Trà phiếm Một mình ở nghĩa địa

Thảo luận trong 'Bàn Trà' bắt đầu bởi tauvequehuong, 7/5/18.

  1. doreamon

    doreamon Mầm non

    Miền nào em cũng từng ở bác ạ. Từ Chắc Cà Đao đến Mù Cang Chải. Nơi nào cũng là nhà. :D


    Gái quê em đây bác:

    Em là gái Chắc Cà Đao
    Xứ quê xa lắm anh nào có hay
    Thương anh còn một chút này
    Gửi thuyền cho bến, gửi mây cho trời
    Gặp đây là chút tình thôi
    Cõng nhau đi trọn kiếp đời mai sau..
     
    4DHN thích bài này.
  2. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Đã rõ, cảm ơn bạn!

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Trần Hoàng Vũ.
    Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa - Lịch sử An Giang số 100, tháng 07-2013.


    “Chắc Cà Đao, Mặc Cần DưngVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link cùm chưn lớn hơn cùm tay” là một câu nói cửa miệng được nhiều người nhắc tới như một phản xạ không điều kiện khi nghe nhắc đến hai địa danh trên. Đó là một câu nói vui, một dạng chơi chữ vô thưởng vô phạt. Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng còn được gắn liền với hai địa danh Xếp Bà Lý, Hóc Bà Tó với ý chỉ những vùng đất xa xôi, hẻo lánh, thậm chí là không biết ở đâu.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Chắc Cà Đao.

    Tài liệu địa chí triều Nguyễn nhắc rất ít về địa danh Chắc Cà Đao. Người đầu tiên nhắc tới Chắc Cà Đao là Lê Quang Định (1759-1813). Trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (soạn xong năm 1806), Lê Quang Định có nói tới “rạch Chạc Cà Đao ở bên phải [sông Hậu], rạch này rộng 3 tầm, sâu 1 tầm” “cù lao Chạc Cà Đao, trên đó là rừng rậm, không có dân cư”Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Địa danh Chắc Cà Đao cũng được ghi nhận trong địa bạ thôn Bình Hòa Trung (lập năm 1836) và tấm bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của giáo sĩ Taberd (in năm 1838).

    Về nguồn gốc tên gọi Chắc Cà Đao có nhiều giả thiết. Cụ Vương Hồng Sển trong cuốn Tự vị quốc âm miền Nam nói có hai cách lý giải:

    - Ông Nguyễn Văn Đính cho rằng Chắc Cà Đao là do tiếng Khmer chắp kdam nghĩa là bắt cua vì vùng này xưa kia có nhiều cua.

    - Nhà nghiên cứu Sơn Nam nói Chắc Cà Đao là từ tiếng Khmer prek pedao. Prek là rạch, pedao là một loại dây mây (trong Lịch sử khẩn hoang miền Nam thì Sơn Nam nói prek pedao là rạch có cây rừng mọc).

    Cụ Vương Hồng Sển cho rằng ý kiến ông Nguyễn Văn Đính đúng hơn. Có lẽ vì so với Chắc Cà Đao thì chắp kdam gần âm hơn là prek pedao. Tuy nhiên, theo cách nói của ông Nguyễn Văn Đính thì ta biết chắp kdam là một động từ, mà trong việc đặt tên cho các địa danh, người ta ít sử dụng động từ mà thường sử dụng danh từ hơnVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Do đó, cách lý giải của nhà nghiên cứu Sơn Nam lại nghe có vẻ hợp lý hơn.

    Giả thiết của ông Nguyễn Văn Đính nghe thuận tai hơn; giả thiết của nhà nghiên cứu Sơn Nam nghe hợp lý hơn. Muốn xác định cách lý giải nào là đúng chúng ta cần có thêm bằng chứng nữa. May mắn thay, bằng chứng lại nằm sẵn trong một địa danh khác cũng được ghi trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định. Ông cho biết ở gần khu vực Ông Chưởng của huyện Chợ Mới ngày nay cũng có "rạch nhỏ Chạc Cà Na, rạch rộng 3 tầm, sâu 1 tầm, cho đến cùng nguồn hai bên đều có dân cư, phía ngoài là rừng chằm"Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. So sánh với tình hình hiện tại thì đây phải là rạch Chăn Cà Na. Điều này chứng minh cho ta thấy rằng cùng là một chữ Chạc vẫn có thể có nhiều cách biến đổi, chỗ thì biến thành Chắc, chỗ lại trại thành Chăn.

    Cả Chạc Cà Đao lẫn Chạc Cà Na đều có chung tiền tố Chạc Cà với tự dạng chữ Nôm giống nhau. Do đó, từ Chạc hoặc thậm chí là Chạc Cà chỉ có thể có một nghĩa duy nhất trong cả hai địa danh: Chạc Cà Đao và Chạc Cà Na. Chạc không thể là biến âm của chắp (bắt) vì chắp kdam (bắt cua) thì được nhưng không lẽ Chạc Cà Na lại là chắp kana (bắt ... trái cà na?!). Cách lý giải của ông Nguyễn Văn Đính chỉ hợp lý khi nó đứng một mình và sụp đổ ngay khi xuất hiện một trường hợp tương tự.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của Taberd (trích) vẽ năm 1838 có ghi địa danh Chác ca đao.

    Về địa danh Chạc Cà Đao và Chạc Cà Na, chúng ta có hai hướng lý giải:

    Hướng lý giải thứ nhất: Chạc Cà là một từ đa âm trong tiếng Khmer giống như Tầm Phong là ghi âm của Kompong (bến sông) vậy. Tuy nhiên, ta vẫn chưa biết liệu trong ngôn ngữ Khmer có từ nào khả dĩ gần âm với Chạc Cà và có nghĩa chấp nhận được hay không. Trong trường hợp này, cấu trúc địa danh có dạng “Chạc Cà” + “X”.

    Hướng lý giải thứ hai: Chạc là một từ đơn có nghĩa. Trong trường hợp này, cấu trúc địa danh có dạng “Chạc” + “X”. Dựa vào cách giải thích của nhà nghiên cứu Sơn Nam, ta có thể nói Chạc (Chắc) là ký âm của từ Khmer prek. Tuy nhiên, từ prek này đã được người Việt tiếp thu và phát âm thành rạch. Đó hẳn cũng là một lý do nữa để cụ Vương Hồng Sển không tán thành Chắc Cà Đao là prek pedao. Dù vậy, ta vẫn có thể đặt giả thiết rằng người An Giang xưa đã tiếp thu chữ rạch từ các cộng đồng người Việt khác, đồng thời cũng tiếp thu lại chữ prek và ký âm thành Chạc (Chắc). Điều này tương tự chữ Koh đã được người Việt tiếp thu ở nhiều chỗ với cách ký âm khác nhau như Cổ trong Cổ Cốt (Koh Kot), Ka trong Ka Kôi (Koh Kôi), Katambong (Koh Tầm Bông)...

    Với cách lý giải này, ta có thể hiểu ý nghĩa của Chắc Cà Đao ở Châu Thành, Chăn Cà Na ở Chợ Mới và thậm chí hiểu một phần ý nghĩa các địa danh Chắc Ri, Chắc Re ở Vĩnh Nguơn (thị xã Châu Đốc). Theo đó, Chắc Cà Đao là rạch Dây Mây (prek pedao) hoặc rạch Cua (prek kdam); Chăn Cà Na là rạch Cây Cà Na (prek kana).

    Tuy nhiên, giải thích theo kiểu của Sơn Nam thì hình như vẫn còn bỏ qua một yếu tố nữa là tự dạng của chữ Chạc. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí ghi Chạc là “khẩu” + “trác”. Trong đó, “khẩu” là từ biểu thị ý nghĩa, “trác” là từ biểu thị âm đọc. Điều này hàm ý Chạc là chỉ một loại địa hình có liên quan đến “cửa”, “lối vào”. Gia Định thông chí mục Náo Khẩu Ca Âm viết chữ “Náo” với tự dạng “thủy” + “trác” và giải thích “chữ náo hay xước đều được, nghĩa là chỗ bùn lầy nhiều”Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Đại Nam hội điển sự lệ khi nói về Náo Khẩu Ca Âm lại đề cập đến hai đầu náo khẩu với tên gọi cửa trác Ỷ Hâm và cửa trác Trà Bát. Như vậy, Chạc (Chắc) là ám chỉ lối vào khu vực bùn lầy nhiều và ngập nước, còn “Cà Đao” có nhiều khả năng là “pedao” (dây mây/ cây rừng) hơn là “kdam” (con chuột) vì chữ “Cà” có bộ mộc. Gốc của chữ “Chạc” này hẳn cũng chịu ảnh hưởng bởi tiếng Khmer “bangtrap” mà có chỗ dịch là bưng trấp, ám chỉ một vùng đầm lầy ngập nước.

    Mặc Cần Dưng.

    Mặc Cần Dưng cũng được nhắc tới lần đầu tiên trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí:

    "... rạch Mạt Cần Dâng [âm miền Nam đọc là Dưng], rạch ở phía bên trái, rộng 6 tầm, sâu 2 tầm, chảy 3.700 tầm xuống hướng Nam thông ra Ba Lịch (Rách), hai bên bờ có dân cư, phía ngoài là rừng chằm.

    79 tầm, giữa sông bên phải có cồn, tục gọi là cù lao Mạt Cần Dâng”Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Địa danh Mạt Cần Dâng chỉ được nhắc đến trong tài liệu của Lê Quang Định. Gia Định thành thông chí lại gọi sông này là Mạt Cần Đăng. Chữ Nôm “dâng” (dưng) được cấu thành bởi hai chữ Hán “đăng + thượng”. Trong đó, “đăng” là từ biểu thị cách phát âm, “thượng” là từ ghi nghĩa. Có thể trong quá trình sao chép, chữ “thượng” đã bị bỏ sót và chỉ còn lại chữ “đăng”. Trịnh Hoài Đức viết:

    “Sông Mạt Cần Đăng ở bờ tây sông Hậu Giang, rộng 6 tầm, sâu 2 tầm, về tây nam 17 dặm hợp dòng với sông Thụy Hà, người Kinh người Di ở lẫn, rừng rú liền nhau”Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Đại Nam nhất thống chí tiếp tục bỏ chữ Mạt mà chỉ gọi là sông Cần Đăng. Sách này tả:

    “Sông Cần Đăng: ở bờ phía tây sông Hậu Giang cách huyện Tây Xuyên 37 dặm về phía đông nam, rộng 3 trượng, sâu 1 trượng, chảy về phía tây nam 45 dặm rồi hợp với sông Thụy Hà, rừng rú liên tiếp, người Kinh người Thổ ở lẫn lộn với nhau”.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Việc bỏ chữ Mạt trong Mạt Cần Đăng đã manh nha từ Gia Định thành thông chí. Mục Thụy Hà trong sách này đã thấy gọi sông Mạt Cần Đăng là sông Cần Đăng. Tuy nhiên, phải đến Đại Nam nhất thống chí thì quá trình này mới hoàn tất vì ngay cả cù lao Mạt Cần Dâng trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí cũng được đổi gọi là bãi Cần Đăng. Từ Mạt Cần Dâng sang Mạt Cần Đăng rồi thành Cần Đăng là quá trình mỹ hóa một tên gọi Nôm của thư tịch cổ. Quá trình này không chỉ diễn ra theo một hướng. Trong Tiểu giáo trình địa lý Nam Kỳ, Trương Vĩnh Ký cũng có nêu tên một sở khai thác cá là "Hiến Cần đà hay Mật Cần Dưng". Hiến Cần là tên gọi phái sinh từ Cần Dưng. Chữ Nôm "dưng" được thay bằng chữ Hán "hiến" với ý nghĩa "dâng rau cần", gợi lại một điển tích xưa trong Tả truyện, nghe cổ nhã hơn so với chữ Nôm Mặc Cần Dưng.

    Trong ba kiểu biến đổi trên, có những kiểu biến đổi từ sách vở đã ảnh hưởng ngược lại đến nhận thức của người dân bản địa, là nguồn gốc của các tên gọi khác được áp dụng trên thực địa. Đó là trường hợp làng Cần Đăng thuộc tổng Biên Thành, hạt Long Xuyên, được ghi nhận trong bản đồ hạt tham biện Long Xuyên in năm 1905, nay là xã Cần Đăng, huyện Châu Thành. Đó cũng là trường hợp sông Mạt Cần Dưng xưa nay bị chia thành hai đoạn: Mặc Cần Dưng và Mặc Cần Đăng. Sự phân chia này bắt đầu được ghi nhận trong bản đồ hạt Long Xuyên năm 1920, nhưng chưa thấy trong bản đồ năm 1905. Như vậy, sự phân chia Mặc Cần Dưng - Mặc Cần Đăng này phải diễn ra trong khoảng 1905-1920.

    Mặc Cần Dưng nghĩa là gì?

    Có hai thuyết.

    Giáo sư Lê Trọng Khánh nói Mặc Cần Dưng là Koh práh stưn, nhưng không nói Koh práh stưn nghĩa là gì. Ông chỉ nói rằng tiền tố Koh là một từ trong tiếng Malayo có nghĩa là "bãi" (bãi biển, bãi sông, bãi cát...) được người Khmer từ cao nguyên Korat tràn xuống tiếp nhận và dùng với ý nghĩa "đảo, cù lao". Cứ theo cách lý giải này thì Mặc là Koh còn Cần Dưng là práh stưn. Tuy nhiên, dù ý nghĩa của Koh práh stưn là gì đi nữa thì có lý do để ta bác bỏ cách lý giải này.

    Trong bản đồ hạt Long Xuyên năm 1905 có vẽ một nhánh rạch Long Xuyên với chú thích "rach Mac Can Deng". Đối chiếu với tình hình hiện tại thì đây chính là rạch Mặc Cần Dện lớn, nằm trên địa bàn xã Vĩnh Trạch huyện Thoại Sơn. Ngoài ra còn có rạch Mặc Cần Dện nhỏ cũng nằm trong địa bàn xã này. Rạch này ở bờ trái rạch Long Xuyên nên chắc hẳn nó không phải là vết tích một nhánh sông cổ Mạt Cần Dưng đổ vào Ba Rạch mà các tài liệu địa chí có nhắc tới. Do chỗ Mặc Cần Dện là nhánh sông nội địa, không có cù lao nào cả thì rõ ràng không thể có chuyện Mặc là Koh được. Nói Mặc Cần Dưng là Koh práh stưn là chỉ mới chú ý đến tính chất gần âm mà không chú ý tới tình hình thực địa. Muốn lý giải địa danh Mặc Cần Dưng phải đặt nó vào trong bối cảnh địa lý lịch sử Nam Bộ, xem xét đến cả các địa danh có cấu trúc tương tự thì mới có thể tìm ra câu trả lời hợp lý.

    Cách đây hơn 20 năm, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh khi nghiên cứu địa danh Cần Đước (Long An) có nhận thấy rằng các địa danh bắt đầu bằng chữ Cần ở Nam Bộ như Cần Thơ, Cần Lố, Cần Giờ, Cần Đước, Cần Giuộc … đều được lý giải bằng các từ tiếng Khmer gần âm tương ứng. Theo kiểu lý giải đó thì chữ Cần trong tiếng Việt tương ứng với nhiều từ Khmer khác nhau. Tuy nhiên, trong các tài liệu địa chí, chữ Cần đều được viết bằng một chữ Hán duy nhất có tự dạng “thảo (đầu) + cân”. Do đó, rõ ràng chữ Cần trong các địa danh ở Nam Bộ chỉ có thể bắt nguồn từ một từ tiếng Khmer duy nhất. Cao Tự Thanh cũng lưu ý quá trình biến mất chữ Mạt trong địa danh Mạt Cần Đăng trong địa chí xưa. Ông đặt giả thiết rằng tất cả các địa danh bắt đầu bằng chữ Cần ở Nam Bộ thoạt tiên đều có chữ Mạt đứng đầu mà về sau đã bị lược bỏ cho gọn bớt. Hai chữ Mạt Cần này, theo ông, là bắt nguồn từ chữ Mák kék theo giọng Pali và Môkô trong tiếng Khmer có nghĩa là “con đường” (hiểu là đường thủy).

    Tôi không rõ Cao Tự Thanh có đi quá xa trong việc đặt giả thiết tất cả các địa danh có chữ Cần đứng đầu ở Nam Bộ nguyên xưa đều là Mạt Cần hay không. Có điều, chúng ta chưa ghi nhận được một địa danh Mạt Cần nào khác ngoài hai địa danh đã nêu ở An GiangVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Tại sao chỉ có hai địa danh Mạt Cần ở An Giang là chữ Mạt không bị lược bỏ? Hơn nữa, đã có bằng chứng là một số địa danh bắt đầu bằng chữ Cần ở Nam Bộ vốn trước không phải là Mạt Cần. Chẳng hạn, địa danh Cần Thăng ở An Giang mà Cao Tự Thanh đã lưu ý trong nghiên cứu của mình thì vốn xưa là Giông Cần Thăng, ngoài ra ở An Giang xưa còn có địa danh Giông Cần Trang. Bấy nhiêu đã đủ chứng minh không phải địa danh nào ở Nam Bộ có chữ Cần ở đầu thì xưa kia đều là Mạt Cần mà còn có Giông Cần. Đó là chưa kể Mák kék trong tiếng Khmer vốn là đường bộ lại cố hiểu theo nghĩa đường thủy thì quá gượng ép vì ở Nam Bộ, hệ thống giao thông thủy phát triển sớm hơn nên các thuật ngữ giao thông thủy mới ảnh hưởng đến giao thông đường bộ như “lội” bộ, xe “đò”, “quá giang” chứ chưa có trường hợp nào ngược lại.

    Cũng giống như trường hợp Chạc Cà Đao, ý nghĩa của ba chữ Mạt Cần Dưng cũng có hai cách hiểu tương ứng với hai cấu trúc “Mạt Cần” + “X” hoặc “Mạt” + “X”. Như trên đã nói, tôi không tán thành lắm cách lý giải của Cao Tự Thanh mà chủ trương nghiêng về cách giải thích thứ hai. Có chứng cứ gợi ý cho chúng ta về điều đó.

    Ta biết rạch Mặc Cần Dưng chảy thẳng vào Bảy Núi được chia thành hai đoạn Mặc Cần Dưng và Mặc Cần Đăng. Ở đầu triều Nguyễn, rạch này cũng được chia làm hai đoạn nhưng theo một cách khác. Địa bạ triều Nguyễn (lập năm 1836), thôn Thới Hưng cho biết thôn này ở hai xứ Nam Vi, Chơn Nam mà hai xứ này đều “đông giáp rạch Cần Dưng”. Địa bạ thôn Bình Hòa Trung thì nói thôn này ở hai xứ “Chắc Cà Đao, Mạt Cần Dưng”. Về trường hợp rạch Mặc Cần Dện, địa bạ thôn Vĩnh Chánh nói thôn này “đông giáp rạch Cần Diện và rừng”Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Cùng là một con rạch vì sao lúc có chữ Mạt lúc lại không? Chữ Mạt có ý nghĩa gì?

    Cả ba tài liệu là Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Gia Định thông chí Đại Nam nhất thống chí đều thống nhất ghi chữ “Mạt” nghĩa là “ngọn, chót, điểm cuối”. Mạt Cần Dưng là ngọn rạch Cần Dưng vậy. Có điều chúng ta sẽ cảm thấy khó hiểu là chữ ngọn tuy quả có là một từ chỉ địa hình sông nước thật, nhưng ngọn là tính từ cửa vàm sông đổ vào trong cùng rạch thì điểm đó mới là ngọn. Mạt Cần Dưng ở chỗ cửa vàm thông ra sông Hậu thì sao gọi là ngọn cho được? Khi lập luận như vậy là chúng ta đã không biết rằng thời thế thay đổi thì hàm ý của từ ngữ cũng thay đổi. Ngày nay chúng ta thường sống tập trung ở vàm rạch và đi thám hiểm ngọn rạch nhưng lưu dân thời xưa thì ngược lại. Họ không thể định cư ngay cửa vàm vì cớ phải tránh lũ hàng năm. Lựa chọn lý tưởng nhất của họ là đi sâu vào trong và định cư ở cái chỗ mà chúng ta gọi là ngọn rạch. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí đã chỉ ra rất nhiều điểm dân cư như thế dọc theo các rạch nhánh ven bờ sông Hậu trong khu vực An Giang. Đối với các lưu dân ấy thì điểm cuối cùng (mạt) của con rạch lại là chỗ nó hợp lưu với sông cái. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có cứ liệu để lý giải xem Cần Dưng, Cần Dện nghĩa là gì.

    Nghiên cứu nguồn gốc địa danh Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng cho ta rất nhiều bài học kinh nghiệm, giúp rút ra nhiều nguyên tắc nghiên cứu bổ ích có thể ứng dụng cho việc nghiên cứu địa danh học và địa lý lịch sử. Lý giải một địa danh không chỉ đơn thuần dựa vào sự gần âm mà trước tiên phải vạch ra được tiến trình phát sinh và phát triển của nó trong lịch sử, đặt nó vào trong mối tương quan với các địa danh có cùng cấu trúc, xem xét nó trong bối cảnh địa lý, dân cư và ngôn ngữ cụ thể thì mới mong có thể đưa ra một cách lý giải tiệm cận nhất với sự thật lịch sử.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Sau đây các bạn sẽ thấy hai địa danh Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng ở mỗi tài liệu được phiên âm mỗi khác. Vì vậy, tùy theo bối cảnh thời gian hoặc tùy theo ý đồ muốn ám chỉ ý kiến của tôi căn cứ vào tài liệu nào mà tôi sẽ sử dụng những cách gọi tương ứng.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Lê Quang Định. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. NXB Thuận Hóa & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005, trang 331.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đương nhiên cũng có một ngoại lệ, đó là trường hợp địa danh Lấp Vò vốn có nguồn gốc từ chữ "lắp dò" nghĩa là "xảm trét ghe thuyền". Tuy nhiên, hoạt động "lắp dò" là một hoạt động đặc biệt hơn "bắt cua" vì muốn "lắp dò" thì phải đến nơi sửa chữa và đóng mới ghe thuyền, đặc biệt là trong trường hợp các thuyền cỡ lớn. Vì vậy khi có người hỏi chủ thuyền đi đâu thì người đó có thể trả lời: "Tôi đi lắp dò" rồi dần dần thành "Tôi đi Lấp Vò". Ngược lại, hoạt động bắt cua có thể diễn ra ở bất cứ nơi đâu tại miền Tây Nam Bộ mà không có một trung tâm bắt cua cụ thể như xảm trét ghe thuyền. Vả chăng, cũng có lý do để ta nghĩ rằng Lấp Vò không hẳn đã là xảm trét ghe thuyền. Tôi sẽ trở lại vấn đề này vào một dịp thích hợp.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Lê Quang Định. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. NXB Thuận Hóa & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005, trang 105.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí. NB Giáo Dục, 1998, trang 59.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Lê Quang Định. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. NXB Thuận Hóa & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005, trang 330.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí. NB Giáo Dục, 1998, trang 59.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, tập V. NB Thuận Hóa, Huế, NXB Thuận Hóa & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005, trang 208-209.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Có một địa danh khiến tôi lưu tâm đó là họ đạo Mạt Bắc (nay gọi Mặc Bắc) nằm gần rạch Cần Chông ở Trà Vinh. Phải chăng nơi này khi xưa vốn tên là Mạt Cần Chông? Hai chữ Mạt Bắc được lý giải là bắt nguồn từ tiếng Khmer moot batt, trong đó moot là cái bến ghe, tuyến đường, batt là bị bẻ gãy.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Nguyễn Đình Đầu. Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: tỉnh An Giang. NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1995, trang 249, 261, 257.
     
  3. V/C

    V/C Mầm non

    Dài.......
    Chịu.
     
  4. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Chú định đá đểu anh cái gì thế? Không đọc thì Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Nói chung, thể loại biên khảo về lịch sử, địa lý không dành cho mấy em tin tin chuyên đọc truyện tranh. :D
     
    tauvequehuong thích bài này.
  5. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Ngày 14.05.2018:
    Tôi sửa "Từ nay tới cuối năm 2021" ở #1 thành "Từ nay tới cuối năm 2018" nhé, hihi...
     
  6. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Nếu ma có tới tôi sẽ chào, hỏi, bắt tay, bắt chân,... câu hỏi của bạn nhất định sẽ có trong cuộc nói chuyện nhé.

    Ý tôi hỏi là 42km đó bạn chạy một mạch hay chia ra làm mấy ngày đó mà.
     
    Deathshine thích bài này.
  7. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    48 giờ liên tục trong bóng tối cũng có vẻ căng đó, nhưng tôi nghĩ tôi có thể qua được. Nói thật đấy, không đùa đâu nhé, hihi...

    Trạng thái trống rỗng không phải là đè nén ký ức xuống mà là không mang ký ức nữa. Khi ra khỏi trạng thái đó thì ký ức vẫn trở về. Tôi cà rốt mà còn làm được thế nên nhiều người có thể làm được. Đó là cách tôi bắt đầu ngủ, rất nhanh đi vào giấc ngủ.

    Có trạng thái trống rỗng khi tỉnh, trống rỗng khi bắt đầu ngủ, còn làm sao để trống rỗng trong giấc ngủ thì chịu, chưa làm được.


    Bạn cứ đùa, hihi...
    Tôi ra đó chắc chắn là phải khua tay múa chân rồi. Muốn ngồi yên cũng không được, là bởi muỗi chúng đến hỏi thăm, không khua tay múa chân thì chúng khuân tôi đi ngay.

    Mắc màn thì không hay, đành chơi trò khua tay múa chân vậy.


    Bị biệt giam ba tháng (cho dù ở điều kiện không cùm) mà khi bước ra vẫn bình thường thì tôi không tin.


    Ra đó tôi không ngủ cũng không thiền, tôi ngồi chơi : ))))


    Bạn thịt nó đi, thế là xong, khỏi phải nói với nó nữa : )))


    Trò cầu cơ tôi cũng thử chơi một mình tầm 1 giờ đêm ở cạnh bờ ao rồi, không thấy ma nào, xu không chạy, chơi cốc cũng không.
    Bạn nào chơi thấy linh và đúng thì liên hệ với tôi, mỗi ngày tôi chỉ hỏi một câu, đáp án chỉ có đúng/sai, nếu trả lời đúng thì ăn gì tôi cũng cúng, nếu trả lời sai thì cúng tôi gấp ba lần chỗ tôi đã cúng nhé. Hihi...
     
  8. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Châu là giấc mộng, giờ đã qua rồi, bạn không hiểu, suy diễn không đúng đâu, hihi...

    Tôi là người bình thường, không có khả năng úm cho người này hạnh phúc, không có khả năng úm cho người kia bất hạnh đâu bạn ơi. Và tôi cũng không tin có ai úm được như vậy.
    Nếu các bạn biết ai úm được như vậy thì bảo họ úm tôi cái, úm được thì tôi cho kẹo nhé 3D_423D_42
     
  9. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Chơi cầu cơ thì không chơi một mình nhé bạn.


     
  10. vitaminc_a07868

    vitaminc_a07868 Mầm non

    Ơ, em đang làm thám tử sơ lốc hôm mà bác, giờ thì em kết luận được rồi nhé, bác Tàu chưa vợ, chưa con. Mỗi tội vẫn chưa kết luận được độ tuổi. Mà Châu là giấc mộng đã qua, thì bác tạo một câu chuyện tình mới, cứ nhắc mãi về nó làm gì. Hôm nọ, em có xem Khúc hát se duyên có 1 cặp hay lắm: anh đó từ trước cứ nghĩ mình phải tìm những người phụ nữ mong manh, yếu đuối để anh che chở nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu, chị thì mạnh mẽ, giỏi giang, trải qua những mối tình không hồi kết, đau đến xé lòng. Vậy mà họ gặp nhau, có quá nhiều thứ tưởng như khác nhau, mà hóa ra lại bình yên đến lạ.

    Em vote bác đi tìm một nửa còn thiếu đi, không phải tìm bạn ma dễ thương làm gì.
    P/S: Khúc hát se duyên tập 3 bác nhé^^
     
  11. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Hị hị... bạn vui tính quá.
    Tôi mà có khả năng bắt ma, trừ quỷ thì giờ này tôi bị đưa lên bàn thờ ngồi nhìn gà khỏa thân rồi 3D_423D_42



    Hihi tôi không chơi lý số nữa, không phải vì tôi đoán sai nhiều mà đâm ra chán món đó. Mà bởi một ngày nọ tôi nhận ra rằng không tồn tại ma quỷ thần thánh nào cả. Từ đó bức màn huyền bí bấy lâu nay được những cái đầu ảo tưởng thêu dệt đã bị xé bỏ, không còn bao phủ lấy tôi nữa.

    Thực tình là tôi không có cái năng lực như bạn nghĩ, không phải là tôi không muốn thừa nhận, mà thực là tôi không có. Nếu có tôi nói có, không có mà tôi cũng nói có thì thành ra tôi tự lừa mình và lừa người nữa sao. Tôi không làm vậy đâu.


    Tối thứ bảy tuần vừa rồi tôi thu xếp xong mọi chuyện, thế nên tôi quyết định thực hiện một mình ở nghĩa địa trong năm 2018. Giờ đang chọn nên ra đó vào tháng nào, có lẽ sẽ là tháng 7 âm lịch. Tôi nghe nhiều người nói tháng đó ma ở âm ty lên chơi, ra tầm đó có khi gặp 3D_423D_42
     
  12. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Vụ trên không đúng ý tôi đâu. Sống như vậy là bình thường.
    Ý tôi muốn nói sống một mình và không đồ, còn từ hai mình trở nên và có dụng cụ thì bình thường mà bạn.
     
  13. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Xưa tôi cũng ngâm cứu chơi thử mấy món này mà không thấy chi, họ cũng nói đại ý như câu này:
    Lưu Ý Mạnh Các Bạn phải ghi nhớ những điểm sau :
    - Không chơi 1 mình vì như thế sẽ bị ma nhập ( không tin thì cứ thử )



    Giờ tôi không thử cũng không lý giải mấy trò đó nữa, mà tôi đi luôn vào kết quả. Ai tự tin vào mấy trò đó, tôi ra câu hỏi dạng có/không, mỗi ngày một câu là cũng đủ phá tan mấy trò đó rồi.
     
  14. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Tôi nhớ mấy ngày trước có thám tử Co-nan đoán rồi mà có đúng được tí nào đâu, nay có thám tử Sờ-lốc vào cuộc nữa, hihi... Lại sai rồi Sờ-lốc ạ 3D_423D_42

    À có chữ bình yên thì đúng đó, chiều qua tôi gặp chữ bình yên và vui vẻ, nhưng bên trong đó lại ngược hoàn toàn bạn ạ.
     
  15. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Thật sự con cơ nó có chạy và chỉ vào từng chữ cái ghép thành từ có nghĩa. Chuyện sợ ma nhập (khi chơi một mình) hay không thì tôi cũng không quan tâm. Bạn chơi nó không có hiệu ứng gì vì có thể yêu cầu bắt buộc phải có mấy người: người đọc bài khấn (cơ chủ) và ít nhất 3 đồng tử (người đặt ngón tay lên con cơ), rồi người ngồi quanh (thị quan). Theo ý tôi, nếu bạn biết có nhóm nào chơi trò này thì tham gia vào thì sẽ hay hơn. Tôi là một người rất khó thuyết phục nếu không có những sự thật không thể chối cãi. Quan điểm của tôi về các vấn đề tâm linh, huyền bí là: chúng có thật về mặt vật chất, năng lượng như cái nhà, con người thật, nhưng ở dạng đặc biệt hơn vật chất thông thường... chẳng qua do con người chưa đủ khả năng khảo sát (một cách khoa học, vd như môn Vật Lý) thôi, chứ tôi vẫn không mê tín. Nếu bạn không có cơ hội được chơi và được trải nghiệm thì thật đáng tiếc cho bạn.

    Theo như trên mạng thì chơi cầu cơ phải thế này:

    Cách Thức Cầu Cơ Ma:

    Chơi cơ bắt buộc phải có hai dụng cụ đó là Bàn cơ và Cọ. Bàn cơ là một miếng bìa cứng, khổ lớn. Bàn cơ lúc mới chơi, cơ chạy rất khó, nhưng nếu chơi lâu, bàn cơ sẽ trở nên trơn láng hơn, cơ sẽ dể dàng di động khi hồn nhập. Vì thế bàn cơ phải được giữ kỹ để có thể dùng lâu năm, không nên thay đổi luôn. Vật cần thiết thứ hai là cọ Cơ là một mãnh ván hình trái tim, thường do ván hòm lâu năm khắc thành. Ván hòm được khai quật từ những mồ đã xưa khoảng 30 năm trở lên, mang nhiều tử khí do xác chết bốc ra. Nếu đục làm cơ sẽ rất tốt, vì các hồn ma rất thích mùi âm. Cơ dùng phải cố giữ mùi trầm u-uẩn, không nên chùi rửa luôn để hồn hoang dễ nhập vào. Nếu ván hòm khó tìm, quí vị có thể dùng bằng một đồng xu đồng chì hoặc ván thường thứ lâu năm cũng được, nhưng phần linh nghiệm sẽ ít hơn.

    Trong cuộc chơi chia làm 2 nhóm người. Một nhóm là đồng tử và một nhóm là Thị Quan. Đồng tử phải có ít nhất 3 người hay nhiều hơn tuỳ theo mặt cơ lớn nhỏ. Đồng tử phải là những người chưa lập gia đình, nếu là trẻ nít, 10, 12 tuổi thì càng tốt. Đồng tử không nên cùng phái mà phải lẫn lộn nam nữ. Nếu có ba người thì 2 trai 1 gái, nếu có 5 người thì 3 trai, 2 gái, nghĩa là số nam phải nhiều hơn số nữ. Nhóm thị quan thì chỉ ngồi ngoài để quan sát. Trong số đó chỉ có một người lớn tuổi nhất được quyền vấn đáp với hồn gọi là chủ cơ.

    Chơi cơ cần phải chọn nơi thanh vắng. Nơi tốt nhất là những nghĩa địa hay nhà mồ. Trong lúc chơi phải cấm ngặt chó hoang đến gần hay trẻ con la khóc. Người chơi không được mang những vật dụng như chữ vạn, dấu thánh giá, hay màu chói rọi. Vì các hồn sẽ sợ mà không dám nhập.

    Thoạt tiên, chủ cơ thắp 3 cây nhang đưa qua lại ngang bàn cơ sao cho hương thơm toả khắp nơi. Miệng đọc lời khấn. Lời khấn đọc sao cũng được, miễn là thành thật. Nhưng ngày xưa để tăng phần long trọng cho buổi lễ, các bài cầu cơ thường đọc to lời khấn bằng văn vần được truyền tụng lâu đời. Bài cầu cơ đó được biết như sau:

    Bài Cầu Cơ

    Hồn nào ở chốn non bồng
    Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi
    Dầu hồn dạo khắp mọi nơi
    Ghé đây đàm đạo chuyện đời trần gian
    Cảnh tiên hạc nội mây ngàn
    Làm cho hồn cũng ngỡ ngàng kém vui
    Cảnh tiên xa lạ bùi ngùi
    Sao bằng cảnh tục hồn vui với người
    Đờn ca múa hát vui cười
    Trà thơm bánh ngọt trái tươi đãi hồn
    Hồn ơi hãy ghé qua đây
    Tâm tình trăng gió nước mây với hồn
    Gió to sóng cả dập dờn
    Hồn đi lẻ bóng hoàng hôn một mình
    Qua đây bè bạn thêm xinh
    Ghé đây bè bạn kết tình âm dương
    Hồn dầu ở mấy đường cách trở
    Nghe lời cầu xin chớ đắn đo
    Mấy lời tâm sự nhỏ to
    Hồn ai qua đó thấu cho tấm lòng
    Hoặc hồn ở bể sông ngọn suối
    Hoặc hồn chơi bụi chuối cành đa
    Hoặc hồn nương bóng chiều tà
    Hoặc hồn lẩn quất la đà mây xanh
    Hoặc hồn ở đầu gành cuối bãi
    Hoặc hồn dầm mưa dãi gió mãi
    Hoặc hồn vấn vít với ai
    Hoặc hồn phiêu lãng lạc loài đâu đâu
    Hoặc hồn ở dưới hồ sâu
    Hoặc hồn lơ lửng bên cầu gió đưa
    Hoặc hồn bị gió mưa dồn dập
    Hồn lạnh lùng tràn ngập cô đơn
    Hồn ghé lại nguồn cơn cạn tỏ
    Hồn đừng ngại đường xa bóng nhỏ
    Hồn cùng ta mở ngỏ treo lời
    Hồn về ẻo lả chơi vơi
    Cùng ta tâm sự chuyện đời muôn năm.


    Trước khi đọc lời khấn thì Đồng tử phải để tay vào cơ. Nên để nhẹ tay vì quá nặng hồn sẽ không đủ sức kéo. Mắt nhắm, miệng cũng đọc nhẩm lời khẩn như cơ chủ.
    Vì là lần đầu tiên, nên hồn sẽ ngại mà chẳng dám vô. Nên nếu đợi lâu mà chẳng thấy động tịnh gì cả, thì phải kiên nhẫn đọc đi đọc lại lời khấn nhiều lần. Lần chơi đầu phải ít nhất là nữa tiếng mới có hồn nhập, nhưng nếu ở nghĩa địa hay chỗ vắng vẻ thì sẽ nhanh hợn.

    Khi hồn bắt đầu nhập, cơ chỉ hơi rung rung và khoảng vài phút sau từ từ di chuyển. Lúc bấy giờ chủ cơ mới cắm nhang vào chim gạo ở trước bàn cơ. Tuyệt đối không nên la hét hay reo mừng, vì lúc này là lúc hồn mau thăng nhất. Nên dặn kỹ đồng tử ảnh hưởng rất nhiều đối với hồn. Khi mới nhập, thường thì cơ sẽ chạy một vòng quanh bàn, sau đó sẻ trở về chỗ cũ để đợi chủ cơ hỏi. Trong lúc cơ đang chỉ câu đáp, Đồng tử vẫn nhắm mắt, vì nếu Đồng tử nhìn thấy cơ chạy, đoán trước câu đáp hoặc buồn chán lơ đãng, cơ sẽ chỉ một câu trả lời hết như ý đoán trước của đồng tử.
    Trong khi cơ chỉ câu nói hay trả lời thì nhóm Thị Quan có phận sự ráp vần, ghi chép để đưa cho chủ cơ xem. Lúc ráp vần chỉ nghĩ trong đầu mà không nên nói ra, ví dụ nói nhỏ cách nào hồn vẫn chỉ sai lạc cho nên cần phải thận trọng.
    Khi bàn cơ được giáng nhiều lần tức là đã thuần phục, đó là lúc cơ đã quen rồi, chừng đó đồng tử có thay đổi hoặc ít hơn còn độ 2 cô cậu một nam một nữ cũng được, cơ cũng nhập như thường.
    Trong khi cầu cơ, và đã được hồn nhập tức giáng cơ, thì anh em chơi cơ có thể bày đồ vật cúng rất tốt. Không cần lễ mễ trịnh trọng, mà chỉ cần bày biện món ăn ra gần bàn cơ khấn vái. Thí dụ rút thuốc đốt, rót ly nước trà, ly rượu, trái cóc, trái ổi… hoặc lỗ tai heo, bao tử heo, dồi trường phá lấu, mua về mở gói ra để cạnh bàn cơ và mời hồn.
    Khi cơ thọ hưởng tài vật, thì cái cơ chúi đầu vào đó một chút.
    Hồn hút thuốc, có khi cơ xoay về chỗ điếu thuốc đang cháy làm cho ánh lửa bừng lên y như có người hút, thấy mới dễ sợ.
    Ghi Chú: Chơi cơ hồn về, hoặc nói hoặc không chớ chẳng bao giờ hồn nói xa nói gần, úp mở.
     
  16. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Tôi có hai kỷ niệm với nghĩa địa quê tôi.
    Kỷ niệm 1:
    Lần đó tôi đi ngắm hết lượt mọi nơi trong nghĩa địa, từ những cái tên, có những cái ảnh trên bia mộ, bát hương, kiểu mộ,... trong số các ảnh trên bia mộ thì tôi ấn tượng nhất với một ngôi mộ trắng, nơi bia mộ có ảnh bán thân người mất, đó là ảnh trắng đen.
    Tôi có quen biết sơ sơ với người mất, không phải vì quen biết mà tôi thấy bức ảnh đó đặc biệt, quả thực là đặc biệt hơn các ảnh khác. Không biết tay nào chụp mà được bức ảnh có thần thái đến vậy.

    Ở quê tôi mộ để tông màu trắng thì có nghĩa người mất là người chưa vợ/chưa chồng, ngôi mộ tôi đang nhắc tới là của một người con gái mất năm 15 tuổi (trên bia có ghi nhưng tôi không nhớ chính xác). Ngôi mộ trắng bình thường như các ngôi mộ trắng khác, khác biệt lớn nhất là bức hình ngừơi mất.

    Mặt tròn, để mái bằng, tóc ngang vai, không cười, nhưng có một chút gì đó đang cười (tôi cảm nhận vậy). Thực sự là rất ma mị. Ai mà yếu vía nhìn thấy ảnh đó tôi tin chắc là sẽ bị ám ảnh lâu dài.

    Đã có lần tôi định chụp lại cảnh nơi đó đăng lên cho mọi người cùng xem khung cảnh ngôi mộ (tôi chụp là để người xem thấy, cũng như đang đứng nhìn ở đó vậy, không phải là không tôn trọng người đã mất), nhưng e ngại có người nhìn thấy bị ám ảnh thì sẽ không hay.
     
  17. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Kỷ niệm 2:
    Đó là lần tôi ra nghĩa địa dọn cỏ các phần mộ gia đình. Đầu tiên là dọn cỏ ở mộ tổ trước. Ngôi mộ này gần đường trục của nghĩa địa và cũng gần đường từ ngoài đi vào nghĩa địa.

    Khi ngẩng lên thì tôi vẫn thường nhìn ra xung quanh xem có gì mới không; khi rọn còn một ít nữa, đang lúi húi cắt cỏ một mạch cho xong hết đi, cắt xong rồi ngẩng lên thở phào coi như xong, vừa nhìn ra xung quanh thì giật mình, tim suýt rơi ra ngoài (nói hơi quá nhưng mà lúc đó hoảng sợ thật). Tôi vẫn còn nhớ như in lúc đó tôi đang đứng ở phía Tây Bắc (trước đó đã có lần tôi đo la bàn ở chỗ này rồi) nhìn về phía Đông Nam, cách chỗ tôi đứng khoảng 10m, có một người phụ nữ tầm 45 tuổi, đầu đội nón lá, mặc bộ quần áo màu hồng (quê tôi khi đó nhiều người cũng mặc bộ đó), ngồi trên bờ gạch (bờ gạch này cao khoảng 10 đến 15cm), mắt nhìn về hướng Bắc. Tôi nhìn rõ gần hết mặt (trừ trán và tai phải).

    Lúc đó tôi sợ quá, không biết người hay ma nhưng cũng cố quan sát thật kỹ, không thấy động đậy gì cả, mắt thì nhìn không chớp, nhưng da mặt trông cũng hồng hào. Nhìn tổng thể thì tôi thấy đó là một người khả ái.
    Chân tay tôi lúc đó không run nhưng có cảm giác lạnh lưng, cũng có sợ thật. Không hiểu lúc đó cái mong muốn gặp ma của tôi nó chạy đâu mất. Quan sát độ 1 phút mà không thấy động tĩnh gì nên tôi cũng sợ, liền nhặt cây gậy (tôi ra nghĩa địa thường mang một cái liềm và một cái gậy) rồi đi nhanh về phía phần mộ khác. Khi tới phần mộ định dọn tiếp theo cách mộ tổ khoảng 50 đến 60m, đứng trấn tĩnh lại, lúc đó mong muốn gặp ma của tôi lại trỗi dậy. Tôi nghĩ nếu là người thì sao nhỉ, chỉ có hai người ở nghĩa địa cũng không có gì đâu, nếu là ma thì càng thú vị, đây là cơ hội cơ mà.

    Thế là tôi đi lại chỗ cũ, nhưng tới nơi thì không thấy người/ma đó đâu nữa. Đứng lên chỗ cao để nhìn xung quanh cũng không thấy. Lúc đó tôi thấy tiếc, mình còn non và xanh quá nên cơ hội trôi qua.
    Tôi không thể khẳng định được đó là người hay ma, là bởi thời gian tôi rời khỏi đó tới khi quay lại có thể đủ để người/ma rời khỏi đó.

    Sau lần đó mỗi dịp ra mộ tổ là tôi lại nhìn cảnh cũ mà không thấy người/ma xưa, chỉ thấy cảnh vật thật tĩnh lặng.

    Năm 2018 này, dự kiến tháng 7 âm lịch tới sẽ là một trải nghiệm đặc biệt của tôi ở đó, hihi...
     
  18. NQK

    NQK Lớp 9

    Ma là có thật nhé bác. Có mấy trang ghi rồi. Đây, bác thử trang này: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Bác nhớ tập uốn dẻo nhé, kẻo cúi xuống nhìn không được hoặc ngã lại bảo bị ma đẩy.
     
  19. tauvequehuong

    tauvequehuong Lớp 9

    Ngày trước tôi có mang tính mạng ra để hứa một việc, sau có người sửa lại lời đó cho tôi nếu không giờ này tôi đã nằm xuống rồi. Giờ không dám nhìn người đó. Chưa khi nào thấy mình sai lầm lớn và nợ người nhiều như lúc này.
    Đang giữa trưa nắng ngẩng mặt nhìn bầu trời.
     
  20. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Vậy là bạn Tàu đã gặp ma rồi. Hơi tiếc là đã không thử nói chuyện cùng. Về tấm ảnh thì có thể chụp vì trên mạng cũng đầy ảnh như thế, Google là ra ngay, thậm chí có hẳn một forum cho chủ đề đó.

    Về cầu cơ, thì tôi từng trong vai "đồng tử" (là một trong 3 người đặt ngón tay lên đồng tiền), có cảm giác là tay mình bị đồng tiền lôi đi chứ không phải là mình đẩy đồng tiền đi. Nếu lần sau mà có cơ hội thì tôi sẽ thử tất cả "đồng tử" đều bịt mắt. Tiếc là ở ngoài Bắc chưa thấy ai cầu cơ cả.
     

Chia sẻ trang này