Tuyển tập Rồng đá, hay là Mũi uốn ván

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi Beringen, 15/6/21.

  1. Beringen

    Beringen Banned

    Trước thời điểm công bố tập truyện Rồng đá, hay là Mũi uốn ván, đôi tác giả Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai đều đã là những tác gia có tên tuổi trong giới văn bút Hà Nội. Nhưng trong quá trình gửi thủ bản tới các nhà xuất bản phía Bắc, không cơ quan nào nhận ấn hành vì nội dung được cho là "nhạy cảm" đương thời. Mãi về sau, thông qua quan hệ thân tình với văn sĩ Hòa Vang, tác phẩm gửi tới Nhà xuất bản Đà Nẵng và được ban biên tập chấp nhận. Đến tháng 06 năm 2008, tập truyện chính thức được phát hành.

    Tuy nhiên, sang đầu tháng 11 cùng năm, Vụ Thông Tin trực thuộc Bộ Thông tin Truyền thông ban hành quyết định thâu hồi ấn bản, nêu đích danh 3 thiên truyện "có vấn đề" (Âm bản chiến tranh, Vị phồn thực, Chù Mìn Phủ và tôi), nhưng lại không nêu lí do cụ thể. Một số cơ quan báo chí cũng đăng báo giấy đả kích. Đồng thời, các ông giám đốc Nguyễn Hữu Chiến và phó giám đốc Nguyễn Đức Hùng (bút danh Đà Linh) của Nhà xuất bản Đà Nẵng bị Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng đình chỉ công tác để "kiểm điểm làm rõ đúng, sai trong việc quản lý biên tập, xuất bản tập truyện Rồng Đá Hay Là Mũi Uốn Ván của hai tác giả Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai tại NXB Đà Nẵng", riêng phó giám đốc kiêm trưởng ban biên tập Nguyễn Đức Hùng bị khiển trách nặng nề ; toàn thể Nhà xuất bản Đà Nẵng cũng phải tạm dừng hoạt động để "kiện toàn lại về tổ chức và hoạt động của nhà xuất bản theo quy định của Luật xuất bản". Ngay sau đó, tác giả chính Vũ Ngọc Tiến công bố nội dung bức thư ngỏ gửi Nhà xuất bản Đà Nẵng và phó giám đốc Đà Linh, với lời trần tình và cảm thông ban biên tập.

    Ít lâu sau, trang điện tử Việt-nam Thư-quán đã xúc tiến mua bản quyền đăng miễn phí tập truyện trên diễn đàn của họ. Cũng nhân sự kiện này, trong các lần tái bản điện tử sau, sách được đổi nhan đề là Rồng đá, hay là Chù Mìn Phủ và tôi.

    [​IMG]

    Nguyên bản sách gồm 7 truyện Vũ Ngọc Tiến và 6 truyện Lê Mai, kèm bài phi lộ. Ấn bản điện tử có thêm bài Thư ngỏ gửi Nhà xuất bản Đà Nẵng của tác giả Vũ Ngọc Tiến.

    Lời Bâng Quơ

    Truyện ngắn Vũ Ngọc Tiến
    ྾ Rồng đá
    ྾ Gà ô tử mỵ
    ྾ Âm bản chiến tranh
    ྾ Vị phồn thực
    ྾ Đêm thiên thần của nhạc jazz
    ྾ Chù Mìn Phủ và tôi
    ྾ Ngoại tình tuổi năm mươi

    Truyện ngắn Lê Mai
    ྾ Cún khóc
    ྾ Cho nó có đạo đức
    ྾ Người đóng thuế
    ྾ Tìm cha trong gương
    ྾ Ngày vô vi
    ྾ Hoa tóc tiên
     
    tepriu99, congbocngheo and KienPham like this.
  2. Beringen

    Beringen Banned

    LỜI BÂNG-QUƠ

    Văn chương từ cổ đã lệch về cái đẹp : “Hồng lô nhất điểm tuyết, Thượng uyển nhất chi mai, Quảng hàn nhất phiến nguyệt” (Mạc Đĩnh Chi).
    Quả có thế nên các văn nhân, thi sĩ thường để hồn vất vưởng cành cây, thả mình trong gió - trăng - mây - tuyết... Nếu có bi thương lắm, họ cũng thường chỉ mượn chim sa, cá nhảy, nguyệt khuyết, hoa tàn mà tỏ bầy.
    Hẹn nhau từ đã lâu rằng sẽ cùng ra chung tập sách, hai đứa tôi có hiểu điều ấy không mà lại đặt tên cho sách in chung là “Mũi uốn ván” chứ không phải là “Hoa tóc tiên” (Lê Mai) hay “Vị phồn thực” (Vũ Ngọc Tiến) ?
    Ơ hay, “Mũi uốn ván” ! Văn chương gì mà thoáng đọc đã thấy sần sật như âm thanh cảm nhận được, khi nàng y tá xinh đẹp trong cơn bực bội không chích ngừa vào bắp tay, lại mắm môi phóng mũi tiêm vào mông gã trai tội nghiệp. Mũi uốn ván ! Văn chương gì không viết về y học mà đọc lên lại thấy sực nức mùi kinh nhân của ê-te, cồn thuốc...
    Theo thiển ý riêng của những người viết, mũi uốn ván chỉ là đưa một liều vacxin phòng chống uốn ván vào cơ thể người, cũng như tiêm phòng dịch hạch, thổ tả và bệnh dại cho nhân loại. Còn tập sách “Mũi uốn ván” có làm được công việc của mình không, xin cậy nhờ bạn đọc minh xét.

    [​IMG]

    THƯ-NGỎ GỬI NHÀ XUẤT-BẢN ĐÀ-NẴNG

    Trước hết, tôi xin thành thật gửi lời chia buồn tới Nxb Đà Nẵng và cá nhân anh TBT Đà Linh về sự cố vừa xảy ra với cuốn Rồng Đá (Hay là mũi uốn ván) của tôi và Lê Mai in chung (6/2008) đã có quyết định thu hồi. Sau nữa, với tư cách 1 tác giả, tôi xin có mấy lời nói thêm cho rõ về tập sách và 3 truyện ngắn của tôi bị xem là có vấn đề.
    Thứ nhất, mục đích ra tập sách này các tác giả chỉ nhằm thử nghiệm sự đổi mới tư duy, cách tiếp cận nhiều vấn đề phức tạp của cuộc sống quanh ta. Lúc đầu gồm 3 cây bút gốc gác Hà Nội, những thằng bạn thân với 3 văn phong và bút pháp khác biệt hẳn nhau là Tôi (VNT), Hòa Vang và Lê Mai, song đều có chung tâm nguyện tha thiết tự đổi mới nên rủ nhau thử nghiệm ra chung tập sách, mỗi đứa 4 truyện. Sau vì anh HV đột ngột ra đi, tôi và LM bàn nhau mỗi đứa bù thêm vào 2 truyện cho đủ con số 12 và tạm gác 4 truyện của người bạn văn quá cố, đợi sẽ in riêng vào tuyển tập sau này. Tóm lại, chúng tôi ra sách thuần túy vì mục đích học thuật thử nghiệm trong nghề viết mà thôi. Nó có thể có vài tình tiết gây xốc, nhưng nhìn nhận kỹ thì đó mới là chính cuộc sống mà như nhà mỹ học Nga thế kỷ XIX, Xec-nư-xep-xki từng viết : “Cái đẹp là cuộc sống. Một thực thể đẹp là thực thể cho ta nhìn thấy hoặc nghĩ về cuộc sống như nó vốn có”.
    Thứ hai, về 3 truyện ngắn của tôi bị xem là có vấn đề, có thể chia làm hai nhóm đề tài tuy cùng nói về chiến tranh và đều có căn cứ từ cuộc sống muôn màu của nó :
    - 2 truyện Âm bản chiến tranh, Vị phồn thực tôi viết vào giữa năm 2005, sau chuyến đi tìm mộ chú em liệt sĩ ở E572, một trung đoàn tăng-pháo kết hợp của QK5, họat động chủ yếu ở chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi. Tôi không phủ nhận sự vĩ đại của cuộc chiến chống Mỹ, càng khâm phục sự dũng cảm, sức chịu đựng phi thường của người lính, trong đó có cả em trai tôi. Song để tìm được mộ chú em hy sinh vào 8/1972, tôi đã gặp hàng trăm đồng đội cũ ở E572, cùng họ lăn lộn khắp vùng đất Quảng và may mắn gặp mặt khá nhiều nhân chứng còn sống là những người dân ở Đức Hiệp, Quế Sơn (Quảng Nam), Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Từ thực tế ấy tôi nhìn ra góc khuất của chiến tranh và đời lính khi sau mỗi trận đánh oai hùng họ quay về hậu cứ rèn cán, chỉnh quân hoặc do bị thương mà chuyển về công tác ở ATK. Nó thật khắc nghiệt và đầy rẫy những mâu thuẫn vốn là muôn thủa của cõi người. Giờ là lúc ta đủ độ lùi thời gian để nhìn nhận và phán xét bởi đôi khi vì cái góc khuất vô hình ấy mà có thể vào thời hậu chiến; người dũng cảm, lập nhiều chiến công chịu thiệt thòi ; còn kẻ gian manh, cơ hội lại thăng tiến, làm băng hoại kỷ cương xã hội, kìm hãm sự phát triển đất nước. Mạch truyện và tư tưởng tác giả là thế, còn tình tiết có đôi chỗ khốc liệt thì chuyến đi tìm mộ chú em, tôi được nghe nhiều tình tiết khốc liệt gấp bội phần hơn thế.
    - Truyện ngắn Chù Mìn Phủ và tôi đề cập đến cuộc chiến biên giới phía Bắc (1979) thì cũng lùi vào dĩ vãng ¼ thế kỷ rồi. Nó là cuộc chiến phi lý nhất trong thế kỷ XX đối với cả 2 dân tộc mà cả ta và phía bên kia đều phải nghiêm túc nhìn ra nó cần phải tránh và hoàn toàn có thể tránh được. Những thảm cảnh do cuộc chiến ấy gây ra thì nhiều lắm, khốc liệt hơn những gì tôi mô tả bởi trong chuyến đi làm phim tài liệu cho Bộ Y tế về loại trừ bệnh uốn ván vùng cao 11/2005 tôi nghe được từ các nhân chứng ở Hà Giang. Giờ ta không thể bình thản coi đó như một vụ va quyệt xe trên đường mà phải tỉnh táo và sòng phẳng với lịch sử. Tôi đã từng nghiên cứu khá kỹ văn học TQ giai đoạn 1979 - 1991, từng viết một tiểu luận khá dài về hai dòng văn học Vết thương và dòng văn học Bộc lộ của họ thời kỳ này. Nhiều nhà văn TQ trong hai dòng văn học ấy (Lương Phụng Nghi, Trương Hiền Lượng, Dư Hoa, Lưu Chấn Vân, Khâu Hoa Đông...) khi viết tiểu thuyết đã từng có đoạn nhắc tới cuộc chiến biên giới Việt-Trung với tâm trạng dày vò sâu sắc. Họ viết được, sao ta lại cứ tự hù dọa mình để rồi tảng lờ, không dám viết ? Tôi tin những người có lương tâm, trách nhiệm bên kia hay bên này biên giới đọc truyện ngắn của tôi sẽ không oán hận nhau mà chỉ càng ghê sợ chiến tranh, thiết tha muốn hai nước sống trong hòa bình hợp tác lâu dài.
    Cuối thư, một lần nữa xin chia xẻ cùng anh Đà Linh và các anh chị Nxb Đà Nẵng về sự cố đáng tiếc lẽ ra không đáng có, nhưng nó đã xảy ra và như thế nó mới lại là cuộc sống !
     
    congbocngheo and KienPham like this.
  3. KienPham

    KienPham Mầm non

    Túm lại là cụ chủ vào chia sẻ tâm sự chứ ko có chia sẻ sách ạ?
    Nếu dc chia sẻ tác phẩm thì tốt quá. E cảm ơn trước.
     
    hungbc1010 thích bài này.
  4. hungbc1010

    hungbc1010 Lớp 5

    Vì bài viết không có ebook, nên đưa vào mục "Giới thiệu sách" đúng hơn là mục này.
     
    KienPham thích bài này.
  5. Nga Hoang

    Nga Hoang Lớp 8

    Đây ạ.
     

    Các file đính kèm:

    vinhhoa, meetdak, ngocdiep and 8 others like this.
  6. KienPham

    KienPham Mầm non

    Cảm ơn bạn nhiều nhé
     
  7. Uillean

    Uillean Banned

    LÃO HỢI

    Người đàn ông ấy trạc 60 tuổi. Tay chân ngắn cũn, ngón tay như những quả chuối mắn, trán ngắn, mắt híp, mũi tin hin như mũi lợn ỉn. Thoạt nhìn, ngỡ lão không có cổ vì nó ngắn, gáy và vai nung núc những tảng thịt. Đôi má chảy xệ, che lấp một phần chiếc cằm lẹm. Mái tóc đốm bạc vốn đã thưa lại rụng gần hết trên đỉnh đầu. Nom lão già hơn so với tuổi. Người tuổi Hợi thường hiền lành, dễ ăn, dễ ngủ. Riêng lão Hợi, ngoài nết phàm ăn tục uống, còn rất khôn ngoan đầu chứa đầy mưu mẹo. Ánh mắt lão không quen nhìn thẳng, chúa hay liếc xéo, nhìn trộm. Cách nói năng của lão luôn lấp lửng, mập mờ nước đôi. Hơn hai mươi năm làm việc tại công ty thực phẩm thành phố, qua bốn đời giám đốc, lão vẫn yên vị trên ghế Trưởng phòng Tổ chức, đủ thấy tài thích ứng hoàn cảnh của lão tuyệt chiêu đến mức nào! Ông sếp mới nào cũng thế, dù không ưa Hợi, nhưng vẫn phải kiêng dè, đôi lúc tỏ ra ưu ái lão. Sau ngày về hưu non, tham gia “Hội ngồi bệt” ở quán nước đầu thị trấn của bà Lương, lão mới chịu tiết lộ ngón võ giữ ghế của mình: “Nghề làm tổ chức trên đe dưới búa phải có mẹo kiềm chế thiên hạ, nhất là với các ông sếp trực tiếp của mình. Làm người ai chẳng có tật này khuyết nọ. Mỗi lần nghe tin có sếp mới về nhận chức, mình vừa làm thân, vừa điều nghiên xem tật của sếp là gì. Gặp cơ hội thuận tiện là lập tức nửa đùa nửa thật, giả giọng bông phèng theo chiến thuật rung cây nhát khỉ… Điều quan trọng là ngay sau đó phải bằng hành động cụ thể chứng tỏ cho sếp biết mình sẽ trung thành, sẵn sàng bảo vệ sếp đến cùng. Người ta là cấp trên sẽ mau hiểu và phải tự biết phải nên đối xử với thuộc cấp thế nào…”.

    - Thị trấn ven đô của tôi bé nhỏ như lòng bàn tay. Dân thị trấn thông tỏ lai lịch của từng người, từng dòng họ như thuộc lòng các con đường gạch lát nghiêng rẽ vào lối xóm. Đời cụ cố của lão Hợi là dân ngụ cư, gốc quê xứ Thanh. Gặp năm hạn hán, sâu bệnh mất mùa nên phải đi ăn xin rồi may mắn trụ lại được ở thôn Đoài, nay là trung tâm thị trấn. Người quê tôi xưa có ba nghề tổ truyền là làm ruộng, nấu kẹo mạch nha và canh cửi. Dân ngụ cư không có điền sản, lại không thạo nghề nấu nha hay dệt lụa, đương nhiên phải làm thuê kiếm sống. Thời ấy, thôn Đoài có ông cai Tổng Dật vừa có năm khung cửi dệt lụa, vừa mở thêm lò sát sinh chuyên cung cấp hàng cho các chợ trong nội đô và mấy tiệm Ba Tàu bán lợn quay ở phố Hàng Buồm. Các cụ già quê tôi vẫn chê nghề sát sinh là thất đức, mỗi khi có việc phải mổ bò, mổ lợn đều thắp hương xin phép thổ công, thần hoàng mới dám động dao thớt. Chỉ có cai Tổng Dật đã từng đi lính khố xanh, khố đỏ mới dám hành nghề này, bất chấp ý kiến của cụ đồ ăn Tiên chỉ trong làng. Trai tráng quê tôi thời đó thà chịu đói rách chứ không chịu làm thuê cho lò sát sinh của cai Tổng Dật.

    Khi còn ở quê nhà trong xứ Thanh, cụ cố lão Hợi vốn thạo nghề giết trâu, mổ bò mỗi khi có việc làng hay lễ hội. Tình cờ ông đến xin ăn nhà cai tổng Dật, gặp mấy anh thợ người Thường Tín làm nghề còn vụng về. Ông ta nổi máu nghề, tay chân ngứa ngáy, xin vào biểu diễn cho họ từng động tác chọc tiết, chế nước sôi, cạo lông, xả thịt. Con lợn ông làm thoáng một lúc đã xong mà móng giò với thủ sạch bong không một sợi lông, thịt pha thứ nào dứt ra thứ ấy, trông ngon lành và đẹp mắt. Cai Tổng Dật thấy vậy giữ ông làm đồ tể cơm nuôi ba bữa, gả cô vợ là chị vú em thọt chân để ông sống chết với nghề. Chẳng bao lâu, ông trở thành quản gia kiêm cai quản lò mổ cho Tổng Dật nên bớt xén, kiếm chác được ít dấn vốn, ra mở lò riêng. Nghề đồ tể truyền từ đời cụ cố đến đời lão Hợi được ba đời thì phát đạt, lấn át cả con cháu nhà cai Tổng Dật. Hồi nhỏ đi học, lão Hợi cũng theo phụ giúp ông bố nên bây giờ về hưu quay lại nghề cũ, lão xả thịt, dóc xương con vật như múa dao trên tay. Đồn rằng cha con lão Hợi giết lợn lâu đời đã thành tinh, chỉ cần ghé mắt vào chuồng lợn nhà ai, lũ vật rống lên kêu eng éc và chê cám như bị ma ám…

    - Lão Hợi mổ xong năm con lợn, từ nhà bà Mâu trở về trời vẫn còn chưa rõ mặt người. Cái nghề đồ tể quen lọ mọ làm việc trong bóng đêm nên lão tỉnh táo, ung dung ngồi rít liền ba điếu thuốc lào Tiên Lãng, tận hưởng cái đê mê của chất nicotin ngấm vào từng mạch máu trong làn da, thớ thịt. Lão bắc nồi luộc miếng thịt nạc vai bằng bao thuốc lá, nửa cỗ tràng và mấy khúc ruột non. Mối lần nhìn ngọn lửa bếp dầu lom đom cháy trong căn bếp tối thâm màu bồ hóng, lão vẫn cười thầm, tự nhủ: Ăn vụng cũng phải biết cách. Tim và bồ dục ngon thật, nhưng con lợn nào cũng chỉ có một quả tim, hai trái bầu dục, nhà chủ nhìn thiếu sẽ hỏi ngay. Bỏ tiền ra mua thì chủ sẽ cắt xén tiền công, mất toi khỏan tiền mua cút rượu làng Vân chứ bỡn. Xẻo mấy thứ lặt vặt mang về có mà giời biết... Sớm nay, thức nhắm đã luộc xong, bày lên đĩa đầy ú ụ, bỗng lão Hợi chợt cảm thấy buồn mông lung, chẳng thiết rót rượu, đụng đũa. Tiếng chim lợn kêu đầu nhà đêm qua cứ ám ảnh tâm trí lão một nỗi sợ vu vơ về tai họa sẽ bất ngờ ập đến. Đời lão đến nước như bây giờ còn gì để mất thêm, nhưng lão vẫn thấy chập chờn cơn ác mộng.Về hưu được nửa năm, vợ lão lăn đùng ra chết vì bệnh ung thư tử cung. Đứa con gái giời đánh từ trong Đà Nẵng ra lợi dụng lúc tang gia bối rối đã khoắng sạch tiền vàng của bố mẹ nó tích cóp trong nhiều năm. Đã thế, cách đây một năm thằng con út gần ba mươi tuổi không thèm lấy vợ, vẫn chơi bời trác táng ở các vòm hút xách quanh thị trấn. Nó đánh bạc, chơi đề rồi lấy giấy tờ nhà đem thế chấp vay nợ ngân hàng mấy trăm triệu, bị người ta xiết nợ thu nhà biến lão thành tay trắng. Con bị đi tù, lão bơ vơ không nhà, không tiền, may được bà Lương nể tình xưa nghĩa cũ, cho ở tạm trong căn nhà bỏ hoang cuối xóm. Cái kiếp lão như con kiến leo cành đa, leo phải cành cộc, thành ra cuối đời mới từ ông cán bộ tổ chức hét ra lửa phải quay lại nghề cũ, mổ lợn thuê cho mẹ Mâu, chắt nội cai Tổng Dật ngày xưa. Nhưng tiếng chim lợn kêu xưa nay là điềm gở. Ngộ nhỡ thằng con út của lão trên trại giam gặp chuyện chẳng lành? Nếu nó chết kể như lão tuyệt giống…

    - Bà Lương đã dậy, tất bật dọn hàng để kịp bán nước cho mấy người đạp xích lô, thuê nhà trong thị trấn. Tiếng chim lợn đêm qua kêu phía đầu nhà lão Hợi cũng làm bà phấp phỏng, ái ngại cho người bạn già. Pha trà, rót nước cho khách xong, bà gửi hàng le te đi vào trong xóm gõ cửa nhà lão Hợi.
    - Ông Hợi ơi! Vẫn khỏe chứ?
    - Vâng. Bà vào xơi nước. Chưa dọn hàng à?
    - Dọn rồi, nhưng đêm qua thấy chim lợn kêu, sốt ruột quá nên gửi hàng vào thăm ông đây.
    - Cám ơn bà! Tôi vẫn khỏe, nhưng cảm thấy lo cho thằng út trên trại giam lắm.
    - Thôi. Đời cua cua máy, đời cáy cáy bò. Ông lo cho nó cũng chẳng ích gì, liệu mà giữ sức khỏe. Ông không việc gì là tốt rồi, tôi ra quán đây.
    Bà Lương lại le te quay về quán nước, trong lòng thấy xót xa thay cho lão Hợi. Quan hệ giữa bà với lão chẳng tốt đẹp gì, nhưng dẫu sao cũng là mối dây mơ rễ má từ thời con gái. Ngày ấy các bà, các cô ai cũng ao ước được làm mậu dịch viên. Cô nào học thương nghiệp ra trường mà được đứmg bán hàng ở quầy gạo hay quầy thịt ở giữa chợ lớn trong nội thành thì ngang bằng trúng số độc đắc. Có người mách nước cho cô Lương vừa tốt nghiệp trung cấp thương nghiệp, mang túi quà đến trưởng phòng tổ chức Hợi. Cô đưa giấy tờ, lí nhí trình bày hoàn cảnh. Anh trưởng phòng Hợi lúc đó chưa phì nộn như lúc về già. Anh hấp háy cặp mắt híp, ỡm ờ hỏi chuyện, thỉnh thoảng như vô tình đụng trạm vào người cô. Cứ thế sau nhiều lần hẹn đi, hẹn lại, Lương đã đồng ý trao thân cho Hợi để đổi lấy chân biên chế trong cửa hàng cung cấp thực phẩm chợ Tô Lịch. Lương không đẹp nhưng còn chanh cốm, hấp dẫn hơn nhiều so với bà vợ nái xề của Hợi. Cuộc tình trăng gió kéo dài đến lúc công ty nhận cô Bích vào làm, vừa đẹp lại vừa lẳng lơ. Tuy vậy, Hợi vẫn quan tâm nâng đỡ Lương. Nếu không có vụ đánh tráo thịt lợn bị mắc bệnh “đóng dấu” vào quầy, có lẽ Lương sẽ được đề bạt Cửa hàng phó. Cô bị con mẹ Mâu nhận là người nhà của Hợi, đến dỗ ngon dỗ ngọt nên làm liều. Không ngờ trong số khách hàng hôm ấy có hai giáo viên trường múa bị ngộ độc chết. Sự việc bị vỡ lở, Lương đáng nhẽ bị truy tố, may nhờ Hợi lo liệu thu xếp nên chỉ phải buộc thôi việc, còn mụ Mâu phe tem phiếu ở chợ, sẵn tiền nhờ Hợi lo lót, đương nhiên là vô can. Quả đất xoay tròn nên cuối đời con dâu bà Mâu lại giao kẹo lạc, bánh giò cho bà Lương bán quán. Tội nghiệp cô Bích lẳng lơ, có chửa với Hợi bị cô vợ anh ta đánh ghen đến trụy thai. Ngày ấy nó được coi là một vụ động trời. Bích mắc bệnh hậu sản mòn, may nhờ có sư cụ bên Sơn Tây chữa trị khỏi cho bệnh rồi ở lại chùa xuống tóc đi tu không biết bây giờ ra sao…
    - Một ngày lặng lẽ trôi vào cõi giới vô hình nhạt thếch, bệch bạc như bóng chiều lợt nắng. Thị trấn ngoại ô yên tĩnh, lèo tèo hàng quán, thưa thớt bóng người. Thỉnh thoảng một chiếc xe tải rồ lướt tới, chạy lên đầu dốc, để lại quầng bụi nâu xám bốc lên mù mịt, xộc vào quán nước. Bà Lương cầm chiếc phất trần phẩy bụi, miệng lẩm nhẩm rủa thầm con đường và mấy chàng lái xe tải chở phế thải xây dựng đang phóng tít mù.
    - A di đà phật! Thí chủ cho tôi hỏi nhà lão Hợi?
    - Bạch thầy… ơ… giời ơi, có phải sư thầy là…
    - A di đà phật! Tôi là sư Diệu Tâm. Thí chủ cho tôi hỏi nhà ông lão Hợi?
    - Nhưng bạch thầy! Tôi nom thầy rất quen. Có phải xưa thầy là cô Bích bán hàng ở công ty thực phẩm?
    - A di đà phật! Thiên địa bao la, đâu cũng là con cháu nhà Phật. Xin thí chủ đừng bận tâm về một cô Bích, một hạt cát trong vũ trụ mà thôi. Sự đời sắc sắc không không, nhân quả luân hồi. Nhân sinh là kiếp phù du, bèo dạt mây trôi, vô thường bất định. Phật pháp vô biên, vớt người cứu khổ. Nếu có cô Bích nào từng đến ăn mày cửa Phật thì thể xác dẫu còn, nhưng tâm đã ngộ… A di đà phật!...
    Bà Lương bàng hoàng gieo mình ngồi xuống ghế, trân trối nhìn sư Diệu Tâm. Bộ áo nâu sồng nhà chùa đã bạc vẫn chỉ tôn thêm dáng người thon thả, mày thanh, mắt sáng của cô Bích ngày xưa. Đôi bàn tay mười ngón thon dài của sư Diệu Tâm úp vào nhau, đặt trước ngực toát lên vẻ thanh cao, thoát tục. Hai cánh môi như hai cánh hoa đào của nhà sư khép mở nhịp nhàng theo giọng nói trầm ấm, du dương, thấm vào tâm linh, tuệ giác người nghe. Nhiều năm rồi, theo bạn bè lên các chùa khắp trong thành phố, bà Lương chưa bao giờ nghe được những lời có sức truyền cảm, lay động tận tầng sâu u ẩn của lòng mình như vậy. Bà đứng dậy, ôm chầm lấy sư Diệu Tâm nghẹn ngào nói:
    - Tôi là Lương, nhân viên công ty, bi kỷ luật vì đánh tráo thịt lợn mắc bệnh “đóng dấu” vào quầy mậu dịch chợ Tô Lịch đây, sư còn nhớ không?
    - A di đà phật! Tôi nhận ra bà Lương từ xa, quan sát kỹ quán nước của bà rồi mới đánh bạo vào hỏi thăm.
    - Bạch thầy, tìm ông lão Hợi có việc gì?
    - Ông ấy có người con trai chừng ba mươi tuổi, đi tù chốn trại phải không? – Sư Diệu Tâm hỏi lại.
    - Bạch thầy, đi tù thì có nhưng chốn trại thì tôi mới nghe lần đầu.
    - Vậy thì đúng rồi. Đúng là con trai ông Hợi.
    - Có chuyện gì thế? Lành hay dữ, bạch thầy?
    Sư Diệu Tâm thở dài, mắt đăm đăm nhìn ra bầu trời ngoại ô đang mờ dần. Hai tròng mắt nhà sư đỏ hoe, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt thánh thiện. Sư nghẹn ngào kể:
    - Đêm qua vào lúc rạng sáng tôi nằm ở trai phòng, mơ thấy một khung cảnh hệt như thị trấn này. Chợt con chim lợn đậu trên cành cây gạo, gần một căn nhà tồi tàn. Nó kêu lên ba hồi não nuột rồi vỗ cánh bay về hướng Đông Nam. Sau đó, tôi thấy một ông già hao hao giống ông Hợi ngày xưa, nhưng có bốn chân ngắn cũn và cái đuôi lợn. Ông ấy gào lên thảm thiết nghe như bị chọc tiết: “Tôi có tội. Giời đất ơi, tôi có tội, xin để mình tôi chịu. Lạy Trời, lạy Phật tha cho con tôi!..” Tôi choàng tỉnh giấc và nghe rõ tiếng lợn kêu eng éc, tiếng súng săn trong bản Mường nổ liên tiếp, chứng tỏ có cả đoàn người đang đuổi bắt tên ăn trộm lợn. Suốt mấy tuần liền, ở bản Mường cách chùa tôi trụ trì khoảng một cây số, dân chúng bị mất gà, lợn rất nhiều nên họ cắt cử nhau đi rình bắt. Khi tôi đến nơi nghe dân bản cho biết có hai thằng trộm mặc áo tù, một đứa chạy thoát còn một đứa bị bắn què chân, ngã lăn xuống vực đang hấp hối. Tôi lại gần nhìn tên trộm có nét quen quen. Nó ứa nước mắt nhìn tôi, nhờ báo tin cho bố nó là Bùi Hữu Hợi, cán bộ Tổ chức của công ty thực phẩm thành phố đã nghỉ hưu, đang ở thị trấn này. Tôi nhờ bà con dân bản chôn cất anh ta chu đáo, rồi tất tả về đây tìm ông Hợi lên lập đàn cầu xiêu cho người xấu số…

    Bạch thầy, Giời- Phật thiêng quá! Đêm qua quả có con chim lợn kêu ở cây gạo đầu nhà ông Hợi. Từ sáng tới giờ ông ấy đang nằm bệt, chẳng thiết ăn uống, luôn miệng cầu Giời khấn Phật tha cho con mình. Sư thầy ngồi nghỉ tạm, xơi nước rồi tôi sẽ rước thầy vào xóm thăm ông Hợi – Bà Lương kéo vạt áo lau nước mắt, nhìn sư Diệu Tâm đau xót nói.

    - A di đà phật! May mắn tôi được gặp lại thí chủ, cũng là do ý muốn của đức Phật từ bi. Phần tôi đã mấy mươi năm ăn mày cửa phật, xa lánh đời tục. Tôi thật lòng không muốn gặp lại ông Hợi trong lúc này. Xin thí chủ thay tôi báo tin và chỉ đường dẫn lối cho ông Hợi lên chùa cầu siêu cho con. Đức Phật sẽ phù hộ cho thí chủ.
    - Bà Lương cố vật nài, níu kéo, nhưng sư Diệu Tâm vẫn nhất quyết ra về. Bà tần ngần nhìn theo bóng nhà sư xa dần, hòa lẫn vào dòng người nhốn nháo trên đường. Bà bàng hoàng như vừa qua một giấc mộng. Đôi bờ mi bà cay rát, nhập nhòe những tia lửa nhỏ. Báo tin dữ cho người bạn già, bà không ngờ đó là lần gặp ông cuối cùng. Đêm đó ông Hợi uống rượu và rên rỉ thanh minh với Phật tổ từ bi, hỉ xả. Gần sáng, ông sang nhà bà Mâu theo phản xạ để bắt lợn đem mổ. Người ta tìm thấy xác ông vắt qua thành chuồng lợn, cắm đầu xuống máng đựng cám. Ông bị xuất huyết não cấp tính. Sau đám ma, cả thị trấn tiễn bà Lương và bà Mâu đi lên chùa gặp sư Diệu Tâm để cầu siêu cho cha con lão Hợi. Từ đó không thấy họ trở lại thị trấn. Nghe đồn họ đã xuống tóc đi tu sám hối ở chùa cùng sư Diệu Tâm…
     
  8. Uillean

    Uillean Banned

    QUÁN THIÊNG

    Sơn Dương quán nằm trên đường Đào Hoa khá nổi tiếng về món tái dê thái mỏng tang, bản to và đặc biệt tương gừng ở đây rất thơm và ngọt. Các món dê nướng, sào lăn hay chân dê hầm thuốc Bắc cũng làng nhàng như nhiều quán khác, nhưng món tái dê uống với rượu “Ngọc dương” của quán này thì dân nhậu chỉ ghé qua một lần là nhớ mãi. Rượu nếp cái hoa vàng được đặt ở tận quê Giao Thủy với nồng độ cao, một cân gạo nếp chỉ được phép chưng cất già nửa lít rượu và phải ủ men vào ngày mát trời, có mưa giông càng tốt. Mở nút chai đã thấy mùi rượu thơm lừng, uống vào mềm môi, không xốc mà lúc say chân cứ nhẹ tênh như đi trên mây. Một lít rượu nếp cái hoa vàng được ông chủ quán bán kèm theo bình nhựa nửa lít đựng hai quả “cà dê” ngâm trong rượu Vodka của nhà máy. Chủ quán giải thích rằng, rượu Vodka nhà máy bốc mạnh, nhanh ngấm kiệt “cà dê”, còn bình nhựa là để khách dùng xong vứt bỏ hoặc mang về, chứng tỏ nhà hàng không dùng lại “cà dê” đã ngâm qua. Khi uống, rót một phần ngâm “cà dê” pha với hai phần rượu nếp cái hoa vàng. Phải là khách quen thân hay khách “xịn” mới được chủ quán đãi món rượu “Ngọc dương” với giá cắt cổ, cỡ mười lần rượu thông thường vì một đôi “cà dê” phải ngâm đủ bách nhật với cam thảo và câu kỷ tử. Chủ quán tên Mùi vì có lẽ ông sinh năm bốn ba. Cái tuổi Quý Mùi quảng giao, đa mưu túc kế, nhiều tài lẻ. Đa tài thì lắm tật nên ông cũng là một cây bợm rượu, nổi tiếng trăng hoa. Ông đã từng là họa sĩ có vài bức tranh gửi đi dự triển lãm tận bên Tây, bên Tàu. Thời mở cửa, ông có thể vẽ tranh bán, làm biển quảng cáo hay trình bày sách cũng bộn tiền, đâu đến nỗi phải đổi sang nghề chủ quán? Có lần nghe tôi hỏi vậy, ông cười khà khà, chỉ vào bà chủ quán, giả lả nói: “Bà xã mình cũng là ca sĩ có hạng chứ bỡn. Hai vợ chồng mấy mươi năm nay đam mê sáng tạo, nhưng càng mơ hão càng hao mỡ. Một tay bà ấy nuôi bốn cái tàu há mồm với lão chồng bợm rượu nên mới úa tã như thế này. Nhìn ra bạn bè, anh em, họ mạc bà ấy đều thấy thua kém. Lệnh ông không bằng cồng bà, nữ chủ đã quyết định mở quán thịt dê thì sức mấy cái thằng tôi dám cãi là không.” Ông nói lỡm vậy cho vui chứ bà chủ quán vẫn còn giữ được nhiều nét quyến rũ của ca sĩ Thuỳ Dương năm nào. Nhiều khách nhậu đến quán vì món tái dê với rượu “Ngọc dương”, nhưng không ít chàng tóc muối tiêu đến còn vì người đẹp Thuỳ Dương, có đôi mắt như đức mẹ Maria và nụ cười quyến rũ đến mê hồn.

    Bẵng đi một thời gian công tác biệt phái ở các tỉnh phía Nam, ngày quay lại Hà Nội, quen hơi bén mùi, tôi mò đến phố Đào Hoa không còn thấy Sơn Dương quán đâu nữa. Ngôi hàng quán nằm trên thửa đất hơn ba trăm mét vuông đã được phá dỡ lạnh tanh bành để xây dựng lại. Ông Mùi nhận ra khách quen, chạy tới vồ vập kéo tôi sang quán giải khát gần đó uống nước tâm sự.

    - Đợi ba tháng nữa, tớ sẽ khai trương nhà hàng độc đáo nhất Hà thành cho mà xem – Ông nói, vẻ hân hoan tự mãn hiện rõ trên nét mặt.
    - Vẫn là Sơn Dương quán chứ, ông bác?
    - Không, lạc hậu rồi chú em ạ!
    - Vậy hai bác chuyển sang kinh doanh gì?
    - Bí mật! Huyền cơ không thể tiết lộ. Tớ chỉ cần cho chú em biết tên gọi sẽ là Quán Thiêng.
    - Quán Thiêng! Thiêng vì lý do gì, ông bác?...
    - Thiêng vì có thần chứ còn sao nữa. Thần dê, chú hiểu chưa? Thần de…ờ… dê!

    Biết tính ông Mùi hay bông phèng, tôi cứ nghĩ ông nói đùa trong cơn phấn khích của men bia. Căn vặn thêm, ông vẫn không chịu bật mí. Lúc chia tay, Ông Mùi nắm vai tôi lắc mạnh, hẹn ngày khánh thành Quán Thiêng nhất định tôi phải có mặt. Nghe trong giọng nói và nhìn vào mắt ông, tôi ngờ ngợ rằng chuyện đùa có lẽ hoá thật. Đi được một quãng thì gặp bà chủ quán cafe quen thuộc, bà gọi giật tôi lại.

    - Bác nhà văn ơi! Đến quán Sơn Dương phải không?
    - Vâng, nhưng quán bị dỡ rồi, tiếc quá!
    - Vậy ra bác chưa biết chuyện gì xảy ra à?
    - Không. Tôi mới đi xa về, chưa biết gì hết.
    - Thiêng lắm, bác nhà văn ạ! Hoá ra lâu nay ông Mùi, bà Dương mở quán thịt dê đông khách là có thần phù, thánh trợ. Sao mà khéo thế, hai vợ chồng cách nhau một giáp, cùng tuổi Mùi, lại được thần dê phù trợ, ắt phen này sướng như tiên, giàu nứt đố đổ vách.
    - Bà nói rõ thêm nào.
    - Bà Dương mấy năm bỏ nghề ca sĩ mở quán, chăm đi lễ chùa, vái thánh nhất phố. Ngày rằm tháng trước, sau cơn ốm nặng, bà ấy thấy mình nằm trên đám mây ngũ sắc bay lên trời gặp Cửu chân huyền nữ ở một hang núi ngoài vịnh Bái Tử Long. Ngài bảo với bà Dương rằng con dê vừa hoá kiếp ở Sơn Dương quán vốn là tiên đồng mắc tội dan díu với thị nữ nên bị đầy xuống hạ giới làm kiếp kê, nay được giải thoát về cõi tiên. Ngài tặng cho bà Dương một bức tượng Cửu chân huyền nữ đang cưỡi dê bay về tiên giới. Bà Dương tỉnh mộng, như có thần thánh xui khiến, vội thắp hương lạy tám phương Trời, mười phương Phật rồi ra gốc cây hoa đại giữa sân ngồi thiền suốt ba ngày, ba đêm. Vào đúng giờ Mùi (13 giờ), tháng Mùi (tháng sáu), từ dười gốc cây đại đùn lên một bức tượng đúng như trong mộng mà bà Dương đã mô tả. Hôm đó rất đông người đến xem, tôi cũng có mặt, ai cũng trầm trồ kinh ngạc…

    Câu chuyện bà chủ quán cafe kể trên đường Đào Hoa cứ ám ảnh tôi suốt mấy tháng, cho đến ngày nhận được thiếp mời dự lễ khai trương Quán Thiêng của ông Mùi và Thuỳ Dương. Quả như lời ông Mùi đã nói, Quán Thiêng được các tài năng trong làng kiến trúc thiết kế độc nhất vô nhị ở đất thành Nam. Khu đất được chia làm ba đơn nguyên kiến trúc. Phía ngoài là ngôi nhà hai tầng. Dưới tầng một sử dụng các vật liệu xỉ gang, thạch cao, vôi vữa, xi măng đắp vẽ tạo dáng thành một hang động có nhiều khối hình như các nhũ đá vôi rất kỳ thú, lạ mắt. Nhìn vào các nhũ đá trên trần hoặc vách tường, người ta có thể liên tưởng đến những điển xưa, tích cũ trong sách cổ của Tàu. Tầng hai có dáng dấp như ngôi chùa mái cong, lợp ngói hoàng lưu ly.

    Trong nội thất là điện thờ Cửu chân huyền nữ và đủ loại các thánh mẫu, đức ông mà ta thường gặp trong các ngôi đền ở miền Đông Bắc. Phía trên điện thờ treo bức hoành phi dát vàng bốn chữ “Đăng sơn viễn vọng” tức là lên núi sẽ nhìn được xa, thành tâm thờ thánh sẽ hiểu hết mọi việc xảy ra trong vũ trụ, thần cơ diệu toán, thông tỏ quá khứ, tương lai của mọi kiếp người. Bà Thuỳ Dương đã thành con của thánh nên không ra tiếp khách với chồng. Bà ăn mặc như diễn viên tuồng, ngồi xếp bằng tròn giữa sập bách điểu, hai bên có hai tiểu đồng búi tóc nhú lên như hai cái sừng dê đứng hầu. Quan khách đến dự lễ thánh cứ vái lạy bà Dương như lạy Phật sống. Ở giữa khu đất là mảnh sân bày nhiều chậu hoa cây cảnh.

    Dưới gốc cây đại, nơi bà Dương đã từng ngồi thiền ba ngày ba đêm có một miếu nhỏ. Bệ thờ ốp đá mái cong lợp ngói thanh lưu ly. Trên bệ thờ có bức tượng bà Cửu chân huyền nữ cưỡi dê bay về tiên giới mà bàn dân thiên hạ đã từng chứng kiến nó đùn lên dưới gốc cây đại này vào giờ Mùi, tháng Mùi. Đơn nguyên kiến trúc thứ ba là khu quầy bar, giải khát chỉ xây một tầng, mái lợp tôn nhiều nấc mái, gấp khúc nhiều dạng khác nhau gây cảm giác khi nhìn từ sân cảnh lên mái nhà giống như một trái núi. Từ sân cảnh vào khu này phải qua một chiếc cầu gỗ cong, bắc qua lạch nước rộng chừng hơn một mét. Đáy lạch đắp gồ ghề, tạo một độ dốc từ Đông sang Tây. Nước chảy róc rách giống như một con suối nhỏ giữa rừng. Đôi bờ là mấy khóm trúc nhỏ. Nội thất khu quầy bar, giải khát là một hang động lặp lại không gian của động Hương Tích. Cửa động có đắp nổi hàng chữ Nho của chúa Trịnh Sâm “Nam thiên đệ nhất động”. Tường phía Đông treo ba bức tranh nổi có lắp đèn điện tử viền quanh, mô tả sự tích trong truyện Chiêu Quân cống Hồ: Bức thứ nhất, Tô Vũ cầm gậy, đội nón lá chăn thả đàn dê bên sườn núi đá. Bức thứ hai, Tô Vũ chung sống với con đười ươi rất đầm ấm, âu yếm như cặp vợ chồng trong hang đá. Bức thứ ba, Tô Vũ trở về nước Hán, đang cùng vợ uống rưọu ngắm trăng giữa tết Nguyên tiêu thì con đười ươi tu luyện thành tiên, cưỡi mây bay đến, trao trả tiên đồng, ngọc nữ là hai con đười ươi con tu luyện thành chính quả. Trên tường phía Tây treo bức tranh màu nước do chính tay ông Mùi vẽ và ký tên ghi rõ giờ Mùi, ngày rằm tháng Mùi, năm Đinh Sửu là thời gian sáng tác bức tranh. Nó được đóng khung kính có đèn mờ phản chiếu, gắn chìm vào tường, bao quanh là các nhũ đá mang hình hai hàng núm vú con dê cái.

    Bức tranh mô tả Thuỳ Dương đang ngồi thiền dưới gốc cây hao đại giữa một vầng hào quang sáng lóa, xung quanh có những mảng màu tối sáng, gợi ta liên tưởng đến những áng mây ngũ sắc và các thiên thần bay lượn phò trợ cho bà Thuỳ Dương. Theo thiết kế, quán Thiêng được ông Mùi giới thiệu với quan khách đến khai trương: Hang động dưới tầng một khu nhà ngoài sẽ là nơi để xe đạp, xe máy có bảo vệ mặc đồ đen, đội mũ đầu dê trông coi. Khách gửi xe lên điện thờ ở tầng hai lễ thánh rồi mới được đăng ký gặp bà Thuỳ Dương để bà gieo quỷ bói tiền vận, hậu vận. Đăng ký xong khách xuống Quán Thiêng chính là khu quầy bar, giải khát nghe nhạc chờ đợi đến lượt mình được hầu chuyện thánh sống, đệ tử chân truyền của Cửu trân huyền nữ giáng trần...

    Vì tò mò, sau khai trương, hễ có thời gian rảnh rỗi tôi lại tìm đến Quán Thiêng uống ly café sữa nóng, ngắm cảnh và quan sát. Phải thừa nhận không gian kiến trúc và cách bài trí ở Quán Thiêng luôn gây cho tôi cảm giác linh thiêng, thoát tục và có vẻ huyền bí. Tài năng hội họa của ông Mùi, óc tưởng tượng nghệ sĩ của bà Thuỳ Dương được thần thánh phù trợ, phát tiết hết tinh hoa vào cuộc làm ăn kinh tế thời đổi mới. Khách đến Quán Thiêng ngày một đông, không lúc nào trống ghế. Nhiều khi tôi phải chầu chực ngoài cửa hàng giờ mới hòng mong có được ghế ngồi ưng ý. Người ngồi trong Quán Thiêng đều là khách sang trọng, thanh toán bằng đô la hoặc giấy bạc trăm ngàn trở lên mới cứng, không mấy ai chịu lấy lại tiền thừa. Đàn ông ngồi uống rượu Tây, hút thuốc ba số năm. Đàn bà ngồi uống café, nước ngọt và ăn bánh kem, hoa quả đắt tiền như mận Mỹ, nho Mỹ. Họ ngồi chờ đến lượt mình lên điện với ánh mắt thành kính, niềm tin mãnh liệt, khao khát cháy lòng. Khi gặp thánh sống trên điện, từ gác hai đi xuống, ai cũng xuýt xoa lời thánh phán sao mà linh thế, chính xác tuyệt vời.

    Trước khi ra về họ không quên lễ tạ Cửu chân huyền nữ ở miếu cây đại và thưởng rất hậu cho người trông giữ xe. Càng về sau, tôi phát hiện rõ ra một quy luật, mấy đức ông chồng thường chỉ đến Quán Thiêng cùng vợ lần đầu. Khách đông nhất, thường xuyên có mặt là các mệnh phụ phu nhân giàu sang, quyền quý trạc tuổi hồi xuân trên dưới bốn mươi hoặc các cô gái thất tình được bố mẹ nuông chiều. Họ đều nhanh chóng trở nên thân thiết với ông Mùi, thích ngồi cùng ông tâm sự chuyện làm ăn, chuyện gia đình hoặc nghe ông kể những câu chuyện khôi hài, dí dỏm. Cái máu dê già của ông Mùi mà tôi được nghe nhiều chuyện ly kỳ, lắm pha gây cấn khi ông còn là hoạ sĩ thiết kế thời trang cho một viện “mốt” được dịp trỗi dậy. Không biết các bà, các cô có hẹn hò hoặc chơi trò mèo chuột gì với ông Mùi ở đâu, tôi chưa rõ. Ngay tại Quán Thiêng, nhiều lần tôi bắt gặp dưới ánh sáng mờ ảo, huyền bí của hang động nhân tạo, đôi bàn tay ông Mùi tha hồ dạo chơi vào những khu cấm kỵ trên thân thể mấy bà mệnh phụ hồi xuân. Điều thú vị là những ngày ông Mùi có việc đi vắng, tôi hay thấy bà Thuỳ Dương ra lệnh đóng cửa điện trên gác hai và gọi anh chàng trông giữ xe to con, trẻ tuổi lên đấm bóp. Đám nhân viên quầy bar ở Quán Thiêng lúc đó nhấm nhoáy với nhau đầy ý tứ và tôi có linh cảm chuyện gì đang xảy ra trên chiếc sập bách điểu, trước điện thờ và bức hoàng phi “Đăng sơn viễn vọng”.

    Khách nam giới đến quán thường xuyên còn có chàng trai khoảng 30 tuổi, sang trọng và lịch lãm. Anh cũng giống tôi, ưa ngồi chỗ khuất, không tham gia vào trò lễ thánh, chỉ nhâm nhi café hay ly rượu Tây. Một lần, anh rủ tôi sang quán bên cạnh ăn tối, bật mí cho tôi biết sự thật bằng cuộn băng ghi âm do anh bí mật thuê cô nhân viên trẻ cài đặt trong phòng ngủ của ông Mùi, bà Dương:

    - Ông cặp bồ với con vợ lão Tổng giám đốc công ty xuất nhập khẩu của Bộ Thương mại là đứa thứ mấy rồi? Đừng tưởng gái già này mù nhé - Tiếng bà Thuỳ Dương rít qua kẽ răng.
    - Tự do muôn năm! Tôi vẫn thu về cho bà bộn cả đống tiền là được rồi – Ông Mùi đáp, giọng tỉnh queo.
    - Vậy ông còn tra khảo tôi chuyện thằng Khoa sẹo lên đấm lưng xoa bóp làm gì?
    - Hỏi cho biết thế thôi.
    - Ông lén đi ăn vụng dốc lọ cạn kiệt hết, về nhà đêm nằm ngay như khúc gỗ ai mà chịu được.
    - Ai bảo bà bày vẽ cái chuyện thần, chuyện thánh để mấy con mẹ dửng mỡ lắm tiền cứ đến phô ngực, ngoáy mông với tôi mà khiêu khích lão già tuổi Mùi?... Hí hí...hí...
    - Không bày trò này dễ ai cho không mình có nửa năm trời vài trăm cây vàng.
    - Thánh thật! Không hiểu từ đâu bà lại nghĩ ra cái trò nằm mộng gặp Cửu chân huyền nữ.
    - Ông cũng giàu óc tưởng tượng thiết kế Quán Thiêng hết ý. Riêng cái mưu đổ mười ca đỗ xanh xuống hố đào dưới gốc cây đại để ngâm giá đỗ đủ ba ngày cho nó mọc mầm và đội tượng lên khỏi mặt đất tôi phải bái phục ông cao kiến, dân chúng tin sái cổ.
    - Chuyện ấy có gì lạ. Trong tiếu lâm nhà phật bên Ấn Độ có kẻ làm từ mấy thế kỷ trước...

    Chàng trai cất cuốn băng ghi âm vào túi, nhìn tôi cười bí hiểm. Anh là đệ tử thân tín của ông Tổng giám đốc bị vợ cắm sừng. Ông ta thuê anh điều tra vụ này. Tôi hỏi: “Vì sao cậu lại tin tưởng, cho tôi biết sự thật?” Chàng trai đáp: “Em đã dò hỏi và biết bác là nhà văn, nhà báo. Vụ này không đơn giản đâu. Sếp của em gần đây mất cả tình lẫn tiền. Hàng chục ngàn đô không có cánh mà bay, ông căm lắm. Em sợ có án mạng xảy ra nên mượn bác làm nhân chứng.” Một thời gian sau, Quán Thiêng đóng cửa. Nghe đồn ông Mùi bị thiến mất hai quả cà, hóa điên, suốt ngày kêu be be như con dê đực. Bà Dương từ hôm nhận được bưu phẩm có chiếc can nhựa ngâm hai quả cà của chồng trong rượu Vodka cũng thành người ngớ ngẩn. Đứa con trai duy nhất của ông bà, đương là sinh viên, mắc vào vòng nghiện hút, phải đi trại cai nghiện. Thì ra mọi sự trong cõi người đều nhân nào quả ấy. Các cụ nói rồi. Ai dám cả gan đùa với thánh sẽ bị thánh vật…
     
  9. Uillean

    Uillean Banned

    TAM NGƯU TƯƠNG MỆNH

    Sửu với bao thuốc lá “Ba số” lấy một điếu châm lửa hút. Anh ngả người ra thành ghế, ngửa mặt lên trần nhà, khoan khoái nhả những mành tơ khói thuốc màu xanh. Khu làm việc của Uỷ ban huyện đã cải tạo xong, oai nghi đường bệ giữa thị trấn. Lâu nay các vị tiền nhiệm quen tác phong du kích, nơi làm việc của Uỷ ban huyện mà lem nhem, úi xùi còn ra thể thống gì nữa. Mang danh là “quan chi phụ mẫu” thì dân hoặc cấp dưới đến nơi làm việc của mình phải thấy uy nghi, bước đi rón rén, nhìn vào đâu cũng thấy oai, thấy sợ. Cái quan trọng là người lãnh đạo phải biết khéo léo thu xếp, xoay sở cho ra nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung từ cấp trung ương, qua tỉnh, xuống huyện. Vỏ nhà đã xây xong, phần trang trí nội thất cứ gợi ý rồi khoán trắng cho mỗi doanh nghiệp đóng ở địa bàn góp một thứ sẽ đỡ tốn kém lại rất sang trọng. Có làm mới vỡ nhẽ, doanh nghiệp nào được huyện gợi ý đóng góp đều cảm thấy hãnh diện và đương nhiên mọi thứ đều phải thật “xịn”, sao cho đẹp lòng các ông Chánh, Phó Chủ tịch. Uy tín của Sửu với tỉnh và các ban ngành trong huyện qua việc này sẽ lên như diều. Cái quan điểm Nhà nước và nhân dân cùng làm là từ đây mà ra chứ còn đâu nữa!...
    - Có tiếng gõ cửa. Sửu sửa lại tư thế ngồi và nói sẵng:
    - Cứ vào!
    - Thưa anh! Em đến báo cáo về chiếc ô tô – Chánh văn phòng Khiêm xoa hai tay nói.
    - Cậu ngồi xuống đi. Công việc đến đâu rồi?
    - Dạ thưa anh! Xe Nhật, hiệu TOYOTA COROLLA đời mới nhất.
    - Giá cả thế nào?
    - Dạ, sáu trăm ba tư triệu. Mọi thủ tục thanh toán, sang tên trước bạ và treo biển có bên bán giúp đỡ nên rất nhanh gọn, chỉ trong một ngày đã đâu vào đấy.
    - Nhiều tiền thế, cậu xoay ở đâu ra?
    - Dạ thưa anh, vẫn miếng võ cũ. Em cũng không ngờ mọi việc xuôn xẻ, nhanh gọn đến như vậy.
    - Cậu nói rõ hơn xem nào.
    Khiêm nhấp ngụm chè, rít xong hơi thuốc, tủm tỉm nhìn Sửu cười và nói tiếp:
    - Chiếc xe Uwat của anh, em gợi ý cho Giám đốc lâm trường mua lại với giá bẩy mươi triệu. Sòng phẳng ra nó chỉ đáng hai mươi triệu nhưng để hợp thức hoá sự đóng góp của lâm trường cho huyện nhà là năm mươi triệu. Đối với các doanh nghiệp trung ương và địa phương thuộc khối quốc doanh đóng trên địa bàn, em gợi ý mỗi nơi góp từ ba mươi đến năm mươi triệu, nhưng phải hợp thức hoá các khoản chi: đại hội thể thao, hội diễn văn nghệ, hội thi tay nghề giỏi hoặc chi phí đón tiếp khách nước ngoài đến tham quan, đàm phán hợp tác đầu tư...
    - Thế còn khối ngoài quốc doanh? - Sửu ngắt lời hỏi.
    - Dạ, báo cáo anh, với khối ngoài quốc doanh thì quá đơn giản. Tiền mua xe của huyện xem như bằng giá năm trăm con trâu, mỗi doanh nghiệp có phải góp một hai con thì ăn nhằm gì. Tuy vậy em phải nắm khả năng từng đứa. Bọn cai bưởng đào vàng, khai thác gỗ ăn dày thì nộp nhiều mà mặt cứ tươi hơn hớn. Đám buôn bán, sản xuất nhỏ, em chỉ chọn một số có máu mặt và họ đều dơ tay tình nguyện nộp kẻ ba triệu, người năm triệu cứ là vui như tết.
    - Vậy hoá đơn chứng từ mua xe mới cậu làm cách nào hợp thức hoá? Lưu ý trên chỉ duyệt cho ta mua xe có một trăm hai mươi triệu.
    - Dạ, báo cáo anh chuyện này dễ ợt. Chủ xe là tư nhân nên giá trị ghi trong hợp đồng thế nào chẳng được, miễn sao họ thu về đủ tiền “năm trăm con trâu”, thưa anh!
    - Tốt lắm! Cậu báo với anh chị em khối văn phòng huyện, chiều nay ta liên hoan “rửa xe”, nhớ mời cho được anh Dần Bí thư.
    - Dạ, thưa anh nhất định chiều nay phải có mặt anh Dần mới vui vẻ chứ ạ! Em có đề nghị nhỏ là “năm trăm con trâu” mua xe sẽ được rửa bằng năm trăm lon bia Tiger…
    Khiêm đi rồi, còn lại mình Sửu trong phòng. Anh mở tập công văn, giấy tờ xem qua và ghi ý kiến chuyển sang các phòng chức năng của huyện. Lòng Sửu xốn xang niềm vui. Từ nay mỗi lần lên họp trên tỉnh hay xuống Hà Nội, anh có thể hãnh diện với bạn bè về chiếc xe TOYOTA COROLLA đời mới nhất của Nhật. Nghĩ lại những lần trước nhìn xe của họ mà ngán ngẩm cho chiếc xe Uwat của mình. Nó thô thiển quê mùa và suốt dọc đường anh phải chịu tra tấn bằng những tiếng lạch cạch, lọc cọc đến đinh tai, nhức óc. Sửu thầm khen Khiêm có tài, lanh lẹn và biến hoá, uyển chuyển bắt kịp xu thế đổi mới toàn diện. Cơ chế thị trường đòi hỏi phải sử dụng các cán bộ năng động. Sửu cảm thấy Dần quá ư thận trọng, khi anh nhắc phải cảnh giác với loại cán bộ dưới quyền như Khiêm. Sửu có quan điểm khác với Dần. Cái tài của người lãnh đạo không phải là hùng hục xông vào từng công việc cụ thể mà phải biết lựa chọn người giúp việc, giao cho họ đảm nhận những công tác đúng với năng lực, sở trường. Thế hệ của Dần đã lỗi thời. Nếp nghĩ, cách làm bảo thủ như vậy thì bao giờ huyện này mới khấm khá lên được.
    Cái anh chàng Khiêm này vừa thạo việc mà cũng thật hóm. Chiếc xe mua mất già nửa tỷ bạc, ai nghe cũng vãi linh hồn. Hắn đưa ra khái niệm giá mới là năm trăm con trâu nghe bỗng thấy mềm oặt và rất nôm na, dân dã. Sửu nghĩ vậy và chợt nhớ đến hai người bạn thân là Bê và A Mộc. Bê quê Thái Bình, còn A Mộc người huyện bên cạnh, thuộc dân tộc Tày trên núi Mẫu Sơn, nhiều đào và những đàn trâu trắng. Ba đứa cùng tuổi Kỷ Sửu, cùng nhập ngũ một ngày và chiến đấu trong cùng đại đội dặc công của sư đoàn. Trận đánh thị xã Phước Long cuối năm bảy tư, Sửu bị thương nặng vào bụng tưởng chết. Bê và A Mộc đã thay nhau cõng Sửu về tuyến sau, kịp thời cấp cứu. Ngày xuất ngũ ba đứa ngồi trong quán bê thui ở cầu Khánh Hội – Sài Gòn nhậu lai rai, thề đến chót đời vẫn đi lại, động viên giúp đỡ nhau làm việc, nuôi dạy con cái trong thời bình. Mấy năm trước, Sửu đang làm cán bộ Trưởng ban Tài chính của huyện, bất ngờ Bê lên thăm. Luyên thuyên mọi chuyện trên giời dưới bể một hồi, Bê bảo:
    - Quê tao bây giờ khôi phục lại truyền thống lễ hội. Hàng năm ở quê có lệ chọi trâu. Tao lên thăm mày với thằng A Mộc, nhờ nó tìm mua giúp con trâu đực thật khoẻ.
    - Mày làm Chủ tịch xã chỉ cần đứng ra tổ chức, việc gì phải lặn lội lên tận đây mua trâu - Sửu hỏi.
    - Đất lề quê thói, bố trẻ ơi! Tục ở quê tao, đến hội chọi trâu mỗi làng chọn ra con trâu khoẻ nhất để dự thi. Trâu làng nào bị thua quanh năm phải cắt cử người đến rửa đền, quét sân đình cho làng có trâu thắng trận. Việc tưởng nhỏ mà thấy nhục và ấm ức quanh năm, mày ạ!
    - Đành rằng thế, nhưng mày có thể cử người đi mua và chăm sóc trâu. Làm anh lãnh đạo việc gì cũng ôm vào, vừa nhọc xác lại không có kết quả đâu.
    - Ở làng tao nuôi trâu chọi cũng phải chọn người “lão nông chi điền”, gia đình phải siêng năng, thuận hoà. Ai được các cụ bô lão trong làng lựa chọn cắt cử việc này là một vinh dự. Năm nay ông cụ thân sinh ra tao được đắc cử. Nuôi trâu đòi hỏi rất công phu, tỷ mỉ. Hội chọi trâu đến cuối tháng mười âm lịch mới khai cuộc, nhưng từ tháng giêng, làng đã bắt đầu rục rịch phân công chuẩn bị. Giống vật cũng như con người, phải âu yếm, vỗ về chăm sóc nó, truyền cho nó cái dũng khí và âm đức của mình. Ngày xưa cụ cố nội tao nuôi trâu chọi, luyện cho nó ăn, nghỉ, tập luyện, tắm rửa đều đúng giờ. Chiều chiều, cụ dắt nó lên đê gặm cỏ, hóng gió hoặc cùng nó phi nước kiệu dọc bờ đê ngắm nhìn dáng sông, thế đất của làng quê. Những đêm sát ngày thi đấu, cụ kê chõng ra gần chuồng, ngồi hút thuốc lào, tâm sự với nó như với người bạn... Năm nay theo bốc thăm, trâu làng tao sẽ đấu với trâu làng Hạ. Xưa nay dân làng Hạ ỷ thế giàu có, con cháu nhiều người thoát ly làm việc ở trung ương nên vẫn coi thường dân làng tao. Nhưng ông cụ nhà tao quả quyết trận đấu năm nay trâu làng tao sẽ thắng. Ông bảo, giống vật, nhất là con trâu có đời sống tâm linh riêng. Chủ càng nghèo nó càng yêu quý, trung thành và quyết không làm nhục chủ, đặc biệt là những con trâu có nhiều xoáy lông ở hông và trán...
    Lần ấy Sửu cùng Bê lên Mẫu Sơn thăm A Mộc. Họ uống rượu, tâm sự cùng nhau thâu đêm suốt sáng. Nhà A Mộc có đàn trâu trắng hơn ba chục con thảy đều to khoẻ, lực lưỡng. Con trâu đầu đàn được A Mộc rất quý, thương nó như con. Những ngày đi ăn trong rừng, nó chỉ huy đàn trâu chống lại thú dữ. Khi nhà có việc nó kéo gỗ, thồ hàng hay cày ruộng khoẻ gấp hai, ba lần các con trâu khác. A Mộc dẫn nó về nhà ra mắt chủ mới, làm Bê sướng rơn. Da nó đỏ hồng bóng nhẫy. Lông dài và thưa, sờ tay vào sợi lông cứng như dây thép. Mông nở, ức dày, bốn chân to và chắc lẳn như chân voi. Cặp sừng cong dài, đen nhánh như bôi mỡ lẫn bồ hóng. Đặc biệt cặp mắt biết nói của nó sáng một cách kỳ lạ như có thần khi bên trong. A Mộc nhất quyết biếu bạn không chịu nhận tiền. Khi Bê cầm dây định dắt con trâu đi, nó cứ dậm chân, lắc đầu, nước mũi, nước mắt cứ chảy ròng, không chịu bước. A Mộc phải dỗ dành, khuyên nhủ hồi lâu con vật mới chịu nghiêng đầu cọ má vào tay chủ từ biệt, theo Bê về xuôi…
    Sửu muốn đi thăm gia đình A Mộc. Anh thấy nhớ bạn, hơn nữa cũng muốn đi thử xe và khoe chiếc xe TOYOTA COROLLA đời mới với thằng bạn một thời chinh chiến gian khổ, đói quay đói quắt. Chiếc xe là niềm kiêu hãnh để anh chứng minh với bạn rằng, người miền núi đang đổi mới, tiến kịp miền xuôi.
    Xe đưa Sửu rời thị trấn huyện lên thị xã rồi thẳng con đường trải nhựa chạy về phía núi Mẫu Sơn. Anh thả hồn đê mê trong khúc nhạc du dương vọng từ máy ra-đi-ô caset. Tiếng máy điều hoà chạy xè xè, êm ru, mát rượi. Chiếc xe có bộ giảm sóc tự động khiến Sửu có cảm giác mình đang nằm bồng bềnh trên giường đệm của một khách sạn sang trọng. Nếu đi xe này về Hà Nội, thậm trí vào Đà Nẵng, hay Sài Gòn, Sửu chỉ cần ấn nút là hàng ghế phía sau tự động ngả ra thành chiếc giường nằm thoải mái, tha hồ đọc sách hay nhấm nháp lon bia, vừa nằm vừa ngẫm sự đời. Nhưng bắt đầu từ lúc rẽ vào con đường khai thác gỗ của lâm trường ở chân núi Mẫu Sơn, chiếc xe hiện đại của anh trở nên không thích hợp. Mỗi lần qua ngầm, vượt dốc nó leo ì ạch, thậm chí nhiều lần chú lái xe còn phải nhờ đến xe tải của lâm trường kéo giúp. Cuối cùng, Sửu cũng đến được bản Pò Linh của A Mộc. Hai người bạn lính lâu ngày gặp lại, ôm nhau thân thiết. A Mộc đầu quấn khăn, quần xắn quá gối, mồ hôi chua loét cứ thản nhiên khoác tay ông Chủ tịch huyện về nhà, giọng nói choang choang như hô khẩu lệnh quân sự. Người ở vùng cao thịt vịt quý hơn thịt gà nên chị vợ A Mộc vội vàng chạy ra suối, lừa bắt con vịt béo nhất đàn về làm thịt. Bạn lính gặp nhau ngồi uống rượu, kể toàn chuyện chiến trường và những thằng bạn cùng quân ngũ. Chợt A Mộc ngửa cổ tợp hết chén rượu hỏi bạn:
    - Thằng Bê ốm nặng mày biết chưa?
    - Không thấy ai đưa tin cho tao. Nó thế nào, nặng không?
    - Nó hạn nặng!... Nhưng theo tao, nó tâm bệnh là chính. Ốm vì cái tâm thì trầm uất khó chữa lắm
    - Mày là chúa hay vòng vo tam quốc, chuyện thằng Bê thế nào? Nói đi!
    - Nó bị mất chức Chủ tịch xã. Cái đó với tụi lính chúng mình là nhỏ thôi. Không làm quan thì làm dân, cần chó gì!
    - Vậy nó ốm vì cái gì? - Sửu lo lắng hỏi.
    - Vì tội bán đất công vô tội vạ, sắp ra tòa đến nơi rồi. Tao đã nhờ bạn bè cựu chiến binh trong ngành kiểm sát ở tỉnh Thái Bình điều tra, tìm hiểu kỹ thì hoá ra nó bị con mẹ Thư ký Uỷ ban xã lừa vào tròng. Nhờ thế, tội đáng phải truy tố, nhưng xét công lao thời chống Mỹ và tình tiết vụ việc nên nó chỉ phải bán nhà, bán trâu bồi thường và chịu kỷ luật nội bộ. Mày nhớ con trâu trắng đầu đàn tao biếu nó chứ? Sau trận thắng oanh liệt, húc lòi ruột con trâu đen của làng Hạ, ông bố nó quý con trâu như cục vàng. Hôm nọ tao nhận thư vợ thằng Bê nói, đã bán cho dân làng Hạ để kéo mía làm đường rồi. Tao định mang tiền xuống chuộc lại con trâu cho ông cụ đỡ buồn. Mày làm quan, xa dân chưa hiểu hết nỗi lòng người nông dân dưới xuôi yêu quý con trâu đến mức nào đâu...
    - Đại để tình tiết vụ việc sảy ra thế nào?
    - Bắt đầu là do nó thiếu cảnh giác. Cái tuổi Kỷ Sửu chúng mình, đứa nào cũng lành như đất, thật thà và cả tin. Thằng nào vô phúc léng phéng với đàn bà tuổi Ất Mùi, lại đẹp và huyền biến, gian manh là hạn nặng, tong đời như bỡn. Năm ngoái, nhà nó bị cơn bão kéo sập phải dựng lại. Con mẹ Thư ký Uỷ ban xã tuổi Ất Mùi xăng xái đi vận động mấy ông chủ xay sát và xưởng gỗ, mỗi người đóng góp ít tiền cho Chủ tịch xã khắc phục cơn bão. Họ làm kín đáo, chỉ góp bằng gạch, xi măng, sắt thép, gạo thịt. Tất nhiên là mọi thứ đều dư thừa, có thể bán bớt, lấy tiền trả công thợ và làm việc khác nên thằng Bê mắc lỡm, cảm động rưng rưng, luôn miệng cám ơn bà con. Ai ngờ con mẹ Mùi đã sớm thì thụt đi đêm với họ, thỏa thuận giá bán mấy miếng đất ven con đường tỉnh lộ sắp mở qua xã. Tiền chênh lệch hàng trăm triệu nó hưởng. Thi thoảng nó thí cho ông Chủ tịch xấu giai, tuổi trâu ngờ nghệch vài cái liếc tình hay bóp ngực nhì nhằng là cùng, thế thôi. Tao đoán vậy… Hồi còn ở lính, tụi mình lạ gì tính cách thằng Bê, nhát gái đến mức chị em người dân tộc ở địa bàn đóng quân thì thầm với nhau, bảo nó không có “chim’ cơ mà. Về chuyện tiền nong, kết quả điều tra xác minh rõ,con mẹ Thư ký Mùi ăn ốc, còn thằng Bê đổ vỏ. Vạ chữ ký, thằng Bê hạn nặng vì mắc vạ chữ ký! Chỉ những thằng làm quan lớn, quan bé như chúng mày mới có thứ vạ ấy chứ tao thì nhõn một thứ vạ mồm thôi…
    Sửu nghe A Mộc kể chuyện Bê chợt cảm thấy gai gai trong lòng. Hình như Khiêm cũng tuổi Ất Mùi. Anh nhớ lời nhắc nhở của Dần, hình dung lại thái độ xum xoe khúm núm và đôi mắt giảo hoạt của Khiêm. Ruột gan Sửu rối bời. Anh linh cảm thấy có điều gì không ổn trong việc mua chiếc xe ô tô Nhật đời mới. Biết A Mộc giỏi tử vi, tướng số, anh lựa lời bộc lộ dần với bạn về mấy việc vừa xảy ra ở Ủy ban huyện. A Mộc nghe xong, ngửa cổ tợp liền ba chén rượi. Hồi lâu, hắn nhìn sâu vào mắt Sửu, cất giọng trầm buồn nói:
    - Sửu! Mày có tin thằng bạn cõng mày thoát chết ở trận Phước Long không?
    - Sao mày lại hỏi tao câu ấy?
    - Năm nay là năm hạn của tụi mình. Người dân tộc chúng tao kém văn minh, tin vào tướng số. Riêng tao tin vào sự linh cảm bắt nguồn từ tình bạn thời lửa đạn, hy vọng mày mới chỉ háo danh, hãnh tiến chứ chưa đến mức mọt dân, hại nước. Nó mách bảo tao chuyện mày xây dựng trụ sở Ủy ban, mua ô tô đời mới có gì không ổn, giống hệt chuyện thằng Bê, gặp hạn là cái chắc. Mày là Chủ tịch một huyện miền núi, thường xuyên phải đi các xã nên ngồi xe Uwat có lẽ tiện hơn ngồi xe Nhật đời mới, gầm xe thấp tè, làm sao qua ngầm, vượt dốc. Tao sống ở vùng sơn cước, ít tiếp xúc với văn minh thị thành, nhưng tao hiểu giá một chiếc xe mày đang ngồi cỡ bằng cả đàn trâu trong cái bản Pò Linh. Ngồi trên con trâu trắng đầu đàn của tao, bố con thằng Bê thấy kiêu hãnh, thanh thản trong lòng. Mày ngồi lên chiếc xe là ngồi lên hàng trăm con trâu, mỗi con chạy một hướng, liệu mày có yên ổn? Tao chưa xem mặt đoán tướng hay lấy số tử vi cho cái thằng Khiêm, Chánh văn phòng láu cá của mày. Song tao nghĩ, nó đã biết đẽo tiền dân để lấy lòng sếp thì đẽo thêm vào túi riêng của nó chắc không ít đâu. Ăn quen bén mùi, qua mấy vụ này sẽ có lúc nó mượn tên mày mà đẽo tiếp tiền dân dài dài nữa cơ. Cứ đà này, nó còn đẽo dần từng cái chân ghế Chủ tịch huyện mày đang ngồi cho mà xem. Đời là thế, mày tin tao hay không thì tùy…Bạn bè thời lửa máu đáng quý ở chỗ nói thật, Sửu ơi!...
    Sửu nghe bạn nói, đầu có cứ ong ong, sôi lên ùng ục. Từ ngày lên chức Chủ tịch huyện chưa có ai dám nói với anh những lời bỗ bã, chân tình như vậy. Anh thầm cảm ơn A Mộc, cảm ơn tình bạn đồng niên, đồng ngũ. Sửu sực nhớ trong túi anh còn nguyên chiếc phong bì do Khiêm kín đáo nhét vào túi anh, sau bữa tiệc “rửa xe”. Luật chơi của kinh tế thị trường thời mở cửa đã thành nếp. Chiếc phong bì có lẽ chứa đủ số tiền năm phần trăm giá xe vừa mua. Nó có giá trị bằng mười con trâu của A Mộc, của Bê cũng nên. Anh móc túi lấy ra phong bì đưa cho A Mộc và nói:
    - Tao bận việc, thế nào cũng sẽ xuống thăm thằng Bê. Mày xuống trước, cho tao gửi ít tiền đỡ nó chuộc lại con trâu cho ông cụ.
    - Không. Tiền của các quan, lại được gói kín vào phong bì, chưa rõ lai lịch tao không cầm. Tao vừa sai thằng cu nhớn đem xuống chợ tỉnh bán mười con trâu đẹp nhất đàn. Tam ngưu tương mệnh, nhưng năm nay hạn của tao bé hơn chúng mày, chỉ phải bán trâu cứu bạn thôi. Mai tao sẽ đi Thái Bình. Mày nên sắp xếp công việc đi thăm thằng Bê một chuyến. Trên đời này có nhiều mối quan hệ giằng rịt con người, nhưng tình bạn kết bằng xương máu thời lửa đạn như chúng mình hiếm lắm. Dù đời có thế nào cũng đừng để mất nó!
    Rời bản Pò Linh, Sửu thấy lòng buồn rượi. Mỗi lời A Mộc nói như vết dao cứa vào tim anh. Sửu bật nút cho băng ghế phía sau ngả thành chiếc giường để anh bồng bềnh trên đó hút thuốc và suy ngẫm. Mai anh sẽ mượn chiếc xe Uwat của Bí thư Dần về Thái Bình thăm Bê…
     
  10. Uillean

    Uillean Banned

    THẾ LÀ... CHỊ ƠI !

    Thế là… ông Trời có mắt. Đời chị khổ nhiều rồi, khổ từ năm lên sáu, giờ ngoài bảy mươi xuân ông Trời mới cho chị thư nhàn an hưởng tuổi già. Con cái thảy đều thành đạt, bầy cháu nội ngoại xum vầy, đúng là “một cây cù mộc một sân quế hòe”… Cái căn hộ tồi tàn, ẩm mốc ở phố nhỏ gần nhà ga giờ bán đi nhờ cơn sốt nhà đất cộng với tiền thằng út bán tranh gửi từ Paris về đủ để chị mua căn biệt thự trên đại lộ vừa mở, rộng thênh và đẹp nhất khu đô thị mới. Nghe tin chị chuyển nhà, tôi mừng cho chị sao mẹ tôi lại khóc? Từng giọt cặn lệ ứa ra từ khóe mắt khô kiệt của mẹ mách bảo tôi rằng, mẹ xót thương đứa cháu ruột mồ côi bao nhiêu, càng nhớ người chị hồng nhan đoản mệnh. Thân gái dặm trường, mẹ chị phải theo chồng rời bỏ đô thành đi lánh nạn, ở lẫn với người Thái Đen tận bến Tà Chan, trên khúc sông Đà heo hút. Ngày ấy, các chí sĩ từng theo cụ Nguyễn Thái Học làm cuộc bạo động Yên Bái bất thành nếu không bị rơi đầu dưới máy chém tàn bạo thì cũng bị tù đày hoặc tan tác phiêu bạt sang Ai Lao, sang Xiêm. Chỉ riêng cha chị và người bạn chí cốt là ông Phán Hậu nảy ra sáng kiến đưa vợ con đi lánh nạn trên sông Đà. Thuyền ngược dòng đi được hai ngày bị khám xét dữ nên phải chia đôi, ông Phán Hậu neo lại bến Chợ Bờ, còn cha chị neo lại bến Tà Chan sinh sống qua ngày và thăm nuôi, tiếp tế cho bạn bè ở nhà tù Sơn La. Cái bến Tà Chan nhờ thế trở nên sầm uất, dân quanh vùng quen gọi là Bản Phố. Mẹ chị buôn muối, dầu hỏa, vải vóc, kim chỉ… từ dưới xuôi lên và mua hàng lâm sản gửi thuyền về Hà Nội giao cho các chợ. Nó còn là nơi ẩn cư an toàn của gia đình chị bởi từ thị trấn Hát Lót đi xe ngựa vào Kiên Lao còn phải đi bộ một ngày đường qua hai quả núi cao chất ngất mới ra được bến Tà Chan. Song nếu cha chị muốn gửi quà tiếp tế cho bạn bè ở nhà tù Sơn La lại rất gần và thuận tiện. Có người lính khố xanh canh gác trại giam nhà ở Hát Lót sẵn lòng giúp ông làm việc nghĩa cử. Hễ có ai vượt ngục, bất kể thân sơ, không phân biệt tù Quốc Dân Đảng hay tù Cộng Sản đều được ông hết lòng che chở. Và chị, cô gái dòng dõi trâm anh đất Hà Thành hoa lệ lại được sinh ra giữa nơi thâm sơn cùng cốc. Tuổi thơ chị gắn với rừng già, bến sông và những đứa trẻ lấm lem người Thái, người Mường. Thi thoảng chị mới được theo cha xuôi thuyền về bến Chợ Bờ thăm ông Phán Hậu, được chơi đùa thỏa thích với anh, hồi đó lớn hơn chị dăm tuổi. Nhưng anh cũng sớm phải xa chị về quê Nam Định ở với ông nội để theo học tiếp bậc Thành Chung rồi Tú Tài. Mối nhân duyên giữa chị và anh khởi nguồn từ đó chứ phải đâu như sau này người ta kết tội anh là nhà thơ sa đọa, gian díu với con phản động đội lốt công giáo, chống phá cách mạng.
    Thế là… chị ơi! Ông Trời có mắt. Cuối cùng thì thơ anh cũng được tôn vinh. Sau ngày anh mất, tập trường ca cuối cùng của anh được trao giải và hôm nay tôi lại nhìn thấy chị trên màn ảnh nhỏ, trong lễ trao giải thưởng Nhà nước cho anh và những người bạn của anh. Song cái án oan kết tội ông Phán Hậu, nhà chí sĩ yêu nước giầu có, danh giá bậc nhất tỉnh Nam Định bị bôi nhọ là tên phản động Quốc Dân Đảng, tay sai đế quốc Pháp ai rửa cho ông? Đêm trước ngày bị các Ông Đội sai cán bộ chuỗi, rễ đến nhà bắt trói ông đem đi đấu tố, ông lập bàn thờ giữa sân nhà, có bài vị Nguyễn Thái Học bằng chữ Nho, rồi ông đội khăn xếp, mặc áo the đen, lầm rầm khấn vái: “Tiên sinh năm nào lên máy chém vẫn để lại lời bất hủ rằng “không thành công cũng thành nhân”. Giờ độc lập thành công rồi, mai tôi lên đọan đầu đài sẽ thành gì đây? Tiên sinh hỡi, tiên sinh!...” Cái án oan ấy khiến anh đang đi công tác cải cách ruộng đất ở Thái Bình bị triệu hồi về giam lỏng ở đơn vị. Ngày ấy, nếu lần anh tự tử bằng dao lam trót lọt thì còn đâu những tác phẩm sau này anh viết cho người đời chiêm ngưỡng, hậu thế tôn vinh? Mà anh đâu chỉ có thơ. Anh là nghệ sĩ đa tài. Hôm tôi đến mừng chị dọn sang nhà mới, chị mở cho xem cuốn “Các danh họa Việt Nam hiện đại” do Viện hàn lâm hội họa Pháp xuất bản tại Paris, có cả tác phẩm tranh của anh và tranh của thằng út nhà chị trong đó, được giới thiệu rất trang trọng. Mẹ tôi nhìn vào bức tự họa của anh, nghẹn ngào hồi nhớ những lần gặp đứa cháu rể như cái xác vô hồn, nửa điên nửa tỉnh trong gian gác xép tối tăm của căn hộ xập xệ, ẩm mốc thủa nào. Giờ chị có cả tòa biệt thự sang trọng thì anh đã thành người thiên cổ. Đãi bôi anh chút danh hão làm gì khi cả đời anh đói ăn và đói viết. Chị đã cố tần tảo cắp thúng bán xôi, bê mẹt bán thuốc lá ngoài hè phố để nuôi anh và ba đứa con thơ ăn học, nhưng còn cái đói viết của anh, chị làm sao lo được. Là nhà thơ tiên phong cách tân, anh mắc phải vạ bút đã đành một nhẽ. Song khi “giậu đổ bìm leo”, người ta- những bạn viết của anh có người còn nỡ đổ lên đầu anh thêm cái vạ gian díu với con phản động đội lốt tôn giáo là chị. Giấy trắng mực đen, họ kết tội chị là tác nhân khiến anh sa đọa. Có lần chị bảo tôi: “Đời chị suốt bao nhiêu năm sống âm thầm như bóng ma, chỉ có hai lần được thiên hạ nô nức đi xem mặt. Lần thứ nhất, người ta bu kín hội trường làm lễ cưới để xem con phản động sánh đôi cùng nhà thơ phản động. Lần thứ hai, người ta lại kéo đến vây kín phố nhỏ gần nhà ga để xem mặt vợ ông nhà thơ nổi tiếng nay đã lên bà, khi chị mặc áo xô đi sau chiếc quan tài của anh.” Tôi nắm tay chị, ngước nhìn lên bức tự họa bằng mực Tàu của anh treo trên tường, the thắt buồn.
    Thế là… chị ơi! Nhắc đến nỗi oan của chị, mẹ tôi lại khóc và bảo: “Chung quy chỉ tại mẹ. Dì ruột vì thương cháu mà vô tình làm nó rơi vào cảnh ngang trái, chịu nỗi oan tày đình.” Lời mẹ kể cứ ám ảnh tôi nhớ về tuổi thơ và thời thanh xuân của chị. Ngày ấy Tà Chan nổi tiếng là nơi ma thiêng nước độc. Mẹ chị ngược xuôi trên sông buôn bán, sống kham khổ, tằn tiện dành tiền cho chồng tiếp tế, thăm nuôi các bạn trong tù nên kiệt sức ngã bệnh qua đời năm Bính Tý (1936). Cha chị gà trống nuôi con lận đận trên bến sông hiu hắt, nhớ vợ đã khuất, thương bạn trong tù, lại thêm nỗi đau vì cuộc khởi nghĩa Yên Bái bất thành, khổ lụy đến bao người nên hai năm sau cũng qua đời sau cơn bạo bệnh. Chị sinh năm Nhâm Thân (1932) nên khi ấy (1938) mới 6 tuổi đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ. Ông Phán Hậu ngược thuyền từ Chợ Bờ lên Tà Chan chôn cất bạn rồi đưa chị về xuôi. Lúc này, anh Lâm, người anh lớn của chị thi đậu xong Tú Tài đã thoát ly đi hoạt động bí mật ngoài vùng mỏ, bà nội cũng đã già yếu. Ông Phán Hậu từ khi còn ở Chợ Bờ đã có ý nhắm chị làm dâu sau này nên muốn đưa chị về về quê Nam Định. Song một người bạn khác của cha chị là ông đốc tờ Chu khuyên ông gửi chị cho bà đốc chăm sóc, nuôi cho ăn học và dậy nghề. Ông Đốc Chu nổi tiếng vì có bằng bác sĩ ở Pháp về nên bà Đốc Chu mở nhà hộ sinh lớn nhất Hà Thành. Gửi chị vào nhà ấy ông Phán Hậu cũng thấy an lòng, không phải ân hận với người bạn đã khuất. Mẹ tôi bảo, cái duyên số anh chị cứ bén dần nhờ ông Phán Hậu vài tháng lại lấy cớ gửi tiền và ít quà quê, sai anh mang lên Hà Nội gặp chị. Cách mạng thành công, anh nổi tiếng là nhà thơ hực lửa chiến đấu, cổ súy mọi người xả thân vì nền cộng hòa non trẻ. Chị đã sang tuổi 13, cái tuổi chớm thành thiếu nữ, mơn mởn xuân thì, lộng lẫy kiêu sa của cô gái Hà Nội. Nhưng vẫn còn quá sớm để… Thế rồi kháng chiến bùng nổ, anh vào bộ đội, cha mẹ tôi và nhiều gia đình trí thức như ông Đốc Chu đều hăm hở lên chiến khu theo Chính phủ kháng chiến. Bà Đốc Chu nhận nhiệm vụ ở lại Hà Nội bám giữ nhà hộ sinh làm cơ sở tiếp tế thuốc men, nhu yếu phẩm ra vùng kháng chiến. Chị trở thành con thoi liên lạc tin cẩn và rất được việc của bà Đốc Chu. Ở chiến khu Việt Bắc, mẹ tôi cũng được giao nhiệm vụ liên hệ với chị nhận hàng tiếp tế, chuyển thư từ cho các gia đình trí thức gửi về Hà Nội. Mỗi lần dì cháu gặp nhau xiết bao mừng tủi. Bà sững sờ nhận ra chị càng lớn càng đẹp, đẹp từ vóc dáng đến nước da, xinh từ điệu cười đến lời nói, nhất là đôi mắt như phảng phất nét đẹp nguyên sơ của núi rừng Tây Bắc trên bến Tà Chan. Chiến tranh là tàn khốc, sống chết khôn lường. Mẹ tôi muốn anh được gặp chị, dù chỉ một lần kẻo lỡ không may chết trận khỏi phí đời trai. Vì thế, một lần nhận hàng tiếp tế, bà đã liều vi phạm kỷ luật, dắt chị vào sâu trong An Toàn Khu chờ gặp dịp anh. Chị ở lại nhà tôi trên chiến khu mấy ngày, nhưng lúc nào cũng đông như nhà có đám cưới. Lũ nhóc chúng tôi suốt ngày quẩn quanh bên người lớn để chờ túi kẹo từ Hà Nội gửi ra mà người nhận luôn hào phóng sẻ ra chia phần. Các anh lính trẻ tranh nhau thập thò ngoài cửa nhìn chị tán thưởng và ao ước một nụ cười duyên, một khóe nhìn thân thiện. Người từ khắp nơi băng rừng hàng chục, có khi hàng trăm cây số chỉ để nhờ chị chuyển một lá thư vào nội thành cho gia đình. Gã thủ trưởng Thịnh híp, cấp trên trực tiếp của anh ở An Toàn Khu vừa đến nhà gặp chị đã mê mẩn như kẻ mất hồn, lẵng nhẵng bám lấy mẹ tôi nhờ làm mối. Ngay đêm đó, hắn điều anh đi công tác gấp ngoài mặt trận. Ngày ngày hắn xum xoe tán tỉnh chị dai như đỉa đói, lại còn làm cả xấp thơ tình tặng chị, nhưng chị nào có thèm đọc. Chị bảo tôi: “Em đem nắm giấy lộn này đi mà chùi đít. Thơ hắn bốc mùi như lỗ mồm hắn bốc mùi vì bệnh viêm xoang, sao thuộc cấp của hắn cũng là nhà thơ có danh có giá lại hạ mình tâng bốc thơ hắn lên tận mây xanh?...” Tôi trẻ con nào có hiểu gì, chỉ thấy khoái chí, bô bô khoe với chúng bạn được chùi đít bằng thơ của thủ trưởng anh, thế thôi. Mẹ tôi đâu ngờ sau chuyến đi ấy, chị về Hà Nội được nửa ngày thì bị mật thám Pháp xông vào nhà hộ sinh, xích tay chị giải vào nhà giam Hỏa Lò. Chị bị tra tấn dã man với đủ thứ cực hình thời trung cổ vẫn không khai nửa lời về đường dây tiếp tế thuốc men cho kháng chiến liên quan đến bà Đốc Chu và mẹ tôi. Ông Phán Hậu nghe tin dữ tất tưởi lên Hà Nội tìm cách cứu chị ra khỏi nhà giam. Ông tung tiền, vàng lo chạy khắp các cửa đều vô vọng. Tình cờ ông gặp một bạn văn chương người Pháp đang làm cha xứ nhà thờ Cửa Bắc. Nghe chuyện rồi gặp chị, dù thân thể bầm dập vẫn sáng lên vẻ đẹp rực rỡ giữa nhà tù nặng nề âm khí, cha chạnh lòng thương xót, hứa sẽ giải cứu cho chị. Để nhà thờ dễ bề can thiệp, cha khuyên chị nhận tên thánh do ngài đặt. Chị theo đạo từ đó, dù chưa hề đi lễ nhà thờ, nhưng chị là con nuôi cha xứ. Bí mật này chị muốn đào sâu chôn chặt. Tôi nói ra cũng chẳng để làm gì. Nói cho hả rồi quên. Người đời cũng sẽ quên như cái Bản Phố trên bến Tà Chan ấy, giờ có ai biết đâu. Nó đã chìm xuống lòng sông từ sau ngày xây đập thủy điện. Chỉ có thơ và tranh của anh sẽ còn mãi mãi.
    Thế là… chị ơi! Anh đã thành người thiên cổ. Đêm nay đêm cuối tháng. Trời tối đen như vạt áo choàng của các bà xơ. Tôi nhìn ra ô cửa sổ của chung cư tầng 11 chợt thấy anh bước ra từ bức chân dung tự họa bằng mực Tàu thẫm đen. Tôi nhận ra anh vẫn như ngày nào đờ đẫn tản bộ từ phố gần nhà ga sang Kim Liên xem cha tôi nuôi ong, hay mượn cha tôi cuốn sách tiếng Pháp. Cả đời anh khát đọc, đói viết mới là điều uẩn ức, chứ đói cơm nào có đáng kể gì. Vả chăng anh ăn cơm có được là bao. Có bận nể lời mẹ tôi, anh nán lại ngồi vào mâm, nhẩn nha nhai từng hạt cơm. Ăn kiểu ấy thì tiêu chuẩn phiếu gao của công dân hạng bét anh ăn cũng đâu có hết. Còn thịt cá ư? Anh ăn chay lâu rồi. Từ ngày bị treo bút, anh ngồi thiền quy y tại gia. Thiếu rau đã có cỏ mà cỏ thì vô thiên lủng. Vả chăng rau mậu dịch thời đó có hơn gì cỏ, thua xa mấy nắm lá cỏ lành anh vặt trên đường vào những chiều lang thang dọc đê sông Hồng ngắm cảnh. Bây giờ các đại gia vào nhà hàng đặc sản ăn gỏi cá, tái dê cũng thấy trên bàn la liệt các thứ cỏ nhậu với rượu Chivas 21 năm cơ mà.
    Tôi đã thấy gương mặt đần độn, thớ lợ của gã nhà văn đàn em của anh, xưa từng viết bài kết tội anh sa đọa gian díu với con phản động đội lốt công giáo, nay ngồi trên bàn nhậu ấy với dăm ông chủ vũ trường tàng trữ thuốc lắc. Mẹ tôi thường bảo, nhờ có chị đảm đang tháo vát nuôi ba đứa con thơ không bị thiếu ăn, đói mặc nên anh không như mấy bạn văn bị treo bút khác, phải đi kéo xe bò than quả bàng, đi làm thợ mộc hay đi đóng gạch xỉ than kiếm ăn. Nhưng anh cũng thương chị lắm! Có lần anh bỏ nhà lên Xuân Mai, vào rừng kiếm củi, vác từng bó ra ngã ba quốc lộ 6, nhờ anh lái xe tốt bụng chở về chất đống trước cửa nhà làm chị phát hoảng. Chị phải gọi người bán tống bán tháo trước khi trời sáng để khỏi bị công an phạt vi cảnh vì tội lấn chiếm hè phố. Lại có bận chẳng hiểu vì nghe tiếng chị vét đáy thùng gạo sồn sột hay vì nhịn viết không nổi, anh bỏ nhà lên hang đá ở Bắc Cạn nhịn ăn, uống nước lã ngồi thiền hàng tháng trời. Ở nhà, chị bấn lọan, bổ đi gõ cửa khắp các nhà quen dò hỏi, tìm kiếm. Hôm anh về, chị chết lặng nhìn anh như nắm xương khô, râu tóc bù xù, áo quần mọc rêu, muốn òa khóc mà đôi tròng mắt chị chỉ đủ ứa ra vài giọt cặn lệ. Gặp tôi chị bảo: “Khổ mấy chị cũng thay anh gánh chịu tất cả. Nhưng là người viết như anh mà phải nhịn viết thì nỗi khổ ấy chị đành bất lực.” Nghe vậy, tôi mới hiểu vì sao anh Lâm ngày xưa đám từ bỏ mọi vinh quang, quyền chức đứng ra tổ chức lễ cưới cho anh chị.
    Thế là…chị ơi! Anh Lâm bây giờ cũng đã thành người thiên cổ. Ngày anh Lâm hấp hối, vợ chồng tôi ra Hải Phòng thăm anh. Căn hộ cấp bốn, bề ngang ba mét, mái lợp thấp tè trong khu tập thể lâm nghiệp ở quận Lê Chân là nơi anh Lâm hưu trí tuổi già. Nó làm tôi nhớ tới khu nhà xưa của ông bà nội anh rộng hàng mẫu đất ở làng Mọc Đáy trong tổng Mọc Quan Nhân, được thiết kế như dinh thự của một hưu quan, có nhà chính, nhà ngang, vườn sau sân trước, bao quanh là dãy hàng rào bằng cây dâm bụt trổ đầy hoa đỏ. Khu nhà ấy hồi cải cách ruộng đất bị chia năm xẻ bẩy cho các bần cố nông, giờ họ lại bán sạch cho người trong phố cổ ra xây biệt thự. Tôi biết, trong số ấy có biệt thự của con gái Thịnh híp, kẻ được cha anh Lâm và ông Phán Hậu cưu mang những ngày vượt ngục Sơn La thủa nào. Anh Lâm bị lão Thịnh híp trù dập, đẩy đi làm cán bộ công đoàn vùng than Quảng Ninh, cuối đời về Hải Phòng tá túc trong căn hộ này theo tiêu chuẩn của vợ. Cái tội của anh Lâm là đã phớt lờ lời cầu xin làm em rể của Thịnh híp khi còn ở trên chiến khu Việt Bắc. Đã thế, sau ngày giải phóng Thủ đô, bất chấp sự ngăn cản của hắn và cơ quan, đơn vị hai bên, anh Lâm lại ngang nhiên đứng ra tổ chức hôn lễ cho em gái với thằng nhà thơ phản động. Mấy chục năm công tác ngoài vùng than, anh Lâm không vượt nổi cái ngưỡng của thang lương cán sự để lên chuyên viên hạng bét. Tôi bùi ngùi cúi đầu qua dây thép ngoài sân phơi đầy bao tải gai lẫn quần áo đủ mầu, đủ cỡ, bước vào căn hộ tồi tàn, mắt cứ hoa lên vì ánh sáng thay đổi đột ngột. Khó nhọc lắm, tôi mới leo nổi cái thang gỗ dựng đứng dẫn lên gian gác xép áp mái. Một ông lão ngót tám mươi, không phải, một bó củi khô có cái đầu biết nhìn tôi và biết nói thều thào. Vợ tôi cứ lo anh Lâm nằm đó, lỡ khi anh đi thì biết khiêng áo quan xuống bằng cách nào! Nhưng bên dưới nhỏ hẹp, toen hoen hơn chục mét vuông ấy còn chiếc bàn con uống nước với mấy chiếc giường của bà vợ bẳn tính suốt đời không hợp với anh, của vợ chồng thằng con trai và hai đứa cháu nội, gia đình biết để anh nằm chỗ nào? Còn đâu hình ảnh oai phong của người chiến sĩ cách mạng nổi tiếng với bí danh Trần Quốc Bình ở vùng mỏ và chiến khu Đông Triều thời tiền khởi nghĩa! Nhắc tới bí danh của anh, tôi lại nhớ con đường rất đẹp ở quận Ba, thành phố Hồ Chí Minh mang tên Trần Quốc Thảo, có trụ sở Hội nhà văn thành phố. Anh Lâm là bạn chí cốt với Trần Quốc Thảo nên mới đặt cho mình bí danh ấy. Hai người đều yêu văn thơ, cùng họat động nhiều năm ở vùng mỏ và chiến khu Đông Triều. Sau ngày Nam Bộ kháng chiến, ông Thảo được điều động theo tướng Nguyễn Bình vào Nam, còn anh Lâm bí mật lên Việt Bắc chuẩn bị cơ sở cho Chính phủ kháng chiến. Giờ họ danh phận khác nhau cũng đều thành người thiên cổ. Và cả lão Thịnh híp thâm hiểm, độc ác giờ cũng đã về với cát bụi cả thôi. Đời người là kiếp phù du mà chị…
    Thế là…chị ơi! Ông Trời có mắt. Nghe đồn, ngôi mộ xây bằng đá cẩm thạch của Thịnh híp ở nghĩa trang quốc gia không hiểu vì sao thiên hạ cứ bí mật đến đổ rác, thậm chí có người còn ỉa đái lên đó hay chát cứt vào bia mộ. Con cháu ông ta đã mang hài cốt về quê xây mộ khác. Mộ cũ bây giờ bên trong chỉ toàn là cát. Chị xây mộ cho anh không cầu kỳ, chỉ vỉa vài hàng gạch còn lại để nguyên nấm đất xanh mướt thảm cỏ, giống cỏ đặc biệt xanh quanh năm ở hoa viên Bảo tàng Mỹ thuật Paris mà thằng út nhà chị mang về nước gây giống nhân cuộc triển lãm tranh của nó. Chị muốn anh nằm xuống vẫn giao hòa với trời mây, trăng sao, cây cỏ. Giá hồi anh còn sống, người yêu thiên nhiên như anh mà theo gương bác Nguyên Hồng đưa vợ con lên Tà Chan có lẽ tốt hơn chăng? Một lần, trong chuyến đi theo đoàn làm phim lên Sơn La, mẹ tôi dặn: “Nếu có điều kiện con nhớ ghé thăm bến Tà Chan”. Xe lên tới Hát Lót, tôi tách đoàn, hỏi thăm đường vào Tà Chan. Dân địa phương khuyên tôi nên đi xe ôm ra cảng Tà Hộc rồi ngược thuyền lên Tà chan sẽ đỡ vất vả. Đi hướng Kiên Lao qua Chiềng Chăn vào Tà Chan họ bảo leo núi cực lắm, sức tôi không chắc kham nổi. Song nếu đi đường sông, tôi không thể lần theo dấu chân xưa, cha chị hàng tháng mang đồ tiếp tế ra Hát Lót gửi vào nhà tù Sơn La qua tay người lính khố xanh. Trời đã quá trưa sang chiều. Gió từ cao nguyên Tà Khoa hiu hiu thổi vào lòng tôi nỗi buồn man mác. Tôi vào quán, nhân nha ly café toan tìm nhà trọ ngủ qua đêm, mai sẽ đi tiếp. Chị chủ quán mau chuyện, khoe với tôi rằng thị trấn này có ông già người Thái sống trên trăm tuổi vẫn minh mẫn khác thường, biết rõ nhiều chuyện ở đời. Tôi mua ít hoa quả, bánh kẹo vào thăm cụ. Thật lạ! Đã gần 120 tuổi mà cụ rất minh mẫn, chỉ đôi mắt hơi mờ và tai nghe hơi kém. Hỏi chuyện, tôi thêm bàng hoàng xúc động bởi cụ chính là người lính khố xanh coi tù năm xưa. Cụ tả rất rõ dáng người phong lưu, đĩnh đạc, cử chỉ nho nhã của cha chị. Cụ còn kể vanh vách Thịnh híp chỉ là thằng lưu manh móc túi ở nhà ga, bến xe dưới Hà nội. Hắn được một cơ sở cách mạng thuê ăn cắp bộ chữ và mấy bản kẽm của nhà in Minh Sang cho họ in truyền đơn. Việc bị bại lộ, hắn bị bắt và nghiễm nhiên thành tù chính trị. Trong nhà giam, anh em tù Quốc Dân Đảng rất khinh bỉ, tẩy chay Thịnh híp. Song không hiểu sao, nhóm anh em tù Cộng Sản lại bị hắn mê hoặc, kết nạp vào chi bộ nhà tù, được vài năm thì leo lên cấp lãnh đạo. Ngày hắn vượt ngục với mấy đồng chí nữa, chính cụ đã chỉ đường cho họ vào Tà Chan ẩn náu…Đêm ở nhà trọ, tôi không sao ngủ được, mong trời mau sáng. Đường từ Kiên Lao vào Chiềng Chăn quanh co uốn lượn, vắt qua hai ngọn núi cao sừng sững. Có lúc tôi đi men mép vực chênh vênh, nhìn xuống dưới mà thấy chóng mặt. Xa thế, khó thế mà cha chị vẫn kiên trì hết năm này tháng nọ đi tiếp tế cho bạn trong tù. Thịnh híp vào Tà Chan, được cha chị cưu mang tha hồ ăn no ngủ kỹ, chẳng lo bị bắt lại. Hồi anh Lâm còn sống kể rằng, Thịnh híp nấn ná ở Tà Chan hàng tháng. Hắn sai các bạn tù người xuôi thuyền xuống bến Chợ Bờ, người leo tắt đường núi đi Tà Khoa liên hệ, bắt mối với cơ sở, còn mình nằm khểnh uống rượu, tuyên truyền cách mạng cho cả nhà, nói như thánh tướng nên cha chị chỉ khinh khỉnh ngồi nghe, cười mát. Hôm ông Phán Hậu từ Chợ Bờ lên đón hắn về cơ sở cách mạng dưới Hòa Bình, cha anh ghé tai thì thầm: “Thằng này có tướng phản phúc. Mình cứu nó thoát nạn, chẳng biết sau này có gặp họa vì nó hay không?” Câu chuyện của cụ già trăm tuổi người Thái, lời kể của anh Lâm văng vẳng bên tôi suốt dọc hành trình leo núi. Lên đỉnh núi thứ hai, tôi đã nhìn thấy thấp thoáng xa xa dòng sông Đà và hai bản Chiềng Chăn, Tà Chan nằm men bờ nước như bức tranh thủy mạc. Chị ơi! Nếu anh còn sống, đi cùng tôi lên đỉnh núi này hẳn sẽ không thể rời chân, quên mọi khổ đau, uẩn ức, ngồi lỳ trên mỏm đá làm thơ và vẽ tranh. Còn tôi đứng trên đỉnh núi nhìn về Tà Chan lòng cứ miên man ngẫm ngợi. Ở cõi nhân sinh muôn thủa những kiếp người thì mọi thứ vinh- nhục, sướng- khổ, thiện- ác… vốn đều có cả. Chẳng cầu mà đến. Muốn tránh cũng phải gặp. Song tất cả rồi sẽ biến mất trên cõi đời, như Bản Phố chìm xuống lòng sông. Thế là… chị ơi! Tôi đã đến được Tà Chan, lội nước dò tìm dấu tích Bản Phố ngày xưa, cũng là nơi khởi nguồn một mối tình và những oan trái đời chị....
    Lời cuối: Câu chuyện này tôi viết có thực có hư. Nửa thực tôi dành kính tặng chi K và hương hồn anh D. Còn nửa hư kia, nó là hư cũng là sự thật, tôi gom nhặt từ những mảnh vụn của lịch sử bồi đắp thêm…Chuyện thường của nghề văn, chị ơi, tha lỗi cho cho em!
     
  11. Uillean

    Uillean Banned

    ĐẠO SĨ VÀ RẮN ĐỘC

    1- Đêm miền Tây Ấn Độ thẫm một màu đen huyền bí, không gian tĩnh lặng, hầm hập nóng như chiếc lò bánh mì, làm phồng rộp những vỏ cây khô xác và những mảng rêu như chiếc bánh đa bong ra khỏi bức tường đá của pháo đài Gwalior. Tiếng côn trùng râm ran một điệu nhạc buồn mênh mang và áng đom đóm lập lòe bay lượn như ma chơi. Xa, xa lắm, một nhánh phụ lưu của sông Hằng lặng lờ trôi, hút sâu vào bóng tối. Trời vắng sao và đầy gió nóng. Pháo đài Gwalior nằm sừng sững, đơn độc trên ngọn đồi, lổn nhổn những tảng đá gan gà, lác đác mấy bụi sương rồng, mấy khóm dứa dại mọc gai tua tủa. Xóm làng nằm khuất lấp sau rừng lau phía bờ sông xa tít tắp, chìm trong giấc ngủ nhọc nhằn, khắc khoải. Mấy chòi gác cao chót vót, bao quanh pháo đài, giống như mấy chiếc lồng chim ngất như trong gió nóng, chao đảo giữa trời đêm. Từ trên chòi gác vẳng lại tiếng hát ê a, trầm buồn của anh lính. Lời hát dân ca miền Tây mà những người lang thang vẫn thường hát ở các chợ quê: “Hỡi ơi! Con chim bé nhỏ, chiêm chiếp kêu trong bụi xương rồng gai. Nắng làm mi sã cánh, gió làm mi rụng lông, cơn khát khô làm mi cứ ngáp hoài… Hỡi ơi, trong bụi xương rồng gai có con chim lạc loài, có con chim chiêm chiếp kêu hoài!..”

    Trong buồng giam nữ tù hơn ba mươi con người đang ngủ. Thỉnh thoảng một nữ tù lầm bầm nói mớ hoặc giơ tay đập muỗi làm bật lên một tiếng “đốp” khô khốc, dữ dằn. Ở bục xi măng gần ô cửa thông gió, Phoolan Devil không sao ngủ được. Nàng nằm hút thuốc và nhìn ra phía ngoài trời đêm. Thấm thoát đã mười hai năm trôi qua. Ngày bước chân vào pháo đài chấp nhận án tù khổ sai nàng mới ba mươi tuổi, nay đã vừa tròn bốn hai. Sáng mai nàng sẽ được tự do. Hai tiếng ngọt ngào ấy suốt mười hai năm nàng cay đắng đợi chờ, thấp thỏm. Mùa này dọc thung lũng Chambia quê hương của nàng nở đầy hoa cúc dại. Thứ hoa màu vàng tươi, cánh mỏng như đàn bướm rập rờn bay trong nắng. Cái tên Phoolan Devil cha mẹ đặt cho nàng, tiếng Hindi nghĩa là chúa tể các loài hoa. Vậy mà sao đời nàng cứ xám đen như hòn đá cuội, lăn lóc bên bờ suối cạn?

    Số phận đã đẩy “bà chúa của các loài hoa” trở thành nữ chúa đảng cướp mang tên rắn độc Cobra. Nàng sinh năm 1953, người Trung Hoa gọi là tuổi rắn. Tên đảng cướp của nàng là Cobra cũng là loài rắn độc. Năm nàng vào tù là năm Hợi tám ba, trúng vào năm ứng với sao Kim Lâu, người ta vô tình hay cố ý kết án nàng đi tù khổ sai tròn một giáp, để đến năm chín lăm nàng ra tù lại trúng vào năm Hợi, gặp sao Thái Bạch. Nàng tự hỏi: Chẳng lẽ nghiệp chướng ta vẫn còn chưa hết, liệu mai này đi dưới bầu trời tự do ta có còn được là ta? Suốt những năm tung hoành trong đảng cướp Cobra, ta chỉ giết những thằng đực rựa mọt dân hại nước, những kẻ dâm bạo cưỡng hiếp hoặc lường gạt đàn bà. Tiền bạc ta cướp của chúng đâu phải là thứ tiền trong sạch. Đó là những đồng tiền tanh mùi máu, nhầy nhụa như nước dơ của đàn bà đến kỳ đến tháng. Ta cướp tiền về để ta làm cuộc phân phối trong công bằng và đắc dụng. Đã có biết bao dân nghèo được ta cho tiền mua gạo ăn, áo mặc, thuốc uống. Đã có biết bao ánh mắt hàm ơn của các cô gái được ta cứu thoát khỏi cảnh sống ô nhục, cấp tiền về quê làm ăn sinh sống. Bọn cảnh sát đàn ông săn đuổi ta, treo giải một trăm năm mươi ngàn Rubi cho ai bắt được ta, nhưng chúng đã chịu thua, thành trò cười cho đám dân lành vẫn hằng ngưỡng mộ, che chở ta. Nếu không có bà Thủ tướng đích thân ra lời kêu gọi ta đầu hàng trên ti vi vào năm Hợi tám ba, chắc rằng ta vẫn tung hoành trên thung lũng Cham bia rực rỡ màu vàng của hoa cúc dại. “Tôi đầu hàng không phải vì công lý của những người đàn ông!”. Lời tuyên bố ấy của ta gửi bà Thủ tướng đã từng đăng trên trang nhất của tất cả các tờ báo bằng hàng tít lớn. Chính vì lời tuyên bố ấy mà Singh đã vượt nghìn dặm đường dài, đến pháo đài Gwalior tìm ta. Ôi chàng Singh trong sáng thơ ngây lúc đó mới mười tám tuổi đời, sao chàng lại điên cuồng yêu ta đến vậy. Tấm tình của chàng ta hiểu, không phải là sự bốc đồng trong dại khờ, non nớt. Ngày ấy, chàng mới chỉ là cậu sinh viên trường Luật năm thứ nhất ở Bom bay, còn bây giờ chàng đã có một văn phòng luật sư tiếng tăm lừng lẫy. Mười hai năm trời theo đuổi, thăm nuôi một nữ tù, đủ thấy cái tình của chàng lớn và đẹp bist chừng nào! Sáng sớm mai, khi mặt trời nhô lên ở rừng lau sậy phía bờ sông, những vạt sáng hồng lan toả trên vách núi đá gan gà, chàng sẽ mang hoa đến đón ta. “Singh ơi! Tôi quý Singh và cám ơn Singh nhưng tôi không thể...” Phoolan Devil thầm gọi tên chàng, mắt nàng mọng ướt. Nàng bồi hồi nhớ lại buổi gặp Singh mười hai năm trước...

    2- Có tiếng mở khoá lách cách. Người nữ cảnh sát mở khoá vào buồng giam lạnh lùng gọi:

    - Tù nhân số 2576 ra ngoài có người nhà xin gặp.

    - Bà có lầm không, bà cảnh sát? Tôi là kẻ vô gia cư, làm gì có người nhà mà gặp với gỡ! – Poolan Devil thản nhiên đáp

    - Một cậu thanh niên còn rất trẻ, cô ra nhanh lên!

    - Anh ta đi một mình à?

    - Có một vị nghị sĩ già đáng kính của bang đi cùng.

    Phoolan Devil đứng dậy lững lự hồi lâu rồi lựng lẽ bước theo người nữ cảnh sát ra ngoài. Nàng thầm nghĩ: Lại một bọn đàn ông hiếu kỳ, đáng ghét. Nhưng người nữ cảnh sát nói rằng chàng trai còn rất trẻ, mặt non choẹt, trên ria mép lún phún mấy sợi lông tơ. Ông bố đi cùng là một nghị sĩ dòng dõi quý tộc nổi tiếng của bang, được dân chúng kính trọng. Từ ngày bị giam trong pháo đài không ít phóng viên và những kẻ hiếu kỳ xin gặp ta. Cậu bé này chưa đến tuổi đi làm, phải có ông bố đáng kính đi kèm. Vậy cậu ấy đến gặp ta có việc gì. Nghe nói cậu ấy từ Bom bay vượt hàng nghìn cây số đến đây chẳng lẽ chỉ để xem mặt một nữ tướng cướp?...

    Phòng thăm tù nhân được ngăn đôi bằng tấm lưới thép. Phía bên kia lưới thép một chàng trai vận complet màu xanh da trời, bằng thứ hàng đắt tiền. Tay chàng ôm bó hoa hồng nhung đỏ thắm và một bọc quà. Đôi mắt đen của chàng đầy vẻ bần thần, nôn nóng đợi chờ. Ông bố chàng khoảng ngoài sáu mươi tuổi, râu tóc đốm bạc. Người ta khiêng vào một chiếc ghế bành cho ngài nghệ sĩ ngồi, sau lưng có người hầu cầm chiếc quạt lông phe phẩy. Thoáng nhìn thấy Phoolan Devil chàng trai reo lên sung sướng:

    - Chị Devil!.. em là Singh, chị có khoẻ không?

    - Chào cậu! Nhưng tôi...

    - Chưa quen biết rồi sẽ thành thân thiết – chàng trai cướp lời.

    - Cậu tìm tôi có việc gì?

    - Đơn giản là em ngưỡng mộ chị, đến thăm chị không được sao?

    - Nhưng mà...

    -Lại nhưng... Chị không bằng lòng cho em đến thăm à?

    - Không, không phải thế, nhưng cậu từ Bombay đến, đường xa vất vả, cám ơn cậu nhiều!

    - Em mang hoa và quà cho chị này.

    - Ôi! hoa hồng đẹp quá!- Phoolan Devil đỡ lấy bó hoa và thốt reo lên khe khẽ. Mắt nàng ngời sáng.

    - Chị còn đẹp hơn cả những đoá hồng nhung. Em đã nhìn thấy chị trên trang báo, đầu quấn khăn đỏ, tay cầm khẩu Mauser 303. Ngay lúc ấy em đã bàng hoàng trước sắc đẹp của chị. Nhưng bây giờ gặp được người mới thấy bức ảnh còn thua xa. Chị thật xứng với tên gọi “chúa của các loài hoa”.

    - Cậu vẫn còn đi học chứ?- Nàng nhắc khéo chàng trai.

    - Vâng. Em năm nay mười tám tuổi, vừa thi đậu đại học Luật khoa, vì em đi học sớm trước một năm. Báo đăng chị hơn em mười hai tuổi. Theo cách nói của người Trung Hoa em thua chị một giáp, cùng tuổi Tỵ, tuổi con rắn. Hồi em mới sinh có một đạo sĩ tiên đoán rằng, sau này em sẽ thành thân với người đàn bà hơn mình mười hai tuổi, có cùng chân mạng và trong hoàn cảnh éo le. Nhìn thấy hình chị trên báo, em như kẻ mất hồn., không thiết ăn uống, quên cả đọc sách. Chị đã thành người trong mộng của em. Lời tiên tri năm nào đã thành hiện thực. Đấng tối cao trong cõi giới vô hình đã sắp đặt chúng mình gắn kết với nhau. Từ nay em sẽ không bao giờ rời xa chị...

    Singh nói say sưa, nói liền một mạch. Chàng kể cho Devil nghe nỗi khắc khoải thấp thỏm trong những ngày mong đợi gặp nàng. Singh đã phải kiên trì thuyết phục gần như van vỉ người cha chấp nhận đi cùng, chứng kiến cuộc gặp gỡ. Ngài nghĩ sĩ Manmu thương quý cậu con trai duy nhất, nhưng rất nguyên tắc và cứng rắn. Lúc đầu ngài nổi cơn thịnh nộ, quát mắng, doạ sẽ từ con nếu chàng làm việc điên rồ, bôi nhọ thanh danh dòng họ. Dần dần, trước sự kiên trì và nỗi lòng tha thiết của Singh, ông đã mềm lòng. Dẫu sao ông vẫn hy vọng đó chỉ là tình cảm bồng bột nhất thời của tuổi trẻ. Hai người quá chênh lệch về tuổi, lại sẽ phải chờ đời nhau mười hai năm. Thời gian sẽ giúp con trai ngài tỉnh ngộ.

    Nhưng ngài Manmu đã lầm. Suốt mười hai năm Singh kiên trì theo đuổi thăm nuôi Devil. Chàng đến gặp nàng vào đầu tuần mỗi tháng và hàng tuần viết thư đều đặn cho nàng. Những năm còn sinh viên, chàng ngượng ngùng xưng em và gọi Devil bằng chị. Ra trường, trở thành luật sư danh tiếng, chàng đổi cách xưng hô. Lúc đầu là xưng tên và hai năm gần đây chàng xưng anh rất tự nhiên. Chồng thư Singh viết trong mười hai năm đã thành chiếc gối lớn kê đầu cho Devil ngủ. Lời lẽ yêu đương đằm thắm trong mỗi lá thư đã khiến Devil lúc đầu thấy ngỡ ngàng, pha chút thương hại, nhưng nó đã như mưa dầm thấm lâu, khiến con tim giá lạnh của nữ chúa đảng cướp Cobra nhũn chảy tan ra như cục nước đá. Tuần nào chậm thư của Singh là trong lòng Devil như có kiến đốt. Nàng đứng ngồi không yên, thấp thỏm chờ đợi và lo lắng cho sức khoẻ, việc học của chàng. Hai năm gần đây nghe Singh xưng anh, Devil thấy ngọt ngào đáng yêu làm sao. Nàng mong mỏi hàng tháng để được gặp chàng, nghe những lời âu yếm, ngắm đôi mắt đa tình, si mê đắm đuối và có lúc nàng cũng hờn dỗi hay trách móc như bao cô gái đáng yêu.

    Mai là ngày tự do, Singh sẽ đến đón nàng về nhà. Lần gặp trước, chàng hứa hẹn sẽ làm lễ cưới lớn nhất bang, để thỏa nỗi lòng mười hai năm chờ đời cay đắng, bù lại quãng đời sương gió của Devil trong đảng cướp Cobra. Chính vào lúc này, giữa đêm vắng lặng, huyền bí, nghe tiếng hát ê a của anh lính gác trên chòi cao, Devil thấy lòng buồn ra riết. Nàng hốt hoảng và đau đớn nhận ra rằng, mình không xứng với tình yêu của Singh. Đời nàng đã tàn tạ như bông cúc dại, bị thiêu đốt trong cơn nóng khô khốc ở thung lũng Chambia. Tấm thân ô nhục của nàng đã bị dày vò từ thủa mười ba. Để trả thù bọn đàn ông, nàng đã gây bao tội lỗi, bao cuộc bắn giết, đâm chém đẫm máu. Nàng đã từ lâu mắc chứng bệnh lãnh cảm, không còn chút cảm hứng gì khi làm tình với đàn ông. Khi chưa được tự do, nàng khao khát mong mỏi được gặp Singh, thèm khát được ôm chàng trên chiếc giường cổ của lâu đài vẫn dành riêng cho các cặp vợ chồng mới cuới, trong dòng họ quyền quý. Giờ đây, trong đêm mấp mé bến bờ tự do, Devil chợt bàng hoàng lo sợ phải gặp Singh. Nàng không biết sẽ nói gì với Singh, bởi lòng nàng đã quyết phải xa chàng. Nàng không thể làm hỏng một đời chàng thanh niên mơ mộng, đầy nhiệt huyết như Singh. Tình yêu sẽ biến nàng trở thành kẻ có tội với chính chàng và gia tộc danh giá của chàng. Nhưng nếu sáng sớm mai nàng nói ngay những dự định của mình sẽ làm Singh đau khổ, thất vọng. Tiếng ca của anh lính trên chòi gác của pháo đài Gwalior vẫn chưa hết ê a: “Hỡi ôi! con chim bé nhỏ chiêm chiếm kêu trong buị xương rồng gai - Nắng làm mi sã cánh – Gió làm mi rụng lông – Cơn khát khô làm mi cứ ngáp hoài - Hỡi ơi, trong bụi xương rồng gai có con chim lạc loài, có con chim chiêm chiếp kêu hoài!...”. Devil nằm nghe, ứa nước mắt buồn cho thân phận mình. Dù thế nào nàng cũng quyết chối từ tình yêu, giải phóng cho Singh khỏi ràng buộc suốt đời bởi lời hứa cầu hôn vỗi vã, tuy rất chân tình và nóng bỏng. Cha của chàng, ngài nghi sĩ Manmu vì yêu con, chiều theo ý nguyện của chàng nhưng có lẽ ông cũng đang đau khổ. Ông không dám nói thẳng với Devil rằng mình phản đối mối tình không xứng đôi vừa lứa. Trong một vài lần gặp nàng ở pháo đài, ông chỉ tâm sự về nỗi buồn cô độc của mình. Vợ ông mất sớm, một mình ông gà trống nuôi con, không chịu lấy vợ vì sợ làm tổn thương tình cảm của đứa con trai duy nhất. Ông lao vào chính trường hoạt động, bênh vực cho người nghèo, vận động các phong trào từ thiện, giúp đỡ kẻ tàn phế hay trẻ mồ côi. Ông đã trở thành người cộng sự đắc lực của bà Thủ tướng mà Devil hằng sùng bái, tôn kính, chấp nhận nghe theo lời bà ra đầu hàng chính phủ. Ngoài công việc ở nghị viện và các tổ chức từ thiện, ngài Manmu dành hết thời gian, tâm huyết cho cậu con trai. Ông nuôi nhiều hy vọng ở Singh, chăm chút cho tiền đồ chính trị của chàng. Ông bảo với Devil rằng ông không muốn chàng có một tì vết nhỏ trong đời tư và đức hạnh, để các đối thủ trên chính trường dựa vào đó khoét sâu, nhục mạ gia tộc. Ông còn nói nhiều điều xa xôi khác, để Devil hiểu và tách khỏi Singh, giúp chàng yên tâm xây đắp sự nghiệp cho riêng mình và vì danh dự của gia tộc. Điều làm cho Devil xúc động và ái ngại là nhiệt tình, công sức chờ đợi, thăm nuôi nàng suốt mười hai năm của Singh. Ở tuổi ba mươi, với cương vị là chủ một văn phòng luật sư danh tiếng, Singh bây giờ đâu còn là cậu bé lún phún lông tơ trên ria mép năm nào nàng mới gặp lần đầu.

    Devil đã quyết định cùng Singh trở về lâu đài của chàng ở quê. Nàng sẽ âu yếm chiều chuộng chàng một đêm để đền đáp ân tình của chàng. Nàng sẽ kể hết cho Singh nghe quãng đời ô nhục để sau đó vĩnh viễn xa chàng. Devil sẽ tìm về thánh địa ở thị trấn Benashold, dưới chân núi Hymalaya tìm thầy học đạo, sám hối mọi tội lỗi, xa lánh trần tục. Trong đêm nằm thức đợi tự do, nàng bồi hồi nhớ về năm tháng xa xưa ấy...

    3- Trong huyết quản của Phoolan Devil có hai dòng máu Trung Hoa và Ấn độ hoà trộn. Ông nội nàng là người Hoa, gốc quê ở Tứ Xuyên – Trung Quốc. Ông sống nhiều năm ở Tây Tạng, dốc lòng đem những hiểu biết y học cổ truyền của Trung Hoa chữa bệnh cho dân chúng, nhưng các đức Lạt Ma địa phương kết tội ông dùng yêu thuật, tà đạo lừa mị dân, xúc phạm đến Tây Tạng giáo và các Lạt Ma. Cực lòng ông phải chốn tránh sự lùng bắt của quan chức địa phương, chạy sang Ấn Độ sinh sống và lấy vợ người Ấn. Phoolan Abamahash, cha của Devil nhờ vậy rất giỏi chữ Hán, tinh thông Y lý, Dịch học... Lên sáu tuổi, Devil đã được cha dạy chữ Hán, truyền cho con gái những miếng võ Trung Hoa bí truyền. Devil nhớ có lần vào năm mười hai tuổi, nàng thấy cha đang đọc cuốn Chu Dịch mà ông nội nàng mang từ Trung Hoa sang. Cuốn sách vẽ những hình lạc đồ, bát quái, những ký hiệu rất lạ, nhưng Abamahash đọc rất say sưa. Ông còn luôn so sánh đối chiếu với bộ sách chiêm tinh học bằng chữ Hindi cổ của vị thánh đại minh triết Bhrigu lưu truyền ở miền Tây Ấn Độ. Devil thắc mắc hỏi và được cha giải thích: “Thánh tổ học phái Ấn Độ là Bhrigu có bốn đệ tử xuất sắc. Người thứ nhất, giỏi về chiêm tinh học vượt biển sang nước Ba Tư lập nghiệp, trở thành học phái Hy Lạp, La Mã sau này. Người thứ hai, giỏi về triết học đi mãi về phương Đông sang nước Trung Hoa lập nên môn phái Dịch học. Người thứ ba, thích trầm tư, yên tĩnh đắm mình vào trong cõi giới vô hình nên đã vượt đỉnh núi tuyết trên dãy Hymalaya đến Tây Tạng lập nên Lạt Ma giáo. Người thứ tư, kiên trì ở lại với thánh tổ Bhrigu, làm nên chức quốc sư của Ấn Độ và lưu truyền học phái của mình đến ngày nay. Xem ra mọi tư tưởng, học phái của nhân loại ở khắp các châu lục, các quốc gia đều sinh ra từ một gốc là cõi giới vô hình tiềm ẩn trong vũ trụ, thấm vào hơi thở, mạch máu và tâm linh, tuệ giác con người. Vậy mà sao họ cứ lên án bài xích lẫn nhau, tìm cách tiêu diệt, gạt bỏ nhau? Phải chăng vì thế mà ông nội con đã phải rời bỏ đất Trung Hoa, đến Tây Tạng rồi lại chạy sang Ấn Độ, cư ngụ ở thung lũng Chambia hẻo lánh này?...

    Devil nghe cha giảng giải mù tịt không hiểu, những điều ông nói chỉ là truyền thuyết, nhưng ấn tượng về người cha uyên bác, nhân hậu luôn hằn sâu trong tâm trí nàng từ thủa ấu thơ. Cha nàng quanh năm đọc sách, chữa bệnh và dạy học cho trẻ con trong vùng bằng chữ Hindi. Mẹ nàng nuôi bò sữa và thường ngày chở sữa tươi ra chợ thị trấn bán cho các chủ lò bánh. Bà đẹp một cách dịu dàng như tiên giữa rừng, trong các truyện cổ tích của người Hindi. Sự pha trộn giữa sắc đẹp của bà với dòng máu Trung Hoa của chồng đã truyền cho Devil cả sắc đẹp và sự thông tuệ. Da nàng trắng mịn chứ không thô như người bản xứ. Tóc nàng đen, óng mượt và dài chấm gót giống như dòng suối Chambleng của thung lũng Chambia. Mười ba tuổi, nhưng Devil đã là thiếu nữ xinh đẹp nổi tiếng khắp vùng. Sớm sớm, nàng giúp mẹ đẩy xe bò chở sữa tươi ra thị trấn. Hồi ấy đảng cướp Cobra hoạt động gây nhiều vụ cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái trong vùng. Devil chỉ cần mang theo thanh kiếm Thiên Long gia truyền của ông nội, theo xe bảo vệ mẹ thì không tên cướp nào dám bén mảng đến gần xe bò chở sữa. Đảng trưởng của băng cướp Cobra là Rasiva Ahurash mê đắm Devil. Hắn không cho thuộc hạ dùng súng, vì sợ nguy hiểm đến người đẹp. Vì vậy đã nhiều lần một mình Devil đánh gục hơn mười tên cướp đàn ông hung dữ, cầm chân bọn cướp cho đến lúc cảnh sát và trai tráng các làng xung quanh đến giải cứu. Dẫu sao ông Abamahash cũng bắt đầu cảm thấy lo ngại. Buổi sớm hôm đó, cái buổi sáng tháng giêng theo âm lịch Trung Hoa năm 1966, ông Abanahash chợt cảm thấy linh tính mách bảo tháng đó là tháng Dần, thuộc năm Ngọ, mà con gái ông tuổi Tỵ, nếu xuất hành đi chợ có bề không ổn. Ông gieo quẻ Dịch, gặp điềm đại hung nên cố khuyên hai mẹ con ở nhà. Bà vợ ông vì sợ lỡ hẹn với lò làm bánh vào dịp lễ hội của người Hindi nên vẫn khăng khăng đòi đi. Devil còn ít tuổi, ỷ mình giỏi võ, vừa đánh hạ bọn cướp nên nàng hăng hái ủng hộ mẹ. Nàng đâu có ngờ hôm đó xảy ra đại hoạ. Đêm nay nằm trong trại giam của pháo đài Gwalior đợi tự do, chờ mặt trời ló rạng, Devil còn nhớ như in hình ảnh buổi sớm ấy.

    - Mình và con Devil hãy nghe tôi. Quẻ này xấu lắm! – Ông Abamahash nhăn nhó nói với vợ.

    - Tại ông đọc nhiều sách Trung Hoa nên hay lo hão. Lâu nay tôi với con Devil có việc gì đâu – Bà đáp.

    - Tôi với bà có chết cũng không sao. Tôi lo cho con Devil. Nó giống như bông hoa cúc dại bên bờ suối Chambleng, sắp gặp mưa lũ.

    - Cha đừng lo. Con sẽ chuẩn bị đề phòng. Đến đoạn đường vắng, con sẽ cho xe dừng, chờ thêm người đồng hành thật đông đàn ông mới đi tiếp – Nàng động viên cha.

    -Con còn quá nhỏ chưa hiểu hết việc đời. Nhan sắc của con đến thần rắn Naga còn thèm muốn nữa là chúa đảng cướp Rasiva Ahurash. Nó rình rập con từ lâu rồi. Mấy lần trước, con bình an vô sự là nhờ nó không cho lũ cướp dùng súng. Nhưng nó luôn chủ động, còn hai mẹ con lại vô tình, bị động đối phó.

    - Sống chết có số cả, lo gì hở cha.

    - Theo cách tính của cha trong quẻ Dịch, vùng thung lũng Chambia xưa rất nhiều rắn độc. Người Hindi nhiều đời làm rẫy trồng nương, đã giết không biết cơ man nào con cháu của thần Naga. Âm khí loài rắn ở đất Chambia rất nặng nề. Con tuổi Tỵ, gặp tháng Dần, năm Ngọ là đại hung và kiêng nhất xuất hành giờ Dần, giờ Mão. Đợi đến giờ Thìn hay giờ Ngọ xuất hành thì đã quá trưa, cũng không kịp giao sữa cho các lò làm bánh, họ sẽ bắt chẹt.

    - Cha yên tâm, con sẽ đưa mẹ về an toàn – Devil hăng hái nói.

    - Vậy thì cha cử thêm hai người đàn ông Hindi đang làm rẫy đi cùng. Họ khoẻ và cũng biết đôi chút võ Tàu do cha truyền dạy.

    - Vâng. Thế cũng được, cha ạ!

    - Cầu trời, khấn Phật cho bà và con Devil may mắn!

    Ông Abamahash nhìn theo bóng hai mẹ con đi khuất con đường làng, rẽ qua cầu đá ra đường cái lớn mới chịu quy về nhà. Devil ngoái nhìn bóng cha đang cúi đầu đăm chiêu bỗng lòng cô thấy nôn nao. Devil nhắc hai người đàn ông Hindi cảnh giác, cầm sẵn vũ khí khi đi sau xe, còn cô đeo kiếm đi trước. Đến cửa rừng, cô gặp năm sáu người đàn ông Hindi đang khiêng dê, lợn ra chợ bán. Devil yên tâm nhập đoàn với họ. Cô còn quá non nớt, chưa thể phát hiện những người đàn ông này đều to cao vạm vỡ và rất dữ dằn. Tướng cướp Rasiva Ahurash đã tính toán kỹ lưỡng. Hắn cử những tên cướp khoẻ mạnh, giỏi võ áp sát Devil, một tốp khác chặn đường mai phục. Hắn còn cử ba tên cướp mang súng lẻn đến nhà Devl bắt cha cô đem ra rừng phòng cô chống cự quyết liêt sẽ uy hiếp ông, bắt cô đầu hàng. Người giỏi võ đến đâu, nếu bị đối phương đông người áp sát sẽ khó chống đỡ. Đi cách cửa rừng chừng năm dặm, bọn cướp mai phục trong các bụi cây đồng loạt huýt sáo xông ra. Bọn cướp khiêng dê, lợn đi bên cạnh Devil cũng trở mặt cầm gậy lao vào áp sát Devil. Cô vung kiếm chém vào vai thằng đi trước rồi dùng thế võ “trường sà quyền địa” múa kiếm đánh thẳng vào khúc giữa của tóan cướp, khiến chúng dạt ra khỏi xe bò sữa. Có chiếc xe che đỡ mặt hậu, cô yên tâm vừa chống cự vừa tìm cách bảo vệ mẹ đang ngồi trên xe. Hai người đàn ông Hindi làm rẫy kịp thời xông lên, trụ với cô thành thế tam giác, bịt lấy cửa xe không cho bọn cướp nhảy lên. Cuộc đấu không cân sức dồn Devil vào thế thủ, nhưng bọn cướp bị thương khá nhiều. Cô đang chống cự, chờ dân đi rừng và cảnh sát tới giải vây thì tướng cướp Rasiva Ahurash cùng ba tên cướp cưỡi ngựa phi tới, quẳng cha cô đang bị trói xuống bãi cỏ. Hắn thét lớn:

    - Dừng lại! Người đẹp chịu hàng theo ta về trại trong núi thì lão già sẽ được tha mạng.

    - Cha ơi!... Cha!

    Devil hoảng hốt gọi cha, đi chệch môt đường kiếm lỡ đà, chúi vào thành xe. Tên cướp đứng gần chớp thời cơ phang một gậy vào vai cô, làm rơi thanh kiếm Thiên Long. Lũ cướp thừa thắng xô đến, đè cô xuống đất, trói nghiến lại. Chúng đâm chết cha cô và hai người Hindi làm dãy, cướp xe bò sữa, bắt trói hai mẹ con chaỵ sâu vào rừng. Devil lăn lộn, ngào khóc, chửi rủa và ngất đi. Khi cô tỉnh dậy thấy mình nằm ngửa hai tay bị trói vào gốc cây. Cách đó chừng vài chục mét, mẹ cô bị lũ cướp thay nhau hiếp đến chết, xác vẫn còn trần truồng nằm trên bãi cỏ nhàu nát. Tướng cướp Rasiva Ahurash thấy Devil đã tỉnh, liền ra lệnh quây bạt quanh gốc cây. Hắn lột quần áo, liếm láp khắp người rồi tống cái của nợ vào người làm cô đau buốt đến lộng óc. Đêm đó cô bị hắn đưa về trại, nhốt vào buồng kín, thỏa sức dày vò khiến Devil nhiều lần toan cắn lưỡi tự tử. Nhưng cô nghĩ lại, thề phải sống để trả thù. Tướng cướp Rasiva Ahurash biết Devil giỏi võ nên rất thận trọng đề phòng, cả trong lúc ngủ với Devil hắn vẫn cho khoá tay, khoá chân vào hai dợi dây xích dài chừng một mét. Cô gái mười ba tuổi đã sớm thành đàn bà. Nàng tìm mọi cách chiều chuộng, thoả mãn các kiểu làm tình hoang dã nhất. Sau mỗi lần như thế, Devil lựa lời tỉ tê thuyết phục Rasiva Ahurash cởi xích cho mình. Đàn ông dù sắt đá vẫn mềm lòng khi ôm người đẹp, nghe những lời dịu ngọt. Huống chi Devil đã sẵn có chủ định, sẵn sàng hiến dâng tất cả cho ý đồ trả hận, nên nàng mỗi ngày càng làm cho Rasiva Ahurash thêm mê mệt, không chút đề phòng. Thời gian đầu được cởi xích, Devil chỉ chuyên tâm vào việc thử nghiệm thêm nhiều kiểu làm tình sao cho vừa lòng gã tướng cướp. Nàng được hắn tặng cho nhiều đồ trang sức quý giá, cho phép nàng tự do đi khắp sơn trại hái hoa cúc dại. Nàng tập tiêm thuốc phiện, lôi kéo gã tướng cướp quẩn quanh bên bàn đèn và thú vui xác thịt. Mỗi khi Rasiva Ahurash đê mê trong cơn thuốc phiện, là lúc Devil lẻn ra suối vắng, luyện tập thêm võ thuật, lân la làm thân với các thuộc hạ thân tín của chúa đảng cướp Cobra. Rasiva Ahurash có tất cả mười đệ tử trung thành và giỏi võ. Mỗi tên chỉ huy khoảng ba chục đứa. Chúng đều tham lam và háo sắc, hau háu nhìn Devil đầy vẻ thèm khát. Dần dần, Devil hiểu ra rằng,đàn ông càng ham mê bạo lực, càng u tối, đui mù về lý trí nên sẵn sàng ngủ với bất cứ ai trong số mười thuộc hạ của Ahurash. Nàng đã điều tra trong số đó Babush là tên hãm hiếp mẹ đầu tiên. Y thâm hiểm, nhiều mưu mẹo và được chúa đảng cướp Cobra tin tưởng nhất. Devil đã có chủ định dùng Babush gây mâu thuẫn giữa đảng trưởng với những tên thuộc hạ khác. Nàng bí mật giấu tiền vàng lén lút đưa cho từng tên cướp. Mỗi lần làm tình với chúng, nàng cố tình để cho Babush biết rồi nàng lại khóc lóc bảo mình bị cưỡng ép, làm hắn nổi điên. Với từng tên cướp khác, nàng hứa hẹn sẽ làm vợ, nếu chúng nổi loạn cướp quyền đảng trưởng Rasiva Ahurash và nàng chỉ căm thù Babush mà thôi. Nhân một lần đi cướp giết ở lâu đài nhà đại điền chủ thắng lợi trở về, bọn cướp thi nhau uống rượu say mèm. Bị Devil xúc xiểm, thúc dục từ trước nên trong cơn say bọn cướp lè nhè đứa này vạch tôi đứa kia rồi đâm chém lẫn nhau. Devil đã mượn tay thuộc hạ giết chết Rasiva Ahurash, rồi sau đó tự chúng lại tranh giành Devil, hò hét đám lính của mình xông vào thanh toán nhau kịch liệt. Giữa cơn đâm chém hỗn loạn, Devil xách kiếm săn đuổi truy sát Babush, nhưng hắn đã nhanh chân tẩu thoát. Nàng đã lần lượt giết chết chín đứa, giành quyền chỉ huy bọn cướp, chỉ hận vì chưa giết được Babush...

    Sau đêm đại náo sào huyệt đảng cướp Cobra, Devil đã thật sự biến đổi thành con người khác. Nỗi uất hận vì chưa giết được Babush làm nàng trở nên say máu bọn đàn ông dâm dục, nhưng quyền thế hoặc giàu có. Dưới quyền cai trị của nàng, đảng cướp đã hoàn toàn thay đổi. Mỗi thành viên đều xăm hình đầu con rắn độc Cobra ở bắp tay, thề chỉ cướp của nhà giầu chia cho dân nghèo, sẵn sàng ra tay cứu giúp tất cả phụ nữ nghèo đói hoặc bị lường gạt. Khi thế lực của đảng cướp được củng cố, Devil bắt đầu tung quân đi thanh toán các đảng cướp khác, bắt chúng phải quy phục và hành động theo tôn chỉ mục đích của đảng Cobra. Nàng bỏ tiền thuê các thám tử đi khắp nơi dò la, truy tìm tung tích của tên cướp Babush nhưng vẫn chưa thấy. Có lẽ trong quãng đời làm tướng cướp, đến tận lúc nghe theo lời kêu gọi của bà Thủ tướng ra đầu hàng, nhận án tù khổ sai mười hai năm, Devil chỉ còn canh cánh bên lòng mối hận vì chưa tìm được Babush trả thù cho người mẹ quá cố...

    4- Bình minh bắt đầu ló rạng. Một vạt sáng mầu hồng đang bò dần lên bức tường đá phía Đông của pháo đài Gwlior, dọi hắt qua ô cửa thông gió vào buồng giam các nữ tù những tia nắng đầu tiên trong ngày. Devil nhìn qua cửa thông gió chợt thấy đôi chim chìa vôi đang quệt mỏ xuống vách tường đá, rồi đập cánh bay giữa bầu trời thơm thảo, tinh khiết buổi sớm mai. Một cảm giác buồn vui lẫn lộn cứ chen lấn trong lòng. Người bạn tù Jyoti lại gần vỗ nhẹ vào lưng làm Devil giật mình quay lại.

    - Em chúc mừng chị buổi sáng tự do đầu tiên – Jyoti nói và nở nụ cười rất hồn nhiên, chân thành.

    - Cám ơn Jyoti! Thật lòng chị đang phân vân không biết nên mừng hay nên lo.

    - Sao vậy hả chị Devil? Có ai đi tù khổ sai mà không mong có giây phút này?

    - Lúc nó chưa đến thì mong ngày mong đêm em ạ! Nhưng khi nó đến rồi sao chị thấy buồn, lo nghĩ mông lung suốt đêm qua – Devil thở dài, mắt rưng rưng.

    - Hình như đêm qua chị không hề ngủ?

    - Không, Jyoti ạ!

    - Có phải tại bọn em vô ý ngáy to như bò rống, đập muỗi đôm đốp?

    - Không. Tại chị buồn, nhớ lại chuyện xưa.

    - Singh có đến đón chị không?

    - Có, Chàng nói nhất định sẽ đón chị về lâu đài làm lễ cưới. Chính điều này làm chị khổ tâm, dằn vặt suốt đêm. Chị không xứng đáng được hưởng hạnh phúc ấy. Chị quý mến và biết ơn Singh nhiều, nhưng chị không thể...

    Jyoti lặng đi nhìn Devil, khẽ thở dài. Là đàn bà lại vừa trải qua kiếp giang hồ Jyoti hiểu và thông cảm. Hạnh phúc đối với họ mới mỏng manh và chua xót làm sao! Sự mặc cảm về thân phận đàn bà sống trong ô nhục có cội nguồn, gốc rễ sâu sa, bởi những dư luận và định kiến xã hội cứ xoắn xuýt, giằng néo mọi cá thể đơn lẻ trong cõi người. Khi bức tường đá gan gà còn đang ngăn cách Singh với Devil, cuộc tình của họ còn như nửa đời, nửa mộng. Có lẽ mọi cái ở đời chỉ đẹp lúc hư hư, thực thực, giống như muôn vật còn mờ ảo trong sương, chưa rõ hình tích, lập lờ tăm dạng. Singh còn có cha, có dòng tộc danh giá, có bạn bè và sự nghiệp cùng bao mối giằng buôc ngoài xã hội. Ngay cả lúc làm tình với nhau, chàng luật sư con ngài nghị sĩ chắc sẽ bàng hoàng, rờn rợn trước những hình xăm quái đản trên thân thể Devil. Jyoti gục đầu vào lòng người bạn tù, không sao quên được ngày đầu hai người gặp gỡ.

    Mười hai năm về trước, Jyoti là bà chúa trong buồng giam nữ tù. Nàng bị kết án tù chung thân vì tội giết chồng. Hắn cậy tiền, cậy thế bắt ép cha mẹ Jyoti đem con gán nợ. Suốt mấy năm đầu, hắn dày vò nàng no xôi chán chè rồi tha về cô vợ khác, coi nàng như đứa ở. Một lần, không chịu nổi sự hành hạ, xúc phạm, nàng đã cầm dao chống lại, lỡ tay giết hắn. Jyoti vào tù, hận đời trở nên hung dữ, tàn ác, trút hết mọi hết mọi ấm ức lên đầu các bạn tù. Trong xã hội người tù, dù là đàn ông hay đàn bà đều tồn tại nguyên tắc phân chia đẳng cấp bằng bạo lực. Sự xuất hiện của Devil trong buồng giam với các huyền thoại về nữ chúa đảng cướp rắn độc Cobra vẫn chưa đủ để Jyoti dễ dàng chịu khuất phục, trao quyền cai quản buồng giam. Tới giờ đi tắm, mấy chục người đàn bà đều trần truồng quanh bể nước, Jyoti gườm gườm đi lại quanh chỗ Devil, ngắm nhìn các hình xăm trên thân thể nàng. Có hai con rắn độc Cobra quấn từ cổ chân lên bẹn, vươn đầu lè lưỡi hướng vào chỗ kín của đàn bà. Hai đầu vú là hai ổ trứng rắn đang tách vỏ, chui ra những đầu rắn nhỏ và xanh biếc màu lá chàm. Trên bắp tay của Devil xăm trổ cái đầu con trăn lớn, đang há mồm nuốt chửng một con đại bàng...

    - Này cô bạn lính mới! Nom cô mình cũng oách ra trò, nhưng để chị vẽ thêm vài cái đầu rắn lên mặt cho nó oai. – Jyoti nói gằn từng tiếng.

    - Thôi đi, Jyoti! Cùng cảnh đi tù khổ sai còn gây sự với nhau làm gì – Devil nhẹ nhàng đáp.

    - Mẹ kiếp! Đừng có đạo đức giả. Bà muốn xé cái L của mày ra nướng chả nhậu chơi lắm rồi.

    - Lui ra cho mình tắm, Jyoti!

    - Không được... Ở đây tao mới là người ra lệnh. Chúng mày đâu, vật nó ra cho tao vẽ lên mặt!

    Hết thảy đám tù nữ đều đã nghe danh Devil, nhưng họ vẫn sợ Jyoti, lấm lét nhìn hai người không giám nhúc nhích.

    - Này Jyoti! Mình không muốn đánh nhau. Chúng mình chém giết ngoài đời còn chưa đủ sao?

    - Đồ đĩ!.. Đồ con lợn!..

    - Jyoti gầm lên, xông tới, húc đầu vào Devil. Nàng càng tránh né, Jyoti càng hung hăng lấn tới. Cực chẳng đã, Devil phải ra tay xuất chiêu. Chỉ một cú đá ngoạn mục của nàng đã khiến Jyoti văng vào góc tường, té xấp xuống sàn. Bao lực đã trở thành ngôn ngữ êm tai. Sau lần ấy, ngôi vị buồng trưởng thuộc về Devil. Nàng sắp xếp lại buồng giam, chan hoà vui vẻ với mọi người. Tình bạn thân thiết giữa Jyoti và Devil cũng bắt đầu nảy sinh từ lần ẩu đả bất đắc dĩ ấy...

    Nắng đã bò vào buồng giam, in lên sàn một mảnh lụa thiên nhiên vuông vức, vàng rực. Jyoti ôm chặt lấy lưng Devil nức nở không muốn rời xa. Nàng cảm thấy xót xa, ái ngại cho hoàn cảnh éo le, khó xử của Devil.

    - Lát nữa gặp Singh chị sẽ nói gì? – Jyoti hỏi.

    - Không, chị sẽ im lặng.

    - Chị có theo Singh về lâu đài không?

    - Có, biết làm sao khác được. Chàng đã chờ đợi thăm nuôi chị suốt mười hai năm cơ mà.

    - Chị vẫn đồng ý làm lễ cưới à?

    - Điều đó thì không, em ạ!

    - Sao lai rắc rối thế?

    - Chị sẽ sống với Singh một đêm, chỉ một đêm thôi. Cho chàng thật thỏa mãn, sau đó chị sẽ ra đi. Chị biết như vậy là tàn nhẫn, nhưng nếu ở lâu bên chàng, chị sẽ không thể nào bứt ra nổi. Chị khổ tâm lắm, Jyoti ơi!

    - Chị sẽ quay lại Chambia?

    - Ở đó còn gì nữa đâu mà về, hở em. Chi sẽ tìm đến thánh địa ở thị trấn Benashold dưới chân núi Hymalaya. Chị sẽ thả tấm thân ô nhục và tội lỗi của mình xuống thượng nguồn dòng sông Hằng, tắm gội cho sạch bong hết nợ đời. Sau đó chị sẽ tìm một đạo sĩ cao minh, theo đạo của người mà tu thân, sám hối.

    - Trời ơi! Em thương chị quá, chị Devil! – Jyoti gục vào lòng bạn tù, nấc lên từng hồi...

    - Yên tâm đi Jyoti! Chị sẽ tìm thấy hạnh phúc thiêng liêng trong sự siêu thoát, sẽ được đi vào cõi giới vô hình đầy quyền năng và thánh thiện. Mỗi lúc ngồi thiền, chị sẽ cầu chúc cho em, cho tất cả tù nhân ở khắp thế gian này. Trước đây, nhờ có Singh thường xuyên tiếp tế nên mấy chục chị em trong buồng giam sống đầy đủ, không thiếu thứ gì. Nhưng em đừng lo. Trước khi ra đầu hàng chính phủ, chị đã cho giải tán đảng cướp Cobra, phân phát đều tiền, vàng cho họ về quê làm lại cuộc đời. Phần của chị có mười triệu Rupi gửi ngân hàng, do một đệ tử thân tín đứng tên. Nay chị đã quyết định đi tu. Người tu hành không cần tiền bạc. Chị sẽ làm thủ tục cho em đứng tên tài khoản này, Jyoti ạ! Nhưng em phải hứa thay chị chăm sóc hết tù nhân ở đây. Ai được tha về trước thì em cho họ ít tiền làm vốn. Ai đã bị giam ở pháo đài Gwlior đều là kẻ trọng tội. Họ mỗi người vẻ, nhưng đều đáng thương như nhau.

    - Em hứa suốt đời ghi nhớ, làm theo lời dặn dò của chị - Jyoti đáp qua hàng nước mắt.

    - Thế thì tốt rồi. Nào, Jyoti hãy cười thật tươi cho chị an lòng đi.

    Họ ôm nhau nở những nụ cười gượng gạo. Nước mắt họ trào ra nóng hổi, rơi đầy vai áo của nhau. Sáng hôm đó, Singh lái xe đến pháo đài Gwalior đón Devil. Trên tay chàng ôm bó hoa có bốn mươi hai bông hồng nhung đỏ thắm.

    5- Singh tỉnh dậy thấy trời đã xế trưa. Cây bồ đề cổ thụ ngoài sân lâu đài đã gần tròn bóng nắng. Lũ chim câu nhẩn nha tìm mồi hoặc gù nhau bên những khóm hoa. chàng không nhìn thấy Devil, đoán nàng đang đi dạo bên lâu đài cổ kính. đời nàng từng chịu nhiều cay đắng giờ mới được thảnh thơi đi dạo, ngắm hoa sau một đêm ưỡn cong người chiều chuộng chồng hết cỡ. Devil đã kể cho Singh nghe quãng đời niên thiếu và cái lần bất hạnh đầu tiên xô đẩy nàng dấn thân vào con đường tội ác. Nàng bảo mình mắc bệnh lãnh cảm từ sau lần đại náo đảng cướp Cobra, chỉ cố làm ra vẻ hưởng ứng chàng, nhưng không hề biết mùi cực khoái. Singh không tin, chàng tự an ủi, đó chỉ là do mặc cảm mình không còn nguyên vẹn. Những đêm tới nàng sẽ quen dần, hào hứng, cuồng say trở lại. Chàng khoan khoái nằm lại trên chiếc giường gia bảo dùng cho những đêm tân hôn của cặp vợ chồng có vinh dự kế tục tước vương, thừa kế di sản của dòng họ đại quý tộc. Hết tuần trăng mật chàng sẽ đưa Devil trở về lâu đài ở quê hương vào dịp lễ thánh và kỷ niệm ngày phong tước vương của cụ tổ gia tộc của chàng. Singh muốn nằm chờ Devil quay trở lại buồng ngủ để chàng tự tay tắm cho nàng bằng sữa dê và dầu xả Palmaroza nổi tiếng của quê hương. Nàng sẽ sinh cho chàng một hoàng tử kế vị tước vương và nửa tá con trai, con gái. Singh sung sướng nhắm mắt lại suy tưởng và chờ đợi...

    Người đầy tớ đẩy cửa, hốt hoảng chạy đến bên giường, quỳ xuống lay gọi Singh. Giọng anh ta hổn hển, hai tay run bần bật.

    - Bẩm cậu! Đức ông đang chờ cậu bên phòng khách. Ngài rất buồn, mắt đỏ hoe, đôi vai cứ rung lên.

    - Sao, có chuyện gì? Nói mau!

    - Bẩm cậu! Cô Devil... cô Devil!...

    - Devil?... Devil làm sao làm sao?

    - Dạ, bẩm cậu!... Cô Devil đi... đi rồi ạ!..

    - Đi đâu? Nàng đi... đi đâu... âu... đâu?..

    - Bẩm cậu! Con không biết. Đức ông sai con gọi cậu lên ngay phòng khách. Ngài đang sốt ruột chờ cậu, hình như có thư của cô Devil gửi lại.

    - Singh choàng dậy, quên mọi phép tắc của gia tộc, để nguyên quần lót, ngực cởi trần chạy lên phòng khách của lâu đài. Chàng thấy cha ngồi trầm ngâm, mắt ngấn lệ, tay mân mê mảnh giấy in hình gia huy của dòng tộc. Ngài nghị sĩ Manmu ngẩng lên, lặng lẽ vẫy tay gọi con trai đến bên bàn. Ông đưa cho Singh hai lá thư, một đã bóc và thấm nhoè nước mắt, một còn dán kín. Singh nhớ lại những lời bóng gió hồi đêm qua của Devil, khi chàng hỏi vì sao nàng chưa chịu làm lễ cưới. Vậy là nàng đã đi thật rồi, biết tìm đâu bây giờ. Chàng oà lên nức nở như một đứa trẻ, cầm hai là thư chạy về phòng ngủ. Chàng đặt hai bức thư xuống gối còn thơm mùi tóc nàng, bóc vội lá thư đang còn dán kín:

    Singh vô cùng yêu quý!

    Tôi đã quyết định rời xa Singh ngay từ cái đêm nằm thức đợi tự do ở pháo đài Gwalior. Lẽ ra tôi nên ở lại lâu đài thêm vài ngày để Singh được thoả lòng khao khát. Tôi mắc nợ Singh nhiều lắm! Tình yêu của Singh dành cho tôi thật trong sáng, thơ mộng và đáng quý biết bao. Song tôi không xứng với tình yêu cao thượng, đẹp đẽ của Singh. Lương tâm không cho phép tôi làm hỏng cả cuộc đời và danh giá của Singh. Nếu còn yêu tôi, xin Singh đừng mất công tìm kiếm, hãy dành thời gian, tâm trí gây dựng sự nghiệp. Hạnh phúc thực sự sẽ đến với Singh bởi xứ Ấn của mình còn nhiều cô gái hiền thục nết na, tâm hồn trong trắng, tinh khiết như mạch nước đầu nguồn con sông Hằng ngàn đời linh thiêng. Hãy tha lỗi cho tôi, Singh ơi! Tôi không thể chờ chàng thức dậy đưa tận tay lá thư này, càng không thể nấn ná ở lại cùng Singh dù chỉ là một đêm. Nếu trực diện nhìn vào mắt Singh, tôi sẽ nhũn mềm thân xác, tiêu tan mọi nghị lực, không thể rời xa...

    Singh không còn đủ can đảm đọc tiếp lá thư. Chàng úp mặt vào chiếc gối của Devil thổn thức gọi hoài tên nàng: “Devil, ôi Phoolan Devil!.. Em ở đâu, Devil?... Sao em nỡ bỏ anh mà đi? Devil, ôi Poolan Devil!... Devil!”... Hồi lâu chàng sực nhớ, cầm vội lá thư nàng gửi cho cha. Bức thư nhòe ướt từng lời đắng đót:

    Thưa cha!

    Xin đức ông Manmu tôn kính hãy cho phép Devil gọi người bằng cha lần đầu, cũng là lần cuối cùng. Con chỉ là cô gái giang hồ, thân xác dơ bẩn, linh hồn tội lỗi. Con không xứng với tình yêu của Singh, mặc dù tim con tha thiết yêu chàng. Cha không nói ra lời, nhưng từ hôm đầu gặp cha, nhìn dáng điệu trầm uất của cha ngồi trên chiếc ghế bành, con đã hiểu cha đau khổ và thất vọng về Singh, oán trách kẻ đã vô tình gây tai hoạ cho cả dòng tộc mình, kẻ đó là con. Suốt mười hai năm bị cầm tù thân xác trong pháo đài Gwalior, tình yêu và khát vọng được sống cho đúng nghĩa một người đàn bà trong con lại bị cầm tù lần thứ hai, bởi nỗi mặc cảm và ray rứt về tội lỗi đã gây ra với cha, dù chỉ là thụ động, vô tình. Con đã cố ghìm nén, nhưng tình yêu chân thực của Singh, ánh mắt nụ cười ngây thơ của chàng cứ nuôi một ảo giác êm dịu, đánh lừa ý chí của con. Chỉ đến ngày được trả tự do, đối mặt với sự thật phũ phàng, con mới tỉnh ngộ. Con xin cúi lạy tạ lỗi cùng cha và trao trả chàng Singh cho đức ông tôn quý. Khi cha cầm được lá thư này, con đã đi xa, rất xa. Mong cha động viên, an ủi chàng sớm quyên đi tất cả...

    Ngài Manmu bước vào buồng, lặng lẽ đến ngồi bên mép giường nhìn con trai. Ông không nói năng gì, vì biết đối với Singh lúc này yên lặng là liều thuốc an thần êm dịu nhất. Sự hiện diện của ông, vẻ tiều tuỵ thất thần vì đau buồn của ông đã nói với Singh nhiều điều. Hai cha con ôm nhau nghẹn ngào, nghe rõ từng nhịp đập con tim của nhau. Bầu trời ngoài sân lâu đài như dịu lại cơn nóng, hây hẩy gió nồm nam. Cây bồ đề cổ thụ lao xao rung động, lãng đãng rơi mấy chiếc lá vàng...

    6- Devil ngả mình nằm trên một phiến đá dưới gốc cây dẻ trên sườn đồi, nhìn ra dòng sông Hằng. Rời lâu đài của Singh đã một tuần trăng, sau nhiều chặng tàu xe, hôm nay nàng mới đặt chân lên thánh địa Benashold, dưới chân dãy núi Hymalaya hùng vĩ. Giờ này Singh đang làm gì? Dẫu đã quyết tâm chia tay chàng, mà sao suốt dọc đường Devil vẫn thấy lòng bứt rứt. Trước khi đi Benashold, nàng không quên làm các thủ tục để Jyoti làm chủ tài khoản ở ngân hàng với số tiền mười hai triệu Rupi. Nàng chỉ đem theo một ít tiền nhỏ trong số lãi xuất của mười năm để chi tiêu dọc đường. Một luật sư có uy tín sẽ đến pháo đài Gwalior, ký hợp đồng làm đại diện cho Jyoti rút tiền ở ngân hàng, mối khi Jyoti yêu cầu. Devil đã có thể yên tâm về Jyoti và các bạn tù trong buồng giam. Nhưng còn Singh, chắc chàng sẽ đau khổ, thất vọng vì cuộc chạy chốn của nàng. Hạnh phúc vừa đến sau mười hai năm kiên trì chờ đợi bỗng nhiên bị tuột khỏi tay, hỏi làm sao chàng không choáng váng, hut hẫng. Nỗi đau rồi cũng sẽ qua đi. Cuộc tình của Singh và Devil sẽ chỉ còn là một kỷ niệm đẹp, còn hơn nếu tiếp tục sống bên nhau biết đâu có ngày tan vỡ. Một khi đã nhìn thấy nguy cơ tiềm ẩn, tốt nhất là cắn răng dứt bỏ cuộc tình. Singh còn trẻ, tiền đồ đang mở rộng trước mặt…

    Từ sáng, Devil bắt đầu tập ăn chay, hoà lẫn vào dòng người hành hương đi khắp thị trấn Benashold quan sát. Đâu đâu nàng cũng gặp các đạo sĩ và những tín đồ. Trong làn khói hương nghi ngút, đám tín đồ hành hương chen chúc nhau lầm rầm cầu nguyện với nét mặt thành kính. Devil như cảm thấy lạc vào một thế giới lạ lùng, huyền bí. Nó làm cho tâm hồn nàng thanh thản, nhẹ nhõm, quên đi mọi nỗi u buồn. Tận nơi trong sâu thẳm của trái tim Devil ngân rung lên điệu nhạc du dương của niềm khát khao thoát tục. Ai đã từng trải qua cuộc sống dữ dội nhiều năm mới cảm nhận được hết ý nghĩa của dòng người lũ lượt hành hương về nơi đất thánh, kiếm tìm những giây phút lâng lâng thoát tục. Nhưng Devil nhìn đã mỏi mắt, hỏi đã khàn hơi, vẫn chưa gặp được một đạo sĩ chân tu trong trí tưởng tượng và sự mong mỏi của mình. Banashold giống như một cái chợ trời mà ở đó các đạo sĩ mang kiến thức và kết quả tu luyện ra bày bán, chào mời. Có lúc nó lại giống một rạp xiếc cho đủ loại đạo sĩ biểu diễn quyền năng, pháp thuật của mình. Có vị mình mai vóc hạc, vừa đi vừa tụng niệm những câu thần chú khó hiểu: bên cạnh đó lại có vị to lớn, lực lưỡng đang biểu diễn môt tư thế Yoga. Có vị chống gậy trúc, đứng trầm tư hàng giờ dưới gốc cây bồ đề; bên cạnh đó lại có vị vừa nhảy nhót vừa ca hát, gọi tên các vị thần. Devil đã gặp nhan nhản ở Benashold những đạo sũ râu tóc xồm xoàm, quấn mình trong mảnh vải hôi hám, rách như xơ mướp hoặc các đạo sĩ áo quần săc sỡ, lăng xăng biểu diễn những trò lạ lùng như nằm trên bàn đinh, thổi sáo gọi rắn ra múa... Chẳng lẽ tất cả những gì đang diễn ra trước mắt lại là thứ đạo mà nàng khao khát tôn sùng, tìm kiếm ư? chẳng nhẽ quyền năng vô biên của mọi thứ đạo trên đất Ấn Độ này chỉ có bấy nhiêu thôi? Devil thật ngỡ ngàng khi gặp vô số đạo sĩ ai cũng tự xưng là người kế tục sự nghiệp của đức thánh Krishna, đã từng là Phât Thích Ca trong một tiền kiếp, vậy mà họ sẵn sàng làm bùa chú, thư phù, giúp tín đồ hành hương nguyền rủa kẻ thù, hứa hẹn với tín đồ mê hoặc một cô gái đẹp... Khi nàng hỏi mua sách cổ truyền của các bậc thánh minh triết thì rất đông các đạo sĩ bâu lấy nàng và giá biểu cứ thi nhau hạ dần sau mỗi cái lắc đầu. Nàng cảm thấy hoang mang, thất vọng, mệt mỏi rã rời. Chỉ khi thoát khỏi những đám đông đạo sĩ rởm, ra bến vắng bên bờ sông Hằng khỏa thân ngụp lặn, Devil mới bình tĩnh trở lại. Nàng mặc quần áo, lên đồi trải tóc, nằm dưới gốc cây dẻ ngắm nhìn trời cao, trầm ngâm suy nghĩ. Devil chợt hiểu ra rằng, càng những nơi chốn ồn ào, lắm kẻ vỗ ngực phô trương tụng niệm, rao giảng, bài xích lẫn nhau, coi đạo của mình là nhất, thì ở đó không thể tìm đâu ra đạo sĩ chân chính, cao minh. Họ vượn vía thánh, thần, Phật tổ để tô son chát phấn cho mình, lừa mị đám quần chúng ngu dốt, thuần phác. Đằng sau những lời nói khoác lác, những khái niệm mập mờ, huyền bí và những lời hứa hẹn suông, một dã tâm đen tối, nhân cách thấp hèn. Thế giới đạo sĩ ở đây có hơn gì thế giới của đảng cướp Cobra hay thế giới của buồng giam nữ tù trong pháo đài Gwalior.

    Devil mỉm cười chua chát. Tiếng tắc kè ném lưỡi vào không gian trên các gốc cây dẻ nghe giật cục, buồn thiu. Gió lay động cây rừng, làm rơi những hạt dẻ màu nâu đen khô khốc xuống sườn đồi, báo mùa thu sắp qua. Nàng nhìn ra con sông Hằng mênh mang chảy về xuôi, nhớ lại lời kể của một tín đồ mà buổi sáng nàng nghe được trong thị trấn. Bà ta nói về ngôi đền thờ thần Naga, cách thị trấn vài dặm theo hướng đi dọc bờ sông Hằng, với một vẻ thành kính ngời lên trong ánh mắt của mình. Đạo sĩ Babush đến vùng này đã được gần hai chục năm. Ngài thông kim bác cổ, giảng đạo hùng hồn, chữa được nhiều thứ bệnh nan y chỉ bằng luồng điện sinh học phát ra từ một con trăn khổng lồ quấn ngang bụng của ngài. Dân chúng và nhiều đạo sĩ xầm xì lan truyền câu chuyện về một đêm ngài ngồi thiền trong hang núi, trên đỉnh dãy Hymalaya, được thần Naga nhập vào, ban cho nhiều phép thuật cao siêu để, hạ sơn sứu giúp chúng sinh ra khỏi vòng khổ ải, u mê. Nhiều thiếu nữ hay mệnh phụ quyền quý được ngài cho ân sủng lưu lai trong đền một hai tuần học đạo, lúc trở về càng thêm xinh đẹp, buôn bán phát tài, chồng con thăng tiến hay tìm được người yêu danh giá, có học vị và nghề nghiệp cao sang. Học trò theo học đạo của ngài đến ở hẳn trong đền rất đông, con số lên tới vài trăm người, cả đàn ông lẫn đàn bà. Đã là học trò của ngài Babush, mỗi khi ra thị trấn, các đạo sĩ thuộc môn phái khác đều phải kính trọng, ngoan ngoãn nghe theo lời sai khiến, răn bảo của họ. Kẻ nào tỏ ra bất kính, lập tức hôm sau biến mất tăm dạng, không còn xuất hiện ở Benashold. Một vị đạo sĩ tiếng tăm lừng lẫy, rất ít xuất hiện ở nơi đông người ồn ào trong thị trấn, được dân chúng và nhà chức địa phương sùng kính, chắc ngài phải rất thông tuệ, uyên bác, quyền năng siêu phàm. Devil rất muốn đến ngôi đền ấy thắp hương, xin gặp đạo sĩ, tình nguyện làm đệ tử của ngài. Nhưng cái tên Babush cứ làm nàng phân vân, thắc mắc. Kẻ tử thù của nàng năm xưa trong đảng cướp Cobra cũng có cái tên đó. Nghe dân chúng mô tả đạo sĩ Babush để râu dài, đi đứng khoan thai, dáng ngồi đường bệ, giọng nói sang sảng lưu loát. Tướng cướp Babush trong đảng Cobra ngày xưa không để râu, cao lớn dữ dằn, có tài hùng biện và nhiều mưu mẹo. Chẳng lẽ hắn như con rắn lột xác trở thành đạo sĩ? Chẳng lẽ suốt bao năm nàng tốn tiền thuê thám tử đi lùng sục khắp nước Ấn Độ mà không có vị thám tử nào đến thánh địa Benashold? Không. Không thể có chuyện lạ đời như vậy. Chốn tu hành linh thiêng không có đất sống cho con quỷ dâm dục, tàn ác như Babush. Đây có lẽ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Devil tự nhủ lòng mình, cố xua đi mọi ám ảnh tội lỗi. Điều khiến nàng ngờ vực là thời gian xuất hiện của đạo sĩ Babush ở Benashold rất khớp với thời gian xảy ra vụ thảm sát, cướp quyền ở đảng cướp Cobra, trong thung lũng Chambia năm nào. Đó là ngày nàng bước lên ngôi cao quyền lực và việc để xổng Babush đã luôn gây cho nàng cảm giác bực bội, thù hận bọn đàn ông. May mắn số phận đã xui khiến cho nàng gặp Singh ở pháo đài Gwalior, để nàng tìm thấy được tình yêu dịu ngọt, thanh cao trong thế giới đàn ông nhiều tội lỗi hơn là sự thánh thiện, để nàng hiểu ra một điều trong cái thế giới đàn ông nàng khinh bỉ và căm ghét, vẫn còn những con người tuyệt vời như Singh và ngài nghĩ sĩ Mamun. Devil cố dằn lòng, nhưng nàng vẫn nửa tin nửa ngờ ngài đạo sĩ mình đang muốn gặp, tình nguyện làm đệ tử. Mọi điều ngờ vực đành phải chờ đến buổi lễ thánh của ngôi đền vào ngày hôm sau. Nàng mở gói cơm chay mua ngoài chợ uể oải nhai và thiu thiu ngủ dưới tán cây giữa rừng dẻ bạt ngàn, lục tục tiếng tắc kè đua nhau ném lưỡi ào không gian huyền bí, mênh mông bên sông Hằng. Xa xa dãy núi Hymalaya hùng vĩ mờ dần trong ánh hoàng hôn lịm tắt.

    7- Devil ngủ rất say sưa sau một ngày mệt nhọc, căng thẳng lang thang khắp thị trấn Benashold. Nàng mơ thấy mình trong đêm tối, mặc bộ đồ đen có mũ trùm kín mặt, chỉ lộ đôi mắt, giống như trang phục của phái Liên gia bên Nhật. Bên hông nàng đeo lủng liểng thanh kiếm Thiên Long gia truyền, quyết tìm ra bí mật ở đền thờ thần Naga và đạo sĩ Babush. Nàng nhẹ nhàng áp sát ngôi đền bí hiểm, đu mình trèo lên mái ngói. Sau một hồi tìm kiếm. Devil đã phát hiện ra mật phòng của đạo sĩ Babush. Nàng khẽ cậy mấy viên ngói nhìn xuống thấy Babush đang ngồi xếp bằng tròn trên bệ đá rải tấm thảm đắt tiền của Arập. Sau lưng Babush có hai cô gái trẻ nửa ngồi, nửa quỳ đấm lưng và xoa bóp. Trước mắt đạo sĩ là các đệ tử thân tín ngồi xếp hàng thành hai dãy, khoảng chừng ba chục người, nom ai cũng to cao, vạm vỡ và rất dữ dằn. Dù để râu, khoắc trên mình tấm áo choàng màu vàng của đạo sĩ, nhưng Devil vẫn nhận ra y chính là tên cướp Babush trong đảng cướp Cobra năm nào. Mỗi tên đệ tử của hắn phụ trách cai quản một khu vực trong thánh địa Benashold và thu tiền cuả tất cả các đạo sĩ hành nghề trong địa phận mình cai quản. Devil ngồi trên mái nhà chứng kiến từng tên mang tiền thu được trong ngày lên nộp cho Babush, điệu bộ rất cung kính và khép nép. Hai tên ngồi đầu dãy nàng cũng nhận ra đã từng có mặt đảng cướp Cobra, thuộc tốp do Babush cai quản. Một trong hai tên đợi mọi người nộp tiền xong bước ra nói:

    - Thưa đức bề trên, hôm nay trong thị trấn xuất hiện một sự kiện lạ.

    - Là chuyện gì? – Babush thờ ơ hỏi lại.

    - Thưa bề trên, con quỷ cái Devil đang có mặt ở đây.

    - Nó đi một mình hay mang theo bọn rắn độc Cobra?

    - Thưa nó đi có một mình mới là sự lạ.

    - Ta nghe nói, nó đã đầu hàng Chính phủ, bị kết án tù mười hai năm ở pháo đài Gwalior cơ mà?

    - Vâng, thưa đức bề trên! Nhưng tính đến nay thì hạn tù đã hết, có thể nó vẫn thuê thám tử dò ra tung tích chúng ta.

    - Đã cho người theo dõi chưa?

    - Chúng con đã cử người bám sát đến tận chiều, chưa thấy có gì khả nghi. Nó có vẻ như một tín đồ đi hành hương cũng ăn chay và tắm nước sông Hằng.

    - Theo các ngươi nên xử trí với con quỷ cái này thế nào?

    - Người của con vẫn tiếp tục bám sát theo dõi. Hiện nó đang ngủ một mình dưới gốc cây dẻ, trên sườn đồi vắng vẻ, cạnh bờ sông. Nếu bề trên ra lệnh, chúng con lập tức sẽ khử liền.

    - Chưa cần thiết. Ở Chambia nó là nữ chúa đảng cướp đáng sợ. Vì nó mà thầy trò ta phải chui lủi, trốn tránh lên tận đây cải trang mặc áo tu hành. Thời thế bây giờ đã đổi khác. Ta đã thành một vị thánh. Dân chúng và cả chính quyền ở Benashold đều thuộc về ta. Ai tin lời một con nữ tù khổ sai vừa được phóng thích. Nom nó độ này thế nào?

    - Nó vẫn đẹp mê hồn, thậm chí còn hấp dẫn hơn cả hồi ở Chambia.

    - Cầu trời nó dẫn xác đến đền thờ của chúng ta. Nữ chúa xinh đẹp của đảng rắn độc Cobra mà được lột truồng trong đền thờ thần Naga, để thày và trò chúng mình đè ngửa ra làm tình mới thật tuyệt vời. Vội gì phải giết nó trên đồi cây vắng vẻ cho hoài phí. Ha ha!..

    Babush phá lên cười khả ố, đám đệ tử đầu trâu mặt ngựa cũng được thể tán theo, làm huyên náo cả ngôi đền nghi ngút hương khói và những điện thờ, tượng thánh trang nghiêm. Devil nghiến răng, run người vì căm tức. Nàng thét to “Babush mày phải chết”, rồi rút kiếm Thiên Long tung người từ trên mái đền nhảy xuống giữa phòng. Nàng vừa vung kiếm chém lia lịa vừa gầm thét. Babush và đám đệ tử bị bất ngờ, trở tay không kịp. Từng đứa, từng đứa bị thanh kiếm gia truyền đốn ngã như những khúc chuối. Một số hoảng hốt tháo chạy ra ngoài hiên kêu cứu. Devil vẫn chưa hả giận. Nàng lấy kiếm băm nát xác Babush. Người nàng vấy đầy máu...

    8- Devil tỉnh dậy, trời còn chưa rõ mặt người. Giấc mơ hồi đêm làm nàng bàng hoàng kinh sợ. Đời nàng có lẽ muốn đi tu thoát tục cũng không thoát nổi, vẫn phải chống trả quyết liệt mọi thế lực hắc ám, vẫn phải tàn bạo và chém giết. Nàng uể oải lê gót chân xuống bờ sông, vốc nước rửa mặt. Gió sớm mai cùng nước sông Hằng giúp nàng tỉnh táo. Nàng cảm thấy luyến tiếc thanh gươm Thiên Long gia truyền. Để tỏ rõ thiện trí của mình, mười hai năm trước, Devil đã cho đóng một hòm gỗ quý đựng gươm Thiên Long gửi tặng bà Thủ tướng với lời đề mạ vàng ngoài vỏ: “Tôi đầu hàng không phải vì công lý của bọn đàn ông”. Nếu giấc mơ đêm qua là sự thật, nàng lấy gì làm vũ khí để đối phó với Babush? Từ thị trấn đến ngôi đền thờ thần Naga còn vài dặm đường. Devil nhẩm tính sẽ ghé vào một lò rèn hay sạp buôn nào đó mua một con dao sắc. Linh tính mách bảo nàng đã tìm ra tung tích kẻ thù. Dù phải dấn thân vào nơi hang hùm nọc rắn, nàng cũng quyết đấu một trận thư hùng với Baush. Khoác túi hành lý trên vai, Devil đi theo men theo lối mòn trên bờ sông, nhằm hướng đền thờ thần Naga rảo bước.

    Mới đi được chừng hơn một dặm, chợt từ trong rừng lau sậy um tùm một con trăn khổng lồ rẽ cây ào ào xô tới như một trận cuồng phong dữ dội. Nó trườn ra con đường đất, ngóc đầu về phía Devil há to miệng, lè cái lưỡi đen sì, phun phì phì hơi thở và nọc độc. Nếu lúc này có thanh gươm hay một chiếc gậy Devil sẽ không hề run sợ. Nhưng nàng chỉ có tay không, còn con trăn thì to bằng thân cây chuối lớn, dài chừng năm sáu mét, đang hung dữ muốn nuốt chửng nàng. Loại trăn gió này Devil đã gặp nhiều lần ở thung lũng Chambia. Nó lao rất nhanh, có chạy cũng vô ích, không kịp với nó. Đúng lúc này, nàng nghe thấy tiếng đọc thần chú dưới bờ sông của một vị đạo sĩ già, râu tóc bạc phơ, nhưng tiếng ngài sang sảng vang xa cả một vùng sông nước, cây cỏ. Con trăn nghe thần chú của ngài thôi hung hăng, cuộn tròn giữa đường cái, cặp mắt lờ đờ như mê đi. Đạo sĩ chống gậy trúc lại gần vỗ nhẹ vào đầu, nói vài lời với nó. Con trăn ngoan ngoãn trườn vào rừng lau sậy, bò đi mất hút. Devil hoàn hồn, chắp tay quỳ xuống đất cảm ơn cứu mạng của đạo sĩ. Ngài mỉm cười chỉ vào mô đất bên đường ra hiệu cho Devil ngồi xuống, rồi ngài gác cây trúc bên người khoan thai ngồi đối diện trước mặt nàng.

    - Con không cần phải cảm ơn. Ta nhận được tín hiệu từ trong cõi giới vô hình. Đấng tối cao ra lệnh cho ta phải hạ sơn cứu con khỏi môt lần tội lỗi - Đạo sĩ ôn tồn nói.

    - Sao lại tội lỗi? Con đang bị loài trăn tấn công cơ mà?

    - Không. Con trăn lúc nãy chỉ làm theo ý muốn của đấng tối cao, ngăn cản bước đường con tiến đến tội lỗi. Trên nét mặt con từ lúc khởi hành đến bây giờ vẫn đầy sát khí. Đằng sau chỗ con ngồi đang có bóng quỷ vây quanh. Ta còn đọc trong óc con ý đồ tìm mua dao sắc, mang đến ngôi đền thờ thần Naga để giết Babush. Có đúng không?

    - Vâng... Thưa đạo sĩ! – Devil lí nhí thú nhận.

    - Vậy nên con trăn ban nãy là hình tượng chứng minh cho con thấy, nếu chỉ biết dùng bạo lực tiêu diệt bạo lực thì sẽ có một thứ bạo lực khác tiêu diệt chính mình. Oán thù nối tiép oán thù điên đảo giữa cõi nhân sinh đã dẫn loài người quẩn quanh trong vòng u mê. Con đến thánh địa Benashold với lòng khát khao thoát tục, đoạn tuyệt với mọi ham muốn, ân oán giang hồ. Điều này đấng tối cao cũng đã gửi thông điệp cho ta biết. Vậy mà chỉ một chút nghi ngờ về cái tên Babush loé lên trong đầu đã làm bốc cao ngọn lửa thù hận nơi trái tim con. Nếu sức con thắng được một người thì con là người biết võ. Nếu sức con thắng được cả trăm người thì con võ nghệ siêu quần. Song nếu con thắng được tâm mình, tức là thắng con quỷ vô minh đang ẩn náu trong đó thì con mới là bậc thánh võ, chân tu.

    - Nhưng thưa đạo sĩ! Suốt một ngày hôm qua đi lang thang quanh thị trấn Benashold con chỉ được chứng kiến những trò lố bịch, làm con thất vọng.

    - Con nói không sai. Ấn Độ giáo đang gặp lúc suy vi. Benashold không còn là nơi thánh địa linh thiêng, thuần khiết của các bậc chân tu, đạo hạnh. Đa số các đạo sĩ, tu sĩ dốt nát về kiến thức, bệ rạc về thể xác, bệnh hoạn về tâm hồn,nhân cách thấp hèn. Họ cóp nhặt vay mượn vài phép tu, vài phương pháp dưỡng sinh, vài câu thần chú, sấm truyền của thánh nhân để rồi kiếm ăn qua sự u mê, cuồng tín của dân chúng. Phần lớn họ là những kẻ thất bại ngoài đời, lười nhác không chịu làm việc. Ở xứ sở chúng ta, dân chúng như một bầy gà, đàn trâu đần độn, chất phác cả tin và dễ bảo. Vì vậy không có gì dễ hơn để kiếm cơm ăn, áo mặc,nhà ở, thậm chí cả quyền uy là tìm cách chui vào hàng ngũ đạo sĩ. Đất nước trì trệ, rối ren, không có một tiêu chuẩn để thi cử, một biện pháp hữu hiệu để kiểm soát năng lực và học vấn nên bất cứ ai cũng chỉ cần học thuộc vài câu kinh, vài hình thức nghi lễ, cúng tế là có thể khoác áo thụng vàng và trở thành đạo sĩ, đâu đâu cũng nhộn nhạo một thứ chợ trời đạo sĩ.

    - Xin đạo sĩ cho con biết một sự thật. Có phải rằng Babush ở đền thờ thần Naga cũng nằm trong số ấy?

    - Đúng, từ lâu ta đã biết nó là một trong mười hai tên cướp thân tín của chúa đảng Cobra mà con vẫn truy lung ráo riết. Bon đạo sĩ giả mạo này không chỉ có ở thị trấn Benashold hẻo lánh, mà nhan nhản khắp xứ sở thân yêu của chúng ta. Bọn họ đã làm hoen ố danh dự tôn giáo, lợi dụng đức tin để làm chuyện đồi bại, xằng bậy. Đã thế họ còn tụ tập phe phái, phong chức tước, ca tụng lẫn nhau, đả kích các “đạo sĩ” không cùng phe nhóm.

    - Nếu vậy thì viêc con tìm giết Babush là cứu nguy cho sự suy đồi của Ấn Độ giáo, báo thù cho cha, rửa hận cho mẹ, có gì là không nên?

    - Con nói sai rồi. Một mình con làm sao có thể giết hàng nghìn, hàng vạn thằng Babush cụ thể bằng xương bằng thịt. Ở đền thờ thần Naga còn có cả một thế lực đông đảo, chắc gì hôm nay con đã giết được y và thậm chí sẽ rơi vào cạm bẫy, bị y làm nhục.

    - Vậy con biết tin vào ai? Biết tìm đâu là đất thánh để tu thân, thoát tục?

    - Lich sử Ấn Độ cho thấy khi xưa Benashold vốn là đất thánh linh thiêng, các bậc chân tu, đạo sĩ chỉ cần đến đây tắm mình trên dòng sông Hằng, hít thở khí thiêng của dãy núi Hymalaya là có thể trở thành con người khác hẳn, tiếp thu dễ dàng tư tưởng huyền diệu của các bậc thánh minh triết. Sau này khách hành hương qua đông, một số ăn mày và lưu manh trộm cắp kéo đến hành nghề. Họ thấy làm đạo sĩ vừa danh giá, lại dễ kiếm ăn hơn nên đã “chuyển nghề”. Dĩ nhiên ở Benashold vẫn còn nhiều tu sĩ có học thức, đạo sĩ cao minh dốc trọn tâm huyết đi tìm chân lý, rũ bỏ mọi ham muốn, tĩnh tâm toạ thiền đạt tới trí tuệ minh mẫn, quyền pháp vô biên. Các đạo sĩ chân tu không thèm đếm xỉa đến bọn người vô lại, giả danh đạo sĩ quanh mình. Họ quan niệm con người ta ở đời có nhiều đường tu khác nhau, ai tu nấy chịu.

    - Tại sao các bậc chân tu, đạo hạnh kia không giáo hoá cho dân chúng, giúp họ bừng tỉnh cơn mê muội, phân biệt rõ thật giả,trắng đen?

    Đạo sĩ im lặng ngồi nhìn Devil hồi lâu rồi khẽ thở dài nói tiếp:

    - Gia tài văn hoá rực rỡ của xứ Ấn Độ ta có từ mấy nghìn năm trước công nguyên. Sự trì trệ, bảo thủ đã làm cho đất nước kiệt quệ, dân chúng nghèo đói, dân trí thấp hèn và ngu muội. Lòng sùng tín khiến họ trở nên ngây thơ, nhẹ dạ, sắn sàng làm theo sự mách bảo của bọn người bất lương giả danh đạo sĩ. Một lý do nữa là sự mệt mỏi, thất vọng khiến dân chúng sinh ỷ lại vào sức mạnh của thần quyền. Đa số dân chúng vì mải mê với sinh kế, không có thì giờ lo việc tinh thần nên họ uỷ thác cho các tu sĩ, đạo sĩ mà họ tin tưởng, thành kính, tuyệt đối trung thành với thần tượng tinh thần của mình. Bọn đạo sĩ rởm lợi dụng tối đa vấn đề này, hứa hẹn chăm lo tinh thần cho các tín đồ dựa theo nhu cầu, sở nguyện của từng người. Vô tình xung quanh một tên đạo sĩ rởm hình thành một đám quần chúng mù quáng và trung thành, sẵn sàng tử vì đạo. Để tranh giành tín đồ, mỗi đạo sĩ rởm tự lập một môn phái, xưng hùng, xưng bá. Các sách vở minh triết của nhiều vị thánh Ấn Độ giáo đã bị bóp méo, sửa đổi rất nhiều, không thể phân biệt giữa điều có thật với những sự kiện huyền hoặc. Bọn bất lương tha hồ cắt xén, thêm bớt vào kinh điển những điều có lợi cho chúng, nhưng lại dùng những danh từ, khái niệm nghe rất to tát để lừa mị như: thời gian luận, phương pháp luận, nhất nguyên luận, đa nguyên luận, không gian luận, thế giới luận... Giáo hoá một dân tộc đang chìm đắm trong vòng tăm tối, ngu muội là viêc cần làm, nhưng phải kiên tâm. Bọn lừa đảo, mạo danh đạo sĩ sống dưới gầm trời mà không thuận theo ý thánh tất sẽ có ngày bị tuyệt diệt. Chúng có thể lừa dối, ru ngủ một vài người, thậm chí một cộng đồng nhỏ, nhưng không thể lừa dối, ru ngủ mãi mãi cả một dân tộc…

    Devil say sưa nghe giống như uống từng lời của vị đạo sĩ già bí ẩn. Nàng thấy trong lòng nhẹ nhõm, quyên hết mọi nỗi đau buồn, thù hận. Cái tên kẻ tử thù Babush bỗng trở nên xa lạ, không còn mọt ý niệm gì trong đầu óc nàng. Devil chỉ thấy lâng lâng khoái cảm như được bay lượn trên các tầng mây của sãy Hymalaya hay lặn sâu xuống đáy vô cùng của dòng sông Hằng. Nàng gục đầu xuống bãi cỏ xanh, bưng mặt thổn thức vì sung sướng, lòng tràn đầy hạnh phúc. Đạo sĩ già đứng dậy, dắt tay nàng đi ngược về phía dãy núi Hymalaya. Họ đi, đi mãi qua nhiều ngày trong rừng rậm, đói ăn trái cây, khát uống nước suối. Dốc núi cao, cheo leo hiểm trở, nhưng Devil nắm vào tay đạo sĩ bước đi băng băng như lướt chân trên ngọn cỏ, trong một cảm giác phi trọng lượng. Chẳng bao lâu họ đã trèo lên đỉnh núi cao chót vót và gặp một thung lũng mọc đầy cây Pơ mu cao to bằng mấy người ôm. Gió reo vi vu trên đầu, trong những vòm lá biếc. Dưới chân từng vạt mây trắng như những dải lụa mỏng tang, ôm ấp quanh trương núi đá. Devil theo chân vị đạo sĩ già bước vào một ngôi đền xây toàn bằng đá hoa cương trắng toát. Đền rộng mênh mông nhưng không hề có điện thờ, tượng thánh hay các đồ cúng tế. Sự trống không gây một cảm giác hoang sơ, vắng lạnh. Bức tường dày ngăn cách mọi thứ âm thanh với thế giới bên ngoài, im kặng đến mức có thể nghe được bước chân con nhện bò trên tường. Sàn nhà chia thành chín bậc tượng trưng cho chín bước tu hành lên đến cửu trùng. Devil ngạc nhiên hỏi đạo sĩ:

    - Con không hiểu ngài đưa con qua bao dặm đường, dốc núi cheo leo chỉ để đến ngôi đền bỏ hoang này?

    - Nó không hề bị bỏ hoang. Từ sáu nghìn năm nay nó vốn đã như vậy, con ạ! Tục truyền có hoàng đế trẻ tuổi mang quân vượt dãy Hymalaya, đi chinh phục xứ Tây Tạng. Ngài gặp một đạo sĩ ở chính tảng đá ngoài cửa ngôi đền. Đạo sĩ khuyên vua từ bỏ ý định dùng bạo lực mà chỉ nên lấy nhân nghĩa đối xử với người. Nhà vua tỉnh ngộ bãi binh, khuyến khích dân và quần thần sống theo đạo hạnh, nhờ vậy vương quốc của ngài thịnh trị suốt một ngàn năm. Thời gian trôi qua, đến nay chẳng còn ai nhớ tới thời đại của vị hoàng đế ấy, ngay cả sử sách cũng không ghi lại. Để kỷ niệm cuộc gặp gỡ ấy, dân chúng xây một ngôi đền bằng đá không có bất cứ một hình tượng gì là muốn nói với đời sau rằng chân lý tuyệt vời vốn vô hình, vô tướng. Phàm là người tu hành đến đây chỉ cần một chỗ ngồi lần lượt từ bậc thứ nhất đến bậc thứ chín. Ngồi im lặng ở bậc thứ nhất sẽ thấy mình quên dần mọi ham muốn dục vọng. Ngồi im lặng tiếp trên bậc thứ hai sẽ hết ưu phiền hay oán giận... Cứ thế nếu kiên trì ngồi im lặng cho đến bậc thứ chín sẽ hoàn toàn thoát tục, tâm hồn có thể thoát ra ngoài thể xác đi tìm chân lý trong cõi giới vô hình, quyền năng tuyệt đối, vô biên.

    - Mỗi bậc sẽ phải ngồi im bao lâu, thưa đạo sĩ?

    - Cái đó còn tuỳ vào cái tâm và sự thông tuệ của mỗi người. Bí quyết đắc đạo chỉ là sự im lặng về thân xác sẽ im lặng về tư tưởng và sự im lặng đồng nghĩa với quyền năng. Con người ai cũng có sức mạnh tư tưởng, nhưng vì vô ý thức họ đã để cho nó hao tán. Quyền năng hao tán là động, còn tập trung lại là tĩnh. Khi tập trung mọi sức mạnh tư tưởng vào một trung tâm sinh lực duy nhất, tâm hồn con người thoát ra khỏi thể xác, hoà nhập vào cõi giới vô hình, biến thành quyền năng linh thiêng. Minh triết cũng được phát minh từ sự im lặng. Khi một người tu hành thành tâm trong tĩnh lặng, anh ta sẽ hòa hợp tư tưởng với các thần linh và ảnh hưởng này chỉ có thể nhận được khi lòng ta hoàn toàn vắng lặng. Tâm đã tĩnh ta mới có thể tự phân tích mình, trau dồi đạo hạnh và đón nhận những tín hiệu tư tưởng lóe lên đột ngột trong cõi giới vô hình. Chỉ trong im lặng, sắc sắc không không, con người mới ý thức được năng lực bí mật tiềm ẩn trong mình và thế giới xung quanh. Chỉ trong im lặng, mọi thứ quyền năng mới phát sinh và phát triển. Tâm có an thì việc bên ngoài mới không vọng động, dục vọng nhờ đó mới chịu ngủ yên. Con người cần khám phá hạnh phúc vĩnh cửu ở trong tâm mình, thay vì chạy theo, đeo đuổi thứ hạnh phúc nhất thời ở bên ngoài. Có giải thoát được ồn ào, náo nhiệt ngoài đời sống, con người ta mới kịp thời đón nhận các hoà âm tuyệt diệu từ cõi vô biên sâu thẳm ngay trong tâm linh, tuệ giác của chính mình...

    Vị đạo sĩ già ôn tồn, trìu mến ngồi bên Devil, giảng giải mọi điều kỳ diệu mà suốt bốn mươi hai năm làm người nàng chưa hề biết đến. Giọng ngài trầm ấm, du dương như lời hát ru êm đềm của mẹ nàng thủa ấu thơ trong thung lũng Chambia. Devil từ từ ngồi xếp bằng tròn ở bậc sàn thứ nhất và khép dần đôi mắt. Nàng thấy mình đang trôi vào hư không gặp lại ông nội, cha mẹ, Jyoti, Singh và ngài nghị sĩ Manmu. Quanh nàng là một thế giới công bằng, không còn đau khổ, thù hận. Vị đạo sĩ già sửa lại tư thế ngồi cho Devil, mỉm cười an tâm. “Ôi! Đứa con bất hạnh của đời. Con hãy ngủ một giấc dài trong tư thế thiền định. Tỉnh dậy con sẽ như rắn lột xác thành một con người mới, trọn kiếp tu hành...” Đạo sĩ giơ hai tay lên trên đầu Devil làm phép, rồi sau đó ngài thong thả bước ra khỏi ngôi đền. Rừng cây Pơ mu lao xao trong gió chiều. Suối reo róc rách. Từng bầy thú và chim muông trong rừng đổ ra vây quanh đạo sĩ. Ngài ngoái đầu vào trong đền mỉm cười, vuốt nhẹ chòm râu dài, trắng như cước. Bóng ngài lồng lộng giữa Hymalaya hùng vĩ...

    9- Ngài nghĩ sĩ Manmu có người em vợ là Secti làm chủ hãng tơ lụa – len dạ xứ Đông Dương thời thuộc Pháp. Ai đã sống ở Hà Nội trước năm 1954 đều biết ngôi nhà Secti số 100 phố Hàng Đào. Đó vừa là trụ sở chính của hãng, vừa là cửa hàng tơ lụa – len dạ lớn nhất Đông Dương. Mẹ tôi thời ấy là bạn hàng thân thiết của ông bà Secti. Thỉnh thoảng tôi vẫn thường theo mẹ đến ngôi nhà số 100 phố Hàng Đào và trở nên gắn bó với Satli, cậu con trai cùng tuổi Bính Tuất của ông bà Secti. Chúng tôi thường rủ nhau lên sân thượng đánh bi hoặc ra quán Long Vân – Hồng Vân mua kem rồi xem phim đèn chiếu, qua những ô cửa sổ bé tí xíu bên thành chiếc xe đẩy cũ mèm của ông lão ở phố Lò Sũ. Sau năm 1954 ông bà Secti hồi hương về nước nên tôi không còn gặp Satli. Bẵng đi mấy chục năm, tình cờ chúng tôi nhận ra nhau ở hội nghị khoa học quốc tế về giống tằm vụ hè cho vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Trong chuyến đi thị sát ở Xuân Thuỷ tôi và Satli rủ nhau đi dạo trên bãi dâu ven bờ sông Ninh Cơ, cùng ôn lại những kỷ niệm thời thơ ấu. Hôm ấy trong ánh hoàng hôn mờ tím của dòng sông Ninh Cơ thơ mộng, rì rào sóng vỗ và xanh mướt lá dâu non, Satli kể tôi nghe về mối tình của Singh với nữ tướng cướp Devil. Tôi không rõ tình tiết trong câu chuyện tình đâu là sự thật, đâu là huyền thoại. Nhưng nó cứ ám ảnh tâm trí tôi bao điều ngẫm suy về thiện, ác và lẽ đươc, mất ở đời. Giờ đây, chép lại câu chuyện này, tôi vẫn bồi hồi nhớ lại mái tóc hoa râm của Satli bồng bềnh trong gió chiều lợt nắng và ánh mắt đăm chiêu mơ màng như có bụi sương mù ẩn dưới hàng mi. Bên tai tôi văng vẳng nghe lời hát bằng tiếng Hindi: “Hỡi ôi! Con chim bé nhỏ chiêm chiếp kêu trong bụi xương rồng gai. Nắng làm mi sã cánh, gió làm mi rụng lông, cơn khát khô làm mi cứ ngáp hoài!...”

    Trước mắt tôi lại hiện lên hình ảnh Devil xếp bằng tròn, khép mắt ngồi thiền trong ngôi đền hoang lạnh trên đỉnh Hymalaya xa xôi.

    Hà Nội 1996
     
  12. Uillean

    Uillean Banned

    MA MÈO

    Hoàng hôn lịm tắt trên biển Trà Cổ. Rừng phi lao chuyển sang mầu đen thẫm reo vi vu như tiếng sáo trúc ngân dài trên bãi cát. Gió từ phía vịnh Bái Tử Long theo các triền núi đá vôi ào ạt về biên ải. Từng đợt sóng xô đẩy nhau vào bờ, liếm lên cát mịn. Hiếm thấy ở đâu trên đất nước có bãi cát rộng dài, thoai thoải và mịn như ở Trà Cổ. Cả dáng hoàng hôn dần dần tắt cũng chầm chậm, sắc màu biến đổi kỳ ảo hơn những bãi biển phía Nam, mang vẻ rất riêng của vùng than Đông Bắc bởi màu tím thẫm có những vệt đỏ, vàng đan cài trên bầu trời.
    Quán cà phê nhạc Kinh Hoa đã thưa khách, chỉ còn lác đác mấy bàn ngồi ngoài sân hóng gió. Tôi và Chiến ngồi nhâm nhi ly rượu Quế Châu – Trung Quốc với con mực khô, ngắm nhìn những đốm sáng trên các bè mảng đánh cá lung linh di động trên mặt biển. Đêm cuối tháng làm tôi chạnh nhớ tới câu thơ tài hoa của Nguyễn Bính: “Suốt giời không một vì sao - Suốt giời mực ở nơi nào loãng ra - Lửa chài chăng cái giăng hoa...” Thời mở cửa không còn ánh sáng lửa đò như trong thơ Nguyễn Bính. Người dân chài vùng Đông Bắc bây giờ đi mảng trong đêm bằng đèn nê ông chạy ắc quy nhập của Trung Quốc. Nhưng trời, đất, mặt biển đêm nay vẫn thấm đậm hồn thơ thi nhân. Cái đẹp tự nó của mỹ học Nuel Kant quả là đang chắp cánh vượt lên phơi phới trên biên giới của không gian, thời gian...
    Chợt từ rặng phi lao bước ra bãi biển một bóng trắng mờ ảo. Người đàn bà mặc váy ngủ mỏng tanh màu trắng. Nàng xuất hiện như một bóng ma vừa đi vừa hát: “Meo, meo, meo... chúng cháu yêu cô lắm!... Ngao, ngao, ngao... em nhớ anh làm sao. Chúng ta yêu nhau xem nào...” Chiến bảo tôi, đó là bà chủ khách sạn Bồng Lai ở Hà Nội lên Trà Cổ an dưỡng, lấy thuốc chữa bệnh của một thầy lang bên kia biên giới. Người ta đồn nàng bị ma mèo ám. Chuyện của nàng, Chiến biết khá tường tận vì anh là bạn học cũ của nàng ở trường cấp hai phố huyện.
    Chiến xoay xoay ly rượu trên bàn, nét mặt đăm chiêu, môi ngậm chặt điếu thuốc rít liền hơi mấy lần rồi quẳng mẩu thuốc cháy dở xuống sàn. Anh hỏi tôi bằng giọng trầm buồn:
    - Anh có tin rằng loài vật cũng có linh hồn không? Liệu trong cõi giới vô hình có những hồn ma động vật lẩn khuất, oán giận con người không?
    - Mình chưa tin có hồn ma tồn tại dù là người hay động vật. Nhưng có những nỗi ám ảnh hằn sâu trong tâm linh người đang sống sẽ tạo nên ảo giác về những hồn ma.
    - Có thể anh nói đúng, nhưng có nhiều việc xảy ra khiến tôi phải hoang mang ngỡ ngàng, nửa tin nửa ngờ.
    - Hình như điều anh nói có liên quan đến bà chủ khách sạn Bồng Lai bị ma mèo ám?- Tôi hỏi.
    - Cũng không hẳn thế... Hồi nhỏ, ở quê tôi có ông Tư yêu, gọi là Tư yêu vì ông ấy như yêu tinh với loài chó vậy. Có lẽ ông giết quá nhiều chó nên bao giờ quanh người ông toàn những hồn ma, linh cẩu. Mỗi lần ông vào xóm, lũ chó sủa vang rồi cúp đuôi chạy rạp. Con chó lài nhà tôi to lớn, khét tiếng là chó dữ mà hễ nhìn thấy ông bốn chân cứ run lên, chạy vào gầm giường vẫn còn lùi sâu tận góc tường và chỉ dám ư ử sủa lên vài tiếng yếu ớt. Nói đúng hơn là nó rên chứ không dám sủa.
    - Cái đó có thể lý giải vì ông ta quanh năm suốt tháng mổ chó, nấu và bán thịt chó nên người ngợm, áo quần bám đầy mùi thịt chó. Giống chó trời ban cho mũi rất thính, đánh hơi thấy và khiếp, thế thôi.
    - Tôi lại xin kể một chuyện khác. Sát giậu cúc tần nhà tôi là nhà cô Mão. Ngày ấy tôi và cô Mão cùng học lớp năm trường làng. Tính cô rất nanh ác. Ở sân nhà hay đi trên đường, hễ gặp con vật nào làm vướng chân là cô đá thẳng cánh. Mấy đứa bạn gái cùng lớp bảo thế nào cũng không chừa. Một lần, con mèo nhà tôi có chửa, sang ăn vụng khúc cá nhà cô Mão. Cô chủ bé tí thế mà dám cả ngan bắt mèo nhà tôi ném xuống giếng. Năm ấy mẹ cô Mão đẻ ra quái thai, có một cái đuôi và sau đó chết cả mẹ lẫn con.
    - Cái chuyện “oan oan tương oán” của Chiến vừa kể, mình đã nghe nhiều, nhưng cảm thấy nó huyền hoặc thế nào ấy. Ta nói sang chuyện khác đi...
    Tôi cố lái Chiến bàn sang chuyện thời sự, chuyện nhân tình thế thái, chuyện văn thơ để giết thời gian trong lúc đợi mấy người cùng đoàn công tác đi chơi ngoài Móng Cái trở về. Những câu hát lẫn tiếng meo meo, ngao ngao và cái bóng trắng vật vờ ngoài bãi biển hình như đang ám ảnh Chiến. Mắt anh rõi theo bóng trắng của bà chủ khách sạn Bồng Lai, miệng lầm rầm kể chuyện, bất cần tôi có chịu ngồi nghe hay không.
    Cô Mão hàng xóm của tôi ngày xưa chính là bà chủ khách sạn Bồng Lai đang meo meo, ngao ngao ngoài bãi cát vắng tanh. Bẵng đi mười mấy năm, đi lao động ở nước ngoài về, tôi gặp Mão đang làm nghề phe tem phiếu quanh chợ Bắc Qua, Đồng Xuân. Nàng đã đổi tên thành Lệ Hằng và rất xinh đẹp, đài các. Chồng nàng là người cùng quê, học trước tôi ba lớp. Tính anh ta hiền lành, cần mẫn, yên phận với công việc giữ thư viện trong một cơ quan nghiên cứu khoa học. Cơ quan thấy anh sống kham khổ, dành dụm từng mét phiếu vải, mua từng cân đường hay bánh xà phòng mang về quê nên ưu tiên nhận Mão vào làm tạp vụ, lại còn giải quyết cho vợ chồng anh gian nhà cấp bốn và nhập hộ khẩu cho các con. Hồi ấy, người nhà quê ra Hà Nội có việc làm, nhập được hộ khẩu là một đặc ân lớn của cơ quan với gia đình Mão. Cái tính đành hanh, nanh nọc hồi bé hình như đã nhiễm vào máu của cô Mão quê mùa, mỏng học. Được một thời gian quen hơi, ấm chỗ, Mão bắt đầu tọc mạch, xoi mói vào đời tư của hết thẩy mọi người trong cơ quan. Đã thế cô còn kiện cáo, đòi tăng lương, đòi chuyển công tác sang phòng vật tư. Nhân có đợt giảm biên chế, anh chồng thấy xấu hổ với bạn bè đã gặp riêng lãnh đạo, xin cho vợ nghỉ việc. Lúc đầu, Mão lồng lên xỉa xói, đay nghiến chồng. Sau nhờ có bạn bè dẫn dắt đi phe tem phiếu, kiếm được bộn tiền, có của ăn của để, Mão may sắm ăn diện nhất khu tập thể cho thiên hạ biết tay. Cái tên Mão do cha mẹ đặt cho cô cũng tự nhiên biến mất, thay bằng Lệ Hằng. Cô coi chồng như cỏ rác. Bố mẹ chồng từ quê lên chơi, cô chửi đổng là lũ nhà quê ăn bám, thậm chí còn vu cho mẹ chồng ăn cắp tiền để đuổi khéo họ về. Nhiều lần anh chồng đang giữa giờ làm việc bất chợt chạy về lấy tài liệu, bắt gặp vợ đang làm tình với người đàn ông lạ, nhưng cô ả vẫn nằm tênh hênh khiêu khích. Người ta ở đời ai hiền lành lại thường hay cục tính và cả nghĩ. Một đêm anh chồng cãi cọ, xô sát với vợ không lại, ức quá uống thuốc sâu tự tử...
    Những chuyện vừa kể, mãi sau này tôi mới biết. Hôm ở nước ngoài về, vô tình gặp Lệ Hằng trên đường phố, tôi bị choáng ngợp bởi sắc đẹp đầy vẻ ma quái, quyến rũ của nàng. Trong hết thảy mọi thứ ngộ nhận ở đời, ngộ nhận về tình yêu là dễ mắc nhất. Tôi mê mẩn xách va li, đồ đạc đến nhà Lệ Hằng chung sống như vợ chồng. Bao nhiêu tiền, hàng dành dụm những năm lao động ở nước ngoài tôi nghe Hằng dồn vào mua khu đất ở Quảng Bá. Vì mới về nước, chưa nhập hộ khẩu nên giấy tờ mua đất nghiễm nhiên đứng tên nàng. Đêm nằm, Lệ Hằng tỉ tê khuyên tôi quay trở lại nước ngoài vài năm, kiếm thêm vốn xây biệt thự, sống sung sướng suốt đời. Nàng lo chạy hộ chiếu , mua vé máy bay, sắm sanh một ít hàng... Tôi như kẻ bị bùa mê thuốc lú, răm rắp nghe theo sự sắp đặt của nàng, một lần nữa, mang sức trâu đi làm công xứ người. Gặp dịp mấy nước Đông Âu kinh tế hỗn loạn, đám công nhân người Việt chúng tôi thả sức tung hoành đi buôn lậu. Đô la, hàng hoá tôi gửi về cho Lệ Hằng và hai đứa con riêng của nàng ngày một nhiều.
    Tin tức trong nước tới tấp báo sang rằng, Mão lừa đảo chiếm đoạt hết tài sản, tôi chỉ là anh chồng hờ ngoài hôn thú, còn chồng thực sự của nàng là Dũng quỷ nổi tiếng trong giới giang hồ... Tôi vẫn mê muội không tin, ngỡ thiên hạ ghen ăn tức ở, phá ngang hạnh phúc của mình. Chỉ khi bạn bè quay phim, chụp ảnh đầy đủ bằng cứ về sự phản bội, lừa đảo tôi mới tỉnh ngộ thì đã muộn. Khu đất ở làng Quảng Bá đươc xây thành khách sạn Bồng Lai đứng tên Dũng quỷ. Khi tôi về nước hai đứa con riêng của nàng còn mang dao doạ giết tôi vì đã quyến rũ mẹ nó. Trong cơn tuyệt vọng, tôi đã theo gót anh chồng cũ của nàng ngày xưa uống bốn mươi viên thuốc ngủ, may được cứu thoát.
    Chiến ngừng kể, mắt đăm đăm nhìn ra bãi cát, nơi cái bóng trắng vật vờ, thất thểu đi men theo mép sóng. Tôi gọi người nướng mực và lấy thêm chai rượu Quế Châu. Hai đứa ngồi uống rượu, lắng nghe tiếng sóng reo, gió thổi. Đêm cuối tháng trên biển Trà Cổ tối thẫm và huyền bí. Xa xa trong đất liền, phía bờ sông Ka Long có con chim bắt cô trói cột bay lượn, cất lên tiếng kêu thảng thốt. Hàng phi lao reo vi vút như tiếng hú gọi bầy của loài vượn trên trườn núi đá. Lẫn trong những âm thanh ấy là câu hát rợn người vọng lại từ cái bóng trắng vật vờ: “Meo, meo, meo...Chúng cháu yêu cô lắm... Ngao, ngao, ngao... em nhớ anh làm sao. Chúng ta yêu nhau xem nào...”. Đến lúc này, câu chuyện tình của Chiến làm tôi không thể dửng dưng được nữa. Nó thật sự hút hồn tôi bởi cái bóng trắng và những tiếng meo meo, ngao ngao rờn rợn kia.
    - Vì sao Lệ Hằng mắc bệnh, bị ma mèo ám? Vì sao Chiến gặp lại nàng ở biển Trà Cổ? – Tôi hỏi.
    - Quả đất này xem ra vẫn còn bé. Việc đời quay tròn theo số mệnh. Tôi bây giờ thành ông lang băm. Nói vui vậy thôi chứ tôi làm đại lý cho một hãng thuốc Đông y của Quảng Tây. Hãng này có loại thuốc chữa lão hoá tuổi già lấy tên nhãn là “Bách niên lạc” rất nổi tiếng.
    - Nhưng anh hiểu biết gì về nghề thuốc?
    - Số là sau lần được đem đi bệnh viện cấp cứu, tẩy ruột vì uống bốn mươi viên thuốc ngủ, tôi mắc bệnh đau dạ dày, lại thêm chứng suy nhược thần kinh. Nghe bạn bè khuyên nhủ, tôi vét nốt ít tiền còn lại sang Nam Ninh – Trung Quốc chữa bệnh và du lịch cho khuây khoả. Ở bên đó lâu, quen biết nhiều thầy thuốc Đông y giỏi, tôi được họ bổ túc cho một ít kiến thức để làm đại lý phân phối thuốc “Bách niên lạc”cho họ ở Móng Cái. Cửa hàng của tôi do họ đầu tư toàn bộ. Nhiệm vụ của tôi là tuyên truyền, phân phối thuốc “Bách niên lạc” nghĩa là trăm năm khoái lạc. Nếu có ai bên Việt Nam mắc bệnh nan y muốn chữa, tôi liên lạc với công ty bên Nam ninh, đón thày lang giỏi sang chữa trị. Hoa hồng tôi được hưởng cả từ hai phía cũng kha khá.
    - Nhờ thế anh gặp lại Lệ Hằng? – Tôi sốt ruột hỏi.
    - Chuyện còn dài, anh cứ nhẩn nha uống rượu, tôi sẽ kể tiếp…
    Một chiều cách đây vài tháng, có chiếc xe Nhật đầu cá mập xịch đỗ trước cửa hàng. Người ta khiêng vào một thiếu phụ ngoài bốn mươi tuổi, nhưng còn nhiều nét đẹp. Mắt nàng trợn trừng, trắng dã. Miệng luôn kêu meo meo, ngao ngao. Móng tay để dài nhọn hoắt, gặp vật gì cũng cào nát. Người ta phải lồng vào hai chiếc bít tất quân dụng loại dày rồi buộc chặt. Lúc đầu, Chiến chưa nhận ra Lệ Hằng vì tóc nàng xoã xuống che kín nửa mặt. Nhưng anh nhận ra bộ râu quai nón của Dũng quỷ. Hắn tảng lờ như không quen biết Chiến. Nghề thuốc Đông y có nguyên tắc “Vấn - Vọng - Thiết” nghĩa là hỏi chuyện về người bệnh, xem mạch và quan sát sắc mặt, thần khí. Nhờ vậy, Chiến biết rõ căn bệnh của nàng qua lời kể của Dũng quỷ.
    Khách sạn Bồng Lai đang hồi phát đạt, khách nước ngoài đặt phòng kín chỗ. Nghề khách sạn khi đã kín phòng sẽ lại có thêm nhiều khoản thu phụ như: điện thoại, đồ uống, dịch vụ taxi, tươi mát... Trong số khách thuê có cặp vợ chồng trẻ người Bắc Âu. Họ mang theo chú mèo cái giống Nam Mỹ rất đẹp. Nó to cỡ bằng con chó Bắc Kinh. Lông dài, óng mượt, màu trắng tuyết. Móng và gót chân nó được chăm sóc kỹ, đỏ hồng như bôi son nhạt. Cặp mắt nó to tròn, sáng trong như viên ngọc lưu ly. Tập tục phương Đông kiêng nuôi mèo trong phòng ngủ khách sạn sẽ bị xui xẻo. Nhưng vì giá phòng của cặp vợ chồng người Bắc Âu này, qua mối lái của du lịch hàng không được ngã giá rất cao, gấp đôi người khác nên Lệ Hằng vui vẻ đồng ý. Thường ngày thì chú mèo Liu Ba chỉ quanh quẩn chơi trong phòng. Nó sử dụng toa lét thành thạo như người nên cũng rất sạch sẽ. Một lần “cô nàng” Liu Ba theo chủ lên sân thượng ngắm cảnh Hồ Tây, gặp “chàng” mèo đực vàng đi hoang trên mái nhà hàng xóm. Giống vật đực – cái gặp nhau trong cơn hứng tình sẽ rất quyến luyến. Từ đó, chú mèo vàng kia đêm đêm chạy sùng sục trên mái nhà, ngao ngao gọi bạn. Có lần nó nhảy sang ban công khách sạn, cào cửa từng phòng gào lên ngao ngao nghe da diết và hậm hực. Khách thuê phòng không ngủ được, lần lượt bỏ đi. Lệ Hằng muốn tống khứ cặp vợ chồng người Bắc Âu, nhưng hợp đồng thuê ba tháng chưa hết, tiền họ đã trả trước. Nàng lừa lúc khách đi vắng, cho mèo Liu Ba ăn bả chuột liều lượng đậm đặc. Mèo Liu Ba chết, khách nghi ngờ nó bị trúng độc, kiện ra chính quyền đòi khám nghiệm, phát hiện Liu Ba đang có chửa. Theo luật quốc tế, Lệ Hằng phải bồi thường cho khách với giá thoả thuận là năm ngàn đô la. Tai tiếng vụ mưu sát mèo Liu Ba lan truyền, gây bất bình cho các hãng du lịch trong và ngoài nước. Họ đồng loạt tẩy chay khách sạn Bồng Lai. Phòng ốc trống không, nhân viên bỏ việc, khách sạn Bồng Lai trở nên hoang lạnh. Đêm đêm chú mèo vàng hàng xóm chạy lồng trên sân thượng tìm bạn, kêu gào những tiếng ngao ngao nghe ai oán, thê thảm. Có đêm nó tìm đúng phòng Lệ Hằng cào cửa, ngao ngao như nguyền rủa quân sát nhân tàn ác. Nàng đổ bệnh sinh ốm lửng và suy sụp rất nhanh. Những tiếng ngao ngao gào thét của con mèo đực biến thành cơn ác mộng kéo dài. Lệ Hằng luôn tưởng tượng thấy hồn ma mèo Liu Ba về đòi mạng...
    Đêm đã chìm vào sâu. Gió biển thổi mạnh, huýt dài trên các ngọn phi lao. Sóng ào ạt xô bờ. Xa xa, phía bờ sông Ka Long lại vọng về tiếng chim bắt cô trói cột. Tôi ái ngại nhìn Chiến dốc ngược chai rượu Quý Châu uống tràn. Tóc anh xoã bay trong gió, cặp mắt ngơ dại như người điên. “Có ma, nhất định trong cõi người cũng có ma.”- Anh làu bàu nói. Tôi nhìn ra mép sông lần tìm cái bóng trắng vật vờ như hồn ma trong đêm tối trăng bên bãi biển Trà Cổ. Lòng tôi nôn nao, dâng lên những đợt sóng.
     

Chia sẻ trang này