Hoàn thành R The Unbecoming of Mara Dyer - Michelle Hodkin (Mara Dyer #1)

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi chichi.myluckycharm, 8/7/16.

  1. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    mara-dyer.jpg

    The Unbecoming of Mara Dyer
    (Sự Bất Ổn của Mara Dyer)

    Tác giả: Michelle Hodkin
    Series: Mara Dyer
    Người dịch: Chi Chi
    Phân loại: R
    Thể loại: tiểu thuyết thanh thiếu niên, rùng rợn, lãng mạn, huyền bí/tâm lý
    Số chương: Mở đầu + 59 chương

    Tình trạng: Hoàn thành
    Mara Dyer #2: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Lưu ý: Vui lòng KHÔNG đem truyện đi bất kỳ đâu khỏi TVE-4U khi chưa có sự chấp thuận của người dịch. Truyện do Chi Chi dịch chỉ đăng duy nhất tại TVE-4U và blog cá nhân, và do chính chichi.myluckycharm tự đăng.

    Giới thiệu:

    Khi Mara Dyer thức tỉnh từ cơn hôn mê trong bệnh viện, cô không mảy may nhớ được làm sao mà mình bị đưa vào đó. Cô được cho biết rằng một vụ tai nạn đã xảy ra—tòa viện tâm thần bỏ hoang bị sụp đổ, cô và ba người bạn khác của mình có mặt tại đó, và cô là người duy nhất sống sót. Nhưng tại sao cô không có chút ký ức nào, cô chỉ nhớ mình từ trường về nhà... bốn ngày sau mở mắt ra và người bạn thân nhất của cô, người bạn trai của cô cùng với cô em gái của anh ta đều đã chết.

    Tôi nhận ra giọng điệu xoa dịu của bà, các ngón tay tôi siết chặt báu lấy mảnh ga giường. Tôi biết bà muốn bảo vệ tôi, nhưng cách làm của bà chỉ càng làm tôi khổ sở.

    “Mẹ phải cho con biết,” tôi cầu xin, cổ họng như bị lấp đầy tro.

    Mẹ nhìn tôi với đôi mắt đầy nước mắt và một vẻ mặt tan nát cõi lòng. “Mẹ sẽ làm thế nếu có thể, Mara. Nhưng con là người duy nhất biết được chân tướng.”

    Để thoát khỏi thực tại đau khổ sau vụ tai nạn và có một sự mở đầu mới, gia đình Mara chuyển nhà đến Florida sinh sống. Thế nhưng, “bình thường” hoàn toàn là điều không nằm trong quỹ đạo cuộc sống tương lai của Mara, chỉ có những sự kiện lạ lùng nối tiếp nhau và ngày một tồi tệ. Trước nhất là anh chàng “trai hư” Noah Shaw mà lần đầu tiên họ gặp mặt đã mỉm cười với cô cứ như thể... “anh biết cô?” Tiếp đó là những ảo giác—hay là viễn cảnh báo trước tương lai?—luân phiên xảy ra, rồi những cơn ác mộng, và sự tái xuất hiện của những người bạn đã chết của cô. Và rồi, những cái chết bắt đầu... đúng như mong muốn của cô. Tại sao?

    Tôi không còn biết đâu là thật, đâu là ác mộng, đâu là ký ức.

    Ranh giới của hiện thực và ác mộng ngày càng trở nên mỏng manh. Là cô thấy ma sao? Hay là cô điên rồi? Hoặc giả có một điều khủng khiếp nào đó đang ngấm ngầm diễn ra? Tại sao họ lại chết hệt như những gì diễn ra trong đầu cô?

    Mara cần phải lấy lại ký ức, cô cần phải chấp vá lại những mảnh ghép để phân biệt được đâu là thật, đâu là ảo tưởng—và sự nguy hiểm tiềm tàng bên dưới hết thảy.

    Rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra ở cái viện tâm thần bỏ hoang kia?

    Mara Dyer... là AI?

    Về tác giả:
    [​IMG]
    Michelle Hodkin là tác giả của bộ ba tiểu thuyết Mara Dyer được bán chạy nhất New York Times, USA Today, và Publishers Weekly. Bao gồm Sự bất ổn của Mara Dyer, Sự trưởng thành của Mara Dyer, và Sự báo thù của Mara Dyer. Được miêu tả “ám ảnh và huyền ảo” bởi Cassandra Clare và “dí dỏm một cách đen tối, rùng rợn một cách tuyệt diệu, và sâu sắc một cách chân thật” bởi Veronica Roth. Lev Grossman đã gọi Hodkin là “một trong những cây bút tài năng nhất trong giới tiểu thuyết thanh thiếu niên”. Bộ truyện nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ Romantic Times, MTV’s Hollywood Crush, và The Los Angeles Times.

    “Sự báo thù của Mara Dyer” được tuyển chọn vào danh sách 10 tiểu thuyết thanh thiếu niên hay nhất 2014 của TIME.com.

    Hodkin lớn lên ở Floria, học cao đẳng ở New York và học luật ở Michigan trước khi bắt đầu viết quyển sách đầu tay của mình vào năm 2011.

    Nhận định:

    “Ám ảnh và huyền ảo. Với cốt truyện đầy kịch tính và lãng mạn Mara Dyer chắc chắn sẽ khiến bạn đọc mê say và khó có thể thoát thân.”
    —Cassandra Clare, tác giả của series Vũ Khí Bóng Đêm và Quân Đoàn Hủy Diệt bán chạy nhất New York Times.

    “Sâu sắc, u tối, nồng nàn và dí dỏm, Mara Dyer là một trong những nhân vật tuyệt vời nhất trong dòng tiểu thuyết dành cho tuổi thanh thiếu niên, và Michelle Hodkin là một cây bút tài ba.”
    —Lev Grossman, tác giả của series Pháp Sư được bán chạy nhất New York Times.

    “Tài năng của Michelle Hodkin được thể hiện rõ rệt qua sự cân bằng tài tình giữa các yếu tố hài hước, rùng rợn và thâm thúy. Với lối viết phong phú, từ những đoạn miêu tả rợn tóc gáy cho đến những cảnh lãng mạn dường như được thực thể hóa trên từng trang giấy. Mới phút trước tôi còn cười phá lên, vậy mà ngay sau đó, tôi đã sợ khiếp vía và chỉ muốn bật lên tất cả đèn đóm trong nhà và núp sau tấm chăn.”
    —Veronica Roth, tác giả của series Những Kẻ Bất Khả Trị (Divergent) được bán chạy nhất New York Times.

    “WOW. Tiểu thuyết ra mắt của Michelle Hodkin sẽ khiến bạn không ngừng phán đoán đến tận trang giấy cuối cùng—và thật lâu sau đó.”
    —Beth Revis, tác giả của Vượt Qua Vũ Trụ (Across the Universe).

    “Một câu chuyện ly kỳ khéo léo và hấp dẫn. Sự bất ổn của Mara Dyer hoàn hảo cho những người (giống như tôi đây) ưa thích nhân vật nam chính tối tăm, nữ chính nguy hiểm, và một mối tình cực kỳ vặn vẹo.”
    —Kirsten Miller, tác giả của Những Sự Tồn Tại Bất Diệt (The Eternal Ones)

    “Sởn tóc gáy và khúc chiết. Trữ tình và tuyệt vời. Sự bất ổn của Mara Dyer đã tóm lấy hồn tôi và sẽ không giải thoát cho tôi. Nhớ bật đèn lúc đọc nhé.”
    —Rachel Hawkins, tác giả của Mặt Kính Quỷ (Demonglass)

    “Mara Dyer không biết rốt cuộc là mình bị điên hay bị ma ám – tất cả những gì cô biết đó là mọi người xung quanh mình đang chết từng người từng người một. Trong câu chuyện hồi hộp, đầy kịch tính và éo le này.”
    —Kirkus Reviews

    Mục lục:

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link | Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/11/16
    loan, superlazy, dongtrang and 14 others like this.
  2. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Mở đầu

    Mara Dyer không phải là tên thật của tôi, thế nhưng luật sư của tôi nói rằng tôi cần chọn một cái gì đó, một bút danh, một
    nom de plume (1), để sử dụng với các bạn cùng học thi SAT (2). Tôi biết dùng tên giả rất kỳ quặc, nhưng hãy tin tôi—đó là điều bình thường nhất trong cuộc sống hiện nay của tôi. Thậm chí cho các bạn biết những thông tin này có lẽ là một hành động không khôn ngoan. Nhưng nếu không có cái mồm to của tôi sẽ không ai biết được sự thật rằng, một cô con gái mười bảy tuổi yêu thích ban nhạc Death Cab for Cutie (3) lại là kẻ sát nhân tay vấy đầy máu. Sẽ không ai biết ở một nơi nào đó có một nữ sinh sở hữu thành tích học tập điểm B với số mạng người trong tay. Và quan trọng hơn cả là, các bạn biết để không trở thành nạn nhân kế tiếp của tôi.

    Ngày sinh nhật của Rachel chính là mở đầu. Đây là những gì tôi còn nhớ.

    “Mara Dyer”

    Thành phố New York

    Ngày tháng năm

    (1) Nom de plume: bút danh (của một nhà văn)

    (2) Scholastic Assessment Test hoặc Scholastic Aptitude Test (SAT): một trong những kỳ thi chuẩn hóa dùng để xét tuyển vào các trường đại học của Mỹ.

    (2) Death Cab for Cutie (DCFC): một ban nhạc Rock chơi theo thể loại Indie Rock được thành lập tại Bellingham, Washington vào năm 1997. Tên ban nhạc được đặt dựa theo tên của một ca khúc được sáng tác bởi Neil Innes và Vivian Stanshall.
     
  3. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 1

    TRƯỚC ĐÓ

    Laurelton, Rhode Island (1)

    (1) Rhode Island là tiểu bang với diện tích nhỏ nhất của Hoa Kỳ. Tên chính thức của Rhode Island là The State of Rhode Island and Providence Plantations (Tiểu bang Rhode Island và các đồn điền Providence). Providence là thủ phủ, tên nghĩa là “sự phù hộ của Chúa”.

    HÀNG CHỮ HOA MỸ TRÊN TẤM BẢNG VẶN VẸO dưới ánh nến, huyễn hoặc những con chữ và số chừng như đang nhảy múa trong đầu tôi. Chúng lẫn lộn lung tung và mơ hồ hệt như đang trôi nổi trong một nồi súp chữ cái. Tôi giật bắn mình khi Claire bất chợt nhét miếng gỗ hình trái tim vào tay tôi. Bình thường tôi không dễ giật mình như vậy, hy vọng Rachel đã không chú ý. Cái bảng cầu cơ là món quà cậu ấy yêu thích nhất tối hôm đó, là Claire tặng. Quà của tôi là một chiếc lắc, nhưng cậu ấy chẳng thèm đeo vào.

    Quỳ gối trên thảm, tôi chuyền miếng gỗ cho Rachel. Claire lắc đầu, lộ rõ vẻ coi thường. Rachel đặt miếng gỗ xuống.

    “Chỉ là một trò chơi thôi mà, Mara.” Cậu ấy mỉm cười, hé ra hàm răng càng thêm trắng bóng trong ánh sáng lờ mờ. Rachel và tôi là đôi bạn thân nhất của nhau từ thuở đi nhà trẻ. Cậu ấy có làn da ngăm ngăm và tính cách liều lĩnh, còn tôi thì trắng nhợt, và tính tình thận trọng. Nhưng khi chúng tôi ở bên nhau sự thận trọng của tôi giảm đi nhiều. Cậu ấy khiến tôi cảm thấy dạn dĩ hơn. Thông thường là vậy.

    “Tớ không có cái gì muốn hỏi người chết cả,” tôi nói với cậu ấy. Và ở tuổi mười sáu, chúng ta đã quá già để chơi cái trò này rồi. Tôi nghĩ vậy nhưng không nói ra miệng.

    “Hỏi thử xem liệu Jude sẽ đáp lại tình cảm của cậu hay không đi.”

    Giọng điệu của Claire nghe có vẻ hồn nhiên, nhưng tôi biết rõ cậu ta. Hai gò má tôi nóng bừng, tôi cố nhẫn nhịn không đớp trả, rồi vờ cười giả lả. “Tớ có thể hỏi xin nó một chiếc xe hơi không? Này có giống như xin quà của ông già Noel ma quỷ không nhỉ?”

    “Thật ra thì, bởi vì là sinh nhật của tớ, tớ sẽ là người thử trước.” Rachel đặt ngón tay lên miếng gỗ. Claire và tôi làm theo.

    “Ồ! Rachel, hỏi nó xem cậu sẽ chết như thế nào.”

    Rachel rú lên đồng ý, còn tôi thì ném cho Claire một ánh mắt hình viên đạn. Từ khi chuyển nhà tới đây vào sáu tháng trước, cậu ta bám dính cô bạn thân của tôi như một con đỉa đói. Hai sứ mệnh song song của đời cậu ta bây giờ chính là làm cho tôi cảm giác như mình là một cái bánh xe thứ ba, và lấy chuyện tôi thầm mến anh trai cậu ta, Jude, để hành hạ tôi. Tôi chán ghét cả hai. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    “Nhớ là không được đẩy đấy nhé,” Claire ra lệnh cho tôi.

    “Biết rồi, cám ơn. Còn gì nữa không?”

    Nhưng Rachel đã cắt ngang trước khi chúng tôi bắt đầu cãi cọ. “Tôi sẽ chết như thế nào?”

    Cả ba đứa chúng tôi chăm chú quan sát cái bảng. Bắp chân tôi tê rần vì quỳ quá lâu trên thảm phòng Rachel, vùng gối sau ẩm ướt, dính dáp. Không có động tĩnh gì.

    Bỗng nhiên nó chuyển động. Chúng tôi nhìn nhau trong khi miếng gỗ dưới bàn tay mình di chuyển. Nó vẽ nửa vòng quanh cái bảng, lướt đi từ A tới K, rồi chầm chậm qua L.

    Cuối cùng dừng lại ở chữ M.

    “Án mạng (2) à?” Trong giọng nói của Claire tràn ngập phấn khích. Con người này thật nguy hiểm. Rachel thích thú gì ở cậu ta không biết.

    (2) Murder

    Miếng gỗ trượt đi theo phương hướng khác, xa khỏi U và R.

    Dừng lại ở A.

    Vẻ mặt Rachel khó hiểu. “Diêm ư (3) ?”

    (3) Matches

    “Vồ (4) ?” Claire đoán. “Có lẽ là cậu đốt rừng rồi bị Gấu Smokey (5) ăn thịt chăng?” Rachel bật cười, trong khoảnh khắc làm tan biến nỗi khủng hoảng đang uốn lượn trong tôi. Lúc chúng tôi mới bắt đầu ngồi xuống chơi, tôi đã cố nhịn không đảo mắt khinh thường trước sự khoa trương của Claire. Còn bây giờ, tôi không còn dám coi nhẹ trò chơi này nữa.

    (4) Maul

    (5) Smokey Bear hay Smokey the Bear là hình tượng đại diện được xây dựng nên nhằm giáo dục cho người dân nước Mỹ về sự nguy hiểm của nạn cháy rừng.

    Miếng gỗ chạy ngoằn ngoèo quanh tấm bảng, chặn đứt tiếng cười của cậu ấy.

    R.

    Chúng tôi im lặng. Mắt chưa hề dời khỏi tấm bảng trong khi miếng gỗ giật lùi về nơi bắt đầu.

    Đến A.

    Rồi dừng lại. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Chúng tôi chờ đợi cho miếng gỗ chỉ ra chữ cái kế tiếp, nhưng nó đứng yên. Ba phút sau, Rachel và Claire rút tay về. Tôi cảm giác được ánh mắt của họ.

    “Nó muốn cậu hỏi nó đấy,” Rachel khẽ nói.

    “Nếu ‘nó’ mà cậu nói là chỉ Claire, thì tớ tin đó là sự thật.” Tôi đứng dậy, run rẩy và choáng váng. Tôi không chơi nữa.

    “Tớ không có đẩy nó,” Claire phản bác, trợn trừng mắt nhìn Rachel, rồi lại nhìn tôi.

    “Dám ngoéo tay thề không?” Tôi hỏi bằng giọng châm biếm.

    “Sao không,” Claire dữ tợn đáp. Cậu ta đứng lên và bước tới gần tôi. Quá gần. Đôi mắt xanh lục của cậu ta lóe lên tia sáng nguy hiểm. “Tớ không có đẩy nó,” cậu ta lặp lại. “Là nó muốn cậu chơi.”

    Rachel nắm lấy tay tôi và tự kéo mình dậy. Cậu ấy nhìn thẳng vào mắt Claire. “Tớ tin cậu,” cậu ấy nói, “nhưng chúng ta hãy làm gì khác nhé?”

    “Làm gì?” Giọng Claire lạnh nhạt. Tôi thẳng thừng đáp lại ánh mắt của cậu ta, không chút nao núng. Đến đây đi. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    “Chúng ta có thể xem The Blair Witch Project (6).” Nó là bộ phim Claire yêu thích, tất nhiên rồi. “Được chứ?” Giọng Rachel dè chừng, nhưng kiên định.

    (6) The Blair Witch Project: Dự án phù thủy Blair hoặc Truy tìm phù thủy Blair, một bộ phim kinh dị được sản xuất năm 1999.

    Tôi dời mắt khỏi Claire và gật đầu, miễn cưỡng mỉm cười. Claire cũng làm vậy. Rachel thở phào nhẹ nhõm, nhưng tôi thì không. Tuy vậy, vì cậu ấy, tôi ráng nuốt xuống sự phẫn nộ và bứt rứt của mình khi chúng tôi cùng ngồi xuống xem phim. Rachel đút đĩa DVD vào máy và thổi tắt nến.

    Sáu tháng sau, hai người họ đều đã chết.
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/8/16
    Binbin1891, loan, thanhbt and 9 others like this.
  4. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 2 (1)

    SAU ĐÓ

    Bệnh viện Rhode Island tại Providence, Rhode Island
    TÔI MỞ MẮT RA. TIẾNG KÊU BÍP BÍP đều đặn không dứt truyền tới từ một cái máy ở phía bên trái. Tôi nhìn sang phải. Một cái máy khác kề bên chiếc bàn đầu giường đang phát ra âm thanh xì xì. Đầu tôi đau nhói, cảm thấy mất phương hướng. Hai mắt nheo lại cố gắng phân biệt vị trí của mấy cây kim chỉ giờ trên chiếc đồng hồ treo bên cạnh cửa phòng vệ sinh. Thấp thoáng nghe thấy tiếng nói ở ngoài phòng. Tôi chống người dậy trên giường bệnh, cố gắng lắng nghe, mấy chiếc gối mỏng dính bị đè nhăn nhúm bên dưới. Cảm giác dưới mũi nhồn nhột, hóa ra có một chiếc ống đút vào đó. Tôi gắng gượng nhấc hai tay muốn kéo nó ra, nhưng lúc nhìn lại, tôi phát hiện trên tay mình còn có rất nhiều chiếc ống khác. Gắn với mũi kim. Nhô ra từ trên làn da. Khi tôi cử động hai tay, chúng bị kéo giật lại, tôi cảm giác như mình đang rơi xuống vực.

    “Gỡ chúng ra,” tôi thì thào vào không khí. Tôi thấy được rõ ràng nơi những mũi kim bén nhọn ghim vào trong mạch máu của mình. Hô hấp của tôi trở nên dồn dập và một tiếng gào thét dâng lên cổ họng.

    “Gỡ chúng ra,” tôi nói mạnh mẽ hơn.

    “Cô nói gì?” Một giọng nói nhẹ hỏi, tôi không nhìn thấy được là ai.

    “Gỡ chúng ra!” Tôi hét lên.

    Nhiều người chen chúc trong căn phòng; tôi nhận ra cha tôi, sắc mặt ông hốt hoảng và có vẻ tái nhợt hơn mọi khi. “Bình tĩnh nào, Mara.” (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Sau đó tôi trông thấy em trai mình, Joseph, hai mắt nó sợ hãi trợn to. Trên khuôn mặt những người khác bị vô số lốm đốm đen che khuất, và rồi tất cả những gì rơi vào mắt tôi là một rừng mũi kim và ống, cùng với cảm giác kéo căng trên lớp da khô khốc của mình. Tôi không thể suy nghĩ. Tôi không thể nói. Nhưng tôi vẫn cử động được. Tôi lấy tay cào cáu cánh tay kia của mình, bóc toạc ra cái ống đầu tiên. Cơn đau mãnh liệt ập tới, nhưng nó cho tôi một cái gì đó để báu víu.

    “Hãy hít thở. Không sao. Không sao đâu.”

    Nhưng nó có sao. Bọn họ không ai lắng nghe tôi, tôi muốn bọn họ gỡ chúng ra. Tôi cố nói chuyện với họ, nhưng bóng tối lan dần, nuốt chửng lấy cả căn phòng.

    “Mara?”

    Tôi chớp mắt, nhưng không thấy gì cả. Tiếng bíp bíp và tiếng xì xì cũng đã im bặt.


    “Đừng chống cự, con yêu.”

    Mí mắt tôi hơi run rẩy khi nghe thấy giọng nói của mẹ. Bà cúi người tới gần, chỉnh lại mấy cái gối, suối tóc đen nhánh của bà đổ trên làn da màu quả hạnh. Tôi gắng nhích người muốn tránh đi, nhưng chỉ có thể hơi nâng đầu lên. Tôi liếc nhìn thấy hai nữ y tá mặt mày chua chát đứng sau lưng bà. Một người trong bọn họ có một vết sưng đỏ trên má.

    “Con bị gì sao mẹ?” Tôi khàn giọng thì thào. Bờ môi khô cằn như giấy.

    Mẹ vén những sợi tóc ướt mồ hôi dấp dính trên mặt tôi. “Họ dùng thuốc để giúp con thả lỏng đấy thôi.”

    Tôi hít một hơi. Chiếc ống trong mũi đã bị lấy ra. Cùng với những chiếc ống khác trên hai tay. Thay vào đó là những dải băng gạc trắng quấn quanh. Lốm đốm đỏ thấm xuyên qua. Cảm giác như có một thứ gì đó giải thoát khỏi lồng ngực mình, môi tôi run lên thở hắt ra một hơi dài. Bây giờ trên người đã không còn ghim ống tiêm, căn phòng trở nên rõ ràng hơn.

    Tôi hướng ánh mắt vào cha tôi, đang ngồi bên bức tường đối diện, dáng vẻ bất lực. “Chuyện gì xảy ra vậy ạ?” Tôi mơ hồ hỏi. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    “Con gặp tai nạn, cưng ạ,” mẹ tôi trả lời. Cha chỉ đăm đăm nhìn tôi, không nói gì. Mẹ tôi là người điều khiển show diễn này.

    Suy nghĩ trong tôi rối loạn. Tai nạn. Khi nào?

    “Vậy tài xế bên kia có—” Tôi mở miệng, nhưng không dám hoàn thành câu hỏi.

    “Không phải tai nạn xe cộ, Mara.” Giọng mẹ bình tĩnh. Đều đặn. Tôi nhận ra đó là giọng điệu chuyên gia tâm lý của bà. “Ký ức cuối cùng con nhớ được là gì?”

    Ngoài việc tỉnh dậy trong một phòng bệnh, rồi trông thấy một biển ống ghim vào da thịt mình—ngoài những thứ khác—câu hỏi khiến tôi mất bình tĩnh. Tôi quan sát bà thật kỹ lần đầu tiên. Hai mắt thâm quầng, và móng tay của bà, bình thường được chăm chuốt rất tỉ mỉ, trông tả tơi xơ xác.

    “Hôm nay là ngày nào rồi?” Tôi lặng lẽ hỏi.

    “Con nghĩ hôm này là ngày nào?” Mẹ tôi rất thích trả lời câu hỏi bằng những câu hỏi.

    Tôi giơ tay xoa xoa mặt. Làn da trên mặt cảm giác tê tê khi chạm vào. “Thứ tư?”

    Mẹ thận trọng nhìn tôi. “Là chủ nhật.”

    Chủ nhật. Tôi không nhìn bà nữa, mà đảo mắt nhìn quanh căn phòng bệnh. Trước đó tôi không để ý tới hoa ở trong phòng, nhưng giờ nhìn lại, chúng ở khắp mọi nơi. Bên cạnh giường bệnh của tôi có một bình hoa hồng vàng. Là giống hoa yêu thích của Rachel. Trên chiếc ghế cạnh giường đặt một cái thùng chứa vật dụng của tôi mang từ nhà đến; một con búp bê vải cũ sờn bà tôi để lại cho tôi khi tôi còn là một đứa trẻ sơ sinh đang nằm dài bên trong, cánh tay xụi lơ của nó vắt trên mép thùng.

    “Con nhớ được gì không, Mara?”

    “Hôm thứ tư con có một bài kiểm tra môn lịch sử. Con lái xe về nhà và...”

    Tôi lục lọi tìm kiếm những suy nghĩ, ký ức trong đầu mình. Tôi, bước đi vào nhà. Chộp lấy một thanh kẹo ngũ cốc trong nhà bếp. Đi vào phòng ngủ của mình ở tầng trệt, buông túi xách xuống và lấy ra quyển Three Theban Plays (1) của Sophocles (2). Viết. Rồi vẽ vời trong tập phác họa của mình. Sau đó... không còn gì nữa. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    (1) Three Theban Plays: Những vở bi kịch của vị Vua xứ Thebes, bao gồm “Nhà vua Oedipus”, “Oedipus tại Colonus” và “Antigone”.

    (2) Sophocles là kịch gia trong ba nhà bi kịch nổi tiếng nhất của Hy Lạp cổ.

    Một nỗi sợ hãi chậm rãi bò trườn quấn lấy tôi. “Chỉ vậy thôi,” tôi nói với bà, ngước mắt nhìn lên khuôn mặt bà.

    Vùng cơ bên trên mí mắt mẹ tôi khẽ giật. “Con đã đến Tamerlane—” Mẹ tôi bắt đầu.

    Ôi, Chúa ơi!

    “Tòa nhà sập đổ. Có người báo tin vào lúc ba giờ sáng hôm thứ năm. Khi cảnh sát đến nơi thì họ nghe thấy tiếng của con.”

    Cha tôi hắng giọng. “Lúc đó con đang gào thét.”

    Mẹ liếc cha tôi một cái trước khi quay lại tiếp tục với tôi. “Bên dưới đống đổ nát của tòa nhà, con bị chôn vùi trong một lỗ hổng không khí ở dưới tầng hầm, nhưng khi họ tìm được con thì con đã mất ý thức. Có lẽ con bị ngất do thiếu nước, hoặc có thể là có vật gì đó rơi xuống làm cho con bất tỉnh. Trên người con có vài vết bầm,” bà nói, gạt tóc tôi sang bên.

    Tôi nhìn qua vai bà, nhìn thấy thân mình của bà phản chiếu trong tấm gương bên trên bồn rửa mặt. Tôi tự hỏi cái gọi là “vài vết bầm” đó trông như thế nào khi cả một tòa nhà sập xuống đầu mình.

    Tôi chống người dậy. Hai cô y tá vẫn luôn im lặng kia đột nhiên trở nên căng thẳng. Cử chỉ của họ trông giống bảo vệ hơn là y tá.

    Các khớp xương kháng nghị khi tôi cố vươn cổ qua tay vịn của giường bệnh để nhìn. Mẹ tôi cùng nhìn vào trong gương. Bà nói đúng, một vết bầm xanh tím bung nở trên gò má phải, tôi vén mái tóc sậm màu của mình ra để xem nó lan rộng tới đâu, nhưng chỉ có như vậy thôi. Ngoài ra thì tôi trông—bình thường. Bình thường với tôi, và bình thường, chấm hết. Ánh mắt tôi dời về phía mẹ. Chúng tôi thật khác nhau. Tôi không thừa hưởng những đặc điểm khéo léo từ dòng máu Ấn Độ của bà; không có khuôn mặt trái xoan hoàn hảo hay là mái tóc đen huyền như bà. Thay vào đó là cái mũi cao thẳng và cái cằm quý tộc của cha tôi. Và ngoại trừ vết bầm đó ra, tôi trông chẳng giống như người vừa bị một tòa nhà sụp đổ chôn vùi. Tôi nheo mắt quan sát hình ảnh phản chiếu của mình, sau đó ngả lưng trên gối, nhìn chằm chằm lên trần nhà.

    “Bác sĩ nói con không sao cả.” Mẹ tôi mỉm cười yếu ớt. “Con thậm chí có thể về nhà ngay tối nay nếu cảm thấy trong người ổn.”

    Tôi nhìn xuống hai nữ y tá. “Sao họ lại ở đây?” Tôi hỏi mẹ tôi, nhìn thẳng về phía họ. Họ làm tôi cảm thấy rợn người.
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/8/16
    Binbin1891, loan, thanhbt and 4 others like this.
  5. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 2 (2)

    “Các cô ấy vẫn luôn chăm sóc cho con từ hôm thứ năm đến nay,” bà nói. Bà gật đầu về phía nữ y tá có một vết sưng đỏ trên má. “Đây là Carmella,” bà nói, rồi ra dấu về nữ y tá còn lại. “Còn kia là Linda.”

    Carmella, nữ y tá với vết sưng trên má, mỉm cười, nhưng nụ cười không có chút hơi ấm. “Cú đấm móc phải của cô thật không tệ.”

    Tôi chau mày, đưa mắt nhìn mẹ.

    “Trước đó khi con mới tỉnh dậy, tinh thần hoảng hốt cực độ, cho nên hai cô ấy phải ở đây trong khi con tỉnh, phòng trường hợp con... vẫn còn mất phương hướng.”

    “Chuyện đó xảy ra thường xuyên,” Carmella nói. “Nếu bây giờ cô đã cảm thấy tỉnh táo hẳn rồi, vậy thì chúng tôi có thể đi.” (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Tôi gật đầu, cổ họng khô khốc. “Cám ơn. Thật xin lỗi.”

    “Không gì, cưng ạ,” cô ta nói, nhưng cảm giác có vẻ giả tạo. Linda thì vẫn luôn giữ im lặng.

    “Nếu có cần gì thì cho chúng tôi biết nhé.” Bọn họ xoay người và đồng điệu bước ra khỏi phòng, trả lại không gian riêng tư cho tôi và gia đình mình.

    Tôi mừng vì bọn họ đã đi. Chợt tôi nhận ra phản ứng của mình với bọn họ dường như không được bình thường. Tôi cần một cái gì khác để tập trung vào. Mắt tôi quét quanh căn phòng, cuối cùng đáp lên cái táp đầu giường, lên những đóa hoa hồng. Chúng rất tươi, không có vẻ héo rủ. Tôi thầm nghĩ không biết Rachel mang chúng đến khi nào.

    “Cậu ấy có đến thăm con không?

    Sắc mặt mẹ tôi tối sầm. “Con nói ai?”

    “Rachel.”

    Cha tôi phát ra âm thanh quái lạ và ngay cả mẹ tôi, người mẹ chuyên gia, hoàn hảo của tôi, cũng trông không được tự nhiên.

    “Không có,” mẹ tôi nói. “Là hoa của cha mẹ cô bé tặng đấy.”

    Có điều gì đó trong cách nói của bà khiến tôi ớn lạnh. “Vậy là cậu ấy không đến,” giọng tôi rất khẽ.

    “Không.”

    Tôi cảm thấy lạnh, rất lạnh, thế nhưng mồ hôi bắt đầu túa ra. “Cậu ấy có gọi điện cho con không?”

    “Không có, Mara.”

    Câu trả lời của bà khiến tôi muốn hét lên. Thay vào đó, tôi giơ tay ra. “Cho con mượn di động của mẹ. Con muốn gọi cho cậu ấy.”

    Mẹ tôi gượng mỉm cười, nhưng thất bại thảm hại. “Chuyện này để sau rồi nói, có được không? Con cần phải nghỉ ngơi.”

    “Con muốn gọi cho cậu ấy ngay bây giờ.” Giọng nói của tôi gần như tan vỡ. Và tôi cũng gần bên bờ sụp đổ. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Cha tôi cảm nhận được. “Con bé đã ở cùng với con, Mara. Cả Claire và Jude,” ông nói.

    Không.

    Lồng ngực tôi như bị thít chặt, tôi gắng gượng lắm mới cất được tiếng thì thào. “Các cậu ấy cũng đang ở trong bệnh viện phải không ạ?” Tôi hỏi, bởi vì tôi cần phải xác nhận, dù rằng tôi đã đoán biết được câu trả lời từ phản ứng trên gương mặt của cha mẹ.

    “Bọn họ không ai sống sót cả,” mẹ tôi chậm rãi nói.

    Không thể nào. Chuyện này không thể nào xảy ra. Có cái gì đó nhầy nhụa và ghê tởm bắt đầu trào lên cổ họng tôi.

    “Như thế nào? Các cậu ấy chết như thế nào?” Tôi cố gắng hỏi.

    “Tòa nhà sập đổ,” mẹ tôi bình tĩnh nói.

    “Sao có thể?”

    “Tòa nhà đó đã rất cũ kỹ, Mara. Con biết điều đó mà.”

    Tôi không nói nên lời. Đương nhiên tôi biết. Lúc cha mới chuyển nhà đến Rhode Island sau khi lấy được bằng hành nghề luật, ông đã đại diện cho gia đình của một thiếu niên bị mắc kẹt bên trong tòa nhà. Cậu thiếu niên ấy đã chết. Daniel bị cấm tuyệt đối không được bén mảng đến đó, mặc dù người anh trai gương mẫu của tôi căn bản không thèm đến đó. Dù là tôi cũng sẽ không.

    Nhưng rốt cuộc vì nguyên do nào đó, tôi đã đến nơi đấy. Cùng với Rachel, Claire, và Jude.

    Với Rachel. Rachel. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Trong đầu tôi bỗng hiện lên hình ảnh Rachel nắm tay tôi, hiên ngang bước vào trong nhà trẻ. Hình ảnh Rachel tắt hết đèn trong phòng ngủ của mình và cùng tôi tâm sự những bí mật thầm kín. Tôi thậm chí chẳng có thời gian để phân tích những từ “Claire và Jude”, bởi vì mỗi từ “Rachel” đã lấp kín tâm trí tôi. Tôi cảm giác một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má.

    “Biết đâu—biết đâu cậu ấy cũng bị mắc kẹt như con thì sao?” Tôi hỏi.

    “Cưng à, không thể nào. Họ đã tìm kiếm và tìm được—” Mẹ tôi khựng lại.

    “Cái gì?” Tôi yêu cầu, giọng tôi rít cao chói tai. “Họ tìm được cái gì?”

    Bà quan sát tôi. Xem xét tôi. Không nói một lời.

    “Nói cho con biết,” tôi gằn, giọng bén nhọn như dao. “Con muốn biết.”

    “Họ tìm thấy... những gì còn lại của thi thể,” bà nói một cách mơ hồ. “Các cháu ấy đã mất rồi, Mara. Không ai sống sót cả.”

    Những gì còn lại ư? Ý bà là bộ phận chứ gì. Một cơn buồn nôn quằn quại trong dạ dày, làm tôi muốn mửa. Trái lại, tôi nhìn chòng chọc vào những đóa hoa hồng vàng mà mẹ Rachel đã mang đến, rồi nhắm nghiền mắt và tìm kiếm ký ức, bất kỳ mẩu ký ức nào, của đêm hôm đó. Vì sao chúng tôi đến nơi đó. Chúng tôi đến đó làm gì. Cái gì đã giết chết bọn họ.

    “Con muốn biết tất cả những gì đã xảy ra.”

    “Mara—”

    Tôi nhận ra giọng điệu xoa dịu của bà, các ngón tay tôi siết chặt thành nắm đấm báu lấy mảnh ga giường. Tôi biết bà muốn bảo vệ tôi, nhưng cách làm của bà chỉ càng làm tôi khổ sở.

    “Mẹ phải cho con biết,” tôi cầu xin, cổ họng như bị lấp đầy tro.

    Mẹ nhìn tôi với đôi mắt đầy nước mắt và một vẻ mặt tan nát cõi lòng. “Mẹ sẽ làm thế nếu có thể, Mara. Nhưng con là người duy nhất biết được chân tướng.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/8/16
    loan, thanhbt, vu thu giang and 5 others like this.
  6. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 3

    Nghĩa trang Tưởng Niệm Laurelton, Rhode Island

    ÁNH MẶT TRỜI PHẢN CHIẾU TRÊN BỀ MẶT sáng bóng của cái hòm bằng gỗ dái ngựa của Rachel, làm mắt tôi chói lòa. Tôi thẫn thờ nhìn, mặc cho ánh sáng đâm xuyên giác mạc, hy vọng nước mắt sẽ ứa ra. Tôi nên khóc. Nhưng lại không thể.

    Trong khi tất cả mọi người đều có thể, và đã làm thế. Những con người mà cậu ấy chưa từng nói chuyện qua, những con người mà cậu ấy thậm chí còn không ưa. Mọi người ở trường đều có mặt, đoạt đi một phần thuộc về cậu ấy. Tất cả ngoài Claire và Jude. Lễ truy điệu của họ cử hành vào buổi chiều hôm đó.

    Đó là một ngày xám xịt và trắng xóa, một ngày mùa đông rét căm ở New England (1). Một trong những ngày cuối cùng của tôi.

    (1) New England: Tân Anh hay Tân Anh Cát Lợi là một vùng nằm ở góc đông bắc của Hoa Kỳ, giáp Đại Tây Dương, Canada và tiểu bang New York. Bao gồm các tiểu bang ngày nay là Maine, New Hampshire, Vermont, Massachusetts, Rhode Island, và Connecticut. Đây là một trong những vùng định cư xưa nhất của người Anh tại Tân Thế Giới (châu Mỹ).

    Ngọn gió thổi qua, quất những lọn tóc lên gò má tôi. Một nhóm người đưa tang tách tôi ra khỏi cha mẹ mình, những cái bóng màu đen giữa nền trời vô sắc kéo dài không dứt. Tôi chui rúc trong chiếc áo choàng và quấn chặt nó quanh thân mình, che khuất chính tôi khỏi cái nhìn xuyên thấu của mẹ. Bà vẫn luôn theo dõi mọi phản ứng của tôi từ ngày tôi được ra viện; bà là người đến đầu tiên vào cái đêm tiếng thét của tôi đánh thức hàng xóm, và cũng là người phát hiện tôi trốn trong tủ quần áo khóc nức nở vào ngày hôm sau. Nhưng chỉ khi tìm thấy tôi vào hai ngày sau đó, trong tình trạng hai mắt đờ đẫn vô hồn, bàn tay đẫm máu siết chặt một mẩu kiếng vỡ, bà mới quyết định rằng tôi cần sự giúp đỡ. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Thế là tôi đi chẩn đoán. Chứng rối loạn hậu chấn thương tâm lý (2), vị chuyên gia tâm lý nói vậy. Hiển nhiên là vì những cơn ác mộng và ảo giác đã trở thành đời sống bình thường của tôi, và có cái gì đó trong hành vi của mình trong văn phòng của vị chuyên gia tâm lý khiến ông ta giới thiệu cho tôi một trung tâm điều dưỡng lâu dài.

    (2) Post-traumatic Stress Disorder (PTSD) là một chứng rối loạn tâm lý, biểu hiện bằng các triệu chứng lo âu rõ rệt sau khi phải đương đầu với sự kiện gây tổn thương và vẫn tiếp tục kéo dài sau đó khi sự kiện đã kết thúc từ lâu. Bệnh hay gặp ở những người từng trải qua các biến cố gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần hoặc/và thể chất như thiên tai, chiến tranh, bạo hành, tai nạn. Bệnh còn có nhiều tên khác như rối loạn stress sau sang chấn, rối loạn stress sau chấn thương, rối loạn tâm can sau sang chấn...

    Tôi không cho phép chuyện đó xảy ra, cho nên tôi đề nghị chuyển nhà.

    Tôi còn nhớ cử chỉ nheo mắt của mẹ khi nghe tôi đề cập đến việc chuyển nhà vào vài ngày sau cuộc chẩn đoán tai hại kia. Quá thận trọng. Quá cảnh giác, giống như tôi là một quả bom dưới gầm giường của bà vậy.

    “Con thật sự nghĩ rằng làm vậy sẽ có ích cho con,” tôi nói, trong lòng lại hoàn toàn không tin tưởng. Nhưng đã hai đêm liền tôi không mơ thấy ác mộng, và cái tình tiết gương mà tôi không có chút ấn tượng nào có vẻ là lần duy nhất xảy ra. Ông chuyên gia tâm lý kia chỉ là phản ứng thái quá mà thôi, y hệt mẹ tôi.

    “Sao con lại nghĩ như vậy?” Giọng mẹ tự nhiên và bình tĩnh, nhưng móng tay lại đang báu chặt trên giường.

    Tôi cố nhớ lại đoạn đối thoại hầu như chỉ có một phía giữa tôi và vị chuyên gia tâm lý.

    “Sự hiện diện của cậu ấy luôn tồn tại trong căn nhà này—bất cứ thứ gì đều khơi gợi con nghĩ đến cậu ấy. Và khi con trở về trường, ngay cả ở đó bóng dáng cậu ấy cũng quẩn quanh khắp mọi nơi. Nhưng con muốn đi học trở lại. Con cần phải. Con cần tập trung vào một thứ gì khác.”

    “Mẹ sẽ bàn với cha con về chuyện này,” bà nói, hai mắt dò xét nét mặt tôi. Tôi có thể thấy trong từng nếp nhăn trên trán bà, trong mỗi cái nghiêng cằm, rằng bà không hiểu được làm sao mà cô con gái của mình lại rơi vào hoàn cảnh thế này—làm sao mà tôi lẻn được ra khỏi nhà và đến một nơi tôi tuyệt đối không nên. Bà đã hỏi tôi những vấn đề đó, nhưng dĩ nhiên tôi không có câu trả lời. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)


    Tiếng anh trai tôi từ đâu bất chợt vọng đến, khiến tôi giật mình. “Anh nghĩ là gần sắp kết thúc rồi,” Daniel nói.

    Nhịp tim dần chậm lại khi tôi ngước nhìn lên. Quả đúng như anh ấy dự đoán, vị linh mục ngay sau đó kêu gọi tất cả chúng tôi cúi đầu và cầu nguyện.

    Tôi đứng có chút không yên, những cây cỏ giòn tan lạo xạo dưới đôi giày bốt, tôi liếc nhìn sang mẹ. Chúng tôi không phải là những người mộ đạo, và thành thật mà nói tôi không chắc mình nên làm gì. Nếu có một bảng quy tắc về lối hành xử trong tang lễ của bạn thân mình, thì tôi chưa kịp đọc qua. Mẹ tôi hơi nghiêng đầu, mái tóc ngắn đen nhánh của bà rơi trên làn da mịn màng trong khi đánh giá tôi, nghiên cứu tôi, xem coi tôi sẽ chọn hành động thế nào. Tôi nhìn đi nơi khác.

    Sau mấy giây dài đằng đẵng, mọi người lập tức nâng đầu dậy, chừng như chờ mong cho nó mau chóng kết thúc, và đám đông giải tán. Daniel đứng bên cạnh trong khi bạn cùng lớp của tôi lần lượt đến nói lời chia buồn, hứa hẹn sẽ giữ liên lạc sau khi tôi chuyển nhà. Từ ngày xảy ra tai nạn tôi không còn đến trường, nhưng có vài người trong số họ từng đến bệnh viện thăm tôi. Hẳn là vì tò mò mà thôi. Tôi mừng vì không ai hỏi tôi vụ tai nạn đã xảy ra như thế nào, bởi vì tôi không thể giải đáp thắc mắc của họ. Đến nay tôi vẫn hoàn toàn mờ mịt.

    Tiếng kêu quang quác của mấy trăm con quạ đen ồ ạt đập cánh bay qua trên trời chọc thủng bầu không khí tĩnh lặng của tang lễ. Chúng đậu trên những tán cây trụi lá nhìn ra bãi đổ xe. Đến cả cây xanh cũng khoác lên mình chiếc áo tang.

    Tôi quay đầu nhìn anh trai. “Anh đỗ xe ngay bên dưới đám quạ đó phải không?”

    Anh ấy gật đầu, rồi bước đi đến xe của mình. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    “Tuyệt vời,” tôi theo sau anh và nói. “Giờ thì chúng ta sẽ phải né tránh cứt của cả một đám quạ.”

    “Giết chóc (3).”

    (3): murder

    Tôi khựng lại. “Sao?”

    Daniel ngoảnh lại. “Gọi là đàn quạ (4). Không phải là đám (5). Và đúng như vậy, chúng ta sẽ phải lạn lách tránh phân chim, trừ khi em muốn đi cùng mẹ và cha?”

    (4): murder of crows

    (5): flock of crows

    Tôi mỉm cười, cảm thấy nhẹ nhõm mà chẳng biết nguyên nhân. “Xin miễn.”

    “Anh biết mà.”

    Daniel chờ tôi vào xe. Tôi vui mừng khi được thoát khỏi cha mẹ mình. Tôi ngoái đầu nhìn lại, muốn chắc chắn mẹ không đang theo dõi. Nhưng bà đang bận nói chuyện cùng gia đình Rachel, những người mà chúng tôi thân quen hằng ấy năm. Thật dễ dàng để quên đi rằng chính cha mẹ tôi cũng phải bỏ lại tất cả mọi thứ; công ty luật của cha, bệnh nhân của mẹ. Còn có Joseph nữa, dù chỉ mới mười hai, đã chấp nhận mà không cần nhiều lời giải thích về lý do chúng tôi sẽ đến sống ở một nơi khác và đồng ý chia tay với bạn bè mình không một lời oán trách. Ngẫm nghĩ lại, tôi biết mình thật may mắn khi có được một gia đình như vậy. Tôi thầm nhủ với bản thân phải cư xử độ lượng hơn với mẹ. Dù sao chúng tôi phải dời nhà không phải lỗi tại bà.

    Đều là lỗi tại tôi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/8/16
    loan, thanhbt, vu thu giang and 5 others like this.
  7. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 4 (1)

    TÁM TUẦN SAU ĐÓ

    Miami, Florida

    “EM GIẾT ANH MẤT, MARA.”

    “Cho em một phút thôi.” Tôi nheo mắt lườm con nhện đang chắn giữa tôi và quả chuối bữa sáng của mình. Nó và tôi đang cố gắng đạt đến một thỏa thuận. “Thôi để anh làm cho. Chúng ta trễ giờ mất.” Daniel hẳn là sốt ruột gần chết rồi. Quý ngài Hoàn Mỹ luôn luôn đúng giờ.

    “Không. Anh sẽ giết nó.”

    “Thế?”

    “Thế thì nó sẽ chết.”

    “Và?”

    “Hãy tưởng tượng xem,” tôi nói, ánh mắt chưa từng rời khỏi kẻ địch nhện của mình. “Gia đình nhện mất đi nữ chúa. Bầy nhện con của cô ta chờ đợi trong ổ, ngày qua ngày mong ngóng Mẹ về, mãi cho đến khi chúng nhận ra rằng Mẹ mình đã bị sát hại.”

    “Cô ta ư?”

    “Đúng vậy.” Tôi hất đầu về phía con nhện. “Tên cô ta là Roxanne.” “Tất nhiên rồi. Vậy thì mời em mang cô Roxanne ra ngoài trước khi cô ta được gặp gỡ mặt sau trang xã luận tờ Wall Street Journal (1) của Joseph.”

    (1) Wall Street Journal: Thời báo phố Wall là một nhật báo có ảnh hưởng lớn trên thế giới, xuất bản tại thành phố New York, chuyên viết về kinh doanh và tài chính. Tên của nó bắt nguồn từ phố Wall, con đường ở thành phố New York là trái tim của trung tâm tài chính này.

    Tôi dừng lại. “Em trai chúng ta sao lại mua Wall Street Journal?

    “Thằng nhóc bảo nó buồn cười.” (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Tôi mỉm cười. Đúng thật. Tôi quay lại nhìn chằm chằm Roxanne, đã dịch chuyển sang bên bốn năm centimét dưới sự đe dọa của Daniel. Tôi cầm lấy tờ khăn ăn và với tới chỗ cô nàng, nhưng không tự chủ được mà chùn lại vì ghê tởm. Suốt mười phút đồng hồ qua, tôi đã lặp đi lặp lại cái điệu bộ này: với tới rồi rụt về. Tôi muốn dẫn dắt Roxanne đến sự tự do, đưa cô nàng rời khỏi nhà bếp của chúng tôi đến một vùng đất dạt dào máu tươi của vô số loài côn trùng bay. Một vùng đất còn được biết đến là sân sau nhà chúng tôi.

    Nhưng xem ra tôi không đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ này rồi. Thế nhưng tôi đói, tôi muốn quả chuối của mình. Tôi với tới cô ta lần nữa, bàn tay lại đình chỉ giữa không trung.

    Daniel thở dài thườn thượt, đặt một chiếc cốc vào lò vi sóng. Anh ấy nhấn vài nút và cái khay bắt đầu quay.

    “Anh không nên đứng ngay trước lò vi sóng.”

    Daniel làm lơ.

    “Anh có thể bị ung thư não đấy.”

    “Đó là một sự thật sao?” Anh ấy hỏi.

    “Anh có muốn là người nghiệm chứng không?”

    Daniel quan sát bàn tay tôi, vẫn treo lơ lửng giữa thân tôi và cô Roxanne, bị tê liệt. “Với mức độ tâm thần của em sẽ chỉ tìm được một mối tình thần thoại như trong truyền hình thôi.”

    “Có lẽ vậy, nhưng em sẽ không bị u não. Chẳng nhẽ anh muốn có khối u à, Daniel?”

    Anh ấy thò tay vào chạn thức ăn lấy ra một thanh kẹo ngũ cốc. “Đây này,” anh ấy nói, và ném nó cho tôi, nhưng dạo gần đây tôi rất vô dụng trước giờ trưa. Nó rơi phịch một cái lên trên cái quầy kệ bếp bên cạnh. Roxanne vọt chạy, thế là tôi bị mất dấu cô ta.

    Daniel cầm lấy chìa khóa xe và thong dong đi đến cửa trước. Tôi theo sau anh ấy với cái bụng chưa ăn sáng của mình bước vào trong ánh mặt trời chói lòa.

    “Nào nào,” anh ấy làm ra vẻ phấn khởi. “Đừng nói với anh là em không phấn khích vì ngày đầu tiên đến trường của chúng ta nhé.” Anh ấy tránh mấy con thằn lằn bé xíu đang bò tán loạn trên lối đi ốp đá trong ngôi nhà mới. “Ngày đầu tiên lần thứ hai.”

    “Không biết bây giờ Laurelton có đang đổ tuyết không?”

    “Có lẽ. Cái đó thì anh không lưu luyến gì.” (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Tôi cứ ngỡ là không thể nóng hơn được nữa, nhưng khi chui vào bên trong chiếc Civic của Daniel, tôi mới biết mình đã lầm rồi. Không khí nóng đến ngạt thở, tôi vừa thở phì phò vừa ra hiệu cho Daniel mở cửa sổ xe.

    Anh ấy nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ quái.

    “Gì thế?”

    “Có nóng đến vậy đâu nào.”

    “Em sắp chết rồi đây. Anh không cảm thấy vậy ư?”

    “Không... chừng hai mươi mấy độ thôi mà.”

    “Chắc là vì em chưa thích ứng,” tôi nói. Chúng tôi chuyển đến Florida mới vài tuần trước thôi, ấy vậy mà tôi đã không còn nhận ra một chút dấu tích nào của cuộc sống trước đây. Tôi ghét nơi này.

    Chân mày Daniel vẫn còn nhướng lên, nhưng anh ấy chuyển đề tài. “Em biết không, mẹ vốn định tự mình đưa em đến trường hôm nay đấy.”

    Tôi rên rỉ. Buổi sáng này tôi không muốn đóng vai bệnh nhân. Thật ra thì, bất kỳ buổi sáng nào cũng không muốn. Tôi dự tính sẽ mua cho bà một bộ dụng cụ đan len, hoặc là một bộ màu nước. Bà cần một sở thích để không phải quanh quẩn bên tôi nữa.

    “Cám ơn anh vì đã đưa em đến trường.” Tôi nhìn vào mắt Daniel. “Em nói thật lòng đấy.”

    “Không thành vấn đề,” anh ấy nói, tặng cho tôi một nụ cười ngây ngô trước khi chạy vào xa lộ I-95 và tiến vào dòng xe cộ tắc nghẽn. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Phần lớn quãng đường chậm rề rề đến trường anh tôi sốt ruột đến nỗi đập đầu bình bịch lên tay lái. Chúng tôi đã bị trễ giờ, khi xe của chúng tôi lái vào trong bãi đổ chật ních, không có một bóng người giữa những chiếc xe xa hoa hào nhoáng.

    Tôi duỗi tay ra sau lấy chiếc túi xách gọn gàng ngăn nắp của Daniel, trịch thượng ngồi ở hàng ghế sau như một hành khách. Tôi cầm nó hộ anh, sau đó nhào ra khỏi xe. Chúng tôi tiến đến cánh cổng sắt uốn tinh xảo của Học Viện Nghệ Thuật và Khoa Học Croyden, ngôi trường mới của chúng tôi. Một chiếc huy chương to đùng được chế tác trang trí trên cánh cổng—một cái khiên được đặt ngay trung tâm với một đường kẻ dày kéo dài từ đỉnh bên phải chéo xuống đáy bên trái, chia cắt thành hai nửa. Còn có một chiếc mũ sắt hiệp sĩ đội trên đỉnh khiên, cùng với hai con sư tử ở mỗi bên. Giữa những khu nhà tồi tàn xung quanh, ngôi trường trông tách biệt một cách lạ lùng.

    “Ờ thì, có một điều anh chưa cho em biết, đó là chiều nay mẹ sẽ đến đón em đấy.” Daniel nói.

    “Đồ phản bội,” tôi lầm bầm.

    “Anh biết. Nhưng anh cần đi gặp cố vấn hướng nghiệp về hồ sơ đăng ký đại học, mà bà ấy chỉ có thời gian sau giờ học hôm nay thôi.”

    “Chi chứ? Anh biết mình sẽ vào được bất cứ đâu mà.”

    “Sao mà chắc chắn được,” anh ấy phản bác.

    Tôi híp mắt liếc Daniel.

    “Em làm cái gì đấy?” Anh ấy hỏi.

    “Em đang tặng cho anh cái nhìn khinh thường.” Tôi tiếp tục híp mắt.

    “Chà, anh thấy em giống như đang lên cơn đột quỵ hơn. Tóm lại, lát nữa mẹ sẽ đón em ở đằng kia,” anh nói, chỉ tay về cái ngõ cụt ở phía bên kia khu trường sở. “Cố gắng cư xử đúng mực.”

    Tôi nén ngáp. “Mới sáng sớm, anh đừng có nói chuyện như một thằng dở hơi thế, Daniel.”

    “Ăn nói cho đàng hoàng. Không duyên dáng tí nào.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/8/16
    loan, thanhbt, vu thu giang and 4 others like this.
  8. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 4 (2)

    “Ai quan tâm?” Tôi ngửa đầu, vừa đi, vừa đọc tên của những cựu học viên nổi bật của Học viện Croyden được khắc vào cổng tò vò bằng gạch trên đỉnh đầu. Hầu như là những cái tên tương tự như Heathcliff Rotterdam III, Parker Preston XXVI, Annalise Bennet Von—

    “Anh nghe Joseph dùng từ đó để chửi người ta. Thằng nhóc học hư theo em rồi.”

    Tôi phì cười.

    “Anh chẳng thấy có gì hài hước cả,” Daniel nói.

    “Ôi trời. Chỉ là một từ thôi mà.”

    Anh ấy vừa mở miệng toan đáp trả thì tôi nghe thấy Chopin (2) bật ra từ túi quần anh. Là tiếng nhạc Chopin, chứ không phải là Chopin thật, ơn Chúa.

    (2) Frédéric François Chopin (1810-1849) là nhà soạn nhạc người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart (1756-1791).

    Daniel bắt điện thoại và mấp máy môi với tôi, nói “Mẹ”, rồi chỉ về phía bức tường kính của văn phòng hành chính Học Viện Croyden. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    “Đi đi,” anh ấy nói. Tôi làm theo.

    Không bị anh trai ở bên quấy rầy, tôi thu vào tầm mắt toàn bộ cảnh quan lộng lẫy với thảm cỏ trải rộng không chút tì vết của khuôn viên trường. Những ngọn cỏ xanh mướp mập mạp neo trên mặt đất, được xén tỉa đều đặn đến từng milimét. Khu trường sở được chia ra làm bốn khu vực giới hạn bởi các luống hoa. Tòa thư viện có kiến trúc cột sang trọng ở một khu, nhà ăn và nhà thể dục thể thao kín ở một khu. Lớp học và văn phòng hành chính chiếm phần lớn hai khu còn lại. Hành lang mái vòm thoáng đãng và các lối đi lát gạch kết nối các tòa nhà với nhau, cuối cùng hội tụ ở đài phun nước chảy róc rách ngay trung tâm sân cỏ.

    Tôi nửa dự kiến sẽ trông thấy các sinh vật rừng rậm thình lình xuất hiện từ các tòa nhà và hát vang. Mọi thứ nơi đây gào thét TẠI ĐÂY CHÚNG TÔI LÀ HOÀN HẢO VÀ SỚM MUỘN GÌ BẠN CŨNG SẼ NHƯ VẬY! Thảo nào mẹ tôi chọn nơi này.

    Tôi cảm giác bản thân ăn vận thật cẩu thả trong chiếc áo thun và quần jean; Học viện Croyden bắt buộc mặc đồng phục, nhưng vì chuyển trường trễ đồng phục của chúng tôi vẫn chưa được gửi đến. Đổi từ trường công lập sang trường tư vào những năm cuối—ngay giữa học kì nữa chứ—đã đủ bi kịch rồi, chưa kể đến phải mặc váy kẻ ô và mang tất quá đầu gối quê không chịu nổi. Nhưng mẹ tôi là một con người hợm hĩnh, không tin tưởng nổi các ngôi trường công ở một thành phố lớn. Còn tôi, sau những chuyện đã xảy ra trong tháng mười hai, không có tư cách tranh luận một cách thuyết phục về vấn đề này.

    Tôi nhận lấy thời khóa biểu và bản đồ từ viên thư ký của trường, sau đó quay trở ra cùng lúc Daniel cúp điện thoại.

    “Mẹ nói gì?” Tôi hỏi.

    Anh trai hờ hững nhún vai. “Chỉ hỏi thăm chút thôi.” Anh ấy cầm lấy hồ sơ trong tay tôi. “Chúng ta lỡ mất tiết đầu rồi, như vậy lớp đầu tiên của em là...” Daniel lật xem giấy tờ và tuyên bố, “Đại số học II.”

    Hoàn hảo. Quá hoàn hảo. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Ánh mắt anh quét quanh toàn bộ khuôn viên ngoài trời; các cửa phòng học dẫn trực tiếp ra bên ngoài, như cấu trúc của khách sạn. Vài giây sau, Daniel chỉ tay về phía một tòa nhà ở đằng xa.

    “Hẳn là ở kia, phía bên kia góc rẽ đó. Nghe anh nói này,” anh bảo, “Chắc có lẽ phải đến giờ ăn trưa anh mới gặp lại em được. Em muốn ăn trưa cùng anh hay sao? Anh phải đi gặp thầy Hiệu trưởng và trưởng khoa âm nhạc nhưng anh có thể tìm em sau—”

    “Không cần đâu. Em ổn mà.”

    “Thật chứ? Bởi vì em biết đấy, chỉ có em là anh muốn được cùng thưởng thức các món ăn không rõ nguồn gốc của căn-tin trường thôi.”

    Anh trai mỉm cười, nhưng tôi nhìn ra anh ấy rất lo lắng. Từ khi tôi xuất viện đến nay Daniel vẫn luôn quan tâm theo dõi tôi với vai trò của một người anh cả, tuy nhiên anh ấy luôn kín đáo, vì vậy thái độ của anh không làm tôi khó chịu như với mẹ. Bởi thế, tôi phải nỗ lực nhiều hơn để trấn an anh ấy rằng tôi sẽ không phát rồ vào ngày đầu tiên đến trường. Tôi treo lên bản mặt nhàm chán điển hình của tuổi mới lớn như một bộ giáp trên đường đến gần tòa kiến trúc.

    “Thật mà. Em không sao,” tôi nói, đảo tròn mắt cho thêm hiệu ứng. “Anh đi đi, kẻo bị trượt khỏi trường rồi tương lai sẽ chết trong nghèo khổ và cô độc đấy.” Tôi đẩy nhẹ anh nhằm cường điệu, rồi chúng tôi tách ra.

    Nhưng khi tôi đi xa khỏi anh, lớp vỏ bọc mỏng manh bên ngoài của tôi bắt đầu sụp đổ. Thật ngớ ngẩn. Đây không phải như ngày đầu tiên đến nhà trẻ, chẳng qua nó là ngày đầu tôi đến trường mà không có... Rachel. Nhưng rồi nó sẽ không phải là ngày duy nhất. Tôi cần phải kiềm chế bản thân. Cố nuốt xuống cục nghẹn dâng lên cổ họng, tôi gắng gượng đọc hiểu thời khóa biểu của mình:

    Anh ngữ cao cấp, cô Leib, phòng B35

    Đại số học II, thầy Walsh, phòng 264

    Lịch sử Hoa Kỳ, cô McCreery, phòng 4

    Mỹ thuật, cô Gallo, phòng L

    Tiếng Tây Ban Nha I, cô Morales, phòng 213

    Sinh học II, cô Prieta, phụ khu

    Mang theo tâm tình vô vọng, tôi lang thang trên con đường dẫn đến tòa nhà và bắt đầu dò tìm số phòng, nhưng chưa thấy lớp Đại số học của mình đâu mà lại phát hiện máy bán hàng tự động trước. Bốn cái máy xếp nối tiếp nhau, dựa sát vách tường ở mặt sau tòa nhà, đối diện là các mái chòi rải rác dựng trên mặt đất. Nhìn chúng tôi bỗng nhớ ra mình chưa ăn sáng. Tôi liếc mắt nhìn quanh. Dù sao cũng đã trễ, trễ thêm vài phút cũng không chết.

    Tôi đặt mớ hồ sơ xuống đất và lục lọi tiền lẻ trong túi xách. Lúc đút một đồng hai mươi lăm xu vào máy, một đồng khác rơi khỏi tay tôi. Tôi khom người tìm kiếm, vì tôi chỉ có vừa đủ tiền để mua một món thôi. Rốt cuộc cũng tìm được, tôi nhét nó vào máy, tiếp theo bấm tổ hợp chữ và số sẽ ban phát sự giải thoát cho mình. (Người dịch: ChiChi @ TVE-4U)

    Không thể tin nổi. Bị kẹt máy.

    Tôi nhấn số lần nữa. Vẫn không có gì. Túi kẹo M&M của tôi bị mắc kẹt bên trong rồi.

    Tôi báu lấy hai cạnh bên của cái máy và ra sức lắc lư nó. Không được! Rồi tôi đá nó. Cũng không được.

    Tôi trừng mắt với cái máy. “Nhả nó ra cho tao.” Tôi nhấn mạnh mệnh lệnh của mình bằng vài cú đá vô dụng.

    “Cô có vấn đề với việc khống chế sự tức giận đấy.”

    Tôi quay ngoắt về hướng một giọng nói trầm bổng, du dương điển hình xứ Anh phát ra từ sau lưng.

    Chủ nhân của giọng nói đó đang ngồi trên bàn picnic ở một cái chòi. Cách ăn mặc bê bối của anh ta tức thì hấp dẫn sự chú ý của tôi trước cả khi nhìn thấy diện mạo của anh. Thiếu niên trước mắt—nếu có thể gọi anh ta như vậy, anh ta trông giống một sinh viên đại học hơn là học sinh trung học phổ thông—mang giày Converse không dây, lỗ giày để trống. Chiếc quần tây skinny màu than và áo sơ-mi trắng mặc trên khung người thon dài của anh. Cravát buộc lỏng, cổ tay áo mở nút, chiếc áo khoác bị bỏ xó bên cạnh, anh chàng biếng nhác chống tay ngả người ra sau.

    Quai hàm mạnh mẽ và chiếc cằm lưa thưa râu, như thể đã mấy ngày rồi anh ta chưa cạo râu, dưới bóng râm con ngươi trong mắt anh hiện lên màu xám. Mái tóc màu hạt dẻ sẫm tua tủa tứ phía. Lôi thôi như vừa mới ngủ dậy. So sánh với người dân Florida theo sự quan sát của tôi, làn da của anh có thể coi là khá nhợt nhạt, cũng tức là nói anh ta không phải người màu da cam.

    Anh chàng thật đẹp. Và anh ta đang mỉm cười với tôi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/8/16
  9. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 5

    ANH ẤY CƯỜI VỚI TÔI NHƯ THỂ ANH BIẾT TÔI LÀ AI VẬY. TÔI ngoái đầu nhìn ra sau, thầm nghĩ phải chăng có ai khác đứng sau lưng mình. Không có. Không có ai hết. Lúc tôi quay đầu nhìn lại, anh ấy đã đi mất.

    Tôi chớp mắt, có chút mê man, rồi cúi người thu nhặt đồ của mình lên. Bỗng tôi nghe thấy có tiếng bước chân tới gần, nhưng ai đó đã dừng lại trước khi đến chỗ của tôi.

    Trước mắt tôi xuất hiện một cô gái với làn da mật ong hoàn hảo và mái tóc vàng kim, chân mang giày cao gót Oxford, đeo tất trắng dài quá gối, mặc chiếc váy kẻ ô lửng hai màu than và xanh nước biển. Một sự thật đau lòng đó là một tuần sau tôi sẽ phải mặc cùng một thứ như vậy.

    Cô nàng đang khoác tay một cậu trai tóc vàng có thân hình vạm vỡ đồ sộ, ăn mặc chau chuốt đến từng li từng tí. Hai người họ trong bộ đồng phục có thêu huy hiệu học viện Croyden vênh váo hếch cao cái mũi hoàn hảo, cùng với những đốm tàn nhang cũng hoàn hảo tương tự của họ từ bên trên nhìn xuống tôi.

    “Liệu hồn đấy,” cô ả nhả ra. Với giọng điệu cay độc.

    Liệu hồn cái gì? Tôi đã làm gì đâu. Thế nhưng, tôi quyết định giữ im lặng, dầu sao ở ngôi trường này tôi chỉ quen biết mỗi một người, và người đó có cùng cái họ với tôi.

    “Xin lỗi,” tôi nói, dù chẳng biết mình xin lỗi vì cái gì. “Tớ là Mara Dyer. Tớ mới nhập học.” Rõ ràng quá còn gì.

    Một nụ cười giả dối hiện lên trên khuôn mặt đẹp một cách khắc khe của cô nàng Máy Bán Hàng Tự Động. “Hoan nghênh,” cô ả nói, rồi hai người bọn họ đi khỏi.

    Buồn cười thật. Sao mình không cảm thấy được hoan nghênh gì hết.

    Tôi vứt cả hai cuộc gặp mặt quái gở ra sau đầu, sau đó cầm tấm bản đồ trong tay đi vòng vèo cả tòa nhà mà chẳng có kết quả gì. Tôi leo cầu thang, lòng vòng lần nữa mới tìm thấy được lớp học của mình.

    Cửa phòng học đã đóng. Tôi không thích cái ý nghĩ vào lớp trễ chút nào, thật ra là chẳng hề muốn vào lớp. Nhưng tôi đã lỡ mất một tiết rồi, hơn nữa cũng đã đến đây, thôi thì mặc xác vậy. Tôi mở cửa ra và bước vào trong lớp học.

    Chừng hơn hai mươi cái đầu lập tức xoay về hướng tôi, cùng lúc đó, trên các vách tường phòng học xuất hiện những đường nứt nẻ. Các vết nứt giăng rộng như một mạng nhện, càng lan tràn lên trên, cho đến khi trần nhà bắt đầu vỡ vụn. Cổ họng tôi trở nên khô khốc. Không ai nói một lời, cho dù khắp phòng đều là bụi đất, cho dù tôi cảm giác như sắp nghẹt thở.

    Bởi vì, tất cả không phải đang diễn ra với bất cứ ai. Chỉ với tôi mà thôi.

    Một cái bóng đèn rơi xuống sàn nhà ngay trước mặt giáo viên, bắn tóe những đốm lửa về phía tôi. Chỉ là ảo giác thôi. Nhưng tôi vẫn không kềm được mà tránh né, và rồi bị trượt ngã.

    Tôi nghe thấy âm thanh mặt mình va đập lên nền nhà linoleum bóng lưỡng. Cơn đau ập tới giữa hai mắt tôi. Dòng máu nóng hổi trào ra mũi và chảy xuống miệng, rồi xuống cằm. Hai mắt mở toang, nhưng tôi không thể nhìn thấy gì ngoài tầng bụi đất xám tro. Tuy nhiên, tôi vẫn có thể nghe. Có tiếng hít sâu sửng sốt của một số người trong lớp, tiếng nói lắp bắp của giáo viên cố xác minh mức độ tổn thương của tôi. Điều lạ lùng là, tôi bất động, chỉ nằm lì trên mặt sàn lạnh lẽo, bỏ mặc những giọng nói như bị bóp nghẹt xung quanh. Tôi thà rằng chịu đau còn hơn phải đối mặt với sự nhục nhã khi đứng dậy.

    “Ừm, trò có làm sao không? Trò nghe thầy nói gì không?” Giọng nói của thầy giáo dần trở nên bối rối hơn.

    Tôi mấp máy miệng ráng nói ra tên mình, nhưng có lẽ nó nghe giống như “Tôi sắp chết rồi” hơn.

    “Trò nào mau chạy đi tìm y tá Lucas đến đây trước khi cô bé này xuất huyết tới chết ngay trong lớp học của tôi.”

    Nghe vậy, tôi lồm cồm bò dậy, lảo đảo trên đôi chân dường như không thuộc về mình. Không gì đe dọa tôi hơn là y tá và mấy cây kim tiêm của họ để khích cho tôi nhấc mông đứng dậy.

    “Em không sao,” tôi tuyên bố, rồi nhìn quanh quẩn căn phòng. Một lớp học bình thường. Không có bụi cát. Không dấu vết rạn nứt. “Thật đấy ạ,” tôi nói. “Không cần gọi cô y tá đâu. Em hay bị chảy máu mũi ấy mà.” Cười giả lả vài tiếng. “Em thấy bình thường lắm. Máu cũng ngừng chảy rồi này.” Quả là không còn chảy nữa, nhưng tôi dám chắc dáng vẻ bây giờ của mình trông rất kinh dị.

    Thầy giáo nhìn tôi một cách dè dặt, rồi đáp. “Hmm. Nếu em thật sự không sao, vậy thì em đến nhà vệ sinh tẩy rửa cho chỉnh tề được chứ? Sau khi em trở về thì chúng ta có thể chính thức giới thiệu với nhau.”

    “Vâng ạ, cám ơn thầy,” tôi trả lời. “Em sẽ quay lại ngay.” Tôi buộc mình giãy khỏi cơn choáng váng, và lén liếc nhìn về phía thầy giáo cùng bạn học mới trong lớp. Hằn trên mỗi gương mặt trong lớp là sự trộn lẫn giữa kinh ngạc và khiếp đảm. Kể cả cô nàng Máy Bán Hàng Tự Động. Tuyệt vời.

    Tôi rời khỏi phòng học. Thân thể lắc lắc lư lư mà đi, như một chiếc răng sắp rụng có thể bị đánh bật ra chỉ cần một tí lực nho nhỏ. Khi tiếng xì xầm bàn tán và giọng nói run rẩy của thầy giáo vẳng bên tai mất hút, tôi gần như bộc phát mà chạy điên cuồng. Mới đầu tôi còn chạy lướt qua luôn nhà vệ sinh nữ, chỉ thấp thoáng chú ý thấy cánh cửa xoay. Tôi vòng ngược về, khi đã vào bên trong rồi, tôi dồn mọi sự chú ý lên nền trang trí của sàn nhà có màu gạch lòng đỏ trứng xấu xí, đếm số lượng buồng vệ sinh, làm mọi thứ để có thể tránh không nhìn hình ảnh của mình trong gương. Tôi cố gắng trấn tĩnh bản thân, hy vọng có thể ngăn chặn cơn hoảng loạn dâng lên một khi nhìn thấy máu.

    Tôi hít thở chầm chậm. Tôi không muốn tẩy rửa. Tôi không muốn quay về lớp học. Nhưng tôi vắng mặt càng lâu, nguy cơ thầy giáo đi mời y tá đến tìm tôi sẽ rất cao. Tôi rất không muốn điều đó xảy ra, thế nên tôi đành bước đến đứng trước bàn rửa, bên trên vứt đầy khăn giấy nhăn nhúm, rồi ngẩng đầu nhìn.

    Người con gái trong gương mỉm cười. Nhưng cô ta không phải tôi.
     
  10. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 6

    CLAIRE. TRÊN BỜ VAI VỐN NÊN LÀ MÁI TÓC NÂU của tôi, lại thành mái tóc dài đỏ thẫm buông xõa của cậu ta. Chợt hình bóng phản chiếu của cậu ta vặn vẹo, biến dạng một cách đáng sợ trên mặt gương. Căn phòng ngả nghiêng, hất tôi lảo đảo sang bên. Tôi cắn vào đầu lưỡi, hai tay níu chặt lấy thành bàn rửa. Lúc ngước nhìn lên, gương mặt trong gương đã trở lại là của tôi.

    Trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Nó không có xảy ra. Chuyện phát sinh trong phòng học cũng chỉ là ảo giác mà thôi. Đều ổn cả. Có lẽ do tôi quá căng thẳng vì buổi đầu đến ngôi trường mới. Một buổi đầu thê thảm. Coi như trong rủi có may, ban nãy do quá rối loạn mà dạ dày tôi đã quên không phản ứng trước cảnh tượng máu me bê bết trên người mình.

    Tôi chộp lấy một nắm khăn giấy từ hộp đựng giấy, thấm ướt rồi đưa lên mặt chùi đi vết máu, nhưng mùi hăng nồng của khăn giấy thấm ướt rốt cuộc vẫn khiến bụng tôi quặn lên. Tôi đè nén cơn buồn nôn.

    Tiếc là không thành.

    May mắn là tôi còn đủ ý thức để vén mái tóc dài ra trước khi phun ra những thứ ít ỏi trong bụng mình vào bồn rửa mặt. Chính khoảnh khắc đó, tôi thật biết ơn vũ trụ vĩ đại vì đã ngăn trở không để tôi được dùng bữa sáng.

    Nôn khan một hồi, tôi chùi miệng, súc miệng bằng nước, rồi nhổ vào bồn rửa mặt. Sắc mặt tái nhợt, người rịn mồ hôi, xác định là dáng vẻ của người vừa nôn thốc nôn tháo. Khẳng định là một ấn tượng đầu hết sức duyên dáng. Chí ít thì áo của tôi không bị dây dính.

    Tôi dựa người lên bồn rửa mặt. Nếu tôi trốn nốt tiết Đại số học, thầy giáo chắc chắn sẽ kêu gọi cả một đội ngũ toán học đi truy tìm tung tích của tôi để bảo đảm tôi vẫn chưa chết. Tôi chỉ còn cách dũng cảm bước ra ngoài đương đầu với cái nóng gay gắt và quay trở về lớp. Cửa lớp học vẫn mở; trong khi luống cuống chạy đi tôi đã quên đóng cửa lại, từ lớp học truyền ra tiếng giảng giải thao thao bất tuyệt của thầy giáo về một phương trình. Tôi hít vào một hơi thật sâu, rồi thận trọng bước vào trong.

    Ngay tức thì, thầy giáo đã đến bên cạnh tôi. Cặp kính dày cộm của thầy ấy khiến đôi mắt thầy ấy trông như mắt côn trùng. Thật rợn người.

    “Ồ, em trông khá lên nhiều rồi! Nào, đến chỗ này ngồi đi. Nhân tiện giới thiệu, thầy là thầy Walsh. Ban nãy em nói tên em là gì nhỉ?”

    “Em tên Mara. Mara Dyer ạ,” tôi nói bằng giọng khản đặc.

    “Chà, trò Dyer à, trò quả biết làm một pha xuất hiện ấn tượng đấy.”

    Tiếng cười khúc kha khúc khích văng vẳng khắp phòng.

    “Vâng, ừm, em hậu đậu quá.” Tôi ngồi xuống hàng ghế đầu, chỗ mà thầy Walsh chỉ định là chiếc bàn trống song song với bàn của giáo viên và gần sát cửa ra vào. Ở hàng ghế này chỉ có mỗi chỗ tôi là có người ngồi.

    Suốt tám phút đau khổ và hai mươi bảy giây dài bất tận, tôi ngồi bất động tại bàn của mình, trong cái nóng oi ả của tầng địa ngục thứ bảy của riêng mình. Tôi tập trung vào bài giảng của thầy giáo, nhưng không chút gì lọt vào tai. Nỗi xấu hổ trong tôi đã dìm lấp giọng nói thầy ấy. Mỗi một lỗ chân lông trên làn da tôi như bị bóc trần, mặc cho ánh mắt săm soi của đám bạn cùng lớp tàn sát.

    Tôi cố gắng không để ý đến sự công kích của những lời xì xầm to nhỏ loáng thoáng nghe được nhưng không rõ ràng. Cảm giác như có kiến bò trên đầu, tôi vỗ vỗ sau ót, dường như sức nóng của những ánh mắt vô danh đó đủ để thiêu trụi mái tóc tôi, phơi bày ra lớp da đầu trần trụi. Tôi tha thiết nhìn về phía cửa, ước ao chạy thoát khỏi cơn ác mộng này, nhưng tôi biết rõ những lời đồn ra tiếng vào chỉ càng phát tán ngay sau khi tôi bước chân ra ngoài căn phòng này.

    Chuông reo, báo hiệu tiết học đầu tiên của tôi ở Croyden chấm dứt. Một thành công vang rền ấy chứ.

    Tôi lần lữa tụt lại đằng sau tách khỏi cuộc di cư hàng loạt về hướng cửa, biết mình cần lấy sách và hiểu sơ lược về tiến độ của chương trình học. Thầy Walsh lịch sự thông báo với tôi rằng trong ba tuần nữa tôi sẽ phải tham dự kỳ thi quý như tất cả mọi người, sau đó quay trở về bàn lật giở hồ sơ, còn tôi thì phải đối đầu với các tiết học sáng còn lại của mình.

    May thay mọi thứ trôi qua yên ổn. Lúc đến giờ trưa, tôi cầm lấy cái túi chất đầy sách của mình và đeo lên vai. Tôi quyết định tìm một nơi yên tĩnh, vắng vẻ để ngồi và đọc quyển sách tôi mang theo. Nôn xong một trận, giờ tôi không còn khẩu vị ăn uống gì nữa.

    Tôi nhảy cầu thang một bước hai bậc, đi tới rìa khuôn viên trường, dừng lại ở dãy hàng rào ngăn với khoảnh đất hoang rộng lớn. Tầng tầng cây xanh cao vút bên trên ngôi trường, đổ bóng phủ kín trọn một tòa nhà. Âm thanh réo rít rùng rợn của một con chim chọc thủng bầu không khí không một gợn gió. Tôi như rơi vào trong thế giới ác mộng của Công viên kỷ Jura (1). Tôi hung hăng giật mở quyển sách đến chỗ mà mình đã ngừng, sau đó lại phát hiện bản thân chỉ đang đọc đi đọc lại cùng một đoạn văn, tôi bèn bỏ cuộc. Cục nghẹn lại dâng lên cổ họng. Tôi ngồi sụp tựa lên hàng rào lưới, những dây kim loại xuyên qua lớp vải áo mỏng manh hằn dấu vết lên da thịt tôi, và tôi nhắm nghiền mắt trong sự chán nản.

    (1) Công viên kỷ Jura (Jurassic Park) là một bộ phim kinh dị, viễn tưởng và phiêu lưu rất nổi tiếng của Mỹ, đạo diễn của phim là Steven Spielberg, thực hiện vào năm 1993. Jurassic Park dựa theo một tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Michael Crichton.

    Sau lưng vang lên tiếng cười.

    Tôi ngẩng phắt đầu dậy, máu như bị đông cứng. Là tiếng cười của Jude. Là giọng của Jude. Tôi đứng dậy từ từ, quay người về phía hàng rào, nhìn vào khoảnh rừng cây rậm rạp trong khi tay báu chặt vào tấm lưới kim loại, tìm kiếm nguồn gốc của âm thanh đó.

    Trước mắt chỉ có cây và cây, không có gì khác. Tất nhiên rồi. Bởi vì Jude đã chết. Như Claire. Và Rachel. Cũng có nghĩa là trong vòng không tới ba tiếng đồng hồ tôi đã gặp ba lần ảo giác. Đây không phải là một dấu hiệu tốt.

    Tôi xoay người lại về khu trường sở. Trống không không một bóng người. Tôi liếc nhìn đồng hồ và phát hoảng; chỉ còn một phút là đến tiết tiếp theo rồi. Tôi khó khăn nuốt nước bọt, nắm lấy túi xách và chạy vội đến tòa nhà gần nhất, nhưng lúc rẽ vào một khúc quanh, tôi đứng sững lại.

    Jude đang đứng cách tôi chừng mười mấy mét. Tôi biết đó không thể là anh ta được, chỉ là ảo giác thôi, nhưng sự thật trước mắt, anh ta đang đứng đó, vẻ mặt không thân thiện và lạnh nhạt giấu dưới vành chiếc mũ bóng chày Patriots mà anh ta chưa bao giờ tháo xuống. Dường như anh ta muốn nói cái gì.

    Tôi quay đầu, tăng tốc bước đi, rời xa khỏi anh ta, từ những bước đi trở thành bước chạy. Tôi lại liếc nhìn qua vai, muốn xem thử anh ta còn ở đó không.

    Anh ta vẫn còn đó.

    Và đang rất gần.
     
  11. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 7 (1)

    MAY MẮN THAY, LỚP HỌC TÔI XÔNG ĐẠI VÀO không ngờ lại đúng vào phòng 213, lớp tiếng Tây Ban Nha của tôi. Xem tình hình các bàn đều đã có người ngồi, hiển nhiên tôi lại trễ giờ vào lớp.

    “Trò Dee-er?” Cô giáo gọi bằng giọng oang oang.

    Trong tâm trạng bất ổn và bối rối, tôi đóng cửa lại. “Chính xác là Dyer ạ.”

    Tôi sẽ chẳng bao giờ biết được rốt cuộc là vì tôi sửa lời cô giáo hay là vì tôi đến trễ, cô ta phạt tôi đứng trước lớp, rồi bắn xả một loạt câu hỏi cho tôi, bằng tiếng Tây Ban Nha, mà tôi chỉ có thể đáp lại bằng mỗi câu “Em không biết”. Cô ta thậm chí không thèm giới thiệu bản thân với tôi; cô ta chỉ ngồi ì ra đó, cao ngạo viết lia viết lịa lên sổ tay giáo viên của mình, cơ bắp trên cánh tay lộ rõ gân xanh của cô ta co giật. Tòa hình án Tây Ban Nha đã được cô ta nâng lên một tầng nghĩa hoàn toàn mới.

    Và cứ tiếp diễn như vậy trọn hai mươi phút. Rốt cuộc khi cô ta chịu ngừng lại, cô ta bắt tôi phải ngồi vào cái bàn bên cạnh cô ta, ngay trước lớp, đối diện với tất cả mọi người trong lớp. Thật độc ác. Mắt tôi dán dính vào đồng hồ, đếm từng giây từng phút tận khi tiết học này kết thúc. Lúc chuông reo, tôi lao ngay đến cửa lớp.

    “Có vẻ cậu cần một cái ôm an ủi đấy,” một giọng nói từ sau lưng truyền tới. Tôi quay người lại, mặt đối mặt với một cậu bạn lùn tủn miệng cười toe toét mặc một chiếc áo sơ mi trắng với cúc áo mở toang. Bên dưới là một chiếc áo thun màu vàng in dòng chữ TÔI LÀ KHUÔN SÁO.

    “Cậu thật hào phóng,” tôi nói, miễn cưỡng nở một nụ cười khách sáo. “Nhưng tớ nghĩ mình có thể xoay xở.” Tuyệt đối phải cư xử như một người bình thường.

    “Ồ, tớ đâu có nói muốn làm vậy. Chỉ đưa ra một lời đánh giá thôi.” Cậu ta vén những lọn tóc cuốn dài ra khỏi mắt rồi giơ tay ra. “Tớ là Jamie Roth.”

    “Mara Dyer,” tôi nói, mặc dù cậu ta vốn đã biết.

    “Chờ đã, cậu mới tới đúng không?” Trong đôi mắt đen của cậu ta lóe lên ý cười tinh nghịch.

    Tôi phối hợp. “Buồn cười ghê. Cậu thật hài hước.”

    Cậu ta khoa trương cúi chào một cái. “Mà này, cậu đừng nghĩ nhiều về Morales. Mụ ta là giáo viên tệ hại nhất trên thế giới.”

    “Cô ta đối xử với mọi người đều độc địa như vậy à?” Sau khi đã cách xa lớp học đó một khoảng cách an toàn, tôi hỏi. Tay vừa chuyển túi xách sang vai bên kia, mắt đảo quanh khuôn viên trường tìm kiếm bóng dáng của những con người đã chết mà chỉ tôi nhìn thấy. Không có ai trong tầm nhìn. Tạm thời vẫn ổn.

    “Có lẽ không đến mức như với cậu. Nhưng cũng gần. Trên thực tế, may cho cậu không bị bà ta ném phấn đấy. Còn mũi cậu thế nào rồi?”

    Lẽ nào cậu ta có trong lớp Đại số học II sáng nay?

    “Tốt hơn rồi, cám ơn. Cậu là người đầu tiên hỏi thăm đấy. Cũng là người đầu tiên nói những lời tốt đẹp.”

    “Vậy chứng tỏ cậu đã bị người ta nói những lời không tốt đẹp?”

    Mỗi khi cậu ta nói chuyện, dường như tôi thấp thoáng thấy ánh bạc lóe lên trong miệng cậu ta. Khuyên lưỡi chăng? Thú vị nha. Cậu ta trông không giống kiểu người đó.

    Tôi gật gù trong khi ánh mắt quan sát những người bạn học mới của mình. Tôi biết đồng phục trường hay có đủ kiểu biến tấu—như phối hợp các kiểu dáng áo sơmi, áo khoác blazer khác nhau, lựa chọn váy hay quần tây, còn áo gile len là cho những người hết sức táo bạo. Tuy nhiên, khi tôi đưa mắt tìm kiếm dấu hiệu của một số phe nhóm đặc trưng—như các kiểu giày dép quái gở, hoặc là những học viên với đầu tóc nhuộm đen và cách trang điểm đồng bộ, lại không thấy đâu. Không chỉ mỗi bộ đồng phục; mà cả phong thái của mỗi người ở đây dường như đều giống như khuôn đúc. Chỉn chu một cách hoàn hảo, lối cư xử hoàn hảo, đến một sợi tóc lọt ra ngoài cũng không. Jamie, với kiểu tóc dreadlock, lưỡi bấm khuyên và chiếc áo thun phơi ra, là hình ảnh nổi bật duy nhất giữa đám đông.

    À, đương nhiên còn có con người ăn mặc tùy tiện ban sáng nữa chứ. Một cú huých nhẹ bên sườn kéo tôi ra khỏi dòng suy tư.

    “Sao hả, cô bạn mới tới? Ai nói những lời đó với cậu? Đừng nói lấp lửng vậy chứ.”

    Tôi mỉm cười. “Hồi sáng có một cô nàng ném cho tớ một câu ‘liệu hồn đấy’.” Tôi miêu tả dáng vẻ của cô nàng Máy Bán Hàng Tự Động với Jamie, xong thì thấy lông mày cậu ta dựng lên.

    “Người bạn đi cùng cô ả cũng bất lịch sự tương đương,” tôi nói hết.

    Jamie lắc đầu. “Cậu có tiếp xúc với Shaw rồi đúng không?” Rồi cậu ta nhoẻn miệng cười. “Chúa ơi, anh ta thật sự rất hấp dẫn.”

    “Ờ... người tên Shaw này phải chăng là một gã cơ u thịt bắp thừa thãi, và mặc áo sơ mi cổ lộn ngược? Gã này lúc đó đang khoác tay với cô ả tớ vừa kể.”

    Jamie bật cười. “Mô tả như vậy có thể khớp với bất cứ thằng tứ chi phát triển nào ở Croyden, nhưng khẳng định không phải Noah Shaw. Theo suy đoán của tớ thì, có lẽ là Davis.”

    Tôi nhướng mày.

    “Aiden Davis, ngôi sao trong giới bóng vợt và là người hâm mộ cuồng nhiệt của Project Runway (1). Trước Shaw, thằng đó và Anna từng hẹn hò với nhau. Cho tới khi nó ‘bước ra khỏi tủ’ và công khai bản thân là người đồng tính, sau đó bọn họ trở thành ‘bạn tốt mãi mãi’ của nhau.” Jamie hấp háy mắt. Tôi hơi bị thích cậu bạn này rồi đấy.

    (1) Project Runway là chương trình truyền hình thực tế hấp dẫn về lĩnh vực thiết kế thời trang. Đây cũng là cuộc thi nhằm tìm kiếm những người có đam mê trong lĩnh vực thiết kế thời trang và mong muốn trở thành những nhà thiết kế thời trang chuyên nghiệp.

    “Vậy, cậu đã làm gì cô ả Anna?” Cậu ta hỏi.

    Tôi làm ra vẻ mặt khiếp sợ. “Tớ đã làm gì cô ả à?”

    “Chậc, cậu chắc chắn đã làm cái gì đó cho nên mới bị cô ả chú ý đến. Thông thường thì cô ả sẽ chẳng màng để mắt tới cậu đâu, nhưng chỉ cần Shaw có dấu hiệu ve vãn với bất kỳ ai, cô nàng sẽ thò móng vuốt tới ngay,” cậu ta nói. Cậu ta nhìn chằm chằm tôi một hồi rồi nói tiếp. “Anh ta chắc chắn sẽ nghía đến cậu, tài nguyên nữ giới ở Croyden đã bị anh ta sử dụng gần cạn kiệt rồi. Đúng theo nghĩa đen đấy.”
     
  12. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 7 (2)

    “Ờ, cô ta chả cần phải lo về vấn đề đó đâu.” Tôi lật giở thời khóa biểu và tấm bản đồ của mình, rồi nhìn quanh quẩn, thử xác định vị trí của phụ khu cho tiết sinh học. “Tớ chẳng có hứng thú đi giật bạn trai của người ta,” tôi nói. Trong bụng thì lầm bầm, cũng chả hứng hẹn hò với ai hết, nhất là khi người bạn trai trước của mình đã chết.

    “Ồ, anh ta không phải bạn trai của cô ả. Shaw chơi xong hai tuần thì đã vứt bỏ cô ả từ hồi năm ngoái rồi. Một kỷ lục cho anh ta. Kết quả là cô ả trở nên điên cuồng hơn—cũng như bao cô gái khác. ‘Đàn bà thất tình càng khủng khiếp hơn cả địa ngục’, và những tình tiết tương tự vậy ấy mà. Anna đã từng là một cô nàng cấm dục gương mẫu, nhưng sau Shaw, cậu có thể vẽ một quyển truyện tranh về những cuộc du ngoạn của ‘con chim non’ của cô ả. Có thể cho nó khoác thêm áo choàng siêu nhân.”

    Tôi khịt mũi. Ánh mắt quét quanh các tòa nhà trước mắt. Không có nơi nào trông như phụ khu cả. “Vậy còn cái gã mà cô ta thân thiết không để tâm chuyện này à?” Tôi hỏi, có chút phân tâm.

    Jamie hếch mày lên một cách châm biếm. “Thím Nữ Hoàng Nhỏ Mọn ấy à? Chắc chắn là không rồi.”

    À. “Cái biệt hiệu đó từ đâu mà ra vậy?”

    Jamie nhìn tôi như thể tôi là con ngốc.

    “Tớ muốn biết chi tiết,” tôi nói, cố gắng để mình không như một con ngốc.

    “Để xem, thì trước kia tớ từng muốn làm quen với thằng Davis. Theo phương diện thuần khiết nhé,” Jamie giải thích. “Tớ không phải mẫu người nó thích. Tóm lại là, đến bây giờ hàm của tớ hãy còn kêu lách cách mỗi khi há miệng ngáp đây này.” Cậu ta làm mẫu cho tôi xem.

    “Gã ta đánh cậu à?”

    Chúng tôi băng qua khoảng sân ở trung tâm khuôn viên trường, ngang qua đài phun nước sôi ùng ục, rồi dừng lại trước tòa nhà cách xa trụ sở hành chính nhất. Tôi xem xét các tấm biển trên các lớp học. Thật lộn xộn. Tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu được cách phân bố của nơi này.

    “Đúng vậy. Davis có một cú móc phải dữ dội lắm đấy.”

    Xem ra chúng tôi giống nhau về phương diện đó.

    “Cơ mà sau đó tớ đã trả đũa.”

    “Ồ?” Cho dù trong tay Aiden Davis chỉ có một cuộn giấy xúc, còn Jamie cầm dao thì cậu ta cũng chẳng có cơ mà thắng gã.

    Jamie mỉm cười hiểu ý. “Tớ dọa nó sẽ phát tán vi rút Ebola (2) lên người nó.”

    (2) Ebola virus (EBOV) là loại vi rút gây bệnh sốt xuất huyết ở người và các loại linh trưởng khác. EBOV là một trong bốn tác nhân gây bệnh nguy hiểm nhất theo Tổ chức Y tế Thế giới, Viện Bệnh truyền nhiễm và Dị ứng Hoa Kỳ, trong danh sách yếu tố khủng bố sinh học của Trung tâm kiểm soát và Phòng chống bệnh Hoa Kỳ, và trong danh sách chất độc sinh học cần kiểm soát của Australia Group.

    Tôi chớp mắt.

    “Sự thật là tớ không có vi rút Ebola. Ebola là tác nhân gây bệnh thuộc cấp độ an toàn sinh học bốn (3).”

    (3) Nhóm nguy cơ 4 là nhóm có nguy cơ lây nhiễm cho cá thể và cộng đồng cao. Tác nhân gây bệnh thường gây bệnh nặng cho người và động vật, đồng thời dễ lây truyền từ cá thể này sang cá thể khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Chưa có biện pháp điều trị và phòng chống hiệu quả. Ví dụ: Vi rút Ebola, vi rút Marburg, vi rút Congo-Crimean hemorrhagic...

    Tôi lại chớp mắt.

    “Nói cách khác, thanh thiếu niên bình thường không có khả năng lấy được loại vi rút này, dù cho cha cậu có là bác sĩ chăng nữa.” Cậu ta có vẻ thất vọng.

    “Ờ,” tôi nói, vẫn đứng yên đó.

    “Nhưng Davis lại tin, còn suýt nữa vãi đái ra quần. Một thời khắc khắc cốt ghi tâm của đời tớ. Cho đến khi thằng nhãi đó mách lẻo với các viên cố vấn. Vậy mà họ cũng tin cơ chứ. Rồi gọi điện cho cha tớ, để xác nhận tớ không có tàng trữ Ebola ở nhà. Một lũ đần. Chỉ một trò đùa nho nhỏ có dính líu tới bệnh sốt xuất huyết, thế là họ đóng dấu cho mình cái mác ‘không ổn định’.” Cậu ta lắc đầu, khóe miệng cong lên một nụ cười. “Giờ chắc là cậu, ờ, khiếp đảm lắm nhỉ?”

    “Không có.” Thật ra là có, nhưng chỉ hơi thôi. Nhưng tôi là ai kia chứ, nào có quyền kén cá chọn canh trong việc chọn bạn đâu.

    Cậu ta nháy mắt và gật đầu. “Ừa. Cậu học môn gì tiếp theo vậy?”

    “Sinh học với cô Prieta? Ở phụ khu, mà tớ chẳng biết nó ở đâu cả.”

    Jamie chỉ tay về phía một bụi hoa khổng lồ chừng ba trăm mét đằng xa. Ở hướng ngược lại. “Phía sau bụi cây hoa giấy.”

    “Cám ơn cậu,” tôi nói, nheo mắt quan sát. “Nếu không nhờ cậu thì tớ sẽ chẳng bao giờ tìm ra nó được đâu. Vậy còn cậu, tiết sau là gì?”

    Cậu ta cởi áo khoác ra và cài lại nút áo sơ mi. “Bình thường là tiết Vật lý cao cấp, nhưng hôm nay tớ trốn tiết.”

    Vật lý cao cấp. Ghê thật. “Vậy... cậu cùng khối với tớ à?”

    “Tớ học năm ba (4),” Jamie nói. Có lẽ nhận ra sự nghi hoặc của tôi, ngay sau đó cậu ta thêm vào, “Tớ học nhảy một lớp. Chắc là tại tớ hấp thụ gen ‘lùn’ từ cha mẹ qua quá trình thẩm thấu ấy mà.”

    (4) Các trường trung học phổ thông ở Mỹ bắt đầu từ lớp 9-12, hoặc 10-12 tùy theo bang. Ở Học viện Croyden là 4 năm.

    “Thẩm thấu? Không phải là qua di truyền sao?” Tôi hỏi. “Cậu cũng đâu có lùn.” Một lời nói dối vô hại.

    “Tớ là con nuôi,” Jamie nói. “Còn cậu thôi đi. Tớ lùn cũng chẳng phải chuyện gì lớn lao.” Jamie nhún vai, rồi gõ gõ lên cổ tay không đeo đồng hồ của mình. “Cậu mau đến lớp của cô Prieta kẻo trễ giờ.” Cậu ta vẫy tay. “Gặp lại sau.”

    “Bye.”

    Và như vậy, tôi đã có được một người bạn. Tôi thầm vỗ lưng khen ngợi mình trong đầu; Daniel sẽ tự hào về tôi. Mẹ sẽ càng tự hào hơn. Tôi dự định dâng lên tin tức này cho bà như một chú mèo hiến một con chuột chết cho chủ nhân của nó. Nói không chừng tin tức này sẽ đủ để giúp tôi thoát khỏi việc đi trị liệu tâm lý.

    Đương nhiên, điều kiện tiên quyết là tôi phải giấu chuyện mình mấy lần gặp ảo giác trong ngày hôm nay.
     
  13. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 8

    TÔI ĐÃ XOAY XỞ VƯỢT QUA CÁC TIẾT HỌC CÒN LẠI MÀ KHÔNG bị đưa vào bệnh viện hoặc nhốt vào nhà thương điên. Lúc tan trường, mẹ đang chờ tôi ở cái ngõ cụt chính xác như Daniel đã bảo. Bà luôn chuẩn xác có mặt vào những khoảnh khắc “chăm sóc” vụn vặt thế này, hôm nay cũng không ngoại lệ.

    “Mara, cục cưng! Buổi học đầu thế nào?” Giọng bà nhiệt tình một cách thái quá. Bà đẩy gọng kính mát cài lên tóc rồi nhoài người tới hôn lên má tôi. Bỗng thân thể bà cứng ngắc. “Có chuyện gì vậy con?”

    “Sao cơ?”

    “Trên cổ con dính máu kìa.”

    Chết tiệt. Cứ tưởng đã lau sạch rồi chứ.

    “Con bị chảy máu mũi.” Đó là sự thật, chẳng qua không phải toàn bộ sự thật mà thôi, có Thượng Đế làm chứng.

    Mẹ tôi lặng im. Ánh mắt bà nheo lại, tràn ngập sự lo lắng. Điều này cũng khó tránh, nhưng thật không dễ chịu.

    Sao ạ?

    “Trước nay con chưa từng bị chảy máu mũi.”

    Tôi rất muốn hỏi “Sao mẹ biết chứ?”, nhưng thật không may, bà biết hết. Ngày xửa ngày xưa, từng có một thời tôi bộc bạch mọi thứ trong tim gan phèo phổi của mình với bà. Những ngày này đã chấm hết rồi.

    Tôi vùi vùi gót giày. “Hôm nay con bị.”

    “Bỗng dưng bị thế à? Ngẫu nhiên hay sao?” Bà nhìn chằm chằm tôi bằng ánh mắt sắc bén của một nhà trị liệu, ánh mắt đó nói Đừng hòng gạt mẹ.

    Tôi sẽ không thú nhận việc mình thấy căn phòng học sụp đổ ngay giây phút bước vào trong. Hay là chuyện những người bạn đã khuất của mình tái xuất hiện ngày hôm nay, đều là nhờ ơn hội chứng PTSD cả. Từ khi chuyển nhà đến nay tôi không hề có bất cứ triệu chứng nào. Tôi đi dự tang lễ của bạn bè mình. Tôi thu dọn hành lý. Tôi ở cùng với anh em trai của mình. Tôi làm mọi thứ có thể để tránh khỏi bị mẹ xem là mục tiêu nghiên cứu. Và những gì xảy ra hôm nay hoàn toàn không đáng nhắc lại với bà để nhận lấy cái giá phải trả.

    Tôi nhìn thẳng vào mắt bà. “Là ngẫu nhiên thôi.” Bà vẫn không tin. “Con nói là sự thật,” tôi nói dối. “Mẹ tha cho con có được không?” Ngay sau khi buông ra lời này, tôi biết mình sẽ phải hối hận.

    Quả không sai. Suốt quãng đường lái xe về nhà không khí trầm mặc, sự im lặng càng kéo dài, càng rõ rành rành bà đang hậm hực bấy nhiêu.

    Tôi làm như không quan tâm và chăm chú theo dõi con đường về nhà, vì trong vài ngày nữa tôi sẽ phải tự lái xe đến trường, đều nhờ cuộc hẹn khám răng quá hạn của Daniel. Tôi ngầm cảm thấy hả hê khi quý ông Hoàn Hảo có thiên hướng dễ bị sâu răng.

    Tất cả các ngôi nhà chúng tôi chạy ngang qua thấp lè tè và trông như những hình khối, ngoài vườn bài trí rải rác những con cá heo nhựa và các bức tượng Hy Lạp xấu xí. Cứ như toàn thể hội đồng thành phố tụ họp lại và bỏ phiếu bầu xây dựng Miami thành một nơi hoàn toàn tẻ nhạt. Chúng tôi lướt qua từng dãy cửa hàng rập khuôn, đều ngênh ngang quảng cáo là Michaels! Kmart! Home Depot! Tôi thật sự không hiểu nổi vì sao trong phạm vi tám mươi cây số lại cần nhiều hơn một dãy cửa hàng như vậy.

    Chúng tôi về đến ngôi nhà mới của mình sau một tiếng đồng hồ kẹt xe đầy giày vò, và đó là lần thứ hai trong ngày dạ dày tôi quằn quại buồn nôn. Sau khi xe chạy đến cuối đường lái xe vào nhà, mẹ tôi cau có ra khỏi xe. Tôi chỉ ngồi yên đó, không động đậy. Anh em trai tôi vẫn chưa về, cha cũng khẳng định là chưa, cho nên tôi không muốn xông pha vào hang ổ sư tử một mình.

    Tôi thẫn thờ nhìn vào cái bảng điều khiển trong xe, bi ai đắm chìm trong nỗi cay đắng của mình, mãi đến khi một tiếng gõ cửa xe bất chợt vang lên làm trái tim tôi như muốn vọt ra ngoài.

    Tôi ngẩng lên nhìn ra ngoài và thấy Daniel. Lúc này ánh sáng ban ngày đã lùi dần nhường chỗ cho buổi chiều tà, sau lưng anh bầu trời một màu xanh lam thẫm. Trong tôi dường như có cái gì đó vút qua. Tôi đã ngồi đây bao lâu rồi?

    Daniel quan sát tôi qua ô cửa sổ xe mở toang. “Một ngày mệt mỏi hở?”

    Tôi cố gạt đi sự bồn chồn. “Sao anh biết?”

    Joseph đóng sầm cửa chiếc xe Civic của Daniel, rồi đi qua với nụ cười tươi rói trên mặt, cái cặp nhét đầy ú của nó móc vào giữa hai cánh tay. Tôi ra khỏi xe, vỗ lên vai em trai mình. “Ngày đầu tiên đi học thế nào?”

    “Tuyệt vời! Em được vào đội bóng này, giáo viên của em còn muốn em thử vai cho vở kịch của trường tuần sau cơ, còn có mấy cô bạn gái xinh lắm, nhưng cũng có một cô cực quái dị, cứ huyên thuyên suốt với em, cơ mà em vẫn tỏ ra lịch sự với bạn ấy.”

    Tôi cười toe toét. Tất nhiên Joseph sẽ đăng ký mọi hoạt động ngoại khóa. Tính nó hướng ngoại và là một đứa nhỏ đa tài. Cả anh trai và em trai tôi đều như vậy.

    Tôi so sánh hai người họ, sóng vai trong cái tướng đi lênh khênh y đúc nhau đến trước cửa nhà. Joseph trông giống mẹ chúng tôi hơn, cùng mái tóc suôn thẳng, khác với tôi và Daniel. Nhưng cả hai người họ đều thừa hưởng nước da của bà, trong khi tôi thì kế thừa màu da bạch tuyết từ cha. Ngoài ra thì trên khuôn mặt chúng tôi không hề có nét tương tự cho thấy chúng tôi là người một nhà. Điều này làm tôi cảm thấy có chút buồn bã.

    Daniel mở cửa. Tháng trước chúng tôi dời nhà đến đây, tôi rất ngạc nhiên khi nhận ra mình thật sự thích ngôi nhà này. Trang hoàng trước khung cửa chính loang loáng là những chậu cây hoàng dương cảnh và hoa tươi. Không gian vô cùng rộng rãi. Tôi còn nhớ cha từng nói mảnh đất này gần bốn nghìn mét vuông.

    Nhưng nơi đây vẫn không phải là nhà.

    Ba chúng tôi cùng đi vào, một mặt trận liên minh. Tôi nghe mẹ tôi đi đi lại lại trong nhà bếp, nhưng lúc bà nghe thấy tiếng động của chúng tôi, bà đã ra đến sảnh trước.

    “Các con trai!” Bà gần như hét lên. “Hôm nay đi học thế nào?” Bà ôm lấy cả hai người họ, cố tình làm lơ tôi khi tôi lần lữa ở sau.

    Joseph bắt đầu kể lại từng chi tiết với sự phấn khởi của một đứa trẻ, còn Daniel theo sau họ vào bếp, kiên nhẫn chờ mẹ chuyển hướng dò hỏi sang anh. Nhìn ra cơ hội chạy trốn, tôi lượn xuống hành lang dẫn đến phòng ngủ của mình, ngang qua ba cánh cửa kiểu Pháp ở một bên và một bên tường treo đầy các ảnh chụp gia đình. Có ảnh của anh em trai và tôi lúc còn là trẻ sơ sinh, lúc mới chập chững biết đi, và một số bức ảnh gượng gạo bị bắt buộc chụp thuở tiểu học. Sau đó là các bức hình chụp của họ hàng và ông bà của tôi. Hôm nay, có một tấm trong đó đặc biệt khiến tôi chú ý.

    Đó là một bức ảnh trắng đen cũ kỹ chụp bà ngoại tôi vào ngày cưới, được lồng trong một khung hình mạ vàng. Bà ngồi lặng lẽ, hai bàn tay vẽ Henna (1) chấp lại với nhau đặt trên đùi, mái tóc đen nhánh, bóng mượt của bà được chia ngôi giữa một cách tuyệt đối. Chấm đỏ Bindi (2) giữa hai hàng lông mày cong cong hoàn hảo của bà lấp lánh dưới ánh đèn flash. Bà mặc trên người một bộ phục trang lộng lẫy xa hoa, những hoa văn tinh tế uốn lượn dọc theo mép Sari (3) của bà. Một cảm giác lạ lùng thoáng xuất hiện rồi lại đột ngột biến mất trước khi tôi kịp xác định nó là gì.

    (1) Henna là một giống cây có hoa được trồng tại những vùng khô hạn ở châu Phi, Nam Á, và phía Nam châu Úc. Lá cây Henna được phơi khô và giã nhuyễn ra có màu xanh chàm. Sau đó được pha trộn với các nguyên liệu khác để nhuộm da (body art), tóc, móng tay, da động vật, và vải vóc. Ngoài việc nhuộm màu, Henna còn giúp chống ẩm mốc cho da thuộc và vải. Hoa Henna còn được dùng làm nước hoa.

    Vẽ Henna là một phần không thể thiếu trong đám cưới truyền thống Ấn Độ. Henna là biểu tượng tình yêu giữa người vợ và chồng, người ta tin rằng nó sẽ đem lại nhiều điều may mắn. Cô dâu sẽ được vẽ tên của chú rể đan xen với những họa tiết phức tạp lên tay. Sau đó chú rể phải tìm cho ra tên mình trên bàn tay cô gái, nếu tìm thấy, họ sẽ thành đôi. Người ta còn tương truyền rằng màu của Henna càng đậm, càng lâu phai thì sự gắn kết của họ càng bền vững. Với hình vẽ Henna trên tay, cô dâu sẽ không phải làm bất cứ việc nhà nào và được cung phụng cho tới khi màu Henna tự phai đi (ít nhất là 1-2 tuần).

    (2) Bindi là chấm đỏ giữa hai chân mày phụ nữ Ấn Độ, trong tiếng Ấn có nghĩa là “chấm nhỏ, giọt nước”. Màu đỏ của Bindi tượng trưng cho danh dự, tình yêu và sự thịnh vượng. Bindi như một dấu hiệu nói lên thân phận của phụ nữ Ấn Độ, chỉ phụ nữ có chồng mới được điểm chấm đỏ này, nhất là ở miền Nam Ấn. Vào đúng ngày lễ thành hôn, chú rể tự tay dùng châu sa điểm lên trán cô dâu để “đánh dấu” rằng từ nay cô gái đã thuộc về mình. Phụ nữ chỉ lau dấu Bindi khi chồng họ qua đời. Ngoài ra, Bindi còn mang lại lợi ích về sức khỏe.

    (3) Sari là trang phục truyền thống của người phụ nữ Ấn, tôn lên nét bí ẩn và quyến rũ của người phụ nữ Ấn Độ. Sari truyền thống kết cấu từ hai mảnh vải dài: một để quấn quanh che lấy người, một để quấn ngang eo rồi bắt chéo qua vai và buông rủ xuống mềm mại.

    Đúng lúc đó Joseph chạy ào xuống hành lang, suýt nữa tông tôi ngã ngửa.

    “Xin lỗi!” Thằng bé hô to, rồi mất hút qua góc ngoặt. Tôi dời mắt khỏi bức hình và lủi vào trong căn phòng mới của mình, đóng cửa lại.

    Tôi nằm phịch xuống tấm chăn bông trắng trơn mềm mại, gạt gạt chân trên chân giường để tháo đôi giày sneaker ra. Chúng rơi thịch một cái trên mặt thảm. Tôi nhìn đăm đăm vào các vách tường phòng tăm tối, trống trơn của mình. Mẹ tôi vốn muốn sơn nền hồng, như căn phòng trước đây của tôi; viện ba cái lý do tâm lý học vớ vẩn rằng nó giúp neo tôi vào khung cảnh quen thuộc. Thật ngớ ngẩn. Một màu sơn cũng không thể trả Rachel lại cho tôi. Thế là tôi giả vờ đáng thương và rốt cuộc mẹ cho phép tôi chọn màu xanh của màn đêm. Màu này tạo cho căn phòng một cảm giác sành điệu, các món đồ nội thất màu trắng trở nên tinh vi hơn. Chiếc đèn treo với các đóa hoa hồng gốm li ti lủng lẳng từ các nhánh đèn mà mẹ tôi đã lắp đặt giữa nền màu tối không khiến căn phòng trở nên nữ tính một cách thái quá. Rất hợp là đằng khác. Đây cũng là lần đầu tiên tôi có trọn một phòng tắm riêng cho mình, một điểm cộng không chê vào đâu.

    Tôi vẫn chưa treo bất kỳ bức họa hay ảnh chụp nào lên tường và cũng không dự định làm vậy. Trước ngày chúng tôi rời khỏi Rhode Island, tôi đã tháo dỡ toàn bộ tranh ảnh hình chụp mà tôi đã đính lên tường, chừa lại mỗi bức vẽ phác họa chân dung bằng chì của Rachel cuối cùng. Tôi đờ đẫn nhìn bức tranh đơn độc của cậu ấy, ngạc nhiên trước vẻ nghiêm túc của cậu ấy. Nhất là khi so sánh với tính nết lông bông của cậu ấy lúc ở trường, ấn tượng cuối cùng của tôi về cậu ấy lúc còn sống. Trong tang lễ, tôi đã không thể thấy dáng vẻ của cậu ấy như thế nào.

    Cỗ quan tài được đóng kín.
     
  14. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 9

    “CON YÊU? CON ĐANG NGỦ À?”

    Tôi bị giật mình bởi tiếng gọi của mẹ. Đã qua bao lâu rồi? Tâm thần tôi lập tức trở nên hồi hộp. Một dòng mồ hôi chảy xuống lưng cổ, mặc dù tôi không hề thấy nóng.

    Tôi chống người ngồi dậy trên giường. “Không có ạ.”

    Ánh mắt bà tìm tòi trên khuôn mặt tôi. “Con đói không?” Bà hỏi. Mọi dấu vết của sự bực dọc hồi sớm đã hoàn toàn vắng bóng. Lúc này bà trông đầy lo âu. Lại nữa rồi. “Bữa tối chuẩn bị sắp xong rồi,” bà nói.

    “Cha về rồi ạ?”

    “Vẫn chưa. Cha con đang bận rộn xử lý một vụ kiện mới. Có lẽ đoạn thời gian này sẽ không về nhà ăn tối.”

    “Con sẽ đến phòng bếp ngay.”

    Mẹ tôi dè dặt bước một bước vào phòng tôi. “Ngày đầu tệ lắm hả con?”

    Tôi nhắm mắt lại và thở dài. “Con vốn đã dự liệu trước cả rồi, nhưng con không muốn nhắc về nó nữa.”

    Bà ngoảnh mặt đi, tôi cảm thấy hơi áy náy. Tôi yêu mẹ tôi, thật sự. Bà luôn hết lòng với chúng tôi. Săn sóc chúng tôi. Nhưng kể từ năm ngoái, sự hiện diện của bà dần trở thành một sự mệt mỏi đối với tôi. Thời gian này, sự xuất hiện mọi lúc mọi nơi xung quanh tôi của bà khiến tôi không sao chịu nổi. Ngày chúng tôi dời nhà, suốt quãng đường dài mười sáu tiếng đồng hồ đến Florida tôi chỉ im thin thít, dù rằng chuyến xe đó là vì tôi—bởi tôi sợ đi máy bay, và sợ độ cao nói chung. Lúc chúng tôi đến nơi, Daniel kể với tôi rằng sau khi tôi xuất viện, anh ấy vô tình nghe thấy mẹ và cha tranh cãi với nhau về vấn đề cho tôi vào một viện trị liệu nào đó trường kỳ. Đương nhiên là mẹ tôi ủng hộ ý kiến đó rồi. Ở đó, sẽ luôn có người từng giây từng phút theo dõi tôi! Nhưng tôi hoàn toàn không có hứng thú với việc học thi SAT trong một căn buồng dành cho người điên, và vì hiệu ứng của cử chỉ cao đẹp của tôi—đi dự tang lễ—hiển nhiên đã hết tác dụng, tôi cần phải khống chế mọi hành vi điên loạn của mình. Tạm thời dường như khá ổn.

    Mẹ tôi không kiên trì với đề tài đó nữa, hôn lên trán tôi rồi trở ra bếp. Tôi rời giường, chân mang vớ đi theo bà xuống hành lang, cẩn thận để không bị trượt trên mặt sàn gỗ đánh bóng.

    Anh em trai của tôi đã bày sẵn bàn ăn, mẹ còn đang chuẩn bị bữa tối, nên tôi đi ra phòng gia đình (1), ngồi lún xuống chiếc ghế sofa bằng da, sau đó bật mở tivi. Tin tức đang được phát ở chế độ ảnh lồng ảnh, tôi tắt tiếng đi trong khi chỉnh kênh ở danh mục chương trình.

    (1) Phòng gia đình (family room) và phòng khách (living room) thường bị lẫn lộn với nhau. Phòng gia đình là nơi người thân, bạn bè, khách khứa tụ tập vì những mục đích chung như đọc sách, trò chuyện, xem phim... và các hoạt động gia đình, thường được xây gần sát phòng bếp, đôi khi được nối liền luôn và không có sự ngăn cách rõ rệt. Phòng gia đình hay được thiết kế dẫn trực tiếp ra sau vườn hoặc ra ngoài sân hiên. Sự khác nhau giữa phòng gia đình và phòng khách ở mặt thiết kế và vị trí của nó. Phòng gia đình được thiết kế với phong cách ấm cúng, thoải mái, trong khi phòng khách thì sang trọng, nghiêm trang, thường được đặt ở vị trí trung tâm và phần trước của căn nhà.

    “Mara, mở tiếng cho mẹ nghe tin một chút được không?” Mẹ hỏi. Tôi vâng lời.

    Ba bức ảnh xuất hiện ở một góc màn hình. “Nhờ sự trợ giúp của đơn vị Tìm kiếm và Cứu hộ thuộc Sở Cảnh Sát Laurelton, thi thể của hai nạn nhân Rachel Watson và Claire Lowe đã được thu hồi vào sáng ngày hôm nay, song các viên điều tra vẫn đang gặp khó khăn trong việc thu thập các bộ phận còn lại của thiếu niên mười tám tuổi Jude Lowe do phần chái nhà vẫn còn đứng, tuy nhiên có thể sụp đổ bất cứ lúc nào.”

    Tôi nheo mắt theo dõi tin tức trên tivi. “Cái quái gì—” Tôi thì thào.

    “Hửm?” Mẹ tôi bước vào trong phòng khách, rồi cầm lấy chiếc điều khiển từ tay tôi. Ngay khoảnh khắc đó, hình ảnh mấy người bạn của tôi biến mất tăm. Thay vào đó là bức ảnh của một cô gái tóc đen mỉm cười tươi sáng ở góc màn hình kế bên khung hình của nữ xướng ngôn viên.

    “Các nhà điều tra hiện đang lần tìm đầu mối trong vụ án của Jordana Palmer, nữ sinh lớp mười bị sát hại,” nữ xướng ngôn nói liến thoắng. “Sở Cảnh sát Metro Dade hiện đang tổ chức một đội cảnh khuyển K-9 (2) thực hiện một cuộc điều tra truy tìm tang chứng ở khu vực phụ cận khu nhà của gia đình Palmers, quá trình diễn ra đã được Đài số 7 thu một đoạn ghi hình.”

    (2) Chó cảnh sát cùng với một viên cảnh sát hợp thành đơn vị K-9.

    Hình ảnh trên màn hình lóe một cái chuyển sang chiếu một đoạn video lắc lư về quá trình một đội cảnh sát trong bộ đồng phục màu kem, đồng hành là các chú chó chăn cừu Đức to lớn đang tuần tra một biển cỏ dại cao vút trải rộng phía sau những ngôi nhà nhỏ, mới xây. “Theo nguồn tin tức cung cấp, kết quả khám nghiệm tử thi của nữ sinh mười lăm tuổi đã tiết lộ những dữ liệu đáng lo ngại về nguyên nhân cái chết, tuy nhiên hiện tại cảnh sát sẽ không công bố bất kỳ thông tin chi tiết nào.”

    “Manh mối, như tôi đã trình bày, chính là lời khai của các nhân chứng đồng ý đứng ra, và hôm nay chúng tôi sẽ lần theo những đầu mối này,” đội trưởng Ron Roseman thuộc Sở Cảnh sát Metro Dade phát biểu. “Ngoài ra, tôi không thể tiết lộ thêm bất kỳ thông tin gì có khả năng gây ảnh hưởng đến cuộc điều tra của chúng tôi.”

    Sau đó viên xướng ngôn vui vẻ chuyển hướng đề tài sang bàn luận về các sáng kiến xóa mù chữ tại Sở Học Chánh địa phương Broward. Mẹ trả lại chiếc điều khiển cho tôi.

    “Con đổi đài được không?” Tôi hỏi, cố gắng nói với giọng bình thản. Chứng kiến những người bạn đã chết của mình xuất hiện trên tivi khiến tôi run rẩy, nhưng tôi tuyệt đối không thể biểu lộ ra ngoài.

    “Con tắt tivi luôn đi. Bữa tối sẵn sàng rồi,” bà nói. Bà có vẻ bồn chồn hơn mọi khi. Tôi bắt đầu nghi ngờ bà mới là người nên dùng thuốc trị liệu, và đây cũng không phải là lần đầu tiên tôi có suy nghĩ này.

    Hai anh em trai của tôi ngồi vào bàn, tôi dán lên mặt mình một nụ cười gượng rồi ngồi theo vào. Tôi làm bộ cười vui thích trước những câu chuyện đùa của mọi người ở bàn ăn, nhưng vẫn không thể xóa đi hình ảnh của Rachel, Jude, và Claire vừa thấy. Không, không phải vừa thấy. Là ảo giác.

    “Con bị sao à, Mara?” Mẹ tôi hỏi, kéo tôi ra khỏi sự trầm mặc. Phản ứng trên mặt tôi chắc hẳn ăn khớp với cảm giác trong lòng.

    “Không có gì ạ,” tôi thản nhiên nói. Tôi đứng dậy, hơi cúi đầu để mái tóc che đi khuôn mặt. Tôi thu dọn đĩa ăn của mình và đi đến bồn rửa để tráng sơ trước khi cho vào máy rửa chén.

    Chiếc đĩa tuột ra khỏi hai tay dính đầy xà bông của tôi, vỡ tan trên mặt bồn inôc. Qua khóe mắt, tôi nhác thấy Daniel và mẹ trao đổi ánh mắt với nhau. Tôi như một con cá vàng không có tòa lâu đài để ẩn núp.

    “Em không sao chứ?” Daniel hỏi tôi.

    “Ừ. Bị trượt tay thôi.” Tôi nhặt mảnh vỡ ra khỏi bồn rồi ném chúng vào thùng rác, sau đó viện cớ về phòng làm bài tập.

    Lúc đi trên hành lang trở về phòng mình, tôi liếc nhìn sang bức ảnh chân dung của bà ngoại. Hai mắt của bà nhìn lại, dõi theo tôi. Tôi đang bị theo dõi. Ở khắp mọi nơi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 14/7/16
    teacher.anh, thanhbt, Breeze and 3 others like this.
  15. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 10 (1)

    CẢM GIÁC RỜN RỢN NHƯ BỊ NGƯỜI THEO DÕI quẩn quanh tôi đến tận trường học ngày hôm sau. Tôi không cách nào dứt ra khỏi cảm giác này. Lúc Daniel lái xe vào sân bãi của trường, anh ấy nói, “Em biết gì không, anh nghĩ em nên phơi nắng nhiều nhiều chút.”

    Tôi liếc xéo anh ấy. “Thiệt?”

    “Anh nói vậy là vì thấy em trông có hơi héo hon.”

    “Đã biết,” tôi lạnh nhạt nói. “Nếu anh còn không mau tìm chỗ đỗ, chúng ta sẽ trễ giờ đấy, anh trai ạ.”

    Từ loa xe khe khẽ phát ra tiếng đàn của Rachmanioff (1), nhưng nó không hề có tác dụng giúp xoa dịu tâm tình cáu kỉnh của tôi.

    (1) Sergei Vasilievich Rachmanioff (1873-1943) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano và nhạc trưởng người Nga. Ông được thừa nhận rộng rãi như một trong số những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất trong thời đại của mình, và ở vai trò của một nhà soạn nhạc, ông là một trong những đại diện nổi bật cuối cùng của trường phái lãng mạn trong âm nhạc cổ điển Nga.

    Hay là của Daniel, hiển nhiên. “Anh ngứa ngáy muốn chơi trò xe đụng lắm rồi đấy, ngay tại chỗ luôn,” anh ấy nghiến răng lầm rầm. Tuy chúng tôi xuất phát từ sớm, nhưng vẫn mất bốn chục phút để lái đến trường, và khi đó đã có một hàng dài lê thê những chiếc xe hơi xa xỉ đang chờ chạy vào cổng trường.

    Chúng tôi quan sát hai chiếc xe trong số đó đang tiếp cận từ hai đầu đối diện của bãi xe với ý định tranh giành một chỗ đỗ; một trong hai chiếc thuộc dòng xe Mercedes Sedan màu đen, lốp xe xiết trên mặt đường trong khi người lái điều khiển cho xe phóng vọt vào vị trí đỗ, cắt ngang giữa đường chiếc xe còn lại, một chiếc Focus xanh biển. Người lái chiếc Focus vỗ mạnh lên kèn xe làm chiếc kèn ré lên một tiếng cao vút, chói tai.

    “Điên mà,” Daniel nói.

    Tôi gật đầu và quan sát hai người bước ra khỏi chiếc Mercedes. Tôi nhận ra thác tóc vàng óng hoàn hảo của người lái xe trước cả khi thấy mặt cô ả. Tất nhiên là Anna rồi. Tiếp đó, từ chỗ ghế phụ xuất hiện cái gã bạn tốt luôn như hình với bóng của cô ả, Aiden, cùng với bộ mặt chua chát điển hình của mình.

    Sau đó chúng tôi rốt cuộc cũng tìm được một chỗ đỗ xe, Daniel mỉm cười với tôi trước khi chúng tôi chia tay.

    “Có việc gì cần thì cứ nhắn tin cho anh, biết không? Lời mời ăn trưa cùng anh vẫn còn giá trị đấy.”

    “Em ổn cả mà.”

    Lúc tôi đến lớp Anh ngữ cao cấp cửa lớp vẫn còn mở, nhưng hầu hết chỗ ngồi đều đã có người. Tôi ngồi xuống cái bàn còn trống duy nhất ở dãy bàn thứ hai và bỏ mặc tiếng cười giễu của vài đứa bạn học tôi nhận ra học chung lớp Đại số học II với mình. Giáo viên bộ môn, cô Leib, đang hí hoáy viết gì đó lên bảng. Sau khi hoàn tất, cô ấy quay lại mỉm cười với cả lớp.

    “Chào các trò buổi sáng tốt lành. Trò nào có thể giải thích cho cô từ này có nghĩa là gì không?”

    Cô ấy chỉ tay lên tấm bảng, bên trên viết từ “harmatia”. Lòng tin trong tôi trỗi dậy, bài này tôi đã học trước rồi. Một điểm cộng cho chương trình học của ngôi trường công lập Laurelton. Tôi thoáng nhìn quanh lớp một cái. Không ai giơ tay cả. Ôi, kệ mẹ nó. Tôi giơ tay lên.

    “À, là học trò mới đây mà.”

    Tôi thật sự rất, rất cần bộ đồng phục.

    Cô Leib dựa người lên bàn, nụ cười trên môi đầy chân thành. “Tên của trò là?”

    “Mara Dyer ạ.”

    “Rất vui được biết trò, Mara. Thử xem nào.”

    “Là lỗi nghiêm trọng,” có ai đó gọi to lên. Bằng chất giọng xứ Anh.

    Tôi ngoái lại nhìn, và nhận ra ngay chàng trai ngày hôm qua dẫu cho hôm nay anh ta không ăn mặc cái kiểu đặc biệt lôi thôi như trước—cổ áo mở rộng, nút cravát nới lỏng và tay áo xắn lên. Anh ta trông vẫn thật điển trai, trên môi vẫn treo nụ cười. Tôi nheo mắt nhìn anh ta.

    Cô giáo cũng ngoái lại nhìn. “Cám ơn, trò Noah, nhưng cô gọi Mara trả lời. Và ‘lỗi nghiêm trọng’ cũng không phải là định nghĩa chính xác nhất. Vẫn muốn thử sức chứ, Mara?”

    Tôi muốn, nhất là khi đã biết anh chàng người Anh kia chính là Noah Shaw tiếng tăm lừng lẫy. “Nó có nghĩa là lầm lỗi hoặc thiếu sót ạ,” tôi nói. “Đôi khi hay nói là sai lầm bi đát.”

    Cô Leib gật đầu khen ngợi. “Rất tốt. Cô dám cược là em đã đọc qua hết Three Theban Plays ở trường cũ rồi phải không?”

    “Vâng,” tôi đáp, kiềm chế sự ngượng ngập.

    “Vậy là em đã dẫn trước cả lớp rồi. Mọi người chỉ vừa kết thúc vở Oedipus Rex (2). Trò nào—ngoài Mara—có thể cho cô biết sai lầm bi đát của Oedipus là gì không?”

    (2) Tên Latin của vở “Nhà vua Oedipus”, vở đầu trong Three Theban Plays. Nối tiếp là “Oedipus tại Colonus” và “Antigone”.

    Noah là người duy nhất giơ tay.

    “Hai lần trong cùng một ngày sao, ngài Shaw? Không giống trò ngày thường nha. Được rồi, mời trò hãy bộc lộ trí tuệ sáng chói của mình cho cả lớp được sáng mắt nào.”

    Noah nhìn thẳng vào tôi trong khi cất tiếng. Hôm qua tôi nhầm rồi—mắt anh ta không phải màu xám, mà là màu xanh biển. “Lỗi nghiêm trọng của hắn chính là thiếu sót sự thấu hiểu bản thân.”

    “Hoặc là bởi tính kiêu hãnh của hắn,” tôi phản kích.

    “Một cuộc tranh luận!” Cô Leib vỗ tay. “Tuyệt vời. Cô sẽ càng vui sướng nếu mọi người khác có thể tích cực hơn, ồ đúng rồi.” Cô ấy quay mặt về cái bảng và viết câu trả lời của tôi và Noah lên đó, bên dưới từ “hamartia”. “Cô cho rằng có nhiều lập luận củng cố cho cả hai giả thuyết trên đây; rằng sự thất bại trong việc thừa nhận bản thân—hiểu thấu chính mình—của Oedipus là nguyên nhân dẫn đến sự suy bại của hắn, hay là chính bản tính kiêu hãnh, hoặc nói đúng hơn, là sự ngạo mạn của hắn, đã đưa hắn đến cái kết bi kịch. Cho thứ hai tới, cô muốn mỗi trò nộp một bài luận dài năm trang giấy đưa ra những phân tích xuất sắc của mình về đề tài này.”

    Cả lớp ồ lên rên rỉ.

    “Thôi nào. Tuần sau chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu về các nhân vật phản diện.”

    Sau đó cô ấy tiếp tục bài giảng của mình, hầu như tôi đều đã học qua trước đó. Có chút nhàm chán, tôi lấy ra quyển Lolita (3) yêu dấu của mình, góc sách bị quăn triệt để, rồi giấu nó bên dưới quyển vở của mình. Có lẽ chiếc máy điều hòa trong lớp không hoạt động, mỗi phút trôi qua không khí càng trở nên ngột ngạt. Khi tiếng chuông rốt cuộc cũng reo lên, tôi đã cuồng không khí bên ngoài đến sắp phát điên rồi. Tôi bật người dậy, vô ý đánh đổ chiếc ghế. Tôi cúi người vừa định nâng nó dậy và đặt nó về nguyên vị trí, nhưng chiếc ghế của tôi đã ở trong tay người khác.

    (3) Lolita là một tiểu thuyết của Vladimir Vladimirovich Nabokov (1899 - 1977), xuất bản đầu tiên vào năm 1995 ở Paris. Sau khi được xuất bản, nó đã trở thành một tác phẩm kinh điển và là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất gây ra nhiều tranh cãi nhất trong nền văn chương thế kỷ 20. Nhân vật chính của tiểu thuyết là một người khá nhiều tuổi, có sự ám ảnh về tình dục với một cô gái 12 tuổi.

    Trong tay của Noah.

    “Cám ơn,” khi ánh mắt chúng tôi giao nhau, tôi nói.

    Anh ta lại nhìn tôi bằng vẻ mặt chừng như quen biết và hiểu rõ tôi của ngày hôm qua. Cảm thấy hơi khó chịu, tôi dời ánh mắt và bắt đầu thu thập đồ của mình, sau đó vội vã rời khỏi lớp. Bị xô đẩy giữa đám học sinh đi ngược đường với mình, quyển sách trong tay tôi đánh rơi xuống đất. Một cái bóng phủ lên bìa sách trước khi tôi kịp với lấy nó.

    “Bạn phải là một nghệ sĩ kiêm một kẻ điên, một con người ưu sầu vô tận, để có thể nhận ra tiểu quỷ chết người giữa bầy trẻ lành mạnh chỉ bằng cái nhìn đầu tiên,” anh ấy nói, âm điệu Anh quốc hòa tan vào những câu chữ, giọng anh uyển chuyển và trầm thấp. “Cô đứng ngay đó nhưng không ai nhận ra và chính bản thân cô cũng không ý thức được sức mạnh kỳ diệu của mình.”

    Tôi sững người nhìn, môi hé mở, không nói nên lời. Nếu là bình thường tôi khẳng định đã bật cười, bởi những gì đang diễn ra trước mắt khá là lố bịch. Nhưng cách anh nói, ánh mắt anh nhìn tôi, lại có vẻ thân mật đến lạ lùng. Như thể anh biết hết những bí mật của tôi. Như thể trong mắt anh tôi hoàn toàn trần trụi. Tôi chưa kịp nghĩ ra nên đáp lại thế nào, Noah đã khom lưng nhặt quyển sách lên.

    “Lolita,” anh ấy nói, lật quyển sách lại. Ánh mắt vờn quanh đôi môi chúm chím phấn hồng trên bìa sách, rồi trao trả nó cho tôi. Ngón tay chúng tôi chạm khẽ, một dòng hơi ấm lan tỏa. Trái tim tôi đập như sấm rền vang dội đến mức có lẽ chính anh ấy cũng nghe thấy được.

    “Hóa ra,” anh ấy nói, ánh mắt lần nữa khóa vào tôi. “Cô là fan cuồng của dòng văn học khiêu dâm về đề tài sắc dục giữa cha và con gái à?” Khóe miệng anh chậm rãi cong lên một nụ cười kẻ cả.

    Tôi thật muốn bạt tai một phát cho cái nụ cười đó biến mất khỏi khuôn mặt anh ta. “Ờ, còn anh đang trích dẫn nó đấy thôi. Mà cũng không hoàn toàn chính xác. Thế thì anh là gì?”

    Nụ cười nửa miệng của anh ta mở rộng. “Ồ, mũi tôi đánh hơi loại đề tài dâm dục này rất thính đấy.”

    “Ờ, xem ra tôi đã bị anh vạch trần rồi.”

    “Còn chưa đâu.”

    “Ông hoàng ass (4),” tôi lầm bầm, cất bước đi đến lớp học kế tiếp. Tôi không cảm thấy hay ho gì khi chửi tục một người hoàn toàn xa lạ. Nhưng chính anh ta khơi mào trước.

    (4) Asscrown. Crown: vương miện.

    Noah đuổi theo. “Ý cô là ‘thằng hề ass (5)’ chăng?” Anh ta trông có vẻ khoái trá lắm.

    (5) Assclown. Clown: thằng hề.

    “Không,” lần này tôi lớn tiếng nói. “Ý tôi là ông hoàng ass. Vương miện ông hoàng trên đầu cái tên khốn kiếp nào đó che cái mông thối của thằng hề ass ấy. Đỉnh điểm của các cấp bậc ass,” tôi nói luôn một tràng, như đang đọc định nghĩa từ một quyển từ điển chửi tục.

    “Ờ, xem ra tôi bị cô vạch trần rồi.”

    Còn chưa đâu.

    Những từ này bất chợt lóe lên trong đầu, và khi cánh cửa lớp Đại số học vừa xuất hiện trước mắt tôi liền lủi vào trong tránh xa anh ta.
     
  16. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 10 (2)

    Tôi ngồi ở phía cuối, hy vọng có thể trốn tránh những ánh mắt săm soi như của ngày hôm qua, và thất lạc trong bài giảng nghe mà không hiểu nổi. Tôi hé mở quyển Lolita và giấu nó dưới túi xách. Tôi lại lấy ra giấy vẽ biểu đồ, rồi bút chì. Sau đó lại đổi cây bút chì khác. Noah đang quấy rối tâm tư tôi. Không ổn.

    Bỗng nhiên Anna nghiêm trang tiến vào phòng học, đồng hành cùng anh bạn hơi bị lớn tướng của cô ả, cắt ngang suy nghĩ vẩn vơ của tôi. Cặp đôi bước đi như một tổ hợp tà ác. Cô ả bắt gặp tôi đang nhìn, tôi vội quay đi, mặt hơi ửng đỏ. Qua khóe mắt, tôi nhác thấy cô ả đang quan sát tôi trong lúc ngồi xuống ở dãy bàn thứ ba.

    Khi thấy Jamie trườn vào chỗ ngồi bên cạnh, lòng tôi nhẹ nhõm không thôi. Cho tới hiện tại cậu ấy là người bạn duy nhất của tôi ở Croyden.

    “Sao rồi?” Cậu ấy hỏi, miệng cười toe toét.

    Tôi cũng cười. “Không bị chảy máu mũi.”

    “Vẫn chưa,” Jamie nói, nháy mắt một cái. “Thế cậu đã gặp những ai rồi? Người nào thú vị không? Tất nhiên là ngoài tớ ra.”

    Tôi lí nhí đáp, tay vẽ nguệch ngoạc trên tờ giấy vẽ biểu đồ. “Thú vị à? Không có. Đồ khốn thì có đấy.”

    Lúm đồng tiền bên má Jamie hằn càng sâu. “Để tớ đoán nhé. Một tên khốn nào đó với phong cách lôi thôi và một nụ cười rơi sịp?”

    Có lẽ.

    Jamie gật đầu. “Mặt cậu đỏ rần chứng tỏ tớ đoán đúng rồi.”

    “Có lẽ,” tôi hờ hững nói.

    “Vậy là cậu đã gặp Shaw. Anh ta nói gì với cậu?”

    Tôi thầm nghĩ sao Jamie lại có hứng thú như vậy. “Anh ta là một thằng khốn.”

    “Ừ, nãy cậu nói rồi. Ngẫm lại,” Jamie mở đầu, “tất cả bọn họ đều nói như vậy. Thế nhưng anh chàng vẫn ngụp lặn trong—”

    “Được rồi, mọi người hãy lấy ra bài tập của mình và chuyền lên phía trước đi nào.” Thầy Walsh đứng dậy, viết một phương trình lên tấm bảng đen.

    “Hình dung không tồi,” tôi thì thào với Jamie. Cậu ấy nháy mắt với tôi, còn Anna thì xoay lại lườm tôi.


    Ngày thứ hai của tôi trôi qua trong một biển những việc đơn điệu và nhàm chán. Nghe giảng, bài tập về nhà, nghe giáo viên kể chuyện cười vô duyên, bài tập về nhà, bài làm tại lớp, rồi lại bài tập về nhà. Tan trường, Daniel đang chờ tôi ở vòng ngoài khu trường sở, tôi mừng rỡ khi thấy anh.

    “Chào em gái,” anh ấy gọi. “Nhanh chân lên để chúng ta họa may còn kịp rời khỏi đây trước khi lối ra duy nhất bị ùn tắt.” Tôi vâng lời, sau đó anh lại hỏi, “Buổi học thứ hai có khá hơn buổi đầu chút nào không?”

    Tôi nghĩ đến ngày hôm qua. “Tương đối,” tôi nói. “Nhưng chúng ta có thể đừng bàn về em có được không? Anh thì thế nào?”

    Anh ấy nhún vai. “Như thường. Người ở đâu thì cũng vậy thôi. Không mấy ai đặc biệt.”

    Không mấy ai? Vậy là cũng có người đặc biệt rồi?”

    Anh ấy đảo tròn mắt. “Vài người.”

    “Nào nào, Daniel. Sự phấn khởi khi mới đến Croyen của anh đâu rồi? Kể em nghe xem.”

    Daniel tuân mệnh rồi kể lại sơ lược tình hình lớp năm cuối của anh, khi chúng tôi về đến nhà thì anh đang giữa chừng đoạn kể về một bạn nữ chơi vĩ cầm xuất chúng trong lớp học nhạc của mình. Từ phòng khách ầm ĩ truyền ra âm thanh phát sóng tin tức, nhưng cha mẹ còn chưa về nhà. Chắc hẳn là em trai tôi rồi.

    “Joseph?” Daniel hét lớn qua tiếng ồn huyên náo.

    “Daniel?” Thằng nhóc gào lên đáp.

    “Mẹ đâu rồi?”

    “Mẹ đi mua thức ăn tối rồi; tối nay cha về sớm.”

    “Em làm bài tập chưa hả?” Daniel lật xem mớ thư tín đặt trên bàn ăn.

    “Anh làm chưa?” Joseph hỏi lại, chẳng màng ngước nhìn.

    “Chuẩn bị làm, tuy nhiên anh không phải là đứa đang mê mẩn xem—em xem gì đấy?”

    “CNBC (6).”

    (6) Consumer News and Business Channel là kênh truyền hình chuyên về tin tức thương mại và tài chính.

    Daniel khựng lại. “Sao lại xem đài đó?”

    “Đài này có cung cấp thông tin khái quát về xu hướng thị trường hiện nay,” Joseph trả lời mà không hề rời mắt khỏi TV.

    Daniel và tôi trao đổi ánh mắt với nhau. Rồi anh ấy giơ lên một phong bì dày cộm không có địa chỉ trả lại. “Ai gửi cái này đây?”

    “Thân chủ mới của cha vừa đến đây đưa nó, vài giây sau thì anh chị về tới.”

    Sắc mặt Daniel thoáng thay đổi.

    “Sao vậy?” Tôi hỏi anh.

    Vẻ mặt anh nhanh chóng trở lại bình thường. “Không có gì.”

    Anh ấy đi về phòng, chốc lát sau, tôi cũng về phòng mình, bỏ lại Joseph đối mặt với hậu quả bị bắt quả tang xem tivi trong khi còn chưa làm bài tập. Chẳng qua, thằng nhóc thế nào cũng sẽ dùng cái miệng dẻo quẹo của mình để thoát khỏi móng vuốt của cha mẹ chỉ trong vòng năm giây cho xem.

    Một lát sau, có người gõ mạnh vào cửa phòng của tôi kéo tôi bừng tỉnh khỏi sự đắm chìm trong quyển sách giáo khoa tiếng Tây Ban Nha, môn học mà tôi khẳng định là đáng ghét nhất. Còn tệ hơn cả môn toán.

    Cha tôi ló đầu qua khe cửa hé mở. “Mara?”

    “Cha! Chào cha.”

    Cha tôi bước vào trong phòng, rõ ràng là trông rất mệt mỏi nhưng không có một chút nhếch nhác nào, mặc dù suốt cả ngày ông phải mặc một bộ đồ vest. Ông ngồi xuống giường bên cạnh tôi, chiếc cravát lụa của ông bắt sáng.

    “Ngôi trường mới thế nào hả con gái?”

    “Sao mọi người luôn hỏi con về chuyện trường học chứ?” Tôi nói. “Có nhiều đề tài khác lắm cơ mà.”

    Ông làm ra vẻ sửng sốt. “Ví như?”

    “Như là thời tiết này. Hay là thể thao này.”

    “Con ghét thể thao mà.”

    “À, nhưng con ghét trường học hơn.”

    “Đã hiểu,” cha tôi mỉm cười và nói.

    Sau đó ông bắt đầu kể chuyện ở công sở, và đang giữa chừng kể cho tôi nghe về chuyện hôm nay có một viên trợ lý luật sư bị chánh án chỉ trích mạnh mẽ do mang “giày cao gót kiểu ăn chơi”, thì mẹ gọi chúng tôi xuống ăn tối. Có sự hiện diện của cha, mọi người trò chuyện thoải mái và vui vẻ hơn, tối đó tôi dễ dàng đi vào giấc ngủ.

    Nhưng giấc ngủ không kéo dài được lâu.


    TRƯỚC ĐÓ
    Tôi hé mở mắt khi tiếng đập cửa sổ vang lên càng lúc càng lớn không thể làm lơ được nữa. Hình bóng xuất hiện ngoài cửa sổ dán sát vào mặt kính, nhìn vào trong phòng. Tôi biết đó là ai, và cũng không ngạc nhiên khi thấy anh ta. Tôi vùi mình dưới lớp chăn ấm áp, mong rằng anh ta sẽ bỏ đi.

    Anh ta lại tiếp tục gõ. Thật đen đủi.

    “Em đang ngủ,” tôi lầm bầm dưới chăn.

    Anh ta càng dùng sức gõ lên tấm kính, làm cho cánh cửa sổ cũ kỹ rung lách cách trong khung cửa gỗ. Cứ tiếp tục như vậy, anh ta dù không đập vỡ kính, thì cũng đánh thức cha mẹ tôi thôi. Cả hai tình huống đều không hay ho gì.

    Tôi nhích người đến gần cửa sổ phòng ngủ, hé ra một khe hở.

    “Em không có nhà,” tôi thì thầm đủ lớn để nghe.

    “Buồn cười ghê nhỉ.” Jude mở toang cánh cửa sổ, một luồng khí lạnh ùa vào làm tôi rùng mình. “Anh lạnh đến mông cũng sắp đông cứng luôn ở ngoài này rồi nè.”

    “Vấn đề đó có một cách giải quyết đơn giản thôi.” Tôi khoanh hai tay lại trước chiếc áo ba lỗ của mình.

    Jude có vẻ nghi hoặc. Ánh mắt anh ta bị che khuất dưới vành chiếc mũ bóng chày, nhưng rõ ràng là đang đánh giá trang phục về đêm của tôi.

    “Ôi trời. Em còn chưa mặc đồ.”

    “Em có mặc đồ. Nhưng là mặc đồ đi ngủ. Em mặc đồ ngủ là vì hiện giờ đang là hai giờ sáng.”

    Anh ta nhìn tôi, trợn to mắt chế giễu. “Em quên rồi phải không?”

    “Ừ,” tôi nói dối. Tôi hơi nhoài người ra ngoài cửa sổ, nhìn xuống đường lái xe đến nhà tôi. “Các cậu ấy đang chờ trong xe sao?”

    Jude lắc đầu. “Hai cô nàng đến nhà thương điên trước rồi. Chỉ còn chúng ta thôi. Đi nào.”

    Chi Chi: Chiều tối nay mình bận không thể chạm máy nên tranh thủ post sớm. Chúc mọi người một ngày mới tốt lành. :)
     
  17. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 11
    TÔI CHOÀNG TỈNH GIẤC LÚC NỬA ĐÊM đẫm trong mồ hôi và nỗi kinh hoàng, với một tiếng thét nghẹn trong cổ họng, lồng ngực nặng trình trịch. Tôi nhớ rồi. Tôi nhớ lại rồi. Ký ức tràn về như thủy triều đánh tới khiến tôi đau đớn. Jude xuất hiện bên ngoài cửa sổ phòng tôi, anh ta đến để đón và đưa tôi đến nơi Rachel với Claire đang chờ.

    Đêm ấy tôi đã đến cái viện tâm thần như thế. Ký ức không đáng sợ, cái đáng sợ là nó thật sự tồn tại. Hoặc có lẽ không phải đáng sợ—mà là kích thích. Mọi tế bào trong tôi nói cho tôi biết tư duy trong vô thức của mình đã không sáng tạo ra nó—ký ức đó có thật. Tôi tìm kiếm trong mọi ngõ ngách của ý thức, cố gắng tra ra thêm những thông tin khác nhưng không thu hoạch được gì, không cả một chút manh mối vì sao chúng tôi lại đến đó.

    Mỗi sợi huyết quản trong tôi được bơm tràn adrenaline (1) khiến tôi không cách nào ngủ tiếp được. Giấc mơ ấy—ký ức ấy—cứ chiếu đi chiếu lại như một thước phim, quấy rối tâm trí tôi. Sao tự nhiên nó lại đột ngột trở về? Tôi có thể làm gì đây? Tôi nên làm cái gì đây? Tôi cần phải nhớ lại cái đêm tôi đã vĩnh viễn mất đi Rachel—vì cậu ấy. Vì chính tôi. Bất luận mẹ tôi có không đồng ý chăng nữa; bà sẽ nói, ý thức của con đang tự bảo vệ khỏi sự tổn thương tâm lý. Ép buộc nó nhớ lại rất “không lành mạnh”.

    (1) Adrenaline là hormone tiết ra từ tuyến thượng thận và bơm thẳng vào máu khi cơ thể căng thẳng, khẩn trương. Adrenaline làm tăng nhịp tim, tăng áp lực bơm máu... Nếu một lượng lớn adrenaline được phóng thích vào máu sẽ gây nên tình trạng cực kỳ phấn khích và tăng động mạnh.

    Sau đêm thứ hai cùng mơ một giấc mơ, cùng trải nghiệm một nỗi kinh hoàng, tôi lặng lẽ thầm tán thành ý kiến của bà. Ngày hôm đó ở trường, tôi luôn trong trạng thái thần kinh căng thẳng cực độ, thậm chí ngày tiếp theo cũng tương tự. Gió ở Miami mang theo hơi nóng oi ả nhưng hai cánh tay tôi lại có cảm giác ớn lạnh như đang trong khí trời tháng mười hai ở New England. Mỗi khi nhắm mắt, tôi lại thấy hình ảnh Jude bên cửa sổ phòng ngủ của mình. Tôi nghĩ đến Rachel và Claire đang chờ tôi. Ở viện tâm thần. Viện tâm thần.

    Nhưng với đủ thứ chuyện phải lo ở Croyden, điều tôi cần thiết nhất chính là thả lỏng. Do đó, vào buổi sáng hôm thứ sáu tôi đã đặt sự chú tâm của mình vào mọi chi tiết nhỏ nhặt nhất. Bầy muỗi tụ thành những cột xoắn ốc khiến tôi suýt tí nữa đã bị sặc vào mồm mũi lúc vừa bước ra khỏi xe của Daniel trong bãi đỗ xe. Không khí ẩm ướt ngột ngạt. Bất kỳ thứ gì có thể giúp tôi không phải nhớ đến giấc mơ kia, ký ức nọ, mà đã trở thành một phần trong tiết mục hằng đêm của tôi. May là sáng nay Daniel có hẹn tái khám răng. Tôi quả thật không có hứng nói chuyện.

    Lúc tôi đến trường, bãi đỗ xe hãy còn trống trải. Tôi đã ước đoán hơi quá thời gian cần thiết để lái xe đến đây vào giờ cao điểm. Sấm sét chớp giật giữa những cụm mây màu tía giăng khắp bầu trời đằng xa như một tấm chăn u ám. Trời sắp mưa rồi, nhưng tôi không thể ngồi yên một chỗ. Tôi cần phải làm gì đó, phải di chuyển, để đẩy lùi cái ký ức đang ăn mòn tâm trí mình.

    Tôi mở cửa xe và bắt đầu rảo bước, đi ngang qua một số lô đất trống, hoang phế và mấy ngôi nhà xiêu vẹo tồi tàn. Tôi không rõ mình đã đi được bao xa cho tới khi nghe thấy một tiếng rên ư ử.

    Tôi dừng lại, dỏng tai lắng nghe âm thanh đó. Trước mặt tôi là một tấm rào lưới, được gia cố bởi dây kẽm gai. Không có cỏ dại, chỉ là một khoảnh đất nâu vàng với đôi ba chỗ đất bùn lầy lội từ trận mưa đêm qua. Những món đồ tạp nhạp bỏ đi vứt bừa bãi khắp nơi như các bộ phận máy móc, mẩu giấy các tông, và rác rưởi. Còn có một đống gỗ xẻ chất chồng to tướng. Đinh ốc rải rác trên mặt đất.

    Tôi rón rén bước tới hàng rào kẽm gai, nhón chân để quan sát khắp dải đất. Không có gì hết. Tôi lại ngồi xổm, hy vọng có thể thấy được gì từ một góc nhìn khác. Ánh mắt phóng đến một đống linh kiện xe hơi hổ lốn, quét qua mớ rác rưởi rải đầy trên đất sang đến chồng gỗ. Bộ lông ngắn củn, màu nâu vàng của con chó gần như hòa lẫn vào trong bụi đất bên dưới mớ gỗ được chất một cách bấp bênh. Đó là một cô chó cái, gầy mòn, bộ xương nhô lên lồ lộ bên dưới lớp da loang lổ của nó. Co rúc người thành một cuộn tròn nhỏ nhoi, nó run bần bật dẫu dưới cái nóng ngột ngạt. Trên cái mõm đen của nó có vô số vết xẹo, hai lỗ tai tả tơi đến gần như mất tăm ở phía sau đầu.

    Tình trạng của đứa nhỏ này rất, rất tệ.

    Tôi nhìn quanh tìm kiếm lối vào sân nhưng không thấy. Tôi cúi xuống và dùng chất giọng dịu dàng nhất và cao nhất có thể để gọi cô nhóc. Cô nhóc bò ra khỏi đống gỗ, chầm chậm và dè dặt bước tới hàng rào, nhìn qua những ô kẽm bằng đôi mắt nâu ướt át của mình.

    Tôi chưa từng gặp qua một sinh vật thảm thương như đứa nhỏ này. Tôi không thể bỏ mặc nó trong tình trạng như vậy được. Tôi sẽ phải cứu con bé ra cho dù có phải trốn tiết.

    Đó cũng là lúc tôi để ý thấy cái vòng cổ.

    Chiếc vòng cổ bằng da được khóa lại bằng một chiếc móc khóa, nối liền với một sợi dây xích nặng nề đến mức khó có thể tin con chó còn có thể đứng nổi. Nó thậm chí không cần đóng cọc xuống đất; cô nhóc không thể đi đâu với cái thứ đó trên cổ.

    Tôi vuốt ve mõm của cô nhóc qua hàng rào và đánh giá khả năng có thể tuột chiếc vòng cổ đó ra khỏi cái đầu to nhưng xương xẩu của nó. Tôi dỗ dành cô nhóc đến gần hơn để có thể sờ xem nó siết chặt đến mức nào, nhưng khi tôi vừa chạm tay đến bên dưới chiếc vòng, một giọng nói âm mũi lè nhè thình lình phát ra từ vị trí cách tôi chỉ hơn mét đánh vỡ sự tĩnh lặng.

    “Mày đang làm trò khỉ gì với con chó của tao đấy hả?”

    Tôi ngước nhìn lên. Gã đàn ông đó đứng cùng bên hàng rào với tôi, còn rất gần. Quá gần. Sao tôi lại không nghe thấy tiếng gã ta tiếp cận chứ. Gã ta mặc một chiếc áo ba lỗ nhơ nhuốc cùng với chiếc quần jean rách rưới, bộ tóc dài nhớp nhúa chỉ còn lại lưa thưa ở nửa sau đầu.

    Nên nói cái gì với chủ nhân của con chó mà mình tính toán ăn trộm đây?

    “Xin chào.”

    “Tao hỏi mày đang làm trò khỉ gì với con chó của tao đấy.” Gã ta nheo cặp mắt xanh ướt át, đỏ ngầu nhìn tôi trân trân.

    Tôi nhịn xuống khao khát muốn quơ lấy một cây gỗ đập cho gã ta tới chết, trì hoãn giây lát, câu hỏi treo lửng trên không. Là một đứa con gái vị thành niên, lại không rõ tên khốn kiếp này có giấu dao hay súng trong túi quần hay không, sự lựa chọn của tôi rất hạn chế.

    Tôi dùng giọng nói hồn nhiên và ngây thơ nhất của mình. “Tôi đang trên đường đến trường thì bắt gặp cô nhóc này! Cô nhóc thật đáng yêu, là giống chó gì vậy?” Hy vọng lời này đủ để ngăn chặn gã ta nổi máu cướp bóc tôi cho bữa sáng của mình. Tôi nín thở.

    “Nó là giống pit bull, chưa thấy bao giờ à?” Gã ta nhổ ra một bãi chất dịch ghê tởm trên mặt đất.

    Thấy thì thấy rồi đấy, nhưng xác xơ gầy còm thế này thì chưa. Tôi chưa từng gặp qua chú chó nào, hay con vật nào, gầy trơ xương đến vậy. “Chưa. Con chó thật tuyệt! Nó ăn có nhiều không?” Một câu hỏi ngu hết sức. Cái mồm tôi mà cứ thiếu bộ lọc thế này hoài thì sớm muộn cũng sẽ bị nó hại chết. Ngay hôm nay biết đâu chừng.

    “Mày quan tâm làm quái gì?”

    Chà, chà. Nên làm lớn lên, hay là về nhà.

    “Nó rõ ràng là bị bỏ đói gần chết rồi, còn sợi dây xích xiềng quanh cổ nó quá nặng nề. Hai lỗ tai thì bị gặm cắn, trên mặt đầy sẹo. Đây là cách chăm sóc của ông với nó sao?” Tôi nói, giọng vút cao lên. “Nó không nên chịu đựng sự hành hạ tàn nhẫn này.” Tôi bắt đầu mất kiểm soát.

    Gã nghiến chặt hàm, cơ bắp trên thân căng cứng. Gã ta sáp tới trước mặt tôi. Tôi nín thở nhưng vẫn đứng vững ở đó.

    “Mẹ mày, mày nghĩ mày là ai?” Gã ta rít lên, một giọng khàn đặc khó nghe. “Cút xéo khỏi đây ngay. Và đừng để tao trông thấy mày lảng vảng quanh đây, bằng không lần sau tao sẽ không dễ dàng buông tha cho mày đâu.”

    Tôi không kềm được mà hít vào một hơi, một mùi thối xộc ngay vào mũi. Tôi cúi nhìn con chó, nó đang co rúm né tránh chủ nhân của mình. Tôi không muốn bỏ nó lại, nhưng tôi không nghĩ ra được cách nào có thể vượt qua được các chướng ngại trước mắt: hàng rào kẽm gai, vòng cổ khóa liền với sợi dây xích nặng trịch. Còn gã chủ của nó nữa. Thế nên tôi dời ánh mắt, đành lòng cất bước rời đi.

    Ngay sau đó, một tiếng rú vang lên.

    Lúc tôi quay ngoắt lại, con chó đang co ro thu mình ôm sát mặt đất. Gã chủ của nó nắm trong tay sợi dây xích nặng trĩu. Chắc chắn gã ta vừa mới giật mạnh nó.

    Tên khốn nạn bệnh hoạn đó nhếch miệng cười với tôi.

    Một nỗi hận thù xâm chiếm lấy tôi, ngập tràn chực trào. Tôi chưa bao giờ căm hận ai như căm hận gã đàn ông này vào giờ phút đó; các ngón tay tôi run lên bần bật bởi những ý tưởng bạo lực bị đè nén. Vì vậy, tôi xoay người chạy, để giải tỏa bớt sự run rẩy của tứ chi bởi cơn thịnh nộ đang sôi sục từ nơi sâu thẳm tối tăm nhất mà tôi không ngờ có tồn tại. Hai chân nện trên mặt đường lát, ước chi chúng có thể giẫm nát nụ cười trên bộ mặt dơ bẩn của gã ta. Khi ý niệm đó đóng đinh trong não, cảnh tượng đó như hiện ra trước mắt tôi. Đầu lâu của gã thô bỉ ấy bị lún vào trong, lộ ra một cái hốc nhão nhoẹt ở một bên đầu. Một đoàn ruồi nhặng dày đặc lấp kín mồm miệng gã. Một vũng máu đen ngòm, lan rộng quanh thi thể gã nhuộm đỏ nền đất cát bên cạnh chồng gỗ.

    Gã đáng tội chết.
     
  18. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 12

    NGƯỜI ĐẪM MỒ HÔI, HÔ HẤP DỒN DẬP, TÔI đi đến bãi đỗ xe, gần lối vào khuôn viên trường, vừa đi vừa xem đồng hồ. Còn bảy phút trước khi lớp Anh ngữ bắt đầu. Tôi cầm lấy túi xách từ trong xe ra, chạy nước rút đến lớp và đến nơi vừa kịp lúc chuông reo. Quá khéo.

    Cô Leib đóng cửa lại sau lưng tôi, còn tôi đi đến chiếc bàn trống gần nhất ngồi vào. Noah cũng có mặt, dáng vẻ nhàm chán, lơ đễnh và lôi thôi như mọi khi. Anh ta ngồi ở chỗ của mình, trên bàn không đặt sách vở gì cả, ấy thế mà anh ta vẫn có thể trôi chảy trả lời mọi câu hỏi cô Leib đặt ra một cách chính xác mỗi khi bị gọi. Bày đặt.

    Bài giảng phai mờ vào nền và tôi bắt đầu suy nghĩ lan man. Tôi cần phải làm gì đó cho con chó. Tìm cách cứu giúp nó. Tôi chỉ mới bắt đầu hình dung ra một kế hoạch đáng ngờ mà trong đó cần đến việc sử dụng các công cụ như kềm cắt kẽm, mặt nạ trùm đầu, và một cây chùy thì chuông reo báo hết giờ. Tôi bước đi về phía cửa, nóng lòng đến lớp học tiếp theo, nhưng bên ngoài đã có một đám đông chen chúc tụ tập, chắn mất lối ra vào.

    Lúc tôi rốt cuộc cũng thoát ra khỏi vòng vây của lớp học, tôi thấy mình đang nhìn thẳng vào mặt Anna. Mũi cô ả nhăn lại trong sự ghê tởm.

    “Bộ cô không tắm bao giờ à?”

    Chắc do sáng nay phải chạy điên cuồng nên trên người tôi có mùi mồ hôi, tuy nhiên tôi không có tâm trạng đi chịu đựng cái miệng thối của cô ả. Ít ra thì không phải hôm nay. Tôi mở miệng, sẵn sàng văng tục.

    “Tôi lại ưa mùi mồ hôi bình dị hơn xa hương nước hoa nồng nặc, cô không tán thành à, Anna?”

    Chất giọng đó chỉ có thể là của Noah. Tôi ngoái lại nhìn. Anh ta đứng sau lưng tôi, treo trên mặt một nụ cười như có như không.

    Đôi mắt xanh của Anna trợn trừng. Khuôn mặt cô ả chuyển hóa từ cay nghiệt sang vẻ ngây thơ. Cứ như tà thuật vậy.

    “Nếu như đây là hai sự lựa chọn duy nhất của anh, thì vâng, Noah, em đồng ý với anh. Nhưng em thì em không ưa cái nào hết.”

    “Tôi lại tưởng là ngược lại ấy chứ,” Noah nói.

    Có vẻ đó không phải là câu trả lời cô ả mong đợi từ anh ta. “T-tùy anh,” cô ả lắp bắp, lần nữa dồn ánh mắt về hướng tôi và tặng cho tôi một cái lườm sắc như dao nhọn trước khi rời đi.

    Hay thật. Bây giờ thì cô ả và tôi thật sự là có “chuyện” rồi đấy.

    Tôi quay lại mặt đối mặt với Noah. Anh ta ném cho tôi một nụ cười xấc láo, khiến tôi xù lông lên. “Anh không cần thiết phải can thiệp,” tôi nói. “Tôi có thể tự giải quyết.”

    “Một lời cám ơn đơn giản là đủ.”

    Mưa lại bắt đầu lộp độp rơi trên nóc che của lối đi bộ. “Tôi thật sự đang vội đến lớp,” tôi nói, bước chân nhanh hơn. Noah đuổi theo.

    “Tiết kế của cô là gì?” Anh ta hờ hững hỏi.

    “Đại số học II.” Đi chỗ khác đi. Người tôi nồng mùi lắm. Mà anh cũng quấy nhiễu tôi ghê gớm.

    “Tôi đi với cô.”

    Thất bại. Tôi chuyển túi xách sang vai bên kia, chuẩn bị tinh thần trước một cuộc đi bộ lặng thinh và lúng túng. Bỗng dưng, Noah kéo chiếc túi của tôi, buộc tôi phải dừng lại.

    “Cô vẽ đó à?” Anh ta hỏi, chỉ vào hình vẽ graffiti trên túi xách của tôi.

    “Ừ.”

    “Cô rất có khiếu,” anh ta nói. Tôi quan sát nét mặt anh ta. Không có sự mỉa mai. Không có vẻ nhạo báng. Có đáng tin không?

    “Cám ơn,” tôi đáp, giọng dịu đi.

    “Đến lượt cô.”

    “Làm gì?”

    “Khen ngợi tôi.”

    Tôi làm lơ anh ta.

    “Chúng ta có thể cứ tiếp tục đi trong im lặng, Mara ạ, hoặc cô có thể tìm hiểu một chút về con người tôi cho tới khi chúng ta đến lớp học.”

    Anh ta thật phiền phức. “Cái gì làm anh nghĩ rằng tôi tò mò về con người anh?” Tôi hỏi.

    “Không gì cả,” anh ta đáp. “Thật ra, tôi khá chắc chắn cô hoàn toàn không tò mò về tôi. Đó mới là điều làm tôi hứng thú.”

    “Tại sao?” Lớp học của tôi ở cuối dãy hành lang này. Sắp tới rồi.

    “Bởi vì hầu như cô gái nào tôi gặp ở đây đều hỏi tôi đến từ đâu khi nghe thấy khẩu âm của tôi. Và thường thì họ cực kỳ phấn khởi khi được may mắn trò chuyện cùng tôi.”

    Ôi trời, cao ngạo đến thế là cùng.

    “Tiện thể nói luôn, là giọng Anh đấy.”

    “Ờ, tôi nghe ra được.” Chỉ còn hơn ba mét nữa thôi.

    “Tôi sinh ra ở Luân Đôn.”

    Hơn hai mét. Không định đáp lại.

    “Cha mẹ tôi chuyển từ Anh quốc đến đây vào hai năm trước.”

    Hơn một mét.

    “Tôi không đặc biệt thích màu nào hết, nhưng tôi cực ghét màu vàng. Một màu sắc tởm lợm.”

    Hơn nửa mét.

    “Tôi biết chơi đàn ghita, thích chó, và ghét Florida.”

    Noah Shaw chơi bẩn. Ấy vậy mà, tôi lại thấy mình mỉm cười. Chúng tôi rốt cuộc cũng đến lớp rồi.

    Tôi vọt đến phía cuối phòng học và đóng cọc ở một cái bàn trong góc.

    Noah theo sau đi vào. Anh ta căn bản không có học lớp này.

    Noah ngồi vào chỗ kế bên, tôi cố tình không đếm xỉa đến bộ đồng phục ôm sát lấy thân hình thon dài của anh ta lúc anh ta ngồi xuống. Jamie bước vào lớp rồi ngồi ở bàn phía bên kia của tôi, ném cho tôi một ánh mắt đầy thâm ý rồi lắc lắc đầu. Tôi lấy ra giấy vẽ đồ thị và chuẩn bị tính toán. Trên thực tế là viết viết vẽ vẽ linh tinh cho đến khi thầy Walsh đi thu bài tập về nhà tối qua. Thầy ấy dừng ở bàn Noah đang ngồi.

    “Thầy có thể giúp gì cho trò, trò Shaw?”

    “Hôm nay em đến lớp thầy dự thính ạ, thưa thầy Walsh. Em rất cần được ôn lại chút kiến thức về Đại số học.”

    “Ờ,” thầy Walsh lạnh nhạt nói. “Trò có phiếu xin phép không?”

    Noah đứng dậy rời khỏi phòng học. Trong lúc thầy Walsh sửa bài tập về nhà tối qua, quả nhiên, anh chàng đã quay lại và giao cho thầy ấy một tờ giấy. Thầy ấy không nói gì, rồi Noah trở về chỗ ngồi bên cạnh tôi. Trường học kiểu gì thế này?

    Khi thầy Walsh bắt đầu tiếp tục giảng bài, tôi lại điên cuồng vẽ nguệch ngoạc trong vở của mình và bỏ ngoài tai bài giảng của thầy. Con chó. Noah khiến tôi phân tâm quá rồi, bây giờ tôi cần phải tập trung suy tính một kế hoạch để cứu nó.

    Cả buổi sáng hôm đó suy nghĩ về con chó tràn ngập đầu óc tôi. Tôi không nghĩ đến Noah, mặc dầu anh ta nhìn tôi chằm chằm suốt cả tiết Đại số học bằng sự chăm chú của một con mèo con chơi đùa cùng cuộn len của mình. Tôi không liếc mắt anh ta lấy một cái trong khi ghi chép, và cũng không chú ý đến vẻ mặt thích thú không đổi trên gương mặt anh ta trong khi quan sát dáng vẻ chộn rộn không yên của tôi.

    Cũng không để ý đến thói quen duỗi những ngón tay thon dài cào tóc cứ mỗi năm giây của anh ta.

    Hay là cử động vuốt mày mỗi khi thầy Walsh đặt vấn đề cho tôi.

    Hay là bộ dáng anh ta chống tay lên bờ má thô ráp và chỉ...

    Nhìn tôi chăm chú.

    Khi lớp học cuối cùng cũng kết thúc, Anna trông như muốn giết người, Jamie thì đã chuồn đi trước khi tôi kịp nói tiếng nào, còn Noah chờ tôi thu thập sách vở của mình. Anh ta không mang theo gì cả. Không tập. Không sách. Không túi. Thật kỳ quái. Có lẽ anh ta đã nhận ra sự thắc mắc của tôi bởi vì khi đó nụ cười lưu manh trên mặt anh ta đã trở lại.

    Tôi đã quyết định lần sau gặp anh ta tôi sẽ mặc đồ màu vàng. Vàng rực từ đầu đến chân luôn, nếu tôi có thể xoay xở.

    Chúng tôi đi trong im lặng cho đến khi một cánh cửa xoay phía trước thu hút sự chú ý của tôi.

    Nhà vệ sinh. Ý tưởng tuyệt vời.

    Lúc chúng tôi đến đó, tôi quay sang nói với Noah.

    “Tôi sẽ vào trong này khá lâu đấy. Anh có lẽ không muốn chờ đâu.”

    Tôi thoáng thấy biểu tình kinh dị trên mặt anh ta trước khi dùng sức đẩy cửa vào trong. Thắng rồi.

    Trong nhà vệ sinh có vài cô gái không rõ độ tuổi, nhưng họ cũng không để ý đến tôi và rời khỏi. Tôi mừng vì có thể thoát khỏi Noah, trong lòng cố đè nén chút tò mò muốn biết anh ta thích chơi bản nhạc nào bằng đàn ghita. Jamie đã cảnh báo trước với tôi về chuyện vớ vẩn này; Noah chỉ đang đùa giỡn với tôi, và tôi mới là đồ ngu nếu quên đi lời cảnh báo đó.

    Chuyện này không quan trọng. Con chó mới là quan trọng. Trong tiết Đại số học, trong khi phớt lờ Noah, tôi đã quyết định sẽ gọi cho cơ quan Kiểm Soát Động Vật và tố cáo tên khốn nạn hành hạ súc vật kia. Tôi lấy ra di động. Chắc hẳn sau cuộc gọi của tôi, bọn họ sẽ cử người đến kiểm tra và phát hiện ra tình trạng nguy kịch của con chó. Sau đó họ sẽ cứu nó ra khỏi nơi đó.

    Tôi gọi cho đài thông tin, hỏi số gọi đến văn phòng cơ quan Kiểm Soát Động Vật của thành phố, rồi vội vàng viết lên tay. Điện thoại reo ba lần, sau đó có một giọng nữ trả lời.

    “Viên chức Diaz thuộc cơ quan Kiểm Soát Động Vật trả lời, tôi có thể giúp gì cho bạn?”

    “Vâng, tôi gọi đến để tố cáo trường hợp về một con chó bị chủ hành hạ.”


    Tôi gần như đứng ngồi không yên trong các tiết học còn lại của ngày hôm đó, nóng lòng cho chóng tan trường để đi kiểm tra tình hình con chó, đảm bảo rằng cô nhóc đã được giải cứu. Tôi cựa quậy nhúc nhích liên tục trong chỗ ngồi trên lớp, kết quả là bị cho thêm bài tập về nhà vào tiết tiếng Tây Ban Nha.

    Lúc trường tan, tôi bay vọt xuống dãy cầu thang trơn trượt, suýt nữa té gãy cổ. Mưa đã tạm ngừng, nhưng trên lối đi có mái che đã bị nước mưa tạt vào ướt nhem, tôi phải cẩn thận để không bị trượt ngã. Đang nửa đường đến bãi đổ xe thì chuông điện thoại reo lên; đó là một số tôi không nhận ra. Và vì còn cần chú tâm để ý bước chân, cho nên tôi mặc kệ nó rồi chạy chậm về hướng ngôi nhà của con chó. Nhưng, khi quẹo vào khúc quanh, tôi thấy phía trước có ánh đèn chớp lóe. Lòng tôi nảy lên. Đó có thể là một dấu hiệu tốt. Có lẽ họ đã bắt giữ gã đàn ông kia. Tôi ngừng chạy và từ từ tiếp cận, các ngón tay lướt trên bờ tường bong tróc đối diện hàng rào lưới. Tôi lắng nghe tiếng người nói chuyện và âm thanh rèn rẹt phát ra từ máy bộ đàm của cảnh sát ở đằng trước. Khi đến gần ngôi nhà, tôi trông thấy một chiếc xe cảnh sát tuần tra mở đèn tín hiệu nhấp nháy và một chiếc xe không có dấu hiệu nhận dạng.

    Cùng một chiếc xe cứu thương. Tóc gáy sau cổ tôi dựng đứng.

    Lúc tôi đến cái sân, cánh cửa trước nhà mở toang hoác. Người ta đứng bên cạnh hai chiếc xe kia và xe cứu thương lặng lẽ. Mắt tôi quét quanh khu nhà, tìm kiếm con chó, nhưng khi nhìn đến chồng gỗ, máu huyết trong tôi như đông cứng.

    Miệng gã ta bị lấp đầy bởi một đống lúc nhúc ruồi nhặng, hoàn toàn mất hút trong đó, không thể nhìn thấy, và cái mớ nhão nhoẹt một bên đầu gã ta đã từng là da đầu của một người đàn ông. Mặt đất bên dưới cái đầu bị hổng một lỗ của gã ta hoàn toàn bị nhuộm đen, các mép áo ba lỗ bẩn thỉu của gã ta loang lổ những vết máu đỏ chói.

    Chủ nhân của con chó đã chết. Chính xác như những gì tôi đã tưởng tượng ra.
     
  19. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 13 (1)

    CÂY CỐI, VỈA HÈ, VÀ CẢ ÁNH ĐÈN chớp nháy trước mắt bắt đầu xoay mồng mồng, tôi cảm giác sợi dây thần kinh minh mẫn trong mình kéo căng như sợi vải dệt mỏng manh dãn ra sắp đứt.

    Tôi cười phá lên. Tôi phát rồ rồi.

    Sau đó tôi bắt đầu nôn mửa.

    Thình lình có hai bàn tay to nắm lấy vai tôi. Qua khóe mắt, tôi thấy một người phụ nữ vận âu phục và một người đàn ông trong bộ đồng phục màu tối đến gần, nhưng họ gần như ở ngoài tầm nhìn của tôi. Vậy là tay ai đang đặt trên vai tôi?

    “Hay, hay ghê chưa. Mau đưa cô bé này ra khỏi đây, Gadsen!” Người phụ nữ nói. Giọng cô ta nghe như truyền đến từ một nơi xa xăm.

    “Im đi, Foley. Cô vốn cũng có thể dễ dàng thiết lập vòng vây cô lập hiện trường mà,” người đàn ông sau lưng tôi nói. Ông ta xoay tôi lại lúc tôi đang chùi miệng. Ông ta cũng đang mặc veston. “Cô tên gì?” Ông ta hỏi bằng một giọng ra lệnh.

    “M-Mara,” tôi lắp bắp. Giọng thì thào như muỗi kêu.

    “Có ai gọi giúp kỹ thuật viên cấp cứu đến đây được không?” Ông ta hô to. “Cô bé này có lẽ đang trong cơn sốc.”

    Tôi tức thì tỉnh táo lại. Tôi không cần nhân viên y tế. Không cần bệnh viện.

    “Tôi không sao đâu,” tôi nói, dùng ý chí buộc những cái cây nhảy nhót trước mắt mình dừng lại. Tôi hít sâu vào vài hơi để trấn định mình. Tất cả thật sự đang xảy ra sao? “Chỉ vì đây là lần đầu tôi tận mắt chứng kiến một thi thể thôi.” Sau khi nói xong câu này, tôi mới chợt nhận ra đó là sự thật. Tôi đã không nhìn thấy Rachel, Claire, và Jude trong tang lễ của họ. Thân xác họ không còn đủ trọn vẹn để nhìn.

    “Chỉ kiểm tra sơ qua cho chắc thôi,” người đàn ông nói. “Nếu được, trong quá trình kiểm tra tôi muốn hỏi cô vài câu.” Ông ta ra hiệu với kỹ thuật viên cấp cứu.

    Tôi biết ngay mình không có khả năng phản đối mà. “Thôi được,” tôi nói. Tôi nhắm mắt lại nhưng vẫn thấy rõ hình ảnh của máu. Bầy ruồi nhặng.

    Vậy còn con chó đâu rồi?

    Tôi mở mắt ra tìm kiếm nó, nhưng không thấy nó ở nơi nào hết.

    Kỹ thuật viên cấp cứu lại gần, tôi cố gắng thể hiện sao cho mình không giống một con điên. Tôi hít thở chậm rãi và đều đặn trong khi anh ta rọi bút đèn pin soi cả hai mắt tôi. Anh ta tiến hành kiểm tra sơ bộ, vừa lúc cuộc kiểm tra có vẻ như gần hoàn tất, tôi nghe thấy nữ thanh tra kia lên tiếng.

    “Diaz ở chỗ quái nào đấy?”

    “Cô ta nói sẽ đến đây ngay.” Giọng nói là của người đàn ông mới rồi nói chuyện với tôi.

    “Anh có muốn đi buộc lại con chó kia không?”

    “Ờ, không?”

    “Tôi không muốn chạm vào nó,” người phụ nữ nói. “Tôi thấy cả bọ chét bò lỏm ngỏm trên lông nó kìa.”

    “Kính thưa quý bà quý ông, sản phẩm tuyệt nhất của Miami.”

    “Đi chết đi, Gadsen.”

    “Bình tĩnh nào. Con chó đó sẽ không đi đâu được đâu. Nó thậm chí bước còn không nổi, đừng nói chi là chạy mất. Mà cũng không quan trọng. Nó là giống pit bull, bọn họ sẽ chỉ hủy diệt nhân đạo nó thôi.”

    Cái gì?

    “Con chó đó không có khả năng gây ra vụ này. Chắc hẳn gã đó bị trượt ngã và rồi đập vỡ đầu vào cái cọc bên cạnh chồng gỗ. Thấy chưa? Thậm chí không cần nhân viên khám nghiệm cho chúng ta biết.”

    “Tôi không có nói con chó đó làm. Tôi chỉ nói là bất kể kết quả thế nào họ đều sẽ hủy diệt nhân đạo nó.”

    “Đáng tiếc.”

    “Ít ra thì nó không phải chịu đau đớn nữa.”

    Sau tất cả những sự hành hạ đã phải chịu đựng, con bé sẽ bị người ta cho ngủ một giấc ngủ vĩnh cửu. Bị giết chết.

    Đều bởi vì tôi.

    Tôi lại thấy buồn nôn. Tay tôi run rẩy khi kỹ thuật viên cấp cứu kiểm tra mạch đập của tôi.

    “Cô thấy sao rồi?” Anh ta nhỏ giọng hỏi. Ánh mắt ân cần.

    “Ổn cả,” tôi nói dối. “Thật mà. Tôi không sao rồi.” Hy vọng nói như vậy đủ để thuyết phục anh ta tin rằng đó là sự thật.

    “Vậy được rồi. Thanh tra Gadsen?” Viên thanh tra nam và người phụ nữ mặc veston tiến tới chỗ chúng tôi, rồi người đàn ông, thanh tra Gadsen, cám ơn kỹ thuật viên cấp cứu lúc anh ta trở về xe cứu thương. Những người khác thì lảng vảng quanh đó, một số người mặc đồng phục, một số thì không, bỗng có một chiếc xe thùng đỗ vào, ở mặt sau xe sơn hàng chữ GIÁM ĐỊNH Y TẾ. Lập tức, một nỗi sợ hãi nhầy nhụa phủ lấy lưỡi tôi.

    “Mara, có phải không?” Thanh tra Gadsen hỏi tôi trong khi cộng sự của ông ta lấy ra quyển sổ tay. Tôi gật đầu. “Họ của cô là gì?”

    “Dyer,” tôi đáp. Người cộng sự ghi chép vào sổ. Vùng nách trên bộ veston tối màu của cô ta ướt sẫm mồ hôi. Của ông ta cũng vậy. Trái lại, đây là lần đầu tiên ở Miami tôi không cảm thấy nóng. Cả người tôi đang run rẩy.

    “Vì sao chiều nay cô đến nơi này, Mara?” Ông ta hỏi.

    “Ừm.” Tôi nuốt nước bọt. “Chính tôi là người đã gọi cho cơ quan Kiểm Soát Động Vật để báo cáo về con chó.” Việc này có nói dối cũng vô ích. Tôi đã để lại tên và số điện thoại cho văn phòng cơ quan Kiểm Soát Động Vật.

    Ánh mắt ông ta không hề dao động, vẫn chăm chú quan sát tôi, nhưng tôi chú ý thấy một nét thay đổi trên gương mặt ông ta. Ông ta chờ cho tôi tiếp tục.

    Tôi hắng giọng. “Tôi chỉ muốn ghé qua sau khi tan học để xem cơ quan Kiểm Soát Động Vật có đến đón cô nhóc hay không thôi.”

    Nghe vậy, ông ta gật đầu. “Sáng nay đến đây cô có trông thấy ai khác không?”

    Tôi lắc đầu.

    “Cô học ở trường nào?” Ông ta hỏi.

    “Croyden.”

    Viên thanh tra nữ cũng viết thông tin đó xuống. Tôi ghét cô ta làm như thế.

    Ông ta lại hỏi tôi vài vấn đề nữa, nhưng tôi không kềm được mà đảo mắt tìm kiếm con chó. Thi thể hẳn đã được di dời trong lúc tôi kiểm tra sức khỏe, vì bây giờ nó không còn ở đó nữa. Âm thanh cánh cửa kim loại đóng sầm vang lên, làm tôi giật nảy. Tôi không chú ý đến việc thanh tra Gadsen đã ngừng nói chuyện nãy giờ. Ông ta đang chờ tôi trả lời.

    “Xin lỗi,” tôi nói, vài giọt nước mưa mập mạp rơi mạnh trên đống phế liệu kim loại và thiếc như đạn bắn. Trời sắp trút mưa nữa rồi. “Ông vừa nói gì?”

    Thanh tra Gadsen quan sát gương mặt tôi. “Tôi vừa nói cộng sự của tôi sẽ đưa cô trở về trường.” Viên thanh tra nữ lại trông có vẻ muốn vào trong nhà hơn.

    “Tôi không sao thật mà.” Tôi mỉm cười, chứng tỏ mình rất ổn. “Trường tôi cách đây không xa. Dù sao cũng cám ơn,” tôi nói.

    “Nhưng sẽ yên tâm hơn nếu có—”

    “Cô bé đã nói không sao rồi mà, Vince. Đến đây xem xét cái này một chút, được chứ?”

    Thanh tra Gadsen cẩn thận theo dõi tôi. “Cám ơn cô vì đã gọi điện khiếu nại.”

    Tôi nhún vai. “Tôi cần phải làm gì đó cho nó.”

    “Tất nhiên rồi. Nếu cô nhớ ra bất kỳ chi tiết nào khác,” viên thanh tra vừa nói vừa đưa cho tôi một tấm danh thiếp, “có thể gọi cho tôi bất cứ lúc nào.”

    “Nhất định. Cám ơn.” Tôi cất bước rời khỏi, sau khi rẽ vào khúc quanh, tôi đứng dựa vào vách tường trát vữa lành lạnh và dỏng tai lắng nghe.

    Tiếng bước chân của một người giẫm trên mặt đất sỏi, theo sau đó là tiếng bước chân của người thứ hai. Hai viên thanh tra nói chuyện với nhau, chợt có một giọng nói thứ ba tham gia vào, mà tôi không nhớ đã có nghe qua. Có lẽ là một ai đó đã vào trong ngôi nhà trước khi tôi đến.

    “Theo phán đoán thì gã ta đã chết được bảy tiếng đồng hồ rồi.”
     
  20. chichi.myluckycharm

    chichi.myluckycharm Sinh viên năm II

    Chương 13 (2)

    “Vậy tức là khoảng chín giờ sáng?”

    Chín giờ. Chỉ vài phút ngay sau khi tôi rời đi. Cổ họng tôi khô khốc, như bị mắc nghẹn.

    “Đó là tôi ước đoán. Dưới khí trời nóng bức và mưa râm ran thế này chẳng giúp ích được gì. Hai người cũng biết nó thế nào rồi đấy.”

    “Tôi biết.”

    Tôi lại nghe họ bàn luận về vấn đề nhiệt độ, sắc tím bầm, rồi hướng trượt ngã theo đường cong nọ kia lẫn trong âm thanh dòng máu chảy xiết giã vào tai tôi. Khi tiếng bước chân và giọng nói xa dần, tôi đánh liều ghé mắt nhìn qua bức tường.

    Bọn họ đều đã đi rồi. Chắc là vào trong nhà? Từ góc độ này, tôi có thể nhìn thấy con chó. Nó bị buộc lỏng lẻo vào một chiếc bánh xe ở tuốt phía bên kia sân, màu lông của nó hợp vào màu đất. Cơn mưa đã bắt đầu rơi đều, thế mà cô nhóc thậm chí không nhúc nhích.

    Tôi không thèm suy nghĩ mà chạy thẳng một mạch đến chỗ nó. Chiếc áo thun cotton trên người nhanh chóng ướt đẫm. Tôi lách qua đống rác rưởi và các linh kiện ô tô, thận trọng rón rén bước đi, cảm kích cơn mưa đã giấu đi tiếng bước chân của mình. Tuy vậy, nếu ở trong nhà có người cảnh giác, sợ rằng tôi vẫn sẽ bị nghe thấy. Và khẳng định là bị nhìn thấy. Lúc tôi đến được chỗ con chó, bầu trời bỗng trút mưa xuống sầm sập như muốn báo thù, tôi quỳ xuống tháo sợi dây trói khỏi cái bánh xe. Tôi nhẹ nhàng kéo dây và thì thào vào tai cô nhóc. “Đi nào.”

    Nó không cử động. Có lẽ do không di chuyển nổi. Vùng cổ chỗ trước đây đeo chiếc vòng cổ nặng nề của nó xác xơ máu thịt và đang rỉ máu, tôi không muốn động đến vết thương đó. Nhưng rồi tôi nghe thấy tiếng nói truyền đến gần hơn. Không còn thời gian nữa.

    Tôi vòng một tay bên dưới sườn của cô nhóc và nhấc nó đứng lên. Nó rất yếu, nhưng vẫn đứng được. Tôi lại thủ thỉ vào tai nó, đẩy nhẹ vào mông nó để giục nó tiến lên trước. Nó bước một bước, nhưng không chịu đi tiếp nữa. Từng tế bào trong tôi hoảng loạn gào thét.

    Tôi bèn bế bổng cô nhóc lên. Nó không nặng như thể trọng vốn nên có, nhưng cũng không phải nhẹ. Tôi lảo đảo lên trước, sải rộng những bước chân cho đến khi ra khỏi sân. Mồ hôi và nước mưa làm tóc tôi bết dính lên trán và cổ. Lúc chúng tôi đến được góc rẽ tôi đã thở hồng hộc. Hai đầu gối run lẩy bẩy khi tôi buông cô nhóc xuống.

    Tôi không chắc mình có thể mang nó một mạch đến xe của Daniel. Mà nếu đến được thì tôi nên làm gì tiếp? Tôi đã không suy tính quá xa, nhưng hiện tại tôi đã thật sự nhận ra mức độ nghiêm trọng của tình huống mà tôi bước chân vào. Con chó cần phải khám thú y. Tôi lại không có tiền. Cha mẹ tôi không thuộc tuýp thích động vật. Tôi đã trộm nó khỏi một hiện trường án mạng.

    Một hiện trường án mạng. Hình ảnh chất nhầy nhão nhoẹt đỏ ối như dưa hấu trào ra từ trong đầu của gã đàn ông kia lênh láng trên mặt đất lại tái hiện trong tâm trí tôi. Gã ta khẳng định đã chết. Đúng như tôi mong muốn, chỉ vài giờ sau đó. Và chính xác như cái chết tôi đã tưởng tượng ra cho gã.

    Chỉ là một sự trùng hợp thôi. Chắc chắn là vậy.

    Chắc chắn là vậy.

    Con chó rên rỉ, kéo tôi về với hiện thực. Tôi vươn tay xuống vỗ về cô nhóc và dè dặt bước lên trước một bước, thận trọng không để sợi dây buộc cạ vào cổ nó. Nó trông rất đau đớn.

    Tôi lại giục nó tới trước, tay với vào trong túi quần lấy di động. Hộp thư có một tin thoại mới. Là mẹ gọi đến từ văn phòng mới của bà. Tôi vẫn chưa thể gọi lại cho bà được; bây giờ điều cần thiết là đưa con chó này đến một bệnh viện thú y. Tôi sẽ gọi 411 để tìm một bác sĩ thú y gần đây. Tiếp theo đó tôi phải nghĩ ra cách tuyên bố cho cha mẹ tin tức rằng—Ta đa!—Chúng ta có một con chó nè. Hẳn là cha mẹ sẽ cảm thương cho đứa con gái thần kinh không ổn định là tôi đây và cô bạn tội nghiệp của tôi. Tôi sẽ không ngại lợi dụng tấn thảm kịch của mình vì mục đích cao cả.

    Mưa đã dừng, cũng bất chợt như khi nó tới, chỉ để lại dấu vết của một màn sương bụi. Lúc chúng tôi ngoặt qua góc rẽ đến bãi đỗ xe, tôi chú ý thấy tướng đi dung dăng dung dẻ đặc thù của một tên con trai nào đó đang trên đường đi về phía mình. Anh ta giơ tay cào cào mái tóc đẫm nước mưa và đang mân mê vật gì đó trong túi áo. Tôi vội núp đằng sau chiếc xe đỗ ở gần đó nhất, song con chó lại chọn đúng lúc đó để sủa. Bị bắt tại trận.

    “Mara,” anh ta vừa gọi vừa bước lại gần chúng tôi. Anh ta hơi nghiêng đầu, nét cười loáng thoáng làm hai bên khóe mắt anh ta hơi nhau lại.

    “Noah,” tôi chào lại, bằng giọng nói bình thản nhất mình có thể nặn ra. Tôi tiếp tục đi.

    “Có định giới thiệu tôi với người bạn của cô chứ?” Ánh mắt trong suốt của anh ta đặt trên con chó. Hàm anh siết chặt trong khi thu vào mắt từng chi tiết một—xương sống nhô ra, bộ da loang lổ, vết sẹo chồng chéo—trong một nháy mắt vẻ mặt anh ta trở nên lạnh lùng, một sự phẫn nộ lặng lẽ. Nhưng rất nhanh đã được thay thế bằng một bộ mặt không chút cảm xúc.

    Tôi cố làm ra vẻ tự nhiên, như thể đi tản bộ trong mưa vào buổi chiều, đồng bạn cùng một sinh vật gầy trơ xương là chuyện bình thường vậy. “Tôi đang bận, Noah ạ.” Ở đây không có gì để xem hết.

    “Cô muốn đi đâu?” Trong giọng nói của anh ta có chút sắc bén khiến tôi thấy khó chịu. “Lạy Chúa, anh như một cơn đại dịch ấy.”

    “Một câu truyện ngụ ngôn được thêu dệt một cách tài tình, nói giảm nhưng vẫn mang đến tác động mạnh mẽ, là một thiên sử thi phản ánh lương tri của con người không nhuốm màu thời gian? Ôi, cám ơn nhiều. Đó là một trong những lời khen tốt đẹp nhất dành cho tôi đấy,” anh ta nói.

    “Tôi chỉ căn bệnh, Noah à. Không phải là nói đến cuốn sách (1) ấy.”

    (1) Tiểu thuyết The plague (Bệnh dịch hạch) của Albert Camus, xuất bản năm 1947.

    “Tôi đang cố tình bỏ qua lời đánh giá đó của cô.”

    “Anh có thể tiếp tục, nhưng làm ơn tránh đường cho tôi được không? Tôi đang cần tìm một bác sĩ thú y gấp.”

    Tôi cụp mắt nhìn xuống con chó. Cô nhóc nhìn Noah chằm chằm, yếu ớt ngoắc đuôi lúc anh ta cúi người xuống vỗ về nó.

    “Để khám cho đứa nhóc tôi nhặt được này.” Trái tim đập liên hồi trong khi đầu lưỡi uốn nên lời nói dối.

    Noah nhướng mày, rồi xem đồng hồ. “May mắn cho cô đấy. Tôi biết một phòng khám thú y chỉ cách đây sáu phút thôi.”

    Tôi ngập ngừng. “Thật không?” Ngẫu nhiên thật.

    “Thật. Đi theo tôi. Tôi lái xe đưa cô đi.”

    Tôi cân nhắc về tình huống này. Con chó cần được chữa trị, càng sớm càng tốt. Nếu để Noah đưa đi, rất rất nhanh, cô nhóc sẽ được xem bệnh. Còn với khả năng phân biệt phương hướng của mình, tôi rất có thể sẽ lái xe lang thang vòng quanh miền Nam Miami cho đến bốn giờ sáng.

    Tôi sẽ đi cùng Noah. “Cám ơn,” tôi nói và gật đầu với anh ta. Anh ta mỉm cười, rồi ba đứa chúng tôi đi tới xe của anh ta. Một chiếc Prius.

    Anh ta mở cửa hàng ghế sau, cầm lấy sợi dây buộc từ tay tôi, không hề để ý đến bộ lông bẩn thỉu và đầy bọ chét của con chó, bế bổng cô nhóc lên và trực tiếp đặt nó lên ghế.

    Nhỡ nó mà tè khắp xe anh ta, tôi sẽ chết mất. Tôi phải cảnh báo trước với anh ta.

    “Noah,” tôi nói, “Tôi chỉ mới nhặt được cô nhóc vài phút trước thôi. Nó... là một con chó đi lạc, tôi không biết gì về nó, cũng không biết nó có được huấn luyện đi vệ sinh hay không, tôi không muốn nó hủy mất—”

    Noah đặt ngón trỏ lên bờ môi trên của tôi, ngón cái dưới bờ môi dưới, khẽ đè lên, ngăn lại lời nói của tôi. Tôi cảm thấy choáng váng, dường như trong một khoảnh khắc mí mắt tôi đã cụp xuống. Xấu hổ quá. Tôi có chút muốn giết chết chính mình.

    “Thôi nào,” anh ta khẽ nói. “Điều đó không quan trọng. Bây giờ chúng ta đưa cô bé đi kiểm tra chứ?”

    Tôi yếu ớt gật đầu, mạch đập liên hồi như ngựa phi nước đại. Noah đi vòng qua chỗ ghế lái phụ và mở cửa xe cho tôi. Tôi ngồi vào trong.

    Chi Chi: Mai mình nghỉ một bữa nhé. :p
     

Chia sẻ trang này