Phật Giáo The Way of the Bodhisattva: (Bodhicaryavatara), Revised Edition (Shambhala Classics)

Thảo luận trong 'Sách tiếng nước ngoài' bắt đầu bởi Đoàn Trọng, 6/4/17.

  1. Đoàn Trọng

    Đoàn Trọng Lớp 10

    51C6xN6b81L.jpg
    by Shantideva (Author), Padmakara Translation Group (Translator)​
    • Paperback: 256 pages
    • Publisher: Shambhala; Revised edition (September 12, 2006)
    • Language: English
    • ISBN-10: 1590303881
    • ISBN-13: 978-1590303887
    Treasured by Buddhists of all traditions, The Way of the Bodhisattva(Bodhicharyavatara) is a guide to cultivating the mind of enlightenment, and to generating the qualities of love, compassion, generosity, and patience. This text has been studied, practiced, and expounded upon in an unbroken tradition for centuries, first in India, and later in Tibet. Presented in the form of a personal meditation in verse, it outlines the path of the Bodhisattvas—those who renounce the peace of individual enlightenment and vow to work for the liberation of all beings and to attain buddhahood for their sake.

    This version, translated from the Tibetan, is a revision by the translators of the 1997 edition. Included are a foreword by His Holiness the Dalai Lama, a new translator's preface, a thorough introduction, a note on the translation, and three appendices of commentary by the Nyingma master Kunzang Pelden.
     
  2. kinhnhieuloc

    kinhnhieuloc Lớp 7

    "菩薩; viết tắt của danh từ dịch âm Bồ-đề Tát-đoá (菩薩薩埵; s: bodhisattva; p: bodhisatta); nguyên nghĩa là »Giác hữu tình« (覺有情), cũng được dịch nghĩa là Ðại sĩ (大士);
    Trong Ðại thừa, Bồ Tát là hành giả sau khi hành trì Ba-la-mật-đa (s: pāramitā; Lục độ) đã đạt Phật quả, nhưng nguyện không nhập Niết-bàn, khi chúng sinh chưa giác ngộ. Yếu tốcơ bản của Bồ Tát là lòng Bi (s, p: karuṇā), đi song song với Trí huệ (s: pra-jñā) Chư Bồ Tát thường cứu độchúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướngphúc đức mình cho kẻ khác. Con đườngtu học của Bồ Tát bắt đầu bằng luyện tâm Bồ-đề (s: bodhicitta) và giữ Bồ-tát hạnh nguyện (s: praṇidhāna). Hành trìnhtu học của Bồ Tát được chia làm mười giai đoạn, Thập địa (s: daśabhūmi). Hình ảnhBồ tát của Ðại thừa tương tự như A-la-hán (s: arhat) của Tiểu thừa, trong đó A-la-hán tập trung vào sự giải thoát cho chính mình.
    Thật sự thì khái niệm Bồ Tát đã được tìm thấy trong các kinh Tiểu thừa, nhất là khi nói về các tiền thânđức Phật Thích-ca (Bản sinh kinh). Trong Ðại thừa, khi nói đến Bồ Tát, người ta xem đó là tiền thân của các vị Phật tương lai. Ðại thừa chia làm hai hạng Bồ Tát: Bồ Tát đang sống trên trái đất và Bồ Tátsiêu việt (e: trans-cendent). Các vị đang sống trên trái đất là những người đầy lòng từ bi, giúp đỡ chúng sinh, hướng về Phật quả. Các vị Bồ Tát siêu việt là người đã đạt các hạnh Ba-la-mật và Phật quả – nhưng chưa nhập Niết-bàn. Ðó là các vị đã đạt Nhất thiết trí, không còn ở trong Luân hồi, xuất hiện trong thế gian dưới nhiều dạng khác nhau để cứu độchúng sinh. Ðó là các vị được Phật tử tôn thờ và đỉnh lễ, quan trọng nhất là các vị Quán Thế Âm (觀世音; s: avalokiteśvara), Văn-thù (文殊; s: mañjuśrī), Ðịa Tạng (地藏; s: kṣitigarbha), Ðại Thế Chí (大勢至; s: mahāsthā-maprāpta) và Phổ Hiền (普賢; s: sa-mantabhadra)." Nguon - Internet
     
    Đoàn Trọng thích bài này.

Chia sẻ trang này