Never romance a rake - Liz Carlyle

Thảo luận trong 'Thùng rác' bắt đầu bởi kieudiem, 24/11/14.

  1. kieudiem

    kieudiem Mầm non

    Tác phẩm: Never romance a rake
    Tác giả: Liz Carlyle
    Người dịch: song vang

    Mình biết đến tác giả Liz Carlyle qua truyện 'The Devil to pay' được bạn Catdragon dịch bên Vietlangdu và ấn tượng mãi nên từ lâu mình đã muốn dịch một truyện của bà.

    Giới thiệu một chút về truyện: Đây là câu chuyện về hai con người cùng có tuổi thơ không hạnh phúc, mỗi người bị một chấn thương tâm lý khác nhau nên khi lớn lên họ đều không còn ảo tưởng gì ở cuộc đời. Họ đến với nhau vì những lợi ích riêng, trần trụi và nghiệt ngã, qua một ván bài. Cuộc hành trình để những rào chắn màu xám đầy gai nhọn trong tim họ được hạ xuống và nụ cười trở lại trên môi họ là một hành trình khó khăn, trắc trở.
    Các bạn cùng theo dõi hành trình đó nhé!

    NEVER ROMANCE A RAKE


    Mở đầu


    Ở Cánh đồng Mía


    Ánh nắng vùng Tây Ấn xối xuống những cánh đồng xanh tươi tĩnh mịch. Rọi vào những đồn điền quét vôi trắng lấp lánh trong làn hơi nóng bức, trông như những viên ngọc trai tuyệt mỹ sáng ngời nằm rải rác trên tấm thảm thiên nhiên màu mỡ. Bên trong những dinh cư đường bệ, những hành lang rộng chìm trong bóng râm, những cánh chớp cửa sổ mở toang để đón làn gió nghèo nàn, trong khi những đứa trẻ con nô lệ phe phẩy cây quạt cao ngất tới tận trần nhà như cánh của loài chim ăn thịt khổng lồ.

    Đây là một miền đất thịnh vượng; một chốn nhiệm màu nơi mỗi tấc đất đều sinh ra tiền, từng giọt từng giọt lấp lánh nhỏ ra từ hàm răng nghiến rào rạo của những nhà máy đường là thấm đẫm mồ hôi của những người đàn ông – và đàn bà – những con người cả đời gắn với cây mía. Vùng đất của những ông trùm về đường và hàng hải. Một xứ thuộc địa mênh mông nằm khuất tầm mắt của Nhà Vua – và dĩ nhiên, xa cả tầm ảnh hưởng bởi luật lệ của ngài.

    Nhưng giữa những mệnh phụ người Anh héo hắt vì nóng ngự trên trường kỷ, và những nô lệ làm việc quần quật trong khổ cực, thiên đường xa xôi ấy còn có một loại người thứ ba. Những thủy thủ chỉ khao khát được về nhà, phần lớn trong số họ đến cuối đời vẫn chưa được toại nguyện. Những gia nhân ngày xưa bị ràng buộc bằng giao kèo, giờ do hoàn cảnh mà biến thành nô lệ. Những gái điếm khu bến tàu, phu quét đường, và trẻ mồ côi – lẩn khuất không tiếng nói và hình bóng.

    Trong cái thế giới nóng nực và thờ ơ này, có hai thằng bé đang chạy xuyên qua những hàng mía xanh rờn, lá mía sắc như dao cứa vào tay và mặt chúng, hơi thở chúng dần nặng nhọc. Chúng chẳng còn hơi sức đâu chú ý đến mặt biển xanh ngọc như một dải ruy băng dập dờn bên dưới, cũng như ngôi nhà đổ nát nằm sau quả đồi. Đến một cái trường kỷ râm mát chúng còn chưa từng trông thấy, nó gì nằm lên đó.

    “Lối kia.” Thằng bé lớn đẩy mạnh vai thằng nhỏ. “Cái đầm lầy. Ông ta sẽ không bắt được chúng ta ở đó.”

    Chúng ngoặt ra ven theo đồng mía; những cánh tay xanh xao gầy guộc khua hối hả. Thằng nhỏ bỗng chúi xuống dưới một nhánh cây thấp, loạng choạng, rồi vùng chạy tiếp. Mạng sườn nó đau thắt như dao đâm, mạch máu đập thình thịch. Nỗi sợ hãi đã tiếp sức cho nó. Nó có thể ngửi thấy mùi nước mằn mặn cách đây không xa. Chỉ hai mươi dặm nữa thôi. Bàn chân trần của hai đứa hất bụi mù mịt khi chúng cắm đầu chạy men theo cánh đồng. Sắp đến rồi, sắp đến rồi, sắp đến rồi.

    Một tiếng rống lè nhè phá tan sự yên tĩnh ngột ngạt. Từ trong đám mía bác chúng nhảy vọt ra, lom khom như con dã thú dưới bóng lá. Cắt đứt lối đi đến đầm lầy. Hai đứa trẻ phanh khựng lại trên nền đất bụi, luống cuống thối lui, dợm xoay người thì một gã Da đen xương xẩu trong đám mía lướt ra, chắn ngang con đường đằng sau chúng. Khuôn mặt gã dửng dưng song đôi mắt lộ ra tia thương hại.

    Hai đứa trẻ quay lại, những đôi vai mỏng manh rũ xuống đầu hàng.

    “Ái chà, ta đã dồn được hai thằng nhãi các ngươi vào rọ rồi nhỉ?” Ông bác đi về phía chúng, bước chân vững vàng đáng kể đối với người tối ngày chìm trong men rượu.

    Thằng bé em khóc thút thít, nhưng thằng lớn thì không.

    Ông bác đứng lại, cặp mắt lợn nheo thành hai khe đen ngòm long lanh, chiếc roi ngựa trong tay xoay tít gần như khoái trá. “Mang thằng bé lại đây cho tao. Odysseus,” lão nói, nước bọt sùi ra một bên mép. “Tao sẽ dạy nó một bài học cho chừa thói hỗn láo.”

    Gã Da đen tiến lại, chụp lấy đứa bé, rồi tỏ ra ngần ngừ.

    Như một tia chớp, chiếc roi ngựa của ông bác quất thẳng vào mặt gã, khiến máu tứa ra trên gò má màu gỗ mun. “Vì Chúa, mày lột áo nó ra rồi giữ thằng nhãi cho chặt vào, Odysseus, bằng không mày sẽ ăn bốn mươi roi – và một tuần ở trong lều ăn năn sám hối đấy.”

    Odysseus liền đẩy thằng bé về phía trước.

    Thằng bé lớn nhích lại gần hơn. “Nó không hỗn với bác đâu, bác ơi,” nó lí nhí. “N- nó chẳng nói gì đâu ạ. N-nó mới có tám tuổi, thưa bác. Cháu xin bác.”

    Ông bác nhếch mép cười, cúi thấp xuống. “Luôn là kẻ nghĩa khí, hử, thằng lỏi con? Được, nếu mày dũng cảm thế thì hãy nhận đòn thay nó. Lột áo nó ra, Odysseus.”

    Thằng bé lớn đang lệt xệt lùi lại thì gã nô lệ đã chụp cánh tay nó kéo giật lên. “Th-thưa bác,” nó lắp bắp, mắt mở lớn, “cháu – cháu chỉ đang cố giải thích – kh-không có ai hỗn với bác cả. Ch-chúng cháu không nói tí gì, thưa bác. Chỉ nói về con gà trống nó kêu quác quác, bác còn nhớ chứ ạ?”

    Nhưng Odysseus bắt đầu giật chiếc sơ mi vải lanh dơ dáy qua đầu thằng bé lớn, mặc cho nó chống cự. Thằng nhỏ thì cho cả hai nắm tay lên miệng, người co rúm thành một khối, nức nở khóc trong lặng lẽ.

    Đôi mắt nâu của nó nhòe nhoẹt nước mắt, Odysseus vứt chiếc sơ mi rách rưới xuống ruộng mía, lôi hai cánh tay thằng lớn ra đằng trước, giữ thật chặt. Hai bả vai gầy guộc của nó bị gò cứng như đôi cánh con diệc.

    “Lũ khốn bọn bay sẽ hối tiếc cái ngày này.” Ông bác tuốt cây roi qua nắm tay như tận hưởng thú vui sắp tới. “À, cái ngày bọn bay xuống tàu để làm tao điêu đứng chứ.”

    Thằng lớn ngoái ra đằng sau. “Cháu xin bác,” nó khẩn khoản. “Hãy gửi chúng cháu về. Chúng cháu sẽ đi, sẽ đi.”

    Ông bác cười sằng sặc và thu roi ra đằng sau. Odysseus ngoảnh gương mặt đầm đìa máu đi.

    Khi những tiếng vút roi bắt đầu vang lên, đều đặn và không thương xót, thằng bé em liền nhắm tịt mắt. Nó cố không nghe những tiếng kêu của anh nó. Tiếng roi da đen đét. Và trong thời gian nó nhắm mắt ấy, mặt trời vẫn như đổ lửa, làn gió yếu ớt chập chờn, và những con người giàu có vẫn ngồi quạt mát trong đồn điền của họ và sai nô lệ chạy đi lấy thêm nước chanh. Trong quần đảo, Chúa vẫn ở trên thiên đường của mình, và mọi thứ vẫn diễn ra như thường lệ.

    Khi thằng bé em mở mắt ra, Odysseus đã nhẹ nhàng nhấc anh nó lên vai và đi về nhà, đất ruộng mía đóng thành bánh ở bàn chân gã. Thằng bé em liếc nhìn ông bác.

    Cặp mắt ông ta lờ đờ vì men rượu và thỏa mãn. Ông ta rút chai rượu trong áo khoác ra dứ về phía nó, nháy mắt. “Lần sau đến lượt thằng thò lò mũi xanh mày đấy,” ông ta hứa. “Lần sau Odysseus sẽ vác mày từ đồng về.”

    Thằng bé quay người bỏ chạy.


    CHƯƠNG MỘT


    Nơi Rothewell gặp Thần Chết


    Tháng Chín là một tháng khó ưa, Nam tước Rothewell nghĩ khi nhìn ra màn mưa mờ mịt bên ngoài cửa sổ xe ngựa của anh. John Keats (1) nếu không phải một hồn thơ dối trá thì cũng là một tên ngốc lãng mạn. Ở khu Marylebone ảm đạm mùa thu không phải là mùa của hơi sương và quả chín. Nó là mùa của u ám và mục ruỗng. Những cành cây khẳng khiu khua ràn rạt tứ phía, và những chiếc lá đáng lẽ phải sống động reo vui thay vì dính bết xuống mặt đường và mắc vào những hàng rào sắt thành những dúm nâu sũng nước. London – vốn cực kì thiếu sức sống – đang trong cơn hấp hối.

    Trong lúc bánh xe lăn sào sạo qua những vũng nước và những thứ tệ hơn, Rothewell cắm điếu xì gà lên miệng và nhìn gần như mù lòa vào vỉa hè xa xa. Ở thời điểm này trong ngày, đừng mong có một nhân viên hay người hầu hiếm hoi vội vàng ngang qua với một chiếc ô đen nắm chặt trong tay. Nam tước chẳng trông thấy người quen nào. Tuy nhiên anh hầu như làm quái gì có người quen.

    Đến góc Quảng trường Cavendish giao với phố Harley, anh dộng tay nắm đồng chiếc gậy đi dạo của mình lên nóc xe ra lệnh cho xà ích dừng lại. Hai người hầu đứng sau đuôi xe vội vã chạy vòng lên để hạ thang xuống. Rothewell vốn nổi danh nóng tính.

    Anh xuống xe, những nếp áo choàng đen rủ xuống một cách thanh nhã quanh người khi anh quay lại bảo người đánh xe. “Quay về Quảng trường Berkeley.” Trong màn mưa bụi mệnh lệnh của anh nghe như một tiếng sấm rền thấp. “Xong việc ở đây ta sẽ đi bộ về nhà.”

    Không ai buồn khuyên anh đừng có đi bộ trong tiết trời ướt át. Họ cũng chẳng dám hỏi điều gì khiến anh cất công lặn lội từ Docklands tới những con phố kém quen thuộc hơn của Marylebone. Rothewell là một con người kín đáo, và không phải là người tính tình dễ chịu cho cam.

    Anh di mạnh điếu xì gà dưới gót giày, phẩy tay bảo xe ngựa đi. Người đánh xe kính cẩn chạm roi ngựa vào vành mũ chào anh rồi cho xe lăn bánh.

    Nam tước đứng trên vỉa hè im lìm quan sát cho đến khi chiếc xe rẽ nơi góc quảng trường rồi mất hút vào bóng tối sâu thẳm của phố Holles. Anh tự hỏi đây có phải một việc làm ngu ngốc. Nhưng lần này có lẽ cái tính nóng nảy của anh đã giành phần thắng, anh nghĩ, sải bước quả quyết lên phố Harley. Có lẽ chính vì lẽ đó. Cái tính khí của anh. Cộng với một đêm mất ngủ.

    Anh từ câu lạc bộ Satyr trở về nhà vào lúc tờ mờ ngay trước bình minh. Rồi sau khi tắm và liếc ánh mắt cồn cào vào bàn điểm tâm, anh liền đi thẳng đến Docklands, tới phòng tài vụ thuộc công ty gia đình anh sở hữu, để yên tâm rằng tất cả vẫn hoạt động bình thường trong khi em gái anh vắng mặt. Nhưng chuyến đi tới Neville Shipping luôn khiến cho Rothewell cáu kỉnh và bức bối – bởi vì anh hoàn toàn biết rõ mình chẳng muốn dính dáng gì đến thứ chết tiệt đó. Anh sẽ hết sức vui mừng khi Xanthia trở về từ chuyến du lịch với người chồng mới cưới của con bé, để cái gánh nặng này có thể cất khỏi vai anh và chuyển sang vai em gái anh, địa điểm hợp lý của nó.

    Nhưng lúc này tâm trạng cau có không thể đổ hết tại những vấn đề của anh, và trong cái hố đen sâu hoắm trong tim mình, anh biết điều đó. Rothewell giảm tốc độ, bắt đầu tra những miếng thẻ đồng gắn trên cửa những ngôi nhà đường bệ thỉnh thoảng xuất hiện dọc theo phố Harley. Chỉ có vài cái. Hislop. Steinberg. Devaine. Manning. Hoffenberger. Những cái tên cho anh biết rất ít về những con người đằng sau cánh cửa – không một tí gì về tính cách, tinh thần họ - hoặc thứ quan trọng hơn, sự trung thực ghê gớm của bọn họ.

    Chẳng mấy chốc anh đã đến góc phố Devonshire và nhận ra hành trình của mình đã kết thúc. Anh ngoái nhìn con phố mình vừa đi qua. Mẹ kiếp, cứ như anh đang tìm một người bán hoa quả ấy. Nhưng trong trường hợp này, người ta khó lòng soi kỹ món hàng qua cửa sổ được. Hơn nữa anh không có ý định xin lời khuyên của ai – hoặc chịu đựng những câu hỏi tọc mạch theo sau đấy.

    Thế nên anh tự trấn an mình rằng đám lang băm và thầy thuốc thường không đặt văn phòng ở Marylebone. Song mặc dù ở London mới được vài tháng, nam tước đã biết phố Harley đang dần dần trở thành đại bản doanh của những học trò của Hippocrates (2).

    Suy nghĩ ấy khiến anh quay lại và bước lên những bậc cấp rộng bằng đá cẩm thạch của miếng thẻ đồng cuối cùng anh vừa đi qua. Nếu cái này cũng được như những cái khác, điểm này thì có thể lắm, Rothewell cúi nhìn hàng chữ qua màn mưa – à đây. James G. Redding, M.D (3) . Anh sẽ chọn nhà này.

    Một cô hầu gái mặt tròn mặc đồ xám ra mở cửa ngay khi vòng gõ cửa vừa đập xuống. Cặp mắt cô ta quét ngược lên – lên cao – theo chiều dài người anh khi cô ta ước lượng địa vị của anh. Gần như ngay tức khắc, cô ta đẩy rộng cửa, và nhún gối chào thật thấp. Cô ta vội vã đỡ lấy chiếc mũ và áo choàng sũng nước của anh.

    Rothewell đưa danh thiếp cho cô ta. “Tôi muốn gặp bác sĩ Redding,” anh nói, như thể yêu cầu ấy anh vẫn đưa ra thường xuyên.

    Có vẻ cô gái biết đọc. Cô ta nhìn tấm danh thiếp và nhún gối chào lần nữa, mắt cụp xuống. “Bác sĩ có hẹn trước với ngài không ạ?”

    “Không,” anh gằn giọng. “Nhưng đây là chuyện khẩn cấp.”

    “Ng-ngài không thích bác sĩ đến nhà ngài sao?” cô ta đánh bạo hỏi.

    Rothewell ghim cái nhìn trừng trừng tăm tối nhất của mình vào cô gái. “Trong bất cứ trường hợp nào cũng không,” anh cộc lốc. “Cô hiểu chưa?”

    “Vâng, thưa ngài.” Tái xanh mặt, cô gái thở gấp.

    Lạy Chúa, sao anh phải trừng mắt với cô ta chứ? Việc bác sĩ đến thăm bệnh nhân hoàn toàn là lẽ tự nhiên, ngược lại mới là bất thường. Nhưng cái tính kiêu hãnh quá quắt của anh không cho phép điều đó.

    Cô gái đã nói được trở lại. “Tôi e rằng, bác sĩ đi thăm bệnh buổi chiều vẫn chưa về, thưa ngài,” cô ta nhẹ nhàng giải thích. “Có lẽ phải một lúc nữa ạ.”

    Điều này thì Rothewell không mong đợi. Anh là người quen đạt bằng được việc của mình – và phải nhanh chóng. Sự bực bội của anh hẳn hiển hiện ra mặt.

    “Nếu ngài vui lòng đợi, thưa ngài, tôi có thể mang trà cho ngài?” cô hầu đề nghị.

    Không kịp suy nghĩ, Rothewell chộp lấy cái mũ cô hầu đã treo trên giá. Anh không còn việc gì ở đây hết. “Cảm ơn, không,” anh nói sin sít. “Tôi phải đi.”

    “Tôi nhắn lại cho bác sĩ được không ạ?” Vẻ mặt cô ta miễn cưỡng khi cô ta đưa áo choàng cho anh. “Có lẽ ngày mai ngài có thể quay lại.”

    Trong Rothewell trào lên một mong ước mãnh liệt được rời khỏi nơi này, thoát khỏi những nỗi sợ hãi ngớ ngẩn và những ý nghĩ của mình. “Không, cảm ơn cô,” anh nói, tự mình mở cửa. “Ngày mai thì không, có lẽ cả ngày kia nữa.”

    Vì đi vội đi vàng, anh không trông thấy người đàn ông cao gầy đang bước lên bậc thang, và suýt chút nữa xô ông ta xuống.

    “Xin chào,” người đàn ông nói, nhấc mũ lên khi bước sát sang một bên. “Tôi là bác sĩ Redding. Tôi có thể giúp gì ngài?”


    “Trường hợp khẩn cấp hử?” Mười phút sau bác sĩ Redding nói. “Tôi tự hỏi, thưa ngài, nếu ngài nghĩ nó khẩn cấp mà ngài còn để nó kéo dài đến giờ.”

    Bác sĩ là một người ngăm đen, gầy gò với cái mũi khoằm và đôi mắt trũng sâu. Như Thần Chết đã bỏ áo trùm đầu.

    “Nếu nó đến rồi lại đi thì chẳng lẽ bây giờ nó không được coi là khẩn cấp ư, bác sĩ?” Rothewell phản bác. “Và tôi nghĩ nó sẽ như thế. Tức là nó lại biến mất ấy. Những dạng này luôn luôn như thế, ông biết đấy.”

    “Hmmm,” bác sĩ kéo mí mắt dưới của Rothewell xuống. “Ngài đang đề cập đến dạng nào vậy?”

    Rothewell làu bàu. “Chứng khó tiêu,” cuối cùng anh thì thầm. “Sự bất ổn. Ông hiểu ý tôi mà.”

    Ánh mắt bác sĩ trở nên ráo hoảnh một cách kì cục. “Ồ, ngài nặng hơn chứng khó tiêu một chút đấy, thưa ngài,” ông ta lại nhìn vào mắt trái Rothewell. “Và màu sắc của ngài khiến tôi lo lắng.”

    Rothewell lại làu bàu. “Tôi mới trở về từ vùng Tây Ấn, nắng ở đấy quá gay gắt, chỉ thế thôi.”

    Bác sĩ lùi lại khoanh hai tay trước ngực. “Chỉ thế thôi ư?” ông ta lặp lại, tỏ ra mất kiên nhẫn. “Tôi không nghĩ vậy đâu. Tôi đang nói về mắt ngài chứ không phải nước da. Có một chút dấu hiệu của bệnh vàng da. Đây là những triệu chứng nghiêm trọng, và ngài biết điều đó. Ngoài ra, người như ngài đáng lẽ đừng bao giờ đến đây.”

    “Người như tôi-?”

    Bác sĩ phớt lờ câu hỏi, thay vào đó lướt những ngón tay ra sau đường quai hàm của Rothewell, rồi dịch xuống một bên cổ. “Cho tôi biết, ngài đã từng bị sốt rét bao giờ chưa?”

    Rothewell cười lớn. “Đó là lời nguyền của xứ nhiệt đới mà tôi đã chạy thoát.”

    “Ngài là người nghiện rượu nặng?”

    Rothewell nhếch mép. “Có mấy người nói thế.”

    “Và ngài hút thuốc,” bác sĩ nói. “Tôi có thể ngửi thấy.”

    “Đó là vấn đề à?”

    “Cái gì buông thả quá cũng thành vấn đề.”

    Rothewell lầm bầm trong miệng. Một kẻ cực đoan thích lên lớp người khác. Đúng thứ anh cần.

    Bằng những cử chỉ nhanh nhẹn và nôn nóng, bác sĩ kéo vẹt tấm rèm chỗ bức tường gần cửa, làm vang lên một hợp âm chói tai từ những chiếc vòng kim loại. “Phiền ngài bước vào trong này. Hãy cởi áo khoác, gi lê, và áo sơ mi, rồi nằm xuống chiếc bàn bọc da kia.”

    Rothewell bắt đầu cởi khuy chiếc áo gi lê lụa, bụng thầm rủa tay bác sĩ, cái bụng đói cồn cào của mình, và bản thân mình. Cuộc sống ở London đang hủy hoại anh. Tình trạng ăn không ngồi rồi như liều thuốc độc đang ngấm vào máu anh. Anh có thể cảm nhận nó, song lại không gom đủ sự khinh bỉ để giũ bỏ nó.

    Cho đến trước ngày hôm nay, số lần anh bị ốm đến độ cần tới bác sĩ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Anh đinh ninh là bọn họ chỉ làm bệnh nhân ốm nặng thêm chứ không khá hơn. Vả lại Rothewell luôn là người đàn ông cường tráng. Anh không cần lời khuyên của bất cứ ai, thuốc thang hay cái gì khác.

    Bên kia tấm rèm anh nghe thấy tay bác sĩ mở cửa và rời khỏi phòng. Anh buông xuôi, treo chiếc áo cuối cùng của mình lên hàng móc đồng rõ ràng là dùng cho mục đích đó, rồi đảo mắt nhìn quanh. Chỗ này được bài trí một cách xa hoa, với những tấm màn nhung nặng nề và sàn nhà lát đá cẩm thạch màu kem. Một chiếc bàn giấy đồ sộ bóng loáng chiếm một đầu căn phòng, giữa phòng là một chiếc bàn cao phía trên bọc da. Xem ra những bệnh nhân của bác sĩ Redding sống khá thọ để trang trải các hóa đơn. Anh thấy đáng chú ý.

    Cạnh chiếc bàn là một khay thiếc để một dãy các dụng cụ y tế nằm thẳng hàng. Rothewell bước lại gần và thấy lạnh sống lưng. Một con dao mổ và một bộ kim chích sáng loáng một cách tinh quái đập vào mắt anh. Những cái kéo và kẹp forcep và kim khâu – cùng với những dụng cụ khác mà anh không biết tên. Cơn ớn lạnh càng tăng lên.

    Lạy Chúa, lẽ ra anh đừng bao giờ nên đến đây. Y thuật chỉ là một bước tiếp theo của ma thuật. Anh nên về nhà, hoặc dùng ý chí để hồi phục hoặc chết như một người đàn ông.

    Nhưng sáng hôm nay…sáng hôm nay là tồi tệ nhất. Anh vẫn có thể cảm thấy họng mình bị đốt cháy bởi kim loại và a xít còn xương sườn như vỡ vụn bởi những cơn đau…

    Ôi mẹ kiếp! Anh cũng có thể ở lại và nghe những gì tay bác sĩ mặt đanh Redding phải nói. Để xua đi ý nghĩ về buổi sáng nay, nam tước cầm một trong những dụng cụ nom kinh khiếp hơn lên để quan sát cho kỹ. Một dụng cụ tra tấn thời Trung Cổ chăng?

    “Cái khoan sọ đấy,” một giọng nói vang lên sau lưng anh.

    Giật bắn mình, Rothewell vứt trả nó vào khay nghe loảng xoảng. Anh quay lại thấy tay bác sĩ đứng ngay chỗ tấm rèm.

    “Nhưng nếu an ủi ngài được phần nào,” bác sĩ tiếp tục, “tôi khá nghi ngờ việc chúng ta sẽ thấy cần thiết phải khoan một cái lỗ trên đầu ngài.”


    Cơn mưa phùn trong ngày rốt cuộc cũng tạnh khi chiếc xe ngựa bốn bánh đen tuyền hào nhoáng dạo vòng thứ ba và cũng là vòng cuối cùng quanh công viên Hyde Park. Màn sương mù bốc lên từ hồ Serpentine nom như quang cảnh thời vua Arthur trong truyền thuyết. Cám dỗ những tâm hồn sôi nổi của giới thượng lưu đánh bạo ra ngoài cưỡi ngựa hoặc làm một chuyến đi dạo trên xe. Và mặc dù cao điểm của mùa hội đã trôi qua từ nhiều tuần trước, song hình ảnh quý ông cầm roi điều khiển cỗ xe một cách hết sức tao nhã vẫn dễ dàng thu hút ánh mắt người qua lại, bởi ông ta vừa đẹp trai lại vừa nổi tiếng – dẫu không được đặc biệt yêu mến. Nhưng bất chấp mã ngoài, giới quý tộc thường dùng những lời ẩn dụ lạnh lùng nhất của người Anh để nói về ông ta, vết nhơ mờ mờ của kẻ bị xem là không tử tế lắm.

    Song bỏ qua tư cách và tình trạng nợ nần chồng chất, Bá tước de Valigny hiển nhiên có khiếu ăn vận tinh tế của cựu lục địa. Người thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần ngồi cứng nhắc bên cạnh ông ta nghiễm nhiên bị người qua đường cho đấy là tình nhân mới đây nhất của ông ta, do Valigny ngốn gái đẹp với một hiệu suất tàn khốc.

    Trời chiều đã ngả về muộn, và vừa do tháng Chín vừa do tiết trời ẩm ướt, ngoài đường đã vắng người đi lại. Ngoài hai anh chàng công tử cưỡi ngựa và một chiếc xe ngựa bốn bánh chở chật những bậc mệnh phụ mặt đầy ý chê trách thì chẳng có ai dừng mắt lại nơi người con gái ấy. Và điều đó, theo cách nghĩ của Valigny, là một sự nhục nhã tột bậc. Ông ta ngoái nhìn gần như khao khát vào mấy quý ông trẻ tuổi.

    Trời đất (4), Camille!” ông ta phàn nàn, ném ánh mắt gay gắt trở lại gương mặt cô. “Nâng cằm lên! Đong đưa mắt cho táo bạo vào! Ai thèm nhìn tới lần thứ hai một đứa không thèm nhìn người ta lấy một lần chứ hả? Mày không bị đưa đến máy chém đâu mà lo.”

    “Không ư?” bạn đồng hành của ông ta lẩm bẩm, kiêu ngạo nhìn xuống ông ta. “Con bắt đầu tự hỏi mình đã ở đây được bao lâu? Sáu tuần phải không? Sáu tuần với cái thời tiết sùi sụt này và làm bộ làm điệu vênh váo. Biết đâu con có thể sớm hoan nghênh lưỡi dao của tên đao phủ?”

    Vẻ mặt Valigny sắt lại. “Ôi chao (5)!” ông ta gắt lên, ghìm cương đôi ngựa xám vào ven đường. “Mày đúng là con rắn mào bám vào ngực tao. Thưa quý cô đoan trang, chắc là cô thích xuống xe đi bộ về nhà hơn nhỉ?”

    Người thiếu nữ quay sang áp những ngón tay đi găng lên ngực. “Gì cơ (6)? Và làm ô uế đức hạnh quý giá của con bằng việc cuốc bộ không người đi kèm qua khu Mayfair như một ả điếm thấp hèn ư?” cô hỏi một cách chế giễu. “Nhưng gượm đã. Con quên mất người ta đã sẵn coi con là gái điếm rồi.”

    “Quỷ tha ma bắt mày đi, Camille!” Ngài bá tước quất roi, lũ ngựa vùng chạy nước kiệu. “Mày đúng là đứa con gái vô ơn.”

    Cô rướn thẳng đôi vai, không chịu bám vào thành xe để giữ thăng bằng. “Con ư?” Cô nói với chính mình hơn là với ông ta. “Ơn Chúa là chưa đến mùa xuân! Có lẽ khi ấy kế hoạch ngớ ngẩn của cha có khả năng – có khả năng – thành hiện thực.”

    Bá tước cười lớn. “Ôi, con yêu à(7)! Ta rất sợ rằng mùa xuân sẽ quá muộn đối với mày.”

    Cô ném cho ông ta một ánh mắt khinh mạn. “Vâng (8), quả là vậy,” cô thừa nhận. “Và cũng quá muộn đối với cha!”


    Pamela, phu nhân Sharpe, đứng bên cửa sổ phòng khách của mình, một tay chống lên thành chiếc ghế đơn, đang quan sát thế giới của khu Mayfair trôi qua trước mắt thì xuất hiện một người đàn ông cao lớn mặc áo choàng đen sải những bước dài dưới phố. Thoạt đầu bà chỉ hờ hững nhìn qua anh ta. Mưa đã ngừng rơi, và cái gì đó rất có thể là một tia nắng rọi chếch qua những mái nhà bên kia đường phố Hanover. Phu nhân Sharpe kìm lại thôi thúc muốn vỗ tay hân hoan.

    Có lẽ ngày mai sẽ có nhiều người đến chơi? Gần như chắc chắn là thế. Và bà đã đủ khỏe để tiếp họ. Quả là bà đang vui muốn chết vì đã hoàn thành mọi nhiệm vụ. Tuần vừa rồi là một tuần lễ quan trọng – nhưng thành thật mà nói nguyên năm vừa qua là trọng đại nhất đối với phu nhân Sharpe. Bà đã đạt được ba thành công trong mùa giao tế. Đưa cô em họ Xanthia yêu quý ra mắt giới quý tộc với kết quả mỹ mãn, và liền sau đó gả cô con gái duy nhất của bà cho một người thừa kế tước hiệu bá tước.

    Và phần kết chói ngời, sau hai mươi năm chung sống với người chồng tốt bụng và thấu hiểu, phu nhân Sharpe cuối cùng đã làm được một việc không ai tin nổi. Bà đã sinh cho nhà Sharpe một người nối dõi. Một cậu bé mắt xanh đáng yêu giống hệt bố, đến cả cái đầu hói cũng giống.

    “Phu nhân?” cô hầu của nữ bá tước đỡ lấy khuỷu tay bà. “Có lẽ bà hãy đi nghỉ đi ạ.”

    Đúng lúc ấy người đàn ông mặc áo choàng đen bước qua ngay đối diện cửa sổ của phu nhân Sharpe.

    “Ôi ôi!” bà kêu lên, chỉ tay. “Nhìn kìa Anne, ngăn anh ta lại! Xuống dưới đưa anh ta lên đây ngay lập tức.”

    ”Lệnh bà?” Trán Anne nhăn lại.

    ”Rothewell đấy!” bà cuống cuồng chỉ vào kính cửa. ”Hôm qua ta vừa mới gửi thư. Ta thực sự phải gặp cậu ta! Ôi, cô nhanh chân lên nào.”

    Anne hơi tái mặt, nhưng vẫn xuống dưới nhà bảo một gia nhân chạy hết tốc lực dọc phố Hanover đuổi theo Lord Rothewell. Gã gia nhân do dự trong chốc lát – tiếng tăm của nam tước không lan được đến giới người hầu – rồi cuối cùng cũng làm theo lệnh. Cả quá trình trôi chảy. Lord Rothewell nghe chừng đã cắt bớt lịch trình thường ngày và theo gã gia nhân lên nhà một cách gần như nhã nhặn.

    Nữ bá tước tiếp anh trong phòng khách riêng, vẫn đội mũ vải và mặc áo choàng trong nhà, hai chân gác lên chiếc ghế để chân của chồng.

    ”Kieran thân yêu!” bà thì thầm, đưa má cho anh hôn. ”Thứ lỗi cho tôi không đứng dậy được.”

    ”Tất nhiên rồi.” Rothewell ngồi xuống chiếc ghế bà chỉ. ”Song em không thể tưởng tượng chị có công việc gì phải tiếp khách.”

    Phu nhân Sharpe cười nho nhỏ. ”Đó là lí do vì sao cậu là người họ hàng tôi quý nhất đấy, nhóc ạ!” bà đáp. ”Cậu thẳng thừng đến thô lỗ.”

    Thẳng thừng đến thô lỗ. Rothewell tự hỏi có phải từ này được mặc định bám theo anh suốt hôm nay.

    Nhưng mắt phu nhân Sharpe vẫn đang lấp lánh. ”Giờ thì cho tôi biết tại sao cậu cứ làm ngơ tôi, cậu nhóc?”

    ”Làm ngơ chị?”

    ”Tôi vừa gửi một bức thư khẩn vào hôm qua,” bà trách móc. ”Chắc người ta nghĩ tôi đã bị lãng quên hoàn toàn chỉ sau vài tuần ở cữ.”

    ”À,” anh nói nhẹ không. ”Nhưng hôm qua em vắng nhà, Pamela.”

    ”Vậy sao, thấy cậu ngoài đường giữa ban ngày ban mặt thật khiến người ta sửng sốt.” Bà chun mũi. ”Tôi thật không ưa kiểu kết giao bạn bè của cậu – và giờ giấc của nó nữa. Nhưng đến bây giờ tôi mới thấy phiền. Tôi có được nhận những lời chúc mừng của cậu không đây?”

    Rothewell ngồi nhích tới trước một chút, hai tay đặt lên đầu gối. ”Có chứ, và kèm theo lời tạ ơn của em. Đó là một việc hết sức nguy hiểm vượt quá tầm chịu đựng của chị, Pamela.”

    Đôi mày thanh tú như nét vẽ của phu nhân Sharpe nhướng lên. ”Coi kìa, cậu nói năng thật kì cục. Ý cậu là sao?”

    Rothewell thoải mái ngả người ra ghế. ”Chẳng có ý gì cả, Pamela ạ,” anh đáp đơn giản. ”Em chỉ hy vọng chị sẽ không cố tái diễn nó.”

    ”Ở tuổi tôi ấy à?” Phu nhân Sharpe nở nụ cười giễu. ”Tôi nghĩ rất khó có khả năng.”

    ”Chuyện này đã tước mất một năm cuộc đời của Sharpe, chị biết mà.”

    ”Tôi biết, và tôi rất lấy làm tiếc.” Phu nhân Sharpe nghịch nghịch sợi ruy băng trên khăn tay. ”Nhưng Sharpe cần một người thừa kế, Kieran.”

    ”Anh ấy cần vợ mình – tốt nhất là còn sống.”

    ”Ồ, cậu không hiểu gì cả! Mặc dù lẽ ra cậu nên hiểu – và hiểu rõ hơn người khác. Cậu biết ý tôi đấy.”

    Anh biết. Nhưng người thừa kế? Cái ý niệm đó anh luôn thấy có vẻ ngớ ngẩn. ”Rốt cuộc thì điều gì sẽ xảy ra với tước hiệu của em, Pamela?” cuối cùng anh hỏi.

    ”Gì, khi cậu qua đời ấy hả?” Phu nhân Sharpe tùy tiện ném chiếc khăn sang bên. ”Một trong mấy đứa em họ đáng ghét nhà Neville sẽ thừa hưởng tất cả. Nhưng cậu có quan tâm mấy đâu.”

    ”Rất ít,” anh lẩm bẩm.

    Phu nhân Sharpe quan sát anh với vẻ trêu chọc. ”Cậu nên làm mình bận rộn đi, Kieran.” Giọng bà sắc bén không thường thấy. ”Cậu biết ý tôi đấy.”

    Rothewell vờ như không hiểu. Anh đặt hai tay lên đùi như định đứng lên. “Cô gái già ơi, em phải đi đây. Chị cần được nghỉ ngơi.”

    “Gớm!” Phu nhân Sharpe vẫy tay bảo anh ngồi lại. “Nếu có người cần nghỉ ngơi, thì là ông đấy, ông trẻ ạ. Hiếm khi tôi thấy cậu phờ phạc như thế.” Bà quay sang cô hầu.

    “Anne, đi bảo Thorton đem Tử tước Longvale ra trình diện chú nó.”

    Trẻ con? Lạy Chúa lòng lành, không phải chứ. “Thực tình, việc này không cần thiết, chị Pamela.” Rothewell nói.

    “Ồ có đấy.” Một nụ cười bí ẩn làm môi bà cong lên. “Tôi đảm bảo.”

    Rothewell tránh gặp lũ trẻ con bằng mọi giá. Anh luôn cảm thấy có một dạng phản ứng nồng nhiệt nào đó đang đợi anh. Anh không phải người nồng nhiệt. Thậm chí không dễ chịu cho lắm. Và bọn trẻ con thường là khoái ngồi đung đưa trên gối người ta, hoặc moi đồng hồ từ trong túi áo họ.

    Nhưng Lord Longvale thì chưa có khả năng làm cả hai việc ấy. Cậu ta là một cục bột mềm mại trắng hồng, với hai nắm tay nhỏ xíu đến không tin nổi và một cái miệng như nụ hồng chúm chím, và còn quá nhỏ để là mối phiền nhiễu cho bất cứ ai. Hơn nữa, đây là con của Pamela, một người có được niềm quý trọng hiếm hoi của anh. Nên Rothewell gồng mình, nặn ra một nụ cười, và ngập ngừng cúi người xuống cái bọc bà bảo mẫu chìa ra cho anh ngắm nghía.

    Lạ thay, hơi thở anh bỗng tắc nghẹn. Đứa trẻ hoàn hảo và yên lặng đến nỗi có thể nói nó là một tuyệt phẩm sáp của Madame Tussaud (9). Da nó mỏng manh trong mờ, hai bầu má phúng phính ửng lên sắc hồng siêu thực.

    Một sự im lặng siêu phàm bao trùm căn phòng, khiến Rothewell không dám thở mạnh. Anh không thể nhớ mình đã từng ở gần một đứa bé sơ sinh đến mức này.

    Đột ngột cặp mắt xanh nhạt mở ra. Đứa bé nắm chặt hai nắm tay, vít lấy mặt anh, và mở màn cơn la hét bằng một sự khoái trá hăm hở. Khoảnh khắc kỳ lạ vỡ tan, Rothewell giật lùi lại.

    “Em e rằng Lord Longvale ít có hứng thú làm quen với em,” anh nói trong màn huyên náo.

    “Vớ vẩn!” Phu nhân Sharpe nói. “Tôi dám chắc nó chỉ phô trương thôi. Cậu đã thấy một buồng phổi khỏe khoắn như vậy chưa?”

    Rothewell chưa thấy bao giờ. Bất chấp bị quấn tã, thằng bé vẫn khua loạn đôi chân ngắn và hai nắm tay nhỏ xíu trong lúc khóc váng trời. Rothewell đờ ra trước nguồn nội lực tỏa ra từ tạo vật nhỏ bé kia. Quả là thằng bé rất chân thực – và đầy sức sống. Và nhìn vẻ ngoài thì nó cũng là đứa thích gây gổ. Một cảm giác muốn cười tự dưng trào lên khiến anh phải chật vật nén lại.

    Có lẽ rốt cuộc không phải tất cả London đều chết lịm hoặc mục rữa. Cái tên tiểu quỷ này đúng là một mầm non thứ dữ, và rõ ràng là đầy hứa hẹn. Nó sẽ mang theo hy vọng và ước mơ của cha mẹ nó vào tương lai. Có lẽ vòng quay luân hồi của sống, chết, và phục sinh là bất diệt. Rothewell không biết ý nghĩ ấy làm anh được an ủi hay là tức giận.

    Phu nhân Sharpe giơ tay đón lấy đứa bé. “Để ta dỗ nó một lúc, Thornton,” bà nói, áp cái bọc tã lên vai. “Và sau đó tốt nhất bà hãy đem nó lên lầu trở lại. Ta tin chúng ta đang làm Lord Rothewell lo sợ vô cớ.”

    Rothewell không quay lại ghế mà băng qua phòng khách tới một trong những ô cửa sổ trông ra phố Hanover. Anh cảm thấy xao động kì lạ. Tiếng gào khóc của đứa bé nhỏ dần bên tai anh. Cuối cùng căn phòng rơi vào im lặng.

    Chống một tay lên cánh cửa, Rothewell vẫn đứng đó, nhìn trân trân vào bóng tối đang buông xuống và tự hỏi điều gì ở đứa trẻ khiến anh bàng hoàng như vậy thì anh lại nghe thấy giọng của Pamela.

    “Kieran?” Giọng bà cất lên thình lình. “Cậu bé thân yêu của tôi – cậu vẫn ổn đấy chứ?”

    Chìm đắm trong cơn trầm ngâm, Rothewell quay lại nhìn bà. Chị họ anh đang ngồi một mình giữa phòng. Đứa trẻ và bảo mẫu của nó đã biến mất.

    Phu nhân Sharpe nghiêng đầu sang một bên như chú chim tò mò. “Cậu chẳng nghe tôi nói tí gì.”

    “Em xin lỗi, Pamela. Em đã lơ đễnh.”

    “Tôi nói muốn nhờ cậu một việc,” bà nhắc lại. “Tôi có thể trông cậy vào cậu được không?”

    Rothewell gượng cười. “Em nghi ngờ điều đó,” anh thành thật. “Phụ nữ thường hối hận vì đã làm thế.”

    Bà nghiêng người tới trước và vỗ vào chiếc ghế bên cạnh. “Đến ngồi cạnh cạnh tôi đi,” bà bảo. “Và hãy nghiêm túc. Chuyện này rất quan trọng.”

    Anh miễn cưỡng làm theo. Anh không thích cái nốt căng thẳng điểm vào giọng của chị họ mình.

    “Kieran,” bà nói nhỏ nhẹ, “cậu vẫn qua lại với Christine phải không?”

    Rothewell kinh ngạc trước câu hỏi. Christine Ambrose là em chồng của Pamela, nhưng hai người khác hẳn nhau. Và Pamela chưa chưa bao giờ tọc mạch dò hỏi.

    “Em gặp phu nhân Ambrose mỗi khi có dịp thuận tiện,” anh đáp chung chung. ”Sao vậy? Sharpe bắt đầu phản đối ư?”

    “Trời đất, không!” Phu nhân Sharpe xua tay. “Sharpe biết anh ấy chẳng thể quản lý cô em cùng cha khác mẹ của mình, và anh ấy không thử. Nhưng hai người - ờ, cậu không có ý định nghiêm túc, phải không Kieran? Christine không thuộc kiểu phụ nữ mong muốn…chà, tôi không biết diễn giải ra sao.”

    Rothewell cảm thấy sắc mặt mình sầm xuống. Anh không bao giờ lôi chuyện đời tư của mình ra – ngay cả Xanthia cũng không dám hỏi tới. Christine được xem là khá thân thiết với anh, và anh biết điều đó. Song anh cũng chẳng quan tâm.

    “Em e rằng quan hệ giữa em và phu nhân Ambrose là vấn đề riêng tư, Pamela,” anh lạnh lùng nói. “Nhưng sẽ không có gì lâu dài giữa chúng em cả, nếu đó là điều chị lo lắng.”

    Không có gì lâu dài. Không, chẳng có tương lai nào cho anh và Christine hết – mà anh đã bao giờ tính tới chuyện xuẩn ngốc đó đâu.

    Nhưng gương mặt phu nhân Sharpe đã sáng bừng lên. “Không, tôi đã nghĩ là không,” bà nói như thể tự trấn an. “Dĩ nhiên con bé rất đáng yêu, nhưng Christine thì –“

    “Pamela,” anh ngắt lời bà, “chị đang bước vào vùng đất nguy hiểm đấy. Chị muốn nhờ em việc gì cơ mà? Xin chị hãy làm thế đi.”

    “Ờ, tất nhiên.” Pamela vuốt những nếp gấp trên áo choàng. “Thứ Ba là lễ rửa tội, Kieran ạ. Và tôi muốn…phải, tôi đã suy nghĩ khá kỹ, tôi muốn cậu là một trong những người cha đỡ đầu của Longvale.”

    Rothewell chỉ có thể nhìn chằm chằm vào bà.

    “Ồ, tôi cũng định hỏi cả Xanthia,” bà lập tức bổ sung. “Cậu là người họ hàng thân thích nhất phía đàng ngoại. Tôi đã rất vui mừng khi cậu trở về từ Barbados sau bao năm xa nhà. Ôi, cậu sẽ đồng ý chứ? Hãy nói đồng ý đi.”

    Rothewell đã bật dậy khỏi ghế và trở lại vị trí bên cửa sổ. Anh im lặng hồi lâu. “Không,” cuối cùng anh nói nhỏ. “Không, Pamela, em xin lỗi. Chuyện đó không thể được.”

    Đằng sau, anh nghe thấy tiếng vải sột soạt khi chị họ anh đứng lên. Trong phút chốc bà đã đặt một bàn tay gầy guộc lên vai anh. “Ôi Kieran! Chị biết cậu đang nghĩ gì.”

    “Không,” giọng anh khàn khàn. “Cam đoan là chị không biết đâu.”

    “Cậu đinh ninh rằng cậu không phải là một người cha đỡ đầu phù hợp,” phu nhân Sharpe nhấn mạnh. “Nhưng tôi khá tự tin là không phải thế. Chắc chắn tôi biết là không phải. Cậu là người thông minh và quả quyết, Kieran. Cậu trung thực và thẳng thắn. Cậu – “

    “Không.” Anh đập cổ tay vào cánh cửa chớp, như thể cái đau làm cho anh tỉnh trí. “Quỷ tha ma bắt, chị không nghe em nói sao, Pamela? Không thể được.”

    Phu nhân Sharpe lùi lại, vẻ mặt tổn thương.

    Anh quay hẳn người đối diện bà, cào tay lên tóc. “Thứ lỗi cho em,” anh khó nhọc nói. “Em nói năng có hơi…”

    “Tùy tiện, đúng thế,” bà cắt ngang. “Trong cậu có tính thiện, Kieran. Tôi biết là có.”

    “Làm ơn đừng bắt hai ta chịu trận bằng tràng kể lể về đạo đức của em, Pamela,” anh dịu giọng. “Đằng nào cái danh sách ấy cũng rất ngắn. Cảm ơn chị vì lời khen, nhưng chị phải hỏi người khác thôi.”

    “Nhưng…nhưng bọn chị muốn cậu kia,” bà lặng lẽ nói. “Sharpe và chị đã bàn bạc từ lâu. Bọn chị tin chắc cậu chính là người thích hợp cho vai trò cao cả nhường ấy. Cậu, hơn ai hết, hiểu được tầm quan trọng của việc nuôi dạy một đứa trẻ cho đến nơi đến chốn – hoặc tác hại đối với một con người không được nuôi dưỡng tử tế.”

    “Đừng nói vớ vẩn nữa, Pamela,” anh cộc cằn.

    “Với lại,” bà hòa nhã tiếp tục, “Sharpe và tôi không còn trẻ trung như ngày xưa nữa. Nếu chúng tôi chết thì sao?”

    Anh buông thõng tay xuống.

    Nếu họ chết thì sao? Anh sẽ chẳng giúp gì được cho họ.

    “Xanthia sẽ lo liệu để không có chuyện không hay xảy ra với đứa bé,” anh gắng gượng nói. “Nó và Nash sẽ chăm sóc thằng bé như con mình nếu chị muốn. Chị biết họ sẽ làm thế mà.”

    “Nhưng Kieran, vai trò cha đỡ đầu còn hơn cả -“

    “Xin đừng yêu cầu em nữa, Pamela,” anh cắt ngang. “Em không thể. Và Chúa biết là danh tiếng em đã quá nhơ nhuốc cho dù chị không biết.”

    “Nhưng tôi không nghĩ cậu –“

    “Không, chị thân yêu.” Với một sự dịu dàng đáng kinh ngạc, Rothewell đặt bàn tay bà lên cánh tay mình và đưa bà về ghế. “Chị không hiểu đâu. Giờ chị phải ngồi xuống, Pamela, và gác bàn chân lên. Chị phải làm thế. Còn em phải đi đây.”

    Tới nơi, phu nhân Sharpe chống một tay lên tay ghế và từ từ ngồi xuống. “Bao giờ Nash và Xanthia về?” bà hỏi. “Tôi dám chắc con bé sẽ nhận lời.”

    “Ngày mai,” anh đáp, nhẹ nhàng vỗ vai bà. “Hãy nhờ Nash góp sức cùng chị ấy. Cậu ta sẽ vui mừng đồng ý. Xét cho cùng cậu ta vẫn chưa chắc chắn là được chúng ta yêu mến.”

    “Chúng ta có yêu mến nó không?” Phu nhân Sharpe ngước lên.

    Rothewell ngẫm nghĩ. “Kha khá, em dám chắc thế,” cuối cùng anh trả lời. “Chúng ta phải tin tưởng mắt nhìn người của Xanthia. Và giờ nghĩ lại, em lấy làm vui mừng vì có cậu ta.”

    “Cậu ấy à?” Nữ bá tước chớp mắt. “Tại sao?”

    Rothewell gắng nở nụ cười. “Không có lí do cụ thể, Pamela. Chúc chị một ngày tốt lành.”

    Chị họ anh phát ra tiếng sụt sịt đáng thương. “Chúng tôi đã hy vọng cậu có thể ở lại ăn tối, chí ít là thế,” bà nói, lại bắt đầu tãi những nếp gấp trên áo choàng. “Dù gì bây giờ cậu cũng chẳng có ai ở nhà để ăn cùng.”

    Rothewell cúi xuống hôn má bà. “Em là con quái vật cô độc mà,” anh trấn an bà. “Em sẽ xoay sở được.”

    Nữ bá tước nghển cổ nhìn anh, miệng mím thành một đường mỏng dính. “Nhưng cậu và Xanthia đã sống và làm việc gắn bó bên nhau ngót ba mươi năm,” bà bướng bỉnh. “Người ta có thể cô đơn cũng là điều tự nhiên, Kieran.”

    “Sống thôi, chứ không làm việc,” anh đáp, nhìn chằm chằm ra cửa, đường thoát của anh. “Xanthia là người được anh Luke của che chở, chứ không phải em. Họ giống nhau, Pamela. Em chỉ là…cái vỏ thừa.”

    Và rồi, trước khi Pamela kịp khơi lại bài thuyết phục lôi kéo của mình, Rothewell đã sải bước ra khỏi phòng.


    1 Jhon Keats: nhà thơ lãng mạn Anh thế kỉ XIX.

    2 Hippocrates: người sáng lập ra nền y học hiện đại và cũng được xem là thầy thuốc vĩ đại nhất trong thời đại của ông

    3 M.D: Doctor of Medicine: bác sĩ y khoa

    4 Nguyên văn tiếng Pháp: Mon dieu

    5 Nguyên văn tiếng Pháp: Ça alors

    6 Nguyên văn tiếng Pháp: Quoi?

    7 Nguyên văn tiếng Pháp: mon chou

    8 Nguyên văn tiếng Pháp: Oui

    9 Madame Tussauds London là một địa điểm du lịch lớn nằm ở trung tâm thành phố London của nước Anh. Nơi đây được biết đến với việc tái tạo những nhân vật nổi tiếng trên sáp.
     
    quyche, dakedo, uyenki and 1 other person like this.
  2. xinhxinhmongto

    xinhxinhmongto Mầm non

    Thế này là sao ad ơi!?
     

Chia sẻ trang này