Văn học trong nước G Nguyễn Hiến Lê - Bốn truyện ngắn (NXB Lá Bối)

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi teacher.anh, 14/7/18.

Moderators: galaxy, teacher.anh
  1. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười Thành viên BQT

    New Doc 2018-07-14_2.jpg New Doc 2018-07-14_7.jpg New Doc 2018-07-14_8.jpg New Doc 2018-07-14_9.jpg New Doc 2018-07-14_10.jpg
    TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN

    Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
    NXB: Lá Bối
    Năm xuất bản: 1970.
    Loại thể: Truyện ngắn.

    - Nguồn sách: @teacher.anh
    - Đánh máy: @teacher.anh
    - Soát lỗi, biên tập và hiệu đính: @teacher.anh
    - Soát lỗi lần 2: @vuthanhhoa89
    - Audio book:
    - Tạo eBook:
    - Review:

    Ngày hoàn thành:

    EBook này được thực hiện nhằm chia sẻ, phục vụ cộng đồng, góp phần nhỏ trong việc nâng cao dân trí, thúc đẩy văn hóa Đọc cho các bạn không có điều kiện mua sách giấy.
    Khi bạn có khả năng, hãy mua sách giấy để ủng hộ tác giả và Nhà xuất bản!


    Do chúng tôi chưa thể liên hệ được với gia đình tác giả để xin phép nên rất mong gia đình tác giả và bạn đọc thông cảm và lượng thứ.

    Cảm ơn các bạn đọc, những người giúp chúng tôi có động lực thực hiện số hóa cuốn sách này.

    Mục lục

    1. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    2. Con đường hòa bình
    3. Hoa đào năm trước
    4. Làm con nên nhớ
     
    Chỉnh sửa cuối: 14/7/18
  2. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười Thành viên BQT

    CHÁU BÀ NỘI TỘI BÀ NGOẠI

    New Doc 2018-07-14_2.jpg New Doc 2018-07-14_10.jpg

    Nói đến văn minh Việt Nam, nếp sống tình cảm Việt Nam thì dẫn hai câu tục ngữ này mà có lẽ chỉ dân tộc chúng ta mới có:
    Nhất mẹ nhì cha, thứ ba bà ngoại
    Cháu bà nội, tội bà ngoại

    Câu trên, ai cũng hiểu được: ông bà nào cũng yêu hết thảy các cháu, nhưng thường yêu cháu ngoại hơn cháu nội vì hai lẽ: trong xã hội cổ, con gái về nhà chồng, ít người được sung sướng, cực nhọc thì nhiều mà được khen thì ít, nên cha mẹ thương con gái hơn là con trai ở bên cạnh mình, mà hễ thương con thì thương cháu; lại thêm cháu ở với ông nội, bà nội, lâu lâu mới về thăm bên ngoại, nên được bên ngoại cưng, mà hai tiếng "quê ngoại" luôn luôn gợi trong tâm hồn chúng ta, những kỷ niệm cảm động mà nên thơ.
    Còn câu dưới thì phải trải qua cảnh như anh em chúng tôi hồi nhỏ, mới hiểu được hết ý nghĩa thâm thúy, chua xót.


    *
    * *

    Tôi sinh ra đời thì bà nội và ông ngoại tôi đều đã qui tiên từ lâu mà ông nội tôi cũng đã thất lộc được vài năm, nên tôi chỉ được biết có bà ngoại.
    Đời bà thật long đong, lấy lẽ một ông phủ, chưa được mười năm thì góa chồng và chỉ sanh được mỗi một người con gái. Tính bà khảng khái, không chịu được thói quan cách và có lẽ hơi khinh bạc của con chồng, bà dắt má tôi hồi đó còn nhỏ, về ở với một người em trai, làm lược để nuôi con, nhất định không lui tới họ hàng bên chồng nữa. Khi tôi đã hơi lớn, mỗi lần giỗ ông ngoại hoặc các cụ ngoại tôi, má tôi đều dắt tôi theo, nhưng tuyệt nhiên không lần nào bà ngoại tôi đi cả.
    Lược bà làm là thứ lược bí, ngày nay không còn thấy. Răng lược bằng tre cật, ngâm kỹ cho khỏi mọt, phơi thật khô rồi vót cho đều, nhỏ, mỏng, đặt cho sát nhau, chỉ hở một kẽ rất nhỏ bằng sợi tóc, sau cùng gắn lại bằng sơn. Công việc cần kiên nhẫn, khéo tay và tỉ mỉ.
    Bà sống bằng nghề đó, chật vật trong mười mấy năm, chắc nhiều lúc thiếu thốn, có lần bị cháy nhà, nhưng không hề vay mượn của ai. Má tôi và tôi được di truyền tính đó của bà: gặp những lúc nghèo túng thì thắt bụng lại, cắn răng mà chịu, không nhận sự giúp đỡ của họ hàng.
    Khi má tôi đã lớn, bắt đầu biết buôn bán thì bà tôi mới nghỉ làm lược, và ít năm sau, má tôi về nhà chồng thì ba má tôi đều mời bà về ở chung, như vậy mẹ con suốt đời không lúc nào rời nhau. Nhà tôi nghèo, không mướn người giúp việc, nên bà tôi coi việc bếp núc và săn sóc bốn anh em chúng tôi. Đứa nào cũng do bà đút cơm, bồng bế, tắm rửa cho cả, vì má tôi bận buôn bán quanh năm. Bà cực khổ nhất với tôi, vì hồi nhỏ tôi hay đau ốm. Lại thêm lúc tôi vừa mới dứt sữa, ba tôi bị Pháp nhốt ở khám lớn Hà Nội một tuần lễ để tra khảo, bắt khai tung tích hai ông bác tôi làm quốc sự đã trốn đi từ lâu. Ba tôi có biết gì đâu mà khai vì hai bác tôi tuyệt nhiên không liên lạc gì với gia đình tôi hết. Suốt tuần lễ đó, ngày ngày bà tôi bồng tôi lại khám lớn dò la tin tức, đặt tôi ngồi vào một chiếc nón ở gốc một cây me bên hông khám. Lớn lên mỗi lần đi ngang qua chỗ đó tôi lại bùi ngùi nhớ lại chuyện cũ.
    Hồi ký xa xăm nhất là năm tôi sáu tuổi. Lần đó vì mải chơi, không thuộc bài, tôi bị ba tôi nọc ra đánh. Tôi khóc lóc, van lạy, bà đương nấu bếp, vội bỏ đó, lên xin giùm cho tôi.
    Tôi được tha tội, một lát sau chạy xuống bếp, bà xoa đầu tôi hỏi:
    - Có đau không con? Lần sau nhớ học xong rồi hãy chơi nhé. Bà đã nhắc con học, mà con không nghe lời. Bà đã để dành cái này cho con này.
    Và bà chìa cho tôi một trái ô mai, không biết cất ở đâu từ hồi nào.
    Bây giờ tính lại thì tôi thấy năm đó bà mới ngoài ngũ tuần mà lưng đã khòm - có phải tại mười mấy năm ngồi vót răng lược không - và tóc đã bạc nhiều. Nước da bà sáng sủa, vẻ mặt thanh tú, thân hình nhỏ nhắn, nhưng trán thấp và ít nói, ít cười, suốt ngày cặm cụi làm việc và quanh năm quần với các cháu.
    Mấy năm đó, anh em chúng tôi tương đối sung sướng, nghĩa là nhà cửa đông đủ, hòa thuận, không đói rét, thỉnh thoảng được ăn quà, tết nhất có áo mới.
    Nhưng năm tôi tám tuổi thì ba tôi mất sau một trận đau vài tháng. Sáng sớm hôm đó bà tôi đánh thức tôi dậy, dắt tôi đi ngang qua chỗ ba tôi nằm. Mấy tuần nay, mùng của ba tôi không lúc nào vắt lên, nhìn vào thấy người nhắm mắt nằm yên, tôi tưởng người còn ngủ. Ra tới nhà ngoài rồi, bà tôi mới bảo:
    - Cậu con mất hồi gần sáng rồi. Con đương đau mắt, đừng khóc, mắt thêm sưng mà khổ đấy. Thương cậu thì cố nén đi. Hôm nay và vài hôm nữa con nằm ở nhà ngoài này. (Nhà ngoài đó là nhà của một bà cô tôi, vì ba gia đình chia nhau ở chung một ngôi nhà cổ, sâu thăm thẳm của tổ tiên để lại). Nào, nằm xuống, bà đắp thuốc cho.
    Tôi không khóc thành tiếng, nhưng thổn thức, nước mắt ứa ra.


    [...]
     
    windps thích bài này.
  3. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười Thành viên BQT

    [...]

    Hai ngày sau, đưa ba tôi tới huyệt rồi, trở về nhà, vào lúc năm sáu giờ chiều. Trời gần cuối thu, u ám, lá bàng đỏ bay lả tả dưới gió lạnh. Tôi buồn và lo, nghĩ bụng: "Mới hai tháng trước cậu còn khỏe mạnh, và mới tuần trước ông lang còn bảo bệnh sẽ hết, mà bây giờ... mình đã hóa ra con côi. Nếu rủi mẹ cũng lại đau nữa thì bốn anh em mình...! Lần đó là lần đầu tiên trong đời, tôi thấy thấm thía sự bất an toàn của kiếp người. Tôi chỉ lo thầm như vậy thôi, không dám thổ lộ ra với ai.
    Từ đó tôi quấn quít với bà hơn nữa. Suốt ngày trong nhà chỉ còn có một già và bốn trẻ.
    Ba tôi mất rồi cảnh nhà thật thảm. Tôi là anh cả mới tám tuổi, em gái út tôi mới sanh được mấy tháng. Một mình má tôi phải nuôi mẹ già và bốn đứa con nhỏ. Người còn lo lắng gấp mười, gấp trăm tôi nữa, nhưng cũng không phàn nàn, chỉ thỉnh thoảng, buổi tối, ngồi nói chuyện nhỏ với bà tôi và thở dài.
    Một phần vì phải làm việc nhiều hơn nữa để đủ chi tiêu, một phần vì về tới nhà chỉ thấy không khí lạnh lẽo, nên quanh năm người buôn bán không nghỉ, chỉ trừ ba ngày Tết, ngày Thượng nguyên, ngày Trung nguyên đi lễ Phật và hai ngày giỗ: giỗ cha và giỗ chồng.
    Cảnh của người còn vất vả hơn cảnh bà Tú Xương:

    Quanh năm buôn bán ở ven sông
    Nuôi đủ năm con với một chồng.

    vì dù sao bà Tú cũng còn chồng.
    Người ra đi từ mờ mờ đất, tối mịt mới về nhà, thành thử mọi việc trong nhà bà tôi phải đảm đương lấy hết. Lúc đó mà không có bà thì chắc anh em chúng tôi đã phải li tán, kẻ về Sơn Tây với ông bác, kẻ lại ở nhờ một bà dì mà chắc là chẳng học hành gì được cả. Thật là "Tội bà ngoại".
    Sự chi tiêu trong nhà phải rút xuống cái mức tối thiểu. Bà tôi phải chắt bóp từng đồng. Ngày nay mỗi lần đọc bài "Nhặt lá bàng" ở đầu truyện Đôi Bạn của Nhất Linh, tôi lại xúc động nhớ lại thời đó, cứ cuối thu đầu đông, có gió lớn là bà bảo tôi và em trai tôi xách một cái thúng ra của ngõ nhạt lá bàng với bà. Bà lom khom lượm một lát, lại cố đứng ngay lên, đưa tay ra phía sau, đấm đấm vào xương sống.
    Tôi bảo:
    - Bà về nghỉ đi, để chúng con nhặt một nháy mắt là đầy thúng.
    Bà mỉm cười không lượm nữa, ngồi đợi chúng tôi để cùng về.
    Một thúng lá bàng không đáng một xu, nhưng bây giờ tôi mới thấy cái lợi tinh thần thật vô cùng: nhờ sự làm lụng, gia đình đoàn kết mà vui vẻ, càng khổ cực càng thương nhau hơn.

    [...]
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/8/18
    QuangHai thích bài này.
  4. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười Thành viên BQT

    [...]

    Cuối hè, khi trái bàng chín, rụng đầy đường, chúng tôi cũng lượm về cả rổ, phơi khô lớp cùi, bửa hột ra lấy nhân ăn, béo bùi hơn đậu phọng, còn lớp vỏ cứng của hột để đun bếp, than đượm hơn than củi.

    Mấy năm sau, nhờ cần kiệm, gia đình tôi lại vượng lên một chút, anh em tôi tết lại có áo mới, riêng bà thì không chịu may sắm thêm gì cả, tới trầu cau bà cũng bỏ, nhưng trong cái hộp sắt nhỏ của bà, luôn luôn có một ít xu hào, và mỗi năm độ hai lần, vào mùa hè, tối nào thật nóng bức, thấy anh em tôi chạy chơi ở ngoài ngõ về, mồ hôi nhễ nhãi, kiếm nước vối uống thì bà bảo:

    - Đừng uống vội, bà cho cái này.

    Rồi bà mở hộp sắt nhỏ ra, chìa cho chúng tôi một đồng năm xu bằng kển:

    - Ra hàng chú khách ở bờ sông mà uống một chai nước chanh.

    Nước chanh hồi đó là thứ lemonade chứa trong một cái chai lớn hơn chai coca bây giờ một chút, trong cổ ve chỗ gần miệng có một hòn bi bằng thủy tinh trong suốt. Ngồi trên bờ đê Hồng Hà, gió thổi lồng lộng, uống nước chanh, chúng tôi cho là không sướng gì bằng, nên hớp từng hớp nhỏ một, để kéo dài thời gian, tận hưởng cái vị, vừa chua vừa ngọt vừa cay nó thấm vào miệng, lưỡi, cuống họng, rồi truyền khắp cơ thể.

    Ba tôi mất được hai năm thì má tôi cho tôi theo một người anh họ về Sơn Tây thăm quê nội. Hồi đó chưa có xe đò đi Sơn Tây, phải đi tàu thủy của hãng Bạch Thái Bưởi, hoặc ngồi xe kéo đi từng chặng một từ Ô Cầu Giấy lên Nhổn, Phùng, Sơn Tây. Lần ấy chúng tôi đi tàu thủy. Bến tàu ở ngay trước nhà. Tàu đã kéo còi mấy lần rồi mà chưa chạy. Tôi hơi sốt ruột, bỗng nhìn lên bờ, thấy bà tôi bồng em út tôi, lúp xúp chạy xuống. Tới nơi bà bảo em tôi:

    - Đưa hoa cho anh đi.

    Nó chìa cho tôi một bông lài. Thứ lài này không biết ba tôi lấy giống ở đâu, cao tới hai thước, phải cắm cọc cho nó dựa. Chỉ có một góc mà như một bụi lớn. Bông to gần bằng bông hồng, thơm thoang thoảng.

    Tôi bồng em tôi, nựng nó, nó trắng trẻo, mũm mĩm, hiền lành, rất dễ thương. Khi tàu sắp chạy, tôi đưa nó cho bà, bà bảo:

    - Con nhổ vào bàn tay nó đi cho nó khỏi nhớ.

    Tôi thấy hơi kỳ cục nhưng cũng vâng lời, chấm nước miếng quệt vào gan bàn tay nó. Rồi bà lại bồng nó, lúp xúp lên bờ, tới mặt đê ngừng lại, ngó tôi một lần cuối, nắm tay em tôi đưa lên vẫy vẫy.

    Tàu từ từ rời bến, nước mắt tôi ứa ra, lần đó là lần đầu tiên tôi xa bà. Mùa đó là mùa nước đổ, tàu chạy ngược dòng rất chậm, nhìn những đám bèo và cành cây khô trôi trên dòng nước đỏ như gạch, nhìn làng xóm đìu hiu hai bên bờ, chỗ cạn chỗ bồi, tôi buồn vô hạn. Hình ảnh bà tôi và em tôi hôm đó không bao giờ tôi quên được.

    [...]
     
    lathanhvien thích bài này.
Moderators: galaxy, teacher.anh

Chia sẻ trang này