Thảo luận Thi cử ngày xưa

Thảo luận trong 'Bàn Trà' bắt đầu bởi Hannibal2010, 21/8/15.

Moderators: canaximuoi
  1. Hannibal2010

    Hannibal2010 Lớp 2

    Mình không nói về hình thức thi cử các kiểu (trên tve cũng có 1 cuốn sách của Nguyễn Công Lý nói rõ về vấn đề này) mà muốn hỏi về đề thi.

    Có bác nào có đề thi 1 năm nào đó thời phong kiến (thi Đình càng hay, vua hỏi cơ mà :-D), lời giải và chú thích thì chia sẻ với mọi người nhỉ
     
  2. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    KHOA NHÂM TUẤT (1442)
    VĂN BÀI CỦA TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN TRỰC

    Trẫm nghĩ:

    Trị nước tất lấy việc được người làm gốc. Vào thời Ðường, Ngu (1), nhân tài nhiều nhưng bề tôi được vua dùng ngoài Tứ nhạc (2), Cửu quan (3), Thập nhị mục (4), không thấy ai khác. Sao nhân tài khó được vậy? Ðến Ðế Nghiêu sáng suốt biết người mà trong triều còn có Tứ hung (5), sao tiểu nhân khó biết vậy? Cái hại của nạn hồng thủy (6) nước ôm núi ngập gò, dân ngày ấy chịu hại không ít. Công việc trị thủy của Cổn kéo dài chín năm tất làm dân tổn hại là như vậy, sao không trừ bỏ bọn tiểu nhân sớm hơn?

    Ðời Chu được khen là hiền sĩ đông đúc, Văn Vương (7) nhờ đó mà yên được nước, đến đời Vũ Vương (8) chỉ còn nhắc đến thập loạn, như vậy nói nhân tài khó được há chẳng đúng sao? Bọn Quản, Sái (9) đưa lời dèm pha khiến Chu Công lang bạt (10), Vương thất tưởng chừng nguy ngập, sao bọn tiểu nhân gian hiểm đến thế, không thời nào không có bọn chúng?

    Ðức Thái Tổ Cao Hoàng Ðế ta (11) giành được thiên hạ, nhiều lần hạ chiếu cầu hiền mà không một người ứng tuyển, còn bọn Hãn, Sảo (12) ngầm chứa gian tâm. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay gắng lòng tìm cách trị nước thế mà hiệu quả của việc được người vẫn mênh mang, mờ mịt, bọn Ngân, Sát (13) thì gian ác chứa chất, sao quân tử khó được, tiểu nhân khó biết thế?

    Chư Tử! Các ngươi hãy dốc hết tấm lòng của mình để ứng đối, Trẫm sẽ đích thân xem xét.


    VĂN BÀI CỦA TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN TRỰC:

    Thần xin đối rằng:

    Thần nghe nói bậc thánh nhân trị nước tuy có sự khác biệt xưa nay, nhưng tâm của thánh nhân thì không hề phân chia kim cổ. Bởi vì tiến dụng quân tử, đẩy lùi tiểu nhân là bản tâm của việc thánh nhân trị nước. Nếu như quân tử lùi mà tiểu nhân tiến thì đâu phải là sự mong muốn của bậc thánh nhân?

    Xem như đời Ðường, Ngu đãi hậu với người đạo đức, tin cẩn người có nhân mà cự tuyệt bọn gian tham, trao chức vụ chỉ cho hiền tài, giao công việc chỉ theo năng lực, cũng như ý cầu hiền của triều ta, đều là dùng quân tử, bỏ tiểu nhân vậy.

    Hoàng thượng kế thừa nghiệp lớn, giữ nước an dân, sớm tối cầu hiền để giúp nên nghiệp lớn, rồi lại đặt khoa thi chọn kẻ sĩ, mở rộng đường cho hiền tài, tiến cử bọn thần nơi sân rồng, ra sách vấn để hỏi về sự cốt yếu của đạo trị nước và về quân tử, tiểu nhân.

    Xét mình ngu muội đâu dám cùng ngồi trên bàn luận, nhưng đã thẹn vâng theo minh chiếu thì dám đâu không một lòng trinh bạch tâu bầy để đáp lại mệnh lớn của thiên tử?

    Thần cúi đọc lời sách vấn của Thánh thượng hỏi:

    Trẫm nghĩ: Trị nước tất lấy việc được người làm gốc. Vào đời Ðường, Ngu nhân tài nhiều nhưng bề tôi được vua dùng ngoài Tứ nhạc, Cửu quan, Thập nhị mục không hề thấy ai khác, sao nhân tài khó được vậy? Ðến Ðế Nghiêu sáng suốt biết người mà trong triều còn lũ Tứ hung, sao tiểu nhân khó biết vậy? Cái hại của nạn hồng thủy nước ôm núi ngập gò, dân ngày ấy chịu hại không ít, công cuộc trị thủy của Cổn kéo dài đến chín năm tất làm dân tổn hại là như vậy, sao không trừ bỏ bọn tiểu nhân sớm hơn?

    Thần cho rằng: Trị nước lấy được người làm gốc, dùng người lấy tin dùng làm đầu. Ðời Ðường Ngu nhân tài nhiều nhưng các quan được dùng chỉ ghi là: "hỏi ở Tứ nhạc, nghe ở Thập nhị mục". Tứ nhạc là bốn người coi chư hầu bốn phương, Thập nhị mục là đầu mục của chín châu (14) cùng với Vũ làm Tư không, Khí làm Hậu tắc, Tiết làm Tư đồ, Cao Dao làm Sĩ sư, Thùy làm Cộng công, (Bá) Ích làm Trảm ngu, Bá, Di làm Trật tông, (Hậu) Quỳ làm Ðiển nhạc, Long làm Nạp ngôn, các chức này gọi là Cửu quan, ngoài những quan này không còn ai nữa.

    Kinh Thư viết: "Ðường, Ngu kiến dựng quan chức chỉ có một trăm", lại ghi "Người có đức đều được sử dụng, trăm quan khuôn phép theo nhau, trăm việc kịp thời; trên miếu đường vua tôi bàn bạc, dưới thềm điện dân chúng hát ca. Người người đều có đức hạnh của bậc sĩ quân tử, nhà nhà đều có phong tục đáng nêu gương. Cho đến người hiền tài nơi dân chúng của muôn nước cũng là bề tôi của bậc đế vương", như vậy đâu phải là nhân tài khó được?

    Lại như Ðế Nghiêu đầy đủ đức văn võ thánh thần, có sáng suốt biết người biết việc nhưng trong đám bề tôi triều nội sao vẫn còn có lũ Tứ hung? Bởi đạo tiểu nhân dễ tiến mà khó thoái, dễ dùng mà khó bỏ, đại gian giống tựa bậc trung, đại nịnh giống tựa bậc tín. Chúng kết bè đảng đến mức lôi kéo dẫn giắt lẫn nhau.

    Nhưng đâu phải bậc đế vương sáng suốt có việc mà không biết. Xét ở câu "Dùng lời nói khéo để trái mệnh vua, giả cách kính nhường để gây tội ác" và câu "Hỡi ôi, bỏ mệnh của Tiên vương để gây họa loạn cho tộc họ" thì cũng có thể thấy được điều đó, như thế đâu phải là tiểu nhân khó biết mà chỉ là chưa trừ bỏ sớm thôi!

    Nhưng đời Ðường, Ngu dùng phép Tam khảo, khảo xét đầy đủ công trạng cho nên vua Nghiêu phải dùng Cổn đến chín năm, gắng dùng không thành, sau đó mới bỏ, há phải bỏ hắn sớm đâu? Sau đó Thuấn lại theo mệnh Nghiêu trừ khử Cổn khiến cho thiên hạ thán phục, chứ đâu phải bọn tiểu nhân khó trừ? Như vậy thời Ðường, Ngu tuy có bọn tiểu nhân nhưng bọn chúng sao có thể làm hại cuộc hưng trị của hai Ðế Nghiêu, Thuấn?

    Thần cúi đọc chế sách hỏi:

    Ðời nhà Chu được Kinh Thư ca ngợi là kẻ sĩ đông đúc, Văn Vương nhờ đó mà được yên nước. Ðến đời Vũ Vương chỉ còn nhắc đến Thập loạn, như vậy nói nhân tài khó được há chẳng đúng sao? Quản, Sái, đưa lời dèm pha khiến Chu Công lang bạt, Vương thất tưởng chừng nguy ngập, sao bọn tiểu nhân gian hiểm đến thế, không thời nào không có chúng!

    Thần nghe rằng: Văn Vương nhà Chu thấu hiểu đạo "tam hữu trạch tâm" (15) nhìn rõ đức lớn của đạo Tam hữu nên hiền tài đông đúc, đó là điều tốt đẹp của nhà Chu. Ðến Vũ Vương chỉ có mười bề tôi dẹp loạn là Chu Công Ðán, Thiệu Công Thích (16), Thái Công Vọng, Tất Công, Vinh Công, Thái Ðiển, Hoằng Yêu, Tán Nghi Sinh, Nam Cung Quát và một người là Ấp Khương (vợ Vũ Vương), cho nên Khổng Tử nói "nhân tài khó" chẳng thế sao? Từ đời Ðường, Ngu đến lúc ấy là có nhiều hiền tài nhưng mười người ấy có một là đàn bà rồi, chỉ còn lại chín người thôi.

    Xét rõ việc biết dùng người của Văn Vương trong bài thơ "Phác Vực", niềm vui bồi dưỡng nhân tài trong bài thơ "Tinh Nga", cùng lời ca ngợi "Ba nghìn kẻ sĩ chỉ cùng một lòng" thì nhân tài ở đời Chu không phải là không nhiều, nói "nhân tài khó" đó chỉ là nói nhân tài không bằng đời Ðường, Ngu mà thôi, chứ đâu phải ngoài chín người không còn người nào khác!

    Ôi! Nhân tài đông đúc như thế nhưng đương buổi đầu Thành Vương (17) mới lên ngôi, Quản, Sái lại là người chí thân của Vương thất, uy hiếp Vũ Canh để phản lại nhà Chu, phao tin để mê hoặc người nghe làm cho Thành Vương sinh lòng ngờ vực Chu Công khiến cho ông phải lang bạt về Ðông Ðô bởi vì lúc ấy Vũ Vương mới băng hà mà Thành Vương còn thơ ấu, trọng trách thiên hạ cậy vào Chu Công. Ông tuy bị dèm pha, chê trách mà chịu an phận nghỉ ngơi. Vương đọc thơ của ông mà chưa tỉnh ngộ, sự nghiệp hai vua Văn, Vũ nguy như ngàn cân treo sợi tóc. Nếu như không có cơn sấm sét của Trời nổi để
    gió thổi cuốn tội ác của bọn Tam giám (18), để trương đức của Chu Công thì ai có thể cảnh tỉnh được Thành Vương và phò giúp nhà vua?

    Tuy nói "Tiểu nhân nham hiểm không thời nào không có", lại có câu "Kẻ có tội chịu tội" mà vì vậy tội ác của bọn Quản, Sái không thể che giấu nổi, như vậy Chu Công ứng xử nguy biến rất trúng mà bọn tiểu nhân cuối cùng cũng không thể thắng quân tử được!

    Thần cúi đọc sách vấn của Thánh thượng hỏi:

    Ðức Thái Tổ Cao Hoàng Ðế ta giành được thiên hạ, xuống chiếu cầu hiền mà không một người ứng tuyển, còn bọn Hãn, Sảo ngầm chứa gian tâm. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay gắng lòng tìm cách trị nước, thế mà hiệu quả của việc được người vẫn mênh mang, mờ mịt, còn bọn Ngân, Sát thì ôm gian chứa ác, sao quân tử khó được, tiểu nhân khó biết thế?

    Thần thiết nghĩ: Ðức Thái Tổ Cao Hoàng Ðế thuận theo mệnh Trời, thừa tiếp vận hội, khởi dựng cơ đồ sáng đẹp bởi Trời cho tư chất thần vũ anh minh là bậc chúa dựng ngôi ban phúc, hằng nhờ sự gian nan khi sáng nghiệp mà gìn giữ cơ nghiệp không dễ. Ðức vua đã nhiều lần hạ chiếu cầu hiền, những mong mỏi được người trị nước, rốt cuộc chưa có một ai ứng tuyển, cớ bởi làm sao?

    "Một ấp mười nhà tất có người trung tín, một mảnh vườn mười bước tất có cỏ thơm", huống như sự rộng lớn của cả nước, chúng nhân hàng ức triệu mà không một người tài ứng tuyển là tại sao? Thần đắn đo nghĩ ngợi: Tâm của Thái Tổ Cao Hoàng Ðế là sáng suốt, biết người của Ðế Nghiêu, khéo léo chọn người của Ðế Thuấn là ý dựng lập người hiền bằng mọi cách của Thành Thang là không bỏ sót người gần, không quên người xa của Vũ Vương vậy! Bởi nhà vua lo hiền tài ẩn dật ở nơi hang cùng cho nên nhiều phen hạ chiếu cầu hiền, bởi lo hiền tài ẩn ở nơi tăng phòng, đạo quán cho nên đặt khoa thi để tuyển chọn, thế mà chưa có hiệu quả là vì sao?

    Bởi vì tự mình chọn người là đạo của quân vương, mà vì nước tiến cử hiền tài lại là trách nhiệm của đại thần. Bọn Hãn, Sảo thì ngầm nuôi lòng gian, đố kỵ người hiền, ghen ghét người tài, cất nhắc bè đảng, bọn chúng đã kém cỏi thì sao có thể tiến cử được người tài? Cho nên Thái Tổ Cao Hoàng Ðế tuy có tâm cầu hiền mà cản trở ở bọn Hãn, Sảo che lấp mất hiền tài nguyên là vậy. Cho nên cổ nhân đã nói: "Tiến cử người hiền được hưởng bậc cao, che lấp hiền tài phải bị tội nặng" vì vậy bọn Hãn, Sảo không thoát ra khỏi đòn trời giáng của Thái Tổ Cao Hoàng Ðế. Bọn chúng cũng là lũ Tứ hung đời Ngu, lũ Tam giám đời Chu. Tuy có bọn tiểu nhân như chúng cũng không thể làm hại được.

    Bệ hạ nối chức vua cha, xếp đặt công việc, giữ vững cơ đồ, công bằng lựa chọn, quanh mình cũng đều là bậc cựu thần tì hổ oai phong, đều là bậc nghĩa sĩ của Thái Tổ. Ngay từ buổi đầu thực hành việc nước Thánh thượng đã hạ minh chiếu để lập khoa thi, muốn được nhân tài để thành thịnh trị, sao hiệu quả được người mênh mang mờ mịt, khẩn cầu mà chưa xứng với sự tuyển chọn, há chẳng phải bọn Ngân, Sát ôm gian chứa ác gây nên sao? Thần cho rằng bọn Ngân, Sát đã gián cách nhà vua, ngăn trở quan trên, che lấp người hiền, hãm hại người tài. Chúng lấy bọn phụ theo mình làm hiền lương, lấy bọn sảo mép làm tài nghệ mua quan chức, bán án tội, hối lộ ngang nhiên, chúng đầy Cầm Hổ (19) ra phương xa, bãi chức quan của Thiên Tước (20), những việc như vậy đâu phải vì nước tiến cử hiền, lấy người phò vua? Thế quân tử do đó khó tìm, tiểu nhân do đó khó biết nhưng "tiểu nhân khó biết" có thực là "khó biết" không? Chẳng phải lũ Ngân, Sát đã không thoát được lưới của Bệ hạ, như các vua nhà Ngu, nhà Chu, như Thái Tổ Cao Hoàng Ðế, tấm lòng yêu thiện ghét ác tất cả thỏa đáng mà thiên hạ đều thán phục.

    Ôi! Quân tử và tiểu nhân luôn luôn tương phản. Ðạo quân tử lớn mạnh thì đạo tiểu nhân tiêu hao, đạo quân tử tiêu hao thì đạo tiểu nhân mạnh lên. Hai đạo đó như âm với dương, như ngày với đêm, không thể cùng vận hành, như băng trong với tro bụi, như hương thơm với uế khí, không thể chứa chung một vật. Cho nên người ở ngôi cao trong khi dùng người phải trung hòa, phải chuyên nhất, phải thử thách, phải thận trọng, như vậy mới có thể được.

    Thần cúi đọc sách vấn của Thánh thượng ra lệnh rằng:

    "Chư Tử! Các ngươi hãy dốc hết tấm lòng của mình để ứng đối, Trẫm sẽ đích thân xem xét".

    Thần tài năng không đủ để bác cổ thông kim, tuy dù ngày thường ngu muội vẫn muốn bề trên sáng soi, huống như hôm nay được phép dùng lời, sao dám không dốc hết những điều tai nghe mắt thấy để dâng hiến?

    Thần từng nghe: "Trị nước lấy được người làm gốc, dùng người, sửa mình làm đầu", sách Truyện (21) nói rằng "Trị nước ở người, giữ người do mình", lại nói "Nghiêu, Thuấn trí sáng mà không biết hết mọi điều, hãy làm gấp việc cần làm trước; Nghiêu, Thuấn nhân từ cũng không thể yêu hết mọi người, hãy gần gũi người hiền". Bệ hạ muốn theo phép của Nghiêu, Thuấn thì Nghiêu, Thuấn đó. Bệ hạ muốn theo phép của Thái Tổ tất Thái Tổ đó. Bệ hạ muốn theo phép của Nghiêu, Thuấn thì phải lo về đạo an dân, biết người, vì sao phải làm trước ? Ðạo dùng hiền, trừ bỏ gian vì sao phải dùng gấp ? Làm như vậy thì quân tử tiến mà tiểu nhân lùi. Bệ hạ muốn theo phép của Thái Tổ thì hãy tâm niệm quy mô dựng nghiệp, truyền ngôi, phép tắc cầu hiền, dùng người, tất quân tử tiến mà tiểu nhân thoáì vậy. Bệ hạ muốn quân tử tiến mà tiểu nhân thoái thì không gì bằng gần gũi bề tôi cương trực, dùng kẻ sĩ chính trực để dẫn vua đi vào đường đúng, đặt vua ở chỗ không sai. Cho nên
    sách Mạnh Tử nói :"Người ta không đủ để mình theo, việc chính sự không đủ để mình nghe. Chỉ có bậc đại nhân mới có thể sửa sai trái trong lòng vua. Vua có nhân, không ai không nhân; vua có nghĩa, không ai không nghĩa; vua chính, không ai không chính. Trước nhất vua chính thì nước mới định được".

    Thần nguyện xin bệ hạ đích thân tiến cử hiền thần, xếp đặt tả hữu, như vua Thuấn tiến cử Cao Dao (22) mà kẻ bất nhân tránh xa, như vua Thành Thang tiến cử Y Doãn (23), trăm quan đều thuần đức. Vua Cao Tông có Phó Duyệt (24) mà mưu trí mở mang, Thành Vương được Chu Công mà trông cậy vào sự phò tá của ông. Ðược như vậy thì nơi dân dã đã không sót hiền tài, nơi nơi yên ổn, nhà vua được hưởng lòng Trời mà muôn dân sự sống sinh sôi. Cùng với sớm tối tiếp nhận khuyên can để giúp đức của dân, kinh doanh bốn phương để giữ yên đất nước, như thế thì lo gì quân tử không tiến mà tiểu nhân không lùi?

    Tuy nhiên "trí, nhân, dũng" là ba đức lớn lao trong thiên hạ, không có "trí" thì không thể biết người, không có "nhân" thì không thể chọn người, không có "dũng" thì không thể dùng người. Lấy "trí" biết người thì có thể biết rõ ràng và biết được thực tài của họ; lấy "nhân" chọn người thì không bỏ người tài ngay trong lúc họ khốn cùng, ắt chọn được lòng thành của họ; lấy "dũng" mà dùng người thì tin dùng mà chẳng nghi ngờ, ắt thấy được chuyên tâm của họ. Nếu có đủ ba điều "trí, nhân, dũng" thì nghĩa lý của việc "dùng người, bỏ người" sáng tỏ và lòng yêu ghét chính trung. Câu "Chỉ có người nhân mới có
    thể yêu người, ghét người được" đúng là như vậy.

    Chuyện bọn Ngân, Sát đã qua rồi, nay các quan trong triều, sĩ phu ngoài dân dã thực có thể chọn kỹ được, dùng chuyên được... tin chắc được; mở rộng phép bình công ban thưởng, ba kỳ khảo xét khen chê, thăng giáng rõ ràng. Người nào hiền tài, kẻ nào xấu kém, người nào thanh liêm, năng lực mẫn cán, kẻ nào tham lam, ngu dốt, cẩu thả, trây lười, kẻ nào ngồi như xác chết không còn làm gì để mà ăn bám, kẻ nào đã bất đức, bất tài lại ôm gian, chứa ác, tất cả phải thấy rõ ràng. Như vậy thì trăm quan tề tựu quanh vua đều có phong độ của kẻ sĩ quân tử, thế thì sao bọn tiểu nhân còn đáng lo nữa?

    Thần luống thẹn được gội ân Thánh thượng dạt dào, đã mấy năm rồi ân nghĩa thấm sâu, gắng theo kẻ sĩ vâng đợi trước sân rồng. Thần đâu dám đua tài hơn kém, đau đáu tấm lòng khuyển mã, sợ hãi cầu xin trước uy thần, những mong Bệ hạ thứ cho tội văn chương chữ nghĩa thô cuồng.

    Thần kính cẩn dâng lời đối sách.

    CHÚ GIẢI:

    1- Ðường, Ngu: vua Nghiêu (2356-2255) họ Ðào Ðường, vua Thuấn (2255-2205) họ Hữu Ngu, dùng họ đặt tên triều đình mình. Cả hai được coi là những vua hiền, thời đại hoàng kim, thiên hạ thái bình, dùng đức cai trị, pháp chế tốt lành.

    2- Tứ Nhạc là bốn chúa chư hầu đứng đầu bốn phương, sau đổi gọi là Phương Bá. Văn Vương nhà Chu là Tây Bá dưới thời vua Trụ nhà Thương.

    3- Cửu quan (đời vua Thuấn): nông (Tắc); sản vật tự nhiên (Ngu); công (Cung công); hình pháp (Sĩ); giáo dục (Tư đồ); lễ (Trật tông) và nhạc (Ðiển); thiên thời địa lợi (Tư không); tấu đối (Nạp ngôn).

    4- Thập nhị mục là 12 kẻ chăn dân, thuộc quyền Tứ Nhạc, trên các chư hầu nhỏ. Vua Thuấn chia nước làm 12 châu, chư hầu là kẻ chăn dân.

    5- Tứ hung là bốn kẻ hung ác đời Nghiêu, Thuấn: Cung Công, Hoan Ðâu, Tam Miêu, Cổn, bị vua Thuấn trừng phạt.

    6- Hồng thủy, cũng gọi là nạn Ðại Hồng thủy: Cuối triều vua Nghiêu, sông Hoàng hà tràn ngập, vua sai Cổn (cha Vũ) trị thủy, đắp đê 9 năm lại càng tai hại. Thuấn giết Cổn, sai Vũ trị, đào 9 con sông, vét 4 con sông khác để tháo nước ra biển, 13 năm mới yên.

    7- Văn Vương (1183-1135) là một trong Tứ Nhạc thời vua Trụ nhà Thương (sau gọi là nhà Ân), người Tây Di, hiền đức nhưng bị vua Trụ bỏ đi. Ðược con là Vũ Vương tôn lên ngôi vương.

    8- Vũ Vương (1134-1116) là con Văn Vương, diệt vua Trụ nhà Thương bạo ngược, lập ra nhà Chu (1134-247). Diệt xong nhà Thương, phong cho con vua Trụ là Vũ Canh làm chúa đất cũ của nhà Thương và sai ba người em giám sát Vũ Canh (gọi là Tam giám).

    9- Quản thúc là anh Chu Công Ðán, cùng với Vũ Canh phao vu cho Chu Công muốn giết Thành Vương để cướp ngôi. Bị Chu Công giết ở đất Thương. Sái thúc, em con nhà chú của Thành Vương, chúa nước Sái, cũng làm phản với Vũ Canh, bị Chu Công giam ở xóm Quách.

    10- Chu Công tức Chu Công Ðán, em Vũ Vương, giúp Vũ Vương và Thành Vương (con Vũ Vương). Bị bọn Quản, Sái vu là muốn cướp ngôi, phải lánh hai năm sang miền Ðông. Vũ Vương ốm nặng, Chu Công viết chúc tự nguyện chết thay, cất vào hòm, niêm phong (có chỗ nói Chu Công bói biết là vua không việc gì). Tới mùa gặt, trời nổi giông bão, cây lúa đổ rạp, vua giở bản chúc ra xem mới biết Chu Công oan, hối khóc, Trời lại trở gió, cây lúa đứng trở lại hết. Chu Công dẹp xong bọn Quản, Sái, giết Vũ Canh, chiếm đất nhà Thương cũ nhập vào đất nhà Chu, phong cho Cơ Tử, họ vua nhà Ân, làm chúa nước
    Tống, Vi Tử, con cả vua Ân, làm chúa Cao-Ly.

    11- Thái Tổ Cao Hoàng Ðế là Lê Lợi.

    12- Hãn, Sảo : Trần Nguyên Hãn (con cháu nhà Trần), Phạm văn Sảo (người kinh lộ), có công giúp nước, được trọng vọng. Lê Thái Tổ cho là có chí khác.

    13- Ngân, Sát : Lê Ngân, Lê Sát là võ thần giúp Lê Thái Tổ dựng nghiệp, được liệt hạng công thần năm 1429.

    - Ðại Tư đồ Lê Sát : Tháng 6 năm 1437 vua xuống chiếu kể tội Sát chuyên quyền, ghen người tài, ghét người hiền, giết Lê Nhân Chú, truất Trịnh Khả, bãi chức Ư Ðài (khuyên không nên tin dùng đại thần, Sát mấy lần xin giết) lưu viễn châu, đuổi Cầm Hổ (ngôn quan) ra biên thuỳ khiến gián quan câm miệng. Bị khép tội theo hình luật đáng chém nhưng vì là đại thần cố mệnh, có công với nước, được khoan thứ, chỉ bãi chức. Tháng 7, cho được tự tử trong nhà. (Tuy nhiên sử cũng chép vua Thái Tông tin dùng hoạn quan, Lê Sát xin giết, vua không nghe, Sát cáo ốm, không vào chầu v.v...)

    - Lê Ngân nguyên giữ chức Tư khấu. Tháng 7 năm 1437, vua lấy Chiêu nghi Lê Nhật Lệ, con Ðại Ðô đốc Lê Ngân làm Huệ phi, phế Nguyên phi Ngọc Dao, con Lê Sát, làm thứ nhân.

    14- Ðời Ðào Ðường Trung quốc chia làm 9 châu.

    15- Tam hữu trạch tâm: Luận Ngữ, "Quý Thị": "Ích giả tam hữu, tổn giả tam hữu", nghĩa là có ba hạng bạn ích lợi, có ba hạng tổn hại ; trạch là chọn lựa. Ý nói kết giao với bạn phải chọn bạn tốt, tránh bạn xấu.

    16- Thiệu Công Thích là con Văn Vương, em Vũ Vương, giữ chức Phương Bá Di, ban bố chính lệnh ở phương Nam.

    17- Thành Vương là con Vũ Vương, vua thứ ba nhà Chu, khác với Thành Thang là vua đầu nhà Thương, đã giết vua Kiệt nhà Hạ Vũ, lập ra nhà Thương (1766-1123).

    18- Tam giám: Quản thúc, Sái thúc, Hoắc thúc có trách nhiệm giám sát Vũ Canh.

    19- Cầm Hổ là ngôn quan họ Bùi, ngăn không cho Lê Sát dùng lại Trịnh Hoành Bá trước kia bị Thái Tổ cho là nịnh thần, bỏ không dùng, Lê Sát muốn dùng lại, Cầm Hổ vì tâu hặc Sát, bị đầy ra biên thùy. Sau khi Sát bị bãi chức, làm Ngự sử Trung thừa.

    20- Thiên Tước: có lẽ là Nguyễn Thiên Tích? Theo Cương Mục IX, tr. 35: Trịnh Hoành Bá trước kia bị Thái Tổ bỏ không dùng, Lê Sát cho là có tài muốn dùng lại. Ngôn quan là Bùi Cầm Hổ và Nguyễn Thiên Tích can rằng tiên đế đã có chỉ dụ không cho dùng Hoành Bá.

    21- Trong Luận Ngữ, "Kinh" là phần chép lại những lời dậy của Khổng Tử, "Truyện" là phần môn đệ Khổng Tử giảng giải ý nghĩa của "Kinh".

    22- Cao Dao làm chức Sĩ thời Ðại Vũ, coi về hình pháp, trị dân bằng khoan hồng, trồng đức, sửa mình.

    23- Y Doãn dậy vua Thái Giáp, con Thành Thang (người đánh vua Kiệt nhà Hạ, lập ra nhà Thương): yêu từ người thân, kính từ người trưởng, bắt đầu từ nhà, đến nước, cuối cùng tới bốn biển... Sửa mình cho có đức, dân chỉ mến người có nhân.

    24- Phó Duyệt : Vua Cao Tông xong tang ba năm vẫn không chịu nói, bầy tôi can, vua viết thư dụ: "Kính lặng để nghĩ về đạo. Ta chiêm bao thấy Thượng đế cho ta người giúp việc tốt, hắn sẽ nói thay ta. Xét Duyệt ở nội Phó nham thật hệt, lập làm Tướng, để ngay cạnh mình, sớm hôm dâng lời dậy để giúp đức ta". Duyệt được coi trăm quan, chủ trương: chức không tới kẻ thân riêng, cốt phải người tài, tước phong cốt phải người hiền. Chính trị phải thuần nhất, việc phải chăm, có dự bị thì không lo. Chẳng phải biết là khó, làm mới là khó.
     
    Hannibal2010, Despot, thanhbt and 2 others like this.
  3. Hannibal2010

    Hannibal2010 Lớp 2

    Cũng na ná đề thi môn văn ngày nay các bác nhỉ :D
     
Moderators: canaximuoi

Chia sẻ trang này