Văn học nước ngoài R Trên đường - Jack Kerouac <The Happiness Project #21-F>

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi teacher.anh, 24/6/16.

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Tren duong - Jack Kerouac.jpg

    TRÊN ĐƯỜNG


    Dịch từ nguyên bản tiếng Anh: On the Road.
    Tác giả: Jack Kerouac
    Người dịch: Cao Nhị
    NXB Văn Hóa Sài Gòn & Nhã Nam phối hợp thực hiện
    Năm xuất bản: 2008
    Số đăng ký KHXB: 371-2008/CXB/10-08/VHSG
    Quyết định XB: 244/QĐ-VHSG
    Khổ sách: 14 x 20,5cm
    Số trang: 465 trang

    Những người tham gia:

    - Nguồn sách, scan: @Cải
    - OCR, soát lỗi: @teacher.anh, @B.bilant
    - Biên tập và hiệu đính:
    - Tạo eBook:
    - Review:
    Thời gian hoàn thành:

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link #21-F
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Giới thiệu

    Về tác giả:

    tacgia.jpg
    Jack Kerouac sinh năm 1922, là con út trong một gia đình người Mỹ gốc Pháp ở Lowell, bang Massachusetts. Thời phổ thông, ông từng học tại các trường công lập và Công giáo, sau đó giành được học bổng của Đại học Columbia thành phố New York. Tại đây ông gặp gỡ Allen Ginsberg và William s. Burroughs. Đến năm thứ hai, ông bỏ học sau một mâu thuẫn vói huấn luyện viên đội bóng bầu dục rồi gia nhập hải quân Mỹ, bắt đầu những chuyến ngao du không ngưng nghỉ chiếm hầu hết thời gian đời mình. Tiểu thuyết đầu tiên của ông, The Town and the City, ra mắt từ năm 1950, nhưng phải đến năm 1957 khi Trên đường được xuất bản, người ta mới biết đến ông như một phần của “thế hệ Beat". Cuốn sách ghi lại những kỷ niệm chu du khắp nơi của ông cùng Neal Cassady này đã đưa tên tuổi Jack Kerouac vào hàng ngũ những nhà văn vĩ đại nhất đương thời. Sau đó, Kerouac xuất bản nhiều cuốn sách khác, trong đó có The Dharma Bums, The Subterraneans Big Sur. Ông coi tác phẩm của mình chỉ là các phần của The Duluoz Legend. “Tất cả các tác phẩm của tôi,” ông nói, “sẽ cấu thành một cuốn sách đồ sộ như Đi tìm thời gian đã mất của Proust (...) Trong những năm cuối đời, tôi dự định sẽ tập hợp mọi tác phẩm của mình lại, đặt cho kho báu ấy một cái tên đồng nhất, rồi để lại đó cái giá dài đầy sách và thanh thản nhắm mắt.” Năm 1969, Jack Kerouac qua đời ờ Florida. Khi ấy ông mới bốn mươi bảy tuổi.

    Về tác phẩm:

    "Nếu như Mặt trời vẫn mọc của Hemingway ở thế kỷ hai mươi được coi như cuốn Kinh Thánh của thế hệ bỏ đi thì Trên đường của Jack Kerouac cũng đóng một vai trò như vậy với thế hệ Beat. (...) Thế hệ Beat sinh ra đã vỡ mộng. Họ coi những nguy cơ xảy ra chiến tranh, sự trì trệ của hệ thống chính trị, thái độ thù địch của cộng đồng là hiển nhiên. Sự giàu có không làm họ ấn tượng. Họ không biết mình đang tìm kiếm nơi nào để nương tựa, nhưng họ vẫn không ngừng tìm kiếm."

    Gilbert Millstein, New York Times Book Review.
    "(...) Văn phong xuất sắc (...) Phong cách độc đáo, mãnh liệt mà giản đơn, sắc sảo đến dị thường."
    The Atlantic Monthly
    "Một tiểu thuyết sẽ khiến độc giả của nó muốn ngay lập tức lên đường, chộp lấy tháng ngày hiện tại và sống, sống, sống đến tận cùng!"
    Anna Hassaghi, Hiram Unversity
    "Một cuốn sách về cách sống cuộc đời này".
    John Leland, New York Times

    Hiếm có cuốn sách nào có được ảnh hưởng sâu sắc đến thế đối với nền văn hóa Mỹ như Trên đường của Jack Kerouac. Hòa theo nhịp đập ngầm trong lòng nước Mỹ thập niên 1940, 1950, những nhịp đập của nhạc jazz, sex, ma túy, sự bí ẩn và những hứa hẹn của con đường rộng mở, cuốn tiểu thuyết kinh điển về tự do và khát vọng này đã định nghĩa "Thế hệ Beat", đồng thời gợi cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà thơ và những ai vẫn hằng kiếm tìm sự tự do và khát vọng ấy.

    Cuộc phiêu lưu xuyên Mỹ của Sal Paradise và Dean Moriarty trong truyện dựa trên chuyến đi có thật của Jack Kerouac và Neal Cassady. Về thực chất, đó chính là hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và sự trải nghiệm đích thục. Được viết bằng sự pha trộn giữa cái nhìn buồn bã ngây thơ với sự phóng túng cuồng nhiệt, giữa tình yêu sâu sắc của Kerouac với nước Mỹ, lòng trắc ẩn của ông với con người và cảm thức về ngôn ngữ, coi nó như nhạc jazz, Trên đường là một điển hình cho cách nhìn Mỹ về tự do và hy vọng, đặc biệt trong bối cảnh "Giấc mơ Mỹ" bắt đầu tan vỡ. Với Trên đường. Jack Kerouac bắt đầu phát triển một cách viết mà ông gọi là "Văn xuôi bột phát" (Spontaneuos prose) với đặc điểm gồm rất nhiều các câu dài, kết cấu hình thức phóng khoáng, được viết ra ngay khi ý tưởng ập đến trong đầu, mang tính cá nhân rất cao. Ngay khi ra đời, cuốn sách đã gây không ít tranh cãi, nhưng bất chấp những tranh cãi đó, Trên đường vẫn được đa số công nhận là một trong những tiểu thuyết vĩ đại nhất thế kỷ hai mươi của nền văn học Mỹ nói riêng và thế giới nói chung.

    o0o

    EBook này được nhóm The Happiness Project thực hiện nhằm chia sẻ, phục vụ cộng đồng, góp phần nhỏ trong việc nâng cao dân trí, thúc đẩy văn hóa Đọc cho các bạn không có điều kiện mua sách giấy.

    Khi bạn có khả năng, hãy mua sách giấy để ủng hộ tác giả, dịch giả và Nhà xuất bản!

    Do chúng tôi chưa thể liên hệ được với gia đình tác giả, dịch giả để xin phép nên rất mong gia đình tác giả, dịch giả và bạn đọc thông cảm và lượng thứ.

    Cảm ơn các bạn đọc, những người giúp chúng tôi có động lực thực hiện số hóa cuốn sách này.
     
    Chỉnh sửa cuối: 26/6/16
  2. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    1

    Tôi quen Dean ít lâu sau khi ly dị vợ. Tôi vừa mới qua khỏi một trận ốm nặng, chả có gì đáng nói nếu nó không liên quan tới vụ tan vỡ thảm hại và mệt mỏi kia và cảm giác của tôi rằng tất cả thế là tan nát hết cả. Dean Moriarty đến là bắt đầu một chương mới trong đời tôi, có thể đặt tên cho nó là “đời tôi trên những con đường”. Trước đây, tôi thường mơ được đến miền Tây để thăm thú đất nước, nhưng dự định mãi vẫn là dự định, về chuyện ngao du trên đường thì Dean là típ người hoàn hảo, bởi vì hắn được đẻ ra ngay trên đường, trong một cái ôtô xập xệ, khi bố mẹ hắn đi ngang qua Salt Lake City để về Los Angeles năm 1926. Tin tức đầu tiên về hắn đến với tôi là qua Chad King; tay này đem ra khoe với tôi những lá thư do Dean viết trong một trại cải tạo ở New Mexico. Tôi rất khoái những lá thư này, bởi hắn đã yêu cầu Chad, một cách ngây thơ và đáng yêu, cho hắn biết thật nhiều về Nietzsche và những thứ tri thức cao cấp kỳ diệu khác mà Chad biết. Có những lúc Carlo và tôi nhắc đến những lá thư đó và tự hỏi liệu có thể gặp được thằng cha Dean Moriarty quái dị này không. Vụ này lâu lắm rồi, từ lúc Dean chưa thành thằng Dean ngày nay, mà từ khi hắn còn là một thằng nhóc đầy bí ẩn bị nhốt trong trại. Rồi có tin Dean được ra trại và lần đầu tiên tìm đến New York; rồi lại nghe đâu hắn vừa lấy được một cô vợ tên là Marylou.

    Một hôm tôi đang tha thẩn gần trường đại học thì Chad và Tim Gray nói rằng hiện Dean đang sống trong một căn phòng tồi tàn ở Đông Harlem, khu Harlem Tây Ban Nha. Dean vừa tới đêm trước - lần đầu tiên hắn đến New York, cùng với nàng Marylou kiều diễm bé nhỏ và sắc sảo của hắn; họ xuống xe buýt ở Phố Năm mươi, đi cắt ngang góc phố tìm một nơi để ăn uống, và đi ngay vào Hector; kể từ đó quán ăn tự phục vụ Hector đã trở thành biểu tượng của New York trong mắt Dean. Họ ăn bánh ngọt ướp lạnh và bánh su kem.

    Suốt thời gian này Dean cứ cao giọng thuyết trình hoài với Marylou, đại loại: “Giờ đây, em yêu, ta đang ở New York. Và mặc dầu anh chưa kịp nói với em những gì anh nghĩ khi ta đi qua Missouri, nhất là khi ngang qua nhà tù ở Booneville, nó làm anh nhớ lại khi mình ở tù, thì nhất thiết ta cũng nên gác lại một bên những thư liên quan đến tình yêu cá nhân của chúng ta, để bắt đầu bàn đến một chương trình cụ thể của cuộc đời lao động...” và vân vân những cầu tương tự với cung cách hồi đó của hắn.

    Tôi và mấy chiến hữu tìm đến căn phòng tồi tàn ấy và thấy Dean mặc quần xà lỏn ra mở cửa. Marylou nhảy ra khỏi ghế sofa; Dean đã tống được tên chủ nhà xuống bếp, chắc là đi pha cà phê, để hắn rảnh tay giải quyết vấn đề muôn thuở của ái tình, với hắn thì tình dục là điều duy nhất thiêng liêng và quan trọng trong cuộc đời này, mặc dầu hắn luôn phải bấn lên như một thằng khổ sai để kiếm cái đút vào lỗ miệng. Theo cái cách gật gù đầu, hai con mắt nhìn xuống, như một tay đấm bốc lắng nghe chỉ dẫn của huấn luyện viên, người ta nghĩ hắn lắng nghe không sót từ nào, phun ra cả ngàn câu “Phải” và “Đúng thế”. Ấn tượng đầu tiên của tôi là Dean hơi giống với Gene Autry thời trẻ - đỏm dáng, mông nhỏ, mắt xanh và giọng đặc sệt vùng Oklahoma - một người hùng rám nắng của miền Tây tuyết phủ. Sự thật hắn đã làm việc trong một trang trại của Ed Wall ở Colorado trước khi cưới Marylou và sang miền Đông. Marylou là một cô nàng xinh đẹp tóc vàng với những búp xoăn lớn như những làn sóng cuộn; nàng ngồi trên mép sofa, hai tay đặt trên đùi và cặp mắt màu chân trời mù sương cứ ngơ ngác nhìn thẳng ra phía trước vì nỗi đang lạc trong một căn phòng thuộc loại tồi tàn nhất New York và cũng tai tiếng khủng khiếp mà ở tận miền Tây nàng đã từng nghe nói và nàng cứ chờ đợi, trông như một ngưòi đàn bà siêu thực trong tranh của Modigliani đặt ở một căn phòng thứ thiệt. Thế nhưng, ngoài việc là một con nhỏ kháu khỉnh ra thì nàng đúng là ngu không chịu được và có thể làm đủ trò kinh tởm trên đời. Đêm hôm đó, chúng tôi uống bia, vật tay và chuyện phiếm, cứ thế đến tận sáng lại vạ vật ngồi hút lại những mẩu thuốc thừa trong cái gạt tàn, dưới ánh sáng hiu hắt của một ngày ảm đạm, Dean bồn chồn vùng dậy, đi đi lại lại trong phòng, nghĩ ngợi và quyết định rằng điều cần phải làm ngay là Marylou đi nấu bữa sáng và quét nhà. “Nói cách khác, chúng ta bắt đầu phải băm vào đất thôi, em yêu, như anh đã nói với em, nếu không sẽ bấp bênh, kế hoạch của chúng ta sẽ mất đi tính thông thái đích thực và rõ ràng.” Đến đây thì tôi bỏ đi.

    Tuần sau, hắn tâm sự với Chad King rằng nhất thiết hắn phải học viết văn; Chad nói rằng tôi là nhà văn và phải hỏi ý kiến của tôi. Cùng thời gian này, Dean kiếm được việc làm tại một bãi để xe, cãi lộn với Marylou trong căn phòng ở Hoboken - có Chúa mới biết được sao họ lại đến đấy - và cô nàng nổi xung lên đến nỗi thấy có nhu cầu cấp thiết phải trả thù, nàng vác đơn kiện lên cảnh sát với lý do bịa đặt thế nào chẳng rõ, nhưng đã làm Dean phải chuồn khỏi Hoboken. Mất béng chỗ chui ra chui vào, hắn liền đi thẳng đến Paterson ở New Jersey - nơi tôi đang sống với bà cô. Một đêm, khi tôi đang làm việc thì nghe thấy tiếng đập cửa, hóa ra là thằng Dean của tôi cứ vặn vẹo mãi ngoài tiền sảnh. Hắn nói với tôi, “Chào, ông có nhớ đến tôi không, Dean Moriarty ấy mà? Tôi tìm đến để nhờ ông dạy tôi viết văn.”

    “Marylou đâu rồi?” tôi hỏi hắn và Dean nói đâu như cô nàng đang làm điếm, kiếm được dăm đô và đã tút đi Denver rồi. “Con điếm!” hắn kết luận. Rồi chúng tôi ra ngoài làm mấy vại bia vì không thể thoải mái ngồi chuyện trò với nhau ngay trước mũi bà cô đang ngồi đọc báo ngoài phòng khách. Bà nhìn xéo Dean một cái và quyết định coi nó là một thằng khùng!

    Ra ngoài quán, tôi nói với Dean, “Lạy Chúa, tôi biết chắc ông đến tìm tôi không phải chỉ để học nghệ thuật viết văn, mà kể cả thế thì tôi thực sự biết quái gì về nó cơ chứ, ngoại trừ việc phải đam mê viết như một thằng nghiện thuốc phiện.” Và hắn đáp, “Phải, tất nhiên, tôi hiểu rất rõ ông nói gì, và đúng là mình gặp đủ thứ rắc rối, nhưng cái tôi muốn là phải cụ thể hóa các yếu tố lệ thuộc vào thuyết lưỡng phân của Schopenhauer về sự nhận thức nội tâm...” Cứ cái luận điệu ấy hắn lải nhải thuyết giảng, tôi không hiểu gì hết mà chính bản thân hắn cũng chẳng hiểu gì ráo chọi. Lúc đó, đúng là hắn không hề biết mình đã nói ra những gì; tóm lại, đó là một thằng nhóc ngớ ngẩn vừa ở trong tù ra, hăm hở muốn được trở thành một nhà trí thức thứ thiệt, thích bắt chước ngữ điệu và lời ăn tiếng nói của các bác “trí thức thứ thiệt”. Tuy vậy, cũng nên nhớ rằng hắn không đến nỗi ngây thơ đến thế trong những chuyện còn lại, và chỉ cần đánh bạn với Carlo Marx vài tháng thôi là hắn đã thông thạo mọi thuật ngữ, và từ chuyên môn. Dù sao thì chúng tôi cũng hết sức thông cảm với mức độ điên rồ của nhau và tôi đã đồng ý cho hắn ở lại nhà mình cho đến khi hắn tìm được việc làm, ngoài ra còn bàn với nhau ngày một ngày hai sẽ cùng nhau đi miền Tây. Đó là mùa đông năm 1947.
    Một buổi tối, Dean ăn cơm ở nhà tôi - lúc này hắn đã đi làm ở một bãi gửi xe tại New York - hắn cúi xuống sát vai tôi trong khi tôi đang gõ nhanh máy chữ và nói, “Này ông bạn, không nên bắt các em phải đợi lâu, nhanh lên.”

    Tôi nói, “Chờ tí, xong chương này tôi sẽ đi ngay với ông,” đây là chương hay nhất trong cuốn sách của tôi. Rồi tôi mặc đồ và hai đứa phới nhanh đến chỗ mấy em. Khi xe buýt lao nhanh vào không gian phản quang kỳ lạ của đường hầm Lincoln, chúng tôi ngồi tựa vào nhau, tay khua loạn lên, la hét, nói chuyện đầy phấn khích, và tôi bắt đầu lây cái máu bốc đồng của Dean. Hắn chỉ là một thằng quá phấn khích trước cuộc đời, và nếu hắn có là một thằng lừa đảo xin tiền thì cũng chẳng qua là vì hắn cần quá nhiều tiền để sống và để kết thân với nhiều người mà nếu không thế thì sẽ không bao giờ thèm để mắt đến hắn. Hắn đã lừa tôi và tôi rất biết điều đó (để có tiền ăn, tiền trọ, “nghệ thuật viết văn” v.v...), mà hắn cũng biết thừa là tôi biết (đây là nền tảng của mối quan hệ giữa chúng tôi), nhưng tôi cóc cần quan tâm và chúng tôi rất hiểu nhau - không làm phiền, không lấy lòng; chúng tôi rón rén quanh nhau như những người bạn bất hạnh mới quen. Thành ra hắn đã dạy tôi cũng nhiều như tôi dạy hắn. về công việc của tôi, hắn nói, “Lao vào đi, thứ ông làm thật là vĩ đại.” Hắn nhìn xéo qua vai tôi trong lúc tôi viết truyện và hét lên, “Phải! Đúng thế! Thiên tài đấy, anh bạn ạ!” hoặc “Kinh quá!” rồi lấy khăn tay lau mặt. “Anh bạn này, có bao nhiêu việc đáng làm, bao nhiêu việc đáng viết. Nhưng làm thế nào để bắt đầu đưa tất cả lên trang giấy nguyên vẹn mà không vấp phải những thứ như hạn chế của văn chương và nỗi sợ hãi ngữ pháp...”
     
  3. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    “Đúng thế anh bạn. Nói thế mới là nói chứ.” Và tôi nhìn thấy trong ánh mắt và sự phấn khích của hắn lóe ra một thứ ánh sáng thiêng liêng, hắn cứ say sưa diễn thuyết đến nỗi người trong xe phải quay lại nhìn “thằng khùng quá khích”. Ở miền Tây, hắn dành một phần ba thời gian vào các quán bi-a, một phần ba trong tù và một phần ba trong các thư viện công cộng. Người ta đã nhìn thấy hắn hăm hở lao mình đi trên những con phố mùa đông, đầu trần, cắp sách vào phòng đánh bạc hoặc trèo gác xép các chiến hữu rồi nằm cả ngày trên đấy để đọc sách hoặc trốn cảnh sát.

    Chúng tôi đến New York - tôi quên tình huống cụ thể rồi, chỉ nhớ là có hai em da màu - nhưng đến nơi thì chẳng thấy em nào; họ hẹn hắn cùng đi ăn tối nhưng đã cho hắn ăn thịt lừa! Chúng tôi đến chỗ bãi đậu xe của hắn, hắn phải làm mấy việc, thay quần áo trong một túp lều lụp xụp đằng sau bãi đỗ và tút lại mặt hàng trước một tấm gương vỡ v.v..., rồi bọn tôi lượn phố. Một sự kiện ghê gớm đã xảy ra khi Dean gặp Carlo Marx. Bốn con mắt sắc chọi nhau, Dean - tên lừa đảo thần thánh với tâm hồn siêu thoát gặp Carlo Marx - gã nhà thơ lừa đảo u sầu luôn ủ dột. Kể từ đó tôi rất ít gặp Dean và tôi cũng hơi tiếc. Hai sức mạnh ấy chọi nhau tóe lửa và so với họ thì tôi chỉ là thằng cù lần, không thể đọ cùng. Cơn lốc những sự kiện cuồng nộ nổi lên, nó sắp cuốn tất cả bạn bè và những gì còn lại của gia đình tôi trong một đám bụi lớn, bay là là bên trên Đêm Mỹ Quốc. Carlo kể cho hắn nghe về Old Bull Lee, về Elmer Hassel, về Jane: Lee đang trồng cần sa ở Texas, Hassel đang ở Riker’s Island, Jane thì lang thang ở Quảng trường Thời đại trong ảo giác benzedrine [1], ẵm đứa con nhỏ trong tay và cuối cùng tìm thấy mình ở Bellevue. Dean lại kể cho Carlo nghe về những nhân vật mà miền Đông không được biết đến, thí dụ như Tommy Snark, tên thọt cá mập ở các quán bi-a, một tay bài bạc khét tiếng và là một thằng xăng pha nhớt. Hắn kể về Roy Johnson, về Big Ed Dunkel, về đám bạn thuở thiếu thời, các chiến hữu đường phố, về vô số em hàng và bồ, về tất cả những cuộc phiêu lưu, về những tấm ảnh con heo, về những người hùng Nam Mỹ và các cuộc phiêu lưu của hắn. Họ cùng nhau lao ra phố phường, khám phá mọi thứ một cách hồ hởi như mới biết lần đầu, nhưng khi biết rõ thì trở nên buồn chán và thờ ơ hơn nhiều. Họ ngật ngưỡng trên phố như mấy thằng điên và tôi cứ lẵng nhẵng theo đuôi như tôi vẫn luôn suốt đời theo đít những người mình ưa thích, bởi vì chỉ tồn tại với tôi toàn những kẻ điên khùng, sống điên khùng, nói chuyện điên khùng, điên khùng để được cứu rỗi, chỉ muốn hưởng thụ tất cả trong một khoảng khắc duy nhất, những kẻ không bao giờ há miệng ngáp hay nói mấy thứ nhạt nhẽo, mà bùng cháy, bùng cháy, bùng cháy như những bông pháo vàng rực thần kỳ nở ra như những con nhện ngang qua các vì sao, và bông pháo ấy bạn thấy một đốm sáng xanh bừng lên rồi mọi người đều thốt lên “Ôồồ...” ngưỡng mộ. Ở nước Đức của Goethe người ta gọi những người trẻ tuổi như thế là gì nhỉ? Ham mê học viết văn được như Carlo - viết văn là điều thú nhất trên đời, ông hiểu không? - Dean cứ tấn công đại vào gã, uốn ba tấc lưỡi nịnh bợ gã, “Nào, Carlo, hãy để tôi nói... tôi sẽ nói thế này này, tôi sẽ ...” Khoảng hai tuần lễ tôi không thấy mặt họ; thời gian này họ dính lấy nhau như keo, tranh luận thả dàn, ngày này sang ngày khác, đêm này sang đêm khác.

    Rồi mùa xuân đến, mùa của những chuyến lên đường và mỗi thằng trong băng nhóm tản mát của bọn tôi đều chuẩn bị cho một chuyến ra đi. Tôi ráo riết làm việc cho cuốn tiểu thuyết của mình và sau một chuyến về miền Nam với bà cô để thăm thằng Rocco, em trai tôi, lần này tôi chuẩn bị nghiêm chỉnh cho chuyến ngao du đầu tiên về miền Tây.

    Dean đã bỏ chúng tôi mà đi trước. Carlo và tôi chứng kiến hắn lên tàu ở ga Greyhound trên Phố 34. Gác trên có một gian dành để chụp ảnh giá hai mươi lăm xu. Carlo tháo kính ra và trông thật gớm ghiếc. Dean chụp một tấm chân dung nghiêng rồi ngơ ngác nhìn ra xung quanh. Còn tôi chụp một tấm thẳng mặt, trông như một thằng cha người Ý tuổi loại băm sẵn sàng giết chết kẻ nào dám nói xấu mẹ mình. Tấm ảnh ấy, Carlo và Dean lấy một lưỡi dao cạo cẩn thận cắt ra làm đôi và mỗi thằng bỏ một nửa vào ví mình. Dean đóng comlê nghiêm chỉnh trở về Denver; chuyến du ngoạn đầu tiên của hắn ở New York đã hạ màn. Nói là du ngoạn, thực ra hắn đã phải làm việc như chó trong các bãi gửi xe. Hắn là thằng trông xe thần kỳ nhất thế giới, hắn có thể cho lùi xe với tốc độ bốn mươi dặm/giờ giữa chỗ đông xe và phanh đứng nó lại ở chân tường, chồm ra khỏi ghế, chạy hùng hục giữa những cái chắn bùn; rồi nhảy vào một xe khác, cho nó quay mũi với tốc năm mươi dặm/giờ trong khoảng sân hẹp, lùi xe thật nhanh vào chỗ đậu, phanh khựng, vèo, đến mức bạn sẽ thấy nó như nảy lên khi hắn bật nhanh ra khỏi ghế, phóng như điên về cabin để lấy tích kê, rồi lại nhảy vào một cái xe mới tới trước cả khi chủ xe chui hết người ra khỏi xe; ra ra, vào vào, chạy, mỗi đêm làm việc tám giờ liền, cộng những giờ cao điểm buổi chiều và giờ cao điểm tan nhà hát, áo quần, giày dép, mặt mũi đen nhẻm. Giờ đây, để trở về nhà, hắn diện bộ đồ mới, bộ comlê màu xanh lơ kẻ sọc nhỏ, với gilê và đủ lệ bộ - chỉ có mười một đô ở Đại lộ Ba, cùng với một đồng hồ và một dây đeo cộng một máy chữ xách tay nhằm bước vào nghề văn trong một phòng trọ ở Denver ngay khi kiếm được việc làm dưới đó. Bữa ăn chia tay của bọn tôi là món xúc xích nấu đậu ở quán Riker trên Đại lộ Bảy, rồi Dean trèo lên xe khách biển đề Chicago. Xe gầm lên và chạy biến vào trong đêm. Thế là chàng cao bồi của bọn tôi đã đi về nơi đó. Tôi tự hứa với mình cũng sẽ đi con đường ấy khi mùa xuân đến kỳ rực rỡ và thực sự hồi sinh những cánh đồng.

    Và đó là cách những trải nghiệm trên đường của tôi bắt đầu, và những chuyện xảy ra sau đó kỳ lạ đến nỗi tôi không thể để im trong dạ mà phải kể ra.

    Vâng, không phải chỉ vì tôi là nhà văn và đang cần đến nhiều kinh nghiệm mới mà tôi muốn hiểu Dean một cách cặn kẽ hơn, cũng không phải vì cuộc sống quẩn quanh trong trường của tôi đã quay xong một vòng rồi và bắt đầu trở nên vô nghĩa, mà bởi vì, trong một chừng mực nào đó, dù cho tính nết hai thằng khác nhau, hắn vẫn gợi cho tôi cảm giác về một thằng em trai từ lâu đã mát tích; Cứnhìn cái bản mặt xương xẩu khắc khổ của hắn, mớ tóc mai dài, cái cổ gân guốc vã mồ hôi vì công việc, tôi lại nhớ tới thời niên thiếu của mình trong các kho chứa sơn, trong các ao đầm và bên bờ các con sông vùng Paterson và Passaic. Bộ quần áo lao động nhem nhuốc dán chặt vào người hắn một cách duyên dáng, như thể bạn sẽ không thể sắm nổi một bộ vừa vặn hơn ở một hàng thợ may thời trang, mà chỉ có thể nhận được của Đấng tạo hóa, như Dean, trong công việc căng thẳng của hắn. Trong cách nói năng say mê của hắn, tôi thấy lại được giọng nói của những chiến hữu cũ và bè bạn mình dưới các gầm cầu, giữa đống xe máy ngổn ngang, dọc những dây phơi quần áo của hàng xóm và trên những bậc thềm uể oải buổi chiều, nơi bọn trẻ chúng tôi chơi đàn ghi ta trong khi các anh của mình đang phải làm việc trong nhà máy. Tất cả những bạn bè khác hiện tại của tôi đều là “trí thức”, thằng Chad là môn đệ của cụ Nietzsche, thằng Carlo Marx cứ say sưa diễn thuyết bằng một thứ giọng trầm trầm nghiêm trọng, rồi Old Bull Lee với cái giọng rè rè kéo dài phê phán mọi thứtrên đời - hoặc nếu không thì là những tên tội phạm hụt như Elmer Hassel, với cái nhếch mép u sầu ấy; hoặc nữa là Jane Lee, suốt ngày nằm ườn trên ghế sofa bọc kiểu phương Đông, ngán ngẩm đọc tờ The New Yorker. Nhưng Dean thì, phải nói là trí tuệ của hắn cũng như ai, sáng láng và hoàn thiện, mà lại không có vẻ trí thức tí nào. Còn về “tội trạng” của hắn thì đó không phải là cái thói giận hờn, giễu cợt mà là sự vui nổ trời kiểu Mỹ; đó là phương Tây, là gió xuân, là bản hùng ca của người da đỏ vùng Đồng bằng Lớn, một thứgì mới mẻ, như định trước từ lâu, đã từ lâu chờ đợi (hắn đánh cắp ôtô là chỉ để được hưởng thúvui được lái xe). Ngoài ra tất cả bạn bè ở New York của tôi đều tán thành cái quan điểm tiêu cực, nhiễm mùi ác mộng, muốn lật nhào xã hội và dẫn ra những lý lẽ đầy sách vở, sặc mùi chính trị hoặc phân tâm học, trong khi Dean đơn giản là lao vào đời, hồ hởi kiếm bánh mì và ái tình; hắn không bao giờ thèm để tâm đến việc sống theo cách này hay cách khác, “miễn là còn có được mấy em gà mái hàng ngon,” và “miễn là còn có cái mà đớp, cậu hiểu không? Tôi đói, sắp chết đói đến nơi đây, phải đớp ngay.” Thế là chúng tôi nhanh chóng đi đớp cái thứ mà nói như Ecclesiastes [2], “Đó là phần của ngươi dưới ánh mặt trời.”

    Một chàng trai miềnTây, thuộc dòng giống mặt trời, đó là Dean. Bà cô tôi mất công vô ích khi nhắc tôi rằng Dean có thể khiến tôi gặp rắc rối. Tôi có thể nghe thấy tiếng gọi của một cuộc đời mới, nhìn thấy một chân trời mới, tin tưởng vào nó ở giữa thời trai trẻ; và một chút rắc rối hay thậm chí cả việc Dean từ chối coi tôi là chiến hữu và bỏ rơi tôi, như sau này hắn đã làm đúng như vậy, chết đói trên một vỉa hè rồi trên một cái giường nhà thương - thì đã sao? Tôi là một nhà văn trẻ và cảm thấy mình đang mọc cánh.

    Ở một quãng nào đó trên đường tôi biết trước là sẽ có các cô gái, các giấc mơ, có tất cả. Ở quãng nào đó trên đường người ta sẽ chìa ra cho tôi viên ngọc quý.

    [1] Một chất gây nghiện, Jack Kerouac cũng dùng, đặc biệt trong những năm cuối đời.

    [2] Tên một phần trong Kinh Cựu Ước.
     
  4. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    2.

    Tháng Bảy năm 1947, tiết kiệm được khoảng năm mươi đô từ khoản trợ cấp cựu chiến binh, tôi đã sẵn sàng đi về Bờ biển phía Tây. Một thằng bạn là Remi Boncoeur viết thư cho tôi từ San Francisco đề nghị tôi cùng đi với hắn một chuyến vòng quanh thế giới bằng tàu biển. Hắn thề là có thể nhét trộm tôi vào buồng máy. Tôi trả lời hắn là tôi bằng lòng đi theo một con tàu hàng cũ nếu có thể làm mấy chuyến vặt trên Thái Bình Dương, rồi sau đó quay về với một món tiền nhỏ để chi tiêu ở nhà bà cô cho đến khi viết xong cuốn sách. Hắn nói hắn có một ngôi nhà con ở Mile City và tôi sẽ tha hồ có đủ thời gian để làm việc đó trong khi hắn xoay xở để kiếm ra một con tàu. Hắn sống chung vớimột ả tên là Lee Ann; hắn khoe ả là một đầu bếp tuyệt hảo. Remi là bạn cũ thời trung học, hắn người Pháp, lớn lên ở Paris và là một thằng khùng thứ thiệt.Tóm lại, hắn trù tính sẽ gặp tôi trong vòng mười ngày tới. Bà cô tôi hoàn toàn tán thành chuyến đi của tôi về miền Tây, bà nói việc này sẽ có lợi cho tôi, rằng tôi đã làm việc nhiều quá trong suốt mùa đông và đã phải sống tùtúng giữa bốn bức tường quá lâu. Bà không nói gì cả khi tôi thú thật là tôi chỉ vẫy xe dọc đường mà đi nhờ thôi. Bà chỉ mong một điều là tôi đừng có tơi tả khi quay về. Thế là, bỏ lại tập bản thảo viết dở, gấp lại tấm nệm trải giường êm ái lần cuối cùng, vào một buổi sáng đẹp trời, xách cái túi vải trong đựng mấy thứ đồ cần thiết, tôi phới ra bờ Thái Bình Dương với năm mươi đô trong túi áo.

    Ở Paterson tôi đã nghiên cứu bản đồ nước Mỹ hàng tháng ròng, thậm chí đọc cả sách về những bậc khai sáng và các địa danh ngọt ngào như Platte, Cimarron và nhiều nơi khác. Trên tấm bản đồ đường bộ, tôi thường ngắm nhìn một đường màu đỏ kéo dài, gọi là Đường số 6, chạy từ đỉnh Cope Cod thẳng đến Ely ở Nevada, rồi từ đấy chúc thẳng xuống Los Angeles. Tôi quyết định sẽ không rời khỏi Đường 6 cho đến tận Ely và tràn đầy tin tưởng, tôi lên đường. Muốn tới Đường 6, phải đi ngược lên Bear Mountain. Say sưa tưởng tượng ra những chiến tích của mình ở Chicago, ở Denver, và cuối cùng ở San Fran, tôi lên tàu điện ngầm ở Đại lộ Bảy, đến tận bến cuối ở Phố 242. Từ đây lại bắt xe điện đến Yonkers; đến khu trung tâm Yonkers tôi lại chuyển xe điện tới ngoại ô thành phố, trên bờ Đông sông Hudson. Hãy hình dung, ta thả một bông hồng trên dòng Hudson, nó sẽ lướt qua bao nhiêu phố phường làng mạc rồi mãi trôi ra biển - hãy tưởng tượng ra cái thung lũng xinh đẹp này bên dòng Hudson. Tôi bắt tay vào việc vẫy xe đi nhờ, nhằm mục tiêu thẳng tiến. Sau năm lần vẫy xe tôi đã đến được điểm mong muốn là cây cầu Bear Moutain, nơi Đường 6 từ New England lượn vào. Trời đổ mưa tầm tã khi tôi vừa xuống xe. Một cảnh núi đồi kỳ thú.

    Đường 6 dẫn đến bờ sông, vòng qua một vòng xoay giao lộ rồi mất hút vào một vùng hoang mạc. Không chỉ vắng tanh không xe cộ gì mà trời còn mưa như trút nước và tôi không biết ẩn náu vào đâu. Tôi chạy đến trú dưới gốc thông; tình hình không thay đổi được bao nhiêu; tôi bèn gầm lên chửi rủa, tự đập bùm bụp vào đầu và cho mình là một tên đại ngốc. Tôi đang ở cách New York bốn mươi dặm về phía Bắc. Suốt dọc đường đi, điều làm tôi băn khoăn nhất, đó là việc cái ngày vĩ đại đầu tiên này tôi đã hoàn toàn dành để đi về phía Bắc chứ không phải về miền Tây bấy lâu ao ước. Giờ thì tôi đang phải chôn chân ở miền Bắc. Tôi chạy một phần tư dặm đến một trạm xăng bỏ hoang kiểu cách Ăng lê đỏm dáng và ngồi dưới mái hiên rỏ nước tong tong. Còn trên đầu tôi sấm chớp đang đổ từ Bear Mountain xuống ầm ầm, khiến tôi cảm thấy một nỗi sợ Trời thành kính. Tất cả những gì tôi có thể nhìn thấy là những hàng cây chìm trong hơi nước cô đơn ảm đạm vươn cao đến tận trời. “Lạy Chúa, mình đang làm quái gì ở cái chỗ chót vót này?” tôi chửi thề và gào thét ước gì mình đang ở Chicago. “Ngay lúc này đây bọn nó đang thoải mái vui chơi, phải, thoải mái vui chơi, mà mình thì không có mặt. A, vậy thì bao giờ mình mới ở đó được?” Cuối cùng thì cũng có một cái xe đậu lại ở trước trạm xăng bỏ hoang; người đàn ông và hai người đàn bà ngồi trong xe mở bản đồ ra xem. Tôi đi thẳng đến và lấy tay ra hiệu trong mưa. Họ nhìn nhau dò hỏi; trông tôi như một thằng điên, thì rõ, đầu tóc tôi ướt nhèm, giày thì sũng nước. Giày tôi, ngốc ơi là ngốc, vốn là loại giày hở mũi kiểu Mexico, hoàn toàn không phù hợp với những đêm mưa nước Mỹ và con đường gồ ghề trong đêm tối. Dù sao thì họ vẫn cho tôi lên xe đi nhờ, lại tiếp tục lên phía Bắc đến Newburghe, đành chấp nhận vậy thôi, còn hơn là bị nhốt ở vùng hoang mạc Bear Mountain suốt một đêm. “Với lại - ông chủ xe nói - không có lối rẽ trên Đường 6.Nếu anh muốn đến Chicago thì tốt nhất là đến New York qua đường hầm Holland Tunnel rồi thẳng lối Pittsburgh.” Tôi thấy ông ta có lý. Tất cả chỉ vì tôi cứ mơ mộng bám vào cái ý tưởng bay bổng ngu ngốc rằng sẽ kỳ thú bao nhiêu nếu được theo một con đường đỏ lớn chạy suốt nước Mỹ, chứ không biết là phải lòng vòng hết đường lớn lại đường nhỏ quanh co.

    Đến Newburgh thì trời tạnh. Tôi đi đến tận bờ sông; và trở về New York bằng xe khách với một lô thầy giáo vừa đi nghỉ cuối tuần trên núi về. Họ nói cười ầm ĩ, còn tôi thì bực mình vì đã phí phạm thì giờ và tiền bạc vô bổ. Đáng lẽ sang miền Tây thì lại cứ loay hoay suốt cả ngày và một phần đêm lên lên xuống xuống, từ Bắc xuống Nam, như một cái máy khởi động mãi mà không chịu nổ. Và tôi nhất định ngày mai phải về đến Chicago, trèo hẳn lên một cái xe ca đi Chicago, tiêu cho xứng đáng đồng tiền; cóc cần gì hết, miễn là ngày mai tôi ở Chicago là được.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/7/16
  5. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    3

    Đó là một chuyến xe khách bình thường: trẻ con khóc, mặt trời đổ lửa, dân nhà quê ở Pennsylvania lên xe ở thành phố này rồi lại xuống ngay ở thành phố tiếp theo, cho đến tận lúc tới vùng đồng bằng bang Ohio sau khi vòng vèo một chập thì xe mới thực sự chạy một lèo, ngược lên Ashtabula và qua Indiana ngay trong đêm. Hôm sau tôi đến Chicago khá sớm, thuê một phòng trọ, và đi ngủ, trong túi chỉ còn mấy đôla. Tôi quyết định khám phá Chicago sau một ngày ngủ ngon lành.

    Theo những cơn gió thổi về từ hồ Michigan, tôi nhịp chân theo điệu bebop xuống Loop - khu trung tâm Chicago, mấy lần lang thang rất lâu quanh khu Nam Halsted và Bắc Clark, và một lần cuốc bộ sau nửa đêm, cũng‘rất lâu, giữa những dãy phố ken dày đặc như cây rừng. Một xe cảnh sát tuần tra cứ bám lấy tôi hoài, có lẽ bởi trông tôi có vẻ khả nghi. Vào thời kỳ này, năm 1947, điệu bebop tràn lan như trận gió điên dại trên khắp nước Mỹ. Mấy chú ở Loop cũng không phải ngoại lệ, nhưng bầu không khí nơi đây có vẻ ủ dột, bởi điệu bebop ở đây có cái kiểu gì đấy lừng khừng giữa giai đoạn thống trị của những điệu jazz nguyên sơ kiểu Ornithology của Charlie Parker và một thời đại mới của những bản cool jazz do Mile Davis khởi xướng. Trong khi ngồi nghe âm thanh của màn đêm, âm thanh của điệu bebop quen thuộc đã trở thành đại diện cho tất cả chúng tôi, tôi nghĩ tới tất cả bè bạn mình từ đầu đến cuối đất nước và rằng họ đều thực sự đang trong một cái sân mênh mông, làm điều gì đó thật điên rồ và chạy loạn lên. Rồi, lần đầu tiên trong đời, vào buổi chiều hôm sau, tôi vù tới miền Tây. Đó là một buổi chiều ấm áp đẹp trời rất thuận tiện cho việc nhờ xe quá giang. Để thoát ra khỏi những con đường rối rắm của Chicago, tôi đáp xe buýt tới Joliet ở bang Illinois, đi qua nhà tù Joliet, dừng lại ở cửa ngõ thành phố sau khi đã mỏi chân cuốc bộ qua ngoại ô. Từ New York đến Joliet, tôi đã tiêu hết già nửa số tiền dự trữ của mình.

    Thoạt tiên tôi trèo lên xe tải chở mìn có cắm cờ đỏ, đi nhờ khoảng ba mươi dặm giữa màu xanh ngát vùng Illinois, bác tài chỉ cho tôi chỗ Đường 6 (là đường chúng tôi đang đi) gặp Đường 66 trước khi cả hai đâm thẳng xuống miền Tây tít tắp. Khoảng ba giờ chiều, sau khi chén qua loa ở một quán bên đường - bánh táo và kem, tôi nhìn thấy một cái xe nhỏ kiểu thể thao xịch đỗ, bên tay lái là một phụ nữ. Tôi mừng quýnh vội vàng chạy đến. Đó là một bà nạ dòng, đáng tuổi mẹ tôi, và đang cần tìm người cùng cầm lái từ đây tới Iowa. Tôi như được chỉ định sẵn để làm công việc này. Iowa! Không xa Denver là mấy, và khi tới Denver rồi thì tôi sẽ có thể thở phào. Thoạt tiên bà lái chừng mấy tiếng đồng hồ, cứ khăng khăng đòi vào thăm một ngôi nhà thờ cổ, như thể chúng tôi đang đi du lịch thật vậy. Tiếp đó đến lượt tôi lái, và dù tôi lái xe không được cừ khôi lắm thì chúng tôi cũng chạy một mạch hết phần đất bang Illinois, sang địa phận Iowa, đến tận Davenport, qua Rock Island. Và ở đây, lần đầu tiên trong đời, tôi được nhìn thấy dòng Mississippi yêu dấu, cạn khô trong đám sương mù mùa hạ, với đôi bờ phả ra mùi nồng của chính bản thân nước Mỹ, vì lẽ nó đã chảy qua từ đầu đến cuối đất nước. Rock Island - những nhánh đường sắt, các dãy nhà lụp xụp, khu phố buôn bán nhỏ bé; và bên kia cầu là thành phố Davenport thơm nức mùi vỏ bào dưới bầu trời nóng nực. Đến đây, người đàn bà phải rẽ về nhà bà ta. Chúng tôi chia tay nhau.

    Mặt trời lặn. Tôi đi về phía ngoại ô, lâng lâng vì mấy cốc bia. Sau tay lái, người nào cũng thấy đội mũ, mũ có nhãn hiệu công ty đường sắt, mũ đội để chơi bóng chày, các loại mũ, y như quang cảnh những buổi tan giờ làm ở bất cứ đâu, bất cứ thành phố nào. Một xe đồng ý chở tôi lên đỉnh đồi rồi thả tôi xuống một ngã tư lẻ loi ngay sát cánh đồng. Nơi này rất đẹp. Quãng này chỉ thấy toàn xe của cánh trang trại, họ nhìn tôi ngờ vực, rồi cót két chạy qua, những đàn bò lững thững về chuồng. Không một chiếc xe tải. Vài xe con vụt qua. Một thằng nhóc phóng xe Hotrod vượt qua, khăn bay trong gió. Mặt trời lúc này đã xuống sát đường chân trời. Tôi đứng lặng trong bóng chiều tím thẫm. Giờ thì tôi thấy sợ. Thậm chí còn không thấy ánh đèn nào le lói ở vùng nông thôn Iowa này; chỉ mấy phút nữa là không ai còn nhìn thấy tôi. Cũng may có một bác trở về Davenport cho tôi đi nhờ về thành phố. Thế là lại quay về đúng nơi mình vừa xuất phát.

    Tôi ra ngồi ở bến xe khách và suy nghĩ về toàn bộ chuyện này. Tôi lại ăn bánh táo và kem – đấy gần như là món ăn duy nhất tôi ăn trên suốt chuyến ngao du này; vừa bổ vừa ngon, hẳn thế rồi. Tôi quyết định thử vận may. Sau khi mất nửa tiếng đồng hồ soi một em phục vụ ở quán ăn nhà ga, tôi bắt xe khách ở trung tâm Davenport và ra khỏi thành phố, nhưng lần này thì theo hướng trạm bán xăng. Ở đây có nhiều xe tải cỡ lớn đang ầm ầm nổ máy; khoảng hai phút sau, một cái phanh kít lại và cho tôi lên. Tôi chạy tới, hồn như bay lên bảy tầng trời. Một ông tài mới chiến làm sao, tài xế ra tài xế, cao lớn, vạm vỡ, mắt lồi, có giọng nói oang oang như lệnh vỡ của người sẵn sàng quát tháo và san phẳng mọi thứ. Bác ta cho xe lao đi, chả thèm để ý đến tôi. Càng may, tôi có dịp cho cái đầu mệt mỏi của mình thư giãn một chút. Một trong những nỗi phiền muộn đáng sợ nhất của kẻ đi nhờ xe là cứ phải nói chuyện với đủ loại người, làm cho người vừa cho mình đi không cảm thấy việc họ cho mình đi nhờ là sai lầm, thậm chí còn phải làm họ vui nữa. Chuyện này đòi hỏi một cố gắng lớn khi anh cứ rong ruổi trên đường suốt mà lại chẳng thèm bước chân vào ngủ ở một khách sạn nào. Bác tài này cứ gào lên át tiếng máy xe, và tất cả những gì tôi phải làm là gào lại, rồi cả hai chúng tôi cùng thư giãn. Bác tài cho xe phóng thẳng đến Iowa City và cứ gào vào tai tôi đủ thứ chuyện kỳ cục nhất về cái vụ bác ta đã qua mặt cảnh sát ở tất cả các thành phố quy định giới hạn tốc độ bất hợp lý thế nào, cứ nói đi nói lại là “Bọn cá vàng ấy làm sao đủ trình phạt chú!” Vừa lúc chúng tôi đi vào Iowa City, thấy một xe tải khác ở đằng sau, bác ta bèn bấm đèn hậu nhấp nháy ra hiệu cho cái xe đó rồỉ chạy chậm lại cho tôi quăng túi xách ra nhảy xuống, vì bác ta phải rẽ đi lối khác. Nhận được tín hiệu, xe sau cũng chấp nhận đỗ lại cho tôi nhảy lên. Một lần nữa tôi lại được rơi vào một cái cabin rộng và cao, sẵn sàng xông pha hàng trăm dặm suốt đêm trường, và tôi cảm thấy thật là hạnh phúc! Bác lái xe mới cũng khùng như bác trước, cũng gào thét liên tục như vậy còn tôi chỉ có mỗi một việc là ngồi tựa ra sau và để mặc xe đi. Giờ đây tôi đã thấy Denver thấp thoáng phía xa như vùng Đất Hứa, dưới bầu trời sao, bên kia vùng hoang mạc Iowa và đồng bằng Nebraska, xa hơn nữa là cảnh tượng kỳ vĩ của San Francisco, giống như châu báu trong đêm. Vừa lái xe, bác tài vừa kể chuyện hàng giờ liền, rồi ngủ ngay trên ghế khi chạy đến một thành phố thuộc bang Iowa mà nhiều năm sau Dean và tôi bị giữ lại trong một cái Cadillac bị nghi là xe ăn cắp. Tôi cũng ngủ, rồi lúc tỉnh dậy nhảy xuống đi bách bộ dọc theo dãy tường gạch cô đơn dưới ánh sáng một cây đèn. Con phố nhỏ nào cũng dẫn đến hoang mạc và mùi ngô sực nức như đọng lại trong đêm.
     
    chichi.myluckycharm and tducchau like this.
  6. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Bác tài choàng tỉnh dậy khi mặt trời thức giấc. Chúng tôi lại khởi hành và một tiếng sau, khói thành phố Des Moines đã xuất hiện trước mặt, trên những cánh đồng ngô xanh ngát. Lúc này bác tài ăn sáng và muốn được thoải mái, nên tôi tiếp tục đi thẳng tới Des Moines, cách đó chừng bốn dặm bằng cách vẫy xe đi nhờ hai thanh niên từ Đại học Iowa quay về; tôi cảm thấy ngồ ngộ khi được ngồi vào một chiếc xe sang trọng, mới cứng, nghe nói chuyện thi cử trên đường vào thành phố trong tiếng máy chạy êm như ru. Giờ thì tôi muốn được ngủ đẫy giấc cả một ngày. Tôi đi kiếm một phòng ngủ, quanh đây không đâu có, và theo bản năng tôi xuôi xuống mạn ga tàu - ở Des Moines có rất nhiều ga - rồi chọn đại một quán trọ cũ tồi tàn gần nhà để đầu máy xe lửa, đánh một giấc thật lâu trên cái giường lớn không đệm trắng bong, sạch sẽ, gối nằm ngay bên cạnh những dòng chữ bẩn thỉu viết bậy trên tường và những tấm riđô cửa sổ nhăn nhúm vàng khè mở ra cảnh sân ga hỗn tạp. Tôi tỉnh dậy khi mặt trời bắt đầu đỏ lựng. Và đây là lần duy nhất trong đời, giây phút lạ lùng nhất, tôi không còn biết đích thực mình là ai nữa - tôi đang ở rất xa nhà mình, bị ám ảnh và mệt nhoài vì chuyến đi, một mình trong một căn phòng trọ tồi tàn chưa từng thấy bao giờ, nghe thấy tiếng đầu máy hơi nước rít lên ngoài kia, tiếng sàn gỗ cọt kẹt, tiếng bước chân ngay trên đầu mình và các thứ tiếng động buồn thảm khác. Tôi nhìn lên cái trần nhà cao nứt nẻ và trong vòng mười lăm giây đồng hồ kỳ lạ thực sự không còn biết mình là ai. Tôi không hoảng sợ, chỉ đơn giản thấy mình là ai khác, một kẻ xa lạ, và cả đời tôi đã bị ma ám, cuộc đời của một bóng ma. Tôi đã đi qua nửa nước Mỹ, trên ranh giới giữa miền Đông của thời thơ ấu tôi và miền Tây của tương lai tôi. Và có lẽ vì điều đó mà chuyện này đã xảy ra ở chính nơi này, trong khoảnh khắc này, trong một buổi chiều đỏ ối.

    Nhưng phải ngừng rên rỉ và lên đường thôi. Tôi xách túi lên, chào tạm biệt ông già chủ khách sạn đang ngồi như đóng đinh bên cạnh cái ống nhổ và đi tìm cái ăn. Lại bánh táo và kem. Càng đi sâu vào Iowa tình hình lại càng sáng sủa hơn: bánh táo to hơn, kem cũng nhiều hơn. Có hàng lô hàng lốc các cô em học sinh trung học xinh tươi ở mọi nơi tôi đặt mắt đến trong buổi chiều nay tại Des Moines - các em đi học về - nhưng tôi đâu có dư dật thì giờ để nghĩ tới chuyện này và tự hẹn với mình sẽ mở rộng lòng ra đón nhận khi trở về tới Denver. Carlo Marx hiện đã ở Denver, cả Dean nữa; Chad King và Tim Gray hiện cũng ở đó; nhà hai thằng ở đó mà; cả Marylou nữa; và ở đó còn có một băng rất mạnh trong đó có Ray Rawlins cùng cô em gái tóc vàng xinh xắn của gã là Babe Rawlins. Có hai cô hầu bàn mà Dean rất quen, chị em nhà Bettencourt; Cả Roland Major, bạn viết cũ cùng trường của tôi cũng đang ở đó. Tôi vui sướng và mong mỏi chờ đợi được gặp tất cả bọn họ. Vì thế tôi chỉ vội bước qua các cô em xinh tươi đó, không thèm để ý, kể cả họ có là những cô gái xinh đẹp nhất thế giới đang sống tại Des Moines này.

    Một gã ăn mặc bụi bặm lái chiếc xe tải chở đầy dụng cụ cho tôi quá giang đến một con dốc cao. Ở đây tôi ngay lập tức bắt được xe của một bác nông dân cùng con trai đang đi về Adel ở Iowa. Trong thành phố này, dưới tán một cây du lớn gần một cây xăng, tôi làm quen với một gã chuyên đi nhờ xe người Ái Nhĩ Lan, từng lái xe nhiều năm cho bưu điện và giờ đây đang tìm kiếm một em ở Denver và một cuộc đời mới - tôi đồ chừng hắn ta đang phải chuồn khỏi New York vì chuyện gì đó dính dáng đến luật pháp. Đây là một gã nghiện rượu thứ thiệt chừng ba mươi tuổi, mũi đỏ lựng. Bình thường thì có thể lờ phắt hắn đi, nhưng tôi lại rất nhạy cảm trước bất cứ gì liên quan tới tình bạn giữa người với người. Hắn ăn mặc rách nát và chả có hành lý gì cả, trần sì một bàn chải răng, mấy cái khăn mùi soa. Hắn nói cả hai thằng cùng hợp sức lại mà vẫy xe. Đáng lẽ tôi phải từ chối, vì trông hắn rất bẩn tướng, nhất là lại đang ở trên đường. Thế nhưng tôi vẫn đồng ý bắt tay hắn và chúng tôi bắt được một chiếc xe với một tay tài xế lầm lì để đến Stuart, Iowa, rồi thực sự mắc kẹt ở đấy. Chúng tôi đứng chồn chân trước nhà bán vé hỏa xa lụp xụp ở Stuart, rình bắt xe chạy về miền Tây mãi đến tận khi mặt trời lặn, nghĩa là năm tiếng đồng hồ liền, giết thì giờ bằng cách kể lại đời mình cho nhau nghe; tiếp đó là những chuyện bẩn thỉu, cuối cùng chỉ còn biết lấy chân đá những hòn cuội đi thật xa và gây ra các thứ tiếng động ầm ĩ. Chán chết được. Tôi bèn quyết định bỏ ra một đô để uống bia. Hai thằng đến một quán bia cũ ở Stuart làm mấy vại. Ỏ đó hắn say y hệt cái đêm trên Đại lộ Chín về nhà, và cứ sung sướng oang oang vào tai tôi những giấc mơ thảm hại của đời mình. Tôi hơi thích hắn; không phải bởi hắn là người tốt, như sẽ được chứng minh sau này, mà bởi hắn bao giờ cũng nhiệt tình với mọi chuyện. Đến nửa đêm, chúng tôi quay lại đường và tất nhiên chả còn xe cộ nào nữa. Cứ thế cho đến tận ba giờ sáng. Có lúc chúng tôi đã thử nằm chợp mắt một lúc trên cái ghé băng của phòng bán vé, nhưng tiếng đánh điện cứ tè tạch suốt đêm không sao ngủ được, thêm nữa, những toa chở hàng to tướng cứ va đập vào nhau bốn bề xung quanh.

    Chúng tôi không biết nhảy tàu; chưa thằng nào từng thử nhảy, mà cũng chả biết tàu chạy sang miền Đông hay miền Tây và phải chọn toa nào, toa chở hàng bít bùng hay không có nóc, có đông lạnh hay không, vân vân. Thế nên khi chuyến xe khách đi Omaha đến vừa kịp trước bình minh, chúng tôi vội nhảy lên, nhập bọn cùng những hành khách đang gà gật. Tôi mua vé cho hắn và cho mình. Hắn tên là Eddie. Hắn làm tôi nhớ đến ông anh rể họ ở Bronx. Chính vì thế mà tôi đánh bạn với hắn. Có vẻ như tôi đã có một người bạn cũ bên mình, một gã bản chất tốt và luôn tươi cười cùng tôi rong ruổi.

    Mặt trời lên thì chúng tôi đến Council Bluffs. Tôi ngước nhìn phong cảnh. Suốt mùa đông tôi đã đọc câu chuyện về những cuộc tập hợp lớn các loại xe bò ở chính nơi này: người ta tụ tập trước khi đi sâu vào những con đường mòn ở Oregon và Santa Fe; giờ đây tất nhiên ở đó chỉ còn những căn nhà xinh xắn xây cùng một kiểu ngoại ô nằm trong bình minh xám xịt buồn thảm. Tiếp đó là Omaha, và, lạy Chúa, gã cao bồi đầu tiên tôi được nhìn thấy, đang đi dọc theo bức tường lạnh lẽo của một kho chứa thịt bán buôn, đội một cái mũ cao bồi thứ thiệt, chân xỏ ủng của vùng Texas, trừ bộ cánh ra thì trông cũng không khác gì một tay thảm hại chui ra từ ngóc ngách trong sáng sớm ở miền Đông. Chúng tôi xuống xe, trèo lên đỉnh đồi, quả đồi lớn do dòng sông Missouri hùng vĩ bồi đắp lên qua hàng ngàn năm. Omaha được dựng lên chính bên dòng sông này. Tiếp đó, chúng tôi băng qua cánh đồng, tiếp tục vẫy xe. Bọn tôi đi chung một đoạn ngắn với một chủ trang trại giàu có đội mũ cao bồi. Ông ta kể rằng thung lũng Platte cũng kỳ vĩ như thung lũng sông Nile bên Ai Cập, khi ông nói vậy tôi bèn phóng tầm mắt về phía hàng cây lớn uốn lượn theo bờ sông và những cánh đồng xanh mướt và gần như đồng ý với ông ta. Thế rồi, trong lúc chúng tôi đứng ở một chỗ rẽ khác và trời bắt đầu nhá nhem tối, thì có một gã cao bồi khác, to lớn, đội cái mũ chẳng cao bồi chút nào, gọi chúng tôi và hỏi có biết lái xe không. Tất nhiên là Eddie biết lái; hắn có cả bằng lái xe, còn tôi thì không. Gã cao bồi này có hai xe muốn chuyển về Montana. Vợ gã đang ở Grand Island và gã muốn bọn tôi lái giùm gã một xe; rồi sẽ đến lượt vợ gã lái tiếp. Sau đó, họ đi về phía Bắc nên chúng tôi chỉ có thể đi nhờ đến Grand Island. Như thế là cũng đã vượt qua được một trăm dặm, qua suốt cả vùng Nebraska rồi, và tất nhiên chúng tôi vồ lấy cơ hội này. Eddie lái một mình một xe, gã cao bồi và tôi theo sau. Vừa ra khỏi thành phố, Eddie đã cho xe phóng bạt tử, chín mươi dặm/giờ. “Mẹ kiếp, thằng oắt này định giở quẻ gì đây?” gã cao bồi kêu lên và phóng đuổi theo. Hệt như một cuộc đua xe vậy. Tôi chợt nghĩ không khéo thằng này định cuỗm luôn cái xe, và theo chỗ tôi hiểu thì có thể là như thế thật. Nhưng gã cao bồi đã bám được hắn, đuổi kịp và nhấn còi inh ỏi. Eddie bèn cho xe chạy chậm lại. “Thằng điên, cứ phóng như thế thì tan lốp ra mất. Không thể chạy chậm lại một chút được à?”

    “Tất nhiên là em điên, mà em chạy đến 90 dặm thật à?” Eddie nói. “Em đâu biết, đường này êm quá.” Chú đi từ từ thôi nếu muốn chúng ta còn nguyên vẹn khi đến Grand Island.”

    “Tất nhiên rồi.” Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình, Eddie đã bớt bốc đồng và có khi còn bắt đầu buồn ngủ. Cứ thế chúng tôi theo những ngọn gió từ những cánh đồng trù phú vùng Platte vượt một trăm dặm qua vùng Nebraska.

    Gã cao bồi nói với tôi, “Hồi kinh tế suy thoái, anh có thói quen mỗi tháng nhảy tàu một lần. Ngày đó các chú sẽ thấy hàng trăm kẻ nhảy tàu trên các toa chở hàng, bít bùng hoặc không có nóc, và không chỉ có dân du thủ du thực đâu mà là đủ loại người thất nghiệp, cứ lang thang hết chỗ này sang chỗ khác. Cả miền Tây đều như vậy. Thời đó, bọn gác phanh chẳng mấy khi bận tâm đán mấy người như chú. Giờ thì anh không biết thế nào. Anh chẳng cần Nebraska làm gì. Hồi giữa những năm ba mươi, chỗ này không có gì khác ngoài một đám mây bụi mù mịt ngút tầm mắt. Bụi đến không thở được. Mặt đất đen lại. Thời đó anh sống ở đây. Theo anh được biết thì người ta hoàn toàn có thể trả Nebraska lại cho người da đỏ. Anh ghét mảnh đất khốn khổ này hơn mọi nơi trên đời. Giờ thì anh sống ở Montana, tại Missoula. Có dịp chú hãy ghé chơi cho biết thế nào là thiên đường.” Buổi chiều tà, khi gã đã thấm mệt không chuyện nữa, tôi ngủ thiếp đi - đây là một gã có tài nói chuyện.

    Chúng tôi dừng xe dọc đường để ăn tạm cái gì. Gã cao bồi đi chữa cái bánh xe dự phòng, còn Eddie và tôi thì ngồi xuống ăn một bữa tối như nhà nấu. Tôi nghe thấy một tiếng cười lớn, lớn nhất thế giới, rồi thấy xuất hiện một bác nông dân già bằng xương bằng thịt người vùng Nebraska, đi cùng với một đoàn người cùng vào ăn tối. Xuyên qua thế giới ảm đạm của họ những ngày đó, bạn có thể nghe rõ tiếng bác ta như lệnh vỡ từ tận cuối những cánh đồng. Mọi người cùng cười theo bác. Chả hề bận tâm đến chuyện gì trên đời nhưng bác nông dân lại làm cho mọi người hết sức chú ý đến bác. Hừm, tôi nghĩ bụng, nghe cách thằng cha này cười, thế mới là miền Tây chứ. Tôi đang ở miền Tây rồi! Bác ta xông vào quán như một cơn gió lốc, gọi tên cô Maw, và cô làm cho bác món bánh hạnh nhân ngon nhất Nebraska (tôi đang có món bánh ấy trước mặt, đống kem chất lù lù như núi). Bác ta ngồi đánh rầm xuống ghế và lại cười lên haha, haha, haha. Cho ăn đi, cô em, đói nghiến rồi đây này.” Đúng là tinh thần miền Tây đang chễm chệ cạnh tôi. Tôi những muốn biết rõ trong ngần ấy năm đời mình bác ta làm ăn sinh sống ra sao ngoài việc la hét đùa bỡn rồi cười ha hả như thế. Nhưng gã cao bồi đã quay lại và chúng tôi phải ra xe để đi Grand Island.
     
    chichi.myluckycharm and tducchau like this.
  7. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Chả mấy chốc chúng tôi tới nơi. Gã ta đi tìm vợ và chạy theo số phận đang chờ đợi gã, trong khi Eddie và tôi lại tiếp tục lên đường. Hai chiến hữu - cao bồi, tuổi thiếu niên, nhà quê - cho chúng tôi quá giang một đoạn trên một chiếc xe ọp ẹp rồi lại thả chúng tôi xuống đường, dưới trời mưa bụi. Tiếp đó là một ông già không nói năng gì, và chỉ có Chúa mới hiểu được tại sao ông lão chịu hứng lấy bọn tôi, đưa bọn tôi đến Shelton. Tại đó Eddie cứ đứng như trời trồng ở giữa đường, thất vọng ra mặt. Một toán dân da đỏ vùng Omaha, nhỏ con, gầy guộc, chả biết phải làm gì và phải đi đâu, cứ nhìn hắn chăm chằm. Đường xe lửa chạy ngang qua quãng này và trên một trạm tiếp nước có tấm biển đề: SHELTON. “Xỏ lá chưa,” Eddie giật mình kêu lên, “Tôi đã từng ở chỗ này. Cách đây lâu rồi, hồi chiến tranh, buổi đêm, rất khuya, khi mọi người đã ngủ cả. Tôi ra ngoài sân ga để hút một điếu. Trời tối đen như mực, mình giương mắt lên và cũng nhìn thấy tấm biển ghi chữ Shelton trên trạm tiếp nước này. Chuyến tàu đi về phía Tây, ai nấy vẫn ngáy khò khò, bọn vô dụng ấy, và tàu chỉ đỗ có vài phút, tiếp thêm than hay gì đấy, rồi lại đi. Chết tiệt cái đát Shelton! Tôi rất ghét cái xó này từ thuở đó rồi mà!” Và thế là chúng tôi bị mắc kẹt ở Shelton. Cũng giống như ở Davenport, Iowa, chỉ toàn nhìn thấy xe của bọn nông dân. Thỉnh thoảng cũng có một chiếc xe du lịch, nhưng thế còn tệ hơn, vì gồm toàn những ông già đang lái xe bên cạnh các bà vợ già đang chỉ trỏ các biển báo hoặc nghiên cứu bản đồ, nhìn ai cũng bằng con mắt nghi ngờ.

    Mưa bụi dày thêm, Eddie kêu rét: hắn mặc rất ít đồ. Tôi lấy trong túi xách ra một cái áo len kẻ carô cho hắn mặc. Hắn cảm thấy dễ chịu hơn. Tôi thì bị cảm lạnh. Tôi mua một gói kẹo ngậm ho tại một quán hàng của người da đỏ, rồi tạt vào trạm bưu điện mua tấm bưu thiếp giá một xu viết cho bà cô mấy dòng. Rồi hai đứa trở lại đường cái. Dòng chữ Shelton vẫn sừng sững ở đó, phía trên trạm tiếp nước. Chuyến tàu tốc hành đi Rock Island rầm rầm chạy qua. Chúng tôi nhìn thấy khuôn mặt hành khách trên các toa hạng nhất vụt qua. Con tàu hú lên băng qua cánh đồng về phía chúng tôi đang mong mỏi. Trời bắt đầu trở mưa nặng hạt.

    Một gã cao lênh khênh đội mũ cao bồi đỗ xe trái đường và đến chỗ chúng tôi; trông gã như một tay cớm. Chúng tôi bí mật chuẩn bị bịa ra một câu chuyện. Gã tần ngần mãi rồi mới xáp vô. “Các anh định đi đâu hay chỉ loanh quanh đây?” Chúng tôi không hiểu gã định hỏi gì. Một câu hỏi quá được.

    “Sao cơ ạ?”

    “À, tôi làm chủ một hội chợ cách đây vài dặm. Tôi đang đi tìm mấy chàng trai đứng đắn muốn làm việc kiếm ít tiền. Tôi là chủ trò cò quay và trò ném vòng, các cậu biết đấy, ném vòng ăn búp bê ấy mà. Một cách thử vận may. Thế nào, các bạn trẻ, làm cho tôi các cậu sẽ được hưởng ba mươi phần trăm số thu nhập.”

    “Cả ăn uống ngủ nghê nữa chứ?”

    “Giường ngủ thì có, còn cái ăn thì không. Các cậu phải ăn ở ngoài. Đôi lúc chúng ta sẽ phải di chuyển.” Chúng tôi suy nghĩ rất lung. “Dịp may đấy!” gã nói thêm và kiên nhẫn chờ chúng tôi quyết định. Chúng tôi cảm thấy lúng túng, chẳng biết trả lời ra sao, riêng tôi thì không muốn mất thời giờ với một cái hội chợ. Tôi vội gặp lại băng của mình ở Denver chết đi được.

    “Tôi cũng không biết nữa, tôi phải đi càng sớm càng tốt và không nghĩ rằng mình có thời gian.” Eddie cũng nói như vậy. Gã ta liền giơ tay lên chào rồi lững thững ra xe vút thẳng. Thế thôi. Vụ này làm chúng tôi cười được một chập và hình dung ra mình mà làm việc đó thì sẽ thế nào. Tôi như hình dung ra một đêm tối tăm bụi bặm trên vùng đồng bằng, những gương mặt của các gia đình Nebraska lướt qua, lũ trẻ con má hồng nhìn thấy cái gì cũng mê, và tôi biết mình cũng chẳng khác gì quỷ sứ khi đi bịp trẻ con bằng ba cái trò ném vòng vớ vẩn... Rồi vòng đu quay cứ xoay tròn trong bóng tối vùng đồng bằng, và, lạy Chúa toàn năng, trong tiếng nhạc buồn của chiếc đu quay, tôi khao khát được tiếp tục đến mục tiêu của mình rồi chìm vào giấc ngủ trên một chiếc giường làm bằng bao tải trong một cái xe chở lợn nái.

    Eddie trở thành người bạn đường đãng trí của tôi. Một cái xe cà tàng trông rất ngộ tiến lại gần, bên tay lái là một ông già. Cái xe cũ rích, hình như làm bằng nhôm, vuông chằn chặn như một cái hòm - một cái nhà lưu động, không nghi ngờ gì nữa, nhưng là một cái nhà di động tự chế kiểu Nebraska kỳ quặc, dở hơi. Xe chạy rất chậm rồi dừng lại. Chúng tôi xông lên. Nghe ông già nói chỉ có thể nhận một người thôi, Eddie chẳng nói chẳng rằng nhảy tót vào trong. Và hắn biến luôn với cái xe cót ca cót két, mang theo cả cái áo len kẻ carô của tôi. Thế là xong một ngày xúi quẩy, tôi gửi theo cái áo len của mình một cái hôn vĩnh biệt; dù sao thì nó cũng chỉ có giá trị tình cảm thôi. Trên vùng đất Shelton chó chết, với hai thằng bọn tôi thôi, tôi đứng đợi một lúc lâu, rất lâu, nhiều giờ liền, cứ nghĩ đến chuyện đêm sắp đến. Thật ra thì mới đầu chiều thôi, nhưng trời đã sâm sẩm rồi. Denver, Denver, làm cách nào để tới được Denver bây giờ? Suýt nữa tôi đã tính đến chuyện bỏ cuộc, quay vào ngồi ở một quán cà phê nào đó, thì một cái xe còn khá mới xịch đỗ, ngồi sau tay lái là một tay còn trẻ. Tôi chạy theo như điên.

    “Anh đi đâu?”

    “Denver.”

    “Được, tôi có thể cho anh đi khoảng một trăm dặm theo hướng ấy.”

    “Tuyệt vời, xem như anh đã cứu đời tôi.”

    “Bản thân tôi cũng từng đi nhờ xe nhiều cho nên tôi rất sẵn sàng nhận người lạ lên xe.”

    “Tôi sẽ làm như vậy nếu có xe.”

    Và cứ thế mà chuyện tràn cung mây. Anh chàng kể lại đời mình cho tôi nghe nhưng chẳng có gì là thú vị cả nên tôi đánh thẳng một giấc. Mở mắt ra thì vừa vặn đến cửa ngõ thành phố Gothenburg. Anh chàng bỏ tôi xuống đó.
     
    chichi.myluckycharm and tducchau like this.
  8. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    4

    Chuyến đi nhờ xe tuyệt vời nhất đời tôi sắp sửa bắt đầu: một xe tải, đằng sau là thùng xe không nóc với sáu, bảy chú uể oải nằm ngổn ngang. Lái xe là hai nông dân trẻ tóc vàng của vùng Minnesota: họ nhặt hết mọi tâm hồn tìm thấy trên đường cho lên xe - hai anh nhà quê tươi tỉnh nhất, vui vẻ nhất, đẹp trai nhất có thể gặp được. Cả hai đều mặc áo sơ mi bằng vải bông, ngoài là bộ áo liền quần; bàn tay vững chắc, đứng đắn, luôn niềm nở mỉm cười chào hỏi tất cả những ai đi ngang qua. Tôi chạy đến, “Còn chỗ không?” Họ nói, “Tất nhiên, lên đi, còn chỗ cho tất cả mọi người.”

    Tôi chưa kịp trèo lên sàn xe thì nó đã gầm lên và lăn bánh. Tôi lảo đảo, một chú nắm lấy cổ tay tôi và tôi ngồi xuống. Ai đó chuyền qua một chai còn thừa ít rượu. Tôi làm một ngụm to giữa bầu không khí hoang dã, trữ tình, mờ ảo của vùng Nebraska. “Nhanh nữa lên nào!” một thằng nhóc đội mũ bóng chày sủa to. Ngay lập tức xe tải vọt tới bảy mươi dặm/giờ, vượt lên mọi xe khác trên đường. “Bọn tôi đã ở trên cái xe khốn kiếp này suốt từ Des Moines đến giờ. Mấy gã này không bao giờ chịu dừng lại. Thỉnh thoảng phải gào lên để được xuống đái một nhát, nếu không thì cứ tè ngay tại chỗ. Anh bạn, cứ việc mà bám cho thật chặt.”

    Tôi nhìn đám hành khách. Có hai tay nông dân trẻ người Bắc Dakota đội mũ bóng chày màu đỏ - loại mũ tiêu biểu của nông dân Bắc Dakota. Họ đi gặt thuê, ông bà già họ cho phép họ thăm dò đường đất suốt vụ hè. Có hai chú đến từ thành phố Colombus bang Ohio, là cầu thủ bóng đá trường trung học, mồm nhai kẹo cao su, nháy mắt, hất trong gió, và khoe rằng sẽ dùng cả mùa hè này để đi vòng quanh nước Mỹ bằng cách vẫy xe đi nhờ. “Chúng tôi đi Los Angeles,” hai chú sủa to.

    “Các ông đến đây làm gì?”

    “Giời, đâu có biết. Biết mà làm quái gì.”

    Có cả một gã cao, gầy, vẻ nham hiểm. “Anh quê đâu?” tôi hỏi. Tôi nằm cạnh hắn trên sàn xe, không thể ngồi được vì xóc khủng khiếp, xe đâu có thành. Hắn chậm chạp quay đầu về phía tôi, mở mồm ra và nói, “Mon-ta-na.”

    Cuối cùng là Mississippi Gene và gánh nặng của hắn.Gene là một gã bụi đời nhỏ thó, từng leo lên toa tàu hàng đi khắp nước. Hắn chừng ba mươi nhưng khá đẹp mã nên khó mà đoán chính xác hắn bao nhiêu tuổi. Gene ngồi phệt xuống sàn, chân xếp bằng, mắt chìm vào phong cảnh, chẳng nói chẳng rằng suốt chặng đường dài. Một lúc lâu sau hắn mới quay sang phía tôi và hỏi, “Còn chú, chú đi đâu?”

    Tôi nói Denver.

    “Ở đấy anh có một đứa em gái nhiều năm rồi chưa gặp.” Giọng hắn trầm bổng và chậm. Đây là một thằng cha kiên nhẫn. Đệ tử của hắn là một thằng tóc vàng mười sáu tuổi, cũng ăn mặc theo kiểu bụi phủi; tức là quần áo cả hai đều cũ rách, đều lem nhem bụi đất do lê la trên tàu và những đêm ngủ ngay dưới đất. Thằng tóc vàng cũng chẳng nói năng gì, gã như đang lẩn tránh điều gì đó, và cái cách hắn hay nhìn thẳng ra phía trước và liếm môi liên tục chỉ ra rằng hắn đang lẩn tránh pháp luật. Slim, kẻ đến từ Montana, thỉnh thoảng giễu cợt hai gã này và mỉm cười đầy ẩn ý. Còn họ thì không để ý đến gã. Tôi phát sợ cái nụ cười ngớ ngẩn của gã khi gã ngoác miệng gí vào mặt mình rồi cứ để nguyên thế như một thằng điên.

    “Chú có tiền không?” gã hỏi tôi.

    “Hầu như sạch túi rồi, có lẽ chỉ vừa đủ để làm một chầu whisky trước khi đến Denver. Còn anh?”

    “Anh biết là sẽ kiếm được ở đâu.”

    “Ở đâu?”

    “Đâu mà chẳng được. Người ta luôn có thể lấy được ở một kẻ nào đó, trong một phố nhỏ, đúng không?”

    “Ừm, em nghĩ là anh thì có thể.”

    “Nếu thực sự cần vài lít thì anh cũng dám lắm. Giờ anh phải đến Montana để thăm ông già. Anh sẽ xuống xe ở Cheyenne và tìm phương tiện khác đi tiếp. Còn bọn điên kia sẽ đi Los Angeles.”

    “Làm thẳng một lèo à?”

    “Thẳng một lèo, nếu chú cũng muốn đi LA thì đúng chỗ rồi đấy.”

    Thế này thì phải nghĩ đã; sẽ được xả hơi suốt một đêm qua vùng Nebraska, qua Wyoming, qua sa mạc Utah vào buổi sáng, và rất có thể đến chiều sẽ qua cả sa mạc Nevada rồi tới Los Angeles vào một thời gian xác định được. Ý nghĩ này làm tôi suýt nữa thay đổi chương trình. Nhưng tôi phải đến Denver. Tôi cũng phải xuống xe ở Cheyenne và vẫy xe đi tiếp chín mươi dặm nữa về phía Nam để đến Denver.

    Tôi lấy làm bằng lòng khi thấy hai tay nông dân vùng Minnesota, chủ nhân cái xe tải quyết định dừng lại ở North Platte để dùng bữa; tôi muốn ngắm kỹ họ. Họ chui ở cabin lái ra và mỉm cười với bọn tôi. “Đến giờ đi tè!” một tay nói. “Và đánh chén!” tay thứ hai tiếp lời. Nhưng họ là hai người duy nhất có tiền để mua đồ ăn. Chúng tôi lếch thếch theo họ vào một quán ăn do một đám phụ nữ quản lý, gặm hamburger với cà phê trong khi hai tay kia ngốn ngấu những đĩa thức ăn kếch xù, hệt như vừa được về nhà mẹ đẻ. Họ là hai anh em ruột, đang chở máy nông nghiệp từ Los Angeles đến Minnesota và cũng kiếm khá bộn. Chuyến về xe rỗng, thế là họ cho mọi người đi nhờ xe. Họ đã đi đi về về được năm chuyến.Vớ bẫm nên nhìn gì cũng thấy khoái. Họ không ngừng cười mỉm. Tôi định nói chuyện với họ - một ý đồ ngu xuẩn kiểu như muốn bày tỏ tình bằng hữu với hai thuyền trưởng của mình - nhưng họ chỉ trả lời bằng những nụ cười sáng chói, phô ra hàm răng trắng muốt của những kẻ được nuôi dưỡng bằng ngô.

    Mọi người đều theo họ vào quán ăn, trừ hai kẻ lang thang là Gene và thằng nhóc tóc vàng. Khi chúng tôi quay về xe, họ vẫn ngồi nguyên trong đó, trơ trọi, ỉu xìu. Đêm bắt đầu xuống. Hai tay lái xe dừng lại hút thuốc. Tôi tranh thủ đi mua một chai whisky để được ấm bụng mà chống lại những cơn gió lạnh ban đêm. Họ mỉm cười khi tôi nói ý định ấy ra.

    “Thế thì nhanh chân lên.”

    “Hai anh cũng nên làm một ngụm,” tôi nói để họ yên tâm.

    “Ô không, bọn này không uống rượu bao giờ cả, đi nhanh lên.”

    Montana Slim và hai thằng học sinh phổ thông cùng tôi lang thang khắp các dãy phố vùng North Platte cho đến khi tìm được một cửa hàng bán whisky. Mọi người góp tiền lại và tôi mua luôn một lít. Nhiều gã to con trông gớm ghiếc cứ nhìn chằm chằm vào chúng tôi sau những tấm biển quảng cáo khổng lồ kín mặt tiền các tòa nhà ống vuông chằn chặn dọc con phố chính. Bên ngoài mỗi con phố buồn bã là cảnh bát ngát của miền đồng bằng lớn. Tôi cảm thấy không khí ở North Platte hơi khác lạ, nhưng không rõ cụ thể là gì. Phải năm phút sau tôi mới định vị được cảm giác đó. Chúng tôi quay lại vừa lúc xe nổ máy. Trời tối rất nhanh. Mỗi thằng làm một ngụm và bỗng tôi thấy cây cối xanh tươi ở Platte bắt đầu biến mất, thay vào đó là sa mạc mênh mông cát chỉ toàn cây ngải đắng ngút tầm mắt. Tôi kinh ngạc kêu lên.

    “Cái quái gì thế này?” tôi gào lên với Slim.

    “Bắt đầu vùng hoang mạc đấy, chú em ạ. Cho anh làm ngụm nữa nào.”

    “Hết sảy!” hai thằng học sinh phổ thông reo lên.“Vĩnh biệt Columbus! Nếu Sparkie và mấy thằng kia có mặt ở đây thì chúng nó sẽ nói gì nhì? Tuyệt!”

    Trong cabin, anh em tài xế đổi lái. Cha mới này nhấn ga rất ghê. Mặt đường cũng thay đổi: gồ lên ở giữa, lề đất, hai bên đường đầy những rãnh, có cái sâu đến cả mét, nên cái xe cứ nảy lên nảy xuống, lảo đảo từ bên nọ sang bên kia - nhưng thần kỳ là chỉ khi không có xe đi ngược chiều mới thế - và tôi cứ tưởng là bọn tôi đang biểu diễn nhào lộn. Tay lái này rất cừ khôi. Nó vượt qua những gò đất mấp mô vùng Nebraska dễ như chơi - mấy mô đất này mà ở Colorado thì sẽ được gọi là quả núi! Và chẳng bao lâu tôi đã thấy mình đang ở trên đất Colorado rồi, chưa hẳn như vậy nhưng cũng chỉ còn cách Denver khoảng một trăm dặm về phía Tây Nam thôi. Tôi hét lên vì mừng. Chai rượu lại chuyền tay nhau. Những ngôi sao lớn lấp lánh, đồi cát xa mờ dần. Tôi cảm thấy mình như một mũi tên đang lao tới đích.

    Tự nhiên Mississippi Gene quay sang phía tôi, nghiêng đầu thì thào, “Những cánh đồng này làm anh nhớ đến Texas.”

    “Anh là người ở Texas?”

    “Không ạ, thưa chú, anh người Green-veil, Muzz-sippy ạ.” Hắn phát âm ‘Greenville, Mississippi’ như thế đấy.

    “Thế còn thằng nhóc kia?”

    “Nó gặp chuyện bê bối ở Mississippi và anh muốn giúp nó chuồn. Bọn nhóc không bao giờ tự giải quyết được chuyện gì cả. Anh chăm sóc nó bằng hết khả năng, nó mới chỉ là một thằng chíp hôi mà.” Gene là người da trắng, nhưng hắn lại có vẻ khôn ngoan mệt mỏi của một ông già da đen. Gene có cái gì đó rất giống Elmer Hassel - thằng nghiện New York. Chỉ khác đây là một Hassel chuyên nhảy tàu, một Hassel thích ngao du hoành tráng. Năm nào hắn cũng phải đi ngang dọc khắp đất nước, mùa hè đi xuống phương Nam, mùa đông lại lên miền Bắc, chỉ vì chưa nóng chỗ hắn đã chán và bởi chẳng có nơi nào cố định nên Gene đành có mặt khắp nơi, cứ thế đi mãi dưới những vì sao - thường là sao miền Tây.

    “Anh từng ở Og-den mấy lần. Nếu chú muốn đến đó thì anh có mấy thằng bạn thân có thể cùng nhau sống tạm.” “Em đi Denver, qua ngả Cheyenne.”

    “Lạy Chúa, thế thì cứ thẳng đường mà nhào tới, không phải ngày nào cũng gặp được dịp may như thế này đâu.”

    Lại một đề nghị đầy hấp dẫn. Ở Ogden thì có trò vè gì nhỉ? “Ogden là thế nào?” tôi hỏi.

    “Là nơi phần lớn bọn trai trẻ đi qua và bao giờ cũng tụ tập ở đấy. Ở đấy có thể gặp bất kỳ ai.”

    Ngày xưa tôi từng ra biển cùng một thằng to con người Louisiana tên là Big Slim Hazard, tên thật là William Holmes Hazard, một kẻ tự chọn con đường sống lang thang. Hồi còn nhỏ xíu, hắn nhìn thấy một kẻ lang thang đến xin mẹ hắn một miếng bánh, và mẹ hắn cho gã. Khi kẻ đi xin ăn này đã xuống phố rồi, thằng nhóc hồi, “Mẹ ơi, anh ta là ai thế?” “Một kẻ lang thang đấy, con ạ.” “Mẹ ơi sau này con cũng muốn trở thành một kẻ lang thang.” “Mày có câm miệng đi không con, đó không phải là dòng giống họ nhà Hazard.” Thế nhưng thằng nhóc không bao giờ quên cái ngày ấy và khi lớn lên, sau một thời gian chơi cho đội bóng của trường đại học, hắn bắt đầu đi lang thang. Big Slim và tôi đã từng thức nhiều đêm để kể chuyện đời cho nhau nghe và nhổ bã thuốc lá vào trong những cái hộp bằng giấy. Slim Hazard có cái gì đó rất giống với Mississippi Gene trong cách ứng xử, đến nỗi tôi buột miệng hỏi, “Đã bao giờ anh gặp một thằng cha tên là Big Slim Hazard chưa?”

    Và hắn nói, “Chú muốn nói đến một thằng cha to con cười như phá?”

    “Đúng đấy. Cái gã người Louisiana ấy.”

    “Đích thị. Đôi khi người ta còn gọi hắn là Louisiana Slim. Vâng, thưa chú, anh đã gặp hắn ta. Big Slim, chắc luôn.”

    “Và hắn từng làm việc trong vùng khai thác dầu ở Đông Texas?”

    “Đông Texas, đúng. Giờ hắn chuyển sang chăn bò.” Hoàn toàn chính xác; không thể tin được là Gene biết Slim, người mà tôi tìm kiếm từ mấy năm nay. “Và hắn đã làm việc tại các các tàu kéo ở New York nữa phải không?”
     
    Chỉnh sửa cuối: 5/8/16
    tducchau and chichi.myluckycharm like this.
Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.

Chia sẻ trang này