Quang Dũng với Đôi Mắt Người Sơn Tây ,và Tây Tiến.

Thảo luận trong 'Tủ sách Thi ca' bắt đầu bởi lichan, 14/11/13.

Moderators: Ban Tang Du Tử
  1. lichan

    lichan Lớp 12

    Quang Dũng với Đôi Mắt Người Sơn Tây ,và Tây Tiến.

    Đôi Mắt Người Sơn Tây
    Tác giả: Quang Dũng

    Em ở thành Sơn chạy giặc về
    Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
    Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
    Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

    Vầng trán em mang trời quê hương
    Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
    Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
    Em đã bao ngày em nhớ thương?

    Mẹ tôi, em có gặp đâu không
    Bao xác già nua ngập cánh đồng
    Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ
    Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông!

    Từ độ thu về hoang bóng giặc
    Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn!
    Đất đá ong khô nhiều suối lệ
    Em đã bao ngày lệ chứa chan?

    Đôi mắt người Sơn Tây
    U ẩn chiều lưu lạc
    Buồn viễn xứ khôn khuây
    Tôi gửi niềm nhớ thương
    Em mang giùm tôi nhé
    Ngày trở lại quê hương
    Khúc hoàn ca rớm lệ

    Bao giờ trở lại làng Bương Cấn
    Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
    Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
    Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

    Bao giờ tôi gặp em lần nữa
    Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca
    Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
    Còn có bao giờ em nhớ ta?


    Tây Tiến
    Tác giả: Quang Dũng

    Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
    Heo hút cồn mây súng ngửi trời
    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa
    Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
    Chiều chiều oai linh thác gầm thét
    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

    Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
    Kìa em xiêm áo tự bao giờ
    Khèn lên man điệu nàng e ấp
    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
    Có nhớ dáng người trên độc mộc
    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

    Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
    Quân xanh màu lá dữ oai hùm
    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ
    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
    Áo bào thay chiếu anh về đất
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    Tây tiến người đi không hẹn ước
    Đường lên thăm thẳm một chia phôi
    Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


    Phù Lưu Chanh , 1948

    Đôi Bờ
    Tác giả: Quang Dũng

    Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
    Sông xa từng lớp lớp mưa dài
    Mắt kia em có sầu cô quạnh
    Khi chớm heo về một sớm mai

    Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
    Bên này em có nhớ bên kia
    Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
    Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề

    Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
    Ðêm đêm sông Ðáy lạnh đôi bờ
    Thoáng hiện em về trong đáy cốc
    Nói cười như chuyện một đêm mơ

    Xa quá rồi em người mỗi ngả
    Bên này đất nước nhớ thương nhau
    Em đi áo mỏng buông hờn tủi
    Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?


    Trắc Ẩn
    Tác giả: Quang Dũng

    Chưa gặp sao đành thương nhớ nhau?
    Đòi phen số mệnh cũng cơ cầu
    Người đi mang nửa hồn đơn lẻ
    Tôi về hoài vọng một đôi câu

    Khói thuốc chiều sông, hỡi dáng người!
    Phương nào đôi mắt ngó xa xôi
    Nào ai biết được niềm u ẩn
    Từng lắng nhiều trong những mảnh đời

    Tôi viết chiều nay, chiều tưởng vọng
    Làm thơ mình lại tặng riêng mình
    Sông trôi luống gợi dòng vô hạn
    Biền biệt ngày xanh xa ngày xanh

    Thời đại bao lần khô nước mắt
    Hoa đèn riêng gửi chút tâm tư
    Ngắn dài đã học người thiên cổ
    Vạn đại sầu lên chẳng bến bờ

    Chiều ấy em về thương nhớ ai?
    Tôi chắc đường đi đã rất dài
    Tim tím chiều hôm lên bóng núi
    Dọc đường mờ những cánh hoa phai.

    Một chút linh hồn nhỏ
    Đi về chân núi xanh
    Màu tím chiều chầm chậm
    Hoàng hôn nghe một mình

    Giáo đường chuông rời rạc
    Tan vỡ nhiều âm thanh
    Một chút linh hồn nhỏ
    Đi về chân núi xanh

    1949

    Lính Râu Ria
    Tác giả: Quang Dũng

    Khuya khoắt bờ sông vắng
    Lửa hồng quán tản cư
    Lính mấy chàng vất vả
    Tìm sống một đêm thơ

    Một anh gọi cà-phê
    Một người kêu thuốc lá
    Một anh nhìn sau trước
    “Chị ơi ly rượu nhỏ”

    Rượu nhỏ một ly thôi
    Đời lính đã kham rồi
    Một ly cho đỏ mặt
    Cho lên hương cuộc đời

    “Chị ơi! Cháu ngủ đâu?”
    Thế rồi bế con chị
    Anh lim dim cúi đầu

    Cô bé cười chúm chím
    Mắt non nhìn như sao
    Má hồng như trái mận
    Mùa đang độ ngọt ngào

    Bàn tay như rễ cây
    Bộ râu như bàn chải
    Anh hôn con người ta
    Anh ôm ghì bé mãi

    Cô bé năm tháng trời
    Anh tuổi vừa ba mươi
    Con anh giờ nơi đâu?
    Anh mỉm cười rười rượi

    Khi anh về đã xa
    Chị dọn hàng đi ngủ
    Chép miệng trong hơi chăn
    Chị buồn chi không rõ

    Khuya khoắt bờ sông vắng
    Tiếng súng rền xa xa
    Bước chân người rạo rực
    Tiếng hát chìm đêm xa

    Kênh đào, cuối thu đông 1948

    Mây Đầu Ô
    Tác giả: Quang Dũng

    Mây ở đầu ô mây lang thang
    Ôi! Chật làm sao
    Góc phố phường
    Mây ở đầu ô
    Hẹn những chân trời xa lạ
    Qua một ngọn cột đèn
    Chiều tối lại bừng con mắt đỏ
    Cành bàng mái cũ khẳng khiu
    Vườn đẹp khi mùa rụng lá
    Cành bàng lại mở tàn xanh
    Mùa hạ về theo chim sẻ
    Nhưng ta có gì
    Tự thấy những ngày không tẻ?
    Mây trắng lang thang
    Gió đuổi bời bời phố chật
    Những lớp người hai mươi tuổi
    Ca nước đập vỏ bình toong
    Khăn mặt thấm mồ hôi
    Bụi đỏ
    Bụi vàng
    Trung du bóng cọ
    Nắng đốt màu da họ
    Là nắng triền cao
    Tay sém ngấn mặt trời
    Là trời công trường xa tít tắp
    Áo ngực xanh yếm biển
    Bay bay dãi mũ Hải Quân
    Những gã hai mươi mùa xuân
    Từ đâu thổi vào thành phố?...
    Mây mùa thu
    Lọt qua trời hẹp ngõ
    Lướt nhanh qua mái ngói ba tầng
    Tiếng dương cầm...
    Ta theo tiếng nhạc
    Bay khỏi mái nhà
    Ta mê xanh thẳm
    Như cánh chim trời
    Thấy
    Mình còn sức trẻ
    Ơi! Những bạn tôi
    Vào lớp tuổi năm mươi
    Mây ở đầu ô
    Trời xanh lộng thế...

    Những Cô Hàng Xén
    Tác giả: Quang Dũng

    Rặng vải ven sông Đáy
    Um tùm bóng cuối xuân
    Sông cạn phơi lòng cát trắng
    Người qua nâng váy ôm quần
    Những gánh hàng xén bồ căng
    Má hồng thôn nữ
    Thoảng mùi thơm quê mùa
    Hơi thở ấm trầu đen rưng rức
    Mẹ già nón nhẹ bay tua

    Rặng vải um tùm quả chín
    Mòng mọng căng lên sức sống chan hòa
    Cuối xuân mây lạnh
    Đầu hạ gió đưa
    Tu hú phương nào bịn rịn

    Tu hú tu hú
    Mùa vải ven bờ
    Nơi quê hương trời xưa ấu thơ
    Mái tóc em vừa vương hương bưởi
    Chân nhẹ nhàng còn dính phấn hoa
    Thôn nào cô mới đi qua
    Gà vừa gáy sáng
    Thắt lưng đào bên sông im lặng
    Kĩu kịt đôi bồ
    Các cô hàng xén ngày xưạ

    Các cô hàng xén ngày xưa
    Gương tròn bỏ túi
    Tóc giắt hoa nhài
    Hay ngậm ngùi xem Nhị Độ Mai
    Gấp trang sách lại thương đời Cúc Hoa
    Trong bồ đủ loại Tây Du
    Chinh Đông Chinh Tây
    Bìa sơn dầu gáy mốc
    Đôi cuốn Thạch Sanh
    Một chồng Trê Cóc
    Khi gió mùa xuân
    Xanh càng tươi lộc
    Bói trang Kiều xem chuyện nhân duyên

    Tiếng trường xa đã điểm
    Đường về trường huyện xôn xao
    Các cô đôi má ửng đào
    Mấy anh lớp nhất lối nào vừa qua
    Hàng các cô
    Ngòi bút "ba la"
    Giấy tây, phẩm tím
    Mươi bó quản bút
    Thước kẻ tẩy chì
    Các anh sắp đến mùa thi
    Lúa đồng cũng sắp đến kỳ vàng hoe.

    Rặng vải quanh đường về
    Quả ngả mầu hoàng hôn đỏ sẫm
    Sóng hiu hiu chiều
    Gió mát ven đê

    Các cô hàng xén gánh về
    Tiếng cười khúc khích
    Tu hú im rồi
    Vàng nghiêng nắng chếch
    Các cô về qua sông
    Sông Đáy xuôi dài cồn cát mênh mông
    Làng bên bờ xanh mía
    Thoảng mùi hoa lan hoa nhài nhè nhẹ
    Tiếng nói xa dần
    Chiều tím cuối mùa xuân
    Sông nước trong xanh
    Những bước chân tròn cát mịn

    Hàng cau chiều phất phơ
    Diều sáo vang lên trăng sáng tỏ
    Ngõ làng rộn tiếng cười reo, chó sủa
    Hoa lan vào ngõ tối còn thơm
    Các cô hàng xén về làng

    Các cô hàng xén về làng
    Mai lại đi từ tối đất
    Cần cù nuôi mẹ nuôi em
    Những cô hàng xén tên xinh
    Đẹp như ca dao nước Việt

    1951

    Quán Bên Đường
    Tác giả: Quang Dũng

    Tôi khách qua đường trưa nắng gắt
    Nghĩ nhờ đây quán lệch tường xiêu
    Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu
    Mùa gạo đắt, đường xa, thưa khách vắng
    Em đắp chăn dầy, tóc em trĩu nặng
    Tôi mồi hôi ra ngực áo chan chan
    Hồn lính mơ qua vài sợi tóc
    Đường tản cư bao suối lạ sương ngàn
    Em mê sảng sốt hồng lên má đỏ
    Em có một mình nhà hoang vắng quá
    Mảnh chăn đào em đắp có hoa thêu
    Hàng của em chai lọ xác xơ nghèo
    Tôi nhìn lại, mảnh quần xưa đã vá
    Tôi chợt nhớ chúng ta không nhà cửa
    Em tản cư tôi là lính tiền phương
    Xa Hà Nội cùng nhau từ một thuở
    Lòng rưng rưng thương nhau qua dọc đường
    Tiền nước trả em rồi. Nắng gắt
    Đường xa xa mờ mờ núi và mây
    Hồn lính vương qua vài sợi tóc
    Tôi thương mà em đâu có hay.


    Trưa Hè
    Tác giả: Quang Dũng

    Trưa hè bỗng nhớ sông quê
    Nước xa không bóng thuyền đi đôi dòng
    Thóc nhà ai có phơi không?
    Chói chang lửa thóc sân trông bóng người
    Vại mưa in dáng mây trời
    Em soi bóng có nhớ người xa em?
    Bờ tre gió đánh lả mềm
    Thoảng say mùi ngái bên thềm ai giăng
    .
    Xa quê dầu chẳng võ vàng
    Trông mây núi nhớ mây làng về trưa

    Tháng 5, 1960

    Hồ Nam
    Tác giả: Quang Dũng

    Ai biết Hồ Nam giờ ra sao?
    Xa cách hồn quê động bóng cau
    Ðám cưới qua đò quai nón mới
    Mười năm còn tưởng bóng cô dâu

    Ai biết Hồ Nam giờ đổi thay
    Bãi sỏi gầm quanh nước réo ngày
    Em nhỏ tắm trâu chiều núi biếc
    Giờ em chiến sĩ ở đâu đây

    Ai nhớ Hồ Nam mây trắng xa
    Giây nói tham mưu giăng mọi nhà
    Tư lệnh cùng dân ăn cỗ giỗ
    Ði rồi còn nhắc mãi quân ta

    “Một hàng cau phơ phất
    Một hàng mây xa xôi
    Trong mưa chiều hiu hắt
    Buồn lắm Hồ Nam ơi!”

    Vàng cũ thời gian trang nhật ký
    Bâng khuâng y tá mắt trông người
    Chưa vào chiến dịch – quân y vắng
    Quê nhà Hà Nội dạ như khơi.

    Đêm Bạch Hạc
    Tác giả: Quang Dũng

    Có những chiếc giường lạ
    Nhìn ra mảnh sân nào
    Nửa đêm chợt thức giấc
    Thấy ta nằm ở đâu…

    Như cánh chim mỏi cánh
    Lạc vào rừng không quen
    Không chọn cành ngủ đỗ
    Nào mong gì ấm êm.

    Đêm nay đêm Bạch Hạc[1]
    Ta tạt vào nhà ai
    Nghe sông Lô cuộn nước
    Dềnh lên suốt đêm dài.

    Sớm mai rồi tiễn biệt
    Tóc đẹp nhường bâng khuâng
    Một đêm dài để nhớ
    Những người xa vô cùng.

    Mái nhà đêm Bạch Hạc
    Có nhớ người đi không?

    Chú thích
    1. Tên một làng ở tỉnh Bạch Hà, huyện Lương Sơn, phường Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây, sau thuộc tỉnh Vĩnh Yên, nay thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, chỗ sông Lô hợp với sông Thao, cách trung tâm Việt Trì 4km về phía Đông Nam


    Cố Quận
    Tác giả: Quang Dũng

    Trăng sáng sân vờn đôi bóng cau
    Ngồi đây mà gửi nhớ phương nào
    Gió mát long lanh vầng Bắc Đẩu
    Tiết hè ếch nhái rộn bờ ao.

    Ngồi đây năm năm miền ly hương
    Quê người đôi gót mỏi tha phương
    Có những chiều trăng tròn đỉnh núi
    Nhà ai chày gạo giã đêm sương

    Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran
    Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn
    Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn
    Tóc bạc trông chừng cổng héo hon.

    Ngõ trúc quanh quanh sâu bóng lá
    Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa
    Ngõ cũ không mong người trở lại
    Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa.

    Em ơi, Em ơi đêm dần vơi
    Trông về phương ấy ngóng trông người
    Trăng có soi qua đầu tóc bạc
    Nẻo chừng Cố Quận nhớ thương ời!

    Trăng sáng năm năm mùa lại mùa
    Hạ này vơi lại nhớ thu xưa
    Người đi người đi đường quạnh quạnh
    Ngày tháng thương vay kẻ đợi chờ.

    1940

    Bố Hạ
    Tác giả: Quang Dũng

    Cuối năm trên dường đi Bố Hạ
    Tháng chạp mùa cam lửa đốm vườn
    Bãi sỏi quanh co dòng nước chậm
    Cheo leo cầu tạm vắt sông Thương

    Xe ngựa bình yên leo dốc đỏ
    Cuối năm trên đường đi Bố Hạ
    Đỉnh đồi quán sậy dựng phên lau
    Ngựa dừng rủ bụi than tàu hỏa
    Đường ấp chia tay khách hỏi chào

    Cuối năm trên đường đi Bố Hạ
    Ruộng bậc thang còn trơ gốc rạ
    Rừng núi mờ xa khói trẻ trâu

    Tơi nón trung du em về đâu
    Nhớ ai trên đường đi Bố Hạ...
    Rừng xa Yên Thế hùm thiêng nằm
    Đồn cũ Phồn Xương rét cuối năm

    Râu tóc tướng quân cờ nghĩa ruổi
    Ngựa chiến băng đường dấu còn mới

    Nép bóng vườn cam đường Bố Hạ
    Mả Tây, tri huyện lập công làm
    Bia ký quân thù trận Nhã Nam

    Không Đề
    Tác giả: Quang Dũng

    Em mãi là hai mươi tuổi
    Ta mãi là mùa xanh xưa
    Những cây ổi thơm ngày ấy
    Và vầng hoa ngâu mưa thu
    Tóc anh đã thành mây trắng
    Mắt em dáng thời gian qua

    Ngày nay ngày nay
    Chuyện đẹp qua đi
    Thời gian gấp ruổi
    Còn lại chúng ta
    Em mãi là hai mươi tuổi
    Ta mãi là mùa xanh xưa
    Giữ trọn tình người cho đẹp

    Ơi! Con đường xưa
    Những mùa trút lá
    Cành bàng mồ côi
    Cổng cũ rêu phong
    Ý đợi người

    Ơi! Con đường xưa
    Men vườn ổi thơm
    Em tuổi hai mươi
    Yêu anh hào hiệp

    Bỏ em anh đi
    Đường hai mươi năm
    Dài bao chia ly
    Có những vợ chồng

    Không là trăm năm
    Mà tình thương yêu

    Sông ơi! Dài sao
    Rộng ơi! Biển cả
    Thôi em nước mắt
    Đừng rơi lã chã!

    Em mãi là hai mươi tuổi
    Ta mãi là mùa xanh xưa
    Giữ trọn tình người cho đẹp

    1970
    (Nguồn Thư Viện Online )

    TIỂU SỬ

    Quang Dũng tên thật Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội).

    Trước cách mạng tháng Tám, ông học Ban trung học trường Thăng Long. Sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học tư ở Sơn Tây.
    Ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam vào ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu.

    Năm 1947, ông được điều đi học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khoá học, ông làm Đại đội trưởng ở tiểu đoàn 212, Trung đoàn Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua đất Tây Bắc. Trong thời gian này, ông còn được cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào - Việt

    Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm Trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm Trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các hoạ sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Ông làm bài thơ Tây Tiến năm 1948 khi dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh (Hà Nam).
    Tháng 8 năm 1951, ông xuất ngũ.

    Sau 1954, ông làm Biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.

    Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Thơ của ông bị phê bình trên báo chí miền Bắc lúc đó là mang hơi hướng "tiểu tư sản", thiếu tính chiến đấu, còn ở miền Nam thì được xuất bản và phổ biến rộng rãi và được nhiều người yêu thích

    Về sau này, như những nhà thơ lớn khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,... ông mai một và mất đi trong âm thầm.
    Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 sau một thời gian dài đau ốm tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.
    Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    Đánh giá:

    Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.

    Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở (Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương).

    Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Bài Thơ Sông Hồng (1956), Rừng Biển Quê Hương (1957), Mây Đầu Ô (1986); truyện ngắn Mùa Hoa Gạo (1950); hồi ký Làng Đồi Đánh Giặc (1976)... Thơ Quang Dũng nằm giữa biên giới của thật và mơ, như khói như mây mờ mờ ảo ảo, như tiếng vọng từ chân trời nào xa vắng...

    Các bài thơ nổi tiếng:

    Bố Hạ
    Tây Tiến
    Đôi mắt người Sơn Tây
    Đôi bờ
    Quán bên đường
    Lính râu ria

    Tác phẩm đã xuất bản:

    Mùa hoa gạo (1950)
    Bài thơ sông Hồng (1956)
    Đường lên châu Thuận (1964)
    Làng Đồi đánh giặc (1976)
    Mây đầu ô (1986)
    Quang Dũng - Tác phẩm chọn lọc (1988)


    (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
     
    Last edited by a moderator: 27/5/15
    Ban Tang Du Tử thích bài này.
  2. lichan

    lichan Lớp 12

    NHÀ THƠ QUANG DŨNG, NHƯ TÔI BIẾT

    VŨ TỪ TRANG


    Hồi ấy, gia đình ông ở căn phòng gác ba ngôi nhà cuối đường Bà Triệu. Lối lên gác là cầu thang nhỏ. Đã thế, nhà đông hộ, nhiều chai lọ, rổ rá xếp dọc lối lên, thành ra cầu thang càng nhỏ hẹp. Tôi không hình dung nổi, cứ nửa đêm, ông xuống nhà xách hai thùng nước ở góc sân tầng một, dáng ông to lớn thế, đi lên làm sao được?.

    Không chỉ những người ở chung số nhà, mà cả mấy ông bà hàng xóm cũng phải khen ông chịu khó. Ngày ngày, tờ mờ sáng, đã thấy ông chạy bộ vào công viên tập thể dục. Đi tập thể dục, ông cầm theo cái bao tải cũ. Chả là, tập xong, ông quét lá khô lèn chặt bao tải to kềnh, vác về nhà làm đồ đun. Ngày đó, Hà Nội còn đun bếp dầu, than tổ ong, chứ chưa có bếp điện, bếp ga như thời nay. Nhà ông đông con, lại nghèo, lấy đâu tiền để mua đủ dầu đun. Ông quây góc nhỏ sân thượng thành cái bếp. Đến bữa, ông bà lúi húi đun nấu ở đó. Lá quét về, có lá khô lẫn lá tươi, bếp khói mù mịt, nước mắt giàn giụa. Nhưng vẫn thấy ông hồn nhiên cười. Theo ông, có lá đủ đun cơm, đã là hạnh phúc lắm rồi.

    Xong việc vặt giúp gia đình, ông tiếp tôi trên tấm phản gỗ đặt trệt trên sàn nhà. Tấm phản dùng lâu, lên nước đen bóng. Ông nói là của thừa tự. Trên tấm phản ấy, đã mấy kiếp người đi qua. Từ đời ông nội, đến cụ thân sinh ra ông, rồi ông và các con ông dùng. Ông quý tấm phản đó lắm. Nó là đồ vật xem ra có giá nhất nhà, cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nó giúp ông nằm nghỉ, ngồi uống nước, làm nơi tiếp khách. Ông thường gò lưng xuống tấm phản này làm bàn viết. Bao câu thơ, đoạn văn, tranh vẽ... mà theo ông, thì đấy là "trò chơi vui" đã được diễn ra trên tấm phản này. Của đáng tội, hồi đó thì có vẻ quý. Chứ ngày nay, xét giá trị vật chất, nó chẳng đáng bao. Mặt ván ghép đôi ghép ba, có góc hình như đã bị mọt ăn hoặc chó mèo gặm. Tuy vậy, nhớ ông, tôi lại nhớ tấm phản gỗ ấy. Không biết bây giờ, gia đình ông còn giữ được không, hay đã thất tán đường nào rồi.

    Ông mời tôi bát nước chè xanh ủ khéo. Cái bát uống nước là bát ăn cơm phân phối bao cấp. Men rất xấu, nhưng độ ấy là quý rồi. Ông có tài ủ chè xanh. Nom to lớn như ông Tây, vậy mà ông lại thích uống nước chè xanh, uống nước vối và thích ăn khoai lang, khoai sọ, hạt mít luộc. Nếu uống nước chè xanh, có thêm thanh kẹo lạc, hoặc cái kẹo bột thì sướng vô cùng. Đời người khác, nhiều thứ cao lương mỹ vị, chứ với ông, thú vui ẩm thực giản dị và đạm bạc có vậy thôi.

    Ngày ấy, Hội văn nghệ Hà Nội làm tập thơ tuyển, nhà thơ Hoài Anh đi tập hợp bài vở. Bài thơ "Những làng đi qua" của ông chép nhoè nhoẹt, được Hoài Anh mang về in vào tập thơ tuyển. Thế là bài thơ được công bố sau thời gian dài ngủ yên trong sổ tay của ông. Với ông, in hay không in, không quan trọng. Thú, thì viết. Viết cho mình đọc, là thú rồi.

    Nhờ sự ngẫu nhiên này, bạn đọc được biết thêm một tác phẩm hay của ông. Bài thơ có rất nhiều câu thần thái. Nó phác hoạ được Hà Nội những năm kháng chiến với những nét đáng yêu.

    Tôi hỏi ông với ý muốn được đọc tiếp các bài thơ khác trong sổ tay của ông. Ông cười rất lành. Ông cũng không có cả cuốn sổ tay riêng để chép thơ. Đôi ba bài thơ được ông ghi lẫn vào sổ mua gạo, mua mắm, hoặc sổ ghi công việc cơ quan. Ông lại là người không có thói quen thuộc thơ của mình. Viết thơ, viết hết mình, rồi lại quên đi. Thỉnh thoảng, bạn bè thân có chép lại, hoặc nhẩm thuộc, là lưu lại được. Ông viết văn cũng vậy, cứ dập dập xoá xoá. Viết rất kỹ. Rồi gửi báo, hoặc nhà xuất bản, chứ không lưu giữ cho mình bản nào. Ông có thú vui vẽ tranh. Vẽ sông núi, con đường, vệt nắng, con trâu, con bò ngẩn ngơ bên sườn đê... Tôi nhớ là ông có bức tranh vẽ cây gạo rất đẹp. Cây gạo già nua đứng giữa cánh đồng quạnh hiu, tưng bừng nở hoa đỏ. Xem tranh, tôi liên tưởng tới sức sống lặng lẽ, mà quyết liệt của một thân phận con người. Không biết bức tranh ấy bây giờ ở đâu? Ai giữ bức tranh này?.

    Ông vốn nghèo. Không có tiền mua sơn dầu hoặc chất liệu đắt tiền. Ông chỉ vẽ bằng bột màu, màu nước, loại chất liệu rẻ tiền cho các hoạ sỹ nghèo. Ấy thế, tranh của ông vẫn có vẻ đẹp lung linh đến lạ.
    Vẽ tranh, với ông cũng chỉ là thú chơi. Có chút gì đó tài tử. Nhưng qua tranh, đã giải toả tinh thần ông rất nhiều.

    Tôi còn nhớ, ông Thuật - một người bán sách cũ tinh đời ở Hà Nội ( giới văn chương chữ nghĩa, một thời, nhiều người biết ), có lần nói về văn thơ của ông Quang Dũng: "Cái ông ấy, viết chữ nào ra chữ ấy. Nó như kẹo bột, như nước chè xanh, đố mà lẫn được!".

    Tôi thuộc bài thơ "Mắt người Sơn Tây" từ rất lâu, trước khi được gặp ông. Bài thơ do một anh bạn làm thơ cùng quê Kinh Bắc chép tặng. Thời đó, bài thơ đâu có được in công bố. Nhưng chính với bài thơ ấy, tôi phải quyết đi tìm gặp ông. Thơ ông, đôi lúc, làm chấn động đời sống tinh thần của tôi.
    *
    * *
    Xét về sự xuất hiện trên văn đàn, có thể xếp Quang Dũng vào lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp (mặc dù, Quang Dũng là người sáng tác thơ rất sớm, từ những năm 1937 - 1938).

    Đặc điểm chung của thơ ca trong thời kỳ chống Pháp, là hào hứng phản ánh không khí sục sôi của cách mạng. Dòng chảy cách mạng đã cuốn hút mạnh mẽ cảm xúc các nhà thơ. Lý tưởng cao cả của nhà thơ là phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Với nội dung phản ánh mới mẻ, thơ ca đã có những hình thức biểu hiện mới.

    Tuy nhiên, trong những năm đầu cách mạng, thơ còn mang tính ước lệ. Thơ ca lúc này, vừa mang cảm hứng dào dạt của cách mạng thắng lợi , lại vừa mang không khí bỡ ngỡ của những con người vừa từ tăm tối choàng ra ánh sáng. Thơ giai đoạn này còn thiếu những hình ảnh cụ thể về cuộc sống và con người mới.

    Dần dần, hình ảnh người chiến sĩ ngoài mặt trận, người du kích, người dân công, bà mẹ kháng chiến, , em bé giao liên đã được ghi đậm nét trong thơ qua các thời kỳ kháng chiến. Tình quân dân, tình đồng đội , tình đồng chí, đồng bào... đã dần trở thành những đề tài thường gặp .

    Thơ thời kỳ kháng Pháp thường hướng về cái chung, cái chúng tôi, ít đề cập đến cái tôi, cái cá nhân. Trong thơ thường thấy ùng oàng súng đạn, thấy bước hành quân rầm rập, thấy tiếng hát hò... mà ít thấy nỗi niềm, tâm trạng. Cái mạnh của thơ ca thời kỳ này, là sự có mặt kịp thời, động viên cổ vũ kịp thời. Cái sôi nổi, hào hùng thì có, nhưng cái suy tư, lắng đọng thì ít.

    Ngay thời kỳ đầu xuất hiện, Quang Dũng đã tìm cho mình cách thể hiện riêng. Bên cạnh cái chúng tôi, chúng ta, nhà thơ đã mạnh dạn khai thác cái tôi cái ta. Con người cá nhân thường hiện rõ trong thơ của ông. "Tây Tiến" là bài thơ viết về cái chung, nhưng nó lại có tâm trạng rất riêng. Đó là cuộc hành quân oai hùng và gian khổ. Nhà thơ đã phác hoạ vẻ đẹp hào hùng và bi tráng, niềm vui và nỗi buồn của người chiến sĩ. Khi các nhà thơ mới chỉ khai thác vẻ đẹp hào hùng của công việc, thì Quang Dũng đã khai thác tâm lý, tình cảm của con người trước công việc.

    Ông không viết thơ chính luận, không đưa triết lý cao siêu vào thơ. Cái mạnh của thơ Quang Dũng, là cảm xúc mạnh và nồng ấm. Ngôn ngữ thơ ông giản dị, mộc mạc; nhưng lấp lánh, hào hoa. Thơ Quang Dũng là dòng thơ hướng nội. Ông ít quan tâm đến cách tân hình thức, không chủ trương tạo sự cầu kỳ rắc rối ngôn từ. Nhưng thơ ông vẫn trẻ, vẫn mới.

    Thơ Quang Dũng thường nghiêng về tả. Qua tả, để giãi bày cái tình của mình. Ông có biệt tài về tả. Bài thơ "Những làng đi qua" của ông là bức tranh thật đẹp về quê hương những ngày kháng chiến: Bằng con mắt quan sát tinh tế, chân mộc và chứa chan cảm xúc.

    Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
    Tháng chạp màn sương trùm đất nước
    Gió mùa, chết héo mạ non xanh
    Sương muối thấm vào bao đạn ướt
    Cảnh trong thơ Quang Dũng không phải là cảnh khô cứng, nó có sức sống cuồn cuộn ở bên trong:
    Những làng trung đoàn ta đi qua
    Tiếng quát dân quân đầu vọng gác
    Vàng vọt trăng non đêm tháng chạp
    Nùm rơm - khói thuốc - bạch đầu quân
    Tự vệ xách đèn chai lối xóm
    Khuya về chân khoả vội cầu ao
    Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào
    Bờ tre cây rơm thôi tịch mịch
    Vỡ lá bàng khô bước du kích

    Đây là khổ thơ tài hoa của ông. Ông là người yêu làng quê, hiểu nếp sống và tập tục của người dân các xóm làng. Nùm rơm, đèn chai, cầu ao… Đó là những vẻ đẹp của làng quê thuần Việt. Ở cái làng quê đẹp và yên bình kia, cuộc sống vẫn cuộc chảy dồn dập. Dân quân ngoài trạm gác, các cụ bạch đầu quân ngồi bên nùm rơm hút thuốc lào. Cô tự vệ đi tuần về, tay xách đèn chai (thứ đèn làm bằng thân cái chai, che gió rất tốt ) ra cầu ao khoả chân. Sau cái sôi động, dồn dập kia, vẻ đẹp thanh bình của thôn xóm lại hiện ra. Tiếng quả sung chín rơi rụng bên chiến hào. Tiếng bước chân du kích đi về trên ngõ đầy lá rụng "Vỡ lá bàng khô bước du kích". Phải thấm sâu hồn quê, thấm sâu hồn kháng chiến như thế nào, ông mới vẽ nổi bức tranh đẹp và quý như vậy.

    Những làng trung đoàn ta đi qua
    Lều chợ bay tro đêm lửa trại
    Rạ thui bò khét cổng làng sau
    Gạo thổi cơm sôi thơm ngõ ruối
    và:
    Buồng chuối tiễn quân em mới cắt
    Nhựa cây còn tuôn như sữa vắt.

    Đây là những câu thơ kỳ tài. Nó hay, không chỉ ở cái vẻ đẹp bên ngoài, mà còn bởi hồn vía bên trong các con chữ.
    Những là trung đoàn ta dừng lại
    Tiếng nêu đưa khánh dưới mưa phùn
    Hương đen ngũ quả, màu tranh Tết
    Câu đối mực tàu bay xạ ngát
    Cột nhà tre trúc giãi gan vàng
    Mang câu đối đỏ niềm son sắt.
    Sinh thời, nhắc đến "Những làng đi qua" nhà thơ Quang Dũng rất tâm đắc với hai câu:
    Chiều đến loa vang tin chiều sự
    Khêu bấc đèn con họp tiểu đoàn
    Ông thường nói: Cuộc chiến đấu ngày đó gian nan, vất vả, nhưng rất đẹp. Con người nhiệt tình, trong sáng, không biết thơ ca có thể hiện được điều ấy không?.
    *
    * *
    Bài thơ " Mắt người Sơn Tây " của ông, thấy hiện diện rất rõ cái tôi của người viết:
    Tôi từ chinh chiến cũng ra đi...
    …Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm.
    …Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ
    …Bao giờ tôi gặp em lần nữa
    …Còn có bao giờ em nhớ ta

    Bài thơ "Tây Tiến" không có một từ tôi hoặc ta nào, nhưng người đọc vẫn nhận rất rõ con người tác giả. Cái tôi và cái ta ở đây đã hoá thân trong cảm xúc, trong từng câu chữ. Một con người giàu cảm xúc, ý chí ngang tàng trước cái sống và cái chết, sự cứng rắn trước công việc và sự yếu mềm trước tình cảm... Cái tôi của tác giả, có pha màu “tiểu tư sản”, nó có đặc trưng rất riêng của Quang Dũng. Chính vì thế, ở thời điểm đó, nhiều người không chấp nhận được dòng thơ này. "Tây Tiến" của Quang Dũng, "Ngày về" của Chính Hữu, một thời đã bị phê bình mạnh mẽ, là do vậy.

    Nếu lịch sử có nhiệm vụ ghi chép sự kiện của xã hội, thì thơ ca có sứ mệnh phản ánh tâm trạng của xã hội. Nhà thơ lớn, là người phản ánh được tâm trạng xã hội trong tác phẩm của mình.
    *
    * *
    Thơ Quang Dũng rất giàu nhạc điệu, giầu nét tạo hình. Mở đầu bài "Tây Tiến", ông viết:
    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Ba câu thơ đầu là lối nói thật, giọng điệu giản dị. Nhưng câu thơ thứ tư "Mường Lát hoa về trong đêm hơi" thì thấy cái thần thái của nhà thơ. Khổ thơ tiếp theo, có âm điệu trập trùng, như nhịp đi của đoàn quân.
    (a) Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
    (b) Heo hút cồn mây súng ngửi trời
    (c) Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

    Câu thơ thứ tư của khổ thơ, như nhịp đi của đoàn quân xoải bước dài trên con đường bằng phẳng.
    (d) Nhà ai Phă Luông mưa xa khơi
    Đem giải mã khổ thơ này theo dấu bằng (-) trắc (/), thấy:

    (a) /
    (b)__
    (c)__ /
    (d)__ __ __ __ __ __ __
    Mô hình biểu thị bằng trắc của khổ thơ, như biểu đồ mặt cắt của con đường hành quân. Khi trập trùng lên xuống, lúc xoãi ra bằng phẳng, nhịp nhàng.
    Thơ Quang Dũng, mang nhiều tính lượng tượng hình.
    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
    Kìa em xiêm áo tự bao giờ
    Khèn lên mang điệu nàng e ấp
    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
    Có thấy dáng người trên độc mộc
    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

    Thơ ở đây, như hoà quyện: nhạc, hoạ và vũ điệu.
    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
    Quân xanh màu lá dữ oai hùng
    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

    Sau cái khốc liệt, dữ dội, dồn nén của chiến tranh, để rồi lại bung ra chất lãng mạn rất người của lớp bộ đội kháng Pháp. "Tây Tiến" là bài thơ ngợi ca khí phách của một lớp người dấn thân quên mình cho Tổ quốc. Đó là tráng ca về những chàng dũng sĩ có lý tưởng. Bài thơ mang phong cách riêng biệt của nhà thơ.
    *
    * *
    Sở trường của Quang Dũng, là viết thơ theo thể tự do. Trong tập thơ "Mây đầu ô" không có một bài thơ lục bát nào. Thơ của ông thường có dáng dấp thể hành, bài thơ thường dài, giọng điệu ngang tàng. "Tây Tiến" là bài thơ rõ nét nhất phong cách này.

    Ông có cách nói ngược rất duyên và tạo ra phong cách rất Quang Dũng. Ví dụ:
    Gió mùa chết héo mạ non xanh
    (Nhẽ ra, nếu nói thuận, thì :Mạ non chết héo vì gió mùa )
    Sương suối thấm vào bao đạn ướt
    (Nếu nói thuận, thì: Bao đạn thấm ướt vì sương muối).
    Tiếng quát dân quân đầu vọng gác
    (Nếu nói thuận, thì: Đầu vọng gác vang tiếng quát của dân quân).

    Câu thơ Quang Dũng thường ngắn gọn, xúc tích. Ông là người ít chú ý đến vần điệu. Nhưng thơ ông lại rất giàu hình ảnh. Hình ảnh trong thơ ông luôn gợi mở tâm trạng. Thử đọc khổ thơ “Chiều mưa núi” của ông:
    Kỳ Sơn mây kéo nặng
    Hoa trẩu rụng đầy đường
    ....
    Mưa dăng màn triền miên
    ……
    Mưa bao giờ cho yên.
    Hoặc là cảnh thu quê:
    Ngồi đây vời tưởng đường quê hương
    Lúa đã xanh xanh mấy nẻo đường
    Cốm đã thơm mùi, hồng đã chín
    Ao sau vườn cũ nước xanh trong

    Long lanh bóng núi in sông biếc
    Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu

    Tâm hồn Quang Dũng khoáng đạt. Tuy là người chỉnh chu hết mực với công việc, với gia đình, nhưng ông lại rất sợ sự gò bó, khuôn phép, máy móc. Ông là thi sĩ thích sự mênh mang, xê dịch.
    Mây ở đầu ô mây lang thang
    Ôi chật làm sao
    Góc phố phường
    Mây ở đầu ô
    Hẹn những chân trời xa lạ
    Một tâm hồn nồng hậu, luôn yêu cái đẹp bình dị:
    Xe ngựa bình yên leo dốc đỏ
    …Đình đổi quán sậy dựng phên lau
    …Tơi nón trung du em về đâu?
    "Bố Hạ"

    Có người nói thơ Quang Dũng ít tính thời sự. Nhưng thử hỏi tính thời sự trong thơ là gì? Nó là những con số, những sự kiện? Hay là những cảm xúc, trạng thái của con người mang dấu ấn xã hội trong mỗi giai đoạn? "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây", "Những làng đi qua"... chẳng đầy tính thời sự đó sao?!.

    Có người nói thơ Quang Dũng nặng về sự u buồn, hơn là cái tươi vui. Nhận định này không chính xác. Thơ Quang Dũng có bài lắng, trầm và gợi buồn. Nhưng không tiêu cực, uỷ mị. "Người ta có quyền buồn, có quyền xài cái xa xỉ ấy, nhưng không có quyền bi quan". Câu nói của Nadim Hitmét rất đúng với thơ Quang Dũng. Viết chiến tranh khốc liệt, nhưng "Tây Tiến" không bi quan, mà luôn hướng về niềm tin cao đẹp.

    Quang Dũng làm thơ rất sớm. 16 tuổi, đã sáng tác "Chiêu quân", 19 tuổi, viết "Cố quận". Nếu ông có ý thức lưu danh, gửi đăng những bài thơ này kịp thời, thì chắc ông đã được xếp vào đội ngũ các nhà thơ trước cách mạng, như Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh... Ông không được may mắn trong việc in ấn, công bố, công nhận. Viết thơ năm 16 tuổi. Nổi tiếng với bài thơ "Tây Tiến" năm 28 tuổi. Nhưng xuất bản tập thơ riêng đầu tiên "Mây đầu ô" (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1986) khi ông đã 65 tuổi. Trớ trêu thay, tập thơ này in xong, ông đã mắc bệnh nằm liệt giường, không thể đọc lại được những dòng thơ mình trên trang in, không còn ký tặng sách cho bạn bè được nữa.

    In ấn, công bố ít. Không đăng đàn diễn thuyết trước công chúng. Vậy mà thơ Quang Dũng vẫn được nhiều người biết đến.
    Nhờ không khí văn nghệ đổi mới và dân chủ, những sáng tác văn học của Quang Dũng được đánh giá lại đúng đắn và khoa học hơn. Nhà xuất bản Văn học, năm 1988, đã xuất bản tuyển tập văn thơ của Quang Dũng. Sau ngày Quang Dũng mất, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã xuất bản tập sách chuyên đề về Quang Dũng. Báo chí in nhiều bài viết về sự nghiệp sáng tác của ông theo tinh thần khách quan.
    Những tác phẩm của ông, như "Tây Tiến", " Mắt người Sơn Tây" , cũng như những bài thơ "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm, như "Mầu tím hoa sim" của Hữu Loan…một thời bị coi là thứ thơ uỷ mị, tiểu tư sản. Nhưng đến nay, người đọc càng quý trọng và đánh giá đúng giá trị của nó. Các tác phẩm này, đã được xếp hạng cùng các bài thơ hay của thời kỳ kháng Pháp, như "Tình sông núi" của Trần Mai Ninh, "Lên Cấm Sơn" của Tân Sắc, "Nhớ" của Hồng Nguyên…

    Thơ ca, vốn ngợi ca cái đẹp bất tử của con người. Đó là tình yêu, sự sống, cái chết... Tuy vậy, thơ Quang Dũng lại luôn quan tâm đến đè tài cụ thể. Một con đường mới mở, mùa trồng rừng, ngày giao quân... Những việc tưởng cụ thể và thô thiển, vậy mà vào thơ ông vẫn lung linh màu sắc. Ông ít viết thơ ngợi ca lãnh tụ. Nhưng ông lại có những khổ thơ với tình cảm thật đẹp.

    Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
    Trung ương còn đóng quanh Hà Nội
    Giầy vải Bác Hồ phơi bờ ao.

    Hiếm có nhà thơ nào viết về người lãnh tụ của dân tộc lại có cái nhìn giản dị và cao đẹp như thế. Giầy vải Bác giặt, phơi bên bờ ao, chi tiết giản đơn, nhưng vào thơ, nó đã khái quát tính cách người lãnh tụ. Quang Dũng có tài quan sát, tài phát hiện và tài biểu hiện. Nên thơ ông có nhiều câu thơ phát sáng như vậy.

    Nếu nói thơ ca hay ở giá trị chân thiện mỹ, thì thấy thơ Quang Dũng đã hướng về những giá trị đó. Ông sáng tác không chút vụ lợi. Quang Dũng không viết giả dối, không làm xiếc trên các con chữ. Ông viết bằng tấm lòng, bằng xúc cảm của ông. Chính vậy, những tác phẩm của ông đã sống với thời gian, lắng sâu trong tâm trí người đọc.

    Cuộc đời nghệ sĩ vốn chấp nhận sự thăng trầm. Trong đời sống, Quang Dũng nhiều phen chấp nhận sóng gió, chấp nhận sự không may mắn. Nhưng thơ lại ông luôn lấp lánh niềm tin trong sáng, yêu đời và lạc quan. Ham sống, ham đi, ham viết vẽ. Đó là tính cách của ông.

    Mũ hãy ngả cho nắng vàng mái tóc
    Túi bên vai trời hửng núi lên rồi
    Cột giây thép gió lùa qua rào rạo
    Hát lên đường, muôn dặm đường xa xôi.
    Quang Dũng không viết nhiều. Nhưng ông lại có nhiều tác phẩm sống vượt thời gian.
    *
    * *
    Tôi có được ở Mai Châu một đêm cuối thu. Mảnh trăng cuối tháng vằng vặc nổi chìm trong khí lạnh của núi rừng. Bản Mai Châu vẫn còn đầy vẻ thơ mộng và kỳ vĩ như bóng dáng câu thơ của ông thưở nào.

    Tôi lan man nghĩ, giá ngã ba đường vào bản Mai Châu, gắn biển chỉ đường với câu thơ Mai Châu mùa em thêm nếp xôi, hẳn làm xôn xao bao lòng du khách.

    Nhớ về ông, lại nhớ kỷ niệm ngày ông về quê tôi chơi. Làng tôi, cái làng cổ vùng Kinh Bắc với nhiều tập tục lề lối cổ và nặng nề. Mấy bác cháu đạp xe đạp về đầu làng. Những mảng tường gạch rêu, những mái ngói thâm u, những con đường lát gạch nghiêng thập thững bước chân trâu, làm xôn xao cảm xúc trong ông. Nhưng niềm hứng khởi đó chưa được mấy phút, là bất ngờ đến với cả mấy bác cháu. Vào ngõ nhỏ dẫn về nếp nhà, thấy lốn nhốn người mặc áo xô trắng, chít khăn tang trắng. Nhà tôi có tang đột ngột ư? Không phải. Đó là đám tang cụ già hàng xóm. Tập tục quê tôi, nhà có việc hiếu, là ngồi nhờ cả mấy nhà sát kẽ ngạch. Ông trưởng nam nhà đám, vốn là dân trí thức theo cách mạng từ thời kháng Pháp, thuộc nhiều thơ Quang Dũng. Được gặp nhà thơ, dù đang đứng đáp lễ bên linh cữu người mẹ, ông đã vội chạy tới vái nhà thơ Quang Dũng ba vái. Bất ngờ thấy người vái mình, nhà thơ Quang Dũng cũng khiêm nhường cúi đầu vái lại. Ông trưởng nam liền đọc mấy câu thơ của nhà thơ, mà ông thuộc từ thưở mặc áo lính:

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm…
    Giây phút ấy, mọi người và tôi đứng cạnh, cảm động vô chừng .
    V.T.T


    Bản tác giả gửi Phongdiep.net

    ( Sưu Tầm và Lưu giữ )
     
    Ban Tang Du Tử and pipopa like this.
  3. toidangki

    toidangki Mầm non

    Mắt kia em có sầu cô quạnh
    Khi chớm heo về một sớm mai...

    Thơ Quang Dũng hay quá, cảm ơn bạn lichan đã post./
     
  4. DeanN

    DeanN Mầm non

    Mạn phép bạn lichan cho tôi upload các post của bạn gộp thành 1 file pdf cho dễ đọc trong tablet

     
Moderators: Ban Tang Du Tử

Chia sẻ trang này