Văn học trong nước G Những áng văn Việt hùng tráng của muôn đời! - 'Thiên Cổ Hùng Văn'

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi tducchau, 16/10/15.

  1. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    [​IMG]

    Tựa đề:
    Tác giả:
    Dịch giả:
    Nhà xuất bản:
    Năm xuất bản:
    Loại thể:
    Số trang:
    Khổ sách:
    Loại Bìa:
    Giá Bán:
    Nguồn sách: (TVE-4U).
    Thực hiện eBook: (TVE-4U).
    Ngày hoàn thành:

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Những người tham gia:
    - Nguồn sách:
    - Scan, OCR:
    - Đánh máy:
    - Soát lỗi:
    - Biên tập và Hiệu đính:
    - Kỹ thuật vi tính:
    - Tạo eBook:

    Thực hiện theo Dự án Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của diễn đàn Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, 2015.

    Nhằm chia sẻ & phục vụ Cộng đồng! Góp phần nhỏ bé nâng cao dân trí và văn hóa Đọc cho người đọc Việt!

    Nếu Bạn có khả năng, có nguồn sách, và mong muốn bảo tồn, gìn giữ và 'chuyển giao' lại những giá trị văn hóa tuyệt vời của dân tộc, của truyền thống gia đình,... cho muôn đời sau! Hãy liên hệ và chung sức với chúng tôi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link! Xin cảm ơn!
    [​IMG]

    MỤC LỤC

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    (Khuyết Danh)


    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    (Nguyễn Trãi)

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    (Hồ Chí Minh)

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    (Trần Quốc Tuấn)
     
    Chỉnh sửa cuối: 30/10/15
    chucsontu, Mot_sach09, Rafa and 4 others like this.
  2. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]


    NAM QUỐC SƠN HÀ
    (Khuyết Danh)​


    Nguyên bản chữ Hán

    南國山河

    南 國 山 河 南 帝 居
    截 然定 分在 天 書
    如 何 逆 虜 來 侵 犯
    汝 等 行 看 取 敗 虛


    Bản phiên âm Hán-Việt

    Nam quốc sơn hà

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.​


    Bản dịch chữ Việt

    Sông núi nước Nam

    Sông núi nước Nam, vua Nam ở
    Rành rành định phận tại sách trời.
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
     
    Rafa, Cải, hhongxuan and 2 others like this.
  3. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]



    BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
    (Nguyễn Trãi)

    upload_2015-10-16_11-52-47.png

    Nguyên bản chữ Hán

    平吳大告

    代天行化皇上若曰。

    蓋聞:
    仁義之舉,要在安民,
    弔伐之師莫先去暴。
    惟,我大越之國,
    實為文獻之邦。
    山川之封域既殊,
    南北之風俗亦異。
    自趙丁李陳之肇造我國,
    與漢唐宋元而各帝一方。
    雖強弱時有不同
    而豪傑世未常乏。
    故劉龔貪功以取敗,
    而趙禼好大以促亡。
    唆都既擒於鹹子關,
    烏馬又殪於白藤海。
    嵇諸往古,
    厥有明徵。
    頃因胡政之煩苛。
    至使人心之怨叛。
    狂明伺隙,因以毒我民;
    惡黨懷奸,竟以賣我國。
    焮蒼生於虐焰,
    陷赤子於禍坑。
    欺天罔民,詭計蓋千萬狀;
    連兵結釁稔惡殆二十年。
    敗義傷仁,乾坤幾乎欲息;
    重科厚歛,山澤靡有孑遺。
    開金場塞冒嵐瘴而斧山淘沙,
    採明珠則觸蛟龍而緪腰汆海。
    擾民設玄鹿之陷阱,
    殄物織翠禽之網羅。
    昆虫草木皆不得以遂其生,
    鰥寡顛連俱不獲以安其所。
    浚生靈之血以潤桀黠之吻牙;
    極土木之功以崇公私之廨宇。
    州里之征徭重困,
    閭閻之杼柚皆空。
    決東海之水不足以濯其污,
    罄南山之竹不足以書其惡。
    神民之所共憤,
    天地之所不容。

    予:
    奮跡藍山,
    棲身荒野。
    念世讎豈可共戴,
    誓逆賊難與俱生。
    痛心疾首者垂十餘年,
    嘗膽臥薪者蓋非一日。
    發憤忘食,每研覃韜略之書,
    即古驗今,細推究興亡之理。
    圖回之志,
    寤寐不忘。
    當義旗初起之時,
    正賊勢方張之日。

    奈以:
    人才秋葉,
    俊傑晨星。
    奔走先後者既乏其人,
    謀謨帷幄者又寡其助。
    特以救民之念,每鬱鬱而欲東;
    故於待賢之車,常汲汲已虛左。

    然其:
    得人之效茫若望洋,
    由己之誠甚於拯溺。
    憤兇徒之未滅,
    念國步之遭迍。
    靈山之食盡兼旬,
    瑰縣之眾無一旅。
    蓋天欲困我以降厥任,
    故與益勵志以濟于難。
    揭竿為旗,氓隸之徒四集
    投醪饗士,父子之兵一心。
    以弱制彊,或攻人之不備;
    以寡敵眾常設伏以出奇。

    卒能:
    以大義而勝兇殘,
    以至仁而易彊暴。
    蒲藤之霆驅電掣,
    茶麟之竹破灰飛。
    士氣以之益增,
    軍聲以之大振。
    陳智山壽聞風而;褫魄,
    李安方政假息以偷生。
    乘勝長驅,西京既為我有;
    選兵進取,東都盡復舊疆。
    寧橋之血成川,流腥萬里;
    窣洞之屍積野,遺臭千年。
    陳洽賊之腹心,既梟其首;
    李亮賊之奸蠹,又暴厥屍。
    王通理亂而焚者益焚,
    馬瑛救鬥而怒者益怒。
    彼智窮而力盡,束手待亡;
    我謀伐而心攻,不戰自屈。
    謂彼必易心而改慮,
    豈意復作孽以速辜。
    執一己之見以嫁禍於他人,
    貪一時之功以貽笑於天下。
    遂靈宣德之狡童,黷兵無厭;
    仍命晟昇之懦將,以油救焚。
    丁未九月柳昇遂引兵猶邱溫而進,
    本年十月木晟又分途自雲南而來。
    予前既選兵塞險以摧其鋒,
    予後再調兵截路以斷其食。
    本月十八日柳昇為我軍所攻,計墜於支稜之野;
    本月二十日柳昇又為我軍所敗,身死於馬鞍之山。
    二十五日保定伯梁銘陣陷而喪軀,
    二十八日尚書李慶計窮而刎首。
    我遂迎刃而解,
    彼自倒戈相攻。
    繼而四面添兵以包圍,
    期以十月中旬而殄滅。
    爰選貔貅之士,
    申命爪牙之臣。
    飲象而河水乾,
    磨刀而山石鈌。
    一鼓而鯨刳鱷斷,
    再鼓而鳥散麇驚。
    決潰蟻於崩堤,
    振剛風於稿葉。
    都督崔聚膝行而送款,
    尚書黃福面縛以就擒。
    僵屍塞諒江諒山之途,
    戰血赤昌江平灘之水。
    風雲為之變色,
    日月慘以無光。
    其雲南兵為我軍所扼於梨花,自恫疑虛喝而先以破腑;
    其沐晟眾聞昇軍所敗於芹站,遂躪藉奔潰而僅得脫身。
    冷溝之血杵漂,江水為之嗚咽;
    丹舍之屍山積,野草為之殷紅。
    兩路救兵既不旋踵而俱敗,
    各城窮寇亦將解甲以出降。
    賊首成擒,彼既掉餓虎乞憐之尾;
    神武不殺,予亦體上帝孝生之心。
    參將方政,內官馬騏,先給艦五百餘艘,既渡海而猶且魂飛魄散;
    總兵王通,參政馬瑛,又給馬數千餘匹,已還國而益自股慄心驚。
    彼既畏死貪生,而修好有誠;
    予以全軍為上,而欲民之得息。
    非惟謀計之極其深遠,
    蓋亦古今之所未見聞。
    社稷以之奠安,
    山川以之改觀。
    乾坤既否而復泰,
    日月既晦而復明。
    于以開萬世太平之基,
    于以雪天地無窮之恥。
    是由天地祖宗之靈有,
    以默相陰佑而致然也!

    於戲!
    一戎大定,
    迄成無兢之功;
    四海永清,
    誕布維新之誥。

    播告遐邇,
    咸使聞知。​


    Bản phiên âm Hán-Việt


    Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết:

    Cái văn:

    Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
    Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.
    Duy ngã Đại Việt chi quốc,
    Thực vi văn hiến chi bang.
    Sơn xuyên chi phong vực ký thù,
    Nam bắc chi phong tục diệc dị.
    Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,
    Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
    Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
    Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

    Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,
    Nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong.
    Toa Đô ký cầm ư Hàm Tử quan,
    Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải.
    Kê chư vãng cổ,
    Quyết hữu minh trưng.

    Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,
    Trí sử nhân tâm chi oán bạn.
    Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân;
    Nguỵ đảng hoài gian, cánh dĩ mãi ngã quốc.
    Hân thương sinh ư ngược diệm,
    Hãm xích tử ư họa khanh.
    Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;
    Liên binh kết hấn, nẫm ác đãi nhị thập niên.
    Bại nghĩa thương nhân, càn khôn ky hồ dục tức;
    Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mỹ hữu kiết di.
    Khai kim trường, tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,
    Thái minh châu, tắc xúc giao long nhi hoàn yêu thộn hải.
    Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tịnh,
    Điễn vật chức thúy cầm chi võng la.
    Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh,
    Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kỳ sở.
    Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;
    Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ.
    Châu lý chi chinh dao trọng khốn,
    Lư diêm chi trữ trục giai không.
    Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,
    Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác.
    Thần dân chi sở cộng phẫn,
    Thiên địa chi sở bất dung.

    Dư:

    Phấn tích Lam Sơn,
    Thê thân hoang dã.
    Niệm thế thù khởi khả cộng đái,
    Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.
    Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,
    Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật.
    Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,
    Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lý.
    Đồ hồi chi chí
    Ngộ mị bất vong.
    Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi thì,
    Chính tặc thế phương trương chi nhật.

    Nại dĩ:

    Nhân tài thu diệp,
    Tuấn kiệt thần tinh.
    Bôn tẩu tiền hậu giả ký phạp kỳ nhân,
    Mưu mô duy ác giả hựu quả kỳ trợ.
    Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;
    Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.

    Nhiên kỳ:

    Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương,
    Do kỉ chi thành thậm ư chửng nịch.
    Phẫn hung đồ chi vị diệt,
    Niệm quốc bộ chi tao truân.
    Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,
    Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ.
    Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm,
    Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan.
    Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập;
    Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm.
    Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị;
    Dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỳ.

    Tốt năng:

    Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn,
    Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo.
    Bồ Đằng chi đình khu điện xế,
    Trà Lân chi trúc phá khôi phi.
    Sĩ khí dĩ chi ích tăng,
    Quân thanh dĩ chi đại chấn.
    Trần Trí, Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách,
    Lý An, Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh.
    Thừa thắng trường khu, Tây Kinh ký vị ngã hữu;
    Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương.
    Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lý;
    Tốt Động chi thi tích dã, di xú thiên niên.
    Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, ký kiêu kỳ thủ;
    Lý Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi.
    Vương Thông lý loạn nhi phần giả ích phần,
    Mã Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ.
    Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong;
    Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất.
    Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự,
    Khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô.
    Chấp nhất kỷ chi kiến, dĩ giá họa ư tha nhân,
    Tham nhất thì chi công, dĩ di tiếu ư thiên hạ.


    Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm;
    Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần.
    Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến,
    Bản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai.
    Dư tiền ký tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kỳ phong,
    Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực.
    Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngã quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dã;
    Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngã quân sở bại, thân tử ư Mã Yên chi sơn.
    Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hãm nhi táng khu,
    Nhị thập bát nhật Thượng thư Lý Khánh kế cùng nhi vẫn thủ.
    Ngã toại nghênh nhận nhi giải,
    Bỉ tự đảo qua tương công.
    Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi,
    Kỳ dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.
    Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ,
    Thân mệnh trảo nha chi thần.
    Ẩm tượng nhi hà thủy càn,
    Ma đao nhi sơn thạch khuyết.
    Nhất cổ nhi kình khô ngạc đoạn,
    Tái cổ nhi điểu tán quân kinh.
    Quyết hội nghĩ ư băng đê,
    Chấn cương phong ư cảo diệp.
    Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản,
    Thượng thư Hoàng Phúc diện phược dĩ tựu cầm.
    Cương thi tái Lạng Giang, Lạng Sơn chi đồ,
    Chiến huyết xích Xương Giang, Bình Than chi thủy.
    Phong vân vị chi biến sắc,
    Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.

    Kỳ Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ;
    Kỳ Mộc Thạnh chúng văn Liễu Thăng đại bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân.
    Lãnh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết;
    Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng.
    Lưỡng lộ cứu binh, ký bất toàn chủng nhi câu bại,
    Các thành cùng khấu, diệc tương giải giáp dĩ xuất hàng.
    Tặc thủ thành cầm, bỉ ký trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ;
    Thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.
    Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, ký độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;
    Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.
    Bỉ ký uý tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành;
    Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức.
    Phi duy mưu kế chi cực kỳ thâm viễn,
    Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn.
    Xã tắc dĩ chi điện an,
    Sơn xuyên dĩ chi cải quán.
    Càn khôn ký bĩ nhi phục thái,
    Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.
    Vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ,
    Vu dĩ tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ.
    Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu, nhi trí nhiên dã.

    Ô hô!

    Nhất nhung đại định,
    ngật thành vô cạnh chi công;
    Tứ hải vĩnh thanh,
    đản bố duy tân chi cáo.

    Bá cáo hà nhĩ,
    Hàm sử văn tri.​


    Bản dịch chữ Việt

    Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.

    Từng nghe:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
    Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
    Song hào kiệt thời nào cũng có.

    Vậy nên:

    Lưu Cung tham công nên thất bại,
    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
    Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
    Việc xưa xem xét,
    Chứng cớ còn ghi.

    Vừa rồi:

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
    Để trong nước lòng dân oán hận.
    Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
    Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
    Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
    Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
    Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
    Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
    Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
    Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
    Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
    Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
    Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
    Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
    Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
    Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
    Nặng nề những núi phu phen,
    Tan tác cả nghề canh cửi.
    Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
    Lẽ nào trời đất dung tha,
    Ai bảo thần nhân chịu được?


    Ta đây:

    Núi Lam sơn dấy nghĩa
    Chốn hoang dã nương mình
    Ngẫm thù lớn há đội trời chung
    Căm giặc nước thề không cùng sống
    Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
    Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
    Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
    Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
    Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
    Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
    Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
    Chính lúc quân thù đang mạnh.

    Lại ngặt vì:

    Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
    Nhân tài như lá mùa thu,
    Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
    Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
    Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
    Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

    Thế mà:

    Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
    Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
    Phần vì giận quân thù ngang dọc,
    Phần vì lo vận nước khó khăn,
    Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
    Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
    Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
    Ta gắng trí khắc phục gian nan.
    Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
    Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
    Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
    Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

    Trọn hay:

    Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
    Lấy chí nhân để thay cường bạo.
    Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
    Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
    Sĩ khí đã hăng
    Quân thanh càng mạnh.
    Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
    Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
    Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
    Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
    Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
    Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
    Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu
    Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
    Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
    Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
    Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
    Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
    Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ
    Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
    Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
    Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

    Bởi thế:

    Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
    Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
    Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
    Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
    Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
    Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
    Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
    Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
    Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
    Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
    Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
    Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
    Lại thêm quân bốn mặt vây thành
    Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
    Sĩ tốt kén người hùng hổ
    Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
    Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
    Voi uống nước, nước sông phải cạn.
    Đánh một trận, sạch không kình ngạc
    Đánh hai trận tan tác chim muông.
    Cơn gió to trút sạch lá khô,
    Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
    Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
    Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
    Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
    Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
    Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
    Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

    Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
    Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
    Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
    Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
    Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
    Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
    Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
    Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
    Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
    Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
    Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
    Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
    Chẳng những mưu kế kì diệu
    Cũng là chưa thấy xưa nay
    Xã tắc từ đây vững bền
    Giang sơn từ đây đổi mới
    Càn khôn bĩ rồi lại thái
    Nhật nguyệt hối rồi lại minh
    Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
    Muôn thuở nền thái bình vững chắc
    Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

    Than ôi!

    Một cỗ nhung y chiến thắng,
    Nên công oanh liệt ngàn năm
    Bốn phương biển cả thanh bình,
    Ban chiếu duy tân khắp chốn.

    Xa gần bá cáo,
    Ai nấy đều hay.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/10/15
  4. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]

    [​IMG]

    Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba đình Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á, với đồng bào cả nước và nhân dân thế giới.

    Toàn văn như sau:

    "Hỡi đồng bào cả nước,

    "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

    Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

    Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

    "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

    Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

    Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

    Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

    Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

    Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

    Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

    Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

    Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

    Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

    Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

    Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

    Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

    Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

    Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

    Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

    Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

    Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !

    Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."


    Ký tên: Hồ Chí Minh (chủ tịch),
    Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn,
    Dương Đức Hiền, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Cù Huy Cận,
    Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Trọng Khánh, Phạm Văn Đồng, Đào Trọng Kim, Vũ Đình Hòe, Lê Văn Hiến."


    (Nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ')​
     
    Rafa and teacher.anh like this.
  5. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]


    HỊCH TƯỚNG SĨ
    (Trần Quốc Tuấn)​


    Nguyên bản chữ Hán

    諭諸裨將檄文


    余常聞之
    紀信以身代死而脫高帝
    由于以背受戈而蔽招王
    蓣讓吞炭而復主讎
    申蒯断臂而赴國難
    敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍
    杲卿一遠臣也口罵禄山而不從逆賊之計
    自古忠臣義士以身死國何代無之
    設使數子區區為兒女子之態
    徒死牖下烏能名垂竹白
    與天地相為不朽哉

    汝等
    世為將種不曉文義
    其聞其說疑信相半
    古先之事姑置勿論
    今余以宋韃之事言之
    王公堅何人也
    其裨將阮文立又何人也
    以釣魚鎖鎖斗大之城
    當蒙哥堂堂百萬之鋒
    使宋之生靈至今受賜
    骨待兀郎何人也
    其裨將赤脩思又何人也
    冒瘴厲於萬里之途
    獗南詔於數旬之頃
    使韃之君長至今留名
    況余與汝等生於擾攘之秋
    長於艱難之勢
    竊見偽使往來道途旁午
    掉鴞烏之寸舌而陵辱朝廷
    委犬羊之尺軀而倨傲宰祔
    托忽必列之令而索玉帛以事無已之誅求
    假雲南王之號而揫金銀以竭有限之傥庫
    譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉

    余常
    臨餐忘食中夜撫枕
    涕泗交痍心腹如搗
    常以未能食肉寢皮絮肝飲血為恨也

    余之百身高於草野
    余之千屍裹於馬革
    亦願為之

    汝等
    久居門下掌握兵權
    無衣者則衣之以衣
    無食者則食之以食
    官卑者則遷其爵
    祿薄者則給其俸
    水行給舟陸行給馬
    委之以兵則生死同其所為
    進之在寢則笑語同其所樂
    其是
    公堅之為偏裨兀郎之為副貳亦未下爾

    汝等
    坐視主辱曾不為憂
    身當國恥曾不為愧
    為邦國之將侍立夷宿而無忿心
    聽太常之樂宴饗偽使而無怒色
    或鬥雞以為樂或賭博以為娛
    或事田園以養其家
    或戀妻子以私於己
    修生產之業而忘軍國之務
    恣田獵之遊而怠攻守之習
    或甘美酒或嗜淫聲
    脱有蒙韃之寇來
    雄雞之距不足以穿虜甲
    賭博之術不足以施軍謀
    田園之富不足以贖千金之軀
    妻拏之累不足以充軍國之用
    生產之多不足以購虜首
    獵犬之力不足以驅賊眾
    美酒不足以沈虜軍
    淫聲不足以聾虜耳
    當此之時我家臣主就縛甚可痛哉
    不唯余之采邑被削
    而汝等之俸祿亦為他人之所有
    不唯余之家小被驅
    而汝等之妻拏亦為他人之所虜
    不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵
    而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘
    不唯余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存
    而汝等之家清亦不免名為敗將矣
    當此之時汝等雖欲肆其娛樂
    得乎

    今余明告汝等
    當以措火積薪為危
    當以懲羹吹虀為戒
    訓練士卒習爾弓矢
    使
    人人逄蒙家家后羿
    購必烈之頭於闕下
    朽雲南之肉於杲街
    不唯余之采邑永為青氈
    而汝等之俸祿亦終身之受賜
    不唯余之家小安床褥
    而汝等之妻拏亦百年之佳老
    不唯余之宗廟萬世享祀
    而汝等之祖父亦春秋之血食
    不唯余之今生得志
    而汝等百世之下芳名不朽
    不唯余之美謚永垂
    而汝等之姓名亦遺芳於青史矣
    當此之時汝等雖欲不為娛樂
    得乎

    今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略
    汝等
    或能專習是書受余教誨是夙世之臣主也
    或暴棄是書違余教誨是夙世之仇讎也

    何則
    蒙韃乃不共戴天之讎
    汝等記恬然不以雪恥為念不以除凶為心
    而又不教士卒是倒戈迎降空拳受敵
    使平虜之後萬世遺羞
    上有何面目立於天地覆載之間耶

    故欲汝等明知余心因筆以檄云


    Bản phiên âm Hán-Việt

    Dụ chư tỳ tướng hịch văn


    Dư thường văn chi:
    Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế;
    Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương.
    Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù;
    Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn.
    Kính Đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi;
    Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế.
    Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi ?
    Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái,
    Đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch,
    Dữ thiên địa tương vi bất hủ tai!

    Nhữ đẳng
    Thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa,
    Kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán.
    Cổ tiên chi sự cô trí vật luận.
    Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi:
    Vương Công Kiên hà nhân dã ?
    Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã ?
    Dĩ Điếu Ngư tỏa tỏa đẩu đại chi thành,
    Đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong,
    Sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ!
    Cốt Đãi Ngột Lang hà nhân dã ?
    Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dã ?
    Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ,
    Quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh,
    Sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh!
    Huống dư dữ nhữ đẳng, Sinh ư nhiễu nhương chi thu;
    Trưởng ư gian nan chi thế.
    Thiết kiến ngụy sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ.
    Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình;
    Ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ.
    Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu;
    Giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng hố.
    Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dã tai?

    Dư thường
    Lâm xan vong thực, Trung dạ phủ chẩm,
    Thế tứ giao di, Tâm phúc như đảo.
    Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhứ can ẩm huyết vi hận dã.
    Tuy
    Dư chi bách thân, cao ư thảo dã;
    Dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách,
    Diệc nguyện vi chi.

    Nhữ đẳng
    Cửu cư môn hạ, Chưởng ác binh quyền.
    Vô y giả tắc ý chi dĩ y;
    Vô thực giả tắc tự chi dĩ thực.
    Quan ti giả tắc thiên kỳ tước;
    Lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng.
    Thủy hành cấp chu; Lục hành cấp mã.
    Ủy chi dĩ binh, tắc sinh tử đồng kỳ sở vi;
    Tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc.
    Kỳ thị
    Công Kiên chi vi thiên tì, Ngột Lang chi vi phó nhị, Diệc vị hạ nhĩ.

    Nhữ đẳng
    Tọa thị chủ nhục, tằng bất vi ưu;
    Thân đương quốc sỉ, tằng bất vi quý.
    Vi bang quốc chi tướng, thị lập di tú nhi vô phẫn tâm;
    Thính thái thường chi nhạc, yến hưởng ngụy sứ nhi vô nộ sắc.
    Hoặc đấu kê dĩ vi lạc; Hoặc đổ bác dĩ vi ngu.
    Hoặc sự điền viên dĩ dưỡng kỳ gia;
    Hoặc luyến thê tử dĩ tư ư kỷ.
    Tu sinh sản chi nghiệp, nhi vong quân quốc chi vụ;
    Tứ điền liệp chi du, nhi đãi công thủ chi tập.
    Hoặc cam mỹ tửu; Hoặc thị dâm thanh.
    Thoát hữu Mông Thát chi khấu lai,
    Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp;
    Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu.
    Ðiền viên chi phú, bất túc dĩ thục thiên kim chi khu;
    Thê noa chi lụy, bất túc dĩ sung quân quốc chi dụng.
    Sinh sản chi đa, bất túc dĩ cấu lỗ thủ;
    Liệp khuyển chi lực, bất túc dĩ khu tặc chúng.
    Mỹ tửu bất túc dĩ trấm lỗ quân;
    Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ.
    Ðương thử chi thời, Ngã gia thần chủ tựu phọc, Thậm khả thống tai!
    Bất duy dư chi thái ấp bị tước,
    Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc vi tha nhân chi sở hữu;
    Bất duy dư chi gia tiểu bị khu,
    Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc vi tha nhân chi sở lỗ;
    Bất duy dư chi tổ tông xã tắc, vi tha nhân chi sở tiễn xâm,
    Nhi nhữ đẳng chi phụ mẫu phần mộ, diệc vi tha nhân chi sở phát quật;
    Bất duy dư chi kim sinh thụ nhục, tuy bách thế chi hạ, xú danh nan tẩy, ác thụy trường tồn,
    Nhi nhữ đẳng chi gia thanh, diệc bất miễn danh vi bại tướng hĩ!
    Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục tứ kỳ ngu lạc,
    Đắc hồ?

    Kim dư minh cáo nhữ đẳng,
    Đương dĩ thố hỏa tích tân vi nguy;
    Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới.
    Huấn luyện sĩ tốt; Tập nhĩ cung thỉ.
    Sử
    Nhân nhân Bàng Mông; Gia gia Hậu Nghệ.
    Cưu Tất Liệt chi đầu ư Khuyết hạ;
    Hủ Vân Nam chi nhục ư Cảo nhai.
    Bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên,
    Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc chung thân chi thụ tứ;
    Bất duy dư chi gia tiểu đắc an sàng nhục,
    Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc bách niên chi giai lão;
    Bất duy dư chi tông miếu vạn thế hưởng tự,
    Nhi nhữ đẳng chi tổ phụ diệc xuân thu chi huyết thực;
    Bất duy dư chi kim sinh đắc chí,
    Nhi nhữ đẳng bách thế chi hạ, phương danh bất hủ;
    Bất duy dư chi mỹ thụy vĩnh thùy,
    Nhi nhữ đẳng chi tính danh diệc di phương ư thanh sử hĩ.
    Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục bất vi ngu lạc,
    Đắc hồ!

    Kim dư lịch tuyển chư gia binh pháp vi nhất thư, danh viết Binh thư yếu lược.
    Nhữ đẳng
    Hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dã;
    Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dã.

    Hà tắc?
    Mông Thát nãi bất cộng đái thiên chi thù,
    Nhữ đẳng ký điềm nhiên, bất dĩ tuyết sỉ vi niệm, bất dĩ trừ hung vi tâm,
    Nhi hựu bất giáo sĩ tốt, thị đảo qua nghênh hàng, không quyền thụ địch;
    Sử bình lỗ chi hậu, vạn thế di tu,
    Thượng hữu hà diện mục lập ư thiên địa phú tái chi gian da ?

    Cố dục nhữ đẳng minh tri dư tâm, Nhân bút dĩ hịch vân.


    Bản dịch chữ Việt

    Hịch Tướng Sĩ
    "Ta thường nghe: Kỷ Tín lấy thân chết thay, cứu thoát được vua Cao-đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở được vua Chiêu-vương; Dự Nhượng nuốt than để trả thù cho thầy; Thân Khoái chặt tay để gánh nạn cho nước; Uất Trì Cung một viên tướng nhỏ, còn biết che đỡ Đường-chủ, ra khỏi vòng vây của Thế Sung; Nhan Cảo-Khanh là bầy tôi xa, còn biết mắng chửi Lộc Sơn, không nghe lời dụ của nghịch-tặc. Từ xưa, những bậc trung-thần nghĩa-sĩ, lấy thân theo nước, đời nào là không có đâu? Nếu mấy người kia, chăm chăm học thói dút-dát của con gái trẻ con, chẳng qua cũng đến chết dũ ở dưới cửa sổ, đâu được ghi tên vào trong thẻ tre lụa trắng, danh tiếng cùng trời đất cùng lâu bền?

    Các người đời đời là con nhà võ, không biết chữ nghĩa, nghe những chuyện ấy, thảy đều nửa tin nửa ngờ. Thôi thì những việc cổ xưa, hãy để đó không nói đến nữa. Nay ta hãy đem chuyện nước Tống, giống Thát(là chuyện gần đây) kể cho các người cùng nghe: Vương công Kiên là người gì? Nguyễn văn Lập tỳ-tướng của y lại là người gì, chỉ có vòng thành Điếu-ngư nhỏ bằng cái đấu hai người ấy chống nổi toán quân trăm vạn của Mông-kha, khiến cho con dân nước Tống, đến nay hãy còn nhớ ơn. Đường ngột Ngại là người gì? Xích tu Tư tỳ-tướng của y lại là người gì? xông pha lam-chướng trên đuờng muôn dặm, hai người ấy đánh được quân Nam-chiếu trong vài tuần, khiến cho vua chúa giòng Thát nay còn để tiếng!

    Huống chi ta với các ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lên nhằm khi khó nhọc, chính mắt ngó thấy sứ ngụy đi lại, đường xá nghẽn-ngang, chúng múa cái lưỡi cú quạ làm nhục chốn triều-đình, chúng giơ cái thân chó dê, kiêu ngạo với quan tể-phụ; chúng nhờ mệnh lệnh của chúa Mông-Cổ, mà đòi nào ngọc nào lụa, sự vòi vĩnh thật vô cùng; chúng mượn danh hiệu của vua Vân-nam mà hạch nào bạc nào vàng; của kho đụn đã hồ hết Cung-đốn cho chúng giống như đem thịt mà liệng cho cọp đói, sao cho khỏi lo về sau?

    Ta thường thì tới bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mép, tấm lòng đau như bị đâm, vẫn lấy cái sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu của chúng làm tức. Dẫu cho một trăm cái thân của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, một nghìn cái thân của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy. So với Công Kiên làm chức thiên-lý, Ngột Ngại ở ngôi phó nhị, có khác gì đâu.

    Thế mà các ngươi thấy chủ bị nhục chẳng lấy làm lo, gặp nước bị dơ chẳng lấy làm thẹn, làm tướng nhà nước phải hầu mấy đứa chum mường, mà không có lòng căm hờn, nghe khúc nhạc thờ đem thết một tên ngụy sứ, mà không có vẻ tức giận; kẻ thì chọi gà cho thích, kẻ thì đánh bạc mua vui, có người chỉ chăm vườn ruộng, cốt nuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lo làm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay.

    Một khi giặc Mông đến nơi, thì cựa con gà nòi không thể đâm thủng áo-giáp của giặc; thuật ở bàn bạc không thể đem làm mưu mẹo ở trong quân; vườn ruộng tuy giàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẳn, trong đám ba quân khó dùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe, không thể đuổi được quân thù, rượu ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủ làm cho giặc phải điếc; lúc đó thầy trò ta sẽ cùng bị trói, đáng đau đớn biết chừng nào! Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia- quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng. Đã đến khi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, được chăng?

    Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ. Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, bêu đầu Tất-Liệt dưới cửa khuyết, ướp thịt Thoát-Hoan trong trại rơm. Như thế chẳng những là thái-ấp của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng-lộc các ngươi cũng được suốt đời hưởng thụ; chẳng những gia- quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông-miếu ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền; chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiêng thơm trong sử xanh. Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, được chăng?

    Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách “Binh-thư yếu-lược”. Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy? Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời, thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ. Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc. Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở? Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch."
     
    Rafa, vqsvietnam and teacher.anh like this.
  6. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Dịch như trên làm cho nhiều người hiểu nhầm rằng tổ kiến là nguyên nhân gây ra vỡ đê. Thế là ý của hai câu không gắn gì với nhau, thậm chí cách nhau rất xa. Bởi vì câu trên đang so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch, mà câu dưới lại nói về tổ kiến phá hoại đê điều. Về chỗ này, quyển Văn 10 tập I, trang 108 chú giải như sau: "Câu này nguyên văn có nghĩa là: đào tổ kiến sụp ở con đê đổ, nổi gió mạnh ở đống lá khô. Ý nói: ta đánh cho giặc thua như việc quét lá khô, như việc đánh sụp đê núng". Đọc đoạn giải thích trên, chúng ta cảm thấy vô cùng tối nghĩa, rối rắm, khó hiểu. Phải chăng mục đích của việc "đào tổ kiến sụp ở con đê đổ" là để "đánh sụp đê đã núng?" Như vậy thì phá đê để làm gì? Hai câu này đã khó hiểu, chú giải của sách giáo khoa lại còn khó hiểu hơn. Chúng ta phải trở về nguyên tác để xem Nguyễn Trãi nói như thế nào.

    Hai câu này, nguyên văn bằng chữ Hán như sau:

    決 潰 蟻 於 崩 堤,
    振 剛 風 於 稿 葉。

    (Quyết hội nghĩ ư băng đê
    Chấn cương phong ư cảo diệp)​

    Nghĩa là "(giống như) (nước lũ) chảy vào tổ kiến ở nơi đê vỡ, cơn gió to thổi vào đám lá khô".

    Qua hai vế của câu văn biền ngẫu này, Nguyễn Trãi so sánh nghĩa quân Lam Sơn mạnh như một dòng nước lũ (Nhất thủy nhì hỏa - Tục ngữ), quân giặc giống như một tổ kiến ở nơi đê vỡ. Dòng nước lũ sẽ cuốn phăng tổ kiến, nhấn chìm lũ kiến, không thấy dấu vết gì cả. Tương tự như vậy, ở câu dưới tác giả Bình Ngô đại cáo so sánh quân ta mạnh như một luồng gió to, quân Minh rời rạc, không có sức sống như một đám lá khô. Cơn gió to (cơn bão) thổi tung, làm tan tác đám lá khô là điều vô cùng hiển nhiên, ai cũng hiểu được, thấy được. Nguyễn Trãi đã khéo chọn hai hình ảnh sinh động và chính xác để so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch ở vào giai đoạn cuối - giai đoạn tổng tiến công ào ào như vũ bão của nghĩa quân Lam Sơn khiến chúng ta đọc lên cảm thấy vô cùng sảng khoái, sung sướng, tự hào về những chiến công oai hùng của tổ tiên ta trong sự nghiệp bình Ngô. Hai câu sau nếu được dịch là:

    Cơn gió to quét sạch là khô
    Dòng lũ lớn cuốn phăng tổ kiến

    Dịch như thế ý của hai câu đối nhau, gắn bó với nhau, trở nên sáng sủa, dễ hiểu hơn, không gây ra hiểu nhầm như trước nữa. Mặt khác, khi nói: "trút sạch lá khô" hàm ý là khô còn bám ở trên cây. Còn nói "quét sạch lá khô" hàm ý lá khô đã rụng xuống mặt đất, làm tăng thêm thất bại thảm hại của quân giặc, dẫn đến so sánh ngầm rằng coi quân giặc giống như một thứ rác rưởi bẩn thỉu đã làm ô nhiễm giang sơn gấm vóc của nhân dân ta trong 20 năm (1407-1427).

    Câu này làm cho người đọc khó hiểu hoặc hiểu nhầm rằng sông nước Việt Nam khóc nghẹn ngào trước cảnh tượng quân giặc chết nhiều. Hiểu như thế thì vô lý và tác hại vô cùng, bởi vì vô hình trung đã quy kết Nguyễn Trãi đã đánh mất lập trường dân tộc. Sông nước Việt Nam chỉ khóc nghẹn ngào trước cái chết của những người hy sinh vì dân vì nước chứ sao lại khóc nghẹn ngào trước cái chết của quân thù? Trong câu trên "nước sông nghẹn ngào tiếng khóc" quả thật là khó hiểu. Câu đó, Nguyễn Trãi viết:

    冷 溝 之 血 杵 漂,江 水 為 之 嗚 咽​

    (Lãnh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết).​

    Nghĩa là: "Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông vì thế mà chảy ào ào". Nguyên nhân dịch khó hiểu như trên là do từ "ô-yết" ở nguyên tác được hiểu chưa đúng. Theo 3 quyển từ điển của Trung Quốc là Từ Hải, Từ Nguyên và Quốc ngữ thì từ "ô yết" có hai nghĩa:

    Nghĩa thứ nhất là tiếng khóc bị tắc nghẽn ở cuống họng. Ta có thể dịch là "nghẹn ngào", "nức nở". Nghĩa thứ hai là từ tượng thanh, hình dung tiếng nước chảy. Ta có thể dịch là "ào ào", "ầm ầm". Có thể lý giải chỗ này như sau: Tại suối Lãnh Câu, quân giặc chết nhiều, máu chảy xiết làm trôi cả chày giã gạo. Máu giặc đổ dồn từ suối ra sông làm cho nước sông dâng cao như một cơn lũ đột ngột. Nước sống vì thế mà chảy ào ào. Bình thường, nước sông ít khi mà chảy ào ào. Nhân đây, câu trên có thể sửa lại như sau:

    "Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông ào ào sóng đỏ.
    Thành Đan Xá thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen".​

    Dịch như trên sẽ làm cho câu thơ sáng sủa, không gây ra khó hiểu hoặc hiểu nhầm như trước, vừa đối chỉnh hơn, lại diễn đại được cảnh tượng quân giặc chết nhiều ở hai trận: Lãnh Câu và Đan Xá.
     
    Chỉnh sửa cuối: 2/11/15
    chucsontu and tducchau like this.

Chia sẻ trang này