Chia sẻ trang này