Tác giả Nguyễn Thụy Long : Tác phẩm

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi Beringen, 18/6/21.

  1. Beringen

    Beringen Banned

    Tác gia Nguyễn Thụy Long sinh ngày 09 tháng 08 năm 1938 tại Hà Nội, nhà ở ngõ Hòa Mã (nay thuộc quận Hai Bà Trưng). Thân phụ là họa sĩ Nguyễn Thụy Nhân và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Miên.

    Năm 1952, ông theo gia đình vào Nam định cư, nhập trường Trung-học Hồ-ngọc-Cẩn, sau đó được gửi vào trường Thiếu-sinh-quân Vũng-tàu. Tuy nhiên, do ham thích hội họa nên Nguyễn Thụy Long xin chuyển sang Cao-đẳng Mỹ-thuật Gia-định. Sau khi thân phụ mất, Nguyễn Thụy Long được gọi quân dịch, làm hạ sĩ quan tiếp vận ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Nhưng đúng năm 1960, ông vô tình bị liên lụy trong vụ nhóm tướng đảo chánh cướp phi cơ đào tẩu, vì thế hạ sĩ quan Nguyễn Thụy Long bị tước quân tịch và biệt giam ở khám Chí Hòa. Kể tự bấy, ông phải về cuộc sống dân sự.

    Năm 1965, Nguyễn Thụy Long đăng báo tiểu thuyết đầu tay Vác ngà voi với bút hiệu Lan Giao. Nhưng từ các tác phẩm sau, ông chỉ dùng nguyên danh. Nhìn chung giai đoạn 1965-75, Nguyễn Thụy Long đã san hành được 30 tiểu thuyết. Ông chủ yếu cộng tác với tuần báo Ngàn Khơi của nữ sĩ Nhã Ca và nhật báo Sống của văn sĩ Chu Tử.

    Ở những năm sau Tháng Tư Đen, Nguyễn Thụy Long nằm trong số người bị quy "biệt kích văn hóa" nên phải đi tù cải tạo nhiều năm. Ông hoàn toàn "gác bút" và chỉ trở lại nghề văn năm 1991 với tác phẩm Nửa đời bóng tối. Tác phẩm cuối cùng của ông là tiểu thuyết Thìn Ma, ấn hành năm 2007. Nguyễn Thụy Long tạ thế ngày 03 tháng 09 năm 2009 tại Bệnh-viện Nhân-dân Gia-định, ở thời điểm tiểu thuyết Mả động vẫn chưa hoàn thành.

    [​IMG]

    Thời hoạt động văn nghệ năng nổ nhất của tác gia Nguyễn Thụy Long gắn liền với trào lưu hiện sinh đang tràn vào Việt Nam theo cơn lốc chiến tranh đôi miền và những tác động cực đoan của sự xung đột ý thức hệ. Vì thế, ông tập trung khai thác số phận những con người bị xã hội ruồng bỏ và luôn trong tâm trạng nửa thách đố nửa hoài nghi cuộc sống, chỉ đành đắm mình trong những truy hoan rẻ rúng...

    Cũng bởi vậy, báo giới đương thời gọi thi pháp những Nguyễn Thụy Long và Duyên Anh là loại «tiểu thuyết du đãng». Vẫn là những con người bần cùng, nhưng cái túng bấn của họ không phải ở sự kém thỏa mãn vật chất, mà trái lại, mất ý hướng để ngẩng mặt nhìn tới tương lai. Dòng văn chương này có thể coi là tiếp nối mạch sáng tác về lớp người «bụi đời» thời Đệ-nhất cộng-hòa, một phần nào là sự cách tân dòng văn chương về hạng người «dưới đáy» thời Tự-lực văn-đoàn.

    Tuy nhiên khác tác phẩm giai đoạn trước, hệ thống nhân vật trong sáng tác Nguyễn Thụy Long hay cả Duyên Anh đều không phải hạng người thấp hèn. Mà đúng ra, dù họ là nam hay nữ thì phát xuất điểm cũng thuộc giới trí thức. Vốn dĩ con người như thế phải có đường thăng tiến lồng lộng trước mắt, nhưng vì những cạm bẫy mang "khuôn mặt người yêu phố thị" nên dần sa đọa trong vũng lầy tăm tối không cách nào thoát ra.

    Nguyễn Thụy Long : "Trong đời cầm bút của tôi chưa bao giờ viết lên được một nhân vật đẹp đẽ. Tôi chỉ chuyên tìm con đường gai góc mà đi, những nhân vật ma chê quỉ hờn đã được thể hiện trên giấy".

    Ngô Nguyễn Nghiễm : "Thật ra, trong giai đoạn đầy rẫy hỗn loạn của thời kỳ thập niên 60, với nhiều sự du nhập những khuynh hướng ngoại lai, và những hiện trạng bất an trong xã hội đương thời, khiến cuộc sống phân cách theo xu hướng nhận định tự kỷ. Chính vậy, sự tách biệt nhiều thành phần trong xã hội cũng là một logic, Nguyễn Thụy Long thành công như hoàn chỉnh một luận án sâu sắc của thế giới tận cùng. Tác phẩm thành công như bước đi mới trong đoạn đường phá cách lối sáng tác với điển tích sáo mòn. Hàng chục tác phẩm liên tiếp ra đời, nối tiếp những hình ảnh sinh động trong thế giới như thế, đương nhiên Nguyễn Thụy Long trở thành một nhà văn “du đảng”, bằng phong cách viết như thế… Thật ra, người nghệ sĩ đều muốn mình có một thế giới văn phong riêng, tạo dựng cho chính sáng tác một sự sáng hóa biệt lập. Sự tự do đó giúp nhà văn xây dựng được hình ảnh đặc thù độc đáo trong văn học".

    [​IMG]

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/6/21
    LâmĐứcNhuần and dongtrang like this.
  2. Beringen

    Beringen Banned

    LOAN MẮT NHUNG

    Tiểu thuyết Loan mắt nhung được tác giả Nguyễn Thụy Long san hành năm 1967. Tác phẩm gồm 38 chương về hành trình sa vào vòng tội lỗi rồi tìm cách rời "làng đao búa" của nhân vật Loan, kẻ có biệt hiệu "mắt nhung" khét tiếng trong giới du đãng đĩ điếm ven Sài Gòn.

    Năm 1970, tác phẩm được hãng Cosunam Films chuyển thể lên màn ảnh đại vĩ tuyến. Ban đầu bị chính quyền cấm chiếu, nhưng lại được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao Giải-thưởng Văn-học Nghệ-thuật. Tự bấy trở thành cuốn phim tiêu biểu nhất về đề tài du đãng trong khoảng chục năm tại Việt Nam.

    Bản nhạc đề cùng tên vốn do nhạc sĩ Huỳnh Anh soạn cho giọng ca mới nổi Nguyễn Chánh Tín. Ngay sau đó được hãng Shotguns của nhạc sĩ Ngọc Chánh thâu dĩa với giọng ca Elvis Phương (ban Phượng Hoàng) cũng đạt doanh thu ấn tượng.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [​IMG]

    Ngô Nguyễn Nghiễm : "Thật sự, trước những tác phẩm quyết định hướng đi cho sự hòa nhập vào xã hội đen, bằng một lối rẽ phải có trong tận cùng đời sống đầy cá tính phản kháng với đời thường. Mỗi mặt trái mặt phải đều nặng nề một cương lĩnh đạo lý khác biệt. Nghĩa khí và cách trao đổi cuộc sống thắm đẫm tư duy sinh học chênh nhau như những vòng xoắn hình ống trong một không gian hình học ba chiều. Nên cách cư xử như thế thường của lý triết hủ nho không đầy được bản chất phá cách, liều lĩnh, tư duy của một xã hội tận cùng nếp sống. Nguyễn Thụy Long hoàn toàn bình tĩnh bước vào môi trường đột biến như vậy, hóa thân trong tâm thức và hành động của những con người phá cách đó. Ông thành công mãnh liệt trong hai bộ tiểu thuyết Loan Mắt Nhung và Kinh Nước Đen. Theo hồi ký viết Trên Gác Bút (NXB Văn Nghệ, California 1999), Nguyễn Thụy Long bước vào làm ký giả báo Sống của nhà văn Chu Tử, được sự khuyến khích hợp với cách viết theo trào lưu của một xã hội có thực những anh hùng của một xã hội có lối rẽ riêng. Tác phẩm Loan Mắt Nhung ra đời năm 1967, bằng hình ảnh một cậu học trò lương thiện sống tại đô thành Sài Gòn trong thập niên 60, trước những áp bức cuồng rối phủ dập tạo nên hoàn cảnh xã hội đẩy đưa trở thành du đảng nổi tiếng. Sống cuồng loạn trong một xã hội đen như một thủ lĩnh anh chị làng dao búa. Nhưng trong những phút giây bất chợt, vẫn cảm thấy cô đơn trong cuộc đời, hối hận đánh mất một thời tuổi trẻ, muốn hoàn lương bằng cách cuối cùng diệt kẻ ác rồi nộp mình cho cảnh sát. Cách viết bạch hóa sự gai góc trong cuộc đời của lớp người sống trong hoàn cảnh của xã hội đen tối".

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 18/6/21
    vinh885, chis, CanTay and 8 others like this.
  3. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Bạn muốn định dạng gì nữa? Bạn ấy đã scan cho bạn chỉ việc tải về rồi.. hay bạn lập project text hóa nó đi.
     
  4. nguyenthanh-cuibap

    nguyenthanh-cuibap Cử nhân

    Vào đây nhé bác:
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    KienPham thích bài này.
  5. Beringen

    Beringen Banned

    Các bạn thông cảm cho, mình hổng rành công nghệ nên chưa biết chuyển định dạng gì ngoài .pdf. Mong các bạn chỉ bảo cho mình tiến bộ dần vậy !
     
    KienPham thích bài này.
  6. KienPham

    KienPham Mầm non

    Bác có nhiều quyển hay quá. Toàn sách em thích. Mà pdf thì phải đọc trên ipad, tablet hay android màn to to. E cũng thấy các bạn có hướng dẫn chuyển đổi pdf sang text và ebook nhưng cũng khá phức tạp và mất thời gian. 1 mình thì khó bác ạ. Nếu có phải cần vài người hỗ trợ check lỗi chính tả...
    E cảm ơn bác nhiều. Vẫn đang theo dõi các thread của bác.
     
    Beringen thích bài này.
  7. Beringen

    Beringen Banned

    BÀ MẸ SƯƠNG-SA

    Mẹ đã già lắm, áng chừng cũng phải tám mươi tuổi. Tóc mẹ bạc trắng, còn lơ thơ ít cọng trên đầu, nhưng lúc nào cũng trùm cái khăn rằn-ri cũ vắt ngược bỏ ra phía sau đầu gọn ghẽ, lối đội khăn của phụ nữ Nam Bộ lao động, tiện lau mặt khi tươm mồ hôi hoặc lau miệng khi dính quết trầu. Mẹ móm mém, trầu cau phải nghiền nát bằng cái cối đồng nhỏ xíu, cái chày nghiền có răng, lúc nào cũng ở bên mình mẹ. Da mẹ nhăn nheo, lưng còng, mắt kém, nhưng được cái đôi tai còn thính, còn nghe rõ tiếng người gọi mua hàng. Ngần ấy tuổi với một thể lực tàn tạ, mẹ vẫn phải lao động kiếm sống, dù nhu cầu sống của mẹ chẳng là bao.

    Gánh sương sa hạt lựu nước dừa vừa lành vừa mát của mẹ mỗi ngày một nhẹ hơn, địa bàn gánh đi bán rong của mẹ cũng thu hẹp lại dần. Xưa kia mẹ gánh đi bán tận phía trên chợ Bà Chiểu, vòng ra Tân Định qua cầu Kiệu về Phú Nhuận, gần hết hàng mẹ mới trở về ấp Đông Ba, băng vào đường Thái Lập Thành (nay là đường Phan Xích Long) về khu Rạch Miễu. Nhà mẹ ở đó, trong một túp lều thảm hại. Mẹ sống cu ki một thân một mình.

    Được cái ai cũng thương mẹ, vì mẹ ở đây đã lâu năm, không mấy ai rõ từ hồi nào đến giờ, mẹ trung thành với gánh sương sa. Đã nhiều thế hệ ăn món quà giải khát vừa lành vừa mát của mẹ.

    Lối xóm không mấy ai rõ tên tuổi mẹ, họ đặt cho mẹ cái tên "bà mẹ sương sa", riết rồi thành quen. Cũng đúng với số kiếp hai sương một nắng của mẹ. Chắc chắn trong con người già nua ấy phải có một dĩ vãng. Bây giờ mẹ đi bán sương sa phải chống gậy, bởi vì một lần gánh sương sa qua cầu gỗ Trần Khánh Dư, mẹ bị té lọi giò.

    [​IMG]

    Ông thầy nắn xương La Văn Lường trong ấy Đông Ba nắn lại xương cốt miễn phí cho mẹ. Ông khuyên mẹ nghỉ ngơi, đừng lao động nữa, vì mẹ đã vượt quá tuổi lao động. Mẹ không nói gì mà chỉ gạt nước mắt. Thầy Lường hiểu hoàn cảnh của mẹ, thầy tặng mẹ Sương Sa một cây gậy trúc, một xị rượu thuốc bóp xương khi nhức mỏi. Từ ngày ấy mẹ rất đắt hàng, do khách hàng thương tình, mà cũng muốn kín đáo giúp đỡ mẹ. Gánh hàng sương sa hạt lựu vừa đủ sức, mẹ chống gậy gánh đi. Mẹ đi loanh quanh mà hàng đã hết, địa bàn bán hàng của mẹ không còn phải đi xa trong một vùng rộng nữa. Mẹ giữ cây gậy chống đến bây giờ. Cái chân thứ ba này tốt đáo để.

    Mẹ Sương Sa sống một mình trong căn lều nát, nhưng mẹ không cho mình là người cô đơn. Mẹ tất bật trong mua bán, trong việc săn sóc cái bàn thờ gỗ quý mà trên ấy thờ chồng con của mẹ. Cái bàn thờ dứt khoát phải sạch sẽ, nhang khói mỗi chiều tươm tất khi mẹ đi bán về. Ngày rằm mồng một, mẹ cúng cơm chay cho ba cha con nhà nó. Hàng năm ba buổi giỗ. Kẻ đi trước người theo sau. Còn mẹ chẳng biết sao đây, vì mẹ không có ai là thân quyến. Nhưng cũng chẳng đáng lo chi, mẹ đã quy y trên chùa, gửi linh hồn mẹ khi nằm xuống nương nhờ cửa Phật. Cả cái tủ thờ này cũng sẽ được sư phụ trụ trì cho đệ tử khiêng lên Chùa, thi hài mẹ được thiêu, nắm xương tàn của mẹ bỏ vào hũ, lại nằm trên bàn thờ này, đời đời nghe lời kinh, tiếng kệ. Sư phụ đã hứa với mẹ như thế. Nên khi rảnh rỗi, mẹ Sương Sa lại lên Chùa làm công quả. Buổi tối trước khi đi nằm, mẹ Sương Sa lau cái tủ thờ sạch bóng, bộ lư nhang sáng đẹp ánh vàng. Hai tấm hình hai đứa con trai của mẹ và tấm bài vị của ông chồng quá cố lúc nào cũng sạch bóng.

    Hai tấm hình bán thân của hai thằng con trái ngược nhau, cả hai đều bận quân phục, nhưng là quân phục của hai bên hai chế độ kình chống nhau. Mẹ biết chứ, nhưng xét nét làm chi. Chúng đều trở thành người thiên cổ như cha chúng. Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước bàn thờ là bộ ván ngựa mẹ Sương Sa nằm ngủ. Khi mệt, mẹ ngả lưng. Thường thường mỗi đêm mẹ thiếp đi lại nằm mộng thấy chồng con mẹ vẫy gọi rủ mẹ dạo chơi miền tiên cảnh. Mẹ Sương Sa tỉnh giấc sau giấc mơ, nhìn lên mái tôn mục nát có những lỗ thủng lỗ chỗ, ánh sáng ban mai chan hoà trên mái lều như ngàn vạn những vì sao.

    ✾​

    "Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm. Mái tranh nghèo ai người sửa sang. Khu vườn cũ hoa vàng trước ngõ...". Cứ nghĩ đến câu hát ấy, bà mẹ Sương Sa muốn khóc. Câu hát ấy chính thằng Bờ, con trai lớn của mẹ, và bạn nó đã hát lần về phép thăm mẹ cuối cùng. Sau đó nó ra đi và đi mãi. Mẹ đã khóc đến chảy cả máu mắt. Như lần đầu mẹ khóc chồng trên sông Cầu Bông chảy qua Thị Nghè rồi ra cửa biển.

    Khi đó, con sông cầu Bông chưa ai gọi là con kinh hay con rạch, nước đen hôi thối. Hai bên bờ sông vắng vẻ, thưa thớt nhà cửa, là những mảnh ruộng đất bỏ hoang. Đứng ở cù lao Rạch Miễu này nhìn ra tuốt Thị Nghè. Gia đình mẹ Sương Sa sống trên ghe trôi dạt từ sông nước miền Tây, đồng bằng sông Cửu Long lên. Nói là gia đình thì cũng hơi quá, vì chỉ có hai vợ chồng và một thằng nhỏ chập chững biết đi, thằng Bờ, vì khi sanh nó, anh chồng phải tắp ghe vô bờ, nhờ người ở xóm ven sông kêu mụ đỡ đẻ. Rồi cũng mẹ tròn con vuông, vợ chồng đặt tên nó là thằng Bờ. Cuộc đời mãi tưởng trôi dạt trên sông nước. Bến cuối cùng họ dừng lại ở cù lao Rạch Miễu. Anh chồng nói với chị vợ :

    - Mình đã qua biết bao nhiêu cái cầu xi măng có lính gác, cả Ta cả Tây, họ sắp đánh nhau rồi đó. Mình cũng hết sông rạch đi, phía trước kia là cửa biển. Ngoài đó có tàu chiến của giặc Pháp, đi không được, quay về cũng dở. Tao nghi ở trên cù lao này có nước ngọt, không phải nước phèn miệt Long An. Phía bên kia sông có lẽ là thành phố. Má nó lên kiểng Chùa kia xin nước đi.

    Nơi gia đình mẹ Sương Sa dừng bước lênh đênh là cù lao Rạch Miễu tỉnh Gia Định. Nhà cửa lúp xúp trong đám lá cây rập rạp kia là ấp Đông Ba. Bên kia sông là thành phố Sài Gòn, Tân Định Dakao, đất Hộ, nối qua bằng mấy cây cầu xi măng : cầu Kiệu, cầu Bông, cầu Thị Nghè.

    Tình thế sắp chiến tranh nên mấy cây cầu được canh gác cẩn mật, kỹ lưỡng, sự qua lại cũng khó khăn. Nhưng với dân bản xứ không khó khăn chi mấy. Con đường sông rạch có những chiếc ghe tam bản qua lại ở bất cứ khúc nào. Có những người chèo đò thuê, chuyên nghiệp hoặc tay ngang đều được hết.

    Anh chồng chị Sương Sa lợi dụng chiếc ghe của mình chở đò đưa khác qua lại khúc sông Cầu Bông. Anh cắm dùi làm nhà cho vợ con ở ngay cù lao ven sông. Chị vợ ra nghề bán sương sa, hạt lựu, đời sống tạm thời ổn định. Chị vợ lại có thai khi chiến tranh bắt đầu bùng nổ. Người Saigon chạy tản cư, cầu đường bị tắt nghẽn, người ta đổ xuống mé sông, những chiếc đò ngang đưa đồng bào sang bên kia bờ, nơi xa súng đạn. Địa đầu tỉnh Gia Định cũng được coi là miệt quệ chạy dài lên tận Bà Điểm, Hóc Môn hoặc Mười Tám Khu Vườn Trầu. Anh chồng chị Sương Sa bận túi bụi ngày đêm với những chuyến đò, không thuần chỉ có dân mà cả những toán du kích nhập thành phố tiếp viện cho mặt trận Sàigòn. Những chuyến đò trên sông nước cũng khá nguy hiểm, vì những chiếc ca nô tuần tiễu của giặc Pháp chạy dậy sóng, bắn thị uy vô tội vạ. Nhưng đôi khi cũng nhằm mục tiêu. Những con đò tan nát từng mảnh, người chết máu loang đỏ khúc sông trong tiếng cười say máu như say rượu của lũ lính Tây trên ca nô.

    Mẹ Sương Sa khi ấy còn trẻ lắm, bụng mang dạ chửa, gào khóc chạy như điên sau hồi súng nổ. Tiếng máy ca-nô mất hút phía hạ nguồn dòng sông. Con đò quen thuộc tan nát, chỉ còn máu đào loang đỏ, nạn nhân tán mạng, không tìm thấy xác. Chị Sương Sa gào khóc chạy dọc theo dòng sông, thằng Bờ nhỏ bé lúp xúp chạy theo mẹ cũng nhễ nhại khóc.

    - Mình ơi, mình đâu rồi, còn sống với mẹ con em không, mình ơi !

    Chỉ có gió sông vì vèo trả lời, chị Sương Sa gục ngã dưới chân cầu Bông, những xác người đã mất tăm chỉ còn những mảnh ván vụn của chiếc đò quen thuộc bập bềnh trôi về hạ nguồn. Mẹ con đành bồng bế nhau về chiếc chòi lá. Chị Sương Sa bỗng dưng thành góa phụ. Buổi tối hôm ấy, mẹ con chị Sương Sa đốt bó nhang cắm bên bờ sông van vái linh hồn chồng, van vái Phật Trời. Chị không còn nhớ mình van vái gì nữa, vì thời gian lâu quá rồi.
     

    Các file đính kèm:

    hungbc1010, vinh885, minhp and 6 others like this.
  8. nguyenhuyhung

    nguyenhuyhung Mầm non

    thì người ta chỉ xài được file mobi thì người ta nói thế, nổi nóng cái gì vậy bạn
     

Chia sẻ trang này