Thiên Sứ - Phạm Thị Hoài

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi Cải, 8/9/14.

Moderators: Văn Lộc
  1. Cải

    Cải Cử nhân

    [​IMG]

    Tên nhân vật chính của tác phẩm (và cũng trùng với bút danh của tác giả) là Hoài. Chẳng biết tại sao chị lại đặt cho nhân vật của mình cái tên ấy: nỗi nhớ. Có điều, tác phẩm của chị cũng giống hệt như một nỗi nhớ, một hoài niệm kín đáo nào đó, một dòng suy tưởng lặng lẽ, lan chảy. Và cô bé Hoài nắm tay dắt ta vào một thế giới hoàn toàn khác lạ với thế giới của chúng ta, thế giới của riêng một “nỗi nhớ” với “bốn trăm ô vuông nâu và một khuôn chữ nhật biến ảo, xoay như xoay rubic,” trong một hệ thống khổng lồ như những tấm gương lồi lõm, những đa giác, lục giác, bát giác gương quay tròn xung quanh một tâm điểm: con người. Con người với những biến dạng phức tạp của nó, một con người lập thể chứ không hẳn là một con người bằng xương bằng thịt, càng không phải là một Con Người viết hoa.

    Sau những năm dài của một nền văn học mà người ta đang “sám hối” – nói như Nguyễn Minh Châu - Thiên sứxuất hiện như một điều ngẫu nhiên. Vì độc giả Việt Nam, hay nói cho chính xác hơn, thị hiếu văn chương Việt Nam chưa chuẩn bị để đón nhận một tác phẩm văn chương loại này của một nhà văn Việt Nam. Chỉ vài năm nay thôi, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Ấm, Nguyễn Thị Thu Huệ mới đăng quang bằng những tác phẩm mang hơi hướng tình dục, chứ vào thời điểm mà nó ra đời (cách đây đã năm sáu năm), Thiên sứ chỉ gặp phải sự lạnh lùng của giới phê bình Việt Nam. Người ta nhắc khẽ đến nó trong những cuộc nói chuyện không chính thức của giới văn nghệ, tác phẩm được biết tới trong một nhóm rất nhỏ những người yêu văn học, vậy thôi. Một số nhà phê bình nhanh nhảu đã kịp viết bài chỉ trích, tiếc thương cho một tài năng trẻ sớm sa vào cạm bẫy của “chủ nghĩa hiện sinh,” “chủ nghĩa siêu thực” và vô số những “ism” gì đó mà những đầu óc “thông kim bác cổ” đó vốn rất sẵn. Nhưng thời đại đã khác rồi, và một trận đòn hội chợ đã không kịp xảy ra. Bị thích trên mình dấu hoa huệ của một tác phẩm “có vấn đề,” Thiên sứ chìm vào trong một sự im lặng đầy ác ý, và ngay cả các giải thưởng quốc tế mà nó giành được gần đây cũng không đủ sức xóa tan bức màn im lặng đó.

    Thực ra trong bất kỳ một sự chỉ trích nào cũng hàm chứa một phần sự thật nào đó. Đằng sau lời nhận xét dè dặt “thiếu dung dị” là sự bối rối của các nhà phê bình trước một tác phẩm không hề đơn giản. Vốn quen với những chủ đề dễ hiểu của “chiến tranh và xây dựng,” với những “hoàn cảnh điển hình và nhân vật điển hình,” với những bức tranh chỉ có đen và trắng, phải và trái, không có chỗ cho những bóng nhoè đen trắng, không có chỗ cho những tình cảm phức tạp khó hiểu, họ lúng túng và ngượng ngùng khi phải đối mặt với sự sâu thẳm của thế giới nội tâm, của tiềm thức hay những xung đột kỳ quặc của một thế giới hiện đại ngày càng buồn chán hơn với một con người ngày càng cô độc hơn. Và cái thế giới của một cô bé vĩnh viễn mười bốn tuổi, ấp ủ trong lòng mình ký ức về một vừng mặt trời đỏ ối và một vùng hồ mênh mang, bó chặt trong một khung cửa sổ với những ẩn ức khó hiểu của riêng nó lại càng xa lạ đối với họ.

    Cái lạ của Thiên sứ lại vốn dĩ… không hề lạ. Đúng là lạc vào thế giới của Thiên sứ, chúng ta như lạc vào mê cung của nhà vua Minos, nếu thiếu sợi chỉ màu của nàng Ariadne sẽ thật khó tìm thấy đường ra. Và nếu cứ chia nhân vật ra tuyến nọ tuyến kia trong hành trình khô cứng của cái bắt đầu và cái kết thúc, của thắt nút và cởi nút, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ rối bời trong một đống mâu thuẫn khổng lồ. Có nhà văn đã nói “trên đời có những cái rất thật mà lại không phải là sự thật!” Đúng vậy, cũng như có những cái tưởng là không thật mà lại chính là sự thật. Bởi bản thân tác phẩm đã là một “rừng biểu tượng” – nói như Baudelaire (Correspondences - Tương hợp) – Chúng ta phải biết cách thâm nhập vào cánh rừng ấy. Hãy đọc Thiên sứ theo cách khác, cái cách mà Hoài Thanh đã khuyên khi ông nhận xét về tuồng. Hãy hiểu tính ước lệ của nó, hãy loại bỏ, thanh lọc mình khỏi những thiên kiến chủ quan về phải và trái, về cái có thật và cái trừu tượng, nhập thân vào thế giới của các nhân vật, các huyền thoại, các biểu tượng, mở lòng ra và “văn sẽ tràn vào trong ta trong một giây” (Chekhov).

    Bởi lẽ cái quyến rũ nhất của Thiên sứ là chất ảo của hiện thực. Không phải ngẫu nhiên câu chuyện lại được xây dựng trên hồi ức của một cô bé, trên dòng suy tưởng chậm chạp và lắng đọng của một tâm hồn bất biến trước những biến động của xã hội và thời gian. Tâm điểm ở những tấm gương dồn tụ ở Hoài, “ốc nhỏ bám riết bậu cửa sổ,” vĩnh viễn “mười bốn tuổi.” Em là con mắt bão, và thế giới trong Thiên sứ là thế giới của riêng em, được nhìn bằng con mắt của em, thế giới trong trắng của trẻ thơ, thế giới của những ước mơ mộng tưởng kỳ ảo. Chính đây là tấm lăng kính tạo cho Thiên sứ vẻ hư ảo quyến rũ ngần ấy.

    Không chỉ có Phạm Thị Hoài đặt niềm tin của mình vào tuổi thơ. Có người đã than thở: “Tôi thường thích nói chuyện với trẻ con, ít ra thì còn có hy vọng là chúng sẽ trở thành những tạo vật có trí tuệ, còn những kẻ ngay tự bây giờ đã coi mình là thế thì… than ôi!” Phải, chỉ có trực giác tuyệt vời của trẻ nhỏ mới có thể đưa ra cái logic cực kỳ đơn giản rằng loài người chỉ có hai loại “homo A và homo Z,” “người có khả năng âu yếm dịu dàng và kẻ không có khả năng ấy.” Hoàn toàn chỉ tuân theo một quy luật, quy luật của trái tim, mười lăm năm ròng, cô bé Hoài làm cái việc phân chia ấy một cách “nhẫn nại, không tò mò, không giàu óc tưởng tượng,” dường như đó là “công việc có ý nghĩa duy nhất trong cuộc đời cô.” Tâm hồn trong trẻo của cô bé Hoài như một tấm lưới lọc khổng lồ, tách nhân loại ra làm hai hạng: có xúc cảm và vô cảm. Thật đơn giản làm sao! Nhưng như lời chú mèo của Hans Christian Andersen đã nói trong Nữ thần băng giá: trực giác tuyệt vời ấy, khả năng kỳ diệu ấy là món quà Thượng Đế dành riêng cho trẻ nhỏ. Khi lớn lên con người ta quên đi, đánh mất dần khả năng ấy, và đến một lúc, không còn tin rằng có thời họ đã suy nghĩ và hành động như vậy. Người lớn với cả một hệ thống logic rắc rối đầy ắp những cái có thể và cái không thể, nên và không nên, có lợi và không có lợi làm sao có thể chấp nhận cái triết lý rạch ròi về homo A và homo Z, cũng như họ đã nhìn “lầm” hình vẽ con trăn nuốt con voi thành cái mũ trong truyện Hoàng Tử Nhỏ (Le Petit Prince) của Saint-Exupéry. Khả năng cảm đã phải nhường chỗ cho khả năng hiểu. Phải chăng vì thế mà cô bé Hoài đã chui vào vỏ ốc của mình “Ba mươi kilogam, một mét hai mươi nhăm, đuôi sam”? Em từ chối quyền lớn lên, từ chối nhập vào vòng chuyển động Brown, “khước từ các loại bậc thang” để giữ lại cho mình cái quý giá nhất của con người, khả năng có xúc cảm. Bởi vì – quay lại với Saint – Exupéry – chú cáo trong Hoàng Tử Nhỏ nói: “Người ta chỉ thấy thật rõ bằng trái tim mình, cái chủ yếu thì mắt chẳng thể thấy.”

    Nhưng cái lứa tuổi mười bốn vĩnh hằng của Hoài chỉ là vỏ ốc, lớp vỏ vật chất bảo vệ cho một cái gì đó sâu thẳm hơn, dữ dội hơn. Dưới đó là tầng sâu của những rung động thầm kín, của những khao khát không được thỏa mãn, những đòi hỏi bị ghìm nén trong tâm hồn một phụ nữ hai mươi chín tuổi. Một người đàn bà khao khát yêu thương và được yêu thương, khao khát cho và nhận bị ép chặt trong hình hài một cô bé mười bốn tuổi. Một khuôn mặt trẻ con che chở cho một tâm hồn mang “cơn sốt núi lửa,” suốt mười lăm năm ròng làm “một nhân chứng câm lặng, thông tỏ quyết liệt, không bao giờ quay lưng lại cuộc đời.” Bên trong lớp vỏ “Hoài” là rất nhiều cuộc sống khác nhau. Em mang trọn gánh nặng của một “nỗi buồn kinh niên,” nỗi đau của “một con búp bê bé nhỏ, câm lặng,” biết trước tất cả, đoán trước được tất cả mà lại không thể thay đổi được điều gì, em – “đứa con út già trước tuổi gánh chịu tất cả những gì bố mẹ và anh chị nó chưa kịp hiểu.”

    Không hiểu sao, khi đọc Thiên sứ, tôi cứ hay nghĩ đến Cậu bé mơ mộng của Paven Virginov, Jennie trong Chân dung nàng (Portrait of Jennie) của Robert Nathan, Hoàng Tử Nhỏ của Saint-Exupéry. ở tất cả những nhân vật ấy có một điểm chung. Các em dường như không thuộc về thế giới của chúng ta mà thuộc về một thế giới khác bí hiểm hơn, “một thế giới chưa kịp đến.” Bởi vì thế giới trong Thiên sứ là một đa thế giới. Như một hình cầu được tạo bởi vô số những đường tròn đồng tâm, thế giới ảo và thế giới thực, không gian được trải dài ra và không gian bị dồn nén, thời gian một chiều và thời gian nhiều chiều, tất cả đan xen vào nhau tạo thành một sự tương hợp tuyệt vời. Hoài thu mình lại tới mức tối thiểu, thành “ốc nhỏ bám riết bậu của sổ” để có thể thoát ra khỏi thế giới này, nhập thân vào thế giới nội tâm của riêng mình. Lạc lõng giữa thế giới thực, thế giớí các đồ vật, cô bé Hoài im lặng chịu đựng nỗi đau của căn bệnh tổ tông với lời nguyền khắc nghiệt: đau nỗi đau của toàn nhân loại, không có được cả niềm an ủi của một “hành trình khép kín” như bé Hon. Em không thuộc vào bất cứ một thế giới nào trong Thiên sứ. Hoài, với “một mét hai mươi nhăm, ba mươi kilogam, đuôi sam” chỉ là lớp vật chất thô kệch giúp cái tôi của em xuyên qua ranh giới của thế giới ảo và vào thế giới của chúng ta, tại những điểm cắt bất đắc dĩ của hai thế giới. Cái tôi mới chính là chất trừu tượng của nhân vật Hoài, là phần nhân bản, là bản năng nguyên thuỷ của con người, tất cả hòa lẫn trong nhau thành một khối phi vật chất thấm đẫm xúc cảm.

    Thiên sứ trước hết là câu chuyện về cuộc phản kháng đầy phẫn nộ, cuộc chiến tranh âm thầm mà khốc liệt, day dứt và tuyệt vọng trong nỗi cô đơn của phần nhân bản đó, chống lại một xã hội tẻ nhạt, xơ cứng, chống lại quá trình xâm thực từ từ bào mòn các xúc cảm của con người để bảo vệ những gì quý báu nhất của nhân loại: tính người, niềm tin ngây thơ vĩnh hằng và bản chất thánh thiện của con người. Phản kháng trước tiên bằng thái độ khước từ. Cô bé Hoài kiêu hãnh tuyên bố: “Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào. Tôi từ chối bất kỳ bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào.” Đối với Hoài, những giá trị tinh thần may sẵn ấy là nguồn gốc nỗi bất hạnh của cả vài thế hệ, với vô vàn những Paven Kocshaghin, Ruồi Trâu F1, F2, F3 đi đứng nói năng, sống, tư duy và yêu đúng theo khuôn mẫu. Cô đã chọn một tác phẩm – mà cô cũng phải thừa nhận là chỉ đáng giá ba xu – làm chiếc chìa khóa đưa mình tới văn học. Âu cũng là một cách phản ứng! Cái quan trọng không phải cuốn sách đã đem lại gì cho Hoài, cái quan trọng là nó đã đánh thức trong cô tình cảm nguyên thủy, bản năng, khẽ hé mở trước mắt cô cánh cửa bí mật mà – một cách vô thức – tất cả mọi đứa trẻ đều ao ước được ghé đầu vào xem. Cô tự chọn lấy cho mình một thang giá trị riêng, một thang giá trị chỉ có ý nghĩa với riêng cô. Văn học ý thức đã phải nhường chỗ cho văn học tiềm thức!

    Thực ra bản thân nhân vật Paven Korshaghin hay Ruồi trâu đều không có gì xấu, ngược lại là khác. Điều bi thảm là ở chỗ đám đông đã chọn khuôn mẫu của một trong hai nhân vật này làm thần tượng cho mình. Và khi đó, nhân vật chỉ còn có cái tên. Đám đông chọn thần tượng của họ không dựa theo uy tín tự bản thân mà chỉ đua đòi theo ý kiến của các chuyên gia, của nghệ thuật chính thống. Không phải tư tưởng đã nắm được đám đông, mà thực ra đám đông nắm lấy tư tưởng để sáng tạo ra một bộ đồng phục tinh thần hào nhoáng cho mình.

    Độc giả trẻ của ngày hôm nay hẳn khó có thể cảm nhận tính xác thực trong những trang viết của Phạm Thị Hoài về cuộc sống đô thị những năm cuối bảy mươi đầu tám mươi. Không thể trách ngòi bút trào phúng đến cay độc, mai mỉa chua chát của Phạm Thị Hoài khi viết về cuộc sống tẻ nhạt, trì trệ, bức bối của Hà Nội thời kỳ đó. Còn gì kinh khủng hơn cái cảnh “hàng trăm tín đồ cuồng nhiệt xếp hàng trẩy hội tới chiếc vòi nước duy nhất” hay khi hiện tượng số đề trở thành “một trong ba thông tin xã hội hấp dẫn và phổ biến nhất.” Xã hội sẽ đi về đâu nếu như trong hành trang tinh thần của lớp trẻ là những lời giảng kỳ dị “Bơ là loại thịt, người ta đóng trong ống bơ” hay “những số báo Thiếu niên Tiền phong hai màu loè loẹt và ngớ ngẩn, một vài đầu truyện Kim đồng do người lớn hạ cố viết cho lũ trẻ, của bố thí hèn hạ.” Con người như người anh thứ hai của cô bé Hoài quên dần đi những đam mê (dẫu cho đó là những đam mê nhục cảm), đánh mất dần xúc cảm, trở thành các công chức ngoan ngoãn, “sớm xách cặp lồng đi, tối xách cặp lồng về” những chiếc đinh ốc của một bộ máy già cỗi, hoen rỉ. Đó chính là điều đáng sợ nhất. Nỗi ám ảnh khôn nguôi của cô bé Hoài là giấc mơ về những kẻ không có mặt, chính xác hơn là những kẻ bị “chiếc giẻ lau cuộc sống… tước bỏ toàn bộ những gì làm nên bộ mặt đặc trưng của một con người.” Kinh sợ trước viễn cảnh của một xã hội bị thoái hoá hoàn toàn về tư tưởng, nhà văn thảng thốt tự hỏi, sẽ ra sao nếu như tất cả mọi người đều bị dìm trong “khoảng chân không khổng lồ, hòa tan giải thể” đó?

    Xã hội được tái hiện trong Thiên sứ là lời cảnh báo về một xã hội bị đồ vật hóa chỉ còn sống bằng nhịp diệu của trái tim sinh học, chiếc bơm nhỏ đáng thương. Không còn đấu tranh tư tưởng để được thừa nhận, hy sinh cả cuộc sống vì một lý tưởng trừu tượng nào đó. Đấu tranh tư tưởng đòi hỏi phải có óc tưởng tượng và tư duy sắc bén. Thay vào đó chỉ còn nhà cửa, ăn uống, quần áo và cuối cùng, đơn vị chuẩn để đo tất cả những thứ đó – Tiền là làm cho những con người – nửa máy phải suy nghĩ. Trong Thiên sứ con người chưa bao giờ là homo sapiensvà sẽ không bao giờ trở thành homo sapiens bởi nó chỉ suy nghĩ về thế giới bên ngoài mà không tìm về thế giới bên trong, không chịu suy nghĩ về mình, về con người. Họ chỉ sống một cuộc sống hời hợt trên bề mặt, một cuộc sống chuyển động hết sức nhanh theo thời gian, bởi vì họ đã quên rằng thời gian còn có cả chiều sâu.

    Giữa hình ảnh có thực về một thế giới hỗn tạp, lộn xộn, đau khổ là giấc mơ tuyệt diệu về Thiên sứ - bé Hon mang “nụ cười mê hồn” và “đôi môi thơm mùi sữa.” Hàng ngàn năm mới có một lần thiên sứ ghé thăm trái đất.Thiên sứ “tỏa ánh sáng trong và hiền lành” hào hiệp ban phát môi hôn và tình yêu cho tất cả. Bé Hon muốn chiến thắng cái ác bằng “nụ cười và môi hôn” muốn cứu rỗi nhân loại bằng vẻ đẹp kì ảo và thánh thiện của mình, thức dậy trong mỗi một con người tình yêu cái đẹp, nỗi khát khao quay trở lại với cái đẹp trắng trong nhân bản.

    Thực ra triết lý của Phạm Thị Hoài không có gì mới mẻ, vẫn là tư tưởng cái đẹp sẽ cứu thế giới của Schopenhauer và Dostoyevsky, có điều ở đây, cái đẹp đã không có đủ sức mạnh cần thiết. Con người quay lưng lại… và “sứ giả pha lê” lặng lẽ bay đi, giã biệt trái đất trong nỗi xót xa đối với toàn nhân loại. Con người đã đánh mất cái đẹp, đánh mất cả một thế giới – thế giới tâm hồn.

    Cặp chị em Hằng – Hoài chính là hai mặt của cái đẹp, cái đẹp phô diễn được và tiềm ẩn ở bên trong. Chị Hằng là lớp vỏ, cô bé Hoài là bề sâu. Điều bất hạnh là cả hai không nhập vào làm một mà lại tách làm hai nửa sống với thế giới của riêng mình, chịu những bi kịch riêng. Hằng là cái đẹp đã bị dành giật, xô đẩy tha hoá, đã được rao bán và đã bị mua, do đó dù có “nổi loạn” tới mức nào cuối cùng cô vẫn quay về với “chiếc lồng bằng vàng.” Không phải ngẫu nhiên mà Hằng và nhà thơ Ph. đã đến với nhau trong một mối tình “ngàn năm có một.” Nhà thơ Ph. chính là người ca ngợi cho cái đẹp lý tưởng, siêu thực. Anh làm thơ chỉ vì anh không thể không làm thơ, anh “không làm thơ cho vui.” Anh cũng thuộc về một thế giới riêng, sống với thế giới riêng của mình. Và khi chị Hằng bị cái thế giới đồ vật chiếm hữu, anh lặng lẽ biến mất. Không phải “vấp đời thường nhật, tan vỡ chiếc thuyền tình” mà vì họ đã thuộc về hai thế giới hoàn toàn khác, hai thế giới không còn điểm chung.

    Trong tác phẩm của mình, Phạm Thị Hoài kiêng nhất hai chữ lãng mạn, nhân vật Hoài của chị ngay từ trang đầu đã tuyên bố dứt khoát: “Tôi dị ứng kịch liệt trước các kiểu lãng mạn.” Chị sợ cái từ này đến nỗi mỗi khi có bất cứ một hình ảnh nào dễ đưa người đọc đến với những liên tưởng hơi thơ một chút là chị phải choang thêm ngay ra những lời giải thích hoặc những hình ảnh kế tiếp – ít ra thì cũng không được lãng mạn cho lắm. Cửa sổ nhà cô bé Hoài “không mở vào hoa” mà mở vào “một nhà máy rượu bia,” anh thanh niên “homo A một trăm phần trăm” cầm trong tay không phải chiếc vĩ cầm mà là một chiếc bơm xe đạp… và còn nhiều điều nữa. Ngay cả sự ra đời của “Thiên sứ” cũng diễn ra như trong một phản cổ tích, khi các yếu tố của huyền thoại và hiện thực trần trụi chen vai thích cánh cạnh nhau, xuyên tạc lẫn ý nghĩa của nhau. Cách gắn cái “grotesque” (thô kệch) vào bên cạnh cái thơ đã trở thành phản xạ của ngòi bút Phạm Thị Hoài. Cái chính là chị sợ… sự thoái hóa của cái nghĩa mà từ lãng mạn đang được xã hội tiếp nhận, sợ “mớ sương mù tình cảm mà thiên hạ ra sức tung vào mắt nhau” để “che lấp tất cả, xóa nhòa tất cả.” Cô bé Hoài không muốn “cùng chung hành trình” với thứ tình cảm bi ai rẻ tiền ngụy tạo, những mối tình hàng xén thấm đẫm son môi và nước mắt ấy. Không, chữ “lãng mạn” phải được hiểu một cách khác, sâu thẳm hơn rất nhiều. “Chủ nghĩa lãng mạn trong cái ý nghĩ chặt chẽ nhất và chính yếu nhất của nó không gì khác hơn là thế giới bên trong của con người, sự sống bí mật của con người” (Bielinsky). Chính vì vậy mà chị Hằng của cô bé Hoài đã thốt lên: “Em hoài nghi tình cảm, chỉ bởi em quá nhạy cảm. Em khước từ chủ nghĩa lãng mạn, chỉ bởi em là kẻ lãng mạn nhất trong số những kẻ lãng mạn.” Không chấp nhận thứ chủ nghĩa lãng mạn dung tục, chủ nghĩa lãng mạn theo thời trang ấy, cô bé Hoài luôn luôn giữ cho mình một thế giới bên trong, được nuôi dưỡng bằng những nỗi đau âm thầm và những linh cảm huyền diệu. Chính chất lãng mạn bản năng đó đã giúp cô gìn giữ niềm tin vào nhân loại, bản chất tốt đẹp của con người.

    Hai mươi chín năm là cả một quãng thời gian dài và mặc dù Hoài “chưa bao giờ thôi phẫn nộ trước những ung nhọt mỹ miều mà con người phô ra cùng đồng loại,” không khỏi có những lúc cô mệt mỏi, ngã lòng: “Sự phản kháng của tôi sẽ đi đến đâu?” Lại vẫn là câu hỏi “Quo vadis” của thánh tông đồ Pierre và ngay chính Đức Chúa Giê-Su có lẽ cũng không trả lời Hoài được. Cô đã bị thần số mệnh bắt phải vác cây thập tự trên vai tới trọn đời. Chính sự mù lòa của xã hôị, của con người, trước hiểm hoạ khủng khiếp của một xã hội trì trệ đã làm cho cô tuyệt vọng, oán hận. Nhưng dù sao, cô vẫn còn giữ gìn lòng tin của mình như người ta đã từng giữ gìn ngọn lửa những ngày đông. Hoài cũng đã viết ba trăm lần cái tên Ph. vào những tấm phiếu cầu hôn cho chị Hằng như một cố gắng tuyệt vọng để bảo vệ cho cái chân lý: “Người ta sinh ra để thuộc về nhau, ” níu kéo lại cái đẹp. Ngọn lửa chỉ thiêu được cái vỏ còn niềm tin thì vẫn còn đấy. Cô bé Hoài vẫn giữ cho mình nắm tro từ “ba trăm lần Ph.” như giữ mãi niềm tin vào sự vĩnh hằng của cái đẹp trước sự tấn công của đồng tiền và cái tầm thường của cuộc sống.

    Đọc Thiên sứ thật thích! Giống hệt như khi ta đang khát khô cổ mà lại tìm đến được với một dòng sông rộng chỉ muốn cúi xuống uống cạn cả con nước chảy, khao khát ôm chặt cả dòng sông vào lòng nhưng khi ngửng lên, dòng sông vẫn lặng lẽ tuôn chảy, cả một khối nước ẩn hiện lung linh. Dòng nước thì vẫn trôi xuôi nhưng có con sông nào là con sông cũ?

    Thiên sứ, bản thân nó đã là một khối văn bản, một văn bản nhiều chiều, nhiều tầng lớp. Nó vừa là một sân khấu kịch khổng lồ với các nhân vật truyền thống của sân khấu phương Tây: nhà thơ, thằng lùn, người đẹp, du côn, ác quỷ… trên cái nền ngột ngạt của một không gian tù hãm, vừa là một bài thơ văn xuôi dài. Rất nhiều câu thơ của Phạm Thị Hoài cứ luyến đi láy lại, tạo thành những giai điệu thắm thiết, quấn quýt lấy nhau, tạo thành những vực xoáy của từ ngữ thăm thẳm. Và còn những điển tích… những điển tích của văn hóa phương Tây chưa bao giờ đậm đặc và trải rộng đến thế trong một tác phẩm văn học Việt Nam . Từ thần thoại Hy Lạp tới chuyện cổ Andersen, từ Kinh Thánh cho đến Don Quixote, từ những “chuyển động Brown” trục tung trục hoành, Hypecbon cho tới những lời bài hát tiếng Anh quyến rũ (Open your heart, Im coming home - bài Hey, you của Pink Floyd,The end of something của Beatles) hay những phim, nhân vật tên tuổi của điện ảnh thế giới (Henry Fonda, The Streetcar Named Desire…) Tất cả đi vào trong văn bản Thiên sứ tự nhiên và hoà hợp một cách kỳ lạ. Những điển tích hiện đại này làm cho nhiều người khó chịu. Nhưng thật bất công với tác giả khi chê chị là “Tây Tàu hổ lốn,” trong khi những điển tích của văn hóa Trung Quốc lại được xưng tụng. Có lẽ, sai lầm của Phạm Thị Hoài là ở chỗ chị là người đi tiên phong. Còn nếu như Thiên sứ chỉ giành cho một lớp độc giả có chọn lọc thì có gì là sai trái? Khả năng cảm thụ cái đẹp đòi hỏi một vốn văn hóa nhất định để giải mã.

    Thiên sứ là một tác phẩm mở. Gấp sách lại, câu kết của câu chuyện lại như mở ra trước mắt ta một cánh cửa mới, bắt đầu một câu chuyện mới: “Lúc đó là không giờ kém hai phút ngày năm một ngàn chín trăm bảy mươi chín.” Dư âm ấy thật đáng tiếc, lại không kéo dài tới những tác phẩm sau. Tập truyện ngắn Mê lộ của chị đã mất đi giọng dài hơi của Thiên sứ. Nhưng sự nghiệp của chị còn dài, và độc giả hãy còn rất nhiều hi vọng đặt nơi chị

    gocnhintangphat.com
     

    Các file đính kèm:

    tigonvotan, anne, lotus and 17 others like this.
Moderators: Văn Lộc

Chia sẻ trang này