Truyện ngắn đặc sắc - Nhiều tác giả

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi 4DHN, 5/10/13.

Moderators: galaxy, teacher.anh
  1. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Ðàn bà - Nguyễn Khải


    1.
    Lưu là đội trưởng cảnh sát hình sự tuyến, tức là cảnh sát đặc trách an ninh các tuyến đường giao thông. Năm 82, Lưu 22 tuổi, anh lấy vợ, vợ chồng bằng tuổi nhau, cùng học với nhau ba năm trung học. Chồng làm công an, vợ làm ở khách sạn, được công ty du lịch phân cho một căn hộ ở trung tâm thành phố. Về đời riêng bắt đầu như thế cũng là hơn nhiều người. Lưu rất đẹp trai, dáng vóc cao lớn, hao hao giống các diễn viên Hồng Kông trong phim hình sự. Vợ cũng rất xinh gái, đẻ một con lại càng xinh, vợ chồng bế con đi chơi phố ai cũng phải ngoái cổ lại nhìn. Một cặp vợ chồng thời bình quả nhiên có khác nhiều với những cặp vợ chồng thời chiến. Họ là những người may mắn khiến các thế hệ sinh trước phải ghen tị. Chỉ có một trục trặc rất nhỏ, không đáng để ý. ấy là lương một trung sĩ công an hơi ít, có 51 đồng, đóng tiền ăn đã mất 18 đồng. Lương vợ bao nhiêu chồng cũng không hỏi, đại để lương chỉ là hình thức còn bổng mới là nguồn thu chính. Vì là bổng nên số tiền không cố định nhưng trong tủ lúc nào cũng có sẵn từng xấp tiền. Đẻ con, nuôi con , nuôi mẹ từ quê ra trông cháu đều là tiền của vợ. Lưu đi bắt cướp có khi phải đi vài ngày, tiền công tác rất ít cũng ngửa tay xin tiền vợ. Xin mãi cũng ngượng, vợ lại để sẵn tiền trong tủ nên về sau Lưu cứ tự tiện lấy, không mấy khi hỏi. Của vợ như của chồng, đã là vợ chồng ai còn phân bì của tôi với của anh. Nghĩ ngợi lẩm cẩm quá có khi vợ lại ngờ rằng tình yêu của anh với cô không trọn vẹn.

    Một tối Lưu về nhà đã rất khuya nhưng vợ anh vẫn chưa về. Bà mẹ ra mở cửa mặt buồn rười rượi, hỏi câu nào trả lời câu ấy, mắt cứ nhìn xuống. Lưu đã vào giường nằm mới nghe bà cụ nói : "Anh thử hỏi vợ anh xem nó có muốn gửi con bé đi nhà trẻ không? Hàng xóm họ đều gửi con ở nhà trẻ cả, nghe nói các cô trông cháu cũng cẩn thận lắm". Lưu hỏi : "Mẹ không thích ở đây nữa à ?" Bà cụ nói : "Tôi muốn về quê ít tháng, ở mãi đây cũng nóng ruột ở nhà". Chuyện ở hay về là chuyện thường nhưng giọng nói lại không bình thường, cứ như người muốn khóc. Lưu lại hỏi : "Mẹ chồng nàng dâu lại có chuyện gì không vui, phải không mẹ ?" - "Không, chả có chuyện gì. Bỏ nhà đi cả năm, còn các em anh..." Mấy ngày sau Lưu nói chuyện với chị ở phòng kế bên mới hay dạo này vợ anh nói hỗn với mẹ chồng nhiều lắm. "Chắc là nó đổi tính, trước kia đâu có thế". Chị kia nói: "Lâu rồi chú ơi. Bà cụ rất hiền, cứ bế cháu sang đây khóc lén khóc lút, lại còn dặn tôi phải giấu chú". Lưu lại hỏi : "Cách đây mấy ngày chị có biết đã xảy ra chuyện gì không ?" - " Mọi ngày giờ trưa cô ấy không về, trưa hôm ấy bỗng nhiên lại sồng sộc về, thấy bà cụ ôm cháu ngủ, bát đũa chưa rửa, thế là cô ấy làm ầm lên. Bảo là lấy chồng chứ ai lấy thằng ăn cắp. Chả biết lấy tiền cho gái hay cho anh cho em mà để tiền bao nhiêu hết bấy nhiêu". Lúc ấy Lưu mới ngớ người ra. Vợ lấy tiền của chồng là chuyện tự nhiên, nhưng chồng không làm ra tiền lại lấy của vợ tiêu lại là chuyện không bình thường. Lấy tiền mà không nói tức là thằng ăn cắp, chứ còn gì nữa.

    Bà mẹ chồng về quê. Con gái gửi nhà trẻ rồi gửi mẫu giáo. Thỉnh thoảng vợ chồng Lưu vẫn mời bạn bè tới nhà dùng cơm. Thỉnh thoảng họ vẫn cùng nhau đi xem kịch, xem chiếu bóng và cùng uống nước giải khát ở các quán quen. Họ dắt con đi chơi vẫn có nhiều người ngoái lại nhìn. Vẫn là một cặp vợ chồng đẹp đôi và có vẻ thỏa mãn. Người ngoài tưởng thế, bạn bè cũng nghĩ thế nhưng hàng xóm thì biết giữa họ không khéo đã có chuyện to rồi. Vì căn hộ của cặp vợ chồng trẻ ấy không có tiếng cười, không có cả tiếng nói. Chồng về rất khuya cũng chỉ nghe có tiếng mở cửa rồi tiếng giội nước. Không thấy bật đèn và cũng không nghe có ai hỏi ai. Vợ về muộn cũng thế. Họ chỉ nói với nhau khi có bạn bè tới thăm hoặc trước mặt hàng xóm. Con bé con đã lên năm, đi mẫu giáo rất ngoan, đến giờ đón con mà bố mẹ chưa về thì bác hàng xóm đón, thường là ăn cơm tối với các con của bác, nũng nịu với các anh chị, hỏi han, cười đùa như mọi đứa trẻ khỏe mạnh. Nhưng ở với bố mẹ những ngày nghỉ thì cả ngày con bé không nói, cười cũng không, mắt nhìn lấm lét như là sợ.

    Lưu cũng biết vợ không còn yêu anh nữa. Anh khỏe mạnh, đẹp trai, đàn bà con gái đủ mọi lứa tuổi rất thích được nói chuyện với anh, chọc ghẹo anh và cũng rất muốn được anh nắm chân nắm tay chọc ghẹo lại. Anh chỉ thiếu có tiền thôi. Chả lẽ một thằng đàn ông thiếu tiền nằm cạnh vợ mà không còn gây được một xúc động nào ở người đàn bà, dầu rằng họ không còn là tình nhân nữa ? Vô lý ! Nhưng là chuyện có thật. Họ vẫn nằm chung giường, con gái ngủ cái giường con kê liền cạnh, nhưng rất nhiều đêm họ không hề biết đến nhau. Lưu luôn luôn về muộn, mệt mỏi và chán chường, không phải lúc nào cũng chán vợ, mà là chán cái nghề tìm người, đe người, bắt người. Tới đâu cũng chỉ vấp phải những cái mặt sợ hãi, dối trá, oán hận. Bất cứ lúc nào cũng có thể nhận một nhát dao đâm từ lưng hoặc một đầu gậy bổ xuống đầu. Cứ hẳn thế anh lại dễ ăn nói, dễ xử sự. Còn vợ thì sao? Từ mấy năm nay chị có một gương mặt rất lạ, không vui, không buồn, cũng không giận. Như mặt tượng. Vừa là vợ vừa là người lạ. Vừa là người thân nhất vừa là người có thể căm ghét anh nhất. Không có mũi dao nào ló ra nhưng đứng cạnh nhau là đau nhói, sau đó là rã rời như đã bị chảy máu từ bên trong. Anh phải xử sự như thế nào, phải nói năng ra sao ? Anh không biết, anh lúng túng, vụng về, cau có và càng trở nên đáng ghét hơn. Cũng có đêm Lưu rất muốn được yêu vợ. Anh nằm cạnh vợ, cười nịnh nọt và đưa tay khẽ vuốt ve một cánh tay của vợ. Chị hất tay anh ra như người ghê tởm, nói làu nhàu : "Ông ngủ đi, tôi mệt quá". Có lần anh nhẫn nại, năn nỉ thì chị quay mặt về phía anh, một gương mặt trắng xanh dưới ánh đèn đường chiếu vào, nói dửng dưng : "Ông muốn làm gì thì làm nhanh lên!". Anh thở dài, nằm lùi lại, nói nhỏ : "Em ngủ đi, anh cũng thấy mệt rồi". Ai mà tin được một cặp vợ chồng đẹp đôi thế, nằm cạnh nhau cả năm mà không ai đụng chạm vào da thịt của ai.

    Thời gian đầu chỉ có vợ chồng Lưu biết cái gia đình nhỏ bé của họ có nguy cơ tan vỡ nhưng bạn bè và họ hàng vẫn không hay biết gì. Thời gian sau, mọi người đều biết vợ Lưu có ngoại tình, biết rõ cả địa chỉ của người tình nhưng Lưu lại không hề biết. Có thể anh cũng lờ mờ biết nhưng anh không muốn tin vì người tình của vợ lại là ông trưởng phòng vật tư của công ty du lịch. Ông ta đã năm chục tuổi, xấu trai và thô lỗ, chỉ được cái khỏe mạnh và có rất lắm tiền. Người như thế làm sao quyến rũ nổi vợ anh. Vợ anh còn trẻ, vẫn đẹp và cũng có lắm tiền. Anh cũng còn rất trẻ, mới ngoài ba mươi, là một sĩ quan cảnh sát có triển vọng, đã được báo Hải Phòng nêu tên và đăng ảnh. Anh chỉ có một khuyết điểm nhỏ là không nghĩ ra được những cử chỉ âu yếm lặt vặt của mỗi ngày để chiều vợ, không luôn luôn có mặt bên cạnh vợ những lúc cô ấy cần. Và đã rất nhiều đêm anh nằm vật bên cạnh vợ như một khúc gỗ sau một ngày làm việc căng thẳng. Nhưng Lưu vẫn tin mối quan hệ bất chính kia nếu có thì cũng để trêu chọc anh thôi, cảnh cáo cho biết chứ chưa hẳn đã muốn dứt bỏ thật. Cơ quan vật tư của công ty du lịch gần ngay khu nhà tập thể của công ty. Gia đình trưởng phòng vật tư ở Kiến An nên ông ta chỉ về nhà tối thứ bảy và ngày chủ nhật còn các ngày làm việc ông ta ăn ở ngay tại cơ quan. Các buổi trưa vợ Lưu cũng không về nhà, đi chợ nấu ăn tại nơi làm việc, cùng ăn với trưởng phòng và ngủ trưa tại phòng ông ta. Như một cặp vợ chồng. Không ai dám nói đã đành, người vợ ngoại tình cũng không thích giấu giếm nữa kể cả với ông chồng cảnh sát. Cho tới một buổi trưa, Lưu đã bí mật leo ống máng như cách vây bắt một tội phạm hình sự, đột nhập từ cửa sổ khép hờ vào phòng riêng của trưởng phòng vật tư và bắt gặp vợ mình và người nhân tình lớn tuổi chỉ vừa kịp quơ chăn phủ lên người.

    Họ đã đưa nhau ra tòa để ly hôn. Lưu thì xấu hổ và đau đớn nhưng vợ anh rất thản nhiên như đang thay mặt ai đó để làm cái việc nghiêm trọng ấy. Khi tòa hỏi, ai sẽ nuôi đứa con gái, theo luật thì đứa con duy nhất sẽ theo mẹ, trừ phi... Người đàn bà nói luôn : "Để bố cháu nuôi, lương tôi thấp không đủ khả năng nuôi cháu". Nói rất tự nhiên, không đắn đo, nghĩ ngợi gì cả. Vài tháng sau Lưu được tin cô vợ cũ đang ăn sáng thì bị bà vợ chính thức của người tình đưa đứa con trai lớn tới đánh ghen, mẹ thì chửi, con thì đánh. Một năm sau, tay trưởng phòng chuyển công tác đi nơi khác và bỏ luôn người đàn bà còn trẻ và đẹp đã vì hắn chịu mất hết những gì cô ta đã có từ mười năm nay. Rồi có tin cô đi cặp với một người khác, thanh niên mới lớn, kém cả chục tuổi. Lúc thì cô ta sống với người trẻ tuổi hơn, lúc thì với người bằng tuổi, có lúc lại chạy theo một ông già tóc đã muối tiêu, đạo mạo như một ông bố. Chả hiểu ra sao cả, như một con điếm. Mà cô ấy vẫn có tiền.

    Lưu gửi con về quê nhờ mẹ nuôi, làm việc vẫn hăng say nhưng cứ nghĩ tới đàn bà là đau nhói. Đàn bà thật khó hiểu, mãi mãi anh không thể hiểu. Theo cách đánh giá của anh họ đều tham tiền, ham vui và cạn nghĩ như nhau cả.


    2.
    Sau cuộc chia tay với vợ, đưa con gái về quê gửi mẹ và các em, Lưu là người hoàn toàn tự do, như thời anh mới đi làm. Anh xin nghỉ hẳn hai ngày để ngủ. Anh ngủ từ sáng đến tối, ra phố ăn cơm bụi rồi lại về ngủ tiếp. Tới trưa ngày hôm sau anh dậy tắm rửa, cạo râu, xách xe chạy một vòng quanh thành phố rồi chui vào một quán cà phê tồi tàn gần bến xe Niệm Nghĩa ngồi cho đến tối. Chưa bao giờ Lưu mệt mỏi đến thế và buồn đến thế. Thất bại về gia đình là thất bại đau đớn nhất vì lòng kiêu hãnh của thằng đàn ông bị tổn thương đến tột cùng. Cũng trong khoảng thời gian ấy Lưu còn phải chịu đựng thêm một thất bại khác là đơn vị anh sau nhiều tháng truy lùng vẫn không thể bắt được tên tội phạm thuộc loại đặc biệt nguy hiểm của thành phố. Tên nó là Tích, Tích híp, là sói độc, không thuộc một băng nhóm nào, không có lãnh địa riêng, gặp việc có lợi là làm, đã làm là chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Và luôn luôn giữ được sự bất ngờ. Đến vợ con nó cũng sống rất bí mật, khi ở Kiến An, khi ở Thủy Nguyên, có khi lại sống ngay giữa Hải Phòng, không ai biết mặt mũi thị, cũng không ai biết vỏ bọc của thị. Sự thách thức ấy khiến mọi người phát điên lên. Trong đơn vị chỉ có hai người biết rõ mặt Tích híp, là đội trưởng Lưu và một chiến sĩ trinh sát. Nó có một gương mặt không có đặc điểm riêng, rất dễ trộn lẫn vào đám đông, ngoại trừ đôi mắt híp. Cách đây đã dăm năm, Tích híp còn làm thư ký đội bốc vác của một bến xe khách, đã vài lần Lưu đứng trò chuyện với nó, chuyện bâng quơ thôi, nhưng anh chợt gai người, cũng chỉ một thoáng, vì cái đảo mắt và cái cười không thành tiếng của nó. Vài tháng sau, nó biến mất, không để lại một dấu vết nào vì vẫn còn là một tên tuổi vô danh. Sau đó hai năm trong giới giang hồ bắt đầu thì thào cái tên Tích híp sau nhiều vụ làm ăn rất mạo hiểm : buôn thuốc phiện, buôn xe hơi, xe máy qua biên giới, buôn người. Rồi cũng vẫn là Tích híp đụng độ bằng dao bằng súng với công an Móng Cái, công an Cẩm Phả, công an thành phố Hạ Long. Đội trưởng Lưu là người đa mưu, chân tay trong giới giang hồ cũng nhiều, xử trí nhanh, đã từng bày nhiều thế trận rất lắt léo để nhử con mồi nhưng Tích híp vẫn lọt qua hết sức ngoạn mục hoặc nhởn nhơ múa nhảy ở vòng ngoài. Một lần, qua hệ thống truyền tin rất công phu, Lưu biết được Tích đang náu thân tại nhà người bạn của ông anh nuôi cách Kiến An dăm cây số. Ông này vừa mở quán vừa chăn vịt. Quán nhà quê, bán bánh đúc riêu cua, chè xanh, rượu và lạc rang. Lưu và một chiến sĩ trinh sát vào quán uống rượu từ trưa đến ba giờ chiếu, rồi Lưu giả vờ đau bụng xin nằm nhờ gian trong của chủ quán. Vẫn không có ai ra vào hoặc thăm hỏi, không có dấu vết nào có người lạ trong nhà. Khoảng 4 giờ chiều Lưu hỏi lối đi đại tiện nhìn ra cánh đồng thấy một bóng người đội nón đang cất vó tép. Một cái lưng quen thuộc. Là nó chăng ? Lưu đứng ngắm nghía một lúc rồi xăm xăm bước lại, tới gần sau lưng người kia anh rút súng, quát to : "Tích híp, mày đã bị bắt !" Người kia quay lại, từ từ gỡ nón, một gương mặt lạ hoắc, râu quai nón, tóc muối tiêu, một bên mặt có vết nám to bằng nửa bàn tay bầm đỏ. Lưu lúng túng nhét lại súng vào bụng, tự giới thiệu là công an thành phố đi bắt cướp nhưng đã nhận lầm người. Người kia giương mắt nhìn không nói gì lại quay lưng nhấc tiếp các vó tép. Trên đường trở lại thành phố Lưu mới thoáng ngờ cái bộ râu quai nón của người cất vó tép. Rất ít người ở nông thôn để râu quai nón. Người buôn bán thì có, người đi cất vó tép thì không. Ông ta lại không nói, không hỏi thêm câu nào về cái chuyện bắt cướp, là ông nông dân lại không có tính tò mò sao ? Một gương mặt muốn giấu đi, một giọng nói muốn giấu đi, thì là ai nhì ? Là "nó" chứ còn ai nữa ! Lúc này quay lại cũng quá muộn. Nó đã cao chạy xa bay từ lâu rồi. Nó biến mất nhưng ông chủ quán, kẻ đã chứa chấp nó nhiều ngày, nhất định vẫn còn đó. Từ đó...

    Sáng hôm sau Lưu quay trở lại từ rất sớm. Ông chủ quán vẫn bán bánh đúc riêu cua cho đám thợ làm đường, nhìn thấy anh vẫn mời chào vồn vã. Nhưng Lưu không cười, anh bước vào kéo ghế ngồi rồi hỏi ngay : "Cái ông cất vó tép còn đây không ?" Người kia mặt không đổi sắc, hỏi lại rất tự nhiên : "Anh hỏi ông cất vó tép nào ? Ông ta ở đâu ?" Lưu nói gằn giọng : "Nó ở đây, ở ngay cái nhà này, nó là tội phạm, ông hiểu chưa ?" Ông chủ quán quay sang hỏi đám thợ đang ăn : "Các chú có nhìn thấy ông cất vó tép nào lảng vảng quanh đây không ?" Một người nói : "Vào trong làng mà hỏi, chứ ở đây làm sao biết". Ông chủ quán nói thêm : "Xin lỗi anh, từ khi bán đi lứa vịt, tôi chỉ ngồi suốt ngày ở đây, không mấy khi bước chân ra đồng. Anh vào trong làng hỏi công an xã xem". Lưu cười cay đắng, anh vẫn ngu quá, ngu như thế làm sao bắt được một kẻ rất ranh ma là Tích híp.

    Sau ngày li dị vợ được nửa năm, Lưu nhận được tin Tích híp đã trở lại Thủy Nguyên, lần này nghe nói có cả vợ con. Cuối cùng Lưu đã mò được ra hang ổ của nó ở một hẻm núi, cách làng chừng nửa cây số. Anh đi một mình, giả làm nhân viên thu mua thuốc nam của viện dược liệu. Anh đã nhìn thấy nó một lần đi cùng với vợ và đứa con trai khoảng 13, 14 tuổi. Nó để râu quai nón, mang kính râm nhưng vẫn là cái dáng đi lòng khòng của thằng thư ký đội bốc vác năm nào. Rất may là nó chưa mập ra, chưa có bụng mặc dầu tuổi cũng đã ngoài bốn mươi rồi. Chỉ cần thêm dăm năm sống ngoài vòng pháp luật là nó có thể xóa hẳn hình bóng cái thằng Tích híp năm xưa để trở thành một kẻ chỉ có tên chứ không có con người thật.

    Một buổi chiều, khoảng 5 giờ, Tích híp về nhà đã được nửa tiếng thì Lưu đạp cửa ngoài nhảy vào. Người vợ đang cầm siêu nước bước xuống bếp vội quẳng ấm nước ra sân rồi quay nhanh vào nhà trong. Lưu vẫn bám theo, một bóng người đang nằm trên giường nhảy xuống, cúi người lủi dọc vách tường vào sâu trong nữa. "Có cửa sau lên núi chắc?" Lưu vừa kịp thoáng nghĩ, sải chân định bước vọt lên thì bị vấp ngã chúi xuống. Không phải vấp mà là bị con vợ Tích quì xuống ôm chặt lấy một chân của Lưu kéo lại. Lưu thúc thẳng bàn chân bị ôm vào chét ngực teo tóp của người đàn bà, một tay vơ lấy chiếc ghế đẩu ném mạnh vào lưng Tích đang loay hoay trước khuôn cửa gỗ ăn thông lên núi. Rồi anh rút súng nhắm vào Tích, hét to : "Tích, dừng lại, mày mở cửa là tao bắn!" Thằng Tích hình như cũng sợ quá, hắn không quay người lại, vẫn loay hoay với cái then cửa. Con vợ liền buông chân của Lưu nhảy chồm lên kéo cánh tay cầm súng về phía thị, dồn hết sức mạnh ghì chặt khẩu súng đạn đã lên nòng ép vào ngực thị, nếu súng nổ thì thị sẽ được chết thay chồng, chồng thị sẽ có cơ hội chạy thoát vì sự lúng túng của kẻ bắt giữ. Cánh cửa phía hông nhà đã mở, Tích lao vào khoảng trống có rất nhiều bụi cây dại ở sườn núi mặc cho Lưu hò hét, chửi rủa cả vợ lẫn chồng. Mấy phút sau vợ Tích mới buông tay, nhìn kẻ thù với ánh mắt mừng rỡ và biết ơn : "Chúng em biết anh đã thương nên không nỡ bắn chết cả hai vợ chồng. Xin anh yên tâm, nhà em đã muốn ra đầu thú lâu rồi nhưng còn đang sợ". Lưu buông người xuống ghế, giắt súng vào bụng, nhìn chằm chằm người đàn bà bé nhỏ, ốm yếu vừa giận vừa phục. Chị ta lấy đâu ra cái sức mạnh đến kinh ngạc ấy nhỉ ? Một cái thúc của anh vào ngực đến thằng thanh niên cũng phải há miệng buông tay, huống hồ...

    Có tiếng gọi của đứa con trai ở phía ngoài, mẹ nó búi vội cuộn tóc vừa bị xổ, nói ra giọng rất nhẹ nhàng :

    - Nhà có khách, vào chào chú đi con!

    Một thằng bé cao lớn, rất khôi ngô, cầm cặp sách bước vào :

    - Thưa chú, thưa mẹ con đi học về.

    Mẹ nó quay sang nhìn Lưu, nói to cho cả con nghe :

    - Mời chú ở lại ăn cơm với mẹ con tôi, rồi chờ anh ấy về luôn thể.

    Lưu biết ý tứ của người mẹ trước con cái, anh mỉm cười, nói theo :

    - Xin chị cho bữa khác. Nhờ chị nói lại với anh, nếu anh tới gặp tôi sớm thì mọi chuyện sẽ không xấu lắm đâu.

    Vợ Tích với con trai tiễn Lưu ra cổng. Có mấy bà hàng xóm đứng ở đường chào Lưu rồi hỏi vợ Tích :

    - Vừa rồi nghe ầm ầm như có đánh nhau to ở đâu thì phải?

    Vợ Tích liếc nhìn Lưu rồi trả lời thản nhiên :

    - Tôi mải nói chuyện với chú cháu từ thành phố sang chơi nên chả nghe thấy gì.

    Rồi chị ta lại giục con : "Con chào chú đi" và nói với Lưu: "Xin mời chú lại nhà. Chỉ vài bữa nữa nhà tôi sẽ xin sang gặp chú ngay, mong chú giúp cho".

    Lời nói dịu dàng, cung cách con nhà gia giáo mà chịu làm vợ một thằng tướng cướp ư? Vợ con như thế, trời đãi đến thế mà không chịu làm người đàng hoàng thật là uổng quá, là một thằng đàn ông ngu quá. Cũng như đã có những con đàn bà hết sức ngu...

    Tháng 1 năm 1995
     
  2. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Ðêm nguyệt thực

    Trung Trung Ðỉnh

    Không muốn làm trái tim những người thân yêu thêm một lần rỉ máu, anh thương binh tàn phế quyết định không trở về. Những trải nghiệm khốc liệt nơi chiến trường bão lửa chưa thấm vào đâu so với những day dứt dằn vặt cứ âm thầm giằng xé lòng anh. Quyết định ở lại chiến trường xưa, xây dựng cuộc đời mới bằng sức lực còn lại của mình, tưởng chừng như vô tâm, bạc bẽo, nhưng thấm đẫm sự bao dung, lòng trắc ẩn và nhân bản. Bởi trong hoàn cảnh nào người lính cách mạng cũng không chỉ sống riêng cho mình.

    Tôi được cơ quan phân công tới làng Plei-O-K, nơi cách đây hơn chục năm, hồi còn đánh Mỹ có nhiều dịp qua lại. Nhiệm vụ của tôi là phải viết được một bài báo, phản ánh kịp thời về sự đổi mới của bản làng sau mấy năm giải phóng. Làng nằm dưới thung lũng, xung quanh toàn đồng cỏ. Cách đó không xa là nông trường chăn nuôi của huyện M. Nơi đây có nhiều sự tích đánh Pháp và nhất là đánh Mỹ.

    Từ huyện lỵ về làng phải đi bộ mất non một tiếng.

    Lúc ấy đã hơn sáu giờ tối. Hơn sáu giờ tối trong thung lũng trời chuyển hẳn sang không khí ban đêm. Gió se lạnh. Tít xa chỉ thấy những mảng đồi và vô khối đường viền lấp lánh do lửa cháy rải rác trong các khe núi hắt ra. Những vệt khói chuyển động dưới bầu trời sao chi chít. Tôi háo hức bước trên đường cái về làng. Phía trước có tiếng reo hò huyên náo và tiếng chinh chiêng ầm ĩ. Có cả những tiếng gõ nghe loạn xạ không ra bài bản, nhịp điệu gì. Mới đầu tôi nghĩ, chắc làng đang hội hè hoặc có cuộc vui nào đó.

    Nhưng càng tới gần càng cảm thấy không phải. Chẳng có cuộc vui nào lại nhiều tiếng gõ, tiếng hú, tiếng hò la đến vậy.

    Tôi bước vào sân làng. Những bó đuốc sáng rực chạy vội vã từ nhà này sang nhà khác. Những tiếng hú nối nhau thảng thốt. Tôi chột dạ lo ngại. Không phải là làng đang vui mà rõ ràng đang có sự cố gì. Vì biết nói tiếng địa phương, nên tôi nghĩ, mình đến có thể giúp gì được bà con.

    Tôi hăng hái vào làng và gặp vài người. Tôi chào bằng tiếng địa phương. Nhưng họ chỉ ngoái lại nhìn rất nhanh rồi quay đi, tiếp tục la hét và gõ vào những đồ dùng đang cầm sẵn trên tay. Ngoài sân làng, một người huơ huơ đuốc. Nhiều người cùng cầm đuốc xúm lại. Tôi thấy một cái bóng cao to trao cây đuốc cho chú bé rồi bắc loa tay, hú lên một tiếng rõ dài. Mọi người im phắc. Người đó đứng giữa vòng, chỉ lên trời nói rất to bằng tiếng Gia Rai. Anh ta giải thích cho bà con hiểu là, hiện tượng nguyệt thực chẳng qua do mặt trời, trái đất, mặt trăng quay đến một chỗ thẳng hàng nhau, rằng ánh sáng của mặt trời tỏa ra khuất bóng trái đất, nên ta chỉ thấy mặt trăng có chút xíu thế kia. Sau đó anh ta bắt ba em nhỏ đứng thẳng hàng, đứa đầu cầm đuốc, hai đứa sau đứng nghiêm. Nhưng anh không nhớ, cả vòng người quanh anh, hầu như ai cũng có đuốc. Và vì thế, ba cái bóng nhỏ nhoi của ba chú bé ngả nghiêng, chĩa ra nhiều phía. Dân làng ồ lên rồi tỏa ra hò hét, la ó. Tiếng chinh chiêng càng dồn dập hơn. Tiếng hú càng dài hơn. Tôi bất giác nhìn lên khoảng trời trước mặt. Một quầng sáng đen kịt như đang rung chuyển. Cái quầng đen phát sáng ấy gây cho ta cảm giác rùng rợn. Phía sau quầng đen, những ngôi sao sâu hút, le lói. Một mảnh ánh sáng sắc lẹm hơi cong, chập chờn hiện lên, như là rất rõ, lại cũng như là không thấy gì, khiến ta tưởng như đang bị loạn thị vậy. Tôi dụi mắt, nhắm chặt một lúc lâu. Khi mở ra, cảnh tượng vẫn y như cũ. Ðây là lần đầu tôi thấy hiện tượng nguyệt thực trên cao nguyên.

    Chợt có một cánh tay huých vào ba lô tôi, nhắc nhở bằng tiếng Gia Rai: "Sợ à! Sợ thì làm theo người ta đi!". Tôi quay lại. Người nhắc tôi đã nhảy lên sàn cửa, gõ tới tấp vào mảnh máy bay Mỹ treo trên chái hiên.

    Tôi quay ra tìm người cao to vừa giải thích hiện tượng nguyệt thực. Nhưng sân làng đã vắng hoe. Tôi đang phân vân không biết chọn nhà nào để lên, thì thấy nhiều người ùa ra. Cái bóng cao to khi nãy bây giờ chạy trước, tới giữa sân anh lại hú, lại huơ đuốc. Một đám đông xúm quanh. Anh hô to, bảo mọi người tắt đuốc. Ðêm trở nên huyền ảo với những bóng người và tiếng bàn tán xì xầm. Người ta bê tới cho anh một cái cối gỗ để làm bệ đứng. Anh nhẩy lên, châm một cây đuốc, rồi dõng dạc gọi tên ba em nhỏ. Ba chú bé tranh nhau đứng trước. Nhưng chỉ cần một cái khoát tay của anh, chúng rất nhanh về đúng vị trí của mình. Dân làng kéo lại chờ đợi. Dường như anh đang dồn hết tâm lực, cố dùng những lời ngắn gọn, dễ hiểu nhất để giải thích một hiện tượng thiên nhiên, không phải dễ gì người ta chấp nhận ngay được. Anh mặc quần đùi, áo lót! - loại áo do các thiếu nữ Gia Rai thường dệt tặng các chàng trai dũng cảm. Lẽ ra áo ấy phải mặc đồng bộ với chiếc khố có nhiều tua, nhiều đường hoa văn sặc sỡ. Chợt anh hú lên một tiếng ngắn gọn. Chú bé cầm đuốc vung mạnh rồi hạ xuống ngang người. Nó đứng trang nghiêm, hô to bằng tiếng Gia Rai: "Tôi là mặt trời!". Lập tức hai em đứng sau lần lượt hô: "Tôi là trái đất!" - "Tôi là mặt trăng!".

    ánh đuốc hắt ba cái bóng dài chập vào nhau. Dân làng xúm lại chỉ trỏ, cười nói. Anh lại hú giật lên một miếng ngắn gọn nữa.

    Mọi người nín lặng. Cái nín lặng đột ngột khiến tôi cảm thấy như có một sức mạnh của uy quyền. Sức mạnh mà dù muốn dù không ta vẫn phải làm theo.

    Anh lại bắt đầu giải thích. Tôi thấy lần này có hiệu nghiệm hơn. Ba em nhỏ vẫn luôn miệng hô: "Tôi là trái đất!" - "Tôi là mặt trăng!".

    Tôi đứng ở vòng ngoài, chờ dân làng tản ra sẽ bám theo anh. Nhưng chỉ loáng một cái, sau khi hỏi người đứng cạnh, biết anh là cán bộ văn hóa xã, thì anh đã không còn trên sân làng nữa.

    Người ta chỉ cho tôi nhà anh. Một ngôi nhà không làm sàn duy nhất trong làng.

    Trăng sáng trở lại, nhưng phía chân trời xa còn vương một đám mây đỏ thẫm. Mọi người đã ai về nhà nấy. Ðâu đó có tiếng chinh chiêng và tiếng hát trầm. Nếu ta chú ý lắng nghe, có thể nghe rõ lời bài hát.

    *
    * *

    Anh đang nằm trên chiếc giường tre nhỏ kê sát cửa, nghe tiếng động liền vùng dậy:

    - Gì đấy? - Anh hỏi bằng tiếng Kinh.

    - Báo cáo anh. - Tôi ấp úng. - Tôi là nhà... báo...

    Anh vội vã ngồi dậy, bước vào nhà trong. Một lúc sau anh cầm đèn dầu ra với vẻ lúng túng. Tôi giả lơ vô tình, đặt ba lô lên thềm và bắt chuyện:

    - Nãy nghe anh giải thích hiện tượng nguyệt thực hay quá! - Tôi nói tiếng Gia Rai, hy vọng được anh đón tiếp vui vẻ.

    Chợt anh đánh rớt chiếc đèn xuống nền nhà, vỡ tan. Tôi vội bấm đèn pin giúp anh thu lượm mảnh. Bàn tay phải của anh chỉ còn ngón trỏ và ngón út, một bên má sạm đen, bên kia tấy lên có những chấm trắng. Chắc anh là thương binh, tôi nghĩ. Tôi cố giữ thái độ bình thường. Anh lầu bầu câu gì đó không rõ. Thoáng có mùi rượu. Từ lúc vào tới giờ, anh chưa hề nói với tôi lời nào, ngoài câu "gì đấy" bằng tiếng Kinh. Hai tiếng ấy bật ra không hề ngượng nghịu. Chắc anh ta thạo tiếng phổ thông, tôi nghĩ. Liệu tôi có làm anh khó chịu không? Tôi băn khoăn mở cặp lấy giấy tờ, định nhờ anh liên hệ giúp với các đồng chí lãnh đạo xã. Anh ném mảnh giấy vào góc nhà, kéo xê chiếc giường con ra hiên, nói:

    - Ðồng chí chờ tôi một tẹo.

    Anh nói tiếng Kinh, theo giọng miền Bắc. Tôi chưa thấy ai là người Gia Rai nói tiếng Kinh sõi hơn thế. Cái từ "một tẹo" anh dùng, phải là người thạo ngôn ngữ đồng bằng Bắc Bộ lắm. Nhưng tôi lại nghĩ, chắc anh là cán bộ tập kết về. Ðiều ấy cũng có thể xảy ra. Tôi có tật, mỗi lần lên lại Tây Nguyên, được tiếp xúc với đồng bào là nói tiếng địa phương. Phần vì dễ gây được cảm tình với bà con. Phần nữa, đây là dịp ôn lại vốn từ mà tôi đã có.

    - Chắc anh đã ở nhiều miền Bắc? - Tôi vẫn hỏi bằng tiếng Gia Rai. Anh lặng lẽ đặt chai rượu trên giường và hai cái ly nhựa. Anh rót đầy hai ly, không trả lời tôi mà nhận xét:

    - Ðồng chí nói tiếng quê tôi thạo đấy. Chắc là từng công tác ở đây?

    Tôi khoe với anh là đã ở vùng này hồi đánh Mỹ. Rằng tôi đã từng được cử xuống làm cán bộ du kích một thời gian.

    - Trước ông ở đơn vị nào? - Anh hỏi tiếng Kinh.

    Không thể cứ một người nói tiếng Gia Rai, một người nói tiếng Kinh mãi được. Tôi trả lời:

    - Trước tôi ở huyện đội M mà.

    - Ủa! - Anh reo lên - Thế những năm nào?

    - Dạ, từ sáu tám.

    - Từ sáu tám? - Anh tiếp. - Còn tôi là lính K5. Nhưng trước đó kia. Mà thôi nào, mời ông. Chúng mình coi như anh em bạn cũ nhau. Trăm phần trăm nhá!

    Tôi cầm ly rượu ráng uống hết. Anh cũng làm một hơi. Tôi lấy mấy cái bánh mỳ mang theo mời anh. Anh cứ ngồi ngây ra, một lúc bỗng đứng dậy vào nhà. Tôi liếc theo. Anh ăn ở chu đáo, gọn ghẽ. Chợt có tiếng trẻ khóc và tiếng phụ nữ nựng con bằng tiếng Gia Rai. Anh ra, tôi lấy giấy công tác đưa anh. Anh chỉ xem qua, nói:

    - Cán bộ xã đi họp trên huyện cả, chỉ còn mình tôi ở nhà vì vợ tôi mới sinh cháu trai khi sớm.

    - Thế ạ. Xin chúc mừng anh chị! - Tôi nói. - Tôi hỏi thật: Hình như anh là người Kinh?

    - Vâng. - Anh đứng dậy, linh hoạt hẳn. - Tôi là dân Bắc chính cống đấy ông ạ.

    - Thảo nào...

    - Hôm nay tôi lên chức bố, - Anh tiếp. - Lại là bố thằng cu. Mừng quá hóa ngơ ngẩn từ sáng tới giờ. Ông đến gặp dịp vui của tôi, cứ tự nhiên nhé.

    Anh cười cởi mở rồi xoa xoa tay, chạy vào nhà trong với cái dáng tất bật đầy vui sướng. Tôi thấy miệng anh bị lệch, hàm răng trên không còn cái nào. Nhưng giọng vẫn bình thường. Anh vừa bước ra đã nghe tiếng chị gọi theo. Anh lật đật vỗ vỗ vai tôi mấy cái rồi quay lưng. Chị nói với anh bằng tiếng Gia Rai: "Ơ kìa, con gà đang muốn theo nước sôi nhảy ra khỏi nồi rồi!". Và chị bảo anh rút bớt củi trong bếp rồi lấy thêm rượu mời khách. Anh đề nghị chúng tôi uống rượu cần, nhưng chị bảo sợ người khách lạ cười. Anh ra hỏi, tôi đồng ý ngay. Anh lại quay vào. Có tiếng chị mắng yêu anh và tiếng cháu bé khóc.

    Rồi lại lặng im.

    Tôi cảm thấy lâng lâng, phần vì ly rượu vừa uống, phần vì lây cái vui của anh chị. Trăng giữa tháng sáng tới mức ta có cảm giác không gian rộng hẳn ra. Tôi rút cây kèn ác-mô-ni-ca ra thổi. Tôi thích thổi những bài dân ca Gia Rai. Những bản tình ca của người đi săn. Những khúc hát đối nhau của các chàng trai và các cô gái trong dịp hội hè. Những điệu nhảy mừng ngày mùa thắng lợi. Rồi tôi bỏ kèn, nghiêng người tựa vào thành giường hát. Chợt có bàn tay đặt lên vai tôi. Tôi ngừng lời. Anh bắt tay tôi bằng bàn tay lành và khen tôi hát tiếng Gia Rai khá chuẩn. Có tiếng chị nhắc:

    - Ơ người khách mới! Hát đi cho con nít mình mau lớn.

    Tôi cao hứng hát tiếp.

    Anh đặt ghè rượu sát cửa, lấy lá ủ ra và cắm cần. Chị bê tới một cái rá con bốc khói. Thì ra nãy giờ anh chị luộc gà. Tôi chào chị bằng tiếng Gia Rai. Chị bẽn lẽn gật đầu. Anh lấy thêm đĩa rau thơm và muối ớt. Chị nắm tay tôi, bảo tôi ngồi xuống chiếu hoa - loại chiếu chỉ những nhà giàu xưa mới có. Anh nói:

    - Cả ngày nay bà con mừng tôi hơn chục con gà, ba ghè rượu thơm, một gùi gạo nếp. Năm nay chúng tôi được mùa cả lúa ruộng lẫn lúa nương ông ạ.

    Chị vít cần rượu cho tôi, mỉm cười nhìn tôi và anh uống chung một cangVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Rồi chị vào nhà trong với cháu. Tôi cám ơn chị. Anh kéo tay tôi, bảo tôi đừng làm khách. Tôi hỏi anh về công việc làm ăn của địa phương, anh cười:

    - Khi nào làm việc xin ông tha hồ phỏng vấn. Còn bây giờ ta vui, ta nói chuyện đời...

    - Vâng! - Tôi vít cần rượu. - Xin chúc mừng anh chị! Chúc mừng cháu!

    Tôi nghe rõ tiếng rượu chuyển trong ghè. Bỗng anh buông cần nói với vào nhà trong bằng tiếng Gia Rai:

    - Ơ em. Tui muốn say rồi! Ngày vui uống chút cho say, được. Ngày thường uống say, không phải người Gia Rai xã hội chủ nghĩa đâu cán bộ phụ nữ nhỉ?...

    Rồi anh cười to và buông cần chạy vào nhà đòi bắt tay chị, khiến chị cười rũ.

    Anh bước ra với quả bầu đựng nước. Chúng tôi chế thêm nước vào ghè rồi đặt cang. Anh bảo tôi uống hết. Tôi vít cần thầm nghĩ, phải cố gắng. Anh nhẩy quanh ghè rượu cổ vũ tôi. Cả chị cũng nói vọng ra cổ vũ tôi nữa. Tôi đã làm hết bổn phận. Ðến lượt anh, anh ngồi xếp bằng điềm tĩnh, hút rượu từ từ. Cục yết hầu trên cổ anh đưa lên đưa xuống đều đặn. Rồi anh buông cần, nói:

    - �n thịt gà đi. Vợ chồng tôi ăn từ trưa, uống từ trưa rồi.

    Tôi cầm cái đùi gà anh đưa và bắt chuyện:

    - Hồi tôi vào huyện đội M này thì K5 các anh chuyển đi đâu nhỉ?

    - Bọn tôi vào trong nước La Pà.

    - Thế từ ấy anh có gặp ai bạn bè cũ không?

    - Không.

    Anh vít cần uống thêm rồi tiếp:

    - Mà gặp làm gì...

    - Sao vậy anh?

    - Chẳng sao cả. Nhưng tôi thích thế. Mỗi người có một hoàn cảnh, một niềm vui, nỗi khổ khác nhau. Nhưng chúng mình - Anh kéo vai tôi tiếp - Chúng mình đều là lính - Mà lại là lính cách mạng. Tất cả cái vui, cái buồn chung, phải không ông?

    - Ðúng thế, tôi nói - Anh vào Nam năm nào nhỉ?

    - Tôi vào sáu nhăm.

    - Anh đã về thăm quê chưa?

    - Chưa. Mà mình không về nữa, ông ạ. Mình ở đây suốt đời.

    Anh lặng lẽ rút tẩu thuốc rồi vào nhà lấy nhánh củi đang cháy. Anh bập thuốc có vẻ khó khăn, nhưng đúng kiểu của người Gia Rai. Tôi cũng xin anh một ít thuốc, dùng giấy pơ-luya quấn hút. Chúng tôi dường như bắt đầu chuyển sang một không khí mới - không khí tâm tình của đồng đội. Anh ngồi xích gần tôi bảo đổ thêm nước từ quả bầu vào ghè. Rồi anh vít cần cho tôi, nói:

    - Ông nên nhớ rằng, ông là người Kinh đầu tiên tôi tiếp từ khi bị thương đến giờ.

    - Vậy ra anh...

    - Chẳng ra sao cả, ông ạ. tôi vào Nam, đánh đấm được mươi trận. Không phải nói khoe, tôi đã ba lần được bằng dũng sĩ diệt Mỹ, một lần dũng sĩ diệt cơ giới. Hai năm liền chiến sĩ thi đua cấp Quân khu. Từ tổ trưởng nhẩy thẳng lên trung đội phó. Từ trung đội phó nhẩy thẳng lên chính trị viên đại đội. Tất cả những cái đó đều đáng nói, nhưng cũng đều không đáng nói phải không ông?

    Bỗng anh quàng tay qua vai tôi. Tôi cũng quàng vai anh.

    Tôi nói:

    - Anh nói hay lắm!

    Chợt anh buông tôi ra, đẩy mạnh vai, nhìn tôi như người lạ.

    - Sao? Ông bảo tôi nói hay à? Tôi không nói hay mà tôi nói đúng! Giải phóng rồi, ông được xuống đồng bằng, ông được ra miền Bắc với vợ con ông, với người thân của ông. Vậy mà ông dám bảo tôi nói hay? - Anh lay mạnh vai tôi - Tôi nói cho ông biết - Anh tiếp giọng đứt quãng - Ông sướng hơn tôi nhiều! Ông may mắn... hơn tôi nhiều!

    Mắt anh, qua ánh đèn sáp, đỏ sọc lên rồi mờ dần. Anh khóc. Tôi lúng túng không biết xử sự thế nào. Bỗng anh dụi mắt vào vai tôi rồi nhìn tôi chằm chặp. Môi anh mấp máy. Hai chúng tôi ngồi lặng thinh. Cái lặng thinh như có lỗ thủng. Trăng sáng ngằn ngặt. Có tiếng chị cựa mình và tiếng cháu bé khóc. Rồi thật bất ngờ, chị cất tiếng ru. Mà chị ru tiếng Kinh, theo đúng điệu của các bà mẹ miền Bắc:

    à A... a... à... ơi... i - i...

    Em xinh... cái dáng á... á-à-à cũng à... à-à... xinh... i - i...

    Em giòn... cái tỉnh a... á... a tình tinh... a... cũng à... giòn... ả-à-à-ơi...
    Tôi sững sờ cúi xuống. Chị đang ru con hay chị đang nhắc nhở chúng tôi? Chị đang ru con hay chị muốn góp điều gì cho vui câu chuyện? Anh bật cười to và sau đó trở lại trạng thái tỉnh táo hoàn toàn. Những người say rượu thường thế, tôi nghĩ. Thường có những phút tỉnh táo hoàn toàn. Anh đứng bật dậy chạy vào nhà trong lấy ra nải chuối đặt lên đùi tôi, nói:

    - �n đi! Nhà tôi nó bảo chú ăn đi mà!

    - Vâng, cảm ơn anh. Thế chị quê vùng nào nhỉ?

    - Vợ tôi người Gia Rai, con Plei-O-K này. Trước công tác ở tỉnh, sau về huyện. Bây giờ thì về xã. Chúng tôi cứ rút dần vào cái tổ của mình ông ơi!

    Anh cười rất hồn nhiên. Tôi hỏi:

    - Anh dạy chị điệu ru con Bắc Bộ đấy à?

    - Nhà tôi thích hát ru với lại thích hát chèo lắm.

    - Thế anh có dạy chị hát chèo không?

    - Có chứ - Anh vui hẳn - Tôi còn dạy chèo cho đội văn nghệ xã. Bà con Tây Nguyên nói chung rất thích hát chèo ông ạ. Ðội văn nghệ xã tôi quyết đoạt giải hội diễn sắp tới đấy!

    [​IMG]
    [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] [​IMG]
    - Tuyệt lắm!

    Chúng tôi cùng vui vẻ vít cần.

    - Ông mà ở lại đây lâu lâu thì hay quá.

    - Tôi sẽ ở chừng nửa tháng.

    - Ðược đấy! Thế ông đã đánh đám trận nào chưa? Anh hỏi tôi.

    - Dạ, cũng có nhưng chỉ đánh kiểu du kích. K5 các anh đánh thì khiếp lắm!

    - Ôi dào! - Anh ngả người ra sau, nói. - Trước tôi là chính trị viên đại đội. Bây giờ là "chính trị viên làng" - Anh cười.

    - Hồi bị thương, anh nằm bệnh viện nào đấy?

    - Chả bệnh viện nào cả. Anh kéo vai tôi xuống, tiếp - Tôi nằm cái "bệnh viện Plei-O-K" này.

    - Hay nhỉ!

    - Hay gì ông? Các ông thì cái gì chả hay? - Anh chống tay ngồi dậy, tiếp. - Ðùa chút cho vui chứ trận ấy, đơn vị tôi được trên giao là phải hốt ba cái đồn dân vệ trên trục đường quốc lộ. Hai kho đạn địch cách thị xã K ba mươi kilômét về phía Tây. Nhiệm vụ nhiều, lại phân tán mục tiêu. Ðại đội tôi, thực ra chỉ còn hơn chục tay súng. Giờ nổ hiệp đồng với mặt trận không được cách nhau quá mười lăm phút. Tôi chỉ huy mũi chủ công, trực tiếp nắm tổ điểm hỏa diệt kho đạn địch. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, có thể nói như thế. Sau trận đánh, rút về gần tới khu rừng tập kết thì không may, chính ba anh em chúng tôi lọt vào ổ phục của địch. Tôi đi giữa, cậu Chung đi trước. Nó bị thương, tôi thoáng thấy thế. Nhưng nó vẫn phụt được một quả B40 rồi mới hy sinh. Thằng Châu cũng thế. Nó cũng bắn đâu được vài loạt AK. Tôi không hiểu sao lại bật tít vào bụi, cách đó đến gần chục mét! Hình như chúng tôi bị mìn và cả ÐK nữa. Tôi bị ngất khá lâu. Tỉnh dậy, sờ lên mặt chỉ thấy máu. Bàn tay phải bị thiến phăng mấy ngón, còn mặt tôi bị luồng lửa ÐK xoẹt qua! Vâng, chả hiểu sao lúc ấy tôi khỏe thế? Tôi kéo lê khẩu súng bên tay trái, bò quanh đó tìm Châu, Chung. Nhưng không thấy chúng nó đâu cả. Có thể chúng nó bị thương rồi địch bắt, lúc ấy tôi nghĩ thế. Cũng có thể chúng nó hy sinh rồi bị địch kéo xác đi! Tôi bò quẩn mãi, chỉ sờ mó thôi chứ mắt có thấy gì nữa đâu! Rồi cũng đến lúc phải tính, tôi bò theo linh cảm vào rừng. Không biết bao lâu nhưng đến khi mở được mắt đã thấy mình nằm bên đống lửa, chỉ có một khuôn mặt xương xẩu, già nua, râu tóc xồm xoàm cúi xuống. Người ấy dùng nước rễ cây tưới lên những chỗ bỏng và vết thương cho tôi. Sau này tôi biết điều ấy. Vâng, ông già vợ tôi bây giờ đấy. Hôm đó ông đi săn, vớ được tôi và cõng về cứu chữa. Ông già chỉ sống có một mình. Hai người con trai là du kích đã hy sinh, còn mỗi cô út thì công tác xa. Bà lão mới mất trước khi có mặt tôi vài tháng. Ông già sống lầm lì, suốt ngày chỉ nói vài câu cần thiết. Tôi khỏi rồi ở lại với ông, với dân làng. Tôi học tiếng Gia Rai, học việc của một người đàn ông Gia Rai. Tôi không về đơn vị nữa. Tôi về làm gì khi bàn tay không còn cầm nổi súng. Tôi về làm gì, tôi hỏi ông? - Anh lay mạnh vai tôi. - Tôi về làm gì khi đơn vị tôi, anh em đồng đội của tôi đang phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn? Ông ạ, gạo phải tính bằng tay, muối phải đong bằng nắp cù là, phải đếm từng hạt chia nhau. Mà nhiệm vụ chiến đấu thì cứ nối tiếp nhau liên miên.Tôi là cán bộ tôi biết. Một đại đội độc lập kiểu đơn vị tôi, lo được cho một thương bệnh binh khốn khổ lắm. Căng thẳng lắm. Vừa quần nhau với địch lại vừa phải bảo vệ thương binh, ông bảo đơn giản sao được? Mình thiếu thốn cắn răng mà chịu, kiếm măng, kiếm rau ăn quáng ăn quàng cho xong. Chứ thương bệnh binh mà thiếu, mà đói thì có tội với không những đồng chí mình, mà còn mang tội với Ðảng, với dân nữa. Tôi về, mất đứt bốn năm đồng chí chuyên môn lo cho tôi. Hơn thế, sổ gạo, muối dự trữ phải trích ra chi cho tôi. Mà cái chính là tôi không cầm súng được nữa. Ðúng thế. Tôi mà về, anh em mừng cho tôi nhưng lại phải lo cho tôi! Phải nai lưng ra gánh vác cho tôi. Tôi là cán bộ tôi biết ông ạ. Tôi về là chỉ để được thấy anh em mừng là mình còn sống thôi ư? Không! Tôi không về nữa. Thế thôi. Ðồng đội hãy tha thứ cho tôi. Lúc ấy tôi nghĩ thế và tôi làm đúng theo ý nghĩ của tôi. Bây giờ cũng thế, tôi sẽ làm đúng theo tôi nghĩ...

    Chợt có tiếng chị gọi. Anh chạy vào với chị. Một lúc sau quay ra, nét mặt có vẻ rạng rỡ hơn, anh túm tay tôi:

    - Ông ạ, chúng tôi mới sinh cháu trai. Tôi vừa bảo nhà tôi sẽ đặt tên cháu là Thực. Rơ Lan Thực. Mẹ cháu họ Rơ Lan, lại sinh đúng bữa nay có nguyệt thực, đặt thế để nhớ ngày hôm nay được không ông?

    - Tuyệt lắm! Xin chúc mừng anh chị. Chúc mừng Rơ Lan Thực!

    Chúng tôi lại đổ thêm nước vào ghè và đặt cang uống chung. Tôi thấy anh có vẻ mệt nên bảo anh đi nghỉ. Anh cười:

    - Ông mệt à? Nếu không thì lo gì tôi. Tôi đã trót nói với ông rồi! Tôi ở lại đây và thành người Gia Rai. Tôi không về quê nữa. Nhưng ông ạ, hồi còn chiến tranh, mịt mù tin tức còn có lý. Giải phóng rồi mà tôi không về. Mà tôi nỡ bỏ quê - Ðiều ấy lúc nào cũng dằn vặt tôi...

    Bỗng anh kéo đầu tôi xuống hôn. Anh vò tóc tôi, tiếp:

    - Tóc vợ cũ của tôi dày và đẹp lắm! Mỗi lần chải, cô ấy phải đứng lên giường mà buông tóc xuống. Vợ tôi đẹp nhất vùng, tôi dám nói thế. Cô ấy là kế toán hợp tác. Hôm về phép trước khi đi B, vừa xuống xe ngang đường, tôi gặp cô ấy. Chà, cô bé lên huyện có việc gì đó, lốp xe đạp bị xịt. Thấy có người dắt xe, tôi đặt ba lô lên phócbaga. Ði được một đoạn mới có hiệu sửa, tôi bảo vào vá xăm. Cô ấy cứ lúng ta lúng túng. Thì ra cô nàng hết tiền ông ạ. Tôi nhận trả cho. Sửa xong, tôi đèo cô ấy về. Ðến gần làng thì gặp nguyệt thực. Tôi dừng xe đứng xem. Tiếng gõ nong nia, thúng mủng từ trong làng vọng ra nghe mà rùng rợn. Cô ấy nép sát vào người tôi mà thì thầm: "Gấu ăn mặt trăng!". Hơi ấm từ người cô lan sang khiến tôi ngơ ngẩn. Vâng, tôi đã nắm tay cô gái ấy từ lúc nào. Ðến lúc trăng sáng lại, chúng tôi sực nhớ ra là mặc dù cùng quê, nhưng mới chỉ quen nhau được vài chục phút!...

    - Hôm sau cô ấy đem tiền trả tôi - Anh ngừng một lát, rồi tiếp - làm sao có thể nhận tiền trong trường hợp như vậy, phải không ông. Nhưng kể cũng hay! Cứ đưa đẩy mãi hóa ra tình cảm. Rồi chúng tôi yêu nhau. Cứ như tôi về phép chỉ để gặp cô ấy, để cưới cô ấy. Xưa nay, ba anh em tôi đi đâu về cũng ở nhà ông chú. Bố mẹ tôi mất sớm vì nạn lụt. Chú tôi trông nom chúng tôi thay cha. Hồi ấy thằng em tôi đã đi nước ngoài. Cô út cũng đã lấy chồng, dạy học tận một tỉnh sát biên giới phía Bắc. Tôi định về nhà với chú thím chục ngày rồi lên ngược thăm em gái. Nhưng tình yêu đã níu chân tôi lại. Tôi cưới vợ, khoác ba lô sang nhà vợ ở, điện cho em gái về chơi. Vâng, tháng rưỡi phép cứ như trong mơ. Thời gian đối với tôi chưa bao giờ vụt nhanh đến thế. Khi quất ba lô lên vai chia tay vợ, chia tay làng xóm, lên xe rồi mà tôi vẫn thấy ngỡ ngàng...

    - Rồi từ đó anh chị bặt tin nhau luôn? - Tôi hỏi.

    - Không. Tôi là thằng chịu khó viết thư nhất đơn vị. Hành quân trên Trường Sơn vất vả là thế mà tôi vẫn gửi đều đặn mỗi tuần một lá. Ðến đơn vị chiến đấu, bận hơn thì mỗi tháng một lá. Sau này vì quá căng thẳng, tôi gửi thưa dần, chỉ khi nào có dịp thuận tiện. Tôi cũng nhận được hai lá thư của vợ. Thế nhưng, từ ngày bị thương, từ ngày tôi quyết ở lại đây thì không thư từ gì nữa! Tôi đã thành người Gia Rai, thành người làng Plei - O-K này rồi. Mà đã thế thì thôi, thì còn thư từ làm gì? Tôi hỏi ông - Anh lay mạnh vai tôi - Tôi chỉ muốn - Anh tiếp - Ngoài bà con Plei-O-K ra, không ai nghĩ có thằng tôi trên đời này nữa. Hãy để cho vợ tôi, em tôi, chú thím và bà con dân làng quê tôi coi tôi là liệt sĩ. Có lẽ như thế tốt hơn. Tôi không có ý định lộ mặt ra, mặc dù nhiều lần tôi không chịu nổi. Ngoài nông trường chăn nuôi của huyện kia, khối anh em miền Bắc. Nhất là mấy sư đoàn bộ đội làm kinh tế gần đây lại càng đông. Vâng, đã vài lần tôi ra nông trường chơi, tới chỗ anh em bộ đội chơi. Họ không phát hiện ra tôi là người Kinh. Tôi lân la hỏi thăm, cũng gặp vài anh em cùng huyện. Có hai cậu cùng xã. Nhưng anh em còn ít tuổi quá. Hồi tôi đi B, chúng nó mới sáu, bảy tuổi. Tôi hỏi chuyện làng xóm rồi đến chuyện gia đình. Nhưng hai cậu đồng hương ấy chẳng biết gì cho rõ ràng cả. Họ hỏi sao tôi biết quê họ với lại quen nhiều người thế? Tôi bảo tôi có được ra Bắc học và sơ tán về vùng quê họ mấy tháng. Và thế là các đồng hương của tôi tin ngay! Một cậu bảo có biết "cái chị ấy" - tức là vợ tôi, và thậm chí biết cả "anh chồng chị ấy" - tức là tôi. Nhưng theo cậu ấy thì hiện nay anh ấy đã hy sinh ở chiến trường, còn chị ấy hình như vẫn ở vậy. Cậu kia lại bảo hình như chị ấy đã có con với ai đó. Trời đất, cái gì cũng hình như, hình như! Tôi không thể chịu được. Nhưng mà trách ai? Anh em người ta có việc của người ta. Mà dẫu tôi có hy sinh hay còn thì đối với họ cũng thế thôi. Tôi đã mời được hai cậu đồng hương về nhà chơi. Tôi cư xử với anh em theo đúng kiểu của người Gia Rai... Vâng, lúc gặp anh em thì tôi cảm thấy tôi đóng kịch không đến nỗi kém. Vậy mà sau đó chỉ có một mình với những kỷ niệm cũ, ông ạ, tôi không tài nào chịu nổi. Tôi như thằng tâm thần nhưng lại cũng rất tỉnh táo. Tôi nói dối ông già là được trên cử đi học hai tháng. Ông già bán con heo nái đang nuôi lấy tiền cho tôi, không hề nói gì. Thậm chí ông còn vui hơn thường ngày. Sau này tôi mới biết, ông già cũng tinh ý gớm. Ông bảo lúc ấy ông đếm được trong đầu tôi nghĩ những mưu mẹo gì? Tôi chỉ nghĩ là đi chừng hai tháng. Về quê, tôi định thế. Nhưng với kế hoạch không lộ mặt cho ai biết. Tôi thèm biết tình hình vợ và hai em tôi, với lại được đi trên cánh đồng làng trong cảnh thanh bình quá! Rồi tôi vào, nhất định thế. Tôi không bỏ ông già và dân làng Plei-O-K của tôi được. Có lẽ như thế tôi sẽ yên tâm hơn, phải không ông? Hôm ấy tôi đi sớm. Ra khỏi làng, trời còn mù sương, ngoái lại chỉ thấy những đốm lửa nhập nhòe. Tôi vừa đi vừa chạy tới bến xe thì sáng. Tôi chỉ mặc độc một bộ đồ bộ đội. Vâng, rủi cho tôi mà, cũng thật may cho tôi. Tôi lao vào xếp hàng mua vé. Chỉ còn hai người nữa đến lượt tôi thì bỗng cửa bán vé sập xuống. Hai chữ HếT Vé đập vào mắt tôi như một cái tát! Tôi bấm lòng chờ mua chuyến trưa. Tôi xếp đầu tiên và cố không nghĩ ngợi gì. Thời gian căng thẳng ấy rồi cũng qua. Cửa bán vé vừa mở tôi đã thọc tay, đưa tiền vào. Cô bán vé định bán thì một người nào đó, cũng từ phía trong phòng hỏi giấy. Tôi không có giấy tờ! Không có gì cả! Tôi bảo tôi là thương binh, đi thăm bạn cũng là bình thường! Người ta hỏi: "Thế thẻ thương binh của bác đâu?". Tôi đấm ngực: "Thế à? Tôi thế này mà cũng phải thẻ à?". Người ta vẫn nhẹ nhàng: "Vâng, đã là thương binh thì phải có thẻ thương binh, bác ạ". Tôi nuốt giận đi ra khỏi hàng. Tôi chộp mua một nải chuối bằng số tiền định mua vé nắm trong tay, không phải vì thèm ăn, mà tôi cứ mua, thế thôi. Tôi thấy một cháu bé chừng bốn, năm tuổi đứng nhìn. Tôi đưa cả nải chuối cho nó. Ðứa bé bỗng khóc thét lên, còn mẹ cháu thì lao tới, ôm ghì lấy con. Tôi ngơ ngác giây lát và sực nhớ, mình không còn là người bình thường nữa! Tôi nuốt nỗi cay cực xuống ngực và cắm đầu đi! Rồi tôi nằm vật trong một bụi cây. Ông già lại cõng tôi về. Ông già theo dõi tôi, ông ạ. Ông bảo, tôi đi lọt thì cho đi, nhưng nếu không lọt sẽ có chuyện xấu. Ông già đắp lá rừng mát cho tôi. Rồi tôi cũng trở lại bình thường. Có đến vài tháng tôi không được khỏe lắm, đêm nào cũng nằm mơ. Thậm chí cả lúc thức, cả ban ngày nữa! Khi thì thấy thằng em tôi vào. Rõ ràng nó đang đứng ngoài cửa xách cái cặp sách ngày xưa nó vẫn đi học. Tôi chạy ra thì nó biến đâu mất. Tôi quay vào chỗ cũ lại thấy nó xuất hiện. Tôi ngồi im nhìn và nó cũng đứng ngoài cửa nhìn tôi. Tôi quát lên: "Sao chú lại đứng đó?" "Em vào tìm anh", nó nói nhẹ nhàng. "Không!" Tôi bảo nó: "Chú về đi. Về lo công chuyện của chú đi. Anh không còn nữa đâu!". - "Anh nói gì lạ vậy?", nó nói: "Anh vẫn còn sống. Hôm trước anh đã định về với chúng em kia mà!". "Không!". Tôi bảo nó: "Chú nằm mơ đấy!". "Chính anh đang nằm mơ" - nó nói - "Chính anh đang tự dối mình. Anh ngu lắm!" Nó dám bảo tôi thế. "Anh không biết rằng anh đang làm khổ chúng tôi, làm khổ chị ấy và chính bản thân anh nữa: - "Trời ơi", tôi bảo nó. "Chú được học rộng biết nhiều mà hiểu về anh hạn hẹp quá. Anh đã là liệt sĩ rồi. Anh hy sinh ngày giờ, năm tháng nào chắc chú đã biết. Chú đã từng cúng giỗ và khóc anh. Vậy mà bây giờ chú nỡ mắng anh như vậy? Người ta có nhiều cách biểu hiện lòng thương yêu. Khóc là một kiểu và chú mắng anh cũng là một kiểu. Nhưng chú ạ, anh đã hy sinh rồi. Chú hãy cứ tin như thế như chú đã từng tin bấy nay!..." - "Không được!", nó lạnh lùng đáp. "Anh còn sống, em biết. Và chính vì thế, anh đã làm khổ bao nhiêu người. Bây giờ đã đến lúc phải nghĩ lại. Ðất nước hòa bình thống nhất rồi. Và anh đã góp một phần xương máu vào sự nghiệp chung. Bây giờ anh có điều kiện được hưởng hạnh phúc. Anh cứ về với bọn em đi! Anh về với chị dâu của chúng em đi!" - "Này", tôi bảo nó: "Chú im miệng ngay đi!". Tôi cũng phải ra vẻ cứng với nó. "Anh cấm chú không được nói năng như thế. Anh đã là liệt sĩ rồi. Nhất định đơn vị anh, bạn bè, đồng đội của anh đã làm chính sách đối với anh chu đáo" - "Không! Anh còn sống", nó vẫn một mực. "Anh hèn lắm! Anh không dám chấp nhận sự thật" - "Sự thật nào?". Tôi quát lên. Nó thì ngồi khóc, ông ạ. Em tôi nó khóc vì tôi là liệt sĩ thật rồi! Mà liệt sĩ không phải đã chết, rõ ràng thế. Tôi bảo nó: "Chú đừng tưởng, chú ạ. Chính liệt sĩ, chính những người anh hùng vô danh, những người không có tên tuổi; những người vì Ðảng, vì dân vì tổ quốc - họ đã chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Họ hy sinh. Ðúng! Nhưng hy sinh thì không phải là chết! Họ sẽ sống lâu hơn chúng ta. Chú đừng tưởng. Tôi phải nhắc lại với chú: chú đừng nghĩ chú được học rộng, biết nhiều mà hiểu thấu mọi nhẽ. Chú đừng mong tôi phải ân hận, phải nghĩ lại gì cả. Mỗi con người được sinh ra, nếu chúng ta muốn thành người tốt thì trước nhất, chú ạ. Trước nhất phải làm tròn bổn phận của mình...".

    Anh buông tay, ngả người ra sau tiếp:

    - Tôi nói nhiều quá phải không ông? Có lẽ tôi say rồi. Cũng có lẽ quá lâu chưa có dịp uống rượu. Hôm nay vui quá. Thằng con tôi ra đời. Tôi đặt tên cháu là Rơ Lan Thực. Lúc ông vào tôi đang nằm mơ nhớ cái đêm nguyệt thực ở quê.

    Bây giờ thì anh ngả hẳn người vào lòng tôi. Một lúc sau sực tỉnh, anh tiếp:

    - Những ngày sau tháng Ba năm Bảy lăm, chắc các ông sướng lắm nhỉ. Còn tôi, ông ạ! Tôi không dám cho phép mình tự ra khỏi huyện. Ðó là nguyên tắc mà tôi đặt ra, là kỷ luật mà tôi không cho phép mình vi phạm. Có những đêm tôi cứ lẩn thẩn nhớ lại khuôn mặt từng anh em một trong đơn vị. Tôi điểm lại quân số những người đã hy sinh từ khi tôi vào đến lúc tôi bị thương. Tôi nhớ hết cả tính tình, khả năng từng người. Nói thật với ông, chỉ tính riêng đại đội tôi thôi, anh em mà còn cả sẽ thành lập gần đủ một tiểu đoàn với những tay súng kỳ cựu và dũng cảm. Có lần tôi mơ thấy tất cả anh em chúng tôi - những liệt sĩ cùng đơn vị - tất cả, dưới sự hướng dẫn của tôi. Anh em tập trung về làng Plei-O-K này để nghe tin tức trên đài giống như hồi còn chiến tranh chúng tôi vẫn làm. Ðây, ông là nhà báo, chắc ông dễ thông cảm với chúng tôi. Lúc nào anh em cũng muốn biết tình hình thời sự. Mà phương tiện thông tin thì chỉ có mỗi cái đài của tôi. Báo chí thất thường và chậm lắm. Nhưng hiện nay thì đài của tôi đã gói kỹ rồi. Pin đắt lắm mà chẳng phải lúc nào cũng mua được! Ông bảo ông cho tôi pin hả? Thế thì hay lắm, chút tôi sẽ mở đài cho cả thằng con tôi nghe. Chắc khi con chúng mình lớn lên sẽ không còn thiếu pin nữa?...

    Anh nhanh nhẹn cầm hai viên pin tôi đưa, chạy vào nhà. Sau đó không lâu có tiếng đài rọt rẹt. Chị nói vui với anh bằng tiếng Gia Lai:

    - Không phải đài người ta cũng mới sinh con trai đâu, mà còn thức khuya để nói.

    Anh cười hì hì:

    - Ðài không nói thì mình nói. Mình mới sinh con trai, lại gặp bạn cũ, thức cả đêm chắc cán bộ phụ nữ giận một nửa, thương một nửa nhỉ?...

    Rồi anh bước ra. Chúng tôi đổ tiếp nước vào ghè và vít cần. Tôi gợi chuyện:

    - Ðã bao giờ anh kể chuyện ngoài Bắc cho chị nghe chưa?

    - Có - Anh buông cần, nói. - Lúc chưa cưới, tôi kể hết. Cô ấy khóc. Sau này thì thôi. Nói làm gì nữa ông? Chúng tôi đều là những người muốn có hạnh phúc cả. Nhưng bây giờ cái làm tôi sợ nhất là chiêm bao ông ạ. Có lần tôi mơ thấy em gái tôi vào và khi tôi tỉnh, tôi vùng dậy. Thấy tôi có vẻ hốt hoảng, nhà tôi ôm ghì tôi. Tôi kể cho cô ấy nghe và cô ấy khóc. Tôi phải an ủi, giải thích mãi. Chiêm bao là chiêm bao, còn sự thật vẫn là sự thật phải không ông? Tôi không tin chiêm bao phản ánh đúng sự thật. Cô em gái tôi vào, tôi thấy thế. Nó dẫn theo cả một đoàn cháu gái. Tôi mừng quá, reo lên. Nó thì đẩy vai tôi ra, nói: "Bác còn sống đấy à?", nó dụi mắt và lao vào lòng tôi. "Anh đã hy sinh rồi em ạ", tôi bảo nó thế. "Vâng", em gái tôi tức tưởi. "Lúc nào anh cũng bảo anh đã hy sinh, đã là liệt sĩ! Thôi thì em tin anh. Nhưng sao anh là liệt sĩ mà chẳng phù hộ em? Cháu của bác đây. Bác xem lại đi, toàn cháu gái cả! Em sinh đến đứa thứ năm rồi mà vẫn toàn con gái. Các chị nhắc em phải kế hoạch. Nhưng vợ chồng em muốn có một cháu trai quá. Bác bảo bác là liệt sĩ, sao bác chả phù hộ vợ chồng em? Chúng em dạy học trên miền núi có chục năm hơn rồi mà vẫn chưa xin chuyển được về quê. Bác thì đã hy sinh, bác V công tác xa lắm, ai là người lo giỗ chạp, hương khói cho ông bà, cho bác?". Rồi lại cả vợ tôi nữa, ông ạ. Cô ấy cứ buông tóc xuống đất cho các cháu gái tôi tha hồ mà chải. Tôi đến thu lại thì cô ấy bảo: "Sao cả tháng giời ăn ở với em, em muốn có con, anh lại gạt đi. Anh bảo anh không muốn em vất vả mang thai, sinh con mà vắng mặt anh. Bây giờ anh là liệt sĩ, anh có biết em sống vò võ một mình buồn thế nào không? Anh bảo em đẹp ư? Trời đất, đẹp mà làm gì khi không có anh trên đời này nữa? Tóc dày, tóc xanh mà làm gì khi không có bàn tay anh luồn vào?..." Rồi cô ấy bảo tôi bạc. Rằng tôi sống như thế là không có hậu. Rằng ít ra cũng phải nghĩ tới vợ, tới em, tới công lao của bà con xóm giềng. Cô ấy bảo biết tôi còn sống, có một người mách với cô ấy thế. Vợ tôi không bao giờ tin tôi có thể chết được, ông ạ. Trước hôm đi B, tôi có nói đùa: "Nếu anh có lỡ việc gì...". Cô ấy gạt phăng ngay: "Anh im đi! Không được nói gở thế. Chẳng bao giờ có chuyện gì xẩy ra cả!". Bây giờ cô ấy nhắc lại với tôi điều ấy. Vâng, tôi nhìn vào mắt vợ tôi và cô ấy, cũng nhìn tôi chằm chặp. Tôi bảo: "Em hãy bình tĩnh. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người khác và suy nghĩ...". Cô ấy thét lên: "Anh không phải là người khác! Anh là của em! Hãy về với em đi!". Tôi bảo: "Em hãy nhìn vào mặt anh đây. Hãy nhìn vào tay anh đây. Bàn tay anh không còn luồn vào tóc em được nữa. Môi anh cũng không còn bình thường để đặt lên đôi má lúc nào cũng như rắc phấn của em được nữa!". Có thể tôi nghĩ thế là sai. Nhưng tôi nghĩ thế nào thì tôi làm đúng như thế. ở đời, có những cái sai mà người ta cũng chấp nhận được. Nhưng em thì tùy. Em có quyền trách cứ tôi. Vì yêu em mà tôi xử sự với em không phải.

    Bỗng anh ngửa cổ ra sau, nói:

    - Không! Tôi là liệt sĩ rồi, ông ạ. Tôi là liệt sĩ như muôn ngàn đồng đội chúng ta là liệt sĩ. Em là vợ tôi, em là vợ liệt sĩ như muôn ngàn chị em có chồng đã hy sinh. Và điều ấy an ủi tôi. Em có quyền tự hào về tôi và cả về em nữa. Chúng anh, những liệt sĩ, em ạ. Chúng anh không sống cho mình và cũng không chết chỉ cho mình . Nhưng anh mắc lỗi vì có em trên đời này. Biết làm thế nào khác được? Tổ quốc đối với anh là em, là bà con xóm làng mình. Nhưng lại không phải chỉ có thế. Tổ quốc còn là ông già Gia Rai đã cứu anh, còn là bà con dân làng Plei-O-K này nữa. Tổ quốc là tất cả. Là Ðảng mình, dân mình, là tất cả! - Anh vươn tới chụp mạnh vai tôi, lay lay - Tổ quốc là những đêm chúng mình xuống đồng bằng cõng muối, gùi gạo. Thèm đồng bằng quá. Thèm chui vào bếp lửa quá. Thèm được nghe tiếng ruộng lúa dẫm bùn, sặc sụa mùi phân quá. Thèm được nghe tiếng trẻ khóc, tiếng la rầy của mẹ quá. Thèm được phanh cúc ngực trên đồng hát nghêu ngao quá.

    Chợt anh cắn mạnh vào cánh tay và sực ngẩng lên, nhìn tôi:

    - Tôi đang nói chuyện với ông nhỉ? Thỉnh thoảng tôi cứ phải hoặc cắn vào cánh tay mình như thế. Hoặc đá vào cái gì đó cho rõ đau để biết mình đang tỉnh hay nằm mơ. Có lẽ thần kinh tôi yếu rồi. Nhưng tôi với ông là đồng đội, chúng mình hiểu nhau hơn. Từ ngày quyết định ở lại đây, tôi không nghĩ là tôi sẽ lấy vợ. Thật thế, thề có mặt trăng đêm nay! Tôi ở với ông già gần chục năm. Mãi năm kia ông già ốm nặng rồi qua đời. Cô út về chăm sóc và chịu tang. Chúng tôi lo cho cụ chu đáo đúng với phong tục của người Gia Lai. Sau đó tôi mới biết cô ấy đã có chồng và chồng cô cũng là liệt sĩ. Vâng, chúng tôi yêu nhau. Dân làng vun vén cho chúng tôi. Tôi được bà con tín nhiệm. Tôi đem hết năng lực ra làm những gì có thể làm được. Rồi tôi được vào Ðảng. Ðúng hơn, tôi được chi bộ và Ðảng ủy xét cho sinh hoạt lại. Bây giờ tôi phụ trách công tác thông tin văn hóa xã, ông ạ. Ðội chèo của chúng tôi không những đã vững vàng có thể nói như thế. Chúng tôi còn đang ra sức tập tành để hội diễn văn nghệ quần chúng sắp tới đạt được giải một cách bất ngờ...

    Anh ngả hẳn người vào tôi nhìn trăng. Anh lại kéo má tôi hôn tới tấp. Rồi anh thì thầm:

    Vừa rồi tôi đã nói gì với ông, tôi không nhớ nữa. Có lẽ tôi say. Nhưng hôm nay vui quá! Suốt từ sáng dân làng tới mừng cho vợ chồng tôi. Chả có gì phải ân hận nữa phải không ông? Thằng con tôi đã xóa đi mọi cực nhọc cho tôi. Ông nên nhớ rằng, tôi không có ý định thay đổi lại cuộc sống. Chỉ có một điều, ông có điều kiện, khi nào về quê tôi chơi, ông thăm dò giúp tình hình vợ và hai em tôi. Nhưng bằng giá nào cũng không được để lộ ra là tôi còn sống. Tôi tin ông, ông giúp tôi nhé. Chúng mình sẽ thư từ cho nhau. Mai tôi ghi địa chỉ cho ông...

    Và anh nằm gối đầu lên đùi tôi ngủ. Anh ngủ ngon lành như không phải vừa rồi đã nói ra những điều sâu kín của đời mình.

    *
    * *

    Sau chuyến công tác Tây Nguyên, tôi thu xếp xuống miền quê anh ngay. Trong thời gian đó, tôi ở nhà đồng chí chủ nhiệm, xuống các đội sản xuất lấy tài liệu. Lân la trò chuyện với bà con xã viên, tôi được biết chị P. Vợ anh, năm 1970 nhận tin chồng hy sinh. Người ta kể rằng, chị bị ngất nhiều lần khi nghe tin đó. Nhưng cũng như nhiều chị em có chồng hy sinh ở chiến trường, chị đã vượt qua . Chị lao vào công tác và được trên cử đi học đại học nông nghiệp tại chức. Năm 1975 chị tốt nghiệp và nhận công tác trên phòng nông nghiệp huyện. Năm 1977 chị lấy chồng, anh K. chồng chị cũng là bộ đội chuyển ngành. Họ đã có một cháu trai. Người ta còn kể rằng , anh K. hiền lành, rất chu đáo với vợ con. Xóm làng, mỗi khi nhắc tới tên anh đều được nghe những lời tốt đẹp. Tôi còn biết thêm, anh V. em trai anh đã về nước, hiện đang công tác ở một viện nghiên cứu khoa học của Trung ương tại Hà Nội. Cô em gái anh chuyển xuống gần anh V. Vợ chồng cô có hai cháu, một trai, một gái.

    Sau khi rời hợp tác quê anh, tôi còn ghé phòng nông nghiệp huyện, định tìm gặp chị P. Nhưng chị đã đi công tác phong trào. Anh K. đang nghỉ phép, dẫn cháu về quê nội. Tôi rất tiếc không được trực tiếp gặp chị. Nhưng kể thế cũng có cái hay. Ðiều gì cần biết về chị tôi đã biết rồi. Và tôi cũng đã báo tin cho anh. Tuy nhiên, tôi muốn nói thêm dòng cuối là, trong câu chuyện này, tên anh, tên chị, tên những người thân của anh và cả quê hương cũng như vùng đất của anh đang sống, chỉ là những chữ cái tình cờ mà tôi đặt ra.

    Hà nội, 10-1982

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Cang: Ðơn vị đo rượu cần của đồng bào Tây Nguyên.
     
  3. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Quá trình êm dịu

    Nguyễn Anh Biên

    Vợ tôi là cán bộ kỹ thuật của nhà máy chế tạo máy cái, thuộc Bộ Công nghiệp nặng, người học hành đến nơi đến chốn, có bằng cấp hẳn hoi, năm nay gần 40 tuổi nhưng đã về nghỉ mất sức, mặc dù sức khỏe vẫn còn rất tốt, chẳng đau ốm bệnh tật gì. Bà ấy là người có năng lực làm việc lại xinh xắn nổi tiếng, được nhiều anh chị em trong cơ quan bầu làm hoa hậu "Ðã có chồng". Tính tình bà ấy cởi mở thẳng thắn, trung thực, không biết ton hót xu nịnh ai, nhất là lãnh đạo bà ấy phê bình thẳng cánh, cho nên cũng không được lãnh đạo quý, tất nhiên về phía bè bạn cũng có vài người dài môi thì ghen ghét, đố kỵ, nhưng phải nói rằng bà ấy được nhiều người yêu mến, vậy mà lại về "Vườn"!

    Số phận của vợ tôi cũng như số phận của nhiều cán bộ công nhân viên khác, nó là "sản phẩm" ưu việt một thời của nền kinh tế bao cấp, khi mà nước ta đổi mới, cải tổ, thì nó lại là "sản phẩm" thừa của kinh tế thị trường.

    Những năm trước đây, hàng ngày bà ấy dậy thật sớm nấu cơm sáng; rồi xách cặp lồng cơm trưa đến cơ quan làm việc, công việc đều đều vui vẻ, cuối năm bình bầu lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua rất quyết liệt, thận trọng trong việc chọn người tài, so đo từng ly từng tý. Nhưng vài năm trở lại đây tự nhiên nhà máy hết việc làm, sản phẩm của nhà máy làm ra không tiêu thụ được chất cao như núi, giống như nguồn suối tự nhiên cạn nước. Ngày ngày cán bộ công nhân viên đến cơ quan, công việc quá nhàn hạ, phải làm gì cho hết 8 giờ vàng ngọc? Mỗi người phải tự tìm lấy việc mà làm, linh hoạt phải biết: Người thì đi chợ mua rau, mua cá về làm thịt, xào nấu bằng bếp điện (dùng điện cơ quan) chuẩn bị bữa cơm chiều cho gia đình tại ngay cơ quan thật là thuận tiện; kẻ thì cắt may, đan lát, người thì đi tác chiến, những hợp đồng kinh tế riêng, từng tổ, hoặc từng cá nhân cũng cực kỳ linh hoạt. Còn Vân nhà tôi thì đánh tú lu khơ, đọc báo, tán chuyện chồng con với các bà nạ dòng, trình bày quan điểm yêu đương với các cô gái trẻ, bàn luận những vở kịch kệch kỡm, những bộ phim dởm, với những pha sếch rẻ tiền làm ô uế nền nghệ thuật nước nhà; phê phán những cuốn sách tình ái nhảm nhí và uống trà vặt.

    Một hôm sau bữa cơm chiều bà ấy nghiêm trang nói:

    - Anh ạ! Em đã bàn với anh nhiều lần rồi mà anh không chịu nghe em, lần này em muốn...

    Tôi biết chuyện gì rồi, bình tĩnh hỏi:

    - Bà đã quyết rồi chứ gì?

    - Tại sao anh không thể hiểu, không thể thông cảm được nỗi lo lắng của em nhỉ?

    - Sao lại không?

    - Cuộc sống cứ kéo lê kiểu này thì đến chết đói cả lũ. Lương của anh của em, cộng với nhuận bút còm, những tác phẩm của anh, may ra đủ trả tiền điện, tiền nhà, tiền nước, chưa chắc đã đủ nuôi chúng ta, thì làm sao chúng ta có thể nuôi con?

    - Nhưng em làm nghề gì để sống? - Tôi lo lắng đặt câu hỏi. Buôn bán không biết, nghề phụ không có, cả đời học hành rồi đi làm cán bộ, lao động chân tay không quen?

    - Em vẫn nhớ câu chuyện anh kể: Ngày xưa trong kháng chiến chống Mỹ, anh vào Nam đánh giặc. Trong một trận đánh đơn vị anh bị bao vây, anh là người dũng cảm mở đường máu, thật bất ngờ, chính nhờ lòng dũng cảm ấy đã cứu anh và đồng đội. Ngày nay không còn bom đạn ác liệt, nhưng cuộc sống đã bao vây chặt chúng ta, dồn chúng ta đến chân tường. Cũng giống như cuộc phá vòng vây của anh ngày xưa, bây giờ ta cũng phải liều, phải có quyết định táo bạo mới thoát khỏi cảnh đói nghèo.

    Nghe vợ nói trong lòng tôi thầm nghĩ cũng có lý, song tôi vẫn không chịu công nhận, nói lời phủ định luôn:

    - Em đừng ví dụ, đừng so sánh như vậy, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau lắm, phải có lòng tin, phải biết tin tưởng... - Tôi ngập ngừng cách dùng từ tiếp theo thì Vân cướp lời:

    - Phải tin tưởng ở lãnh đạo đúng không? Anh mới ngoài năm mươi mà suy nghĩ đã trì trệ, không khác gì các "cụ" lãnh đạo nhà máy em, thế cho nên nhà máy đang trong cơn hấp hối, không thể cứu vãn được, nó sẽ phá sản nay mai.

    - Này! Ăn nói thận trọng. - Máu tôi đã dồn ngay lên mặt, sao hôm người bạo phổi thế nhỉ? Bà ấy nói tiếp quyết liệt hơn:

    - Là nhà thơ mà anh không có tư tưởng đổi mới thì anh viết cho ai đọc?

    Lúc ấy tôi đang ngắm nghía tập thơ "Bông hồng sầu muộn" của tôi, Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa mới in xong còn thơm mùi mực, và đang định khoe với vợ, bỗng "Bông hồng sầu muộn" run lên bật bật, không kìm chế được bởi câu phê rất mạnh, thậm chí quá nặng nề, chạm đến danh dự đảng viên, đến nghề nghiệp thiêng liêng của tôi, mà xưa nay chưa bao giờ bà ấy nói thế, hoàn toàn nói những lời ca ngợi phẩm chất của chồng, văn chương cao quý của chồng. Lập tức cuốn sách bay vèo qua cửa kính, ô cửa vỡ tan những mảnh thủy tinh rơi loảng xoảng rào rạo. Con mèo đực hiếu động tưởng trò đùa của tôi với nó thường ngày, nó bay theo "Bông hồng sầu muộn" lao qua lỗ vỡ cửa kính vồ quyển sách, bị một mảnh vỡ trên cửa sắc như dao nhọn chọc tiết lợn cứa vào đầu, máu vãi ra đầm đìa. Sau giây phút bất ngờ, hoảng hốt và bối rối Vân chạy lại ôm lấy con Liu Liu. Liu Liu bị đau kêu toáng lên, Vân lặng lẳng ôm con mèo vào lòng, đi lấy bông băng băng lại cho nó, âu yếm vuốt ve nó. Tôi liếc nhìn, thấy máu thấm loang đỏ chiếc áo sơ mi trắng ở phía ngực trái, như máu từ trái tim của bà ấy phun ra, trông nét mặt đau đớn dữ dội vô cùng. Hình ảnh ấy làm cho lòng tôi quặn đau, mồ hôi toát ra. Tôi ngồi im như chết rồi trên chiếc ghế tựa, đầu gục xuống bàn viết. Tôi có cảm giác cả căn nhà như quả núi khổng lồ đang đè tôi xuống.

    Thời gian nặng nề, chậm chạp, không gian lặng im bối rối, nóng nực và vỡ vụn!

    - Hàng tháng anh đưa về cho em hết cả số tiền lương mà anh được trả, anh nghĩ rằng thế là ổn rồi phải không? Và anh yên tâm ngồi mà sáng tạo ra những mẫu nhân vật, có cuộc sống phong phú đầy tính cách, và những vần thơ hiện đại sống động cuộc đời trong đó. Nhưng cuộc sống hàng ngày ở gia đình này và vợ anh ngày ngày phải đối mặt với đồng tiền với giá cả. Có thể nói không khác gì ngày xưa anh bị địch bao vây, sống chết chỉ còn treo trên sợi tóc. Nhưng cuộc bao vây ngày nay em không kêu, và cũng không bao giờ anh cần biết đến vợ anh đã phải chèo chống như thế nào trong cơn bão tố mà không có gió, trong lửa nóng như thiêu mà không có ngọn lửa.

    - Ngao ngao... nào nào... - Con Liu Liu đau đớn rên rỉ.

    - Ðừng rên nữa con, ráng chịu đau. - Bà ấy vỗ về, cưng nựng con mèo. - Không phải mày mở đường máu mà bị thương trong trận chiến này. Chính mẹ! Mẹ mở đường máu mà bị thương đấy con ạ.

    À... đàn bà rất tài nói cạnh nói kháy, tôi rùng mình, có một giây lạnh chạy từ đỉnh đầu dọc xuống sống lưng rồi lan nhanh khắp cơ thể.

    - Thôi! Cô im đi, đau đầu lắm. - Tôi nói như một mệnh lệnh, nhưng âm sắc và ngữ điệu thì như là một yêu cầu khẩn thiết. Tôi khẳng định, đây là lần đầu tiên vợ chồng to tiếng với nhau, và kịch tính đẩy nhanh đến không ngờ, chính là vì cuộc sống đè nén, lý do thứ hai có lẽ là do một chất xúc tác đã làm bùng lên ngọn lửa: đó là lòng say mê nghề nghiệp của tôi, mà cổ nhân đã có lời cảnh cáo rồi: "Lập thân tối hạ thị văn chương" làm cái nghề mang lại cảnh nghèo nàn, đói khổ cho vợ con mà vẫn vui, vẫn sướng mà hành nghề. Là một người vợ hiền lành mấy cũng có khi phải khó chịu đức ông chồng nghệ sĩ của mình. Chuyện nhanh chóng xảy ra như một cơn lốc xoáy, đẩy cả hai vợ chồng đến trước bờ vực thẳm, cả hai đều giật mình phải cầm tay nhau lui lại.

    Lúc này ngữ điệu của bà ấy hoàn toàn thay đổi, song thái độ vẫn cương quyết:

    - Anh còn cái thú sáng tạo của người nghệ sĩ, anh có thể quên đói mà ngồi viết, còn em, em là con người của đời thường. Trong chuyện này chúng ta không cùng chung tiếng nói. Em không thể nghe anh nói được.

    Ðây là một tuyên ngôn đanh thép, tôi nhìn thẳng vào mặt bà ấy, vừng trán đang căng ra, suy nghĩ dồn nén chồng chất trong đầu, nhưng nói ra bằng lời chỉ có thế. Bà ấy bế con Liu Liu đứng lên ủ nó vào tấm chăn cũ:

    - Con nằm đây, đừng đi đâu nhé, để mẹ đi làm cơm, ăn cơm xong mẹ sẽ cho con uống thuốc bổ, thuốc kháng sinh chống nhiễm trùng, người ta có thể chết vì nhiễm trùng đấy con ạ!

    Ðấy, thấy chưa, bà ấy lại nói kháy rồi, như thế có nghĩa là quan điểm của tôi là một thứ siêu vi trùng, nếu không thay đổi thế hạnh phúc sẽ tan vỡ. Á cha cha bọn nữ giới họ cũng thâm thúy ghê, thì ra mình nằm cạnh vợ hơn chục năm nay mà không hiểu vợ, bà ấy dữ dội ghê gớm, chứ không hiền lành dịu dàng như bạn bè thường ca ngợi.

    Cần phải thoát khỏi bầu không khí này, mình phải làm gì bây giờ! Ngồi vào bàn viết... làm sao mà viết nổi. Ðọc! Thật là kỳ cục, nếu như anh giở trang sách ra, và anh sẽ không hiểu người ta viết gì trong trang sách đó, đi làm cơm với bà ấy!... Thế là mình tự thú, mon men đến làm lành "anh đã thua em"... À! Phải rồi đi đón các con, hôm nay chúng nó nghỉ học đi sang bà ngoại chơi?... Không thể được, bà ngoại phát hiện ra ngay bộ mặt "cãi nhau" giữa hai vợ chồng. Thôi, mình đến nhà Trong tán phét cho khuây khỏa, thằng cha này rất hay thông báo thời sự "mật" trong nước và thế giới, rất hay kêu ca, thường đưa ra những dẫn chứng sinh động về sự xuống cấp trong tất cả những lĩnh vực của xã hội, rồi tự đau đớn đến não lòng.

    - Chào nhà đạo diễn.

    - Ông Tiên!... Tôi đã trông thấy tập thơ "Bông hồng sầu muộn" của ông rồi, mang đến tặng đấy hả?

    - Làm việc miệt mài như thế là đang lấy lại niềm tin đấy.

    - À! Phân cảnh phim Lý Tử Trọng. Tuyệt vời, một con người tuyệt vời... Hắn nói say sưa một thôi một hồi về con người quang vinh của đảng của dân tộc, sau đó lại bài ca cũ: "Cậu là đảng viên...". Tôi bực bội nói như quát:

    - Vợ chồng tớ vừa cãi nhau to, gây đổ máu. - Không định thông báo cho Trong biết tin này, nhưng không hiểu sao sau câu nói nhàm chán của hắn làm cho tôi bực mình nghĩ hắn "hâm" thật sự hâm, là nghệ sĩ thằng nào cũng hâm, lại bực cho cả chính mình, tôi bật ra câu thông báo chết người ấy. Trong tròn mắt kinh ngạc, mặt tái đi, buộc lòng tôi phải kể tỉ mỉ, nghe xong câu chuyện hắn phá lên cười và nói:

    - Ðồ hâm ạ! - Rồi hắn tiếp tục cười như chế giễu tôi.

    Ấy đấy thế có tức mình không kia chứ, mình nghĩ rằng nó "hâm" thì nó lại nói toẹt ra là mình "hâm". Hắn nói:

    - Nếu cô ấy là nhà thơ thì cô ấy thơ tài hơn cậu nhiều, vì cậu có hiểu quái gì cuộc sống đời thường đâu, cô ấy đã làm hết mọi việc để giúp đỡ cậu viết hết quyển sách này đến quyển sách khác, nhưng xin lỗi, tác phẩm của cậu chưa thuyết phục tôi mấy đâu. Cô ấy đã hành động đúng, còn cậu lúc nào cũng thơ thơ thẩn thẩn, ngất nga ngất ngưởng chả ra cái gì, chỉ ra một thằng hâm!

    Ðấy! Tưởng tìm đến hắn cho khuây khỏa, thì hắn lại vào hùa với vợ mình mắng mình xa xả, thế mới biết bọn đạo diễn chúng nó thực dụng hơn cánh nhà thơ nhiều. Như mọi khi, Trong đứng lên lấy hũ rượu rót ra hai chén, còn tôi thì đứng dậy ra về, lòng buồn bã, đau đớn, không thèm uống rượu, không thèm chào hắn nữa, cay cú nghĩ: bọn đạo diễn rất tài tán các cô gái trẻ xinh đẹp để đóng phim cho mình, rồi làm người tình của mình, chứ báu gì mà rao giảng.

    - Nào, uống!...

    Trong khi đó tôi đã bước ra khỏi nhà.

    - Ơ! Tiên! Ông giận tôi đấy à?

    Về mặt nào đó nhà đạo diễn nói cũng có lý, lời nói của hắn làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều... Về đến nhà cơm nước đã sẵn sàng, các con đã về, đang léo nhéo bên mẹ, trông thấy bố chúng reo lên:

    - Bố đã về, mẹ ơi bố đã về,

    - Ăn cơm thôi, con đói rồi.

    Các con reo mừng, tôi chú ý để nghe xem bà ấy có phản ứng gì không?... Tuyệt nhiên im lặng. Ðứa con gái út 8 tuổi ôm con mèo lo lắng hỏi:

    - Nó có đau không mẹ? - Không trả lời.

    - Nó có chết không hở mẹ? - Không trả lời!

    - Hở mẹ?

    - Việc gì mà nó chết, em chỉ hỏi vớ vẩn. - Con Ngà trả lời thay mẹ.

    Một tiếng nói rất nhỏ, cốt để cho tôi không nghe thấy, song tôi đã nghe được.

    - Con hỏi bố? - Ðấy là bà ấy xui con Ngọc.

    - Chết không hở bố? - Im lặng!

    - Hả bố?

    - Ai chết? - Tôi quát lên. - Cái gì mày cũng hỏi, mày hỏi bao giờ tao chết hả.

    - Không ạ! Con hỏi con mèo.

    Tôi nghe tiếng cười, rõ ràng bà ấy cười, song rất kìm chế. Bữa cơm dọn ra có đĩa rau muống luộc, nước rau vắt chanh, và đĩa nhộng rang. Như những bữa ăn khác, dù không có thức ăn, vợ chồng con cái vẫn vui, nhưng hôm nay không khí đầm ấm không còn nữa, tôi biết lỗi ấy là do tôi gây nên, cần phải sửa chữa.

    - Ăn mạnh đi các con, sao uể oải thế, rau non luộc xanh ăn giòn lắm, chan nước rau vào mà và cho mau, bố chan cho cái Ngọc nào, nhộng còn bổ hơn thịt, ngon hơn ăn tôm đấy các con ạ.

    Có lẽ bà ấy cũng nghĩ, cần phải tạo bầu không khí này:

    - Ăn đi, mỗi người gắng lên một bát, đừng để cơm thừa.

    Mẹ đã có lời động viên, tình trạng bữa ăn lập tức được cải thiện, mọi người đều cố gắng, bát đũa khua lanh canh, nồi cơm hết nhẵn.

    Cạnh nhà tôi có một cái lò mổ, bình thường mỗi ngày người ta mổ trên chục con lợn, ngày lễ ngày tết có đến vài chục con. Cả khu tập thể rất phiền lòng về cái lò mổ này, bởi vì tiếng lợn kêu đinh tai nhức óc, thông thường từ 18 giờ cho đến 24 giờ, là lúc người ta nhập lợn, giờ cao điểm là lúc từ 4 giờ cho đến 5 giờ sáng. Trong khi cả khu tập thể đang say sưa trong giấc ngủ mệt mỏi, sau một ngày vật lộn với cuộc sống, thì cả chục con lợn bị hóa kiếp kêu la thảm thiết, đánh thức mọi người trong khu chung cư dậy. Nhưng biết làm thế nào, không ai có thể có ý kiến gì ngoài sự im lặng và chịu đựng, vì đấy là cuộc sống và nhất là ông chủ lò mổ là một người thương binh nặng cụt cả hai chân lên đến tận bẹn. Cô Lấy vợ anh ta là một cô gái trẻ, lùn mập, đen đúa nhưng lại rất có duyên, mồm năm miệng mười tay dao tay thớt, ra thịt chặt xương, cắt giò như làm xiếc, xông xáo, táo tợn vô cùng. Gia đình ấy rất quý gia đình chúng tôi, vợ tôi thường được mua chịu, mua rẻ hơn người khác, họ rất biết chúng tôi có khó khăn về kinh tế, có lần chị ta sang nhà tôi chơi rồi bảo:

    - Nói thật sự chứ ! Trí thức như các bác thời buổi này đói khổ là phải rồi, như chúng em lại kiếm ăn được.

    Ðúng, hoàn toàn đúng, đấy là một hiện thực đau lòng. Cô Lấy nói với vợ tôi:

    - Nói thực sự chứ! Sớm hôm nào chị mua thịt cho em là y như rằng ngày hôm ấy em bán hàng sướng vô cùng, vèo một cái đã hết sạch. Chị có duyên lắm, em mà được cái duyên như chị thì để đâu cho hết tiền.

    À, thì ra vì cái duyên của nhà tôi mà chúng tôi được quý, được mua rẻ, mua chịu hàng của cô hàng thịt. Nghe vui tai tôi phải dừng bút lại, cô hàng thịt nói:

    - Chị không biết à, cả cái chợ khu tập thể này đa phần là cán bộ về hưu, về mất sức, xin thôi việc ra làm con buôn. Em nói thực sự chứ! Chị còn tiếc gì, về xin lấy một chỗ mà ngồi làm gì mà chả kiếm được mỗi ngày mười nghìn, gấp mấy lần lương của chị rồi. Em nói thực sự chứ! Vợ chồng em quý các bác, nếu bác muốn em xin giúp đỡ.

    - Chị giúp tôi gì nào? - Vân chân thành hỏi lại.

    - Nói thực sự chứ! Bác rất có duyên, nếu bác không chê nghề của chúng em thì em sẽ giúp, ngày ngày bác lấy thịt ở lò mổ của em mang ra chợ bán, chỉ cần bác mỉm cười mời chào: Mời anh mua thịt của em, bà ơi, bác ạ, em này, lại đây, lợn Móng Cái nạc nhiều, mỡ ít, thịt thơm, cân tươi... thế là chị gạt đi không hết khách. Các anh giai chả lao vào mà mua thịt để ngắm chị, để nghe chị nói như hát. Nói thực sự chứ, em cũng mê chị.

    Vợ tôi mỉm cười thú vị, còn tôi thì cười to.

    - Em nói thực sự chứ!...

    Chị hàng thịt nghĩ rằng chúng tôi nghi ngờ lời chị. Vài hôm sau k hí trời mát mẻ, khi các con đã ngủ say, tôi đang ngồi viết, bỗng nhiên đôi bàn tay thon dài, nuột nà và mềm mại, êm dịu như nhung, lần lần lên hai bờ vai tôi. Tôi dừng bút. Ðôi bàn tay, tôi yêu đôi bàn tay này vô cùng...

    Khi nàng 18 tuổi thì tôi đã ba mươi lăm. Tôi là người lính, một sĩ quan cấp tá từ chiến trường trở về, tôi đến với nàng đầy lòng kiêu hãnh của một người lính chiến thắng và chiến công. Còn nàng là một thiếu nữ tuổi xuân đang phơi phới, cũng đầy lòng kiêu hãnh về nhan sắc lẫy lừng của mình, chưa hề chấp nhận bất cứ một tình yêu nào. Tất cả những ai đến với nàng đều trở thành vệ tinh quay chung quanh từ trường của nàng. Khi người lính xuất hiện trước người đẹp, không tấn công mệt sức, và cũng không bao giờ dám ngộ nhận do tài cán của mình mà giành được chiến thắng vẻ vang. Ðây chính là duyên số, Trời Phật đã ban nàng cho anh, là thưởng cho chiến công của người lính một trinh nữ tuyệt vời.

    Hai cánh tay của bà ấy ôm chặt lấy người tôi, toàn bộ thân thể phía trước áp sát vào lưng tôi nóng hôi hổi, tôi nắm chặt lấy hai bàn tay. Ðôi bàn tay này, tấm thân này đã làm cho đời tôi dịu ngọt vô cùng, làm cho thơ tôi đằm thắm và hào sảng. Ðôi bàn tay này đang muốn trình bày, thuyết phục tôi điều gì. Sau vụ con mèo bị thương cả bốn bàn tay đang nắm chặt lấy nhau phải rút kinh nghiệm. Chủ đề gì mới, hay chủ đề cũ được nhắc lại. Tôi thành tâm chờ đợi.

    - Hôm nay anh nghỉ làm việc sớm hơn được không? Phải nói rằng toàn bộ con người nàng lúc này là sự thuyết phục hoàn toàn, tôi làm sao cưỡng nổi. Tôi chưa kịp trả lời, nàng đã hỏi lại:

    - Anh vui lòng không?

    - Tất nhiên rồi! - Vân không giận mình nữa, tôi quay lại nhìn vào mắt, tôi biết rằng đôi mắt ấy đang có một yêu cầu chân thành, và một mong muốn cháy bỏng. Tôi ôm lấy ngang lưng nàng, kéo sát ghì chặt vào mình, vùi mặt vào bụng nàng, hương thơm trên da thịt nàng nồng nàn, lan tỏa bao bọc.

    - Ðể anh sắp xếp tài liệu, em lên giường trước đi.

    Tôi nhanh tay thu dọn tài liệu, trong lòng phấn chấn, tình cảm dâng lên phơi phới, xao xuyến men say. Tôi đi nhanh vào giường ngủ, thì bà ấy lại ngồi trên xalông chờ đợi.

    - Nào đi em!

    - Anh ngồi xuống đây, em muốn nói chuyện.

    Tôi đã hiểu sai ý bà ấy rồi! Tôi hỏi:

    - Chuyện gì mà quan trọng thế?

    - Anh ạ... em đã làm thủ tục thôi việc rồi.

    Tôi biết việc này sẽ phải đến, nhưng vẫn thấy hơi bất ngờ.

    - Mình em hay còn ai nữa?

    - Em chưa kịp làm đơn xin thì nhà máy đã tuyên bố phá sản, mình phải về là lẽ đương nhiên. Toàn bộ cơ quan bị xóa sổ, ai xin đi đâu được cứ đi, em về nhà để anh xin việc cho em.

    Nghe vợ nói mà tôi gai hết cả người. "Anh xin việc cho em" thật sự là một lời thách đố, thời buổi này chỉ có vợ con quan to thì mới xin được việc làm. Thế thì từ hôm nay vợ chồng tôi phải đối đầu với cuộc sống một cách quyết liệt, thật là "cơm áo không đùa với khách thơ".

    - "Ðã mang lấy nghiệp vào thân" quá nửa đời người rồi, anh không biết làm nghề nào khác để nuôi vợ nuôi con được nữa.

    Biết chồng quá lo lắng bà vợ mỉm cười nói:

    - Em không phải là người phụ nữ chỉ biết sống dựa vào chồng, chỉ cần anh bớt chút thì giờ giúp đỡ em, em sẽ xoay xỏa nuôi anh, nuôi con được, anh có tin em không?

    Tôi nhìn Vân bằng ánh mắt lo lắng, thương yêu trìu mến vô cùng, tôi thấy mình có lỗi trong những trận cãi nhau. Tôi nói:

    - Không phải con mèo bị thương, không phải em trúng đạn, chính anh, anh là người bị thương. Lần thứ nhất vết thương chiến tranh ở chân bên phải, xuýt nữa toi mạng; lần thứ hai, lần này bị thương trong hòa bình.

    - Em xin lỗi! Hôm ấy ý em muốn nói một điều khác cơ...

    - Thôi đừng nhắc lại chuyện cũ nữa. Em định làm gì để sống?

    - Lò mổ!

    - Sao?

    Vân phì cười, còn tôi thì ngơ ngác khó hiểu, và tôi nhớ lại buổi nói chuyện của chúng tôi với cô hàng thịt:

    - Làm sao mà em có thể làm được cái nghề ấy?

    - Cuộc sống đã dồn chúng ta đến chân tường rồi, phải quăng chữ "sĩ" đi, ta sẽ làm được tất cả. Bà ấy khẳng định như một chân lý.

    Ôi! Cuộc sống mới khắc nghiệt làm sao, đúng như cô hàng thịt nói: "Trí thức như các bác thời buổi này thì đói khổ rồi". Nhìn bàn tay thon dài mềm mại kia mà phải ra làm nghề đồ tể, nhìn gương mặt đẹp thuần hậu, đôi mắt thông minh sắc sảo kia, phải ra ngồi giữa chợ mời chào khách qua đường: "Thịt lợn Móng Cái nạc nhiều, mỡ ít thơm ngon đây, mời anh, mời chị, mời bác, mời bà... Bỏ kiến thức khoa học xuống phản thịt, đè lên mà chặt mà băm vằm, bằng con dao to nhọn hoắt, sáng loáng của nghề đồ tể. Thấy tôi ngồi lặng đi suy nghĩ, bà ấy hiểu tâm trạng của chồng mình, mỉm cười nói:

    - Anh không muốn cho em làm nghề bán thịt phải không? Em sẽ làm một nghề khác, bất ngờ với anh đấy, nhưng chắc là kiếm ăn được. Em đang còn phải giữ bí mật chỉ xin anh yên tâm, viết cho hay vào.

    Tôi mệt mỏi rã rời.

    - Thôi, đi ngủ.

    Trên giường hạnh phúc, bà ấy ôm lấy tôi, như ôm con Liu Liu vào lòng, trong tôi tiêu tan đi hết sức xuân phơi phới khi nẫy, lúc này tôi chỉ là một con mèo, hay một đứa trẻ được che chở trong bàn tay dịu dàng của người mẹ.

    Mắt nhắm nghiền giả vờ ngủ là để cho bà ấy yên tâm. Tôi thức chong chong cho đến khi những con lợn bị hóa kiếp, kêu vang thảm thiết náo động cả khu tập thể. Tôi bật dậy pha một ấm trà thật đặc, ngồi uống một mình và nghĩ: "Trong cuộc chiến đấu này ta bị bao vây thật rồi". "Phá vòng vây" bằng cách này ư? Trên giường Vân cựa mình trong giấc ngủ mệt mỏi, mơ màng tiếng lợn kêu về sáng.

    Toàn bộ số tiền người ta trả cho bà ấy sau mười sáu năm công tác, để ra khỏi biên chế được sống cuộc đời tự do, tự lo là 500 ngàn đồng, bà ấy mua ngay một cái tivi Việt-tô-nich 450 ngàn, để nâng cao đời sống văn hóa cho cả nhà, còn 50 ngàn liên hoan một bữa cho chồng con. Hôm bà ấy bê cái tivi về cả nhà rất phấn khởi, nhất là bọn trẻ. Tôi nói với mấy mẹ con: "Thôi cũng được, có 450 ngàn được ngồi ở nhà mà biết toàn thế giới. Cám ơn mẹ mày!".

    Phải nói rằng tôi hoàn toàn bị động, lo lắng, lúng túng trước cuộc sống. Còn bà ấy lại tỏ ra rất bình tĩnh như một đấu thủ đã nắm chắc phần thắng trong tay. Vân đi đâu từ sáng đến giờ không thấy về? Tim tôi đập mạnh, ruột gan cồn cào, đúng lúc ấy Vân tươi cười xuất hiện trước cửa:

    - Em đi đâu từ sáng đến giờ?

    - Em có cái này. - Vân bình tĩnh khoe.

    - Cái gì?

    Bà ấy giơ ngón tay lên, một chiếc nhẫn vàng to sáng lấp lóa nơi ngón tay.

    - Ở đâu ra? - Tôi hỏi.

    - Ðố anh biết.

    - Làm sao mà anh biết?

    - Em vay con bạn, thế là em đã có một triệu trong tay, không lo chết đói nữa đâu anh ạ. Các con đi học chưa về à?

    - Em vay ai? - Tôi hỏi lại.

    - Con Thư.

    - Nhưng em sẽ làm gì?

    - Hôm nay em có thể nói cho anh biết được rồi. Em sẽ đi biên giới với con Thư.

    - A!... - Tôi nhớ, cô Thư là giáo viên cấp III bạn học thân thiết của Vân, nghề tay trái là nghề đi buôn biên giới đã thành thạo, mấy năm nay kiếm ăn cũng khá. Thật may mắn đúng kỳ nghỉ hè, hai hôm sau cô Thư về nhà tôi chơi, hai bạn rủ nhau đi biên giới Lạng Sơn. Cứ hai ngày một chuyến hàng về, họ giao vải cho các quầy hàng bán buôn, bán lẻ ở chợ Ðồng Xuân, chợ Hôm, Hàng Da... Nhờ có cô Thư hướng dẫn nghiệp vụ, dần dần Vân quen với thị trường, với cuộc sống mới. Mỗi chuyến đi như vậy, chị em chia nhau được dăm chục, chuyến thắng một trăm, có chuyến hòa, có chuyến lỗ. Nhưng nói chung cuộc sống đã bắt đầu tươi tỉnh, bữa ăn có chút thịt cá, các con có quà bánh.

    Tháng hè đã hết, Thư trở lại với nghề dạy học, bà ấy phải hoạt động một mình. Khi mà đã kiếm được tiền, có đồng ra đồng vào, thì người ta ham lắm, không riêng gì ai, bà ấy cũng vậy, dù nóng bức, dù rét mướt, thậm chí có khi giông bão, hàng đóng rồi thì không thể lùi bước, giống như người lính đã đi vào trận, đạn đã lên nòng, không thể không xông lên. Một hôm hàng bà ấy đóng đã khá nhiều, nhưng toàn là những thứ hàng "lông vịt" nào là giày bảo hộ, quần áo bảo hộ, nhồi vào bốn bao tải tạ. Hàng đóng xong đã năm giờ chiều, bỗng mây kéo đen kịt, trời sập xuống thấp tè, phía tây xuất hiện những ráng đỏ bầm như máu, gió bắt đầu nổi lên. Tôi lo lắng nói với bà ấy:

    - Em ạ, bão đến nơi rồi, hay là... chuyến này nghỉ được không?

    - Không được. - Bà ấy kiên quyết - Vì khách ăn hàng đã hẹn, bất cứ giá nào cũng phải đi.

    Không dám bàn ra tính vào nữa, bởi thông thường một chuyến đi, người ta cấm kỵ những lời nói bàn lùi, và không ăn cá mè, không ăn thịt chó... rất kỵ gặp đàn bà khi ra khỏi nhà... trời đất hôm nay lại nổi cơn giông đột ngột thế này. Hiểu được nỗi lòng của tôi, và chính trong lòng bà ấy cũng đang cồn lên những lo lắng.

    - Anh à! Hay là... hay là... chuyến này nhiều hàng lại có một mình em, anh đi với em?

    Nghe vợ nói trong lòng tôi xảy ra cuộc đấu tranh quyết liệt: - Ði là cực kỳ gian khổ, nhưng tại sao mấy tháng nay vợ mình chịu đựng được mà mình lại sợ? Thế là hèn, phải đi. Còn công việc cơ quan, bỏ một ngày thì đã sao? Phải vậy thôi. Các con ở nhà với ai? Gửi hàng xóm. Nếu từ chối thì bà ấy sẽ nghĩ: "Ðích thị ông chồng mình là người vô tích sự, thơ phú chữ nghĩa thì cần cho ai, khi mà cuộc sống không có gạo mới là cái chết, không có thơ cuộc sống vẫn nhăn răng cười"... lộ bộ mặt thằng chồng hèn, khó khăn dồn tất cả lên lưng vợ, ăn bám vào sức lao động của vợ, thế không hèn là gì hỡi nhà thơ?

    - Ðược! Anh đi. - Tôi mạnh dạn trả lời.

    Mắt Vân sáng lên trong cơn mưa giông đang ùn ùn kéo về.

    Thế là cả hai vợ chồng nhanh chóng thu dọn nhà cửa, mọi việc tạm ổn. Bấm giờ tốt, đúng 8 giờ tôi thuê xích lô chở hàng ra bến xe Hàng Ðậu đi Lạng Sơn. Xe nhiều, hàng đầy, người đông, Vân nhanh chóng tính cước phí hàng hóa với lái xe. Cửu vạn bốc hàng lên mui, tôi trèo lên buộc hàng, chăng bạt rất chắc chắn, xong công việc tôi xuống ghế ngồi, mà bà vợ đã xí chỗ từ đầu nhưng chỗ của chúng tôi đã bị một thanh niên chiếm mất rồi. Tôi nói khó:

    - Anh cho tôi xin chỗ.

    - Ông già nói gì? Chỗ nào của ông?

    - Chỗ này chứ còn chỗ nào, yêu cầu anh đi nơi khác.

    - Ð... mẹ thằng già, bố mày lại cho mấy chưởng bây giờ, cút!

    Nghe lạ tai, ngơ ngác, và khó hiểu, máu dồn lên mặt song tôi vẫn cố kìm mình. Tiếng một tên trong bọn:

    - Xe chật bố già ạ, phấn khởi lên mà tìm chỗ khác đi, thế mới là người biết điều.

    - Nhưng đây là chỗ tôi đã giành từ trước.

    - Làm việc đi! - Một tên trong bọn hô lên, tôi hiểu nó xúi thằng này đánh tôi.

    Ðúng lúc ấy Vân hớt hải, tay cầm hai cái bánh mì kẹp batê chạy lại:

    - Cái gì, cái gì thế các chú? Chị xin, có gì các em cho chị biết, đây là chồng chị, anh ấy đi lần đầu.

    - Em ạ, bọn này mất dạy quá. - Tôi nói.

    - Anh im đi! - Vân trừng mắt quát tôi.

    - Thằng già kia!

    Ba bốn tên xô lại, Vân cuống cuồng đẩy chúng ra, - Chị xin, chị xin lỗi các em. - Vân quay sang tôi: Anh già rồi mà dại. - Ðẩy mạnh tôi ra nơi khác. - Các em thông cảm, chị vẫn thấy các em hay đi chuyến xe đêm này với chị, hóa ra quen nhau cả.

    - À! Ðúng rồi, chị gái này cũng là dân làm ăn biên giới, thôi nể mặt chị gái, chúng tôi tha cho, cứ như thằng chồng già của bà, không biết phép tắc là gì, đáng lẽ bọn này phải cho mấy bài học cần thiết, nhưng chị gái phải biết dạy chồng nghe chưa.

    - Vâng! Chị nhớ - Bà ấy kéo tôi ra khỏi điểm nóng, trách móc một thôi một hồi... - Anh không hiểu gì cả, suýt nữa thì tai vạ, đấy là bọn chuyên đi trấn lột, trên tàu, trên xe, anh dây với chúng nó làm gì, không có em hôm nay thì chúng nó đánh anh chết, kêu ai, kiện ai, hậu quả vợ con anh gánh chịu hết. - Bà ấy rơm rớm nước mắt. - Thấy việc chúng nó làm, lời chúng nó nói mình phải như câm như điếc như mù, chẳng may chúng nó đụng đến mình, còn lạy chúng để chúng buông tha ra kia. - Bà ấy giảng giải cho tôi hiểu về lẽ đời ở chợ búa, bến tàu, bến xe, ở đường biên, mà tôi đang phải tiếp cận. Quả thật tôi bây giờ mới thực sự giáp mặt với cuộc sống, và rồi sẽ còn xảy ra những gì nữa trên đường "hành quân chiến đấu" này.

    Xe đi biên giới trong lòng nó chứa đầy người, đủ các hạng người, đầy hàng hóa, nhiều loại hàng nói ra nghe rất kỳ cục: Rùa đá, rùa vàng, ba ba, rắn, trăn, khỉ, culi, gà, mèo, chó, đồng, chì, niken, thuốc phiện... trăm thứ bà rằn, chuyến xe bão táp này có vợ chồng tôi ở trong đó, với mấy tạ hàng tầm tầm không đáng giá gì. Chiếc xe lầm lũi đi trong đêm mưa gió tơi bời, thỉnh thoảng sét cục, sét hòn nổi lên dội xuống nghe chừng như muốn đánh tan nát trời đất, thỉnh thoảng điện trời lại chập mạch, những dây lửa xiên xẹo ngang dọc trông thật khiếp đảm, chiếc xe vẫn đội mưa gió, sấm chớp tiến lên biên giới, tôi liên tưởng đến những chiếc xe đội bom đạn ra mặt trận năm nào. Những ngày ấy tôi là một thanh niên còn rất trẻ, ngày ấy vì tự do độc lập thống nhất của dân tộc; còn ngày nay vì tự do và cuộc sống của chính mình.

    Chuyện cãi cọ với bọn người kia rồi cũng qua đi, đặc biệt trong chuyến đi gian khổ này, nhưng vợ tôi lại rất vui vì có chồng bên cạnh, vừa chia sẻ nỗi nhọc nhằn, vừa có bạn đường tuyệt vời. Từ Hà Nội lên biên giới qua nhiều trạm kiểm soát của công an thuế vụ, hải quan, người ta phát hiện những hàng quốc cấm, hàng của chúng tôi là thứ "lông vịt" chỉ phải nộp thuế, chứ không phải "làm luật", yên tâm mặc cho các nhà chức trách khám xét.

    Qua trạm kiểm soát Ðồng Bành, gió đã ngưng, mưa đã tạnh, trăng cuối tháng mờ nhạt, mòn vẹt, trông rất bẽ bàng nhô lên đằng đông, nhìn qua ô cửa những đám mây đen mờ xám vần vụ vây quanh, nghe chừng trời đất còn muốn mưa gió nữa.

    Một sợi dây thừng? Ðúng! Sợi dây buộc hàng rơi xuống lòng thòng vắt vẻo bên cửa sổ chỗ tôi ngồi. Tôi nghi ngờ, trườn mình ra cửa sổ nhìn lên nóc xe, hàng chồng đống trên ấy, giờ không còn nữa. Tôi đập thành xe thét lớn:

    - Hàng bị mất hết cả rồi! Dừng lại... ại...

    Cả xe nhao nhác.

    - Hàng của mình? - Vân kinh ngạc hỏi.

    - Mất hết rồi em ơi!...

    Chiếc xe dừng lại, phụ lái nhảy xuống, sau đó là tôi rồi đến những người có hàng trên xe. Tôi nhanh chóng trèo lên nóc, thì những hàng nhôm Liên Xô, những sọt ba ba đều biến mất, chỉ còn những túi hàng của chúng tôi, thì ra hàng "lông vịt" chúng không thèm lấy. Tài tình thật, xe đang chạy với tốc độ nhanh như thế mà chúng "đánh" được. Theo yêu cầu của tôi, lái xe đồng ý cho chuyển hàng vào trong xe.

    - May quá! Hàng mình còn là còn cuộc sống. - Vân sợ hãi, hồi hộp nói giọng còn run run.

    - Ừ, may quá em ạ.

    - May quá! Em đã linh cảm thấy chuyến đi này sẽ có chuyện chẳng lành, nên bảo anh đi với em mà.

    - May thật!

    - Anh này! Bọn thanh niên ấy chuồn hết theo số hàng trên nóc xe rồi. Khi đèn trong ô-tô bật sáng, tôi đảo mắt nhìn khắp lượt, bọn chúng không còn một tên nào thật.

    Chiếc xe bò lên được đến Ðồng Ðăng thì trời bắt đầu hừng sáng, đám cửu vạn tranh nhau, xô đẩy, chào đón các chủ hàng từ dưới xuôi lên. Vân thuê tám thanh niên cả trai lẫn gái gánh hàng qua biên, người hàng nườm nượp, tôi không khỏi liên tưởng đến những cuộc hành quân ra phía trước cách đây hai mươi năm, ngày ấy bộ đội, thanh niên xung phong đi đánh giặc cứu nước, ngày nay từng người, từng tốp bạn bè, từng cặp vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em, đi đánh giặc đói cho chính mình. Một cuộc đi tự do cũng đầy nguy hiểm, nhưng nét mặt "chiến sĩ" nào cũng đầy khí phách. Người ta chuyền lại cho nhau rằng: - Ði cẩn thận, hai bên đường rừng vẫn còn mìn cài trong cuộc chiến tranh biên giới năm nọ.

    Chợ biên giới ở phía bên kia, dân buôn Trung Quốc háo hức chờ đón dân buôn Việt Nam mang hàng qua. Khách hàng chờ đón chúng tôi từ lâu, Vân giao thiệp với họ bằng tiếng Trung Quốc, tiếng dân tộc Nùng, tiếng Việt, lộn xộn mỗi tiếng vài từ để bổ sung cho nhau, nghe rất vui tai làm tôi phải bật cười, giá cả thì được viết bằng chữ số! Vân nhẩm đổi tiền rồi quay sang nói với tôi:

    - Ðược lãi rồi, cần giải phóng hàng cho nhanh, ăn ít thôi anh ạ.

    - Tùy em.

    Vân quyết định bán, đôi bên đang trao tiền, thì có một tiếng kêu thất thanh:

    - Cướp! Cướp!

    Cả chợ nhốn nháo, ngay sau lưng chúng tôi một làn khói mỏng lờ mờ bay từ họng súng của người công an chưa tra vào vỏ, thì trước mắt chỉ cách 30 mét một người đàn ông đổ gục giẫy giụa trong vũng máu.

    - Trời ơi! Nó cướp của tôi, toàn bộ số tiền một tạ mực khô, đáng đời nhà nó.

    Tôi quay lại phía sau nhận ra tiếng nói Thanh Hóa của một cô gái quãng 30 tuổi, mặt cô không còn hột máu, cô gái rên rỉ:

    - Làm thế nào để lấy lại được, nó còn nhét trong bụng nó.

    Dân chợ ồn ào nói:

    - Báo cho công an biết để người ta lấy lại cho.

    - Họ có cho không?

    - Sao lại không?

    - Hu hu... Cô gái khóc rống lên đau đớn như chính phát đạn trúng vào mình, còn kẻ dính đạn thì đang nằm im không kêu rên giữa trời nắng. Khi người ta khênh hắn đi qua như khênh một con thú, bị người ta săn bắn trọng thương, tôi nhìn bộ mặt của hắn, đúng là mặt của tên gây gổ định đánh tôi tối hôm qua. Lúc này tôi không giận y, không khinh bỉ y, không chửi rủa y, mà trong lòng tôi dấy lên một sự cảm thương. Ôi! Cơm áo không đùa với con người, chứ chẳng riêng gì với nhà thơ. Vợ tôi bấm cánh tay tôi ý hỏi: "Anh có nhận ra mặt nó không?".

    - Anh ạ! Ngày hôm nay dữ lắm, ta không vào chợ mua hàng nữa, phải về cho sớm. - Thế rồi Vân kéo tôi vào chỗ khuất, chia đôi số tiền, một nửa bà ấy giấu vào nón, còn một nửa giấu vào bao tải đựng hàng, nếu gặp bọn trấn lột thì chỉ việc quăng hai thứ này ra khỏi mình là an toàn.

    Ðoàn người lũ lượt, chủ hàng kèm cửu vạn vượt biên giới trở về. Ðến gần dốc Quýt thì bỗng Vân kêu to:

    - Chạy nhanh!

    Vân chạy thục mạng, chưa kịp nhận thức, thì cả đoàn người ào ào chạy như bị giặc càn.

    - Trấn lột! Trấn lột!..ột...ột...

    Tôi trông thấy một họng súng vung lên, chặn một người phụ nữ lại. Nhớ lời vợ dặn, "phải như câm, như điếc, như mù" người tôi gai lạnh cũng chạy bán sống bán chết. Ra đến cửa rừng thì gặp Vân đứng đón ở đấy. Hú vía!

    - Anh có thấy bọn trấn lột không?

    - Có.

    - Bằng một giác quan kỳ lạ em nghe được, chúng nó bàn nhau trấn em. Chúng theo dõi mình từ trong chợ kia, trông thấy tướng mạo của anh, chúng nó nghĩ rằng anh là một ông chủ lớn, chứ có biết đâu là một nhà thơ nghèo. Khi phát hiện ra bọn chúng đón đường, em đã hô lên và chạy lẫn trong dòng người, thế là chúng mất mục tiêu.

    - À! Ra thế, nhưng đã có một bà khác bị trấn thay em rồi, anh trông thấy.

    Mồ hôi tôi toát ra đầm đìa như ngã xuống nước. Vân thuê xe ôm chở ngay hai vợ chồng ra thị xã, ra đến thị xã Lạng Sơn, không kịp ăn uống gì, vọt ngay lên xe về Hà Nội...

    Sau chuyến đi buôn ấy, tôi suy nghĩ rất nhiều. Từ ngày bà ấy đi biên giới kiếm được ăn cho gia đình, sắm sửa tấm vỏ chăn, cái nồi áp suất... ngoài vốn ra lại còn có chỉ vàng đeo tay, nhưng biết bao khó nhọc, vất vả, biết bao nguy hiểm, luôn luôn theo sát bên mình, ngoài nạn trấn lột ra, tôi nhìn thấy những chiếc ô tô bẹp dúm dó dưới đáy vực mà lạnh toát hết cả người.

    - Em ạ! Cứ hôm nào em lên xe đi biên giới, thì bố con anh ở nhà khắc khoải mong chờ, đêm nào cũng chong chong chờ tiếng gõ cửa quen thuộc, khi bố và con được trông thấy mẹ mới hết lo lắng. Thôi bỏ, không tham nữa, làm gì loanh quanh ở Hà Nội, rau cháo cho qua ngày.

    - Biết thế em không cho anh đi chuyến ấy, khó khăn gian khổ, nguy hiểm em quen rồi, sợ gì, anh cứ cho em đi.

    - Không đi nữa!

    - Sẽ lấy gì mà sống?

    - Không sống thì chết, chứ đi biên giới thì thôi.

    - Ðể em làm nghề hàng thịt thì anh không muốn.

    - Thà rằng làm hàng thịt.

    - Cả ngàn con người kiếm ăn trên con đường này, có sao đâu?

    - Kệ người ta! - Tôi quát ầm lên.

    Các con ngơ ngác, cả hai vợ chồng im lặng không ai nói gì nữa. Với thái độ kiên quyết của tôi làm cho bà ấy phải nghĩ lại.

    Mấy ngày hôm nay bà ấy một mình một xe, đạp đi lang thang khắp Hà Nội, đến bạn bè bàn bạc, đi các chợ để nghiên cứu thị trường. Khi chưa có thể làm được gì lớn hơn, vợ chồng bàn nhau làm cò con vậy, thế là bà ấy đã từng thổi xôi, nấu chè, bán bún chả, bún cua. Làm nghề hàng ăn cũng đâu có dễ, phải làm thật ngon, sạch sẽ mới có khách. Phải tìm ra công thức đặc biệt sẽ trở thành đặc sản, thì sống với nghề lâu dài. Khó nhọc mà lãi suất lại quá thấp, Vân nhiều lần tỏ ý luyến tiếc biên giới. Tôi động viên:

    - Anh biết đi biên giới kiếm ăn khá hơn, nhưng đầy nguy hiểm, vất vả em phải chịu đựng hết, làm sao anh có thể yên lòng được.

    Rồi một hôm Vân ôm lấy tôi trong vòng tay nồng nhiệt, vừa cười vừa nói hài hước:

    - Em phải làm tên đồ tể thôi anh ạ.

    - Ðồng ý. - Tôi cũng cười vui.

    - Thật nhá!

    - Thật.

    Chuyện là thế này: Vân ngầm đi tìm hiểu thị trường, rồi về bàn bạc với vợ chồng cô Lấy, nhà tôi đã góp vốn đầu tư với cô ấy một tuần nay, mỗi ngày vợ chồng cô ấy chia cho được hai chục nghìn. Cảm thấy chắc ăn rồi hôm nay nàng mới khai báo với chồng. Vân cười nói vui vẻ:

    - Sợ ông chồng bảo thủ không chịu đựng đổi mới lại phá đám nên phải bí mật.

    - Hà hà hà... - Tôi bật cười - Anh là phần tử lạc hậu thật à?

    - Anh này, mai là chủ nhật, anh có muốn đi chơi với em một chuyến không?

    - Ði đâu? - Tôi hỏi.

    - Ði ngoại thành, sáng đi tối về thôi.

    - Ðể làm gì?

    - Ðể tìm nguồn hàng.

    - Ðược! - Ðang đà phấn khởi, tôi vui vẻ nhận lời.

    Sáng ngày hôm sau hai vợ chồng lên đường bằng chiếc xe Honda cà tàng mượn của nhà đạo diễn. Theo tính toán của Vân, nếu khai thác được nguồn hàng đều đặn, đóng góp với vợ chồng Lấy, thì lãi suất sẽ còn khá hơn nhiều. Vân hy vọng đây sẽ là nguồn sống lâu dài của chúng tôi. Xe chạy bon bon, Vân ôm lấy chồng tình cảm và tin tưởng, như cặp tình nhân trẻ tuổi trên đường du lịch. Bỗng Vân thét lên kinh hãi, tôi phanh gấp, xe đổ kềnh, người văng ra khỏi xe, phía trước là hai cô gái và chiếc xe đạp nằm đè lên nhau. Mấy giây trôi qua, Vân lồm cồm bò dậy đến bên tôi lo lắng hỏi:

    - Anh có sao không?

    - Không sao!

    Có cái gì buồn buồn, nóng nóng trên mặt, tôi giơ tay lên ôm lấy mặt, máu tứa ra đầm đìa cả bàn tay.

    - Anh bị thương rồi! - Vân thét lên kinh hãi.

    Chỉ một phút sau tôi hiểu ra mọi chuyện: Hai cô gái đi từ trong ngõ ra trên chiếc xe đạp nam, lại không có phanh, cũng may không ai việc gì, chỉ có mình tôi bị thương vào trán.

    - Có nhà thương gần đây không? - Vân hỏi cả đám người đang vây quanh chúng tôi.

    - Quay lại Bạch Mai. - Có tiếng trả lời.

    Chiếc xe máy nằm quay ra lề đường, máy vẫn nổ. Vân dựng xe lên.

    - Ði anh!

    Tôi ngồi lên xe, tay ôm đầu máu. Chiếc xe lao vun vút.

    - Ði chậm thôi! - Tôi đề nghị.

    - Anh bị có bị choáng không, có đau lắm không?

    - Không!

    - Ðây rồi! Vân trông thấy một hiệu thuốc bên đường, chủ hiệu là một bác sĩ, khám vết thương và băng bó, tiêm thuốc ngay cho tôi. Chiếc băng trắng ngang mặt, quanh đầu, không trông khác nào người chiến sĩ bị thương trên mặt trận năm xưa.

    Nằm nghỉ tại hiệu thuốc nửa tiếng, người bình thường trở lại, tôi nói với Vân:

    - Ta đi tiếp!

    - Em quên, năm nay anh sao thái bạch, chuyến đi không ra gì, ta về thôi.

    - Ðến nơi rồi, sao lại quay về. Ði!

    Cám ơn người bác sĩ, thanh toán tiền thuốc. Vì cuộc sống hai vợ chồng lại tiến lên. Trong lòng tôi vang lên câu nói "bất hủ": "Cơm áo không đùa với khách thơ". Chúng tôi rẽ vào nhà một người bạn văn bên đường. Trông thấy chúng tôi anh hốt hoảng chạy ra.

    - Trời ơi! - Ông Tiên! Sao thế này. - Mặt anh xao xác hỏi.

    - Không sao, ông cho chúng tôi uống nước đã...

    Nghe kể chuyện vợ chồng nhà thơ đi mua lợn về làm lò mổ, anh bạn tôi cười, nụ cười như người đang muốn khóc, song có người pha trò tài quá mà phải bật cười.

    - Giỏi! Kính phục bà, còn ông, thế mà ông vẫn viết được, vẫn say sưa với nghiệp văn chương được, quả là lạ, lạ lắm.

    Hôm ấy chúng tôi không thống nhất được với khách hàng, cũng có thể là chưa có kinh nghiệm, hay là vì một ngày xấu? Hai vợ chồng phải về tay không. Trên đường về bà ấy nhận xét:

    - Anh là người sinh ra để làm thơ, để mơ mộng, anh không phải là con người của đời thường. Cho nên chuyến đi làm ăn nào có anh cũng dữ dằn, từ nay em không cho anh đi nữa.

    - Không đúng, không phải vậy đâu. Anh cho rằng những chuyến đi như thế này là thú vị và cần thiết cho anh.

    Xe về đến nhà, các con chạy ra đón bố mẹ reo vui. Khi chúng phát hiện ra cái đầu kỳ lạ của bố, em khóc, chị run lẩy bẩy:

    - Bố ơi! Bố làm sao thế?

    - Bố ngã, nhưng không sao, các con đừng sợ.

    *
    * *

    Vết thương trên trán bây giờ mới thấy đau. Bà ấy bắt tôi nằm im, không được làm gì cả, bên ngoài tốc độ cuộc sống của nền kinh tế thị trường đang diễn ra chóng mặt. Tôi thương mình, thương vợ, thương con vô cùng. Mắt nhắm nghiền, nhưng tôi biết "bà hàng thịt" đang đứng nhìn tôi, mỉm cười, nụ cười thương cảm, sau đó nàng cười thành tiếng, như phát hiện điều gì mới mẻ ở chồng, mọi điều bí ẩn nay đã bị nàng khám phá, nàng cúi xuống rất nhẹ đặt cái hôn trên môi chồng.

    - Hoan hô bố mẹ hôn nhau. - Bé Ngọc bắt được quả tang hành động của mẹ reo lên.

    Tôi mỉm cười trên môi nàng.

    - Con cái nhà! - Bà ấy đỏ mặt đứng dậy mắng yêu con.

    (......................????)
     
  4. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Quán rượu người câm - Nguyễn Quang Sáng


    Bất cứ ở nước nào, thời kỳ nào, bất cứ cuộc cách mạng nào cũng đều phải trải qua những ngày đen tối. Trong những ngày đen tối thì có những chiến sĩ bị cầm tù. Và bất cứ nhà tù nào, người ta cũng chia làm hai, kẻ phản bội và chiến sĩ trung kiên. Những chiến sĩ trung kiên có người đến chết không hé một lời khai, có người bị tra tấn đến tàn phế, hoặc ngơ ngẩn hoặc điên không còn biết gì nữa. Trong một nhà tù- Trong hàng trăm nhà tù ở miền Nam - khoảng năm 1956, có một người bị tra tấn đến đứt cả dây nói, thành một người câm. Đó là anh ba Hoành hơn bốn mươi tuổi. Trong kháng chiến đánh Tây, anh là Đảng viên Cộng sản, là Uủy viên nông hội xã. Giặc bắt anh vì cái tội đi đo đất tạm chia cho dân cày và bản thân anh được lãnh ba công. Qua ba tháng tù, chịu mọi thứ cực hình, anh chưa bị câm và vẫn không khai. Một hôm, trong nhà tù, có một tên phản bội đã khai cho một cô gái mười sáu tuổi, cô làm liên lạc riêng cho hắn ta, gọi hắn ta bằng chú. Cháu gái ấy bị bắt, cũng như một số đông anh em, cháu nhận mọi thứ tra tấn. Cháu bị đưa đến nhà tù đàn ông để mặt đối mặt. Tên địch chỉ mặt tên phản bội hỏi cháu:

    - Mày có biết tên này không?

    Cháu gái lắc đầu:

    - Không!

    Tên địch trợn mắt, đưa chân đá khe khẽ vào cằm tên phản bội:

    - Con nhỏ này nói vậy mày thấy sao?- Tên phản bội không dám nhìn cô gái nhỏ. Hắn gục đầu, lầm bầm trong miệng, không biết hắn nói gì. Tên địch lại đưa mũi giày vào cằm hắn- lúc đó hắn ngồi- hất cái mặt hắn lên:

    - Sao! Mày muốn tao chơi lại cái món ngày hôm qua hả? Ngày hôm qua, bọn địch đem nhét anh ta vào cái cống vừa chỉ ló cái đầu và hai cái chân. Bọn địch bảo:

    - Tao sẽ nuôi mày như nuôi vịt trong ống tre. Người sẽ tóp lại, đùi sẽ lớn ra. Mày khai không?

    Hắn gật đầu. Bọn địch lấy búa tạ đập vỡ cái cống và cho hắn trở lại nhà tù- Nghe nhắc đến cảnh tra tấn đó, hắn toát mồ hôi, hắn ngước nhìn cô gái nhỏ và lắp bắp nói:

    - Nhận... nhận đi cháu! - Hắn vừa nói thì một chuyện bất ngờ không ai đoán được. Cô gái nhỏ mười sáu tuổi ấy, tóc đang rũ xuống, bỗng hất tóc ra sau vai và nói như nghiến:

    - Chú Hai! Chú sợ chết hả! Chú hãy nhìn tôi đây này.

    Đứa cháu gái liền thè lưỡi, mắt long lên, đưa quả đấm đánh vào cằm mình. "Bực", đầu lưỡi cháu rơi xuống, cháu ngã ngửa ra sau và máu vọt ra. Cái chết của cháu gái quyết liệt quá khiến cho tất cả anh em tù liền nhỏm dậy. Nhưng chân của họ bị còng, còng bị kéo tới, tay họ vồ vào kẻ thù. Bọn địch bỏ xác người con gái nhỏ lại, chen nhau, tuôn ra, đập song sắt và rút súng ngắn chĩa vào tù nhân.

    Anh Ba Hoành chụp lấy cái đầu lưỡi của cháu gái và nhổ một bãi nước miếng vào mặt tên phản bội, anh để cái đầu lưỡi nhỏ lên bàn tay, bàn tay xòe ra, anh đưa chầm chậm qua mắt anh em, tay anh lẩy bẩy run, và nước mắt anh cứ xối xả.

    Sau đó ba ngày, trong một trận tra tấn, khi một tên địch dùng bù loong đập lên cổ anh, anh ngã qu ng, giẫy một lúc, miệng há ra, rồi ú ớ. Bọn địch hỏi gì anh cũng nghểnh mặt, ngơ ngác, cái ngơ ngác của một người điếc, và miệng cứ há ra, hàm dưới đưa qua đưa lại một cách khó nhọc và cứ ú ú ớ ớ.

    Bọn địch trả anh lại nhà tù và cho người rình. Đối với anh em, anh cũng ú ớ và ngơ ngác như vậy. Bọn địch lại tra cái bệnh câm của anh. Chúng bắt anh phải nói. Qua ba trận tra tấn, anh câm luôn, cả cái tiếng ú ớ anh cũng không ú ớ được nữa. Bọn địch đưa anh vào nhà thương để xét nghiệm. Sau nhiều lần tra tấn bằng các thứ thuốc, bác sĩ kết luận: " Tên tù này câm thật!". Chúng đánh người cốt để moi lấy lời khai, người tù này câm rồi, đánh nữa chỉ mệt xác, bỏ tù cho tốn cơm, chúng thả anh ra.

    Anh Ba Hoành, vốn là con người lực lưỡng, một tay phát thế (1) nổi tiếng. Ơở nhà tù về anh chỉ còn có bộ xương, lại câm. Anh không thể cầm nổi cái phảng được nữa. Nhưng nếu còn sức cầm phảng thì anh cầm phảng nữa làm gì, ba công đất của anh bị giật mất rồi.

    Anh câm, anh hết cả sức lực, nhưng anh còn sống, anh sống vì người vợ, vì ba đứa con, và vì cái gì nữa ai mà biết được. Anh còn sống và phải sống. Muốn sống thì phải có cái ăn. Anh phải nuôi vợ và ba đứa con. Anh có vợ muộn, vì nghèo mà phải lấy vợ muộn. Anh nghèo thật, nhưng anh cũng không phải vì nghèo mà không lấy được vợ. Lúc còn trai trẻ, anh được một người yêu. Đó là cô gái đẹp ở xóm, một cô gái khá giả, nhà có ruộng lại có cả miếng vườn cây ăn trái. Anh nghèo, anh vác cuốc đi làm mướn, nghèo nhưng lại bạt mạng, dám chơi, dám làm, dám nói. Có lẽ vì vậy mà anh được người con gái ấy yêu chăng? Cái đó anh không hề biết. Chỉ biết là mình được yêu. Người ta bảo anh: "Nghèo phải lo phận nghèo, đừng có chơi trèo mà té nặng". Cái tuổi trẻ của anh không nghĩ tới điều đó, vả lại, anh yêu cô ấy. Anh định sau khi cưới nhau, cô ấy sẽ ở với ngôi nhà của anh, anh không có ý định xây nhà trên miếng vườn đó. Nhưng rồi cha mẹ người ta bảo với gia đình anh muốn làm sui gia thì phải "môn đăng hộ đối". Đến khi người con gái ấy bị gả cho một người khác - một anh thư ký - đến lúc ấy mới vỡ ra cái lẽ là mình nghèo. Nghèo thật, rồi có những lúc than thở, anh ta hát nghêu ngao. Anh ca vọng cổ, ca bắt quàng: "Nghèo xơ nghèo xác. Nghèo nát xương mông, nghèo không gạo nấu, nghèo thấu Ngọc Hoàng, nghèo tàn nghèo mạt, nghèo khạc ra tro, nghèo ho ra bụi, nghèo lủi trong bờ, nghèo lờ con mắt, nghèo thắt ống chân, nghèo sưng ống quyển - ơ ờ..." hoặc "Than ôi, nước mắm mặn không tiền mua giấm...". Mãi đến năm 1950 anh mới cưới vợ . Đó là một cô gái dở dang, ba mươi tuổi mà chưa chồng. Chị bị dở dang không phải vì hư hỏng vì xấu hay vô duyên. Chị bị dở dang vì người yêu của chị là một anh vệ quốc đoàn bị hy sinh. Ba mươi sáu tuổi anh mới lấy vợ. Năm năm, đẻ liền ba cháu. Đứa lớn nhất năm tuổi, đứa nhỏ nhất vừa sanh thì anh bị đi tù. Vợ anh đi làm mướn, đi cấy, đi gặt để lấy công. Một mình chị làm chị không nuôi nổi ba con, lại còn tiền thuốc tiền men cho chồng nữa. Sống làm sao nổi. Ơở nhà tù ra, trở về với bệnh tật nhưng anh không thể nào nghỉ được. Nhưng sức của anh còn làm gì nổi nữa! Anh nghĩ đến chuyện buôn vặt. Anh đi mượn tiền mở một quán rượu. Buôn bán mà câm thật khó!

    Tạo hóa sinh ra con người, nếu tạo hoá muốn ở ác với con người thì cái ác cũng rất phải chăng. Nếu tạo hoá muốn cho một người nào đó phải câm, câm, khổ lắm! Để cho người câm ấy đỡ khổ, tạo hóa cho người câm ấy điếc luôn. Đã câm thì phải điếc, bởi vì nếu không nói được mà phải nghe, nghe mà không nói thì ức chết thôi. Cho nên tạo hóa phải cho họ điếc để khỏi phải nghe những điều họ không đáng nghe. Còn anh Ba Hoành, anh câm không phải do tạo hóa mà con người, do kẻ thù. Con người khi trở thành kẻ thù thì họ ác hơn tạo hóa. Bọn giặc đánh anh đến câm, nhưng lại để cho anh nghe được. Khổ thân anh quá! Những chuyện xung quanh toàn những chuyện bất bình nên anh không phải nghe nhiều, chỉ cần nghe vài ngày thôi, chuyện này, chuyện nọ cứ dồn ép vào, đến mức anh không còn sức chứa nữa, ngực anh sẽ vỡ tung ra.

    Kẻ thù ác với anh nhưng đời lại thương anh, thật may! Trong thời kháng chiến lúc làm ủy viên nông hội xã, anh có học được vài chữ, anh đọc được và viết được. Thằng địch gian ác và xảo trá, nhưng nó lại quên cái điều ấy. Anh câm, anh không nói bằng miệng được nhưng nói bằng tay.

    Anh trở về với quán rượu, nhưng địch không cho anh sống yên. Đêm đêm nó cho người đến rình nhà anh. Nó muốn nghe anh nói chuyện với vợ con anh. Và nó nghe cả những lời ân ái của anh. Nó kể lại với bọn lính trong bót nghe và lấy đó làm trò cười. Bọn nó kháo với nhau: Thằng cha câm khi muốn ngủ với vợ, nó không ú ớ mà ư ư như rên, khi nó bị vợ phủi tay, thì nó kêu á á, khi vợ nó kéo nó tới, thì nó à à - Một lần nữa bọn chúng xác định: tên tù ấy câm thật.

    Dù khó khăn anh vẫn sống qua ngày, sống với quán rượu của anh. Quán rượu anh cất cạnh bờ sông. Một cái quán nhỏ lợp bằng lá dừa khô. Một cái quầy hai cái ghế dài để cho khách ngồi, một cái tấm vạc nhỏ để nhậu. Có hai con đường dẫn đến quán. Một con đường có cây cầu dừa, dành cho khách đi xuồng, hoặc ghe máy đuôi tôm, một con đường mòn nhỏ băng qua vườn mía dẫn vào con đường lớn xuyên qua xóm.

    Quán nhỏ tồi tàn, nhưng lại có đủ thứ rượu ngon, toàn là rượu nổi tiếng. Người chủ quán là người biết chọn rượu. Rượu Lương Hòa tỉnh Bến Tre - Rượu nặng mà đầm và thơm... Rượu đế thì rượu kinh ông Kho, rượu ngon nhất tỉnh Long Châu Sa, rượu trong veo, sủi bọt nặng mà đầm. Rượu đậu nành nước trong xanh cay mà ngọt, uống say lúc nào chẳng biết, lúc say người như lịm đi. Rượu cất bằng mía, rượu "Rum" của Hiệp Hòa màu rượu như trái hồng quân. Đó là những thứ rượu ngon, loại mắc tiền nhưng đồ nhậu thì lại bình dân thôi. Đâu phộng rang tẩm mỡ với ngũ vị hương, tôm khô, củ kiệu, khô mực, các loại khô, và các loại cây trái, mùa nào thứ ấy xoài, ổi, mận và chùm ruột...

    Ông chủ quán câm nhưng lại lịch sự, và tiền nong rất rõ ràng. Nếu cần chủ quán sẽ mời anh một ly nhỏ không lấy tiền và nếu vui chủ quán sẽ sẵn sàng chạm một ly. Trên quầy có một xấp giấy nhỏ, có khi là một xấp lịch cũ của một cuốn sổ tay nào đó và một cây viếc "bic". Khách nào đến ngồi lâu, uống nhiều ly, mua nhiều đồ nhậu, chủ quán câm không nói được, chủ quán tính tiền trong cái giấy. Khách cứ coi theo đó mà trả. Rất tiện khỏi phải cãi cọ nhiều lời. Ông chủ quán này lại có cái lạ là không tham bán nhiều, thấy khách vừa say thì một cách lịch sự, lịch sự theo người câm, nhe răng cười ú ớ mấy cái rồi đưa cho khách. Vậy là khách biết mình sắp say rồi. Chỉ phiền có một điều, có lẽ vì chủ quán ít chữ nghĩa quá, viết không được mạch lạc, hoặc nghuệch ngoạc cho nên khách phải đọc rất lâu, có khi tiền thì cứ trả mà giấy thì mang về đọc lại.

    Khách rượu ở quán này thường hay ngồi lâu, có khi ngồi đến hằng giờ. Ông chủ quán câm kể loại biết điệu đời, ông xếp ghế ngồi để cho khách nhìn ra sông: sông Cửu Long. Khách có thể ngắm rặng cây xa mờ, ngắm những cánh buồm, vừa ngắm nhìn vừa nghe tiếng sóng. Sóng bạc đầu, bỏ vòi, tràn lên nhau, sóng bủa ầm ầm. Sóng lưỡi búa, lách chách từng đợt nhỏ và đều, lấp lánh khắp mặt sông. Sóng nhỏ nhưng lại thường hay nhấn chìm xuồng ghe. Xuồng ghe tấp vào bờ. Sóng vẳng rì rầm, buồn và mênh mông.

    Vì rượu ngon, hay vì có chỗ ngồi nhìn ngắm cảnh hay vì cái vẻ lịch sự câm của ông chủ quán? Chẳng rõ, chẳng biết, chỉ biết trong làng, hầu như người uống rượu nào cũng đến. Trong làng, dân làng không được hội họp, ba người đàn ông gặp nhau cũng không được, những cuộc gặp gỡ từ ba người trở lên, nếu nhà cầm quyền biết sẽ bị nghi là họp cộng sản, sẽ bị đi tù. Còn ở cái quán rượu này buồn đến nỗi đàn bà cũng uống rượu nữa. Con gái thì chưa uống ghiền nhưng cũng đến mua. "Rượu vào thì lời ra !". Bọn xâm lược Mỹ và tay sai không cấm được điều đó. Thật tội nghiệp cho ông chủ quán câm, ông phải nghe chuyện của những thằng uống rượu, chuyện của những thằng say. Nhưng cũng thật hạnh phúc cho ông, ông toàn nghe những chuyện thật. Bởi vì không ai dám nói thật bằng những thằng uống rượu, những thằng say. Lúc bình thường giận đời, giận người, họ không dám chửi, uống rượu vào, họ chửi chẳng sợ ai. Lúc bình thường có những sự thật vì lẽ gì đó mà không dám nói, uống rượu vào họ nói tất. Những người khách rượu này, họ nói tất cả những sự thật của làng.

    - Chú Hai ở cuối xóm bị bắt, bị đi tù. Thằng xếp đến bắt hiếp vợ chú.

    - Nhà chị Ba một người đàn bà góa, bị lính moi hầm, dưới hầm có một anh kháng chiến cũ. Chị bị nhà cầm quyền buộc tội lấy Việt Cộng. Hai người đều bị bắt. Nó bắt hai người phải ngủ với nhau. Anh kháng chiến cũ không chịu. Nó lột quần áo cả hai người, trói lại, bắt nằm chồng lên nhau, rồi gí điện. Chị Ba chết để lại ba đứa con.

    - Con Sáu có chồng đi tập kết. Bị bọn lính ép quá, chịu không nổi, nó cạo đầu rồi, định đi tu.

    - Nửa đêm một chiếc tàu sắp cặp bến. Bọn lính ùa lên nhà một gia đình không có đàn ông, gí súng vào lưng đàn bà con nít, lùa xuống tàu, phóng lửa đốt nhà, rồi chở đi, chẳng biết đi đâu.

    - Ông Năm, một ông già điếc hơn sáu mươi tuổi vừa bị lính bắt, người ta không hiểu sao ông bị bắt. Trong tù ông không khai. Có người bảo ông là người khảng khái, có người bảo ông có gì để khai mà không khảng khái.

    - Thằng Chín có vợ có con rồi mà còn ve vãn con nhỏ gọi nó bằng chú. Nó bị phản đối, nó đâm ra thù oán người ta, nó phao tin đồn nhảm định làm hại cô ta. Cô gái đang bị bọn công an áo đen theo dõi. Đối với những thằng sa đọa như thằng Chín, cần phải cảnh giác.

    - Thằng Tư nó đầu hàng rồi. Nó khai nó làm chỉ điểm cho địch. Nó mang kiếng đen, nó lảng vảng ở ngoài bến xe. Nó vừa chỉ bắt một người đàn bà.

    - Nhà ông Tám bị khui hầm. Ông lấy ngực đỡ đầu súng. Anh cán bộ chạy thoát, Ngực ông bị bắn nát.

    Chuyện trong làng trong huyện, trong tỉnh và chuyện của cả miền Nam toàn những chuyện đau thương, ngày nào cũng có. Mỗi ngày một chuyện, có khi hàng chục chuyện...

    Ông chủ quán câm : đầu óc bùm sùm, mặt hốc hác, người gầy gò, mặc bộ bà ba rách, ngả màu cháo lòng.

    Ông lắng nghe chuyện, mặt hơi nhếch lên, ngơ ngác như một người điếc. Những người khách vừa nói vừa uống, vừa chửi, vừa nắm quả đấm muốn đập nát cái vạc tre để đồ nhấm, hoặc thở dài hoặc đang nói thì bị nghẹn. Còn ông chủ quán câm, ông nghe mà cứ như điếc chẳng ai thấy ông bị xúc động, mặt cứ trơ. Hay là tạo hóa thương ông, cho ông điếc luôn? Chẳng biết nữa. Lâu lâu ông cúi xuống, rút giấy ra ghi. Ông ghi tiền rượu cho khách, hay ghi những chuyện đáng cười, đáng giận đó. Chẳng ai hiểu nổi. Mà hiểu để làm gì mới được chứ ! Từ câm đến ngớ ngẩn có khó gì. Lúc ông ta cúi cái đầu bùm sùm xuống quầy, hai tay khuỳnh ra, mặt nghiêng nghiêng, tay ghi ghi, miệng há hốc, dáng điệu của ông ta, đúng là dáng điệu của một thằng ngớ ngẩn, lúc ghi, lúc viết, miệng ông ta như không ngậm lại được.

    Khi khách hàng ra về, và quán vắng, ông rót ly rượu kinh ông Kho, rót đầy, có khi rót mà không nhìn ly, rót tràn ra quầy vì ông là chủ quán nên ông không uống từng ngụm như khách, ông uống cạn một hơi. Nói cho đúng thì ông không uống mà ông đổ. Uống thì phải nhắp, phải chén, phải khà, phải thưởng thức cho hết chất cay, chất nồng của rượu. Còn ông, với cái miệng vốn há hốc của ông, ông ngước mặt rồi cầm ly rượu, đưa cao lên, đổ xuống. Hình như rượu không đụng đến lưỡi, rượu đổ ngay vào đốc họng rồi tuôn thẳng vào lòng ông. Ông uống rượu mà như uống thuốc độc vậy.

    Uống xong mặt ông không đỏ, mà tái, ông ngồi im, miệng há hốc, mắt lờ đờ. Đừng thấy dòng sông lặng lẽ mà bảo dòng sông không có sóng. Sóng đang nổi lên từ dưới đáy người ta gọi đó là sóng ngầm. Nhìn sông đến chán, ông gục đầu xuống quầy. Như một ông chủ quán bán khuya đến lúc phải ngủ gục. Khách rượu đến bất ngờ thấy ông gục đầu, hai vai run run, khách rượu tưởng ông khóc. Khách rượu vỗ vai ông, ông giật mình lật đật đứng dậy, khách rượu hỏi:

    - Sao ông khóc ?

    Ông lắc đầu ú ớ, đưa tay chỉ vào mắt, con mắt khô quánh. Yý ông muốn nói: Tôi khóc hồi nào !

    Nhưng khách rượu không tin, thấy đôi vai run của ông, khách rượu đoán là ông khóc. Có điều là người khách có thể tin. Là con mắt của ông không ướt. Con mắt khô, nhưng miệng chảy nước dãi. Khách rượu ấy kết luận : Ông khóc thật, nhưng không phải khóc bằng nước mắt mà ông khóc bằng nước miếng, đó là kiểu khóc đặc biệt của người câm.

    Trong làng, trong cả miền Nam, nhà nào cũng có người bị bắt bị giết, những nhà bị tan nát. Con người sống không yên. Người ta phải đứng dậy. Từ một đến mười, từ mười đến trăm, từ trăm đến ngàn, rồi cả làng. Hầu hết đàn bà trong làng, họ kéo nhau ra đồn bót, ra huyện, ra tỉnh, kéo nhau đi cả Sài Gòn nữa. Họ bắt kẻ thù phải công nhận cho họ là con người đang sống và có quyền sống. Những cuộc biểu tình ấy, nếu đi xuồng đi ghe máy đuôi tôm hoặc đi tài thì qua bến chủ quán rượu. Cái bến của quán rượu người câm lúc nào cũng nổi sóng. Nếu đi bộ, thì đoàn người đi ngang qua con đường sau quán. Ông câm nhưng ông thấy, ông nghe và ông biết. Đi đấu tranh xong trở về, người ta lại ghé vào quán rượu của ông. Người vào quán ông bất cứ lúc nào, về lúc nào ghé lúc ấy, có khi vừa tối, có lúc nửa đêm. Người ta ghé vào để uống rượu và nói chuyện và bàn cãi. Nhờ có nhiều khách hàng, đêm đêm ông thắp đèn khí đá. Ông vừa bán vừa nghe chuyện. Địch nó bắn người ta cứ tràn lên. Một người bị bắt cả ngàn người cứ đứng vây cửa nhà tên quận, hò hét cho đến lúc nó thả ra mới chịu về. Bọn địch nó biết, khi mà đàn bà đã đứng dậy thì chẳng có sức mạnh nào bằng. Nó sợ đàn bà, nhưng nó lại biết chỗ yếu của đàn bà. Đàn bà không sợ bị bắt, không sợ tù, không sợ súng, không sợ chết, nhưng lại sợ nhục. Nó không bắn, nó sai lính đi tuột quần từng người. Ôồ! Chuyện ấy có gì khó. Đàn bà đi đấu tranh người ta không mặc quần thun hay quần lưng rút nữa, người ta mặc quần gài nút, giật quần không tuột, nó bắt từng người, lấy kéo cắt đầu tóc, mái tóc dài, và đầu tóc ở sau ót, đó là vẻ đẹp của người đàn bà Việt Nam. Những người đàn bà khi đã bước vào đấu tranh, người ta không sợ mất cái vẻ đẹp đó. Chồng họ cũng không sợ. Một hôm có một anh chồng ra quán người câm đón vợ, thấy vợ buồn vì mất cái đầu tóc, trong lúc mọi người đang ồn ào anh kêu lên:

    - Sao mình buồn ? Mình sợ tôi chê mình xấu à ? Ông câm, ông cho tôi một ly rượu, "rượu" "rum" Hiệp Hòa ấy.

    Anh chồng uống cạn một ly. Uống xong, anh lấy rượu làm nư, anh ôm lấy vai vợ rồi cúi hôn lên cái ót trần của vợ. Vợ anh đẩy ra, người ta cười ồ lên, người ta vỗ tay, anh chồng ấy - có rượu rồi - không lấy đó làm thẹn, anh ngả ra cười ngất. Đã lâu lắm rồi, người ta mới thấy ông chủ quán câm cười. Khi ông cười, mặt ông thảm hại làm sao. Mặt ông nghiêm, nhắm một con mắt, miệng méo. Cười xong, ông rót thêm hai ly nhỏ, đưa anh chồng ấy một ly, hai người cùng chạm và uống cạn.

    Lại một lần khác, bọn địch không cắt tóc nữa, chúng gí súng vào từng người, đè họ xuống giữa chợ, cởi quần áo. Bọn địch muốn làm nhục họ. Chúng muốn cho người khác bỏ chạy. Bỗng một bà già, gọi là bà Tư Trầu - vì bà ăn trầu luôn miệng và kêu lớn. Thân thể của người đàn bà là vẻ đẹp thiêng liêng của họ, nhưng đến lúc cần phải giành lại tự do, độc lập và quyền sống họ sẵn sàng hy sinh tất cả. Khi bà Tư Trầu ra lệnh, thế là cả ngàn người đàn bà, bà già, người có chồng, người còn con gái, tất cả, liền cởi hết và họ xếp lại thành hàng, họ thành một đạo quân ngang nhiên lạ lùng diễn qua trước mặt kẻ thù. Kẻ muốn làm cho họ nhục, thì chính họ lại thấy nhục. Những thằng giặc ấy, chúng mặc áo, quần, tay cầm súng, nhưng chúng phải bỏ chạy.

    Người ta nói chuyện ấy trong quán rượu. Ông chủ quán câm liền rót đầy một ly rượu màu hồng quân trịnh trọng đưa cho bà Tư Trầu và rót nhiều ly khác cho những bà, những chị, những em đang có mặt. Những bà, những chị, những em đều uống cạn những ly rượu do người câm rót ra. Rượu ấy là rượu đặc biệt do chính tay chủ quán cất bằng trái cây, rượu dành riêng cho đàn bà, rượu không cay nồng, rượu ngọt và rượu uống không say.

    Giặc lê máy chém đến. Chúng giết bà Tư Trầu và giết nhiều người khác nữa. Trong làng, có thêm những đứa bé chít khăn tang.Cái quán rượu không còn ồn ào nữa. Nhưng quán rượu của người câm không vắng khách - những người ghiền, những người say lại đến với quán rượu.

    Bỗng một ngày, không một khách rượu nào đến, ngoài đường cũng chẳng thấy ai đi. Dưới bến, chẳng có một chiếc xuồng, ghe nào qua lại. Người chủ quán câm chỉ còn biết ú ớ cũng chẳng có ai để cho ông ta ú ớ nữa, trong làng chỉ còn nghe có tiếng sóng. Sự im lặng của mọi người đang nín thở ấy kéo dài gần nửa đêm. Như một hơi thở dài bị đè ép bỗng trút ra, bất thần, cả làng bỗng dấy lên. Nhà thờ kéo chuông, nhà chùa nện đại đồng chung, người ta đánh trống, người ta đánh mõ, người ta đánh thùng thiếc, người ta đánh xoong, đánh bất cứ cái gì gây ra tiếng động. Người ta hò hét, người ta vác cái gì như súng, người ta đi, người ta gọi nhau, kêu rủ nhau, người ta gọi cả ông câm chủ quán rượu. Người ta báo cho nhau một cái tin lạ " Đồng khởi". Người ở tất cả các ngả xóm, các con đường làng cứ đổ ra. Người trong làng cũng bấy nhiêu đó, nhưng đêm đó lại đông hơn, đông hơn gấp mười, gấp trăm. Người kéo đi cuồn cuộn, kéo tràn đến dồn bót giặc. Người ta cho nổ những tiếng nổ lớn.

    Bọn giặc trong đồn, trong bót hoảng hốt. Nghe những tiếng nổ tiếng trống, và mọi thứ tiếng vang dội lên mỗi lúc một dữ dội, chúng thấy cái đồn, cái bót của chúng như những chiếc xuồng con đang bị sóng của một cơn bão đang bủa tới, chúng nhớ những người chúng giết, nhớ những người chúng bắt, nhớ những người chúng đánh, nhớ những gia đình do bàn tay chúng phá tan nát, chúng thấy những người đó đang tràn tới. Đông quá! Chúng không thể biết được bao nhiêu. Với súng, với đạn của chúng, chúng có thể giết được hàng trăm, nhưng khi hết cả đạn, chúng không thể sống được. Vậy là chúng nó lần lượt vứt súng đưa hai tay lên trời, có đứa vứt súng tìm cách thoát thân.

    Thế là dân làng san bằng tất cả đồn bót bằng tiếng trống tiếng mõ, bằng những tiếng nổ lớn của pháo tre, của khí đá.

    Sau khi san bằng hết đồn bót, dân làng đốt đuốc, kéo nhau ra đồng, dựng lên một khán đài cao.

    Cả làng mỗi người một ngọn đuốc, người ta nhìn về phía lễ đài, chờ một người mà người ta muốn biết : Người chỉ huy ngày đồng khởi.

    Người ta đứng im. Chỉ còn nghe có tiếng lửa cháy rần rật. Tiếng nổ đều đều của tàn đuốc. Tiếng lửa cháy nghe thật trang nghiêm. Hầu hết người làng đều không biết người chỉ huy. Khi người ta không biết thì người ta đoán và tưởng tượng. Con người trong tưởng tượng thì không thể nào giống con người thật. Người ta chờ đợi người chỉ huy theo ý tưởng tượng riêng của mình. Người ta hồi hộp chờ một người chỉ huy thật.

    Người chỉ huy ấy xuất hiện, đứng trên lễ đài, hoàn toàn không giống như ý tưởng tượng của họ. Người ta kinh ngạc nhưng người ta không thất vọng. Con người thật không giống như trong tưởng tượng nhưng phong phú hơn, và gần gũi hơn. Qua một thoáng kinh ngạc, người ta liền dậy lên. Người ta hoan hô, người ta kêu nhau, người ta chen nhau tràn về phía trước. Trong ánh lửa hồng của hàng ngàn ngọn đuốc, người chỉ huy hiện lên trước khán đài. Người ấy, một con người cao, gầy gò, mặc bộ bà ba màu cháo lòng tóc bùm sùm. Đó là người câm của quán rượu. Anh Ba Hoành!.

    Anh mọp đầu chào dân làng, rồi nhón chân, đưa hai tay chào, rồi đưa tay vuốt ngực và cất tiếng:

    - ... Bốn năm nay tôi không nói, không phải tôi câm. Mà tôi im lặng. Đã đến lúc chúng ta không im lặng được nữa. Đã đến lúc chúng ta phải...

    Tiếng nói của bốn năm câm lặng, tiếng nói không cần phải qua máy móc của các thứ loa, tiếng nói của anh vang lên đến từng người, vang dội cả trong lòng họ.

    Cả làng. Mỗi người một ngọn đuốc, mỗi người một thứ giọng lại dấy lên, đáp lại lời của anh.

    Làng lúc nào cũng tràn trề tiếng sóng, người ta không nghe tiếng sóng nữa. Người ta chỉ nghe tiếng vang dội của dân làng.

    Dân làng quây quanh lấy khán đài, hò hét cho hả hê, và đốt thêm đuốc. Đuốc: cái đưa lên, cái đưa xuống rào rào như một đám cháy. Người ta quơ đuốc cho cháy to hơn, quơ đuốc cho lửa bốc cao và người ta phóng cả ngọn đuốc bay vọt lên không. Tưởng chừng, hàng ngàn ngọn lửa đuốc đang đốt cả trời đêm.
     
  5. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Ðời khổ

    Nguyễn Khải

    1

    Năm 1961, vợ chồng tôi được quân đội cấp cho một căn nhà mười bốn mét vuông ở khu tập thể Phúc Xá, là một rẻo đất bãi phía ngoài đê sông Hồng. Tôi sinh ra ở Hà Nội, mãi đến năm mười sáu tuổi mới rời Hà Nội đi kháng chiến, trong từng ấy năm chưa bao giờ tôi bén mảng xuống vùng đất bãi của Hà Nội gồm mấy xã Phúc Tân, Phúc Xá, Nghĩa Dũng, An Dương. Ðó là vùng đất của dân nghèo, của trộm cướp và những phần tử bất hảo. Nghe các ông bà sống trong phố đồn đại thế nên cũng sợ. Nào ngờ mình sẽ phải sống ở đó những mấy chục năm, đẻ cả loạt con, viết cả loạt sách, thành dân làng Phúc Xá chính cống. Cái năm tôi về Phúc Xá là hai vợ chồng còn rất trẻ, một bà mẹ chưa già lắm và đứa con trai đầu mới lên ba tuổi. Lối vào khu tập thể là con đường đất nhỏ, một bên là hồ, một bên trồng mía, trời mưa dầm phải tụt dép bấm chân mà đi. Những dãy nhà một tầng xây đối nhau, mười hai gian một dãy, như trại lính, là trại vợ lính. Mỗi nhà có hai cửa ra vào, hai cửa sổ, một cái bếp và một nhà tắm chung cho hai hộ, mùi vôi mùi xi-măng còn nồng lên. Mỗi dãy nhà đã có vài bốn gia đình dọn đến ở, chồng xách nước dội, vợ gò người lấy chổi rễ cọ nền, vừa làm vừa cười, rồi mời gọi nhau sang uống nước, hút thuốc, hả hê, khoan khoái vì đã có một mái nhà, đã mất rất nhiều tâm sức để có được một gian nhà.

    Buổi tối đầu tiên được về ở nhà mới lại không có điện, các nhà đều thắp đèn dầu, chúng tôi không có đèn vì không nghĩ rằng còn phải thắp đèn, dọn cơm ra đầu hè ăn nhờ ánh sáng đèn nhà hàng xóm. Bữa cơm đầu tiên nấu bằng nồi của mình, củi của mình, bếp của mình và dọn ăn bằng mâm, mẹ ngồi giữa, vợ chồng ngồi hai bên, thằng con vác bát chạy ra chạy vô trong gian nhà của nó, đến vui. Chuyện thường thế mà cũng vui được nhỉ? Một gian nhà trống không, túi quần túi áo rỗng tuếch, mọi thứ còn là trong tính toán, trong dự định, trong hy vọng, mà lại vui! Nhiều năm sau cái niềm vui xốn xang, mơ hồ của chờ đợi và hy vọng cái thuở tay trắng không thể có nữa. Nó đã ở phía sau. Nó đã thuộc về một thời. Tôi còn nhớ rõ đúng vào cái tối ấy, cái tối ăn cơm không đèn, một gương mặt nhìn không rõ ghé vào song cửa, một giọng nói lanh lảnh hỏi với vào: "Cô chú nào vừa đến lại đi rồi à?". Người hàng xóm có tính tò mò ấy là chị Vách.

    2

    Chị Vách hơn tôi một con giáp, răng đen và vấn khăn. Chồng chị là thiếu tá ở một học viện chính trị, hơn tôi khoảng mười lăm tuổi. Cấp thiếu tá ngày ấy là to lắm, là mơ ước gần như viển vông của đám thượng úy lau nhau. Tên ông thiếu tá là gì tôi không rõ, mặt ông tôi cũng quên, chỉ nhớ mang máng một người đàn ông có bộ dạng rất đứng đắn, có thể rất tốt bụng, nhưng không làm một việc gì, nói một lời nào để dãy xóm được nhớ. Mỗi lần gặp tôi ở đường, một năm khoảng đôi ba lần, ông đều chào trước thân thiện và nhạt nhẽo: "Ðồng chí khỏe không? Tốt chứ?".

    Với gia đình ấy vợ chồng tôi chỉ biết có chị Vách ông thiếu tá chồng chị là ông Vách, các con chị một lũ lôi thôi, lốc thốc là con bà Vách. Chị Vách rất hợp chuyện với vợ chồng tôi, chị là người dưới quê mới theo chồng lên sống ở tỉnh, vợ tôi cũng thế. Chị là một cán bộ xã vùng địch hậu thời đánh Pháp, vợ tôi là du kích, rồi là dân công gùi gạo theo bộ đội suốt mấy chiến dịch. Hai chị em mỗi lần được ngồi với nhau là dứt không ra. Chuyện đàn bà không đầu không cuối nhưng chị Vách đã lên tiếng, mình lại chót dại để tai nghe là cứ phải nghe đến cùng. Hết cả đọc, hết cả viết. Vì nó vui lắm, buồn cười lắm, cười đến đau ruột, đến não lòng.

    Tôi nói:

    - Có một bà vợ vui tính như chị chắc ông ấy được cười cả ngày:

    Chị Vách nói:

    - Quân tử ẩn hình, tiểu nhân lộ tướng. Ông ấy vẫn phê bình tôi nói năng vô chính trị, không được chín chắn như các bà cán bộ ở tỉnh. Người ta có trình độ cao lỡ lấy phải vợ dại cũng là khổ tâm lắm. Thời trước thì họ đuổi mình ra đường rồi.

    Giàu vì bạn, sang vì vợ, có một bà vợ như tôi ông chồng cũng hóa hèn, chị nói thế. Nên không bao giờ chị dám đi cùng chồng ra ngoài, đến thăm ai chồng đạp xe tới trước, vợ đi bộ tới sau, không xem hát, không xem chiếu bóng, chưa bao giờ tôi thấy vợ chồng họ đi sóng đôi cả. Mà chị đâu có xấu, là một phụ nữ xinh đẹp của một thời, gương mặt tươi tắn, cái miêng với hàm răng đen đều đặn khi nói khi cười duyên dáng lạ lùng. Tôi hỏi, làm thế nào mà ông ấy lại vớ được chị nhỉ? Là cái duyên may chú ạ, chị nói, người ta là cán bộ trên tỉnh hoạt động cách mạng từ thời bóng tối, mình chỉ là cô du kích ở làng, cách nhau như trời với đất, lấy được là mừng, có với nhau đã hai mặt con nghĩ lại vẫn còn mừng. Chị nói thêm, huống hồ tôi còn là người có tội, phải người chồng có máu ghen họ thì gọt tóc bôi vôi. Chuyện như sau, làng chị thời đánh Pháp là làng tề, hai đầu hai bốt, lính Tây ít, lính dõng nhiều, đĩ điếm là gái làng lên ngủ với Tây càng nhiều hơn. Chị phải đi phu nhưng vì có chút ít nhan sắc nên được giữ lại quét dọn trong đồn. Lính dõng ra đùa một câu, vào ghẹo một câu, chúng nó hát:

    "Mẹ già khắc khoải đêm ngày
    Anh đi ai cấy ai cày ruộng hoang
    Người ta vì nước vì làng
    Anh đi theo Vẹm, ai mang tội này."


    Có một anh cai, người xã dưới, bụng dạ tử tế, biết chị là vợ cán bộ, con lại còn nhỏ liền xui chị giả cách ốm rồi cho về. Lại còn cho tiền và một cân thịt bò nữa. Anh ta đẹp trai, có học, lại mới góa vợ nên trong làng cứ xì xầm chắc anh chị đã có tình ý với nhau, mấy đêm ở lại trên đồn rơm kề lửa lại bảo không bén là khó tin lắm. Người làng thì khó tin, ông chồng về nghe chuyện chỉ cười xòa không nói gì. Chị phục nhất là ông chồng không nói gì, chỉ cười, ăn ở với vợ vẫn như xưa, người có trình độ cao cư xử cũng có khác dân thường thật, chị nói thế. Riêng tôi là người hàng xóm chỉ thấy thương chị thêm, và lấy làm sợ cái ông chồng của chị, bụng bảo dạ: "Phải tránh xa ông này ra, ở gần có ngày mất mạng".

    3

    Chị Vách không biết chữ, đã là cán bộ phụ nữ xã mà không biết chữ, chỉ vạch được một chữ V thay chữ ký thôi. Một mình chị suốt những năm tháng đánh Pháp vừa nuôi hai con, vừa nuôi mẹ chồng, mẹ ốm một mình chị chăm sóc, lúc chết một mình chị chôn cất ma chay. Mà vẫn không dám coi là có công, làm dâu, làm vợ, làm mẹ ắt phải thế, từ thời xửa thời xưa vẫn là thế.

    Chị đẻ hai đứa con gái đầu, ông chồng vắng nhà vì phải đi đánh giặc. Ðẻ hai đứa con trai sau, ông cũng vắng mặt nốt vì phải đi công tác. Chị sanh không được thuận vì đã lớn tuổi, lúc sát nhau, lúc băng huyết, chỉ có bạn bè xóm giềng tới thăm hỏi giúp đỡ, nằm dăm bảy ngày lại bò dậy ôm con ra viện, vài ngày sau đã giặt giũ, cơm nước, da mặt vàng ủng nhưng nụ cười vẫn tươi tắn. Nghe chị nói thì nhà chị có sáu người nhưng ăn hai mâm. Chồng một mâm, năm mẹ con một mâm riêng. Tiền nong chia đôi, tiêu cho chồng một nửa, năm mẹ con một nửa. Chị bảo, anh ấy phải làm việc trí óc nhiều, lại cao tuổi, lại lắm thứ bệnh không bồi dưỡng là nguy ngay. Còn năm mẹ con chị ăn sao cũng được, nông dân vốn nuôi dễ. Tôi nói: "Bà cứ bày vẽ, ông ấy không là nông dân thì là cái gì, là trí thức hả?" Chị cười rất tươi: "Ông ấy học cao lắm chú ạ, một rương vàng không bằng một nang chữ. Một đời chỉ biết đánh giặc với đọc sách thôi". Tôi hỏi: "Ông ấy cũng được đi học à?". Chị có vẻ giận: "Con địa chủ không được đi học thì ai được học. May mà ông bố đã phá tan hết cơ nghiệp, nếu không cũng bị đấu hồi cải cách rồi". Tôi cũng phải phì cười, thì ra lấy con ông địa chủ để được hầu vẫn cứ vinh hạnh hơn là lấy con ông nông dân để được bình đẳng.

    Chị Vách không biết chữ nên chị làm cấp dưỡng một bếp ăn tập thể của quân đội. Chị đi làm rất sớm và về rất muộn. Khi đi gánh đôi thùng không, khi về một bên là nước vo gạo, một bên là cơm thừa của bếp ăn tập thể. Cơm nước lợn gà, hầu bố và trông các em trong một ngày chị đều phó mặc cho đứa con gái đầu. Một người vác cày bảy người vác muỗng như chị thường nói. Năm tôi về ở Phúc Xá thì đứa con gái lớn của chị đã mười bốn, mười lăm tuổi. Con bé không được xinh, da đen, chân tay lòng khòng, cả ngày không nghe nó nói một câu, cứ lầm lì làm, hết làm thì lầm lì đứng một góc giương mắt nhìn xung quanh. Giống tính ông bố như hệt, nhưng nó không được học như bố nó, biết đọc biết viết là thôi vì đông em quá. Tôi hỏi chị Vách: "Tại sao chị không cho cháu đi học?". Chị nói: "Con gái cần gì học nhiều", "Ông ấy không bắt nó đi học à?" Lại thêm một dịp để chị được khoe chồng: "Về đến nhà là vùi đầu đọc báo đọc sách, không hỏi đến vợ đến con một câu". Tôi cười to: "Ông ấy sướng nhỉ, sướng nhất khu đấy". Chị cũng cười: "Người khôn nhọc lo, người dại ăn no lại nằm. Tôi mới là người sướng chứ chú".

    Nói đến thế là hết.

    4

    Năm 1965, Mỹ ném bom miền bắc, dân Hà Nội phải sơ tán về nông thôn. Các con tôi và các con chị Vách đều ở cùng một trại trẻ của quân đội. Chúng tôi mới có hai con, lại có mẹ tôi đi cùng, tiền tiêu cũng dư dật. Chị Vách những bốn con, mỗi con phải nộp một suất tiền cho trại, ông chồng lấy một phần lương để đi theo cơ quan, chị ở Hà Nội cũng phải có phần chi tiêu của mình nên tốn quá. Và túng quá. Về sau chị phải xin với trại cho các con được ăn riêng, con chị thổi nấu cho các em ăn, gạo chị đưa lên, dầu đốt đưa lên, thức ăn khô làm sẵn đưa lên, lấy cái vất vả của mình để bù vào sự thiếu thốn. Và chị vẫn nuôi hai con lợn. Chỉ nhìn chị đi lại vợ chồng tôi cũng chóng cả mặt. Mỗi năm qua đi người chị càng sắt lại, da xạm lại nhưng vẫn rất khỏe, suốt mười mấy năm ở cùng một dãy chưa bao giờ nghe nói chị đau mệt hoặc cảm cúm. Có điều chị nói ít hơn, thời giờ rỗi để trò chuyện vui vẻ với các cô em hầu như không có, vừa làm vừa nói, vừa chạy vừa nói. Trong một lần vừa chạy vừa nói chị báo tin cho tôi biết ông chồng chị phải nằm bệnh viện vì huyết áp lên cao. Bệnh huyết áp là bệnh của trí thức chứ mấy khi là bệnh của nông dân. Người ngoài nhìn vào gia đình chị đều lấy làm lo mà chị lại như không hề lo. Chồng thì như ông thánh ông thần, hai đứa con gái mỗi đứa một tật, hai thằng con trai càng lớn càng lêu lổng, học đã không ra gì lại có tính ăn cắp vặt. Vậy mà người mẹ cứ thản nhiên như không. Ðàn bà gì lại vô lo vô nghĩ đến thế. Tôi hỏi chị: "Ông bà nuôi con như cỏ dại, cứ mặc nó tự ăn tự lớn không dạy dỗ gì cả sao?" Chị nói: "Làm có chúa, múa có trống, một mình tôi dạy con ở quê thì được, chứ dạy con ở tỉnh biết dạy những gì". Tôi nói: "Dạy con ở quê mà dễ à?" Chị nói: "Dễ lắm chú ạ, cổ lệ đã sẵn có, cứ theo thế mà làm".

    Chiến tranh ngày một gay gắt, các gia đình trong dãy tôi ở mỗi nhà mỗi phương, thi thoảng mới có người về quét dọn qua quýt, ngủ lại một đêm, sáng hôm sau lại đạp xe đi sớm. Lần nào tôi về đi qua nhà chị Vách đều thấy sáng đèn, ngủ được một giấc dậy đi tiểu, nhìn ra cái sân chung phía sau vẫn thấy chị cầm cái đèn con bước ra bước vào như không hề ngủ. Với chị chẳng có chiến tranh, chẳng có bom đạn, mọi tâm trí đều hướng về ông chồng đau yếu ở một nơi, và sự chi tiêu cho lũ trẻ ở một nơi. Chị không có ý thức về sự tồn tại của chính mình, chị quen sống trong phục tùng, trong phụ thuộc. Chồng không tính được thì trời tính, còn chị chỉ làm thôi, làm không biết đến mệt nhọc, đến đau ốm, đến nguy hiểm. Có hai năm tôi dọn tạm về Lò Ðúc ở nhờ nhà thằng em, không về Phúc Xá một lần nào. Ðầu năm 73, đất nước tạm thời ngưng bom đạn, tôi lại trở về nơi ở cũ, mới được biết ông trung tá chồng chị Vách đã mất. Ông bị tai biến mạch máu não phải nằm liệt tới một năm mới mất.

    5

    Ông trung tá mất, gia đình chị Vách hầu như chẳng có gì thay đổi, tuy sự chi tiêu có bị thiếu hụt khoảng năm sáu chục bạc là cái phần lương ông chồng dành cho gia đình. Xưa nay nhà ấy chỉ có người làm người ăn mà không có người chỉ huy. Người chỉ huy luôn luôn là cái hoàn cảnh, cứ tùy thời mà ứng phó. Cái được cái mất hoàn toàn phụ thuộc vào phúc phận của gia đình chị, sự may rủi của từng người và mỗi ngày. Như cây cỏ phụ thuộc vào thời tiết. Chị khoe với tôi: "Tôi vừa được một món tiền lớn chú ạ, nhưng là ăn cắp của chính phủ". Tôi cười: "Ðã ăn cắp lại còn khoe". Chị kể, cái bữa đến phòng Thương binh - xã hội của Hà Nội làm lương tử tuất thì anh cán bộ lại đưa luôn cả tiền truy lĩnh hai tháng lương của ông chồng sau khi mất. Số tiền đó chị đã cầm một lần rồi do cơ quan của chồng đưa. Là cầm hai lần tiền, những sáu trăm bạc. Chị nói: "Tự giác trả thì tôi không trả vì nhà túng quá, nhưng tiêu ngay cũng không dám, nhỡ họ nhớ ra đòi lại thì mình vẫn còn tiền". Ðứa con gái lớn đã hăm nhăm tuổi, cao ngỏng cao ngòng, vừa gầy, vừa đen, mặt mũi vẫn lầm lì. Nó xin được làm công nhân cho một tổ hợp dệt ở phố Hàng Quạt. Con em nó mang tật từ nhỏ đi một bước nhảy một bước, người lệch hẳn một bên như con chim sẻ xõa cánh, ở nhà cơm nước lợn gà. Thằng con trai đầu đã mười bảy tuổi, bỏ học nửa chừng, theo bạn đi buôn, vốn liếng của nhà, lúc trở về vốn mất đằng vốn lãi mất đằng lãi, lại nằm dài, ăn bám mẹ. Trong bốn đứa con may ra được thằng út, nó giống với số đông, không giỏi không ngu, đi học mỗi năm lên một lớp. Năm 75, cuộc chiến tranh dài ba mươi năm kết thúc, cả nước hòa bình, chị Vách thay áo cho chồng đưa hài cốt về quê. Ðúng một năm sau ngày cất mả bố thì thằng con trai lớn bị chứng động kinh. Ðang khỏe mạnh hẳn hoi bỗng dưng nó ngã xoài ra giữa đường mắt trợn trắng, miệng ngầu bọt. Rồi nó tỉnh lại, ăn uống đi lại như thường nhưng không nói nữa. Chỉ cười thôi. Mẹ nó khóc còn nó thì cười. Chỉ trong có một tháng người chị rộc hẳn, già hẳn, chị nhìn nó khóc: "Con thẳng da bụng mẹ chùng da mặt, nuôi con hai chục năm trời mà con trả công cha nghĩa mẹ thế này ư?" Nó nhíu mày như chợt nhớ ra một điều gì rồi da mặt lại dãn ra như đã quên hết, và nó lại cười. Mắt nó nhìn vẫn khôn, cái cười cũng khôn cứ như người giễu, thoạt gặp không thể tin thằng bé bị mất trí. Lại là đứa có gương mặt trí thức nhất nhà, vóc dáng cũng đẹp, hai bàn tay rất đẹp, bàn tay của anh trí thức chứ không phải của ông nông dân, mà lại điên, ông trời chơi khăm quá. Hai năm 76 và 77 các dãy xóm trong khu tập thể xôn xao những tính toán, những dự định để đổi đời, để thoát khỏi những thiếu thốn đã giày vò từng gia đình trong suốt mấy chục năm. Ðiện vẫn vàng vọt, nước vẫn nhỏ giọt nhưng mặt người đã rạng rỡ vì bao nhiêu hy vọng. Chỉ tội nghiệp chị Vách, chiến tranh hay hòa bình chẳng liên can gì tới số phận riêng của chị. Thằng con mà vợ chồng chị hy vọng nối được nghiệp nhà đã mất trí, đã hóa điên. Năm đầu thằng bé bị bệnh chị bán luôn đôi bông tai hai chỉ vàng để thuốc thang ở nhà. Năm sau bệnh vẫn không khỏi, chị phải đưa con đi trại điên ở Châu Quỳ. Nó ở có một tháng thì trốn về, về đúng nhà. Nó vẫn nhớ đường đi lối lại đâu có điên hoàn toàn. Suốt mấy năm hai mẹ con cứ vật lộn với nhau, con trốn về mẹ lại đưa sang, khóc lên khóc xuống, rồi van lạy, rồi gào thét, nó vẫn mủm mỉm cười, bất thần trở về, bất thần lẻn đi, người mẹ tả tơi như nắm giẻ cứ quay tròn quanh thằng con dại, quay mãi không có cách gì dừng lại được.

    6

    Ðã nhiều năm trôi qua, gia đình tôi không còn ở bãi Phúc Xá nữa, đôi ba năm có dịp về Hà Nội tôi lại xuống làng bãi thăm bạn bè và thăm chị Vách. Chị đã già nhiều, bảy chục tuổi còn gì, nhưng tóc vẫn đen, răng chưa rụng cái nào, đi lại nhon nhón. Người thế là khổ, các cụ vẫn nói thế. Thằng út đã lấy vợ, đã có một đứa con trai, vợ chồng nó lên một tầng lầu, còn nhà dưới dành cho mẹ và hai chị. Và một ông anh điên dại nữa. Tôi hỏi: "Chị chưa gả chồng cho cô nào à?" Chị cười: "Một con sếu vườn, một con chích chòe có chó nó lấy. Làm bà cô thôi chú ạ, hai con bà cô, một thằng dở người, phúc phận nhà tôi to quá". Tôi ngồi trên giường, lưng quay ra cửa, cứ nhột nhột như có ai đang nhòm mình, nhòm từ đỉnh đầu xuống. Tôi quay người, ngước mắt lên, cách đã mươi năm không gặp nhưng tôi vẫn nhận ra là nó. Nó nhìn tôi mỉm cười, nụ cười trắng ướt thật đẹp. Một chút ria hai bên mép. Tôi hỏi nó: "Còn nhớ chú Khải không?". Nó cười nụ: "Nhớ". Bà mẹ nói: "Lắm lúc nó ăn nói đến là khôn, được vài câu lại dại rồi!" Tôi lấy bao thuốc mời: "Cháu hút nhé?" Nó cười, bước vào ngồi trên cái ghế thấp vừa hút thuốc vừa nhìn tôi đăm đắm, cái nhìn rất âu yếm làm tôi muốn chảy nước mắt. Tôi nói : "Bệnh tình của nó xem như đỡ nhiều, chị nhỉ?" Chị thở dài sườn sượt: "Nặng hơn nhiều chú ạ, những năm trước chỉ ngớ ngẩn chứ không lên cơn, năm nay mỗi lần lên cơn xé cả quần cả áo, chạy nhông nhông ở ngoài đường. Thằng em nó phải lấy dây xích khóa chân khóa tay lại". Chị nói, cả nhà này nó chỉ sợ có thằng em, thằng em bảo sao là nghe vậy, không nghe nó đánh, nó có võ mà.

    Ðêm đó tôi ngủ lại đất bãi, làng quê thứ hai của tôi. Sáng hôm sau tôi đạp xe đi từ rất sớm. Những ngày cuối chạp vừa mưa vừa rét, nhầy nhụa, tối đen. Tới khúc ngoặt một bên là hồ nước, một bên là rẻo đất trồng mía ven sông, gió lạnh quất vào mặt rát như roi đánh, thì có tiếng gọi giật: "Chú Khải đã đi sớm thế!" Chị Vách ngồi bán xôi ngay ở rìa đường, dựa lưng vào tấm liếp che cửa của cái quán bán nước. Tôi dựng xe ngồi sụp xuống, nói: "Chị cho em một bát". Gạo rất thơm, hạt lạc tròn mẩy, vừng rang nhạt và ngậy, bát xôi năm trăm bạc đơm đầy đặn thế thì lời lãi bao nhiêu. Chị nói: "Cũng có lời chút ít thì hai mẹ con mới nuôi nổi nhau. Lương hưu tôi một tháng chỉ có hai chục ngàn". Tôi hỏi: "Còn chúng nó?" Chị nói: "Anh em kiến giả nhất phận, thân ai nấy lo chú ạ". Tôi lại hỏi: "Một mai chị đi theo anh thì ai nuôi nó?" Chị lại thở dài: "Nếu cái nghiệp nó nhẹ thì nó chết trước tôi, tôi còn chôn cất ma chay được, còn nó chết sau tôi thì chiếu bó thây vùi thôi". Rồi chị òa khóc, chị gục đầu lên gối mà khóc, khóc tấm tức, khóc ai oán. Chị đã yếu thật rồi, đã nản thật rồi, đã muốn buông xuôi tất cả. Chị lấy gấu quần lau nước mắt, nói mếu máo: "Chung quy là tại tôi cả chú ạ, tôi ngu đần, vụng dại nên con cái mới ra nông nỗi này, nếu như ông ấy còn sống...". Vâng, tại chị cả, trăm tội, ngàn tội phải đổ lên đầu chị, nếu ông chồng siêu đẳng của chị còn sống thì chúng nó đâu đến nỗi... Tôi nôn thốc miếng xôi ra, cổ họng tắc nghẹn lại, chính tôi, tôi cũng muốn bật khóc.

    Mùng 2 Tết Canh Ngọ
     
  6. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Ðối mặt

    Nguyễn Hồng Thái

    Ðồn rằng hắn là một thằng cướp khá kỳ quặc. Có lần toán cướp ba thằng do hắn chỉ huy chặn cả một xe khách biển trắng. Hơn bốn mươi hành khách mặt cắt không còn một giọt máu khi nhìn hắn tay súng, tay thuốc nổ, mắt đảo nhanh như điện, miệng nhoẻn cười không thèm quát hay dọa nạt lời nào. Sau khi cầm khóa điện, vứt bao thuốc Vi-na cho lái xe, hắn nói giọng nửa nam nửa bắc.

    - Tụi tôi khuyên mọi người không nên chống cự mà thiệt mạng - Rồi hắn lách từ đầu xe đến hàng ghế cuối cùng hất hàm hỏi - Những ai là cán bộ đi công tác thì đứng dậy, tụi này có chế độ riêng.

    Bốn người đàn ông trung niên, ba cô gái, sáu người luống tuổi rụt rè đứng dậy. Hắn hỏi từng người làm gì, quê quán và đi công tác ở đâu. Hắn yêu cầu mười ba người trên tháo nộp cho hắn nhẫn vàng, lắc vàng, khuyên tai. Hắn bảo đây là những thứ dự trữ của từng người trong khi có nhiều người đang rất cần hằng ngày. Một chị phụ nữ làm bên thuế vụ sợ quá, tháo luôn cả đồng hồ Sen-kô Phai đưa thì hắn bảo: "Không, cô cứ giữ lấy đồng hồ. Cái ấy rất cần cho các vị. Tụi này không cạn tình đến như vậy". Riêng tiền mặt, hắn cho hai thằng đàn em tận thu được đến gần hai mươi triệu. Sau đó hắn "lại quả" cho mỗi người một trăm, nói rằng để các vị còn ăn đường và quà cáp cho ai đó. Riêng những người buôn thúng bán mẹt, hắn cho qua.

    - Xong rồi. Cho xe chuyển bánh! - Hắn giục lái xe đang sợ xanh cả mắt.

    Trước khi nhảy xuống xe, hắn còn ra đòn trấn áp. Câu này hắn dành cho hành khách:

    - Nếu công an Quỳ Hợp hỏi: Các vị cứ nói tôi là "Cung cùng đường". Nhớ đấy.

    Xe chuyển bánh đến chừng hai cây số. Ai đó thốt lên "Sống rồi!".

    Lần khác toán thằng Cung chặn hẳn một xe U-oát biển số Nhà nước. Lần này thằng Cung khoác hẳn một khẩu AK báng gấp. Hắn lại tận thu hết tiền của bốn người thuộc Viện Kiểm sát huyện đi về tỉnh để xin tiền xây trụ sở. Lúc bọn đàn em lật ghế ngồi lên, thằng Cung phát hiện có đến năm cân thuốc phiện. Lạ thay thằng Cung không vui tí nào, hắn quát:

    - Từng này thuốc phiện nếu theo pháp luật bắn cả năm vị một lúc mới hết có ba cân. Còn hai cân bắn vào đâu? Nào xuống xe xếp hàng ngay đi.

    Người lái xe run rẩy đứng ra nhận tội. Thằng Cung tát hai cái khiến tay lái xe té vào vách núi hộc cả máu miệng. Theo lệnh hắn, bọn đàn em nổi lửa.

    - Cái này, chắc các vị đồng ý với tôi là ta thiêu luôn. Còn mày - Hắn chỉ vào lái xe - Muốn sống thì gập người xuống lạy các anh bên Viện Kiểm sát đi. Nếu tao không bắt được về đến Nghĩa Ðàn thể nào công an huyện cũng cho tất cả mọt gông. Ðúng là oan gia.

    Hắn thả cho cả đoàn đi.

    Xe đi, vì tay lái run quá đâm vào núi hỏng máy phải chờ suốt cả một ngày giữa đường nhựa nóng bỏng mới có xe tải đi qua kéo hộ.

    Công an tỉnh đã nhiều lần cử đội đặc nhiệm, hình sự vây ráp, nhưng chưa phát hiện tăm hơi thằng Cung. Tỉnh cử trinh sát đóng giả nhử thằng Cung vào tròng nhưng hắn lặn không sủi tăm. Tỉnh về bản hỏi dân, già làng lại khen thằng Cung tử tế. Chết thật. Dân bản kể, nếu bản có đám cưới, thằng Cung gửi quà về mừng. Bao giờ hắn cũng đề ngoài phong bì là "Cung cùng đường". Hồi nọ vợ chồng trưởng bản có đứa con duy nhất bị lũ cuốn, toán thằng Cung gửi đến một dây chuyền vàng dễ đến năm chỉ để giúp. Ngay hôm đó, sợ quá trưởng bản đem nộp cho chủ tịch xã. Chủ tịch gói lại đem đến trụ sở cất vào tủ cẩn thận. Nhưng đêm đó toán thằng Cung đột nhập đòi lại ngay. Có người nghe toán thằng Cung nhắn lại: "Ai không cần thì thôi, Cung đây sẽ phân phối lại".

    Ðến hỏi một bản khác, trưởng bản nói cách đây một tháng toán cướp thằng Cung nửa đêm vào cướp một nhà giàu trên thị trấn. Chủ nhà là một đàn ông lực lưỡng giỏi võ nghệ, một mình đánh nhau với hàng chục thằng cướp. Tụi cướp đã bắn chết người đàn ông này, nhưng sau đó chúng bí mật mang trả toàn bộ của cải. ở thị trấn đã xảy ra hơn chục vụ cướp như vậy. Dân bảo là cũng toán của thằng Cung cả thôi. Hắn cướp toàn nhà giàu.

    Qua rất nhiều nguồn tin, công an tỉnh nhận định rằng, toán cướp của thằng Cung đã vượt ra ngoài những vụ cướp thông thường theo góc độ hình sự. Thanh niên nhiều bản đã gia nhập toán cướp này. Số thanh niên này thường ngày thì sống ở bản, lúc cần lực lượng để cướp vụ lớn thì thằng Cung mới cho người về huy động. Như vậy bọn thằng Cung đã là nửa cướp nửa phỉ. Thằng Cung có uy, biết mua lòng người rất giỏi. Hắn từ thiện cho nhiều nhà nghèo nhưng luôn giấu mặt. Chả thế mà bao nhiêu lần công an tỉnh tổ chức mật phục ở nhiều bản, nhưng mọi động tĩnh đã có người báo hết cho thằng Cung.

    Thế là những ngày đó thằng Cung lủi vào hang moi của dự trữ ra ăn dần. Nhiều con gái đẹp ở bản lại mê hắn, theo hắn vào hang dâng hiến cho hắn một cách tự nguyện. Khi về bản còn kể cho nhau cười khúc khích...

    Thằng Cung trước đây là một công nhân phọt phẹt của lâm trường Sông Hiếu. Chuyện hắn trở thành tướng cướp có liên quan đến ông giám đốc lâm trường này. Lúc hắn là đội trưởng đội bảo vệ thì hắn quả là một anh hùng hảo hớn. Cánh buôn gỗ mời bia là hắn uống, mời thuốc là hắn hút, nhưng đố tay nào đưa gỗ ra khỏi cửa rừng. Ngày ấy lâm trường có hàng ngàn mét khối gỗ. Khi có lệnh đóng cửa rừng thì đống gỗ trở thành đống vàng. Cánh lâm tặc không mua được thằng Cung bèn tuyên bố:

    - Mày thích thì cho rượu thịt chó. Mày không thích thì để thứ ấy cho giám đốc. Ðời mày thế là bốc đất rồi con ạ!.

    Thằng Cung ức lắm. Nhưng nghĩ thân phận là thằng bảo vệ, số trời sinh ra đóng ở cung nhường nhịn, đâu được quyền hách với ai, tranh đấu với ai. Thế là ngậm miệng. Nhưng ông trời lại cạy miệng hắn ra. Giám đốc ra lệnh xuất gỗ. Hắn mở cổng mà tứa cả máu mắt. Những cái xe tải vào ra cố tình xả khói dầu ma-dút vào mắt hắn cay xè. Hắn nghiến răng kèn kẹt. Thế là miệng há ra, cãi nhau với giám đốc. Một bữa, giám đốc gọi hắn lên phòng quát:

    - Này, nói cho chú mày biết. Thời thị trường này không có dân chủ đâu. Thích lý sự thì về quê chăn vịt, cãi nhau với vịt. Nhé! Tao đây này. Một tại chức, một chuyên tu chẳng gấp vạn cái đít-lôm thời bao cấp của mày à. Tao học chán thầy rồi, chẳng cần chú mày dạy thêm.

    Thằng Cung cứng miệng phải mượn cái bút viết đơn kiện. Ông bố ở quê nhắn người lên dặn: "Phải làm tới cùng, trắng đen cho rõ cái mặt bọn tham nhũng. Nhỡ có làm sao về quê bố nuôi". Bố thằng Cung cũng là giáo làng, được cái trong sạch nhưng nhiều người bảo là hâm. Giám đốc gọi Cung lên bảo:

    - Cho cậu nghỉ ba tháng nguyên lương để đi kiện. Sang tháng thứ tư, kẻ nào thua thì đi khỏi lâm trường này.

    Cung hiểu đây là keo vật cuối cùng liền về tỉnh đi kiện. Sau ba tháng lên lâm trường thì đống gỗ ngày trước không còn một cây mục nào. Ðau đớn, Cung chạy lên gặp ông giám đốc. Ông giám đốc vứt toẹt cái quyết định buộc thôi việc vào mặt Cung kèm theo một câu nói mà chỉ ở miền quê ấy mới có:

    - Cả họ nhà mày ngu!

    Máu nóng bốc lên. A ha! Nó dám động đến dòng tộc nhà ta à? Số trời thế mà sai, thằng Cung đâu có nhịn mãi. Nó nhảy tới. Hai bên đu đẩy, đầu giám đốc tóe máu. Có tiếng kêu thất thanh: "Gọi công an mau lên!". Có tiếng xe xít-đờ-ca. Thằng Cung bỏ chạy. Tối hôm đó, đã khuya lắm, thằng Cung mò vào nhà giám đốc tuyên bố: "Tôi sẽ chơi với ông bằng một thứ luật khác. Ông phải khuynh gia bại sản". Giám đốc gọi điện thoại cho công an. Cung biến vào đêm tối mênh mông của rừng đại ngàn...

    Thằng Cung trở thành cướp từ ngày ấy. Hai tháng sau, hắn dẫn quân về cuỗm sạch tiền, của... trong nhà giám đốc, chỉ để lại ít gạo muối cho bọn trẻ. Tưởng đã xong mối thù cũ nhưng dẫu sao một tay thằng Cung đã nhúng chàm mất rồi. Thế là hắn trượt dài rồi vấy tay kia vào máu...

    Ðã sáu năm nay, toán cướp của thằng Cung có khi lên tới hàng trăm. Cả một con đường huyết mạch bị bọn này khống chế, dân quanh vùng, cán bộ đi công tác lẻ sợ hết vía. Sự tồn tại của "Cung cùng đường" trở thành sự thách thức đối với công an tỉnh. Ta đánh cơ sở vào được biết hiện thằng Cung đang sai đàn em tìm dấu vết ông giám đốc cũ. Sau khi bị mất chức, ông ta bí mật đưa cả gia đình đi đâu không ai biết. Thằng Cung bảo chỉ cần giáp mặt tay giám đốc một lần nữa. Thế là đủ. Ðủ là như thế nào không ai rõ.

    Nhiệm vụ Bộ giao phải bắt sống bằng được thằng Cung, từ đó mới có thể bóc dỡ hết cơ sở tay chân của nó. Muốn vậy phải tìm được tay giám đốc ngày xưa, nhử thằng Cung đến đấy mà bắt. Hiềm một nỗi sau khi rời lâm trường vào miền nam, tay giám đốc bỏ luôn vợ con trong đó. Nghe nói, một mình ông ta chạy ra Hà Nội mua nhà sống với bồ nhí. Nhưng Hà Nội rộng lắm, sống bất hợp pháp tìm còn khó hơn tìm chim. Nhưng chả nhẽ cả một nghìn người mà lại chịu thua trí một thằng cướp. Tương kế tựu kế, một kế hoạch vạch sẵn nhử thằng Cung rút chân khỏi vùng sơn cước. Hắn đã từng thề phải cắt gân thằng giám đốc cũ. Khát vọng trả thù đẩy một người hiền như cục đất, óc có mấy lạng trở thành tên cướp gian ngoan xảo quyệt...

    Ngồi ở phòng, hai trinh sát tăng cường ở Nghệ An ra, rủ rỉ, kể cho Ðinh nghe như vậy, bởi họ biết Ðinh là đồng hương. Công an Nghệ An khẳng định thằng Cung đã trúng kế, và đã lên xe ra Hà Nội tìm giám đốc cũ theo địa chỉ mà ta cho cơ sở tung vào sào huyệt. Ðinh nghe một cách dửng dưng, nghĩ, dân gian thường tô vẽ những chuyện hiếu kỳ để kể cho sướng cái tai. Tuy vậy, anh cũng thấy thời buổi thị trường tội phạm ở ta cũng biến thiên một cách khó hiểu không thể đoán trước được. Người tử tế hôm qua phút chốc giết người một cách vô cớ. Rồi xuất hiện những chàng Lía hiện đại chuyện ăn cắp của người giàu vứt cho kẻ nghèo hèn. Ðứa trẻ con mới lớn, và ông già trước khi xuống lỗ tự nhiên cũng làm những chuyện vô luân. May mà Nhà nước cấm tàng trữ vũ khí chứ nếu để thả cửa mua bán súng đạn như phương Tây, thì tội phạm sẽ mọc lên phức tạp, dã man đến mức nào...

    Có tiếng điện thoại. Ðinh nhấc máy. Ðầu dây bên kia, giọng trưởng phòng ra lệnh:

    - Ðinh hả. Cho hai trinh sát Nghệ An ra đây ngay. Còn cậu, cho cậu nghỉ. Mới đi Yên Bái về, giữ sức không quỵ đấy. Báo động toàn phòng nhé. Thông báo, thằng Cung cắp một đứa trẻ con chạy ra hướng sông Hồng.

    Ðinh đặt ống nghe. Chưa kịp thông báo thì tiếng chuông lại réo. Ðầu dây bên kia tiếng nói khẩn trương:

    - Nghệ An đây! Hà Nội hả? Ai đó? Lấy giấy ghi bổ sung ngay. Thằng Cung tên thật là Nguyễn Văn Bôn, con giáo học, xóm Dàn, làng Yên...

    Bôn..., con... giáo học, xóm chợ Dàn, làng Yên... Ðinh lẩm bẩm. Thôi bỏ mẹ rồi. Cung cái phải gió, cái thằng Bôn chó chết. Cái thằng bạn học cùng làng với mình.

    Ðinh nhanh chóng dẫn một tốp lính trẻ phóng xe ào đi ra hướng bờ sông. Trời đã tối từ lúc nào.

    *
    * *

    Vứt xe, Ðinh chạy một mạch tới Ban chỉ huy đang túm tụm bên gốc cây xà cừ. Tiếng trưởng phòng:

    - Khép chặt vòng vây. Không được bắn! Thư đâu, đưa loa đây. Rồi, bật lên!

    Lại tiếng trưởng phòng:

    - A lô! A lô! Anh Cung nghe đây! Anh không được làm gì đứa bé. Ðằng nào anh cũng không thể thoát, đầu hàng đi! A lô! A lô!...

    - Ðoàng!

    Thằng Cung trả lời bằng một phát đạn.

    Trưởng phòng tắt loa chửi: "Sư bố nó!".

    Thỉnh thoảng tiếng loa vang lên.

    Ðáp lại chỉ là tiếng súng phát một như A.K điểm xạ. Hai trinh sát Nghệ An chạy lên thở hổn hển. Trưởng phòng đang sốt ruột thấy Ðinh lên, quát lớn:

    - Ông lên đây làm gì. Khổ quá. Ðã bảo ở nhà. Thôi về đi! Ðinh tiến gần trưởng phòng nói nhanh:

    - Nghe tiếng súng tôi biết thằng Cung chỉ còn một vài viên thôi. Anh để tôi lên nói chuyện với nó.

    - Nói chuyện! - Trưởng phòng đai dài - Không được ! Nó khử cậu ngay. Không được đâu. Thôi... thôi!...

    Vẫn tiếng Ðinh:

    - Nghệ An vừa gọi ra nói trích ngang thằng Cung anh ạ. Bây giờ tôi mới biết thằng Cung là bạn học cùng làng với tôi. Tên thật của nó là Bôn, anh cứ để tôi lên...

    Tất cả cùng im lặng. Trưởng phòng đi đi lại lại. Hình như có tiếng kêu nhói đau của đứa trẻ. Giọng trưởng phòng trầm xuống:

    - Ðến nước này thì tùy cậu.

    Ðinh bật loa gọi:

    - A lô, a lô, Bôn ơi! Tao là Ðinh đây. Ðinh con cô giáo Thụ ở làng Yên đây. Bôn ơi! Bôn ơi! Nghe rõ không? Tao là Ðinh đây! Tao muốn gặp mày để nói chuyện. Nghe rõ không?

    Sau tiếng loa, không có tiếng súng đáp lại. Hình như thằng Cung nhận ra tiếng Ðinh. Ðinh vứt loa, bấm đèn pin chạy lên phía trước. Vừa chạy vừa gọi: "Bôn ơi, Bôn ơi! Ðinh đây, Ðinh đây!". Ðinh cứ nhằm hướng có tiếng súng nổ mà lao tới. Ðược hơn trăm mét Ðinh bỗng nghe tiếng quát:

    - Ðứng lại! Thằng Ðinh!

    Ðinh thở hổn hển:

    - Mày đấy... ư. Hả... Bôn?

    Thằng Cung giật giọng quát:

    - Mày quay lại ngay! Không tao bắn!

    Tiếng Ðinh nói vào bóng đêm:

    - Thôi! Tao không quay lại đâu. Mày muốn làm gì tao thì làm. Chỉ xin mày thả con bé ra. Nó bằng tuổi con tao ở nhà. Ðây! Mày hãy nhìn rõ mặt tao đây.

    Nói rồi, Ðinh bấm đèn pin vào khuôn mặt mình. Mắt hơi nheo lại. Chắc thằng Cung nhìn thấy rất rõ khuôn mặt hơi rỗ của Ðinh. Thằng Cung hạ giọng xuống:

    - Uổng quá! Quá uổng! Mày ngu, mày xông lên trước hòn tên mũi đạn; mày xông lên trước mũi súng của tao! Khờ, khờ... khờ lắm! Sau lưng mày là ai hở Ðinh? Là sếp của mày với nhà cao cửa rộng. Sau lưng mày, hậu phương của mày là ai? Là vợ con mày không một tấc đất cắm dùi. Sao để vợ mày phải khổ. Mày thừa biết điều đó chứ? Người ta đẩy mày vào chỗ chết mà mày không chịu hiểu. Giỏi lắm. Nào. Mày bước lên đi!

    - Tao sẽ bước lên. Nói trước với mày câu này. Mày không được giết đứa trẻ. Viên đạn cuối cùng mày cứ nhằm vào trán tao mà bắn. Rồi mày bỏ chạy đi. Nhưng mày phải hiểu: Chẳng ai, ngay cả sếp của tao cũng không thể đẩy tao lên trước mũi súng.

    - Tao hiểu. Vợ mày sẽ đeo vành tang trắng. Con mày được hưởng tiền tuất. Và sau đó, vợ mày thành vợ người ta, con mày thành con người ta. Có phải như thế là hy sinh đời bố để củng cố đời con không Ðinh? Chua chát hay ngọt bùi đây?

    - Tao bất ngờ vì mày lọc lõi và nghiệt ngã quá. Ðúng! Nếu tao buộc phải chết thì tao hy sinh để củng cố đời con. Ai dạy mày nói về những đồng tiền tuất. Anh trai mày, chú ruột tao cũng hy sinh ở Tết Mậu Thân thành Huế, chẳng nhẽ để bố mẹ mày, để bà nội tao hưởng số tiền ấy ư? Với tao, chỉ cần sau này con gái tao lớn lên, nó biết rằng bố nó vì nghĩa hiệp mà xông lên như một anh hùng. Như anh trai mày, như chú ruột tao. Chỉ cần thế là con gái tao sẽ có đủ bản lĩnh để đối chọi với cuộc đời thời mở cửa này.

    - Mẹ ơi...ơ...i! - Tiếng đứa trẻ rấm rức... Ðinh nhói đau.

    - Im ngay!

    Và gió thổi hun hút. Sóng tràn vào bãi lầy ì oạp. Ðinh thấy nóng ruột tiến lên một bước.

    - Ðứng lại!

    - Ðoàng!

    - M...ẹ...ẹ ới... ới. - Tiếng đứa trẻ.

    - Thằng Bôn... Bôn... B...ô...n! - Tiếng Ðinh.

    Chỉ còn lại màn đêm và tiếng con chim kêu oang oác ngang trời.

    Cả tiểu đội ào ào lao lên. Tiếng í ới thúc giục, tiếng ùm ùm rút chân trên bãi lầy. Ðinh trúng đạn rồi ư?

    ánh sáng đèn pin loang loáng. Người ta phát hiện cả người Ðinh cựa quậy nằm trùm lên tấm thân bất động của đứa trẻ. Trời ơi! Có tiếng kêu thất thanh, thằng cướp giết đứa trẻ rồi! Bỗng Ðinh ngồi bật dậy. Ðứa trẻ nhoài theo ôm lấy cổ anh mà khóc rưng rức. Mọi người đổ xô đến. Ai đó bế thốc đứa trẻ lên. Ai đó sờ nắn khắp người Ðinh. Anh nói trong hơi thở mệt nhoài: "Không sao cả".

    Còn thằng Cung, không hiểu nó biến hóa kiểu gì. Mất hút!

    *
    * *

    Gần Tết, Ðinh chuẩn bị đưa vợ con về thăm quê thì nhận được bức thư từ Nghệ An gửi ra. Thư không dán tem, vợ Ðinh phải trả cho nhân viên bưu điện số tiền phạt gấp ba lần giá một con tem trong nước. Sợ ở quê bố mẹ Ðinh có mệnh hệ gì nên anh bóc rất vội. Thật bất ngờ. Thư thằng Cung. Chữ hắn viết nguệch ngoạc: "Ðinh. Mày hiểu cho tao. Tao không muốn rơi vào tay mày trong cái đêm nghiệt ngã ấy. Ðể mày không phải mang tiếng với làng xóm, với người đời rằng mày cố bắt bạn mình để lấy thành tích. Mấy chục năm gặp lại, mày được lắm.

    Tao tự đến nhà giam vì hiểu lẽ đời có vay có trả. Việc tao tự thú chẳng liên quan đến mày; cũng chẳng liên quan đến thằng đếch nào cả. Mày không nên nói với ai về lá thư này. Thôi. Vĩnh biệt".

    Sững sờ, đút thư vào túi áo, tự nhiên Ðinh lẩm nhẩm, đúng cũng chẳng nên kể cho ai biết chuyện này.
     
  7. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Rừng Mắm

    Bình Nguyên Lộc

    Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói từ nãy đến giờ, chờ đợi cái phút này đây.

    Thật là huyền diệu, sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.

    Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rơi xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá nhỏ.

    Cộc ngửa mặt lên trời để theo ông câu kỳ dị và tài tình ấy nữa, nhưng mắt nó bị ngọn dừa nước bên kia bờ rạch níu lại.

    - Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá.

    Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cá, từ ông nội nó đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn nước.

    Màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão có sầu não là ngang vai thôi, cái bền chí nhìn rất dễ mê, nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng chài trông thấy con mồi.

    Thặng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, chỉ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là vì đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép vó hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mộ cách đây năm năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng.

    Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với.

    Nhưng không hiểu sao một hôm, tía má nó bán chiếc chòi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa bé mười tuổi kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con, rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng này đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người này mà ông nội nó đặt tên là xóm ổ Heo.

    Nghĩ đến những năm cũ, thằng Cộc bỗng nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm.

    Những người di cư năm nọ trên chiếc xuồng cui, vẫn còn sống đủ cả. Những chiều nghi ngút sương từ đất lầy bốc lên, và những đêm mưa gào gió hú, những người ấy thường kể chuyện cho Cộc nghe, những chuyện ma, rợn óc như ăn phải trái bần chua. Nhưng dầu sao, Cộc cũng thích người khác hơn, cũng như nó thích vườn tược sầm uất hơn cảnh rừng tràm tối mịch hoặc cảnh đồng không bát ngát ở đây. ở đây, cho đến tiếng chó sủa, tiếng gà gáy nó cũng không nghe từ lâu. Con chó săn và mấy con gà giống mang theo đã ngã lăn dùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới. Thặng Cộc ngạc nhiên mà thấy sao người vẫn không chết trong khí hậu tàn ác nầy: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy.

    Chưa bao giờ mong mỏi của Cộc được thỏa mãn mau lẹ như hôm nay. Nó vừa thèm người thì tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng rậm, rồi tiếp theo đó là tiếng chèo khua nước:

    Hờ ơ... tháng ba cơm gói ra hòn.
    Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang mai.


    Mũi xuồng cui ló ra khỏi khúc quanh của con rạch, và trên xuồng chồng chèo lái, vợ ngồi không trước mũi mà hò. Cặp vợ chồng này Cộc quen mặt mấy năm nay, nhưng không biết họ từ đâu đến. Nó chỉ biết họ ra biển để bắt cua và ba khía, một năm mấy kỳ. Nghe tiếng người lạ nói, nhứt là nghe hát, Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về.

    Thà là không được ăn, chớ còn ăn một chút xíu thì cái vị của món ăn còn chọc thèm hơn bao giờ cả. Nên chi Cộc nhìn xuồng chèo khuất dạng thì xây lưng tức khắc để chạy lên ổ Heo.

    Trọn vùng này, ông nội nó đã đặt tên là ổ Heo nhưng riêng trong gia quyến nó thì ổ Heo chánh hiệu là một cái gò xa ở tận trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú.

    Số là hồi trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đã gặp nơi đó một cái ổ heo rừng.

    Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và canh tác của gia quyến nó về sau này đã đuổi thú dữ đi xa. Tuy nhiên, đề phòng chúng trở về, ông nội nó đã cấm nó lên ổ Heo một mình.

    Thằng Cộc lại thích lên đó, ban đầu chỉ vì ổ Heo có sức quyến rũ như một trái cấm. Nhưng về sau, nó đã gặp người ở nơi đó.

    Ðó là vài người đờn ông và đờn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông, đờn ông thì đến để gác cuốc, gác nhan sen, còn đờn bà thì để nhổ bồn bồn về làm dưa bán.

    Ðó là những người bạn bí mật của nó, nó giữ kín không cho nhà nó biết. Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại tất cả sanh hoạt của làng mạc từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như nhớ những kỷ niệm xa xôi.

    Cộc chạy qua khỏi ruộng nhà, và đứng lại nghỉ mệt. Nó mệt lắm vì nó chạy dưới nước và dưới bùn mặc dầu lúa đã đến mùa gặt.

    Năm xưa, gia quyến nó đến đây vào cuối tháng giêng, sau khi cúng ông vải xong ở quê cũ.

    Ông nội nó với tía nó đốt rừng tràm từ ngoài bờ rạch. Gió thổi vô rừng và lửa như con vật khổng lồ, đã táp một cái vào khối thịt xanh um của biền rừng tràm này. Thành ra ruộng nhà nó mang một hình tròn kỳ dị, không tròn đều đặn vì không ai chỉ huy được sự cháy rất là rắn mắt của ngọn lửa.

    Cộc nhìn ruộng mình một hơi rồi cười khan lên. Ðám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu tóc trẻ con được mẹ cạo, nhưng mới cạo có một mảng thì có chuyện gấp, bỏ dở công việc, đứa bé bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp.

    Lúa ruộng chín, cây lúa cao quá, ngã rạp xuống để lòi trăm ngàn gốc tràm lên, trông như ai đóng cọc để cất nhà sàn; năm xưa đốt rừng nhưng không đủ sức đánh những gốc tràm tươi rói không cháy được nầy, tía thằng Cộc dành cấy lúa giữa những gốc ấy, mãi cho đến ngày nay mà gốc vẫn chưa mục. Tía nó nói mười năm nữa tràm chết cũng vẫn còn đưa cẳng lên như vậy.

    Sau lưng Cộc là những rặng tràm bị cháy sém dưới trận lửa khai hoang, không chết ngay, nhưng "Chết Nhát", cứ mỗi năm chết lần mòn thêm vài mươi cây. Mấy hàng tràm đầu nám đen và trụi nhánh như cột nhà cháy, căm hận nhìn chiếc chòi lá xa tít mù dưới mé rạch đang chứa chấp kẻ thù đã lấn đất của chúng, đã sát hại chúng.

    Sau đó, rừng chàm dày mịt, chằng chịt những dây bóng bong, dây choại bò từ thân cây nầy qua thân cây khác.

    Thằng Cộc lắng tai nhưng không nghe tiếng động nào cả. Nó đánh bạo chen qua những cây bình bát, cây rán, mọc xen với tràm, để đi tới đích.

    Một ổ chồn cộc bỗng chạy qua trước mặt nó khua lên một cái roạch, làm nó giựt mình, nhưng tiếng người trên ổ Heo cách đó chừng hai hàng cây giúp nó vững dạ.

    Tiếng đờn bà hỏi:

    - Anh hổng sợ thằng Mùi hay sao?

    Tiếng đờn ông đáp:

    - Thằng Mùi thì qua cho một loi là nhào hớt.

    Cộc vẹc cỏ, lá, đi mau đến đó và khi nó chun ra khỏi khối xanh thì hai người có mặt trên gò ổ Heo sợ hãi ngồi dang xa ra. Người đờn ông gác cuốc là người quen, người đờn bà nhỏ bên thì lạ hoắc. Chị này trẻ đẹp hơn tất cả những chị nó quen biết từ lâu.

    Người đàn ông trấn tĩnh lại ngay, ngoắc nó lại mà hỏi:

    - Muốn về trên hay không Cộc? Muốn thì đi theo chị Hai mầy đây, chị có một đứa em gái ngộ lắm.

    Trong khi thằng Cộc mắc cỡ đỏ tía tai thì chị đờn bà hỏi anh kia:

    - ở miệt này có người sao anh?

    - Chỉ có một nhà thôi. Mới tới đây chừng năm năm.

    - Quen hay lạ?

    - Lạ. Họ ở trên Sa Ðéc lận.

    Chị đờn bà an lòng, vui lại được và nói với Cộc để mua lòng kẻ đã bắt chợt việc thầm lén của chị:

    - Em của chị không bao giờ chịu về làm dâu một chỗ như vậy. Em có muốn thì phải ở rể thôi.

    Rồi hai người lớn cười ngặt nghẹo với nhau.

    Thằng Cộc mới mười lăm, nhưng cao lớn gần bằng người đàn ông kia. Mình trần của nó nổi u nổi nần những bắp thịt rắn như nắm bằng đất sét gắn vào đó rồi nung cho đen và cứng.

    Sự nẩy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong nó. Năm nay nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà. Nhưng sống cô đơn ở đây, nó không biết chuyện trai gái như vậy là xấu đến mức nào và phải có thái độ làm sao nên bối rối lắm.

    Chị đàn bà nắm tay nó, rị nó ngồi xuống bên cạnh chị, vỗ lên đầu nó rồi dỗ ngọt:

    - Chị không ăn thịt em rể chị đâu mà sợ. Mày mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa. Làm rể có công ba năm thì má chị gả con Thôi cho mầy liền. Nói thiệt đó mà.

    - Nó muốn trốn để theo qua dữ lắm, người đàn ông nói, nhưng nó còn ngại.

    - Ngại gì?

    - Thì lo sợ cái việc xa xôi, đất lạ đó mà.

    - Em nè, chị đàn bà lại hỏi, nhà có mấy người?

    - Bốn người.

    - Ai với ai?

    - Ông nội tôi, tía tôi, má tôi với tôi.

    - Làm mấy công đất?

    - Hồi đó bốn công, bây giờ mười công.

    - Gặt được mấy giạ mỗi mùa?

    - Tám giạ.

    Chị đàn bà cười ngất một hơi rồi day lại hỏi nhân tình:

    - Trời ơi, ruộng gì mà mười công đất chỉ gặt được có tám giạ thôi?

    Người đàn ông không cười, đáp:

    - Ðất nước mặn nào mới khai hoang cũng như vậy hết.

    - Rồi lấy gì mà ăn, em nhỏ?

    - Tía tôi đi đổi lúa thêm, ở đâu không biết, xa lắm.

    - Ðổi bằng gì?

    - Bằng cá khô. Với lại nhiều khi ăn rùa, ăn rắn trừ cơm. ở đây rùa nhiều như kiến. Ðốt rừng rồi đón trên đầu gio một cái là chúng nó lạch cạch chạy trốn, bắt không kịp lận.

    Chị đàn bà tỏ vẻ ái ngại một hơi rồi nói:

    - Nãy giờ chị nói chơi đó. Nhưng không biết tình cảnh của em, chị thật bụng thấy là em cần đi theo chị, hoặc theo anh đây cũng được.

    Chị ta với tay ra sau lưng lấy bầu nước ngọt, mở nút rồi ngước mặt lên trời, rót nước vào miệng. Chị nuốt ừng ực vài cái rồi nói:

    - Em có được ăn chè lần nào không?

    - Không, từ năm năm nay rồi. Cách đây một ngày đường không có nhà của ai cả, không có quán, tiệm gì hết. Với lại cũng không có tiền.

    - ở Sa Ðéc sao lại không vô Tháp Mười mà nhè xuống U Minh này?

    - Tui cũng không biết tại sao? ở Tháp Mười dễ chịu hơn hả.

    - Chị cũng không biết. Chỉ biết đất hoang ở Tháp Mười gần quê cũ của em hơn. Quê em ở Cao Lãnh hay không?

    - Gần.

    - Em có nhớ xoài Cao Lãnh hôn?

    - Tui lạy chị, đừng có nhắc chè, nhắc xoài nữa tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không biết món ngọt là gì. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo vì đất còn mặn quá. Năm nay một cây trổ buồng, chắc tui sẽ được ăn ngọt đấy. úy chà! Trưa rồi chắc tới bữa cơm, thôi tui về nhà, anh chị?

    - ừ về, mai mốt lại lên đây nữa nhá?

    - Xuồng anh chị ở đâu?

    - Dưới kia. Nhổ bồn bồn ở dưới ấy, nhưng lên đây cho khô ráo để ăn cơm trưa è mà! Em Cộc nè, em của chị ngộ lắm, trắng lắm nghe không?

    Chuỗi cười của hai người nhơn tình ấy đuổi theo lưng Cộc khiến cho nó trong giây phút không muốn về nhà nữa.

    Ra khỏi rừng tràm râm mát, mắt Cộc bỗng dưng như đổ hào quang trước ánh nắng tháng mười. Không khí bị đốt cháy đang rung rinh như nước xao, và nó tưởng chừng như mái lá nhà nó, đen thui dưới kia, sắp cháy đến nơi.

    Thằng Cộc về tới nhà, thì cơm trưa đã dọn.

    - Mầy đi đâu mà tới đứng bóng mới về? Má Cộc hỏi.

    - Tôi đi lượm lông chim lông ô.

    - Lông đâu?

    - Mà kiếm hoài hổng có.

    - Mồ tổ cha mầy, nhiều chuyện. Chim lông ô đời xưa chớ đời nay đâu còn nữa. Mai gặt nghe không? �n cơm khuya rồi xuống đồng chớ đừng đi đâu hết.

    Cả nhà lặng lẽ ngồi quanh mâm cơm, không ai nói với ai lời nào. Những người nầy, sống biệt tích ở đây lâu ngày rồi, đã gần biến thành á khẩu vì thói quen.

    Riêng thằng Cộc, sự cần nói của tuổi thơ đang lên mạnh lắm như cần chạy nhảy, cần ăn uống vậy. Câu chuyện hồi nãy trên gò ổ Heo khiến nó càng bắt mùi nói thêm, nên nín không được, nó hỏi ông nội nó.

    - Nội nè, hồi tôi mới tới, giữa mùa nắng, mình uống nước gì tui quên rồi?

    Nó hỏi như vậy vì nó vừa nhìn ra cái giếng bên hè và nhớ ra là giếng đã ngọt nước hôm mùa nắng trước, mặc dầu đã được đào năm năm rồi.

    - Uống nước đọng trên lung, trên rừng chớ nước gì.

    - Sao mình lại tới đây ông nội?

    - Ðã nói cho mầy biết rồi. Trên xứ, mình không có ruộng làm công khổ cả đời.

    - ở đây, mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Ông nội thằng Cộc làm thinh. Nó nhìn ông nội nó rồi chợt nhận ra năm nay ông cụ già quá. Tóc râu ông cụ đã trắng bông. Nhớ ra ông cụ thường than mình chết ngày nào không biết chừng, thường than mình nhớ mồ mả ông bà quá, nó bùi ngùi thương ông, nên dòm ra sân để quên.

    Bấy giờ bóng bốn nồi rau đã tròn vành, chỉ rằng thật đúng ngọ. Bốn cái nồi bể ấy, hèn thế mà rất nhiều công dụng đối với gia đình nó.

    [​IMG]
    [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] [​IMG]
    Ðể tránh nước mặn tràn bờ ngập sân, tía nó đã đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất tía nó mang từ xa về. Ðất ở đây mặn chát dùng không được. Hành ớt, rau răm, rau òm om được trồng trong mấy vườn cao đẳng đó. Ðó là bốn thứ tối cần, đất mặn bao nhiêu cũng phải lập thế mà trồng cho được không thôi không có món gia vị nào để ăn cá nữa.

    Bốn miệng vườn cao đẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà này vào mùa khô. Cứ xem bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay và khi bóng nồi tròn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon.

    Nhìn sân một hơi, nhai nuốt hết cơm, nó day vô hỏi tía nó:

    - Năm nay mình gặt cỡ bao nhiêu tía?

    - Nhờ ông bà, đất nước, được hăm lăm giạ là ít lắm.

    - Cũng chưa đủ ăn.

    - Ðủ gì mà đủ, má nó nói - nhà mình phải ăn trăm rưỡi là số chót.

    - Với lại, tía thằng Cộc trở vào câu chuyện tại lúa nàng Cụm thất gạo lắm. Năm tới tao gieo giống Tằm vuột chắc được gạo hơn nhiều. Năm nay hễ chuối trổ buồng thì năm tới tao trồng sả, trồng ổi được rồi đó.

    Cả nhà đều hớn hở trước dự định tương lai tốt đẹp kia. Nhưng thằng Cộc chưa thấy gì là sáng lạn cả. Trồng ổi cũng phải lâu mới có trái, trong khi đó, nó tiếp tục thèm chè, thèm xưng xa, nhớ đám cúng đình, nhớ hát bội và bị một hình ảnh mới quyến rũ, hình ảnh của con Thôi, chắc là giống hệt chị nhổ bồn bồn, tức là có duyên lắm.

    Con trai làng thấy con gái thường là thế, mà họ còn thầm lén rủ nhau đi một ngày đường nước để ra đây gặp nhau, huống hồ gì là nó chưa được nói chuyện với con gái lớn lần nào hết. Những đứa con gái bạn của nó cách đây năm năm, nó nhớ lại là không có gì quyến rũ cả. Ðứa nào cũng cạo trọc chừa bánh bèo phía sau và giữa chiếc bánh bèo mọc ra một chòm đuôi dài trông đến buồn cười.

    Nhưng mà con gái lớn phải khác. Cộc chưa thấy con gái lớn, nhưng tin chắc như vậy. Có một linh cảm gì, ở đâu từ kiếp tiền thân của nó bay lại và giúp cho nó biết như vậy.

    Những cô con gái lớn chưa thấy hình ấy, mà đã có tiếng kêu được, chúng âm thầm gọi Cộc, tiếng gọi như văng vẳng đâu trong không trung.

    Thẫn thờ, thằng Cộc nói lại câu hồi nãy, và giận dỗi thêm một đoạn khiến ông nội nó giựt mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng:

    - ở đây mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta.

    *
    * *

    Thằng Cộc thích mấy cây nọc nạng lắm. Bó lúa nào gác lên đó cũng nằm yên cả chớ không chực rớt xuống nước ruộng như những bó lúa gác lên đầu nọc thường.

    Ðó là những gốc tràm mà chảng hai chè ra rất thấp. Khi đốn tràm cháy, tía thằng Cộc đã trừ xa, đốn ở trên chảng hai ấy độ một gang rưỡi, nên bây giờ mới có nọc nạng rất tiện mà dùng gác lúa.

    Ông nội thằng Cộc chống xuồng trên ruộng, len lỏi qua mấy gốc tràm. Ông ghé từng gốc để cho lúa xuống xuồng.

    Ðủ thứ là cò, cò ma, cò lông bông, cò quắn, cò hương thân mật nhìn gia đình bốn người gặt lúa nhà. Ðây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng này; ban đầu chúng sợ hãi họ, nhưng về sau thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ đã được ba bốn thế hệ cò rồi.

    Má thằng Cộc lội sình tới đầu gối, và lội nước gần tới háng, nhưng vui vẻ hơn ngày nào hết.

    Bà ta đằng hắng cất tiếng hò:

    Hờ ơ... Tiếng anh ăn học lầu thông
    Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường


    Hò xong câu đó, bà lắng đợi chồng bà hò đáp. Nhưng tía thằng Cộc cứ làm thinh mà gặt, khiến bà đâm ngượng nên cười rồi cự chồng cho đỡ mắc cỡ:

    - Tía nó sao câm cái miệng, không bắt vậy!

    - Hứ, nhiều chuyện này mà rồi còn hò với hát, bắt với nghoẹo. Bộ còn trai gái đó sao?

    Vì vui kết quả của cần cù nên má thằng Cộc quên rằng bà ta đã quá mùa hò rồi. Tía nó nhắc lại bà ta mới chợt nhận ra. Tuy nhiên bà vẫn ngậm ngùi nhớ cái thú vui ấy thuở bà còn con gái và ngay bây giờ đây tóc đã nhuốm hoa râm rồi, bà cũng có thể hưởng được nếu còn ở làng, hưởng bằng cách khuyến khích bọn trai trẻ hò đối đáp với nhau.

    Thằng Cộc thì xôn xao trong lòng, nhớ lại lời chị nhổ bồn bồn bảo rằng nó mà về làng làm ruộng thì ai cũng ưa. ừ nó sẽ hò đối đáp với con Thôi. Chậc! mà nó phải nhờ má nó dạy hò mới được. Nó có nghe hò lần nào đâu để mà thuộc giọng và biết câu.

    Ðến chiều thì xong xuôi cả. Ông nội thằng Cộc chống xuồng lúa ra bờ rạch, còn tía, má nó và nó thì lội nước sình mà về bộ.

    Ðập lúa và phơi phong mất hết mười ngày. Trong những ngày buồn tẻ phẳng lì giữa cảnh bùn lầy nước đọng ấy, thằng Cộc càng nao nức muốn về làng.

    Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường.

    Câu hò của má nó ám ảnh nó từ hôm gặt đến nay. Nếu con Thôi mà hỏi đố nó câu ấy chắc nó phải ngậm câm, chớ đâu được phép trả lời bằng văn xuôi.

    Khăn lông là vật dụng mà nó đã quên rồi thì còn biết là mấy đường để đáp cho thông. Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Ðêm khuya nhờ nó che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da.

    Những món đồ cần dùng của thế giới văn minh ấy cũng thuộc vào những thứ gợi thèm như là bánh trôi nước, bánh ít trần và mái tóc của con Thôi.

    Hôm ấy dừng bồ cho con cháu đổ lúa khô vào, ông nội thằng Cộc long trọng nói:

    - Ngày mai ra biển.

    Không ai hỏi ra biển để làm gì hết. Thằng Cộc cũng làm thinh, trái với mọi ngày mà nó hỏi không kịp đáp.

    Con rạch ổ Heo trước nhà, nếu có đi trên đó thì phải về ngọn, nó nghĩ như vậy, đi về ngọn để rẽ qua những kinh rạch khác mà tìm làng mạc sầm uất, chớ xuôi dòng ra biển, thì còn nghĩa lý gì nữa chớ?

    Nó chưa được ra biển lần nào cả và mấy năm trước đây nó muốn theo ghe của bọn bắt cua đi một chuyến lắm, mà không được phép đi.

    Chuyến đi đâu đến một chân trời lạ mà ông nội nó vừa cho biết, không làm cho nó phấn khởi chút nào cả.

    Ông nội nói tiếp, dặn mẹ nó:

    - Con mẹ Trùm, ngày mai phải dậy khuya nấu cơm. Tao đi với thằng Trùm và thằng Cộc, đi thật sớm để gặp con nước lớn ngay tại cửa mà về cho tiện.

    *
    * *

    Rạch ổ Heo nhỏ xíu cho nên tràm ở hai bên bờ giao nhành với nhau được, và phủ kín cả mặt nước.

    Rạch tối om, đi như đi trong hang. Bây giờ thằng Cộc mới hiểu thấu nghĩa hai tiếng "hang mai" trong câu hát của bọn đi bắt ba khía.

    Những nơi ánh nắng lọt vào được thì hai bên bờ, ô rô và cóc kèn mọc đầy.

    Nước ròng chảy xiết xuồng trôi bon bon, tuy vậy ông nội và tía cũng chèo cẩn thận để mau tới, hầu về kịp nội buổi chiều ngày đó.

    Gần tới trưa, xuồng không đi mau nữa.

    - Nước đứng rồi, ông nội nói, tức là gần tới cửa rồi.

    Họ nghỉ chèo, để xuồng trôi linh đinh, không tiến cũng chẳng lùi, rồi lấy cơm dở trong mo ra ăn.

    Không đi thời thôi đã trót đi, và lúc gần đến đích thằng Cộc nghe thích thấy biển coi ra sao. Nó và cơm hối hả rồi hỏi:

    - Ra đó làm gì ông nội.

    - Rồi mầy sẽ biết.

    Họ ăn cơm xong thì nước bắt đầu lớn. Họ chèo nước ngược cho đến quá đứng bóng thì đến một nơi mà ông nội tuyên bố rằng đó là biển.

    Thằng Cộc ngạc nhiên lắm mà không thấy biển đâu cả. Con rạch tiếp tục đi xa ra ngoài kia, ngoài một chỗ xa tít mù khơi, hai bên bờ rạch cây vẫn mọc xanh um, và ở ngoài đầu kia, hai hàng rào cây như đứt khúc, đâm vào một tấm vách tường xanh như da trời.

    - Biển ở đâu, ông nội? Cộc hỏi.

    - Ðằng xa kia, xanh xanh đó.

    - Sao không ra ngoài, ông nội?

    - Không cần.

    Tía thằng Cộc chèo mũi, rút sào cậm xuống bùn, theo lịnh của ông nội nó.

    Ông nội gọi Cộc lại gần rồi hỏi:

    - Con có thấy gì khác lạ không.

    - Không, ông nội à?

    - Không thấy? Cây ở đây không khác cây sau lưng mình à?

    - à... phải rồi.

    Cộc nhìn lại quả như lời ông nội nó nói. Nơi đây, đất đã hết, mà chỉ có bùn, tràm mọc tới mé đất cuối cùng thì dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi bia lãnh thổ mình.

    Hết tràm thì có một khoảng trống nửa bùn nửa đất, trên ấy cỏ ống mọc rậm rì và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ.

    Tràm đứng trước bãi cỏ mà nhìn dân láng giềng mọc trên bùn đen. Ðó là những cây ốm nhom, chen nhau mà vượt lên cao, cây này cách cây kia không đầy bốn gang tay.

    Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh núi, tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa.

    Xa, xa lắm, có những cây mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công.

    - Nhìn xuống gốc cây! Ông nội bảo.

    - Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp.

    - Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc.

    Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm đấy.

    - Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây ấy bao giờ.

    - Con không nghe, vì cây ấy không dùng được để làm gì cả cho đến làm củi chụm cũng không được.

    - Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cây cỏ ấy.

    - Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủng và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được.

    Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

    - Ông với lại tía con là cây mắm, chơn giầm trong bùn. Ðời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài mít, dừa cau.

    Ðời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ đã ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.

    Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sinh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?

    Thằng Cộc nhìn lại ông nội nó và thương không biết bao nhiêu ông già đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì hục năm năm trong đồng chua, nước mặn của ổ Heo.

    Phải, cứ theo dự đoán của gia đình thì nó sắp được hưởng tuy không nhiều, mà rồi sẽ nhiều.

    Nó nắm chặt tay ông nội nó và thấy nội nó giỏi quá. Ông có biết chữ nho kia mà.

    - Ông ơi, nó than, nhưng tràm buồn quá!

    - Tràm sẽ khỏi buồn nữa. Năm tới, đất thuần, ta làm ba mươi công, và sẽ gọi dân cấy ở xa để phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng ổ Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu.

    Tràm hết buồn vì sẽ đẻ ra cau, dừa, xoài, quít đầy nhà, nước sẽ ngọt một khi đất thuần...

    - Và sẽ có chè ăn?

    Ông nội cười ha hả mà rằng:

    - Gì chớ chè thì sẽ có lu bù.

    - Mà ông nội nè, cưới vợ làm sao được, ai thèm về ổ Heo?

    - Hai năm nữa người ta sẽ đồn đất ổ Heo thuần... Những kẻ nghèo khó như ta chỉ mong được tới đây.

    Ông nói điều này, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa từ miền trung tràn vào đây đều chịu số phận là cây mắm cả, từ xứ Ðồng Nai nước ngọt tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả.

    Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua lộ nước rộng đắp đường để làm cầu cho bạn đi sau vào nơi có chất ngọt.

    Tất cả mấy lớp tiên phong đầu đều ngã gục như rừng mắm rồi ông sơ ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn...

    - Tía!

    Thằng Cộc lo lắng không biết tía nó sẽ làm tràm như nó được hay không và kêu tía nó bằng một giọng thương yêu trìu mến hết sức.

    - Thôi nhổ sào đi về cho kịp con nước, ông nội ra lịnh.

    Ông nội vui vẻ quá, ông bỗng nhớ sực lại những câu hò của thế hệ người tiên phong đi khai thác đất hoang ở miền nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng khàn khàn lên:

    Hò... ơi! Rồng chầu ngoài Huế,
    Ngựa tế Ðồng Nai
    Nước sông trong sao cứ chảy hoài
    Thương người xa xứ lạc loài đến đây.
     
  8. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Ðùa của tạo hóa

    Phạm Hoa

    Quê hương tôi từ xưa thường có câu: Trai núi Ðể, gái hàng Ðông. Các cụ chỉ nói vắn tắt: con gái ở đó đĩ thõa. Tôi đồng tình với cái nhìn dân dã đó. Thực chất là nhựa sống tràn trề trong cơ thể các thiếu nữ. Bản năng sinh tồn dư dật của họ. ở cái làng thật lạ. Cô gái nào cũng xinh đẹp, đẫy đà, hấp dẫn một cách gợi tình.

    Tôi có quen Loan, một cô gái làng Ðông điển hình. Từ những ngày nhỏ cô đã trội hẳn bọn con gái cùng lứa. Hình hài cân đối, trắng trẻo, cô còn hơn đứt bạn ở đôi mắt xanh nhìn mãi không tới đáy! Con bé sẽ sung sướng. Nhiều người cũng nghĩ vậy. Cũng không ít người ngờ vực. Hình như cái gì "quá" cũng hỏng! Mặc cho mọi người bàn tán, Loan vẫn lớn lên, xinh đẹp, tự nhiên, bình dị như cỏ cây. Mẹ cô nhiều lúc nghe ngóng qua thiên hạ, mà nghi ngại. Con bé nó làm sao ấy! Có lần nó ra thị xã, bà còn lấy than bôi lên mặt. Cô Loan cười rất tươi, nhưng trong bụng thì chê mẹ lẩm cẩm. Ai lại thế! Nhưng bà cương quyết hơn trong việc bắt con bé mặc áo vá khi đi dân công đắp đê.

    Con sẽ sung sướng cho mẹ xem! Loan đinh ninh như vậy. Cô xinh đẹp mới là một điều kiện. Cô còn cảm thấy như vậy nữa. Chắc chắn là khác! Bao nhiêu lần chơi trò công chúa, vô tình nhưng cô đều bắt thăm được cả. Vận may có dành cho đứa nào trong đám đông ấy đâu. Và ngay lúc này thôi - Loan đã hoàn toàn là một thiếu nữ, cô đang đi trên đường cái. Trước mặt cô không rõ đàn ông hay đàn bà. Cô mỉm cười và chơi trò may rủi. "Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều..." bài lạy quá quen thuộc của cô. Cô nguyện thầm: Nếu người đang đi về phía ta là đàn ông, thì các đấng thần linh trên cao hãy chứng giám cho con được sung sướng... Con cũng đoán cái bóng đang đi là đàn ông. Sau đó, cô choàng mở to mắt. Bóng người mà cô đoán đã lại gần. Nhưng sao thế này: con người đi qua mặt cô có nét của đàn bà trên mặt. Nhưng chân tay và dáng đi thì không! Cô chợt hoang mang... Ðây là một người đàn ông! Tóc, gò má, dáng đi rắn rỏi. Nhưng ngực ông ta lại lùm lùm thế kia? Loan ái ngại, cứ cố khẳng định mình đúng.

    Càng ngày, càng có người dợm đặt Loan cho con em mình. Họ vào tận nhà làm quen. Họ đánh tiếng...

    ***

    Trong số những kẻ đánh tiếng giành Loan cho con mình có bà Thuận vợ đại tá Lý, liệt sĩ. Nói đến bà Thuận, vùng tôi ai cũng biết. Ðó là người đàn bà đẫy đà, da dẻ tươi tốt, tính tình xởi lởi. Bà nổi tiếng bởi đẹp, bởi là vợ đại tá. Ngày đó, vùng tôi chỉ mỗi ông Lý là cán bộ cao cấp quân đội. Bà còn có tiếng bởi sự gia giáo, thủ tiết thờ chồng, dạy thằng Tuấn trưởng thành. Thằng Tuấn, con trai của bà và ông Lý đẹp như cái mầm cây. Tuổi con nít, Tuấn đã có dấu hiệu lêu lổng, bà phải nhờ ông chú đánh cho một trận. Trận đòn quá tay, hơn với sự hình dung của bà Thuận. Thành thử thằng bé chết khiếp. Bà giận ông chú, nhưng bấm bụng chịu. Cứ thế, Tuấn lớn lên rồi vào đại học. Cha là liệt sĩ, Tuấn được miễn giảm nghĩa vụ. Bà Thuận đánh tiếng là đánh tiếng cho Tuấn. Một thanh niên đẹp trai cao lớn lại xuất thân từ gia đình có nguồn gốc chính trị và kinh tế vững chắc như thế thì cả vùng ai còn bì kịp.

    Bà Thuận cũng tin như vậy. Do đó, bà tìm hiểu tính tình con bé. Biết nó tốt bụng, dễ tính cũng là được. Ngủ dậy muộn, thì chả lo. Miễn có người con gái khỏe, tốt tính, về nhà, bà rèn sau.

    Một hôm, bất ngờ bà gặp Loan đi cùng đường. Bà biết nó, chứ nó đâu có biết bà. Bà chủ động lùi lại phía sau để xem người con bé. Bà đã nhìn nhận kỹ vai, hông, chân con Loan. Dáng đi của con bé thật mềm mại, uyển chuyển. Eo thắt lại, nhưng đến mông thì phình ra, tròn trịa gọn gàng. Với con mắt thật tinh đời, bà biết đây là con mái tốt. Da dẻ mát mẻ, trắng trẻo, dáng đi thoải mái, không vướng víu gò bó thì có lợi cho việc sinh nở.

    Nhưng tận sâu trong cảm giác, bà Thuận vẫn còn lấn cấn. Có một cái gì đó chưa rõ, chưa chắc chắn. Là người đàn bà sắc sảo, giỏi giang, tự tin vào hiểu biết của mình, bà cả Thuận nhận ra rằng, chưa nên vội vàng kết luận.

    Thiên hạ đồn đại không sai: bà Thuận quả là đáo để. Bà vừa có một quyết định táo bạo: Phải xem lại người con bé một lần nữa. Xem trong tư thế con bé trần truồng: chủ yếu là muốn xem ngực nó. Ðối với bà, ngực chứa toàn bộ cái tốt xấu hay dở của một đứa con gái. Nếu ở ngực: khoảng cách hai vú hẹp thì người đó sức khỏe yếu. Khoảng cách giữa hai vú rộng, đầu vú vểnh ngang thì cô gái ấy khó dạy như con ngựa bất kham. Còn hai đầu vú nằm ngay ngắn chĩa thẳng vào mắt ta - cô gái ấy là vàng. Người như vậy sẽ trung thực, ngay ngắn, không biết làm điều xấu, điều ác. ấy là chưa kể đầu vú to hay nhỏ, đỏ hay đen, tròn hay méo. Ðầu vú nhỏ, tròn, mầu hồng, cô gái ấy dẻo người, mềm tính, nuôi con khéo léo. Vô phúc cô nào đầu vú đã đen, lại to, lại méo, tính tình vụng về, đụng đâu vỡ đấy, làm việc gì hỏng việc nấy, nuôi con không sài đẹn cũng chậm lớn. Cô gái nào như vậy mặt có đẹp như vầng trăng cũng xin vái chịu! Bà Thuận đinh ninh điều mình nghĩ là có thật. Hình như bà ngoại dạy bà thế, vì bà cũng chiêm nghiệm như thế. Rồi bà xuống làng Ðông gặp bà bạn. Bà này là dì của Loan. Vừa nghe xong, người bạn của bà Thuận trố mắt ngạc nhiên. Nhưng bị nài, bị ép, lại nể bạn, dì Loan cũng thuận lòng.

    Hôm ấy Loan sang nhà dì giúp sửa lại chuồng lợn. Gần trưa lỡ tay dì làm đổ cái vại đựng nước tiểu. Cô bé kêu rú lên! Nước tiểu bắn tung tóe vào cả người dì và cả cháu. Loan vẩy tay, ái ngại nhưng cười rất vui. Nghe lời dì cô săm sắn đi ra ao để tắm gội.

    Vườn vắng lặng. Ao nước trong vắt. Chỉ có con chim vàng anh nhảy nhót cành xoan. Loan chợt mỉm cười khi thấy khuôn mặt của mình in trên mặt gương sáng loáng. Cô đưa mắt nhìn quanh trước khi lội xuống nước. Một thoáng nghi ngại lẫn thích thú. ùm! nước bắn lên tung tóe.

    Từ sâu trong bụi mía, tim bà Thuận đập thổn thức. Mặt bà có vẻ đăm chiêu. Bà đã thấy được tất cả những gì bà cần thấy. Con bé có đủ ba cái đen và cả ba cái đỏ. Các cụ bảo như vậy thì tốt lắm. Bà thấy yên tâm về Loan. Nó cũng chỉ như bà ngày xưa là cùng! Có khi còn thua kém. Và hình như bà Thuận thấy nao nao. Bà thấy mệt mỏi và buồn xỉu. Từ trong cõi vô thức bà chợt thấy mênh mang... mênh mang...

    *
    * *

    Ðại tá Lý từng là người đàn ông mẫu mực về mọi phương diện. Thân thể ông cũng cường tráng khó ai bì. Và như thế ông mới lấy được chị Thuận đẹp có tiếng. Hai người từng có trên mười năm đầy đặn, hạnh phúc không chê vào đâu được. Sau khi chồng hy sinh, có đau đớn, có tự hào, nhưng bà Thuận gầy rộc đi phải một năm, bà mới gượng dậy được. Giống cái cây bị bão quật, bà lại mọc cành, trổ hoa tươi xanh. Thời gian ngắn, bà lại lấy lại phong độ cũ: đẫy đà, hồng mượt, ung dung, đĩnh đạc. Bà lại đẹp vẻ đẹp riêng: hấp dẫn và bề thế. Phảng phất dáng quý phái. Nhưng đấy là bề ngoài. Số phận lại đặt cược để trêu chọc. Bốn mươi tuổi, bà Thuận đang bước vào độ tái xuân. Toàn bộ sinh lực được huy động, được sử dụng. Thành thử thân thể bà càng đẹp ra, hai mắt long lanh. Nói theo lối nói các nhà sinh học thì đó là tiếng hót của con mắt, tín hiệu phát ra để đi tìm tín hiệu!

    Ngoại tình thì không bao giờ. Dứt khoát là như vậy. Nhưng bà vẫn thường mơ ông Lý về. Bà lại ôm chầm lấy ông bằng cảm giác da thịt thật sự. Cả khối người, hai vòng tay, đùi ngực va chạm, xoắn riết lấy nhau. Bà tận hưởng cái tuyệt diệu của tạo hóa: cứng và mềm, rắn và nhũn, tung và hứng, trên và dưới, tấn công và bị động. Nhiều lúc người đàn bà hổn hển, mồ hôi đầm đìa với cuộc tình mà nào tạo hóa đã buông tha! Có sự tính toán nào cân đong nổi sự mất mát này chăng? Và bao giờ cũng vậy, tưởng đến sự tột đỉnh mãi nguyện, số phận lại thức tỉnh bà. Có lẽ phải nửa phút gì đó, bà Thuận mới ngơ ngác nhận ra mình vừa qua giấc ngủ. Bà giật thót tim khi thấy bóng người đàn ông lù lù tiến tới. Những bốn người. Thì ra họ có mặt trong nhà từ lúc nào đó. Bốn bóng đen im lặng từ từ tiến lại. Ðồ đều! Ðồ ăn cắp. A...! Bà kêu lên khiếp đảm. Nhưng ngay lúc đó, bà biết mình lầm. Không có ai khác ngoài bà. Bốn cây cột nhà lặng lẽ, vô tri vô giác được rọi qua ánh trăng xanh lét rõ mồn một.

    Ðó là đêm! Còn ngày bà lại nghiêm ngắn chững chạc, bề thế. Ðố thiên hạ bắt gặp bà có ánh mắt lẳng lơ, đa tình hay một câu đùa sờm sỡ. Trừ một lần. Tất nhiên không ai biết. Ðêm trăng vằng vặc! Ôi những đêm trăng chết tiệt bao giờ cũng gợi tình, hướng người ta, bao che và dụ dỗ người ta vào chuyện nhố nhăng. Thoạt đầu tiếng sáo trúc thoang thoảng. Thật chỉ nghe không rõ, tiếng sáo lại chìm đi. Hình như theo gió, tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ. Bà thừa biết tiếng sáo ấy là của ai! Lão Hoành thợ đấu. Một tay gã vo miệng lốm, dỡ nhà để ăn. Nhưng người lão đậm chắc như được làm bằng lim bằng sến. Có lần nào đó, bà Thuận đã trông thấy hai chân lão đen dài, chắc nịch, đánh đều đều trên đường. Ðúng như vậy, có một lần! Lão Hoành ở một mình, không có vợ, nhưng đã ăn nằm với khối đứa con gái dễ dãi đĩ thõa trong làng. Cũng là một thằng mất dạy! Tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ. Mặt lão Hoành thì xấu, đầu óc lại đần độn. Nghe đâu đi lính, tập bắn súng mãi không thuộc, phải loại về. Ðúng là thứ đầu óc ngu si tứ chi phát triển. Cái khoản kia hắn vung vãi cho khắp thiên hạ. Gió chợt đưa tiếng sáo dội lên vu vơ như da diết một cách kỳ lạ. Thậm chí có thể tưởng tiếng sáo được thổi ở ngay đầu ngõ. Ngọn cau chợt rung đành đạch. Trăng vẫn xanh lét. Bà Thuận nhổm dậy. Bà đi ra ngõ. Tất nhiên vẫn đoàng hoàng, chững chạc. Có lẽ phải nhờ cái lão này sửa lại cho góc nhà bị dột. Nhưng sao lại đi đêm hôm? Ban ngày gặp hắn làm sao được? Bà Thuận vững dạ hơn khi tìm được cái lý để đoàng hoàng.

    Bà đi vào sân nhà lão. Mạnh dạn và dứt khoát, bà đến để có việc thuê lão Hoành. Bà đã thấy lão. Cái khối đen chắc nằm dài ở chiếu. Bà chạm phải cái mùi đàn ông, quen thuộc, nhưng hơi gắt, đậm của lão. Có gì không chị? Tôi nhờ anh sửa cho cái mái nhà bị dột. Lão Hoành cười, hàm răng trắng nhởn, đần độn. Mùi đàn ông trong cơ thể sến lim của lão Hoành lại bốc lên. Một phút bối rối. Nhưng bản lĩnh và đức hạnh của bà Thuận chợt lên tiếng. Thỏa thuận xong với lão, bà Thuận bước từng bước ra ngõ. Ði như trôi về nhà, tiếng sáo của lão Hoành lại vu vơ vu vơ đến phát điên lên được. Sao đàn ông mùi mồ hôi lại giống nhau thế? Từng có lúc bà úp mặt lên ngực ông Lý. Cái mùi nồng quen thuộc thấm sâu vào bà, có lúc khó chịu, nhưng bây giờ, bà đang nhớ, thậm chí đang khổ sở vì nó.

    Sáng hôm sau lão Hoành đến, bà Thuận vẻ lạnh tanh, kẻ cả. Bà mở cửa cho gã đàn ông vào nhà. Bà đang cố chống lại chính mình. Nhưng cái mùi ấy, mùi con đực chính cống lại phảng phất ngay sát bên cạnh. Trái tim bà như bị lục dậy, bị khởi động. Thân thể bà nóng dần lên. Bà cầm tay lão đến vô ý thức. Chỗ này này. Bà kéo gã vào sau nửa gian trong. Nơi tối tăm và sực mùi ẩm mốc, mùi gỗ mục. Vai bà chạm phải lão. Sự đụng chạm ít ỏi ấy khiến bà thở dốc! Cái mùi đàn ông đậm một cách gay gắt. Vú bà chợt quẹt vào cùi tay lão Hoành. Cái cùi tay rắn như sắt ấy tạo một sự dễ chịu. Bà muốn buông thả theo dòng nước. Tạo hóa vẫn không tha, vẫn dứ mồi vờn bà, diễu cợt và hành hạ con người. Tim bà đập mạnh. Hơi thở ngợp trong lồng ngực. Hình như lão Hoành ngửi thấy cái mùi ấy. Mùi con mồi chín nẫu. Lão quay lại cười nhăn nhở: cho rờ cái! lão nói rồi cầm ngay lấy tay bà Thuận. Lập tức bà Thuận tỉnh như sáo: ấy chết... đừng có vớ vẩn.

    Chính đêm đó, không kìm được, bà Thuận ôm gốc cột khóc lóc vật vã. Chính nó tiễn đưa bà êm đẹp không tai tiếng gì tuổi tái xuân rực rỡ, cháy đỏ...

    Thêm hai tuổi, bà Thuận cảm thấy nực cười! Bà đã qua hẳn dòng sông đục tình cuồn cuộn tạo hóa bày đặt để đùa giỡn với con người. Kể từ đó, bà thấy thanh thản, nhẹ nhõm. Bà tự hào về mình. Trong vùng người ta đua nhau khen bà trong sạch thủ tiết với chồng. Bà mỉm cười thừa nhận sự đánh giá đó. Bà vẫn giữ phong độ ung dung thư thái.

    Và lúc này, bà đang kén vợ cho thằng Tuấn.

    *
    * *

    Nghỉ hè, Tuấn đang dội ào ào nước trên đầu. Mẹ đủng đỉnh bảo...

    - Tối nay, con có việc đi với mẹ đấy - Không nói nhiều và không phải bàn. Bà ra lệnh để Tuấn biết thu xếp. Anh chàng sinh viên đẹp trai ấy ngớ ra.

    - Ði đâu hả mẹ?

    Ðủng đỉnh nhưng vẫn tươi tắn, bà mẹ nhắc lại...

    - Ði có việc.

    Bỏ mẹ! Tuấn chột dạ. Tối nay anh đã có hẹn. Nói dối mẹ chăng? Không được! Có trời cũng không dám lừa bà được. Rồi tự anh thu xếp: đầu tối đi với mẹ. Sau một lát nữa, anh sẽ đến gặp bạn tình của mình. Người bạn tình anh vừa biết tên. Số phận dun dủi cô đến với anh. Tuy mới gặp nhưng hai cái nhìn đã nóng bỏng như có lửa. Cô thổn thức nhưng đầy sự e ngại. Ðấy mới là cuộc gặp chủ yếu của đợt nghỉ hè này. Niềm vui, sự hy vọng của anh. Còn mẹ, hẳn lại dắt đến một con bé nào đó! Chiều bà thôi, ta sẽ thu xếp sau.

    Hôm qua, đang trên đường về nhà, tự nhiên nghe đánh đoàng một cái. Quay lại Tuấn đã gặp một thiếu nữ cúi xuống bên lốp xe bị nổ. Anh sửng sốt: quê anh sao lại có người hoàn hảo như vậy! Gương mặt trái xoan, mái tóc mềm bay lõa xõa, vẻ đẹp trẻ trung và hoàn hảo. Một thoáng lưỡng lự. Tuấn xuống xe để giúp đỡ cô bé. Cái nhìn đầu tiên khiến Tuấn không thể nào bình thường được. Có thể vì cái nhìn mạnh như một tia chớp, gây sự bùng nổ khác thường trong anh. Cái nhìn ấy sáng lóe lên, e lệ, có chứa cả thiện lẫn sự rụt rè bối rối. Sau đó Tuấn đã vận động cô gái ngồi lên sau xe. Anh đã làm công việc cồng kềnh, phức tạp chưa ai dám. Vừa dắt xe, vừa đi xe, vừa lai cô gái. Hai người đã "chết " vì nhau ngay từ phút đầu tiên. Tình yêu của tuổi trẻ là như vậy. Nó bốc cháy tự nhiên và được thừa nhận ngay từ phút đầu. Tên em là gì? Tuấn hỏi cô gái, Thanh! Cũng rụt rè, nhỏ nhẹ cô bé đáp. Hình như cô vẫn giữ lại được sự phòng thủ hờ hững. Em ở làng nào? Làng Xuân. Cô gái đã nói dối Tuấn. Khi đưa tới làng Ðông, thấy cô dắt xe vào ngõ có cây gạo. Tuấn mới mỉm cười nhận ra sự nói dối của cô gái. Tuy thế, cô vẫn lặng lẽ gật đầu, hai mắt long lanh đồng ý cho anh chàng tới chơi. Suốt một ngày đêm, Tuấn hồi hộp chờ đợi cuộc gặp lại với Thanh.

    Bà Thuận cũng đưa Tuấn xuống làng Ðông. Khi bà rẽ vào ngõ có cây gạo anh chột dạ. Không có lẽ cô Loan mẹ giới thiệu lại cùng nhà với Thanh? Chớ trêu thay tạo hóa lại một lần nữa tạo nên sự trùng hợp ngẫu nhiên đến lạ lùng. Khi bà mẹ trong nhà gọi Loan bê nước cho khách thì tim Tuấn ngừng đập. Cô gái sẽ xuất hiện trước hai mẹ con Tuấn là ai đây? Loan hay Thanh? Rồi cô gái từ từ đi ra. Chính là Loan. Bối rối, nhưng sung sướng chan chứa ánh mắt nhìn. Cô bé lướt mắt qua Tuấn. Lễ phép chào mẹ, chào anh, khoảng một chút gì đó lui vào nhà. Thì ra Loan nói dối Tuấn. Tên cô không phải là Thanh.

    Sau này khi thuộc về nhau Loan nói: Em yêu anh ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Tuấn đáp: Anh cũng thế. Họ vùi người vào nhau. Tuấn tận hưởng sự thơm tho tuyệt vời dành riêng cho anh. Hôn lên mặt, lên mắt, lên tóc, vào gáy, vào ngực. Tuấn vẫn thấy khát khao, chưa thỏa. Anh ôm riết lấy Loan vào lòng. Hình như anh cảm thấy sẽ có một lực lượng nào đó sẽ cướp mất Loan của anh. Vì thế, phần nhiều thời gian anh dành cho Loan, anh còn có ý tranh thủ, gấp gáp tận hưởng sự ngọt ngào có được từ Loan.

    Mặc Tuấn vòi vĩnh được thỏa mãn cái việc ấy. Loan cốc vào đầu giễu cợt, cảnh cáo. Anh vẫn như con thú say máu đến ngơ ngác. Lần đầu tiên bà Thuận cáu với Tuấn:

    - Con phải sống cho điều hòa đứng đắn. Dạo này mẹ thấy con có vẻ buông thả.

    Bà Thuận nghiêm khắc cảnh cáo Tuấn. Yêu con, bà lo cho nó thực sự. Thân thể thằng bé hao đi đến một nửa. Bà xót xa chăm sóc Tuấn. Có đêm bà còn lặng lẽ ngồi bên đứa con trai, dùng khăn chấm từng giọt mồ hôi cho nó. Chợt bà nhận ra một điều: sự hấp dẫn chết người của con Loan làm hao kiệt Tuấn chứ ai? Mặc cho việc chuẩn bị đám cưới vẫn tiến hành, trong sâu xa, bà Thuận chợt thấy một con Loan như mụ phù thủy vậy. Chính nó, cái con bé bà đã lựa chọn ấy, hãm hại thằng Tuấn chứ ai!

    *
    * *

    Ðám cưới khá to.

    Người giúp việc cuối cùng ra khỏi nhà trả lại sự ắng lặng vốn có. Tuấn rửa mặt mũi, chân tay sắp sửa đi ngủ. Bên trong cánh cửa buồng kia Loan đang chờ anh. Giới hạn cuối cùng bao nhiêu lần định phá mà không phá được đang chờ anh. Sự nguyên vẹn trinh trắng của người vợ yêu quý đang chờ đợi. Giây phút đẹp nhất trong đời một con người đang đến từ từ trong đêm nay. Loan sẽ không cốc vào đầu, hoặc không cưỡng được nữa. Hai người chỉ chờ đợi đến nín thở giây phút này thôi.

    Phơi khăn mặt, giục mẹ đi ngủ, Tuấn vừa bước vào hướng cửa buồng thì có tiếng gọi:

    - Tuấn.

    - Dạ.

    - Lại đây.

    Tiếng gọi nghiêm trang dứt khoát của bà mẹ khiến Tuấn như sực tỉnh.

    - Có gì à mẹ.

    - Có.

    Mẹ anh vẫn ung dung, thư thái ngồi trên sập gụ. Bà chưa có ý gì đi ngủ. Tư thế của bà chuẩn bị cho cuộc nói chuyện dài. Tuấn tỏ vẻ sốt ruột.

    - Ngồi xuống đây.

    Mẹ anh nói bình tĩnh, đầy quyền uy. Bà vừa nhai trầu, vừa ngẫm nghĩ. Vẻ mặt của bà sâu xa, nghiêm khắc, âm thầm và rõ ràng không nhiều niềm vui như ngày trước. Anh vội, còn bà thì thong thả, đĩnh đạc.

    - Có gì không hở mẹ?

    - Có.

    Bà vẫn không thèm nói ngay. Ðó cũng là cung cách giao tiếp của bà. Không bao giờ vội. Bà để cho người được giao tiếp phải chờ đợi, mệt mỏi, thậm chí bẳn cáu. Bà không thèm quan tâm. Cuối cùng bà Thuận lên tiếng.

    - Mẹ có chuyện nói với anh thế này. Hạnh phúc là về lâu về dài. Mẹ muốn anh phải giữ gìn, đừng có dốc, đừng có cố quá. Các cụ dậy đa dâm thì bại thận! Con phải coi chừng! Yêu ai cũng phải vậy, phải có điều, có độ. Phải biết chăm đến mình. Có còn cái thân mình thì mới còn sống, còn vui còn buồn, còn mẹ còn con. Mẹ khuyên con chỉ một lần thôi đấy, quá đi là không có được.

    - Vâng ạ.

    Tuấn trở vào buồng. Bà Thuận nhìn theo, ánh mắt long lanh là lạ. Một lát sau, bà tắt đèn đi nằm. Nhưng bà đâu có chợp mắt được. Hình như bà bắt đầu mất thằng Tuấn. Bà đã truyền nó qua tay con Loan. Ðứa con gái hoàn hảo bà đã tìm kiếm, lựa chọn, ngắm nghĩa và xem xét kỹ như ông nông dân tính toán trước khi mua một con giống. Vậy mà chính nó lại gây nên sự mất mát này. Bất chợt, như có những ngọn gió lạnh réo xiết trong lòng bà đến buốt nhói. Ði đâu về là nó nhào xuống làng Ðông. Bà không còn được vuốt má, vuốt đầu con. Và thằng Tuấn cũng không có bụng dạ nào nhổ tóc sâu cho mẹ. Nó cũng không còn thì giờ để nói chuyện hoặc nhìn thẳng vào mặt mẹ âu yếm, tươi cười lấy một lần. Bà Thuận càng nghĩ càng ngấm ngầm bực bội. Lại còn con bé kia nữa. Nó lễ phép với mình, nó vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện rồi vội vã cuốn xéo đi với nhau.

    Vẫn không ngủ được. Trái lại, hai con mắt của bà mở trừng trừng. Nó cứ sáng dần lên, rồi từ từ cháy đỏ như hai ngọn đèn quá điện. Màn đêm huyền diệu, bí ẩn, hấp dẫn, đồng nghĩa với sự sinh sôi tang tóc, êm dịu và ma quái. Trong cái mịt mùng tứ bề ấy hai mắt bà Thuận cháy rực lên. Nội lực nào đã khiến mắt bà sáng hết cỡ. Chợt bức tường chắn căn buồng đôi vợ chồng trẻ trở nên mỏng tang như được thưng bằng vải màn mỏng. Bà Thuận nhìn thấy tất cả, rõ mồn một. Những hình ảnh đang diễn ra trong cửa buồng kia hiện lên không thiếu một cử chỉ, động tác. Chúng xoắn lấy nhau, chúng vật lộn cấu xé. Những âm thanh không kém phần kích động. Tiếng vật mình, tiếng hổn hển. Tiếng quật chăn thình thịch. Tiếng thở dài khác thường. Bà Thuận thấy rõ thằng Tuấn (da thịt của bà, hòn máu của bà, hình ảnh còn lại của ông Lý) đang phớt bà đi. Nó đâu có thèm lưu ý đến sự chỉ bảo của mẹ. Láo thật. Hết lần này đến lần khác, thằng bé đang dốc kiệt sức mình cho con bé. Sự tham lam của con Loan là không thể chấp nhận được. Không những thế, nó còn giang vòng tay chờ đón nồng nhiệt. Bà Thuận thấy rõ như vậy. Ôi, cái lỗ thủng không đáy ấy sẽ giết chết con trai bà mất.

    Hết đêm bà Thuận không nhắm mắt, và hết đêm đôi trai gái đắm say trong cuộc lăn lộn như vậy. Sáng ra, dường như cả ba đều kiệt sức. Tuấn và Loan vui vẻ nhưng xơ xác sau đêm tân hôn. Thân thể họ vơi đi một nửa. Loan vốn thanh mảnh những béo ngầm như vậy, mà đi đứng trở nên nhẹ băng, hẫng hụt. Tốc độ hao hụt của Tuấn còn rõ rệt hơn. Vẫn cao lớn, khôi ngô nhưng sự nây nây của bắp thịt cứ biến dần đi. Bà Thuận sút hơn tất cả. Béo đầy như vậy nhưng bà bây giờ nằm xẹp bên giường như một con bé. Một con bé về kích thước, nhưng lại có mái tóc điểm bạc, nét mặt nhăn nheo. Bà nằm lỳ không dậy. Do mệt một phần, nhưng do ý bà một phần. Ðể xem chúng nó có nhìn đến bà không. Ðể xem thằng Tuấn có tíu tít như trước nữa không. Phép thử này sẽ giúp bà đánh giá rõ sự thật. Rồi thằng Tuấn có đến thật. Cả con Loan. Sờ trán, xuýt xoa an ủi sáo rống. Tếch một cái, chúng đã vào buồng hoặc xuống bếp, quấn lấy nhau, vồ vập, cấu véo. Và chỉ cần bước qua cánh cửa kia, chúng đã tụt quần áo, lõa lồ bên nhau, hú hý, thỏa thuê. Mặc cho bà ngóng trông vô vọng, mòn mỏi xơ xác. Mặc cho cái thân kiếp bà một thời bú mớm nâng niu chồng nó yếu ốm, tan rữa trong cảnh cô đơn. Quân mất dạy. Chợt bà lại nghe những tiếng động khả nghi. Và bà lại thấy thằng Tuấn trong cảnh cố gắng đến tuyệt vọng vắt kiệt sức mình cho con bé đang chờ đón.

    Ðêm nào cũng vậy. Cả ba người đều thức chong chong. Bà Thuận càng trở nên gầy nhỏ, khẳng khiu. Tỷ lệ nghịch với sự hao hụt ấy, lòng đố kỵ của bà mẹ cứ tăng dần lên. Ðôi mắt của bà đêm đêm vẫn cháy đỏ một cách ma quái. Và lạ thay nước da trắng nõn của bà, một tháng đã trở nên đen đủi, dễ sợ. Ðiều này hẳn các nhà y học sẽ hết sức kinh ngạc. Da trắng liên quan đến bí mật các ẩn số về gen di truyền. Vậy mà sự bùng nổ tâm lý đã tác động đến các cấu trúc vi mô trong các tế bào. Nó phủ định cái cũ, tạo nên cái mới. Việc bà Thuận trở nên gầy guộc, đen đủi là có thật. Càng về sau này, đôi mắt của bà trở nên ma quái. Nó không còn khả năng bộc lộ sự vui tươi, thiện ý.

    Ðã đến tận cùng giới hạn của sức chịu đựng. Một hôm bà Thuận gọi phắt thằng Tuấn ra. Không dậy không bảo gì hết. Bà cấm! Tuấn im lặng không nói gì. Thâm tâm anh không đồng ý với mẹ. Bà gọi Loan tới. Con bé nen nét sợ hãi. Bà mắng té tát. Mày đừng có giết thằng Tuấn. Không nghe, bà tống cổ ra khỏi nhà. Loan khóc như mưa. Nhưng tạnh nước mắt, trong lòng con bé chợt nổi chông gai chĩa về phía bà mẹ. Một thế trận đã bày chuẩn bị nghênh chiến. Tuấn là con bà, nhưng anh ấy là chồng tôi. Chả ai dễ gì lùi bước. Rồi bất chấp, chúng lại yêu nhau như điên như dại. Dường như trong thái độ của Loan có cái gì đó giống như sự thách thức. Cô công khai thúc đẩy tình yêu. Trước mắt bà Thuận, cô ép vào anh, nhặt sợi tóc rơi trên trán. Con người thù địch có sẵn trong mỗi nàng dâu ở Loan bắt đầu hiện diện. Nó đang chờ đợi và sẵn sàng đối mặt với bà Thuận. Hơn thế, cô còn có ý quyết đánh bại người mẹ trong cuộc giành giật sở hữu sau này.

    Ðêm đêm, các cuộc lõa lồ, cô chẳng cần giữ gìn ý tứ nữa. Cô còn để mặc cho âm thanh phát ra một cách tự do. Tận cùng sự chịu đựng, bà Thuận đập mạnh xuống giường.

    - Thằng Tuấn, mày ra đây.

    - Anh không phải đi đâu hết.

    - Có ra không?

    - Không!

    Sầm. Cánh cửa buồng bật gẫy tung. Tuấn luống cuống quỳ xuống chân mẹ. Loan đứng dậy trong tư thế hoàn toàn trần truồng. Cô kiêu hãnh, ngang nhiên bước xuống từng bước bên Tuấn. Cô ôm lấy vai anh giục đứng dậy. Cô còn có ý xác định sở hữu một cách công khai, nguy hiểm. Ung dung tự tại nhưng lòng cô đang có sự sụp lở, tổn thất ghê gớm. Sau cái vẻ thật tự nhiên đàng hoàng kia là một thái độ cứng rắn, quyết liệt, sẵn sàng giằng xé và chấp nhận cả cái chết.

    - Cút! Ðồ đĩ, - Bà Thuận nghiến răng thét lên - Mày giết con tao. Mày hãm hại nó.

    Loan càng dịu dàng vuốt ve Tuấn. Chồng cô khóc rưng rức. "Mẹ ơi! Con lạy mẹ". "Cút ngay!" Soạt. Bà Thuận rút con dao. Cuộc đấu đã lên đến tột đỉnh.

    Muôn đời như vậy. Mẹ chồng và nàng dâu, cuộc đùa dai của tạo hóa, cuộc đấu vĩ đại. Lúc vờ vịt, giả dối, lúc bùng nổ như bom, như đạn bắn. Cuộc giành giật ấy muôn năm không có thắng và không có bại. May thay, hóa ra Tuấn lại tỉnh táo hơn cả. Anh cướp tay Loan kéo chạy. Dùng dằng, Loan muốn chết ngay tại cửa buồng của vợ chồng mình. Nhưng Tuấn khoẻ hơn đã kéo cô ào ra giữa đồng. Thiên nhiên mát mẻ, rộng lớn, thiện ý, cưu mang họ.

    Hôm sau, và hôm sau nữa, Tuấn về để điều đình với mẹ. Nghe lời chồng, Loan đồng ý chấp nhận về xin lỗi bà Thuận. Nhưng không xong. Niềm tự ái của bà Thuận vẫn đang ở vị trí tột đỉnh. Hoặc mình Tuấn về, hoặc xéo cả.

    Khôn ngoan Tuấn kéo cả Loan về sụp lạy dưới chân bà. Không nhúc nhích. ý muốn của bà mẹ đã rắn lại như đá. Hàng xóm cũng mặc. Ông nào, bà nào, cũng chỉ như nước đổ lá khoai. Mẹ Tuấn vẫn ngồi im phăng phắc. Mắt bà như nhìn vào chỗ không người. Bà không thèm biết đến sự có mặt của Loan. Bà có một điều kiện và chỉ nói một lần: hoặc Tuấn về, hoặc xéo tất cả.

    Tuấn cảm giác rõ sự hết lời của mình. Giới hạn cuối cùng của cuộc xin xỏ đã hết. Chợt anh mỉm cười mềm yếu và dễ dãi. Anh không thể chặt ba xác Loan ra được. Anh bỗng thấy lạnh run người. Anh im lặng đứng dậy loáng thoáng ý nghĩ. Thôi mẹ muốn thế cũng được. Anh sẽ ra đi vậy. Ðể cho các người ở lại giành giật, cấu xé lẫn nhau. Một khi đến yêu mà vẫn không biết yêu thì tồn tại sao nổi. Chính lúc đó, trong anh diễn ra cuộc biến đổi dữ dội. Anh cảm thấy cô đơn lạnh vắng, như đang lững thững bước chân lên miền đất nào đó rất xa lạ. ở đó cái gì cũng chập chờn, mênh mông, nhấp nhô như gò như đống. Chân trời xa lúc ấy có mầu hoàng hôn. Cái gì anh cũng thấy hư hư thực thưc, xa vời. Loan gọi nhưng anh không tỉnh. Vẫn câm lặng, ngơ ngác. Giữa đêm, anh tỉnh dậy và đi đâu mất tăm.

    Hôm đó tôi có việc leo lên hòn núi Ðề cao ngất. Từ trên cao, tôi chợt thấy nhà cửa, đất đai, và cả con người mới nhỏ bé làm sao. Giống như những con kiến.

    - Họ đi lại, vui chơi, cày ruộng cấy lúa, yêu nhau rồi ghét bỏ nhau. ấn tượng đó bây giờ tôi vẫn không quên.
     
  9. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Hai nhà nghề

    Nguyên Hồng

    Ðã lâu tôi không làm cái nghề nhào lộn ấy nữa để kiếm cơm ăn. Nhưng, một đôi khi, nghe tiếng thanh la inh-ỏi, hay tiếng phèng phèng khua ran, hay những điệu kèn đu-đủ rè rè, tôi lại thấy lòng náo nức. Một cái gì mềm yếu trong thâm tâm tôi bị rung động lúc bấy giờ, và một cái gì chua xót làm tê dại linh hồn tôi. Lập tức, tôi phải đi xa chỗ tụi trẻ làm trò kia, hoặc cho chúng một vài hào để chúng đi nơi khác biểu diễn tài nghệ.

    Thưa các bạn, những bạn đã từng nếm qua các vị ngọt bùi, cay đắng của một nghề tự do trong sạch nào, chắc các bạn phải từng có những phút giờ bùi ngùi như tôi, sau khi các bạn bỏ nghề ấy, bỏ hẳn nghề ấy.

    Một kỷ niệm cũ dù êm đềm, sáng suốt, hay thảm khốc, tối tăm, bao giờ cũng xúc động lòng ta hơn là những sự lo âu, mừng rỡ của tương lai dẫn đến. Nhất là những kỷ niệm ấy lại thuộc về thời kỳ thơ ấu của ta, cái thời kỳ rất yêu dấu, rất nên thơ, vì chan chứa cảm tình.

    Một ngày xuân đã qua, lâu lắm rồi, một ngày xuân sáng và ấm, nghề nhào lộn đã khắc sâu vào tâm khảm tôi những dấu vết không thể mờ nhạt được.

    ***

    Dạo ấy, bọn trẻ con cặn bã đặt cho tôi cái tên kép: Nhân-đen vì tôi, hết năm này sang năm khác, lang thang trong nắng, mưa và gió bụi, có một nước da bóng nhẫy, mùi gỗ lim cũ đóng bàn học trong những nhà trường. Chúng lại còn gọi tôi là Nhân-đu-đủ, vì tôi kiếm tiền của thiên hạ rất dễ dãi bằng những bài kèn "la-mát", "mạc-xây-e", "ma-đơ-lông" vân vân, thổi với ba ống đu-đủ.

    Trước kia, đi theo tôi có một thằng bé kém tôi hai tuổi. Nó không biết thổi kèn, không biết ca những bài cải lương mà bây giờ người ta cho là chướng tai vô cùng, nhưng nhào lộn giỏi. Tôi gặp nó ở chợ nhà quê, vùng Hà-Ðông dắt thuê cho một ông già mù. Thấy nó kháu khỉnh, mắt sáng, miệng cười luôn, tóc hung hung xoăn xoăn như tóc tây, lại tinh lanh, chỉ xem tôi nhào lộn vài lần mà đã bắt chước uốn cầu vòng đi bằng tay được, tôi liền dỗ nó bỏ ông cụ ăn mày.

    Cùng tôi lang thang nay đây mai đó được hơn một năm, tới khi biết làm nhiều trò, thì nó bỏ tôi, đi kiếm tiền một mình. Tại dạo ấy tôi ốm yếu luôn, không thể nhào lộn nhiều được và ca hát, thổi kèn hay như trước. Mấy ngày đầu, tôi buồn rầu và nhớ nó chẳng khác gì một người anh có đứa em gái nhỏ chết ở dọc đường khi cùng nhau đi tha phương cầu thực.

    Nó bỏ ông già, vì sống với ông, khổ sở, bệ rạc quá. Nhưng làm bạn tôi, được tôi quý mến, có cái gì cũng chia sẻ cho, mà nó đánh "rơi" ngay tôi khi tôi cùng quẫn, hỏi sự bội bạc ấy còn gì khốn nạn hơn? ấy là tôi không nghĩ đến công phu luyện tập cho nó thành một nhà nghề khéo, giỏi.

    Tuy bị một phen lừa lọc, tôi vẫn cố gắng tìm kiếm một đứa bé kháu khỉnh, khôn ngoan như nó, để truyền cho các cách múa lộn rồi cùng đi kiếm tiền. Nhưng gần hai năm, tôi chẳng chọn được đứa nào hết.

    Cuối năm thứ ba, tôi càng ốm yếu hơn... rồi sang xuân năm thứ tư, tôi bắt đầu đi sâu vào một quãng đời thiếu thốn, khổ sở vô cùng.

    Tiếng hát của tôi đã khàn khàn! Tiếng kèn không vang to và ngân dài như trước. Ði bàn tay chỉ được bốn, năm thước. Nhiều lúc, trên dây thép, tôi phải bỏ dở trò vì thấy đầu bốc nóng, ù tai, quáng mắt.

    Nghề làm xiếc của tôi đến thời kỳ cùng mạt rồi!

    *

    * *

    Tôi bỏ Hải Dương về Hải Phòng chính lúc người đời đương vui mừng đón chào xuân mới. Bởi cái tỉnh nhỏ với vài dãy phố vắng vẻ kia, đến một thành phố không sầm uất lắm nhưng cũng đông dân cư, tôi hy vọng sẽ kiếm được một món tiền kha khá, đủ cho tôi chuộc lại ít quần áo gán nợ cho hàng cơm và cắt vài chén thuốc.

    Xe lửa qua khỏi cầu Phú Lương lại bắt đầu chạy rất nhanh, lắm lúc đến quãng đường vòng tưởng như sắp chồm ra ngoài đường sắt. Bấy giờ ánh nắng vàng tươi đã láng khắp bầu trời không gợn một vệt mây đen và khắp vùng quê lặng lẽ trong một thứ hơi gì mong manh ướt lạnh.

    Tới khi mặt trời lên cao, phải che tay nghiêng mắt mới nhìn được, và gió lồng lộng tung cát bụi lầm, tôi thấy đâu đâu cũng như có những mầu sắc gì rực rỡ và những tiếng gì trong sáng.

    Từ cánh đồng mạ bao la nổi sóng xanh rờn, từ những mắt nước thỉnh thoảng rùng lên như tấm nhung nõn nà căng trùng, từ những chòm cây phấp phới, lấp loáng, đến những đàn chim yên lặng xoãi cánh bay về những lũy tre bơ phờ, hết thảy đều như nó rỡn vì vui mừng, vì sung sướng.

    Lòng khấp khởi của tôi phút chốc bừng bột; tâm trí tôi trở nên tươi sáng, những cái gì mới mẻ, ấm áp lan rộng trong linh hồn tôi, tôi không còn nghĩ đến hơn một tuần lễ vừa qua, nằm liệt trong một quán trọ bẩn thỉu, không được ai săn sóc, trái lại, còn bị hắt hủi, xua đuổi.

    Ngày đầu xuân bao giờ cũng xóa bỏ hết những sự buồn bã, chán nản đến ám ảnh người ta, làm cho người ta lây sự vui sướng của vạn vật và ham thích sống. Nhìn cảnh vật rực rỡ dưới ánh nắng một giờ một chói lọi, tôi cảm thấy có thể gặp những ngày đầy đủ như năm nào, hay hơn cũng có. Không phải vì nhờ cái nghề làm xiếc và ca hát này, mà vì một sự may mắn gì bỗng đến.

    Xuống ga Hải Phòng, tôi đeo túi vải đi lên Ngã Sáu, rẽ qua Ngõ Cấm. Thấy không có mấy đám bạc và trẻ con tụ họp chơi đùa, tôi lên phố Ðầu Cầu. Phố này gần bót, nên rất ít xóc đĩa và súc-sắc. Tôi phải đi lên phố Khách. Ðến đây tôi đứng lại, vì chỗ tôi định diễn trò ấy có ba đám xóc-đĩa, người lớn, trẻ em chen chúc nhau, vòng trong vòng ngoài.

    Ðặt cái túi vải xuống thềm gạch tháo miếng vải vàng để lợp mui xe ra, quẳng nốt chiếc mũ dạ tàng rúm ró ra giữa vòng, đoạn rút chiếc kèn bằng ba ống đu đủ, tôi phồng má lên, thổi một hơi kèn.

    Cũng như lần trước, trăm nghìn lần trước, điệu kèn nhà binh ca khúc khải hoàn kia đã kéo đến chung quanh tôi một số đông người.

    Tôi hởi dạ, ngẩng mặt lên trời cao và sáng, lấy hơi thổi nốt đoạn cuối.

    Sao hôm nay tiếng kèn vang to thế? Tại tôi khoan khoái, nức lòng chăng? Hay bởi trong người tôi nhẹ nhõm vì luôn mấy ngày nghỉ ngơi và ăn rất ít? Khi đó, nếu dư tiền tiêu xài, tôi quyết hiến không cho đám người đông nghịt quây tròn lấy tôi tất cả những bài kèn và những trò nhào lộn điêu luyện của tôi, để hưởng cái khoan khoái thấy nhiều kẻ thưởng thức tài nghệ của mình.

    Tiếng kèn ngừng, dưới ánh mặt trời nóng ấm, tôi từ từ đưa ngang tay gạt mồ hôi trán. Một giọt rớt xuống mắt tôi, xót quá! Tôi phải dụi hồi lâu bằng chiếc khăn bông giắt ở cạp quần thâm cộc có nẹp trắng. Cơn sốt lai nhai làm cho tôi nhọc mệt và rét run không được, đến giờ là hết!

    Tôi trải miếng vải vàng ra giữa thềm gạch, mặc chiếc maillot đỏ dòng dọc xanh, và lấy ở túi vải ra những dây thép, những cọc tre, và hai quả bóng quần. Bắt đầu tự lúc này tôi được người ta chú ý đến một cách sốt sắng.

    Vây chung quanh tôi có tới hơn trăm người. Nhiều nhất là trẻ con hí hởn trong những bộ quần áo mới, đến các phu phen ế việc, những thằng nhỏ, con sen, và vài tốp đàn bà nhà quê.

    Tôi đã đi ngược bằng tay ba, bốn bận. Muốn cho người xem sướng mắt hơn, tôi đổi sang trò uốn cầu vòng, uốn con tôm, uốn cong người để cắn đồng xu cắm xuống đất và nhặt mùi soa. Càng phấn khởi tôi càng không thấy mệt nhọc. Tôi trổ hết tài nhào lộn trên mặt đất.

    Bao nhiêu tiếng vỗ tay, tiếng reo hò cất lên không ngớt. Trong lúc ấy, người lớn và trẻ con tưởng chừng như đã lạc vào được một rạp xiếc nào. Họ không ngờ tôi, một đứa trẻ đi làm trò một mình, lại tài giỏi đến thế, làm họ khoái trá đến thế. Trời! Sự khoái trá vui thích tăng thêm sự tươi tốt của ngày đầu xuân êm đềm trở lại trong đời họ.

    Nhưng... tôi bắt đầu thở bằng tai sau trò tung cầu trên dây thép. Sau ba phút biểu diễn trò ấy, nhảy xuống đất, tôi nhao hẳn người đi, và khi ngẩng đầu lên, mắt tôi tia ra những đốm sáng, trong tai tôi như có muỗi nhỏ sa vào.

    Tôi phải đứng lặng một hồi lâu, và, chợt tôi nhận ra một cái gì, một sự phung phí vì kiêu ngạo nếu không phải vì dại dột.

    ánh nắng đã trở nên gay gắt. Mồ hôi trán tôi càng vã ra. Tôi rút khăn lau qua mặt nóng bừng, đoạn vươn vai thở hắt mạnh ra một cái. Tức thì, bao nhiêu sự nhọc mệt mất hết, xác thịt và tâm trí tôi lại nhẹ nhõm phẳng lặng như thường.

    Ðời sống cấm ngặt tôi không được một giây nào chán nản và ủy mị, phải luôn luôn hoạt động, hớn hở hơn là ánh nắng tưng bừng nô rỡn với muôn loài.

    Không ngờ rằng tôi sắp sửa xin tiền, bọn phu xe và vài người quần chúng áo dài thúc giục:

    - Hay quá! Làm nữa đi.

    - Làm nữa đi, kìa người xem càng kéo đến đông kìa!

    - Thế nào chả được nhiều tiền.

    Có kẻ giọng quả quyết:

    - ít nhất là hàng hào.

    Tôi mỉm cười, trật chiếc mũ nồi đội lệch trên đầu ra, thong thả đi lại chỗ người nói sau cùng, lễ phép thưa:

    - Vâng, tôi xin làm nữa, nhưng xin ngài và các ngài hẵng thưởng cho ít nhiều.

    Những nét mặt tươi tỉnh của hắn ta phút chốc đổi thành những nét cau có. Hắn lắc đầu một cái, ngoảnh mặt đi, lùi bước. Giá là kẻ làm trò khác đã kèo nhèo xin, nhưng tôi đây có chút ít học vấn, biết tự trọng và khinh bỉ kẻ không biết tự trọng, tôi chỉ nhìn hắn bằng đuôi con mắt rồi chìa mũ đi xin người khác.

    Tiếng vỗ đùi đèn đẹt làm tôi chán ngán. Tôi phải đến xin người thứ ba. Tuy ăn vận bảnh bao nhưng chàng nào cũng túi không. Ðến người thứ tư, thứ năm, thứ sáu... thứ mười rồi thứ mười mấy chả rõ, cũng túi không.

    Rồi những phu phen và đám đàn bà nhà quê lảng dần. Còn lại mấy chục đứa bé... suýt soát... tuổi tôi giương những con mắt thao láo nhìn.

    Ngay bấy giờ những tiếng nhạc đồng xoang xoảng từ đầu phố vẳng tới. Tôi kiễng chân lên trông: một thằng bé để tóc hớt kiểu móng lừa, quần vải áo xanh thô, chân dận hài sảo, vừa đi vừa tung đôi dao sáng loáng vừa lắc một chuỗi nhạc đồng. Kêu gọi người xem, anh nhà nghề này dùng những hát lố lăng, giọng lè nhè:

    - Sế cô pa lý sềnh ế ề ê... Sề cồ pà lỷ sềnh ể ề ề... ể ề ề...

    Lũ trẻ con bỏ ngay tôi, chạy lại xúm xít quanh thằng bé. Tốp đàn bà nhà quê và phu phen cũng kéo đến liền. Phút chốc trên thềm hè trơ khấc mỗi mình tôi, mà đằng đầu phố đông nghịt những người.

    Thằng bé múa dao hởi dạ, tung thêm một con dao nữa, và ráng sức ném nhanh hơn, vừa lắc mạnh cho nhạc càng vang to. Giọng hát lố lăng của nó như cố dướn cao lên:

    - ế ề ê... ế ề ê ... sế cô pa lý sềnh ế ề ê... sể cổ pà lý sềnh ế ề ề ... ể ề ề...

    Hơn lúc nãy bội phần, đám người xem, vẫn đám khán giả cũ của tôi, reo hò ầm ĩ.

    Thằng bé múa dao bỗng dừng tay. Nó rút cái khăn bông cũng giắt ở cạp quần ra, lau mồ hôi trán, và tháo bình nước đeo ở sau lưng, tu một hơi dài. Mặt nó đỏ bừng đã dìu dịu. Nó cởi chiếc áo cụt tay ném phắt xuống đất, mặc một chiếc xích sắt vào một đôi dao:

    - Các ông các pà tứng lôi ra, tứng lôi ra.

    Dứt lời, nó cầm chắc hai con dao có chuôi nối dây xích rồi hắt một con dao khác lên. Con dao này vừa rơi xuống, thằng bé không bắt bằng tay, nó lấy một chuôi dao cầm chắc trong tay hắt bắn chuôi dao kia lên.

    Ðồng thời, một lưỡi dao sáng loáng vọt lên theo.

    Nguy hiểm hơn, không dùng chuôi dao nữa, nó dùng đoạn xích căng thẳng hất cả hai con dao trước khi và sau khi lộn mũi rơi xuống.

    Nó tung thật nhanh, mắt nó sáng ngời lấp lánh như những lưỡi dao ấy, vầng trán bóng rô hẳn ra cũng nhịp theo.

    Trò nhào lộn và tung cầu của tôi trên dây thép đã nguy hiểm nhưng đem so sánh với trò múa dao của anh nhà nghề người Tàu này còn thua kém xa.

    Nếu không cứng tay, nếu không tinh mắt, nếu chỉ nghĩ lảng đi một giây, hai mũi dao sắc, nhọn kia sẽ cắm sâu hoặc trên đầu, hoặc giữa mặt.

    Những tia máu sẽ vọt lên! Những tia máu mà tài múa dao đã cho nó!

    Tiếng nhạc rung càng ròn rã, tiếng hát lố lăng càng kêu gọi thêm được một số đông người thua bạc đến xem. Hai lưỡi dao tung lên, rơi xuống nhanh quá đỗi, chỉ còn là những làn chớp loáng.

    Thằng bé này quả là một nhà nghề đặc sắc, một con cưng của sông hồ. Tôi quên hẳn mình đương cần phải kiếm tiền nuôi miệng bữa chiều nay và những bữa ngày mai, tôi thẫn thờ trông anh bạn trôi dạt ấy trổ hết tài năng.

    Chuỗi nhạc đồng rung lên một hồi thật dài rồi ngừng tiếng. Phập, bốn lưỡi dao chập cả lại vào lòng bàn tay phải. Thằng bé múa dao quỳ một gối xuống đất, cúi đầu chào tất cả người xem.

    Cánh tay phải nó chuỗi thẳng ra, bốn mũi dao ấy đỡ lấy một giỏ mây xinh xắn. Nó yên lặng chờ những xu hào...

    Không thể nói nhanh tới chừng nào, những cảm giác chua cay, đau tủi ran lên khắp tim tôi. Tôi không thể cầm lòng nhìn thằng bé cũng dạn dày vì lang thang kia quỳ lâu thêm một phút nữa, chìa giỏ xin tiền những người xem không tiền và không giàu lòng thương lảng dần dần ra những chỗ khác.

    Trời! Hai đứa bé nhà nghề chúng tôi đã phô diễn hết tài năng trong bao giờ để sau cùng đổi lấy những cặp mắt lãnh đạm của mọi người.

    Tôi vội chạy lại, đỡ thắng bé múa dao kia dậy; tôi muốn nói với nó một câu gì nhưng cổ họng đã nghẹn ứ mất rồi.

    (Ngày nay số 122, 1938)
     
  10. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Sống chết mặc bay

    Phạm Duy Tốn

    Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng... thuộc phủ... xem chừng núng thế lắm, không khéo thì vỡ mất.
    Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức gìn giữ, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy, ngập quá khuỷu chân, người nào người ấy, lướt thướt như chuột. Tình cảnh này trông thật là thảm.
    Tuy đánh trống liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác, gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cũng mệt lử cả rồi. ấy vậy mà trên trời thời mưa vẫn tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất!...
    ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu đuối mà đối với sức mưa to lớn, để bảo thủ lấy tánh mạng gia tài; thế thời quan cha mẹ ở đâu?
    Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì.
    Trong đình, đèn thắp sáng trưng; nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chện ngồi. Xung quanh sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan, thì có thầy đề, rồi lần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông nhì, sau hết, giáp phía tay tả ngài, thì đến chánh tổng sở tại, cùng ngồi chầu bài.
    Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm dân phu rối rít; nhưng trong này xem chừng tĩnh mịch nghiêm trang lắm, trừ quan phụ mẫu ra, mọi người không ai dám to tiếng. So với cảnh trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đoàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga: nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dưới; người nhà, lính lệ như khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ mẫu gọi: "Điếu, mày!" tiếng tên lính thưa: "Dạ"; tiếng thầy Đề hỏi: "Bẩm, bốc?" tiếng quan lớn truyền "ừ". Kẻ này:
    "Bát xách... Ăn", người kia: "Thất văn... Phỗng", lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái, khi cười khi nói, vui vẻ dịu dàng. Thật là tôn kính, xứng đáng với một vì phúc tinh...
    Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọ, bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang dậy trời đất... Mọi người giật nẩy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Vì ngài sắp ù to.
    Có người khẽ nói:
    - Bẩm, đê có khi vỡ!
    Ngài cau mặt gắt rằng:
    - Mặc kệ.
    Rồi ngài xếp lại bài, quay gối dựa sang bên tay phải, nghiêng mình, bảo thầy đề lại:
    - Có ăn không thì bốc chứ!
    Thầy đề vội vàng:
    - Dạ, bẩm bốc.
    Vừa lúc đó, thì tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe, càng lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi lại có tiếng gà, tiếng chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.
    Bấy giờ ai nấy ở trong đình, đều nôn nao sợ hãi. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, tất tả chạy xông vào, thở không ra lời:
    - Bẩm... quan lớn... Đê vỡ rồi!
    Quan lớn đỏ mặt, tía tai, quay ra, quát rằng:
    - Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
    - Dạ, bẩm...
    - Đuổi cổ nó ra!
    Ngài quay vào, hỏi thầy đề:
    - Thầy bốc quân gì thế?
    - Dạ, bẩm con chưa bốc.
    - Thì bốc đi chứ!
    Thầy đề, tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài lật ngửa, xướng rằng:
    - Chi chi!
    Quan lớn vỗ tay xuống sập kêu to:
    - Đây rồi!... Thế chứ lại!
    Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười, vừa nói:
    - ù! Thông tôm, chi chi nẩy!... Điếu mày!...
    *
    * *
    ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh sầu thảm, kể sao cho xiết!
    Tạp chí Nam Phong,
    số 18, tháng 12 - 1918
     
  11. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    San Cha Chải

    Ma Văn Kháng (Giải đặc biệt Cây bút vàng)

    Muốn biết thế nào là San Cha Chải, mình phải leo dốc cật lực một ngày trời. Một ngày ròng gánh cực lên non, nhưng lên tới nơi mình cảm thấy ngay là được đền bù. Trời mở toang tám cánh cửa cho mình phóng tầm mắt thỏa sức. Mình nhìn thấy sông Hồng một vệt lênh láng nơi lưng trời xa. Nhìn xuống phố huyện nhà cửa xúm xít như một bãi nấm, mình nghĩ mà buồn cười: Giá có thang dây tụt xuống, chắc chưa kịp sôi ấm nước, mà đi chân thì phải tận tối mịt. Gần đấy mà xa đấy, xa đấy mà gần đấy, đến hay!

    San Cha Chải, tiếng Quan Thoại, dịch ra Việt ngữ là Thôn Ba Nhà. San Cha Chải nay đã ba chục hộ, mà không khí vẫn heo hút như thời khởi thủy. Nơi đây, cỏ ngải tàn rồi cỏ ngải lại xanh như câu hát hết câu hát lại bắt đầu. Nơi đây cỏ ngải bị chân ngựa giẫm bốc mùi thơm tinh dầu nằng nặng. Nơi đây, hoa tục đoạn nở và tam thất rừng mọc nhơ nhởn cho riêng nó. Không khí thanh sạch mùi hoa lá. Yên bình như thời mở đất, chó nhà thiu ngủ trong nắng, chỉ hậm hực đánh hơi nếu có con thú lạ về. San Cha Chải không biết khóa sắt khóa đồng, chỉ lấy hai thanh gỗ gài bắt chéo, để ngăn gà nhà vào bới bếp mỗi khi vắng chủ. Nơi đây, gà rừng ăn lẫn gà nhà. én làm tổ đầu hồi. Nơi đây, trâu thả rông, mắt chưa thấy màu gì hơn màu chàm đen, màu lá rừng xanh, nên khi thấy thầy giáo Tính người miền xuôi mặc cái áo trắng toát như kẻ lạc bước tới đây, chúng liền lổm ngổm chống chân đứng dậy từ vũng đầm, hồng hộc chạy ra, giương hai cánh sừng nhọn. Thầy giáo Tính cười: "Thế nào, không cho tao đến lập trường dạy trẻ con học à?". Hiểu tiếng người, trâu San Cha Chải liền quay lui, mặt gằm gằm ngượng nghịu. Mấy tháng đầu, chưa có trường lớp, chưa có học trò, cất cái áo trắng duy nhất, thầy giáo Tính đánh bộ quần áo nâu dấn bùn khâu tay kiểu ta đi vác nước cho ông Mo Chúng nấu rượu. Rượu nấu bằng ngô. Ðược nước đầu, ông Mo Chúng biếu thầy một chai. Thầy tợp một hớp, kè lưỡi, kêu: Rượu này một chén ba ngày say xỉn, chỉ biết lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu. Rượu này, rơi một giọt xuống đất, giun ngửi say lử đử. Gà rừng gà nhà ăn phải giun này, cơn say mê mết truyền sang cả người ăn tiết canh nó. Mo Chúng gật gù: "Thầy biết người biết của, xứng đáng bậc sư phụ đấy! Rượu này được thế vì ngô ở đây bẩm thụ khí trời thanh cao, vì nước nguồn chảy ra từ lòng đất sâu thanh khiết, vì người nấu, người chuyên nước chưa vong thân".

    Mo Chúng sáu mươi tuổi, đang lập vườn thuần phục cây tam thất rừng, giàu có tiền bạc và trí khôn là nhà thông thái, bậc thánh triết dân gian, nói đúng quá về giọt nước ở San Cha Chải.

    Nước ở San Cha Chải quý lắm. Trong suốt, mỗi giọt lóng lánh như hạt bạc, nhưng nó phun từ lòng đất lên thì trôi tuột theo dốc đi. Một người Kinh thứ hai sau thầy giáo Tính, là cán bộ thủy lợi, lên San Cha Chải mới giữ lại được. Cái giếng xây vuông vức mỗi bề ba bước chân, trong trơn láng, ngoài gắn mạch cẩm quy, như cái kho kiên cố giữ báu vật, lúc nào cũng ăm ắp nước. Mo Chúng nói: "Nước ở dưới sâu nước không có ích. Nước muốn có ích phải chuyển động lên khỏi mặt đất. Muốn hữu ích phải làm việc".

    Mo Chúng tuổi cao mà lúc nào cũng luôn tay luôn chân. Thầy giáo Tính hết việc, gọi trẻ con tới lớp lại, dắt trâu kéo cây gỗ dẻ vè dựng trường sở. Mọi người đều làm việc. Cái giếng nước cũng làm việc. Nó cho người, ngựa, gà vịt nước để họ ăn uống tắm giặt. Nó còn làm cái gương soi. Lòng trong văn vắt nên nó soi gì cũng tỏ. Những đám mây trắng bay qua ngó xuống. Mấy đàn thiên nga đi tránh rét qua cũng liệng một vòng nhìn xuống. Mọi người trong làng đều đến lấy nước, soi mình. Các cô gái tới. Các em học sinh lớp một của thầy Tính tới. Hết trai khôi ngô Tráng A Lừ, Lý A Tếnh, đến gái xinh xẻo Seo Say, Seo Mùa. Phải để Mo Chúng giục: "Soi xem có đạt cái tước hiệu làm người chưa?", Pao mới tới. Pao tới sau cùng vì ngượng ngập, vì thấy mình to phộp, trời cho sức vóc thân thể hơn hẳn bạn bè mà lại ngồi cùng lớp. Chỉ thoáng qua một chút, Pao đã hiện lên trọn vẹn. Trên mặt gương nước, Pao tròn trĩnh, mặt sáng như cái mâm bạc, nét mắt, nét mày, phân minh như nét vẽ, không mảy may tư dục, tà niệm, lại ngác ngơ như ngọn măng mới chồi khỏi đất. Mo Chúng nói : "Bằng tuổi Pao, thằng Tủa đã biết đi cướp gái rồi đấy!". Tủa là anh trai Pao, có lớn có khôn, hai mươi hai tuổi đã là công an xã. Tủa đen cháy. Mặt soi trong nước vẫn thấy đỏ lừng bao ham muốn.

    Cả San Cha Chải chỉ có một người không tới giếng soi mặt. Ðó là Cư A Cấu, người quê đâu đó, một buổi chợ huyện tan thấy bà góa Lý Cài dẫn về cùng ăn cùng ở. Cấu lẻo khoẻo, da dẻ quánh chắc, mặt như ám khói. Mo Chúng nói: "Cấu đâu có phải đứt dây trên trời rơi xuống! Ông nó theo bọn Cờ trắng làm thổ phỉ cướp đường bị Tây bắt. Bố nó đón đường giết người buôn, lấy vàng bạc, bị Chính phủ ta bỏ tù. Nó là đứa lêu lổng, chuyên trộm cắp vặt ở bên Pa Cheo Phìn. Buồn cho bà góa Cài quá. Xưa, có hồi ở đội văn nghệ hát bài Mùa xuân hoa nở, họa mi còn đòi hát theo. Giờ lại chịu nó. Người không bằng cái giếng rồi".

    - Nhà này có ai tên là Cấu thì ra cho tôi hỏi. Chả lẽ đất San Cha Chải là đất hoang. Còn tôi là thằng bù nhìn giữ dưa, hả!

    Một buổi chiều sương sa, trưởng công an Tủa, mặt đỏ hăm, kìm chẳng được đã đến trước cửa nhà bà góa Cài quát vậy. Tủa vốn là người làm việc có trách nhiệm. Tủa tức lão Cấu lắm. Tủa quyết định bắt lão Cấu lên trụ sở viết kiểm điểm và sau đó trục xuất lão về quê cũ. Tiếc thay hôm đó, Tủa không gặp lão Cấu. Giáp mặt Tủa chỉ là bà Cài. Bà góa Cài ba mươi mà tươi mởn. Cổ trắng mịn, ngực bồng bềnh, đàn ông nhìn vào như bị say sóng. Bà lại có hai con mắt ướt, bình thường thì lăn tăn, lúc cười thì xoáy tít, khiến nhiều anh bị nó hút hồn chóng mặt. Chả hiểu đôi bên nói năng, trao đổi những gì, chỉ thấy lát sau, Tủa hứ một tiếng rồi chỉ mặt bà góa ỡm ờ: "Hừ, đại hạn lâu quá rồi hả? Nhưng chớ cậy mình đẹp mà đáo để với đây nhé". Rồi bỏ đi. Cái lý thua cái tình. Tình này lại là tình dục giống cái bếp lò nuôi lửa thâu đêm. Nghe chuyện này từ miệng Tủa, mọi người cười lăn lóc. Cài từ lúc thiếu nữ đã thuộc nòi đa tình, đa dục. Quyến quyện nhau với Cấu trong sắc dục, ngập ngụa trong chăn gối mây mưa, người đàn bà háo tình này còn đâu biết gì khác! Thôi, thể tình hãy cho qua.

    *

    Chuyện qua đi.

    Bốn năm, bốn lần ngải tàn ngải lại xanh, Cấu như cây bén rễ, đã thành người San Cha Chải. Pao đã sang tuổi mười sáu, học xong lớp bốn, môn gì cũng khá, đặc biệt toán hay, vẽ đẹp. Thầy giáo Tính nói: "Tôi hết chữ dạy em Pao rồi. Cơm chấm cơm, tôi cũng chỉ học hết lớp bốn trường làng dưới xuôi thôi mà". Mo Chúng bảo: "Thế thì nếu thầy ưng, tôi sẽ dậy thầy các bài cúng mo. Học các bài cúng mo mắt sáng ra nhiều. Chẳng hạn câu này thầy biết nghĩa lý nó làm sao không? Ba buổi sáng cũng là một đời người. Còn chuyện đo đất đo trời buổi mới khai thiên thầy biết chưa?". Thầy giáo Tính gật đầu: "Cụ lại cho tôi nhấp chén rượu đầu nồi. Thế thì còn gì bằng nữa!". Rồi quay sang Pao: "Còn em Pao, như nguồn nước dưới sâu vận chuyển lên mặt đất thành giọt nước có ích đi!".

    Pao soi mặt mình trong mặt giếng. Mặt Pao vẫn sáng trưng vậy. Rõ hơn là hai con mắt một mí, cái cằm vuông và gò mũi thẳng, toát ra một thần thái vừa chất phác hồn hậu, vừa văn vẻ, không hôn ám. Pao đã lớn, lớn thật sự rồi. Buổi sớm, nghe con gà gáy, Pao phắt dậy. Ngoài sân, con ngựa hồng một tuổi bậm bịch chân, răng nhe dữ tợn, thách thức. Trong hiên, anh Tủa đứng chống sườn, môi bậm, mắt nheo nheo cạnh chị dâu đang đẩy cối xay ngô rì rầm. Pao xuống sân, bước tới, tay trái đặt lên cổ con ngựa. Con ngựa phì hơi qua lỗ mũi trắng lóa. Thình lình, chân Pao gập lại và tay phải Pao như kìm ngoạm trúng chân trái con hồng, giật mạnh. Con ngựa ngã nghiêng, hai chân trên không đạp loạn xạ, cố chống cự. Pao nhanh như cắt vòng cả hai tay qua lưng bụng nó, cổ bành căng, hực một tiếng trong lồng ngực, xốc nó lên. Con ngựa như đứa trẻ quá khổ bị nhấc khỏi đất, kêu thất thanh sợ hãi. Anh Tủa cười gật gật: "Sức trai vật ngựa được rồi thì mọi việc nương ruộng giao cho em nhé, Pao!".

    Pao đã lớn. Pao đi cày nương đá. Pao phát rừng lau. Pao tham gia lực lượng công an của anh Tủa. Pao vác súng đi săn con lợn độc chuyên phá nương sắn. Một bận, ở giữa rừng già thuần phác gặp một thảm hoa sặc sỡ các cung màu nhưng ẻo lả, èo uột, chập chờn, người bỗng thấy mê mê như hít phải hơi độc, sợ quá liền cắm cổ chạy về. Gặp thầy giáo Tính ở nhà Mo Chúng đúng lúc trời đổi mưa, sấm sét rung trời. Mo Chúng nói: "Nó là cây thuộc phiện đấy, Pao à. Cái cây ra hoa kết quả gây hoảng loạn cả trời đất nên sấm chớp ầm ĩ lên đấy. Thằng Cấu đem cái xấu, cái ác về San Cha Chải rồi!".

    *

    Cấu đem cái xấu, cái ác về San Cha Chải rồi. San Cha Chải bình an, chó không lo giữ nhà, nhà không cần khóa đồng, khóa sắt, chim dạn người, trâu không biết màu trắng, miền đất chưa vong thân, như người nhảy một bước vượt rào, nẩy nòi ra thằng ăn trộm.

    Kẻ trộm Cấu lẻo khoẻo, tiểu nhân lộ tướng, giờ đã có da có thịt. Ðầu hói mũi khoằm, mặt rỗ, mắt rắn, bao nhiêu tinh tướng ác nghiệt giờ hiện ra cả. Cấu thổ vào không khí thanh sạch San Cha Chải mùi á phiện khài khài. Tình dục và nghiện ngập là hai kẻ xấu dẫn đường cho tội lỗi. Cấu ăn trộm quả bí, ổ trứng, con gà đang ấp. Cấu chẹn đường người đi chợ. Cấu đột nhập vườn cây tam thất nhà Mo Chúng. Cấu nhăm nhăm sấp tiền năm nghìn, mười nghìn buộc dây chuối Mo Chúng giấu trên gác bếp. Cấu thù ông vì ông biết quá nhiều về nó.

    Cuối cùng cái phải đến đã đến. Buổi sáng ấy hiện ra trong tiếng người nhôn nhao và chó sủa hoang mang. Pao mở mắt đã thấy chị dâu giúi vào tay một túi lanh đựng bột ngô đồ, giục: "Chú cầm đi ăn đường. Ra trụ sở ủy ban, anh Tủa đang cần gặp".

    Trụ sở ủy ban xã mái lợp cỏ ủ ê sương mây, sân đầy người, cửa ra vào nghẽn tắc. Trong nhà, Tủa, trưởng công an xã, chễm chệ trên ghế. Dưới đất, Cấu áo rách xõa vai ngồi gục mặt trong hai cánh tay vòng qua gối. Cạnh Cấu, bà góa Cài váy lanh, áo hở cổ trắng nhễu, má đỏ rạn, ngực nở phập phồng.

    Tủa đập bàn, quát:

    - A Cấu! Mày chưa chết đã thối. Ðã nghiện hút lại không lo làm ăn, chuyên đi trộm cắp của người. Mày như lông mọc trên da cũ. Mọi người cầm cày cuốc, kèn sáo, mày lại thủ trong tay con dao nhọn để đâm ông Mo Chúng. Ông Mo Chúng bị mày đâm hai nhát, may chỉ vào tay vào chân, nhưng tội mày vẫn đáng tội chết. Mày là ngọn gió độc đem dịch bệnh về đây, ta sẽ đưa mày ra huyện để mọi người biết cái tội của mày.

    Bà góa Cài ngẩng cái cổ nõn nà lên, nhễ nhại:

    - Giải nó ra huyện thì giải, nhưng đừng trói nó. Cái lý người Mèo nói: Ðời người Mèo bị sợi dây dính vào mình là hỏng hết rồi, anh Tủa à.

    Tủa đứng dậy, bé choắt, đen sắt, bước tới. Kéo Cấu đứng lên, quay ra cửa nhìn mọi người chứng kiến, Tủa đánh nhanh tia mắt vào khuôn ngực nở bồng của người thiếu phụ đa tình, đoạn tủm tỉm:

    - Tình yêu biết vận cả lý lẽ để tự vệ, mọi người nên học tập. Còn bây giờ, chiều lòng cô Cài, tôi có lời giải động cho nó đây - Ðấm nhẹ một cái vào lưng tên tội phạm, anh trưởng công an xã cao giọng, rành rọt - Từ nay mày không còn là người Mèo ta nữa - Ðoạn chống tay lên sườn, thét to:

    - Ðược chưa? Dân quân đâu, trói nó lại. Pao, dẫn nó lên huyện!

    Ðám đông ngoài sân, ngoài cửa dào lên một tiếng reo thán phục Tủa và giãn ra cho Pao dẫn Cấu đi.

    *

    Ði sau Cấu là Pao chĩa khẩu CKC.

    Trời mở bốn phương, tám hướng, sáng choang như được một nguồn thần lực chiếu tỏa. Trần mây cao vút, vắt qua vắt lại những sợi mây trắng muốt, mảnh như lông đuôi ngựa. Vòm trời bát ngát như thuở ông Chày bà Chày mới làm ra đất ở chuyện đo đất đo trời Mo Chúng kể. Ðất rộng quá, nhờ nhái bén đo, nhái bén đo không nổi. Trời rộng quá, nhờ chim én đo, chim én đo không xong. Phải nhờ diều hâu. Ðất trời rộng rãi quá, một mặt trời, một mặt trăng soi chiếu không đủ. Phải chẵn ba mươi cái mặt trời, phải đủ ba mươi cái mặt trăng. Ðất trời bao la quá, Pao nhìn xuống chân mình, tự hỏi chẳng biết đôi giầy nào lạc bước tới đây. Ðất trời mênh mông quá, đời người rộng quá, Pao ngơ ngẩn tự hỏi, biết bao giờ mới hiểu hết mọi điều, mới trở nên khôn ngoan như anh Tủa của mình.

    Pao thấy mình bé nhỏ và nhìn xuống chân núi xa mờ thấp thoáng cảnh tượng phố huyện như trong hư giác, Pao có cảm giác như vừa từ xứ sở này bước sang xứ sở khác, lạ lẫm, khó hiểu vô cùng.

    Cấu hoàn toàn không giống Pao.

    Bị trói hai tay quặt ra sau mà Cấu vẫn phăm phăm bước. Gặp dốc, chân toại đít trệt đất, Cấu trượt từng đoạn dài. Sau mỗi khúc ngoặt, cái đầu mới gọt của Cấu lại nghênh ngáo nhìn trời. Có lúc lại dừng lại, hít hà thích thú vì chợt nhận ra một cảnh trí quen thuộc. Tới một vòng cua, nhìn thấy phố huyện nhấp nhô hình khối, lão quay lại hất hàm vào Pao, thân mật như bạn bè: "Pao, giá mà có một cái thang dây thả xuống thì có phải tiện không nhỉ?".

    Lát sau, tới đỉnh một con dốc. Cấu bỗng dừng chân và quay lại nhìn Pao, nằn nì:

    - Pao à. Bên trái ta là miếu Quan Âm thiêng lắm. Tay anh bị trói, nhờ cậu nhặt một cây sậy khô đặt cạnh nơi thờ phụng hộ.

    Bên trái đường là một hốc đá nhỏ, bên trong có một bát hương và ba cồ đá quàng vải đỏ từa tựa hình người. Tục truyền đó là miếu thờ Phật bà Quan Âm. Ai qua đây, đặt cây sậy sẽ được Phật phù hộ leo dốc chân không mỏi, xuống dốc gối không chồn, đường xa gặp nhiều điều may mắn.

    Pao nhặt hai cây sậy, một cho mình, một cho Cấu, đặt cạnh hốc đá thờ.

    - Cám ơn cậu. Thôi anh em ta đi kẻo nắng. Con mắt đánh lừa thôi chứ đường còn xa lắm.

    Cấu nói và rảo bước đi trước, tự nhiên như kẻ dẫn đường. Pao theo sát lão. Lát sau, một già một trẻ chênh vênh bên bờ một vực sâu. Cấu ngoái lại:

    - Cậu Pao này, cứ nghĩ một mình lại thấy buồn cười.

    - Sao?

    - Anh Tủa thì đen thủi đen thui. Em Pao thì trắng hồng đẹp đẽ.

    - Sì!

    - Nói thật đấy. Cậu là giọt nước quý, là hạt bạc hạt vàng San Cha Chải. Tôi là con gái tôi mê cậu liền.

    - Sì!

    - Ơ kìa, anh trai Pao ơi, anh trai không biết là các em Seo Say, Seo Mùa mê mẩn anh như thế nào à. Húi! Chẳng bù ông Tủa. Ông Tủa mấy cũng chưa đủ. Cả con mụ Cài của tôi nữa. Chà, nhất là Seo Say, uống chén rượu đầu của lão Mo Chúng say thế nào thì nó say anh như thế đó. ồ, thế anh trai Pao là con gà trống thiến à? Nếu không, sao không thử một lần xem sao!

    Mặt Pao nong nóng. Cấu bịa chuyện, lại chuyện trai gái tục tĩu. Nhưng có chuyện nghe, đường xa cũng đỡ nản. Mặt trời đứng bóng, cái đói râm ran bụng, tới đoạn đường có cây mí già rợp bóng, Pao dừng lại: "Nghỉ một tí" Pao nói, đi cách Cấu hai bước chân, móc túi bột ngô, ngồi xuống.

    - Này, ông Cấu, ngủ à. - Vốc mấy vốc ngô bột đút miệng, nhoai cổ nuốt, Pao quay lại, thấy lão già tựa lưng gốc mí, mắt gà gà, liền bước tới: - Há miệng ra, tôi bón cho. Cấu mở choàng mắt. Cổ họng nhún một miếng nuốt. Rõ ràng là đói ngấu rồi. Ðêm qua mò vào ăn trộm, rồi vật lộn với ông Mo Chúng, đã có gì vào bụng! Mệt, đói, lại đã nửa ngày đường, họa có sức ngựa dữ mới không lử lả!

    [​IMG]
    [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] [​IMG]

    Cấu há mồm, thè lưỡi. Nhưng tay Pao vừa chạm môi lão, lão đã giật lui, gục mặt xuống, rũ rượi:

    - Tôi bằng đứa bé lên một rồi.

    - Phải thế thôi. Cũng là tại ông thích làm kiếp già lừa ưa nặng, nhìn con mèo lại vẽ thành con hổ?

    Ngẩng mặt lên, tắt ngay một ánh nhìn dò xét lướt qua mặt Pao, Cấu gượng gạo há mồm. Miếng bột ngô quện nước bọt đắng ngắt nghẹn ắng. Lão nhoai cổ nuốt:

    - Thì tôi phải tự thồ lấy tội thôi.

    - Tôi không ngờ ông độc ác thế!

    - Tôi xấu hổ lắm. Tôi biết tôi hư đốn từ lâu rồi, cậu Pao à.

    - Hừ!

    - Nhưng cậu cũng thông cảm cho tôi! Tôi bị con mụ góa nó quyến rũ. Tôi bị con ma nó sai, con quỷ nó khiến. Tôi có muốn hại ông Mo Chúng đâu, thực tình là thế.

    Nước ứa khỏi hốc mắt, Cấu đứng dậy, mặt giần giật như là bị cơn tự thú giày vò. Hai tay bị trói, Cấu chỉ còn cách nhấc bả vai lên đập vào mặt mình. Mỗi lần đập là một lần rít qua hàm răng nghiến chặt tự rủa: "Cấu"! Mày là người không tốt. Cấu! Mày là con chó thối!".

    Pao vội chống súng đứng dậy, đưa tay xua, ngất ngứ nghẹn hơi:

    - Ông Cấu, không nên thế! Không nên thế, ông Cấu!

    - Cậu cứ để tôi tự trừng phạt mình. Cứ để tôi khóc cho tôi nhẹ lòng. Tôi biết, cậu có thù oán gì tôi đâu. Còn ông Tủa, thực tình ông cũng chỉ ghen tôi với cô Cài thôi. ối!

    Ðang than vãn và tự sỉ vả, Cấu bỗng như giẫm phải gai, giật nảy người, thét to một tiếng. Vừa lúc, gáy Pao cũng bị một mũi kim nhọn hoắt xuyên thấu buốt tới tận đỉnh đầu. Nhìn sang, thấy Cấu há hốc mồm, mắt đảo thiên đảo địa, chân nhảy tành tạch, cuống cuồng. Pao liền kêu to: "Ruồi vàng đấy! Chạy đi".

    Quanh Pao, quanh Cấu, đuổi theo hai người là những vòng bay vu vu. Lũ ruồi vàng làm tổ ở khu rừng vầu cạnh đường, vừa ngửi thấy hơi người, đã bay ra, nhằm họ hút máu, hút mồ hôi mặn.

    Cấu trước, Pao sau, cả hai cùng tung tóa, hốt hoảng. Qua cánh rừng vầu, hết bãi nương sèo, tới một bờ suối lớn, hai người mới dừng lại và vừa thấy mặt nhau liền ôm bụng dụi xuống đất. Buồn cười lắm mà mệt quá không cất được tiếng. Cả kẻ tội phạm lẫn người áp giải đều như nhau. Cùng lem luốc, nhễ nhại.Cùng lử lả như sắp đứt ruột mà chết. Cùng dị hình dị tướng vì sưng vếu, méo mó mặt mày. Nọc ruồi vàng ác hiểm quá. Pao bị nó chích một phát vào gáy, một phát vào cổ, ngứa ran, nóng bừng. Khốn nạn là Cấu. Hai tay bị trói, chạy đã khó, lại vô phương chống đỡ. Ðâu có được như Pao còn có thể cởi áo, vừa chạy vừa văng áo đánh đuổi lũ ruồi ác. Ðã thế cái đầu trọc giờ mới thật báo hại lão! Ðầu lão, trước sau, trái phải, nổi cục nổi hòn mưng tấy. Ðau, buốt, nhức, ngứa, xót lão chỉ còn cách cọ lưng vào tảng đá bên đường và cắn răng nuốt nghẹn, để mặc nước ri rỉ chảy ở đuôi mắt.

    - Ngứa lắm, hả ông Cấu?

    - Ngứa!

    Lọt qua giữa hai hàm răng nghiến chặt là một tiếng rít gió. Ðau đớn, uất nghẹn, tủi nhục, đã có lúc Cấu nhảy dựng lên và hộc một tiếng kêu tắc nghẹt. Pao quay mặt đi. Pao chưa bao giờ gặp cảnh huống này. Chưa bao giờ Pao thấy một người già khóc tức tưởi uất hận như thế.

    - Ông Cấu này, bây giờ tôi cho ông tắm một tí nhé.

    Vừa nhướng hai mi mắt trên, Cấu vội cúi gập mặt, rầu rầu:

    - Tôi sợ phiền cho cậu. Với lại, tôi bị trói thế này.

    Pao nhìn dòng suối bên đường, nhìn quanh, ngần ngừ giây lát, rồi đi ra sau lưng Cấu, tay lần tìm nút dây trói:

    - Ông Cấu! Ông đã ân hận. Tôi tin ông.

    - Cám ơn cậu. Thân ong tự ngắt làm ba đoạn, tôi tự biết chứ!

    Cấu nhảy ùm xuống suối. Lặn một hơi, Cấu ngoi lên, thấy Pao lăm lăm ngọn súng dõi theo, liền nhe hàm răng xỉn:

    - Mát lắm, Pao ơi! thật không đâu mát như nước suối quê ta. Tắm đi, cậu.

    Pao lắc đầu. Cấu lại ngụp đầu, lại ngoi lên, kỳ cọ bả vai, xoa cổ, vò đầu, hít hà khoái trá. Rồi phởn, lão còn chúc đầu chổng phộc người, chồng cây chuối, vẫy vẫy hai cẳng chân giơ ngược gọi Pao. Lát sau, thỏa mãn, Cấu bò lên bờ đá, ý tứ khum khum tay che hạ bộ, mặc lại quần áo, đi đến bên Pao:

    - Cậu trói lại tôi đi! Rồi cậu tắm một cái đi cho mát mẻ. Xong, ta đi. Một thôi đường nữa là tới huyện rồi.

    Thít vòng dây cuối cùng, thắt thật chặt núi trói hai tay Cấu, Pao chỉ tảng đá bên bờ cho lão ngồi, rồi ghếch khẩu súng vào cạnh một bụi cây và cởi quần áo, tụt xuống nước. Nước mát lịm mời mọc. Pao vớt nước táp lên mặt, lên tóc. Thích quá, Pao nhúi đầu xuống nước. Pao chìm hẳn xuống nước như con rái cá. Hai lần như thế, ngoi lên Pao đều thấy Cấu giậm chân cười khành khạch: Lặn giỏi thế, San Cha Chải chỉ có Pao thôi!.

    Lần thứ ba, Pao nhô đầu khỏi mặt suối, đưa tay vuốt mặt, bỗng thấy hẫng con mắt. Chỗ Cấu ngồi giờ chỉ còn là tảng đá trống: "Ông Cấu!", Pao quát gọi, nhảy vọt lên bờ, nhấc khẩu súng và nổ một phát chỉ thiên. Núi vọng lại tiếng súng, tiếng Pao thét: "Cấu, lão đã lừa ta. Ta cho lão nợ một món to đấy!".

    Lừ lừ hai con mắt im phắc như hai vết dao xẻ, Pao đến nhà bà Cài. Gọi bà góa ra, Pao nói thật chậm:

    - Bà Cài. Ông Cấu hơi coi thường tôi... Nhưng tôi nói để bà bảo ông ấy: Nợ càng để lâu lãi càng lớn đấy!

    Bà Cài vênh đôi gò má cao:

    - Cấu với tôi thành người lạ rồi.

    Pao lừ mắt:

    - Bà cũng tưởng tôi còn là trẻ con, hử ?

    Pao lầm lì. Miệng ngậm. Mắt gườm, suốt ngày không mỏi. Soi trong giếng nước, có lúc giật thột, vậy đưa tay lên rờ mặt: Ai thế nhỉ ? Con người luôn xa lạ với chính mình. Con người luôn dao động giữa các cực căng thẳng. Chỉ có thể hiểu được nó bằng kinh nghiệm riêng, bí ẩn và sự từng trải cũng rất bí ẩn. Vì con người khó hiểu, khôn lường. Như anh Tủa đó. Anh Tủa được điều ra làm việc ở huyện, được đề bạt làm phó công an huyện. Nghe nói anh sẽ xây nhà gạch ở ngoài đó. Rượu ngô của Mo Chúng anh chê uống xổng, giờ anh uống toàn rượu Tây. Anh tuyển mộ cô Seo Mùa xinh nhất xã làm nhân viên văn phòng. Có người nói thấy hai người sống với nhau cùng buồng những ngày chủ nhật. Anh Tủa chỉ mặt Pao quát: "Cái thằng ngu xuẩn, dái có to mà không có hột kia! Mày không bắt lại được lão Cấu thì mày thay nó vào tù". Chị dâu bênh Pao, bảo Pao không có lỗi, lỗi là ở lão Cấu, là do xã dung dưỡng lão quá lâu. Anh Tủa quát: "Bà là cái chõ đồ xôi biết gì!". Pao uất. Pao đến nhà thầy giáo Tính, gặp Mo Chúng ở đó. Mo Chúng đã chữa lành vết đâm của Cấu. Mo Chúng bảo: "Ðừng lo! Cái gì đến nó khắc đến! đừng sốt ruột". Rồi ông thêm: "Cấu nó có lòng thành với Phật bà Quan Âm nên nó được phù hộ đấy". Pao ngất ngư: "Sau lúc ấy, cháu như người bị mê". Mo Chúng cười: "Thầy Tính và Pao biết câu hát này chưa: Mười tuổi tắm không biết rét. Hai mươi tuổi yêu không biết mệt. Ba mươi tuổi bắt chim không cần nỏ. Bốn mươi tuổi, giỏi buôn bán đường xa. Cháu muốn khôn trước tuổi à ?!".

    Pao muốn khôn trước tuổi! Quên cả mối tình mới nở với cô Seo Say, ngày đêm Pao nung nấu ý chí thanh toán khoản nợ với lão Cấu. Pao rình ở trước nhà bà Cài. Pao nấp ở nương nhà bà góa nọ. Lão Cấu không phải là con thú, không thể sống đơn độc một mình. Lặng lẽ Pao theo sau người đàn bà đa tình này đi chợ. Bà này địu trên lưng những cái ống điếu, những cái gáo gỗ, những quả nhạc đuôi ngựa. Tay đàn bà không làm ra được những đồ vật này. Dõi theo bà này từ xa, thấy bà bán hết những vật dụng nọ, lại ra hàng may mặc mua hai bộ quần áo đàn ông, Pao chắc mẩm Cấu chỉ quẩn quanh đâu đây, như kiến bò miệng chảo nóng thôi. Bạn bè Pao cười: "Pao à, cứ chui gầm giường nhà bà góa Cài là bắt được lão Cấu đấy". Lại có thằng thêm: "Nhỡ không phải lão Cấu thì sao?". Những đứa khác nhao nhao: "Ai! Ai?". Pao biết, chúng ám chỉ ai rồi, mặt đỏ rần rần, Pao bỏ đi.

    Một lần, có việc sang thôn bên, trở về đến đoạn miếu Quan Âm thì trời nhá nhem. Ðang đi, bỗng vấp nhẹ, Pao ngẩng lên, liền thót người đứng ngay đơ, mặt đỏ dừ. Trời, ngay cạnh hốc đá thờ, một người đàn ông đầu trọc đang hấp hổm trên bụng một người đàn bà tóc xõa rối, váy áo tung tả nằm trên thảm cỏ ngải. Sao lại làm tình với nhau giữa ban ngày, nơi đường lối đi lại! Sao Pao lại lỡ bước tới đây! Xấu hổ cho Pao quá. Quay ngược trở lại con đường vừa đi, Pao chạy trong mê. Qua cơn mê hoảng, Pao dừng lại, vì sực nhớ. Cái đầu trọc méo mó của người đàn ông sao giống đầu lão Cấu. Vội vàng, Pao quay trở lại. Tới hốc đá nọ. Pao sững người, lưng như sụt mất đốt sống, mồ hôi toát đầm đìa. người đàn ông đầu trọc đã biến mất. Cạnh hốc đá thờ chỉ còn lại bà góa Cài ngồi trên thảm cỏ nhầu, cổ, mặt lấm tấm mồ hôi, vừa xốc lại váy áo, đang thong thả chải đầu. Cỏ ngải xanh bị chà nát bốc mùi tinh dầu thơm nằng nặng. Khóm ngải tàn rồi khóm ngải lại xanh. Câu hát hết rồi câu hát lại bắt đầu. Thời gian đã đi qua bao lâu không nhớ, chỉ biết lại đến một hôm xóm thôn nhộn nhạo tỉnh giấc. Nhìn ra đường thôn, mình lại thấy: Cấu đi trước, hai tay bị trói quặt sau lưng, Pao đi sau, nách cắp khẩu súng kíp, má trái có vết xước rớm máu, mắt lì lì. Ðang giờ vào lớp, học trò thầy giáo Tính chen đến cạnh Pao, líu tíu: "Anh Pao ơi, anh bắt lão ấy ở đâu thế?". "Nó cào anh, anh có đau không, anh Pao?". Pao không đưa lão Cấu vào trụ sở ủy ban xã. Pao dẫn thẳng Cấu ra huyện. Coi như mấy năm qua vẫn là trên đường đi chưa đến đích.

    Cấu đi trước, Pao đi sau. Cảnh lặp lại, nhưng không giống lần trước. Vì lần này qua miếu Quan Âm, Pao chỉ chống một cây sậy cho Pao. Hai người đi tắt không qua rừng vầu có ruồi vàng. Qua con suối lớn, Pao không dừng lại. Ðường đi không có tiếng nói đi theo. Vì lần này Cấu còn có chuyện gì mà nói. Vì lần này môi Pao không một lần mấp máy. Pao đã khôn rồi. Pao nghiêm nghị ngẫm nghĩ. Pao câm lặng như núi đồi, như cảnh trí vô thanh.

    Vô thanh cả trời đất, xóm làng San Cha Chải, vì từ sau hôm Pao áp điệu Cấu ra huyện, ba ngày qua, vẫn không một tin tức theo gió bay về. Một tuần qua, cũng vẫn vậy. Thầy giáo Tính sang nhà Mo Chúng, xoa xoa hai bàn tay, khấp khởi:

    - Hóa ra Pao nó rình ở nhà bà góa Cài, Mo Chúng à.

    - Vậy à?

    - Nó rình cả đêm như con mèo rình con chuột. Muỗi hút máu đỏ mọng cả hai bàn chân. Lão Cấu nửa đêm mò về, nó biết. Nó cứ để mặc. Gần sáng, lão dậy, mở cửa đi ra. Nó mới đưa tay ra tóm cổ lão, áp lão vào bờ tường: "Sao hôm ấy tắm xong ông đi đâu mà tôi gọi mãi không thấy về. Thôi, anh em ta đi kẻo nắng". Bà Cài chạy ra, tốc váy xong lại cào cấu Pao. Rồi kêu van: "Em đừng trói nó, tội nghiệp, Pao ơi!". Pao nói: "Tất cả là do trâu be muốn mang ách thôi, đừng trách oán gì tôi".

    - Pao là người có trí lực đấy! - Mo Chúng nói.

    Thầy giáo Tính thêm:

    - Hồi đi học, Pao là đứa hay xấu hổ, ít nói lắm. Một bận tôi cho cả lớp vẽ tự do. Pao nộp tôi bức tranh vẽ một con chuột nhắt đứng run rẩy cạnh một khối hình tròn. Tôi hỏi: "Khối hình tròn là cái gì?". Nói đáp: "Thưa thầy, đó là phía sau lưng con mèo". Con người ta nói thì không nhất thiết, nhưng nghĩ ngợi thì nhất thiết phải có - Ngừng một lát, thầy giáo Tính cắn môi, gật gù: - Sao đến giờ vẫn chưa thấy Pao nó về. Liệu có bị Cấu lừa lần nữa không? Sao, tôi cứ lo. Cái xấu, cái ác, sao nó quỷ quái, nó khôn ngoan hơn cái tốt cái đẹp?

    - Không! Cái xấu cái ác là cái ích kỷ nhằm hại người nên nó phải khôn ranh quỷ quái. Cái tốt, cái đẹp là cái hiền hậu, nó vô tư bền vững hơn. Nó là cái khởi thủy. Có điều nó phải chuyển động, để tự khôn lớn dần lên, để trở nên có ích. Như thầy đấy. Mười năm thầy ở lại đây dạy trẻ con Mèo rồi. Cái tốt, cái đẹp của thầy lớn lao, cái gì so nổi.

    - Thế thì có khi huyện giữ Pao lại?

    - ừ, có thể là huyện giữ Pao lại!

    Huyện giữ lại? Ðể làm báo cáo thật tỉ mỉ. Ðể Pao đi các nơi kể chuyện cho mọi người học tập, rút kinh nghiệm. Bọn can án thường bỏ trốn, bắt lại chúng là một công việc rắc rối, phức tạp. Nhưng, huyện giữ lại thì cũng có hạn thôi chứ. Hai tuần trôi qua rồi. Sốt ruột, chiều nào thầy giáo Tính cũng sang Mo Chúng trò chuyện và ngóng mong. Thì trưa ấy, nghe tiếng nước rơi tành tạch ở giếng nước, thầy giáo Tính liền ngó ra. Cạnh giếng, một người trai trẻ, ngực trần, thân tròn trĩnh, dáng thẳng như cây thông nhựa, đang đứng trong màn nước trắng xoá đổ từ chiếc gáo múc ở trên đầu xuống. Lát sau, đặt chiếc gáo trên bờ giếng, người nọ đưa hai tay lên vuốt mái tóc rậm đen, ngửa mặt nhìn lên trời cao. Trên anh, vòm trời xanh thăm thẳm cổ kính, như một linh hồn thanh tao ẩn mật lớn lao đang tỏa xuống xóm thôn San Cha Chải niềm ưu ái thật dịu dàng và nhân hậu thiết tha. Ôi! San Cha Chải! Thế là sau một ngày leo dốc cật lực ta lại trở về với mình.

    Thầy giáo Tính gọi tên người học trò cũ và chạy ra. Mừng quá, mồ hôi ướt đầm trán, thầy lắp bắp:

    - Pao! Sao Pao đi lâu thế mới về? Sao lâu quá thế, Pao?

    Pao khoác vội cái áo, chắp tay:

    - Thưa thầy, em không biết tháng biết ngày, em tưởng không lâu.

    - Lâu đấy. Tôi có tính ngày. Pao đi từ ngày thứ hai tuần trước.

    Cảm động long lanh hai khoé mắt, Pao ngập ngừng, rưng rưng:

    - Thưa thầy, em cám ơn thầy vẫn dõi theo em. Em mong được thầy thông cảm, vì suýt nữa em lại tủi hổ. Vì chả lẽ gạo ngon không có người nấu. Vì chả lẽ lại có chuyện người cầm cương, người cưỡi ngựa chống nhau, hả thầy? Em đưa ông Cấu ra huyện gặp anh Tủa em, anh Tủa em bảo: Ðể lâu quá năm năm, án thối rồi. Mày bắt nó làm gì! Lại mang tiếng là tao vì mê con mụ Cài mà ghen tức nó! Thiếu gì gái non mà tao phải dây vào con mụ nạ dòng. Vả lại, tao đang thiếu gì việc to lớn khác. Thế là em phải đưa ông Cấu ra tỉnh. Ra tỉnh đi mất hai ngày đường. Hai ngày, không lâu, nhưng đường từ huyện ra tỉnh bằng phẳng nên mỏi chân quá. Gần đấy mà xa đấy, xa đấy mà gần đấy là thế. ồ, thế là đã năm năm! Em qua tuổi hai mươi từ lúc nào, thầy ơi!

    Nói hết câu cuối cùng, Pao liền bật khóc. Pao khóc tiếng khóc tủi hờn như con trẻ. Người San Cha Chải mình nghe Pao khóc, nói: Ðó là tiếng khóc lớn khôn của Pao.
     
  12. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Giấc mộng cuối cùng

    Triệu Huấn

    Bà Mây được xây tặng ngôi nhà "Tình nghĩa" hai chục mét vuông. Thân tộc, xóm giềng, cơ quan đoàn thể đến chúc tụng, pháo nổ đì đùng vui hơn ngày Tết.

    Năm nay bà tròn tám mươi. Lấy chồng từ tuổi mười lăm, sinh được hai đứa con trai. Chồng hy sinh ở Ðiện Biên khi thằng thứ hai mới lên năm. Năm 62 người con đầu cưới vợ, được đứa con gái thì đi bộ đội. Sau đó bốn năm, Vũ Văn Bình, cậu thứ hai thi vào đại học cũng vừa độ tuổi nghĩa vụ quân sự. Nghe nói Bình đỗ, nhưng giấy báo điểm về muộn nên anh đã vào quân ngũ. Bà mẹ ngậm ngùi, nhớ thương nuối tiếc khi chiến tranh thực sự bước vào nhịp độ khốc liệt.

    Nhà chỉ còn đàn bà trẻ con. Họ sống chờ đợi cho đến khi cuộc chiến kết thúc. Song những người đàn ông đều không trở về. Thay vào đó là hai giấy báo tử cùng đến một lúc! Xã phải bí mật tách làm hai đợt truy điệu cách nhau bốn tháng.

    Một năm sau cô con dâu xin đem con về nhà mẹ đẻ rồi lấy chồng bên kia sông Ninh. Bà mẹ Mây sống độc thân từ thuở ấy. Tuổi sáu mươi trời còn để cho bà sức khỏe đủ chống chọi với gian truân. Nhưng sang tuổi bảy mươi thì mọi sự đều biến đổi. Ðứa cháu gái lấy chồng ngoài phố huyện cũng ít khi về thăm nom giúp đỡ bà. Hợp tác xã nông nghiệp suy tàn chẳng còn đủ sức bao cấp cho diện "ưu tiên" ngày một rộng. Bà sống tùng tiệm bằng mảnh đất phần trăm. Bốn gian nhà tranh giột nát mỗi năm một thu nhỏ lại đến nay chỉ như một túp lều. Kèo cột, rui mè mòn mỏi muốn ụp xuống cùng với tuổi già tàn tạ của bà. Họ hàng làng xóm cũng còn người chạy đi chạy lại. Song người tốt bụng thường lại nghèo nên chẳng ai cưu mang nổi.

    Một hôm có người đàn bà dung nhan tươi tắn, dáng vẻ phúc hậu, áo quần nền nã, khoác chiếc túi lớn, lần hỏi đến nhà bà. Chị nói giọng miền trong hơi khó nghe.

    - Con có công việc buôn bán qua vùng này. Trời gần tối con muốn nhờ bà cho nghỉ lại một đêm được không ạ?

    Bà Mây ngần ngại.

    - Nhà tôi nghèo, chiếu manh, giường chiếc. Ðêm nằm năm ở, muốn rộng rãi sạch sẽ, để tôi nói với bà Cầm nhà liền ngõ đây thôi. Còn nếu chị vui lòng nằm chung với già thì ở đây cũng được.

    - Con cảm ơn bác. Thân gái dặm trường con không muốn đến nhờ vả nhà có đàn ông. Ðược nằm bên bác là con mừng lắm rồi.

    Bà Mây vẫn thấy hơi lạ lùng và có phần nghi ngại. Thời nay thiếu gì kẻ gian lợi dụng lòng tốt của người khác để lừa đảo kiếm chác. Nhưng nhà mình thì chẳng có gì đáng để mất nên bà vui vẻ thu dọn cho khách có chỗ nghỉ ngơi tươm tất.

    Người khách lạ xin nấu nhờ bữa cơm. Chị có sẵn gạo, thức ăn trong túi. Bà Mây ra vườn tuốt cho nắm rau ngót. Chỉ một loáng bữa cơm ngon lành đã dọn ra. Gạo trắng thơm phức. Giò chả, gà luộc, cá thu kho toàn những thứ mà từ lâu lắm bà Mây chỉ thấy trong ký ức!

    - Con mời bác ăn cơm với con!

    - Chị cứ tự nhiên, tôi ăn rồi.

    Thực ra bà nấu một bữa ăn hai. Còn lưng cơm nguội khô nhăn vẫn trong đáy niêu.

    - Con nấu đủ cho hai mẹ con. ít nhiều bác dùng một lưng cho con vui!

    Nói rồi chị kéo bà lại ngồi bên mình, rót rượu ấn vào tay, tiếp thức ăn đầy bát, mời chào đon đả thân tình như con cái trong nhà.

    - Chị có tiền mua thức ăn ngon sao không dùng bữa ngoài hiệu cho gọn, mang theo làm gì thêm lách cách?

    - Dạ con ăn trưa ngoài phố huyện, nghe nói đường vào đây còn xa, sợ trong này không có hàng quán nên phải chuẩn bị tí chút.

    - Trong này cũng chẳng thiếu, có tiền là đủ cả... Chắc chị buôn bán kiếm được nên mới tiêu pha rộng rãi thế này?

    Thiếu phụ cười hiền lành.

    - Nhà con cũng làm ruộng như quê ta đây thôi. Nhưng gần rừng liền biển nên kiếm cũng dễ. Con xin thưa thực với bác là con chẳng phải dân buôn. Con đi tìm em trai con. Cha mẹ mất sớm, chỉ còn hai chị em. Cậu ấy giận vợ chồng con bỏ nhà ra đi, nghe nói đã lấy vợ, lập nghiệp ngoài này. Con phải chuẩn bị tiền bạc cho chuyến đi tới đích.

    - Thế cậu ấy tên là gì?

    - Em con tên là Bình. Vũ Văn Bình.

    - Thì ra cùng họ tên với thằng con thứ hai của tôi! - Bà cụ thở dài. - Nhưng em Bình nhà tôi hy sinh năm 1973 rồi!

    Người đàn bà thất sắc, tay run run vội buông bát đũa ngồi chết lặng như người mất hồn. Bà mẹ ngạc nhiên hỏi khách.

    - Có chuyện gì thế chị?

    - Dạ con nghĩ đến em con, nghĩ đến cái chết ở nơi đất khách quê người. - Chị lau nước mắt cười gượng. - Có lẽ con hỏi thăm nhà cậu Bình mà người ta chỉ tới đây.

    - Theo tôi biết thì làng này không có anh rể ngụ cư nào là Bình. Có thể người đưa tin hiểu lầm chăng?

    - Con cũng nghĩ vậy... song tâm tưởng lại cứ tin chắc là em con đang sống quanh quẩn nơi đây. Nó mai danh ẩn tích cũng là muốn tránh mặt con thôi. Con sẽ còn đi lại vùng này, bác cho phép con thỉnh thoảng lưu nhờ đôi ba bữa.

    - Chị cứ coi đây là nhà mình. Tôi cũng sẽ dò hỏi giúp mấy làng quanh đây, có tin gì tôi mách chị.

    Ðêm đó bà Mây nằm cạnh khách chuyện trò thâu đêm. Lâu lắm bà mới có dịp dốc bầu tâm sự, chia sẻ buồn vui với một người xa lạ. Thế mà khách lại chăm chú lắng nghe, hòa chung tiếng cười giọt lệ như người thân trong nhà...

    Sáng hôm sau bà tỉnh dậy thì đã thấy chị ta chuẩn bị cơm nước chu đáo bày đặt gọn gàng mời bà đi dùng bữa. Bà mẹ cảm động và thầm nghĩ: y như cô Tấm trong quả thị chui ra vậy.

    �n uống xong chị xin phép bà đi tìm em, gần trưa mới về. Bà hỏi, chị thở dài, chưa thấy tăm hơi gì. Chị mở túi lấy bộ đồ ướm vào người bà ngắm nghía. Lại có cả chiếc áo bông dày dặn bằng láng hoa đen.

    - Trong ta không có thứ này hay sao mà chị phải ra đây mua?

    - Dạ con mua để biếu bác đấy? Bác mặc chiếc áo bông vào xem có vừa không? Con hẹn với chủ hàng là nếu mẹ tôi mặc không đẹp thì tôi sẽ mang ra đổi chiếc khác?

    - Chị mua cho tôi? - Bà ngạc nhiên tròn mắt nhìn người khách lạ. - Ôi tôi không dám nhận đâu! Tốn phí thế này tôi biết lấy gì đền ơn chị!

    Thiếu phụ cười đôn hậu:

    - Mấy thứ này cũng rẻ thôi, xin bác đừng bận tâm. Con mà tìm được cậu cháu thì ơn bác lớn gấp trăm lần chứ bộ quần áo nào so sánh được?

    - Nhưng mà... - Bà Mây xúc động nghẹn ngào không nói được.

    - Trời Phật xui khiến hay sao mà anh Bình, con mẹ lại trùng họ trùng tên với cậu em con. Xin mẹ hãy coi con như con gái mẹ.

    - Mẹ cảm ơn con! Tên con là gì mẹ chưa biết mà con đã bỏ hàng đống tiền mua quà cho mẹ... Mẹ thật có lỗi với con.

    - Tên con là Huệ mẹ ạ.

    Từ đấy bà Mây có cô con nuôi người đường trong. Huệ đi rồi, thu xếp chăn gối bà thấy một gói tiền khá lớn. Bà tưởng chị quên nên ngong ngóng chờ quay lại nhưng không thấy. Bà lo lắng đem giấu kín sợ kẻ gian biết đến cuỗm mất thì mang tiếng.

    Nửa năm sau chị Huệ quay lại. Mới nhìn thấy chưa kịp hỏi han bà đã vội đi lục gói tiền mang ra trả. Chị ôm lấy bà mẹ ứa nước mắt.

    - Mẹ ơi đấy là số tiền con định đưa biếu mẹ nhưng lại sợ mẹ không nhận. Con đặt dưới gối để khi cần mẹ tiêu. Thế mà mẹ vẫn giữ đến giờ?

    - Mẹ nghèo nhưng con có để bạc triệu thì mẹ vẫn giữ cho con. Tấm lòng con còn quý hơn vàng!

    Từ đấy biếu gì chị phải đưa tận tay, dặn dò kỹ lưỡng. Thấy vách lở chị nhào bùn trát kín, thấy mái dột chị leo lên dọi lại. Tuy hàng năm chị mới ra nhưng bà mẹ cảm thấy ấm lòng, còn có người để mà mong đợi mà nhớ thương.

    ...

    Nhưng từ ngày bà được xây "căn nhà tình nghĩa" thì lại không thấy chị Huệ ra. Bẵng đi một năm rồi, ruột gan bà cứ héo hon buồn thảm. Nhà cao cửa rộng làm gì khi nỗi nhớ mong cứ chìm trong tuyệt vọng.

    Từ khi bà có chốn ở khang trang, cái Tuyến, cô cháu nội lấy chồng trên huyện cũng năng phóng xe về thăm. Người con dâu tái giá bên kia sông thỉnh thoảng cũng đáo qua. Nhưng lòng dạ bà vẫn không nguôi ngoai hình bóng người con nuôi xứ lạ...

    Rồi một hôm Huệ dẫn theo một chàng trai cao lớn, dung nhan tuấn tú về thăm.

    - Thưa mẹ, hôm nay con đưa cháu Vũ Bình Minh, con trai con ra thăm bà.

    - Cháu chào bà ạ?

    - Ôi! Cảm ơn con, cảm ơn cháu! Hơn năm qua mẹ mong đỏ mắt chẳng thấy con ra. Mẹ cứ lo chưa gặp con thì chết không nhắm mắt nổi.

    Ðêm hôm đó Bình Minh nằm nhà ngoài, Huệ và bà Mây chung giường buồng trong chị mới kể lại những điều sâu kín của mẹ con mình cho bà Mây nghe.

    *

    Năm 87 tiểu đoàn 12 chuẩn bị vượt Trường Sơn vào chi viện cho chiến trường B6. Bộ đội được đi phép lần lượt. Bình về thăm mẹ và gia đình để khởi đầu cuộc trường chinh không hẹn ngày về. Bà Mây thương nhớ con nhưng vẫn động viên anh trả phép đúng hạn để thay phiên cho những anh em đi sau.

    Bình đóng quân ở một làng nghèo ven biển miền trung. Một nửa tiểu đội anh ở nhờ nhà anh Hạc, một thương binh chống Pháp, cụt chân trái. Hai anh chị chưa có con nên nhường cả ba gian nhà ngoài cho bộ đội.

    Khi Bình về thì bốn anh em còn lại vui mừng giao tất cả quân trang vũ khí cho anh để đi phép đồng loạt.

    Ðêm hôm đó anh Hạc rời buồng vợ ra nằm chung với Bình ở nhà ngoài. Hai người lính của hai cuộc chiến tranh thì thào tâm sự với nhau hết chuyện này sang chuyện khác.

    Hạc cũng người ngoài Nam Hà, cha mẹ mất sớm phải đi ở đợ. Ðến tuổi trưởng thành anh đi bộ đội, vào chiến đấu ở mặt trận Trị Thiên. Anh bị thương nặng, chuyển ra khu Bốn rồi về Ty Thương binh. Thời đó Hội Phụ nữ có phát động phong trào xung phong nhận thương binh nặng về nuôi dưỡng. Nếu thương yêu nhau thì thành vợ chồng. Còn không hợp thì hết hạn lại chuyển về Ty để chị em khác nhận.

    Chị Huệ là cán bộ Phụ nữ huyện, rất hăng hái trong nhiệm vụ này. Thời đó tình yêu nước, thương yêu bộ đội và tình yêu lứa đôi không minh bạch, rạch ròi, tỉnh táo như bây giờ. Ðể làm gương, Huệ viết đơn đầu tiên! Có cả mấy chục chị em theo nhau "xung phong"! Nhưng cả huyện chỉ được "phân" ba anh thương binh loại nặng. Huệ chọn hai cô khỏe mạnh nết na theo mình lên Ty đón về. Ðến nơi thì ai cũng thẹn thùng đun đẩy nhau. Là cán bộ, Huệ phải gương mẫu thu xếp cho êm đẹp.

    - Chị nhường hai em lần lượt vào hỏi han, ưng anh nào thì đón. Phần chị thế nào cũng được, anh nào chị cũng thương!

    Hai cô vào trước ngồi bên hai chàng ưa nhìn. Hạc cao tuổi, người miền ngoài, thương tật cao... tủi thân ngồi chờ. Mải bàn giao giấy tờ với Ty, nửa giờ sau chị mới vào. Huệ là người xinh đẹp nhất trong ba cô gái khiến Hạc bàng hoàng xúc động! Anh theo chị về ngôi nhà ven biển trước sự đón chào vui vẻ của xóm làng.

    Tình yêu của mấy cô gái cấp tiến miền trung có vẻ cực đoan, mã thượng, kiêu sa như khúc quân hành, nhưng cũng mơ mộng, thiêng liêng như những bản thánh ca huyền diệu.

    Chẳng bao lâu Huệ nhận ra rằng làm vợ một thương binh nặng không phải dễ dàng. Chị xin thôi công tác để ở nhà phục vụ chồng và tự an ủi đây cũng là một công tác cách mạng vào loại khó khăn nhất.

    Anh chị sống với nhau thật thuận hòa êm ấm. Chị khỏe mạnh lo việc đồng áng, còn anh làm đủ mọi việc vặt trong nhà rất khéo léo gọn gàng nên cuộc sống cũng khá sung túc. Song có một nỗi buồn không sao vượt nổi là đường con cái. Lấy nhau đã bẩy năm mà chưa một lần có dấu hiệu hoài thai sinh nở. Vết thương nặng đã biến anh thành người thiếu khả năng tình dục. Ðã nhiều lần anh xin chị li dị để Huệ kiếm người chồng mới và coi Hạc như anh, nhưng chị không chịu. Trong cảnh ấm cúng gia đình vẫn tiềm ẩn một mầm bão tố. Hạc lo sau này chồng già vợ yếu biết trông cậy vào ai?

    Bình nghe Hạc kể bỗng thấy thương anh, thương mình, thương cho đời lính chiến. Ðường xa nghĩ bước sau này mà ghê! Hy sinh ngoài mặt trận đã đành chứ rơi vào trường hợp anh Hạc thì còn tội hơn. Nghĩ vậy nhưng Bình vẫn an ủi người lính già:

    - Anh chị nên tìm lấy đứa con nuôi.

    - Không gì bằng chính mình đẻ ra. Anh đã đành nhưng chị còn khả năng sinh đẻ, còn khát vọng làm mẹ mà phải từ bỏ thì đau khổ biết nhường nào.

    Bình yên lặng, còn Hạc thở dài. ít phút sau anh thì thầm vào tai người lính trẻ:

    - Bình này... anh chị muốn xin em đứa con... Em có thể giúp anh chị được không?

    Bình ngạc nhiên lúng túng không biết trả lời thế nào đành nói lảng:

    - Nhưng em đã có vợ con gì đâu mà cho anh chị được!

    - Có đấy. Nó đang nằm ở đây này! - Anh cười và đặt tay lên bụng Bình - Em khỏe mạnh chỉ cần vào với chị Huệ vài lần là kết quả thôi!

    - Ôi anh Hạc! Anh nói gì lạ vậy! Anh sai bảo gì cũng được, nhưng chuyện đó thì không thể...

    Hạc im lặng hồi lâu mới nhẹ nhàng nói tiếp:

    - Anh biết em là chàng trai trong trắng, đức độ, em không muốn bị hoen ố tuổi hoa niên... Nhưng thực ra đây là sự hy sinh vì bạn... Huệ đáng tuổi chị lớn của em, nhưng được cái cũng gọn gàng, sạch sẽ, dễ coi. Giá như cô ấy xấu xí ốm yếu thì anh cũng không dám nhờ em.

    - Không phải chuyện ấy đâu. Em lo về mặt tình cảm... Sau này anh sẽ hối hận đấy!

    - Anh đã có nhiều năm trời suy nghĩ, nhiều tháng để bàn đi tính lại với Huệ, cô ấy mới hơi xuôi.

    - Thế thì ở đây thiếu gì đàn ông, anh chị nhờ ai không được?

    - Làng xóm cũng chưa hết người, nhưng chỗ quen biết, ra vào gặp nhau, đàn ông họ hay lấn tới. Mình buông xuôi thì tan cửa nát nhà nhà mình. Mình kháng cự, lộ chuyện sẽ đổ vỡ gia đình nhà họ. Vì thế Huệ không thể chấp nhận... Còn em quê quán ở xa, cả đời chỉ qua vùng này một lần. Em lại ít tuổi, sau này hết chiến tranh lấy cô vợ trẻ , còn chị Huệ lúc đó đã già có gặp nhau cũng dễ kiềm chế!

    - Ðã xảy ra chuyện đó thì trái đất cũng trở thành nhỏ bé, anh không lường hết di họa của nó đâu!

    - Em là chàng trai thông minh đức hạnh. Anh hy vọng đứa trẻ giống em, anh chị có phận nhờ. Khi anh tin cẩn quý trọng em thì chắc là sau này em cũng chẳng nỡ gây đau đớn cho một kẻ tàn tật như anh.

    Nghe Hạc nói nước mắt Bình ứa ra. Chàng trai hai mươi tuổi, chưa có người yêu, tuổi học trò cắm đầu vào đèn sách. Ðôi khi cũng có trò trêu đùa gán ghép, nhưng chạm vào bạn gái là mặt đỏ nhừ lảng tránh. Nay Hạc đề cập một cuộc giao hoan thực sự thì anh vừa xấu hổ, tự ti, hốt hoảng lại vừa như bị xúc phạm. Như đoán biết được tâm lý người bạn trẻ, anh Hạc vỗ vai thân tình, dỗ khéo:

    - Ðừng ngại! Em đâu có quen chuyện này. Lần đầu cũng lúng túng hoảng sợ một chút. Em không phải nói gì, Huệ sẽ giúp em từ đầu đến cuối.

    Nói rồi anh nhổm dậy, tụt khỏi giường lần đôi nạng chống và kéo tay Bình.

    - Ði với anh... anh đưa chú vào... cố giúp anh!

    - Em sợ chị ấy...

    - Anh nói trước với Huệ chiều nay rồi! Xem ra chị cũng quý em đấy. Hãy mạnh dạn lên! Cả hai đều ưng nhau mới chóng kết quả!

    Bình bước theo Hạc như kẻ mất hồn, tim đập rộn... Hạc vén cửa màn đẩy Bình vào rồi lịch kịch chống nạng đi ra.

    Cái buồng miền trung trống tuềnh, cửa không bao giờ đóng. Một lối đi thông từ nhà ngoài xuống bếp. Chiếc giường đôi ngắn ngủn, ruỗi thẳng không thừa đầu cũng thiếu chân. Bình nằm co con tôm quay mặt ra ngoài, dán mắt vào khuôn cửa tối sẫm. Từ nhà ngoài tiếng cốc chén lách cách, hơi rượu tỏa vào không gian. Hạc uống liền hai chén rồi lên giường nằm. Mười phút sau có tiếng ngáy nhè nhẹ, đôi lúc nấc lên nghẹn ngào rồi lại dịu đi... Thời gian trôi cồn cào như dòng suối xối qua ghềnh đá...

    Bàn tay mềm mại của Huệ đặt lên vai Bình kéo nhẹ. Chàng trai xoay người lại. Hơi đàn bà nồng ấm và mùi hương nhu, lá chanh phả vào mặt anh. ánh sao đêm mờ ảo lọt qua cửa sổ làm nổi rõ một đường cong ngồn ngộn... Nhục cảm bén lửa bùng cháy. Bình dang cánh tay vạm vỡ cho Huệ gối lên. Hai cơ thể hút vào nhau như cặp nam châm. Cái nhút nhát ban đầu biến đi nhanh chóng. Tính đàn ông từ dòng máu tổ tông truyền lại đã hướng dẫn hành động của Bình chính xác và mạnh mẽ, không phải đợi đến sự giúp đỡ của người đàn bà thuần thục. Mọi chuyện diễn ra êm đẹp trong bóng tối câm lặng... Họ thức thâu đêm.

    Gần sáng Bình quay ra nhà ngoài. Có lẽ Hạc cũng tỉnh giấc từ lâu nên anh hăm hở hỏi ngay.

    - Xong việc rồi chứ em?

    - Dạ!

    Bình đáp cụt lủn rồi nằm xuống. Hạc vỗ nhẹ lên vai người bạn trẻ như thầm cảm ơn.

    Hôm đơn vị ba lô lên đường, Bình bắt tay từ biệt Hạc nhưng không dám chào Huệ. Chị đứng trong nhà nước mắt lưng tròng nhìn đám bộ đội tụ tập ngoài sân. Ðôi lúc bắt gặp cặp mắt Bình, chưa nhìn lâu anh đã vội lảng đi. Thế là suốt từ đêm vào cuộc tới lúc chia tay cả hai chưa nói với nhau lời nào.

    Huệ có mang sinh được thằng Minh, kháu khỉnh ngoan ngoãn thông minh đúng như mong ước. Nhưng trong làng cũng có vài lời bàn tán về sự kiện dị thường này.

    Khi thằng Minh vào học cấp ba, anh Hạc mới nói với vợ:

    - Lời ra tiếng vào về huyết hệ thằng Minh có thể gây ra tai họa sau này. Thế gian nghi ngờ không sao chứ để con không tin vào cha mẹ thì nguy hiểm lắm. Nó có thể đoán người này là cha, tưởng kẻ kia là bố, bọn xấu sẽ vu xằng nhận bậy làm lẫn lộn vàng thau, trắng đen đảo ngược. Vả lại con nó có quyền biết sự thật này. Nếu ta dũng cảm tiết lộ thì chính là xây dựng cho nó tình cảm, niềm tin vững chắc.

    - Ôi không được đâu anh! Con còn trẻ quá, nó sẽ mặc cảm tự ti, không chủ động trong cuộc sống, dễ dẫn đến thất bại trên đường đời. Vả lại ta có đem lại cho con một người cha khác đâu. Bình cho nó dòng máu, nhưng anh cho nó cuộc đời và anh thực sự là cha nó. Không có lòng cao thượng của anh thì chẳng có Minh hay bất cứ đứa trẻ nào khác trong nhà mình. Em xin anh giữ lại điều bí mật này chí ít cũng đến lúc một trong hai ta qua đời.

    - Em nói đúng nhưng chưa hết nhẽ. Chỉ một trong hai ta không đủ sức tạo mềm tin cho con đâu. Bệnh tật thương tích không cho phép anh nấn ná mãi. Ta phải chuẩn bị dần đi. Trước tiên em nên đi tìm cho nó người cha. Tìm chứ anh chưa cho phép em giáp mặt. Nhớ là mình phải đảm bảo hạnh phúc và sự yên ấm cho gia đình Bình nữa. Sau này tìm cơ hội tốt nhất ta sẽ để cho cha con nó gặp nhau.

    Hạc ghi địa chỉ Bình cho Huệ nên chị mới tìm đến được nhà mẹ Mây. Tin Bình mất làm Huệ đau đớn bàng hoàng. Anh Hạc cũng đau buồn không kém. Tội cho thằng Minh bé bỏng côi cút mà không hay biết gì. Hạc thấy trách nhiệm người cha dồn cả lên đôi vai mình. Từ đấy anh cố tạo điều kiện cho vợ ra viếng thăm bà. Tự tay anh chuẩn bị từ chai mật ong, lạng cao, cặp nhung, chai rượu thuốc... để chị mang ra biếu mẹ Mây.

    Rồi một bữa đau nặng biết mình khó qua. Hạc đã gọi vợ con lại bên, tự mình tiết lộ cho thằng Minh hay nguồn gốc của nó. Ðã vào tuổi thành niên nên Minh nhận thức được sự kiện này. Nó ôm Hạc kêu khóc thảm thiết. Nó đâu biết thân phụ mình là ai. Bình dù có thiêng liêng thì cũng chỉ là người cha hư ảo xa vời. Còn Hạc mới thực sự là người bố thân thiết gần gũi giữa cuộc đời nó.

    Hạc mất, hai mẹ con lo việc mai táng cúng bái chu tất. Ðể tang trọn năm, qua đợt giỗ đầu Huệ mới đưa con ra bắc nhận quê cha, cho bà nhận cháu.

    Nghe Huệ kể, bà Mây vui mừng ứa nước mắt. Bà bắt chị bật đèn lên để nhìn rõ đứa cháu nội, đích tôn. Nhưng trời đã hửng sáng, bình minh lọt qua khe cửa soi tỏ khuôn mặt khôi ngô tuấn tú của chàng trai. Bà thì thầm với Huệ .

    - Nhìn kỹ mẹ càng thấy đúng là khuôn mặt thằng Bình thuở trẻ!

    Sáng ra bà Mây cho mời ông bác, bà cô, anh chị em họ Vũ cùng mấy nhà hàng xóm thân tình lại để giới thiệu đứa cháu nội con nhà Bình. Nghe xong câu chuyện mọi người đều trầm ngâm, miệng im như thóc. Ông Bái, bề trên cao tuổi của họ Vũ rít hơi thuốc lào rồi đĩnh đạc lên tiếng:

    - Nghe cụ Mây cho biết chị và cháu ra nhận họ hàng, tìm làng xóm chúng tôi cũng mừng. Song anh Bình đã hy sinh. Hồi sống cũng chưa thư từ, tâm sự gì về đường vợ con. Vậy thì chị và cháu có giữ được di vật chứng tích gì của người quá cố chăng? Thí dụ như lá thư, tấm ảnh hay nét chữ ghi tên cha mẹ, xóm làng cũng được!

    Chị Huệ bàng hoàng bối rối chưa nghĩ đến chuyện này và cũng chẳng có gì trong tay. Giữa hai người chỉ qua một đêm ân ái câm lặng, sao có thể mang ra đây làm chứng tích. Chị đành nói cho qua chuyện:

    - Thưa bác chiến tranh trong con vô cùng ác liệt, nhà cửa cháy đi dựng lại nhiều lần nên chẳng còn giữ được gì.

    - Thì lần này cố về tìm đi. - Ông già cười - Chí ít cũng còn chiếc khăn tay, manh áo cũ chứ? Người xưa nói "Giữ tàn y lại để dành hơi" mà!

    Mọi người cười ồ vui vẻ rồi lục tục đứng dậy cáo lui. Chị Huệ ngượng chín mặt. Hai mẹ con cảm thấy nhục nhã vô cùng. Bà Mây gạt nước mắt nói với chị.

    - Ðây là việc nhà mình. Họ hàng tin hay không tin thì Huệ và Minh vẫn là vợ con thằng Bình, là dâu mẹ cháu bà, đừng nghĩ ngợi làm gì. Trước sau rồi họ cũng sẽ thông cảm.

    Chị Huệ chỉ ở chơi một ngày, hôm sau đưa con về sớm. Mấy lần trước ra thăm vui vẻ bao nhiêu thì lần này buồn tủi bấy nhiêu.

    *

    Mùa đông năm Dậu bà Mây ốm nặng, mẹ con nhà Huệ cũng chẳng biết tin mà ra thăm. Chắc là chưa tìm được chứng cớ. Thật tội. Chẳng lẽ vì những đòi hỏi oái oăm của họ hàng mà bà cháu không được nhận nhau? Một tối bà cho gọi thân tộc đến bên rồi nói:

    - Ðêm qua thằng Bình hiện về. Nó nói đã cho vợ con về thăm sao họ hàng không nhận. Tôi hỏi chứng cớ, nó bảo: "Con nói mẹ cũng không tin à?" Rồi nó ôm tôi mà khóc. Tỉnh dậy tôi mới biết con mình về báo mộng. Tôi chỉ có một nguyện vọng điện cho mẹ con nhà Huệ ra ngay. Dù cưới xin hay chỉ là con hoang cũng vẫn máu thịt nhà mình. Nó chẳng bỏ tôi sao tôi lại không được nhận nó. Xin bà con họ mạc đừng lãnh đạm với mẹ con nó.

    Nói rồi bà Mây thanh thoát ra đi. Chôn cất xong, mẹ con Huệ mới ra kịp. Chị xin được xé khăn tang, ông Bái đồng ý, nhưng Tuyến phản đối. Minh thay mặt mẹ lên thưa với họ hàng. Lần này chàng trai chủ động tự tin hơn.

    - Thưa ông bà cô bác. Khi hấp hối cha cháu mới cho cháu hay cháu là con bố Bình. Cháu tin vào sự thật này. Dù họ Vũ không thừa nhận thì đây vẫn là cội nguồn của cháu. Mẹ con cháu ra nhận bà là để hướng về tiền nhân chứ không có ý vụ lợi. Cái lớn nhất cháu được thừa hưởng là dòng máu ông bà truyền cho bố cháu, giờ đây đang chảy trong tim cháu. Cháu sẽ giữ gìn để sự sống của người trường tồn với nhân gian. Mẹ cháu không có di vật nào về câu chuyện tình hai mươi năm trước. Song pháp luật mới cần bằng cớ chứ tình cảm, lương tâm chỉ cần ở lòng thành. Thưa chị Tuyến, em hy vọng sớm muộn chị cũng sẽ tin em. Giữa chúng ta không có gì đáng phải tranh chấp. Em chỉ mong hàng năm mẹ con hành hương về đất tổ cùng chị thăm viếng mồ mả ông bà, hương khói gia tiên lấy một lần. Nhà em neo người. Em đi học xa, mẹ em thui thủi một mình trông nom mươi đàn ong, dăm cặp hươu, một đồi cây cuộc sống chẳng thiếu thốn gì, chỉ mong có bè bạn họ hàng để mà đi lại. Em tha thiết mời chị vào chơi để thông cảm nhau hơn!

    Nghe Minh nói xong Tuyến khóc òa. Cô chạy lại nắm chặt tay cậu em.

    - Chị xin lỗi Minh! Chị quen sống nhỏ nhen bủn xỉn. Ngay cả khi nghe bà kể lại giấc mơ cuối cùng gặp chú Bình chị cũng gạt đi. Ôi chị thật tàn nhẫn và độc ác!

    - Có thể vong linh bố em xuất hiện trong mơ. Song em nghĩ vì thương mẹ con em nên tâm tưởng của người đã biến thành giấc mộng.

    - Dù sao giấc mộng cuối cùng của bà cũng là mộng đẹp, mơ lành!

    - Vậy chị em mình phải làm sống lại giấc mơ của người trong cõi thực!

    Tuyến quay sang ôm lấy chị Huệ:

    - Thím ơi, xin thím tha lỗi cho con. Con nghi ngờ thím là con có tội với chú Bình với em Minh nhiều lắm!

    - Tuyến ơi, nghe con nói thím cảm động lắm. Con không có lỗi gì. Mọi niềm tin đều cần thử thách. Niềm tin càng lớn lao
     
  13. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Sau chớp là giông bão

    Y Ban Thân tặng Hiên.

    Người nàng lâng lâng như bước trên đệm khí. Nhưng những bước chân đặt lên từng bậc thang lại nặng nề biết bao. Ngôi nhà của nàng vẫn còn sáng ánh đèn. Cha mẹ nàng từ quê lên chơi vẫn còn thức. Nàng đặt cái túi xách xuống đất và đưa mắt tìm kiếm. Cha nàng vội bảo:

    - Nó chờ con đến chín giờ không thấy nên nó đem con bé về nhà nội chơi rồi. Ơn trời, thế là anh ấy không có nhà. Nàng thở phào nhẹ nhõm, với chiếc khăn đi vào nhà tắm.

    Nàng yên ả ngả mình trên giường với một ý nghĩ rất đỗi dịu dàng, nàng sẽ nhớ lại. Nhưng cơn buồn ngủ đã kéo đến, thế mà nàng lại muốn thức biết bao. Một giấc ngủ ngon, sâu không mộng mị cho đến tám giờ sáng hôm sau khi mẹ nàng đánh thức nàng dậy ăn sáng. Nàng cảm thấy cực kỳ khoan khoái và tỉnh táo hẳn. Nàng ăn bữa sáng ngon lành.

    Thế rồi thay vì mang quà đến cho chồng con nàng lại lên giường nằm. Nàng lại muốn nhớ lại. Sao nhỉ, người ấy đã ôm lấy mặt nàng. Nhưng thực ra từ trước đó mấy phút nàng đã rất muốn ngả đầu vào vai người ta. Nhưng tại sao nàng lại muốn thế nhỉ? Một cơn buồn ngủ lại ập đến. Nàng cố cưỡng lại để nhớ, dịu ngọt đến thế cơ mà. Và giấc ngủ đã chiếm mất cơ thể, ý nghĩ của nàng.

    Ðến 12 giờ trưa mẹ nàng đánh thức nàng dậy ăn cơm. Nàng cảm thấy sinh lực dồi dào, tuy nhiên nàng vẫn cố bao biện:

    - Ði công tác phải mấy ngày nóng quá.

    Cha nàng đồng ý ngay:

    - ừ mấy ngày qua ngột ngạt thật.

    Nàng lại ăn một bữa cơm rất ngon và nhanh. Xong nàng rửa mặt mũi cho tỉnh táo. Rồi để cho thật tỉnh táo nàng cầm quyển sách để đọc. Ðọc được vài trang ý nghĩ của nàng lại xoay về với sự dịu ngọt. Nàng đã đặt được tên cho sự kiện đó. Nhưng tại sao nàng lại muốn ngả đầu vào ngực người ta kia chứ? Nàng một người đàn bà đã già dặn trong trường đời. Cuộc sống với bao nhiêu đau khổ, hạnh phúc, thất bại và thành công tới tấp bủa vây nàng. Ðể bây giờ nàng nhận ra cái chân của cuộc sống rằng: ở đời chẳng có phân giới nào rõ ràng cho hạnh phúc hay bất hạnh, sung sướng và khổ đau. Những cảm giác đó có một vòng giao thoa rất rộng. Hạnh phúc ư? Rồi thì bất hạnh đấy. Sung sướng ư? Thì sẽ khổ đau ngay. Vì thế nàng rất đỗi yên tâm trong hạnh phúc, bất hạnh, sung sướng và khổ đau của mình. Nhưng cuộc sống đâu để cho nàng được tự do trong cảm giác của mình như thế. Con tạo luôn tạo ra tình huống để thử thách nàng. Nàng lại là một người đàn bà cực kỳ nhạy cảm, yếu mềm nên nàng đã chọn cho mình một thứ vũ khí. Ðó là những chiếc gai nhọn của con nhím. Nàng luôn giơ móng vuốt của mình bằng miệng lưỡi của một kẻ táo tợn, đôi khi bặm trợn. Quả nhiên thiên hạ sợ nàng.

    Nhưng tại sao nàng lại muốn ngả đầu vào vai người ta kia chứ?

    Nếu tính đến thời điểm nàng muốn ngả đầu vào vai người ấy thì nàng chỉ quen biết người ta vỏn vẹn có 40 giờ. Một người đàn ông có gương mặt tử tế nhập vào chuyến đi công tác với nàng. Những người đàn ông đi cùng xô vào tán nàng rào rào. Miệng lưỡi của những kẻ thạo đời hư hư, thực thực làm nàng khó có thể nào đối đáp lại được. Nàng chọn một gương mặt đàn ông tử tế đó để công kích thay vì sự đối đáp lại. Một vài chuyện qua lại hết veo đoạn đường dài hơn trăm ki-lô-mét. Rồi hóa ra đó là những người đàn ông cực kỳ thạo việc và khi làm việc họ cực kỳ nghiêm túc. Nàng cũng nhập vai với một vẻ thạo việc không kém. Tuy nhiên nàng vẫn hết sức đề phòng với những người đàn ông đó bằng cách nàng đi gần với người đàn ông có gương mặt tử tế mà trong thâm tâm nàng coi như một chú bé con để nàng lớn tiếng xưng là chị. Nhưng thực ra bộ mặt tử tế đó cũng chẳng tử tế chút nào khi thi thoảng bên tai nàng lại có những tiếng thì thầm như gió thoảng: "Chị đẹp lắm!" hoặc: "Lần sau đi công tác chị đừng có mặc váy ngắn nhé làm người khác không làm được việc đâu". Nàng không chấp những lời nói trẻ con ấy. Vì nàng nghĩ thầm bộ mặt kia sao trải đời bằng nàng được.

    Nhưng trước khi nàng muốn ngả đầu vào ngực người ta thì đã có một sự đụng chạm rất đỗi dịu dàng.

    Một cơn buồn ngủ lại kéo đến. Khi nàng mở mắt ra và còn đang ngơ ngác xem mình ở đâu, trần gian hay dưới địa ngục thì chồng nàng đang nhìn nàng đăm đăm. Rồi anh ca lại bài ca cũ:

    - Ðàn bà con gái mà không chịu làm việc an nhàn. Cứ thích nhảy thếch lên cơ, cho chết. Nhưng mà mệt lắm à?

    Nàng quay mặt đi ra vẻ hờn dỗi.

    Sau đó dường như để làm lành, chồng nàng ngồi sát vào nàng thì thầm: "Ði về nhà bên kia đi".

    Cũng là tiếng thì thầm mà nàng cảm thấy rùng mình với cảm giác sợ hãi. Nàng đã hiểu tiếng thì thầm đó nói lên điều gì. Rằng chồng nàng đang rất muốn nàng. Thế còn nàng đang chỉ muốn ở một mình mà thôi. Tuy nhiên nàng đã có những kinh nghiệm để ứng xử trong những tình huống như thế này. Tốt nhất là phải nghe theo anh. Nàng ngoan ngoãn đứng lên đi theo chồng.

    Nhà bên kia là nhà cha mẹ chồng. Hai vợ chồng nàng đã ra ở riêng nhưng cha mẹ vẫn để cho một phòng để thi thoảng về chơi. Nàng đưa quà cho cha mẹ chồng, hỏi han con gái dăm câu thì chồng nàng đã lôi tuột nàng vào trong nhà. Chồng nàng hối hả chằm bặp nàng. Mặc dù rất có vẻ muốn yêu nàng ngay nhưng vẫn không quên căn vặn:

    - Ði công tác có phải lòng thằng nào không đấy?

    Mọi bận nghe chồng hỏi vậy nàng sẽ xù ngay những chiếc gai nhím ra để đập lại nhưng lần này nàng chỉ lặng lẽ đẩy chồng ra. Và trong đầu nàng cũng hiện lên một câu hỏi: Liệu nàng đã phải lòng ai đó chưa? Nhưng nàng lại bật ra ngay câu trả lời:

    - Em đã làm vợ anh bao nhiêu năm rồi, vợ anh thế nào mà anh không biết ư?

    Chồng nàng cười xí xớn:

    - ừ thì cứ phòng ngừa trước đi.

    - Nhưng anh có thể ngừa được gì nào khi em có phải lòng ai thì cũng là sự đã rồi.

    - Em mà phải lòng ai anh sẽ biết ngay bây giờ đây.

    Chồng nàng lại chằm bặp nàng với cử chỉ mạnh mẽ hơn như để chuộc lỗi với nàng. Thân thể nàng nhũn ra không một cảm xúc. Nhưng chồng nàng đang rất hào hứng thế kia, nàng không muốn anh mất hứng. Vả lại nàng cũng có kinh nghiệm trong những lúc như thế này. Nếu nàng không có hào hứng với anh, anh sẽ ca lại bài ca cũ. Rồi sẽ cãi nhau, dỗi hờn.

    Trong cuộc sống, vợ chồng nàng có nhiều xung đột, bất trắc nhưng sau đó đã được giải quyết êm ả. Tuy nhiên sự êm ả đó cứ lặp đi lặp lại thành một rãnh mòn, từ lâu đã không còn làm nàng thổn thức được nữa. Chồng nàng đã trở thành một người ruột thịt thân thích như cha nàng, như anh em nàng và như con nàng vậy. Nàng lo lắng, chăm sóc cho anh nhưng nàng không còn xao xuyến mỗi khi anh động chạm đến nàng. Cùng với sự "xơ hóa" ở cảm xúc với chồng thì đêm về nàng hay có những giấc mơ kỳ lạ. Một người đàn ông lạ mặt liếc nhìn nàng, hay động nhẹ vào nàng thôi là nàng cảm giác xao xuyến đến tột cùng. Những đêm nào có giấc mơ như thế thì buổi sáng nàng thức dậy cực kỳ khoan khoái, và cảm thấy sức lực tràn đầy. Tuy vậy nàng không bao giờ có ý định tìm kiếm gương mặt một người đàn ông nào ở ngoài đời giống trong mơ. Nàng nhìn hết thảy mọi người đàn ông với sự vô cảm.

    Vậy tại sao nàng lại để cho sự đụng chạm xảy ra?

    Buổi chiều, khi kết thúc công việc, cả đoàn đi ra biển. Họ giẫm chân trần trên cát mịn và im lặng. Ai còn có thể tán được những lời vụn vặt, vô nghĩa nữa kia chứ khi đang ở bên một sự hùng vĩ nhường này. Rồi mọi người kéo lên bờ đê, ngồi xuống bên cạnh khóm kim trâm đang nở hoa trắng muốt. Nàng cảm thấy mình hoàn toàn là một cô bé con vô tư, chưa từng bận bụi trần gian. Nàng cất tiếng hát Biển hiền hòa lớp sóng đẹp bao la, lòng ta như rộn vang ngàn câu ca. Cả đất nước xanh tươi như mộng đời, lưu luyến trong tâm hồn bao người... Sóng biển đệm đàn cho nàng. Có lẽ từ hồi say sưa hát ru con đến bây giờ nàng mới hát say sưa đến vậy. Ngày còn ở với mẹ chồng, khi nào nàng hứng khởi hát véo von thì bà bảo: "- Cô hát hay đấy, sao không đi hát mà kiếm ăn cho nó nhàn thân". Mỗi lần nàng cất tiếng hát thì mẹ chồng nàng lại bảo thế. Khi sống riêng với chồng rồi cao giọng lên hát thì chồng bảo "- Cô lại ra đường chập điện với thằng nào rồi mà yêu đời véo von thế". Vậy là giọng hát của nàng cứ lịm đi. Khi nàng hát xong cả bọn im lặng một lúc lâu, rồi thì những giọng đàn ông ồ ồ cất lên. Ban đầu còn chệnh choạc sau thì quyện dần. Rồi thì nàng chẳng thể hát một mình được nữa. Nàng hòa giọng vào dàn đồng ca. Dàn đồng ca lắc lư nghiêng ngả, như say trước biển, người nọ ngồi sát vào người kia thân thiện, hòa bình. Nàng chợt nghĩ ra một điều to tát, giá tất cả loài người cùng nắm tay nhau vòng quanh biển để hát thì trái đất này sẽ hết chiến tranh, đau khổ và đói nghèo. Một ý nghĩ to tát như thế để nàng không mấy chú ý đến việc gương mặt tử tế đó đã nép vào người nàng từ lúc nào. Một tiếng nói ấm áp thoảng qua tai nàng: "Hát nữa đi em, em hát hay biết bao". Em ư? Ðiều gì đã xảy ra thế. Sao lại là em nhỉ. Nàng quay lại nhìn thẳng vào gương mặt tử tế. ánh hoàng hôn chạng vạng vẫn đủ để nàng nhìn thấy một đôi mắt đang nhìn nàng đăm đăm. Và đôi môi không ngừng mấp máy những câu tiếng Anh I love you! I love you. Trong đầu nàng cũng xuất hiện những câu tiếng Anh I like you, Ineed you but I don't love you Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tôi thích anh, tôi cần anh nhưng tôi không yêu anh.
     
  14. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Giăng sáng

    Nam Cao

    Ðiền có bốn cái ghế mây. Tất cả đồ đạc trong nhà, chỉ có bốn cái ghế mây này là có giá. Không phải Ðiền mua. Tính Ðiền rất ghét mua. Từ ngày ra ở riêng đến giờ, Ðiền mới mua có một lần. ấy là một cái giường bằng gỗ bưởi của một người cô nghèo khó. Người cô cần tiền để lấy thuốc ngã nước cho chồng. Còn Ðiền thấy cũng cần một cái giường. Tháng ba vừa rồi vợ Ðiền mới sinh một con trai. Nghĩa là bây giờ Ðiền có những hai con. Cả nhà đúng bốn người, bốn người chất cả vào một cái giường! Giá mùa rét thì cũng được, chen chúc nhau một tý càng ấm áp. Nhưng mùa nực, còn gì là vệ sinh?

    Năm chừng mười họa, Ðiền cũng còn nghĩ rằng: nên theo phép vệ sinh. Bởi Ðiền là người có học hẳn hoi. Ðiền đã có lần làm một ông giáo trường tư trong ngót ba năm, mà Ðiền có bốn cái ghế mây vừa mới nói. Năm ngoái đây, cái trường vẫn thuê Ðiền dạy lớp nhất, lấy hai chục bạc lương một tháng, đột nhiên phải dẹp. Dẹp để nhường lại mấy căn nhà cho người ta dùng vào việc khác, cần cho lúc này hơn. Ông hiệu trưởng còn chịu của Ðiền nửa tháng lương. Tiền học tháng cuối cùng thì chưa thu được. Chỗ anh em biết tính thế nào cho tiện? Giá ông xoay được, thì ông trả phắt Ðiền chục bạc, cho đẹp mặt cả đôi bên. Nhưng ông không xoay được. Mà chẳng lẽ Ðiền phải thiệt? Thôi thì... thôi thì... - biết nói ra sao bây giờ? - Ông cười một cách ngượng nghịu bảo Ðiền:

    - Thôi! Thế này này, ông Ðiền ạ! Giá ông không ngại, thì ông đem bộ ghế mây về quê mà dùng. Lão hàng phở nó trả có bảy hào một cái. Hôm nọ, chỉ căng mây lại cho hai cái cũng đã mất một đồng. Bán cho lão thì phí đi. Mà ở nhà ông chưa có ghế...

    Lúc ấy, Ðiền phải cố giữ, cái mặt mới không xị xuống. Thật ra thì Ðiền chán lắm. Ðiền chẳng muốn lấy bốn cái ghế tý nào. Chao ôi! Cũng mang tiếng là ghế mây!... Cái thì xộc xệch, cái thì bốn chân rúm lại, và chẳng cái nào là nước sơn không róc cả ra như là da thằng hủi. Trông đủ thảm. Ðiền phải bỏ ra bảy hào chịu lấy một cái vé tàu hỏa để tải mình về quê đã đủ xót ruột lắm rồi, còn phải nợ mà bỏ tiền ra tải bốn cái ghế già nua ấy nữa. Nhưng từ chối thì không tiện. Ra sự rằng mình dỗi. Có lẽ tủi lòng ông hiệu trưởng. ấy là một điều mà Ðiền chẳng muốn, bởi ông với Ðiền là chỗ bạn nghèo với nhau. Họ bị tủi vì người ngoài đã lắm. Chẳng nên để người nọ bị tủi vì người kia... Ðiền đang nghĩ một cớ gì để thoái thác. Thì ông lại bảo:

    - Ông nên đi tàu thủy. Có đắt mới đến năm hào. Năm hào với năm xu màn là năm hào rưỡi. Vậy cho rằng có phải trả tiền cước bốn cái ghế, thì cũng chỉ bằng tiền tàu hỏa thôi. Mà rộng rãi. Ông để hai cái ghế ra, một cái để ngồi, một cái gác chân, ung dung như ngồi nhà ông vậy. Tội gì đi tàu hỏa mà chen chúc.

    Kể thì cũng là một ý hay. Như thế tránh được cả cái nạn huých khuỷu tay vào ngực nhau để tranh một cái vé đi xe lửa. Tránh được cả cái nạn ngồi lên đùi người khác và để người khác ngồi lên đùi mình. Và ngửi mùi mồ hôi với mùi phân lợn của những toa tàu hạng tư ... Nhưng...

    Ông hiệu trưởng không đợi Ðiền phải nói ra. Ông đã đoán mà hiểu trước. Nên ông bảo:

    - Còn cái sự chuyển những cái ghế thì không ngại. Tôi sẽ bảo thằng nhỏ buộc hai cái làm một, dùng cái đòn gánh nước, gánh ra tàu cho ông. Còn từ bến màn về nhà ông, sẽ thuê một thằng bé nào độ năm xu, hay một hào.

    Ðiền nhẩm tính. Như vậy, tất cả có già giặn lắm mới tốn chừng đồng bạc. Nghĩa là tiêu quá đằng kia hai hào. Hai hào bốn cái ghế mây! Cho có xộc xệch nữa cũng còn rẻ chán... Ðiền ưng thuận. Thế là bốn cái ghế mây của ông hiệu trưởng mà lão hàng phở trả có bảy hào một chiếc, được đi tàu thủy về quê của Ðiền.

    *
    * *

    Và thế là Ðiền có bốn cái ghế mây. Ðiền không biết giá. Nhưng Ðiền đoán chừng mua mới thì cũng đắt. Bây giờ, mỗi chiếc có khi tới ba bốn đồng. Ba bốn đồng một chiếc! Thế nghĩa là cả bộ đáng giá ngót hai chục bạc. Xóm Ðiền cũng chả nhà nào có những đồ đạc đắt tiền như thế. Vợ Ðiền quý lắm. Thị rất xót xa khi thấy những ông khách cục súc, sau khi đã nắc nỏm khen bộ ghế vừa đẹp vừa thanh, liền đặt cái mông đít to bành bạnh như cái vại lên mặt ghế, khiến mấy sợi mây lún xuống, rồi co cả hai chân bẩn thỉu lên, ngả cái lưng to như lưng trâu tựa vào vành ghế, khiến cái vành ghế phai oải hẳn về đằng sau. Như thế phỏng còn gì là ghế? Có mà ghế sắt cũng phải hỏng, đừng nói gì ghế mây!... Một hôm thị bàn với chồng rằng:

    - Này, cậu ạ! Người nhà quê họ vô ý lắm. Mình có của thì mình phải giữ gìn. Hay là ta đem cất những cái ghế mây đi, kẻo để ai vào cũng leo lên ngồi chồm chỗm, mấy chốc mà vứt đi?

    Thoạt nghe, Ðiền phải bật cười. Ðiền nghĩ đến tính bủn xỉn của đàn bà. Họ may áo để cất đi. Và mua ghế để chẳng cho ai ngồi sốt. Ðiền đã toan phản đối. Nhưng nghĩ ngợi một giây, Ðiền lại bằng lòng. Vợ Ðiền thế nào chả hơn Ðiền trong cái môn lo liệu việc nhà? Vả bây giờ Ðiền chỉ là một kẻ ăn nhờ. Vợ Ðiền phải lo cho chồng từ năm xu húi cái đầu. Thị đã phải gánh lấy tất cả cái ách gia đình, thì cũng nên để cho thị có quyền trong gia đình một tý. Kẻo thị lại bảo: dẫu có hỏng cái gì, Ðiền cũng không phải bỏ tiền thay, nên điền không xót ruột... Từ hôm ấy, bốn cái ghế mây được treo lên bốn cái mỏ móc buộc ngoài đầu chái. Chỉ những khi có khách khứa nào sang trọng, Ðiền mới ra bê vào.

    Nhưng những buổi tối có trăng thì dù chẳng có ai, Ðiền cũng khuân đủ bốn cái ghế ra sân. Rồi Ðiền gọi vợ, con ra. Vợ bế con nhỏ ngồi một chiếc. Con lớn một chiếc. Còn một chiếc Ðiền dùng mà gác chân. Họ ngồi ghế, đợi trăng lên. Nếu con nhỏ không khóc, con lớn không bắt gãi thì hạnh phúc thật hoàn toàn. Gió thổi tan những lo lắng, chua cay chất ở lòng. ánh trăng êm xoa nước mát lên da. Da mềm dịu. Những nét cau có chìm đi tất cả. Trán vợ Ðiền hóa phẳng phiu, mặt thị tươi hẳn. Thị trẻ ra mười tuổi. Những phút thảnh thơi ấy, sao mà thị hiền dịu thế! Ðáng yêu đến thế! Ðiền không nhận ra một chút gì ở thị nó có dính dáng đến người đàn bà cau có vẫn ngoác mồm ra mắng con, mắng con ở, mắng mèo, mắng chó khiến nhà cứ om lên suốt ngày. Thị cúi xuống đứa con nhỏ, đồng thời ngước đôi mắt âu yếm nhìn con lớn. Ðứa con lớn cười với thị. Thị cười với nó. Thị cười với chồng. Ðiền nhìn vợ, nhìn con, lòng sung sướng. Ðiền mỉm cười với giăng.

    Ðiền rất yêu giăng. Cái ấy cũng là thường, bởi óc Ðiền đẫm văn thơ. Có đọc văn thơ, mới biết giăng là một cái đẹp và quý lắm. Giăng là cái liềm vàng giữa đống sao. Giăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời. Giăng tỏa mộng xuống trần gian. Giăng tuôn suối mát để những hồn khát khao ngụp lặn. Trăng, ơi trăng! Cái vú mộng tròn đầy mà thi sĩ của muôn đời mon man! Ðiền không ân hận chút nào. Hai thân Ðiền bán cả ruộng, vườn đi để cho Ðiền đi học chẳng phí đâu. Ðã đành các người chỉ có cái mục đích con làm nên ông phán, ông tham để ấm thân; các người hoàn toàn thất vọng khi thấy con leo cau đến tận buồng mà lại hỏng ăn. Ðiền tang yếu quá, không được nhận vào công sở; và các người đã vội cho là tiền con đi học thật là tiền vất xuống sông. Nhưng Ðiền tin rằng: cái học thức của Ðiền tuy chẳng giúp Ðiền kiếm nổi miếng ăn, nhưng cũng có ích cho Ðiền nhiều lắm. Chỉ nói một cái nhờ nó mà Ðiền đọc nổi văn thơ, và nhờ văn thơ mà hiểu được cái đẹp của gió, của giăng. Và Ðiền rất phàn nàn cho những tâm hồn cằn cỗi như tâm hồn của vợ Ðiền. Ðối với thị, giăng chỉ là ... đỡ tốn hai xu dầu! Dầu lạc lúc này mỗi chai lít hai đồng. Mới biết các nước đánh nhau cũng có thiệt cho con nhà nghèo thật. Mỗi tối, thị đốt đèn một lát. Nhưng một lát cũng đủ tốn hai xu rồi. Những tối có trăng đỡ tốn hai xu. Hai xu chẳng là bao nhưng mười cái hai xu đã được hai hào; mười cái hai hào đã được hai đồng bạc; và mười cái hai đồng bạc... chao ơi! Nếu cứ tính toán mãi thế, thì biết đến bao giờ cũng được? Sao thị lại cứ phải luôn luôn tính toán? Những kẻ chỉ suốt đời tính toán là những kẻ tự làm khổ thân suốt đời... Ðiền vẫn trách vợ Ðiền như thế đấy. Ðiền có ngờ đâu chính Ðiền cũng một tật. Và ngay lúc này đây, lúc ngồi ngắm trăng để tạm quên những cái lo nhỏ nhen của kiếp người, Ðiền cũng còn tính vẩn vơ. Ðiền thấy giời rộng quá và sao nhiều quá. Ðiền nhớ đến câu thơ của một thi sĩ Tây phương ví khoảng trời sao như một cánh đồng. Nếu trời là một cánh đồng thì cánh đồng ấy thật bao la. Và Ðiền chỉ cần được một mảnh bằng cái mảng ở sau nóc nhà Ðiền kia, cũng đủ cho Ðiền không còn phải lo sinh kế nữa. Ðiền sẽ trao cho vợ Ðiền cai quản. Còn Ðiền lúc ấy có thể rảnh rang theo đuổi cái mộng của Ðiền...

    Ðó là một cái mộng văn chương. Ðã có một thời, Ðiền chăm chỉ đọc sách, viết văn. Ðiền nao nức muốn trở nên một văn sĩ. Ðiền sẽ nguyện cam chịu tất cả những thiếu thốn, đọa đày mà văn nhân nước mình phải chịu. Ðiền vẫn thường bảo với một người bạn cùng chí hướng: Ðiền sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn... Nhưng viết luôn mấy năm trời, Ðiền chẳng kiếm được đồng nào. Trong khi ấy Ðiền vẫn phải ăn. Nhà Ðiền kiết xác xơ. Các em Ðiền không được đi học. Mà cũng không được ăn no nữa. Sự túng thiếu đưa đến bao nhiêu là lục đục. Bố Ðiền bỏ nhà đi. Mẹ Ðiền gồng thuê, gánh mướn kiếm tiền nuôi hai đứa con thơ. Những đứa con lớn, đứa đi ở bế em, đứa đi ở chăn trâu, đứa đi xin những cái hoa chuối, những nắm khoai đội đi chợ xa bán để kiếm vài xu ăn cho khỏi chết. Ðiền thấy mình ích kỷ. Sự nghiệp mà làm gì nữa? Bổn phận Ðiền phải nghĩ đến gia đình. Ðiền phải gây dựng lại gia đình! Ðiền phải tạm quên cái mộng văn chương để kiếm tiền. Ðiền đi dạy học. Chao ôi! Dạy học lấy mỗi tháng có hai mươi đồng. Bà mẹ Ðiền tưởng thế đã là phong lưu lắm. Bà bắt Ðiền cưới vợ. Vợ Ðiền là một con nhà khá giả, lấy Ðiền vì Ðiền là người có học. Rồi Ðiền có con. Cái gia đình lớn của Ðiền đã chẳng được nhờ Ðiền, bây giờ lại thêm một gia đình con con nữa. Không một phút nào Ðiền không phải nghĩ đến tiền. óc Ðiền đầy những lo lắng nhỏ nhen. Một đôi khi chợt nhớ lại cái mộng xưa, Ðiền lại thở dài. Ðiền tự an ủi: Có tiền rồi sẽ viết. Nhưng Ðiền biết: chẳng bao giờ Ðiền viết nữa, bởi chắc chắn là suốt đời Ðiền cũng không có tiền...

    *
    * *

    Tối nay lại có giăng. Nhưng Ðiền chỉ đem có hai cái ghế ra sân. Vợ Ðiền hôm nay luật quật suốt cả ngày. Con ở xin đi ăn giỗ một hôm. Thị lại phải dệt vải lấy tấm vải để mai đi bán về đưa lãi nợ. Dệt xong thị vội vàng đi đòi món tiền. Về đến nhà, con bé khóc hết hơi. Con lớn thì lem luốc, mũi dãi nguếch ngoác bôi đầy mặt. Nhà cửa còn bề bộn. Con ở vẫn chưa về. Mình thị biết xoay sở làm sao kịp? Thị thấy lòng sôi lên sùng sục, thị giậm chân bành bạch kêu trời. Thị đánh con lớn, chửi con nhỏ, quăng cái chổi, đá cái thúng, và càu nhàu trống không. Rồi thị bế con đi nằm sớm. Ðứa con lớn thút thít khóc chán cũng lăn ra ngủ. Mình Ðiền ngồi ngoài sân. Ðiền cố thản nhiên. Nhưng da mặt cứ rồm rộm; nó có vẻ dày lên và tê tê. Ðiền thấy gần như tủi cực. Vợ Ðiền có lẽ rất yêu Ðiền. Nhưng thị chỉ biết rằng người ta cần ăn cơm, mặc áo và uống thuốc khi đau ốm. Thị chỉ cố lo cho chồng ba thức ấy. Thị nhịn ăn để chồng ăn. Thị nhịn mặc cho chồng mặc. Thị bán đến cả yếm, áo để lo thuốc thang cho chồng. Thị tưởng thế là chồng sung sướng lắm. Nhưng không phải, Ðiền đã quen với những tình cảm nồng nàn và những lời nói vuốt ve. Nét mặt cau có, ngân ngữ cục cằn, và nhất là cái lối yêu quá đơn sơ - có thể nói thô sơ - của vợ Ðiền làm cho Ðiền khổ. Ðiền thấy cái đời tình cảm của Ðiền thiếu thốn. Ðiền không được yêu ai. Còn sống trong cái gia đình này mãi, giữa những lo lắng nhỏ nhen này mãi, lòng Ðiền sẽ cạn. Cạn luôn cả nguồn thơ quý báu, mà Ðiền vẫn ao ước có ngày lại khơi...

    Trên kia, giăng nhởn nhơ như một cô gái non vừa mới có nhân tình. Gió nhẹ nhàng đặt trên lá những bước chân vũ nữ. Những tàu lá chuối láng trăng đưa đẩy... Ðiền nghĩ đến những người đàn bà nhàn hạ, vừa tắm bằng một thứ nước thơm tho, mặc áo lụa xanh, ngả tấm thân mềm trên chiếc ghế xích đu và đưa đẩy đôi chân thưỡn thẹo...

    Tại sao Ðiền lại vụt nghĩ đến những hình ảnh lả lơi ấy? Chính Ðiền cũng không thể hiểu. Có lẽ Ðiền ước ao một cái mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn tay ve vuốt. Có những người đàn bà đẹp, yêu rất khéo, bởi họ được ăn ngon, mặc đẹp, chăm sóc thịt da và chẳng làm gì cả.

    Phải rồi, vợ Ðiền chỉ là một kẻ tục tằn. Thị chẳng đáng cho Ðiền yêu quý. Cũng chẳng đáng cho Ðiền thương hại. Ðiền phải đi. Ði để giữ cho lòng mình tươi lâu. Ðiền sẽ làm bất cứ cái gì đó để có ăn. Rồi Ðiền bình tĩnh viết. Có như vậy Ðiền viết mới ra hồn được. Lời phải đẹp. ý phải thanh cao. Ngọn bút của Ðiền mới khơi nguồn cho những tình cảm đầy thơ mộng. Nghệ thuật chính là cái ánh trăng xanh huyền ảo nó làm đẹp đến cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa...

    Ðiền lại thấy hiện ra cái bóng dáng yêu kiều của những người đàn bà nhàn nhã ngả mình trên những cái ghế xích-đu nhún nhảy... Những người ấy sẽ đọc văn Ðiền. Lòng họ đẹp thêm lên. Họ sẽ yêu Ðiền. Họ sẽ gửi cho Ðiền những bức thư xinh xinh ướp nước hoa. Tưởng tượng của Ðiền tỏa rộng ra như một ánh trăng. Ðiền nghĩ đến những cuộc tình duyên lãng mạn với những người đàn bà đẹp chỉ biết trang điểm và yêu đương.

    Những tiếng gắt gỏng ở trong nhà lại đưa ra. Vụt cái, trăng mất đẹp. Ðiền cúi mặt, bẽn lẽn như bị bắt gặp làm việc xấu. Ðiền lắng tai nghe. Tiếng vợ Ðiền gay gắt hỏi:

    - Làm sao thế?

    Ðứa con gái vừa mếu máo vừa đáp lại.

    - Con đau bụng.

    - Giời ơi là giời!

    ấy là tiếng vợ Ðiền rên lên. Rồi thị mắng con:

    - �n bậy lắm! Chết là phải, còn kêu ai?

    Ðứa con không dám khóc to. Nó chỉ oằn oại và rít nho nhỏ trong cổ họng. Thỉnh thoảng nó không còn sức nén, tiếng khóc bật ra Ðiền nghe một vài tiếng nức nở như tiếng người nôn oẹ, Ðiền vẫn ngồi cúi mặt. Một nỗi chua xót gần như là thuộc về thể chất, ứ lên trong lòng Ðiền. Nó dâng lên đến cổ, xông lên óc. Nước mắt Ðiền ứa ra.

    Vợ Ðiền gượng nhẹ đặt đứa con đang ngủ mệt xuống võng. Thị cầm một con dao ra vườn moi mấy nhánh gừng về rửa sạch, giã ra. Thị vắt thêm vào đấy nửa quả chanh. Thứ thuốc bách bệnh của con nhà nghèo chỉ gồm có thế. Thị gạn lấy nước đem lại cho con. Con bé mới ngửi thấy hơi gừng đã sợ. Nó mím chặt môi. Dỗ thế nào nó cũng không chịu uống. Thị phải bế nó, đặt nằm ngửa trên đùi, một tay thị đỡ đầu, một tay thị kề chén nước gừng vào tận môi con. Con bé mím môi thật chặt. Bực mình thị quát:

    - Há mồm ra!

    Con bé khóc. Thế là cốc nước gừng đã dốc tuột vào mồm nó.

    Nó giãy lên như đỉa phải vôi. Nó phun phè phè. Nó gào lên. Bao nhiêu nước gừng bắn ra áo mẹ. Thằng cu con giật mình, khóc thét lên. Vợ Ðiền tức quá, phát đen đét vào lưng con bé ốm và quăng nó xuống giường như quăng một con mèo:

    - Kệ cha mày! Cho mày chết đi!

    Con bé vừa gào vừa van lạy:

    - Con lạy bu; Con cay lắm! Con lạy bu! Cay mồm...

    - Mày câm ngay không tao tát cho vỡ mặt.

    Nó vẫn không chịu lặng. Thị sừng sộ, chực vồ lấy nó:

    - Mày có câm không nào?

    Nó sợ quá đành phải nín. Nhưng những tiếng rên nho nhỏ vẫn còn thoát ra... Ðiền thương con lắm. Vút cái, Ðiền thấy Ðiền không thể nào đi được. Ðiền không thể sung sướng khi con Ðiền còn khổ. Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?... Không, không, Ðiền không thể nào mơ mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu óc Ðiền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Ðiền muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Ðiền khổ, con Ðiền khổ, cha mẹ Ðiền khổ. Chính Ðiền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Ðiền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Ðiền. Ðiền chẳng cần đi đâu cả. Ðiền chẳng cần trốn tránh, Ðiền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời...

    ... Sáng hôm sau, Ðiền ngồi viết. Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. Và cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà.

    (Tiểu thuyết thứ bảy, số 439, 14-11-1942 )
     
  15. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Sau những mùa trăng

    Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học
    hướng tới giao thừa thế kỷ 1998 - 1999
    của Tạp chí Văn nghệ quân đội


    Ðỗ Bích Thủy

    Không hẹn trước mà lần nào trở về cũng gặp trúng mùa trăng. Mùa trăng có ý nghĩa với người miền núi nhiều lắm. Thường thì người ở trên nương cứ khói bếp dưới bản bay lên là bảo nhau về, nhưng vào mùa trăng thì ai cũng cố nán lại. Thêm một gùi, hai gùi cũng cố, vì người già bảo hạt lúa, bắp ngô cuối ngày bao giờ cũng mẩy hơn, chắc hơn buổi sáng. Thế nên nhiều hôm về đến nhà thì trẻ con đã ngồi chờ cơm gà gật bên bếp.

    Ðã mấy lần trăng lên rồi trăng tàn tôi không về. Mấy mùa trăng là mấy lần mẹ mang mẹt thuốc ra phơi, rồi lại mang vào cất đi. Ngày tiễn tôi đi, cha tôi bùi ngùi: "Mày đi thì tốt cho cái thân mày chứ ở đây mãi cũng như tao, như anh mày thôi, tóc bạc, mỏi chân, cũng chỉ có chín bậc cầu thang với cái ngưỡng cửa. Cố mà học lấy cái khôn vào đầu nhưng phải nhớ giữ cái lưng cho thẳng, giữ cái đầu không cúi xuống... Lìn à". Lúc ấy, nhìn vào mắt cha tôi định không đi nhưng cha đẩy tôi lên xe. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cha. Vào đời, chưa kịp học lấy cái khôn vào đầu cho "mắt sáng ra, cho miệng rộng ra" để mang về khoe với cha thì cha đã ra đi, sau cái chết đột ngột của anh Lân tôi. Từ đó, mỗi khi nhớ về căn nhà rộng thênh thang của mình tôi không hình dung nổi nó ra sao khi thiếu vắng bàn tay sắp đặt kỹ lưỡng của cha.

    Về đến con suối đầu bản tôi gần như vấp phải một người đang ngồi trên một phiến đá rộng như mặt bàn. Một chàng trai còn rất trẻ, hai bắp vai vồng lên dưới lớp áo tà pủ còn thơm mùi lá nhuộm. "Làm gì mà ngồi ở đây một mình thế?". "Ngồi chơi đợi trăng lên thôi.". "A, lại thổi khèn gọi con gái nhà ai phải không?". Chàng trai cúi đầu ngượng nghịu. Tôi ngồi xuống cạnh anh ta, để nguyên cả giày sục xuống suối. Nước suối ấm, chầm chậm uốn quanh bãi lanh mọc cao hơn đầu người. Vì thế về bản phải lội hai lần trên cùng một con suối. Ngày nhỏ anh em tôi với lũ bạn cứ nằm xoài ra, để nước cuốn trôi từ trên xuống dưới bãi lanh, đập nước mỏi chân vài lần là biết bơi.

    Một tốp con gái đi nương về lột áo qua mặt tôi, phảng phất mùi của lá dẻ khô, mùi nương đồi, mùi cỏ cháy, buông lời chòng ghẹo. "Hôm nay lại có thêm một người nữa à. Anh gì ơi, đến Vần Chải tìm ai đấy?". "Chắc là tìm đứa con gái đẹp nhất rồi". "Thế thì không có đâu. Con gái Vần Chải ai cũng đẹp như nhau mà". Tiếng cười rộ lên, khuất sau bãi lanh rồi vẫn nghe tiếng cười, cả tiếng hát cất lên: "... Dêu hẩn lầu tẩu lốc, bản nuông bàu mi lóc. Lóc hẩn lầu tẩu lải, bản nuông bàu mi vai..." (Bản em không có nắng lấy trời râm làm cảnh đẹp. Bản em không mưa phùn, thì chàng ơi hãy về...). Tiếng hát bay lên, dội vào vách núi cao ngất, xao động cả đêm đang xuống. Tôi đi qua bãi lanh, cảm giác hơi ấm của đám con gái vừa đi qua vẫn còn phảng phất.

    Ðến đoạn suối thứ hai, định lội ào qua rồi về nhà mình luôn thì tôi bắt gặp một người đang dầm mình dưới chỗ nước sâu. Trên bờ, một gùi củi cao ngất dựng cạnh bụi cây. Tôi ngồi thụp xuống sợ bất chợt người con gái quay lại nhìn thấy mình thì khó xử quá. Trăng đã bắt đầu lên phía sau ngọn Tạ Ðú làm cả đoạn suối sáng bừng lên. Người con gái có đôi bờ vai rất tròn, cái cổ cao mà trắng như đá núi vỡ. Tôi nghe rõ cả tiếng khỏa nước... Ðang định đứng dậy, quay lại chỗ ban nãy, chờ cho cô gái đi trước rồi mới về. Thì cô gái đã đứng lên. Tôi cứng đờ như thằng ăn trộm bị bắt quả tang. Cô gái ú ớ không thành tiếng một lúc rồi kêu lên: "Ôi chú Lìn. Chú Lìn phải không? Làm chị hết cả hồn. Chú về, sao không báo trước cho mẹ mừng?". Tôi líu ríu: "Chị dâu! Sao đi nương về muộn thế, lại còn đi một mình!". "Cố một tí cho xong để mai còn sang nương khác". "Ðưa gùi em mang cho". "Thôi, chú không gùi được đâu. Lâu lâu không gùi cái gì thì đau vai lắm". Chị cúi xuống xốc gùi củi lên vai. Gùi củi cồng kềnh lại nặng nên cả người chị phải lao về đằng trước. Ði sau tôi nhận ra hơi nóng từ cơ thể chị làm cho váy áo ướt như có sương mù bay lên. Ở miền núi, con gái phải tập gùi từ lúc tám, chín tuổi. Gùi mãi, đủ thứ trên lưng, già rồi vẫn gùi nên bao giờ lưng cũng còng sớm hơn lưng đàn ông. Chị dâu tôi còn phải gùi nhiều hơn người khác, gùi thay cả mẹ, thay cả tôi. Chẳng biết đến bao giờ mới thôi không phải gùi nữa. Từ sáng sớm đến tối mịt cái lưng chỉ thẳng ra mỗi lúc ngủ.

    Hai chị em mải miết đi, phía sau tiếng khèn lá đã cất lên.

    Nhà tôi có ba anh em, anh cả, tôi và em gái út. Tôi và anh giống nhau y hệt. Ngày nhỏ, nghe hàng xóm hay đùa bảo mẹ tôi phải lấy nhọ nồi bôi lên mặt một đứa để còn biết đâu là anh, đâu là em. Hai đứa đã cãi nhau mà cãi không xong là đánh nhau. Vì chẳng đứa nào chịu nhận mình là người phải đánh dấu. Lớn lên tí nữa thì tôi lại cao vượt lên. Mười tám tuổi anh Lân mới chỉ đứng đến tai tôi. Ngày anh cưới vợ, tôi đã biết cầm dao chọc tiết con lợn gần một tạ, anh em thôi không còn cãi cọ nữa. Nhưng tôi đi chưa đầy năm thì anh bị lợn rừng húc chết trong một đêm lên nương canh ngô. Cha tôi đau buồn suốt mấy tháng trời vì chưa kịp có cháu nội. Không riêng gì cha mà cả họ đều trông chờ vào anh Lân. Nhưng chị dâu lúc ấy còn đứng thấp hơn cái khung cửa vài gang tay, một tay tôi cũng đủ sức nhấc bổng chị lên. Không biết có phải vì thế mà chị chưa kịp có con hay không?

    Tôi bước lên cây cầu thang quen thuộc, kịp nhận ra sự thiếu vắng bóng đàn ông ngay trong ngôi nhà của mình. Một bậc cầu thang bị vỡ ra một miếng từ bao giờ chưa có ai thay, cái cặp tre cời bếp cháy nham nhở gần đến tay cầm vẫn cố dùng, cần giã gạo long ra, để chỏng chơ... Ở nhà thì thế, còn khi trong họ, ngoài bản có việc gì lớn nhà mình không có đàn ông, đàn bà có đến cũng chỉ được ở dưới bếp, trưởng họ có nói gì không thuận tai cũng phải nghe theo. Lâu nay mẹ tôi đau yếu thế, chắc chị dâu cũng chẳng bao giờ mặc váy áo đẹp đi đâu.

    Mẹ sờ nắn khắp người tôi, bắt tôi ngửa hai bàn tay xem vết chai còn hay mất, nhìn tôi chăm chăm suốt bữa ăn. Dường như mẹ vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì sự trở về đột ngột của tôi. Tôi đã xa ngôi nhà của mình quá lâu, lâu đến nỗi quên cả chỗ ngồi của mình trên tấm phản lớn nhất bên bếp.

    Chị dâu mở tủ, lấy gói chè gói kỹ trong mấy lần giấy ra pha. Chị biết tôi nghiện chè, mà phải thứ chè tự nhà sao lấy. Thỉnh thoảng có người xuôi, tôi lại nhận được chè chị gửi. Chè ở đây mọc hoang. Dưới thấp người ta còn chặt đi để lấy chỗ trồng thứ khác chứ trên cao, tít trên đỉnh núi mặc kệ, muốn lớn đến đâu thì lớn. Mùa xuân nhà nào có người hay uống chè lại mang gùi lên lấy về mà sao. Ði hai lần là đủ chè uống cả năm, uống đến mùa xuân năm sau.

    Mí quấn lấy tôi một lúc lại bỏ sang ôm cổ chị dâu đòi đi ngủ. Ngày chị về nhà tôi Mí mới được hơn hai tuổi vẫn chưa rời vú mẹ, nó quấn quít với chị cho đến giờ. Cả nhà chỉ muỗi mình Mí dứt khoát không gọi chị dâu mà gọi chị gái, mẹ nói thế nào cũng không nghe.

    Tôi bảo với mẹ rằng lần này tôi về để đón mẹ xuống ở với tôi, lần sau thì đón cả chị dâu, cả em Mí, tôi muốn mọi người ở bên mình, muốn mọi người hết khổ. Mẹ nắm chặt đôi tay trên đầu gối: "Ðấy là những gì mày học được từ khi ra khỏi nhà phải không Lìn? Mắt mày sáng ra bằng nào tao chưa thấy, chỉ thấy mày quên hết lời cha mày dặn thôi, quên cả lời hứa.

    Khi nào tinh như con cắt lúc rời tổ mày sẽ về, sẽ lấy vợ, có nhiều con trai. Mày nói ở quê khổ quá à? Khổ mà tao vẫn sống đến giờ, khổ mà trẻ con vẫn lớn được! Không có ai chết vì khổ được đâu, chỉ có ai chết vì trong bụng đựng toàn điều xấu thôi...".

    Tôi muốn bảo mẹ rằng ý tôi không phải như mẹ nghĩ, nhưng không mở miệng được. Mẹ không cần tôi cho mẹ cuộc sống khác, mẹ cần một đứa con trai để ngày mưa gió có người dọi nhà, có người chèn cửa. Chị dâu khẽ khàng lên tiếng: "Chuyện ấy để mai hẵng nói, chú Lìn đi nghỉ kẻo mệt". Chị đã trải chiếu, mang chăn ra chỗ ngủ cho tôi từ lúc nào. Mệt, đau nhừ, mỏi rã rời mà không sao ngủ được.

    Ðã gần giữa thu, trời bắt đầu lạnh, những cơn gió hun hút luồn qua vách nứa. Ánh trăng sáng trắng lọt qua ô cửa nhỏ, hắt cả một quầng sáng vào trong nhà. Cả bản tôi nằm gọn trong một thung lũng, bốn phía là rừng, qua rừng đến nương ngô nương lúa, qua nương lại đến rừng rồi đến bản khác. Bản ở dưới thung lũng nên ngập trong ánh trăng. Ban đêm, những nếp nhà sàn lô nhô lẫn vào rừng cây trông không rõ đâu là nhà, đâu là những tán cây rậm rì, cao vút. giữa mùa, trăng cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau. Ðêm, trời càng gió, trăng càng sáng thì hôm sau càng nắng to.

    Hồi còn ở nhà, mùa trăng nào tôi cũng bám áo anh Lân tìm đến nhà nào có con gái đẹp thổi sáo suốt đêm. Anh Lân thổi khèn lá tài lắm, phiên chợ nào cũng có con gái quấn theo mãi, tối không về được. Thế mà về bản, đứng ở đầu hồi nhà người ta có khi ba đêm liền cũng không thấy ai ra. Ba đêm không được thì bảy đêm, bảy đêm cũng không được là hỏng rồi, sang nhà khác thôi. Lần anh đến nhà chị dâu tôi bây giờ cũng hết đêm thứ bảy mà không được gì đã định bỏ. Cả ngày hôm sau anh bỏ cơm, gắt om xòm. Ðến đêm thứ tám lại mang mũ nồi giấu dưới gối, đi. Ðêm thứ chín, trăng lên muộn lắm, tôi đã thiu thiu ngủ lại thấy anh dậy mặc áo. Anh bảo: "Thôi đêm nay mày đừng theo tao nữa, muộn rồi. Tao đi, có khi ngủ luôn ngoài rừng không về". Gần sáng thì anh về, lật chăn ra, bắt tôi dậy để anh cho xem chiếc khăn tay màu xanh thêu mấy bông hồng trắng lấm tấm. Ít lâu sau, anh cưới vợ...

    Ðêm khuya, bản đã yên ắng lắm, nghe rõ cả tiếng nước đập vào ghềnh đá rào rào ngoài sông, tiếng trâu thở phì phì đuổi muỗi, tiếng chim lợn rít lên cuối rừng... và càng rõ hơn tiếng khèn lá từ ngoài suối vọng vào. Tiếng khèn lúc gần lúc xa, lúc như tiếng gió dài lê thê, lúc ào ào như nước lũ, lúc cao vun vút, rộn rã như cánh chim buổi sớm... Tiếng khèn như thế nói được nhiều điều lắm, đủ để cô gái nào đó hiểu rằng chàng trai sẵn sàng làm tất cả vì cô, đổi tất cả những gì mình có để lấy ánh mắt của cô, bán tất cả để mua nụ cười của cô. Chàng trai ấy sợ đôi chân cô dẫm phải đá sắc lúc lên nương, sợ gai cào tay cô, làm rách vành khăn của cô lúc vào rừng. Chàng trai ấy nhìn cô cười để vui, nhìn cô khóc để buồn... Không biết chàng trai có đôi tay nổi bắp cuồn cuộn ấy gọi ai.

    Ðột nhiên có tiếng cọt kẹt của sàn nhà. Chị dâu từ trong buồng rón rén bước ra, vừa đi vừa vấn lại mái tóc dài đến eo lưng. Tự dưng tôi run bần bật, một cảm giác đau buốt nhói lên phía ngực. Tôi nhắm nghiền mắt. Hẫng hụt, như người rơi xuống đáy sông sâu hun hút...

    Kéo chăn lên ngang mặt, chỉ hở hai con mắt tôi cố nén để không vùng dậy. Nhưng chị dâu chỉ đi ra bếp thổi lửa, mang lanh ra quấn ánh lửa bập bùng hắt lên gương mặt tròn của chị. Hình như đến giờ tôi mới thực sự hiểu ra vì sao ngày xưa anh Lân có thể thổi khèn lá tới đêm thứ chín. Ðôi gò má căng, đỏ rừng rực, ba khuy áo bên trên bật ra trễ nải, để lộ ba ngấn cổ cao trắng ngần, khuôn ngực phập phồng nhè nhẹ... Tiếng khèn mỗi lúc một réo rắt, đôi tay chị quấn lanh nhanh hơn, cuống quýt mà ánh mắt thẫn thờ. Ðược một lúc, chị đứng dậy với thúng ngô trên gác xuống tẽ... Tiếng gà rừng tít thăm thẳm xa đã eo óc gáy. Tôi thiếp đi răng vẫn cắn chặt môi tê dại, mãi đến lúc nghe tiếng cối xay ngô rền rĩ dưới gầm sàn mới tỉnh dậy. Chị dâu đã trở lại vẻ hoạt bát, thậm chí tôi không dám tin chắc vào tiếng khèn đêm qua, nếu như cuộn lanh không rối tung nằm đó... Chị mang ấm nước nóng ra pha cho tôi rửa mặt: "Ðêm qua ngủ có phải co chân không chú Lìn?". Tôi hấp tấp: "Ðặt mình xuống là ngủ luôn chị dâu à. Lâu quá mới ngủ được một giấc ngon như thế". Chị dâu cười. Tôi thấy đâu óc váng vất.

    Trời còn chưa sáng rõ chị dâu đã xay ngô xong. Mẹ tôi bảo: "Năm nay nhà mình làm cốm được đấy con dâu?". "Vâng, có chị Lìn về nhà!". Ở quê tôi, mùa cốm là mùa hội. Sáng mười bốn âm lịch, mặt trời còn chưa lên đã mang đòn gánh lên nương lúa cao nhất "tan" lúa về. Buổi chiều đàn ông xuống gầm sàn tìm chỗ đắp bếp đất, đàn bà nhóm lửa nướng thóc non. Ðêm xuống, trăng lên thì con trai con gái trong bản kéo nhau tới giã cho từng nhà. Giã cốm thâu đêm, hết cốm thì cho rơm vào giã, giã để còn được ngắm nhau, được nói lời hay với nhau mà không sợ ai nghe mất. Thế nên sáng hôm sau về nhà có ai hỏi đêm qua giã được mấy mẻ cốm, cốm năm nay có ngon hơn năm trước không cũng chẳng biết. Mấy năm rồi, đến mùa cốm chị dâu chỉ mang một cum sang gửi hàng xóm lấy cốm cho cái Mí ăn chứ nhà không làm.

    Chị dâu đi đến trưa mới về, bốn cum thóc nếp còn xanh mọng nặng trĩu hai đầu đòn gánh. Mẹ kêu lên: "Ấy da, lấy về nhiều thế con dâu? Ðịnh cho thằng Lìn ăn cốm thay cơm thay thịt hay sao?". "Ðể chú Lìn khỏi quên mùi núi rừng thôi mẹ ạ".

    Chập tối, hai chị em đắp bếp, nướng thóc, xếp sẵn một lượt vào cối dài thì đám thanh niên tới, chia ra mỗi bên hai, ba đứa con trai con gái xen nhau. Ðứa con gái có cái lúm đồng tiền cất tiếng hát, hát xong, bọn con trai nhấc chày lên, lúc con trai giã xuống, bên kia con gái nhấc lên. Vừa giã vừa chòng ghẹo nhau thỉnh thoảng lại rúc rích cười. Một đứa con gái nói to, át cả tiếng chày thùm thụp: "Chị Lân à, làm sao con gái có chồng rồi mà cứ đẹp mãi, ngày càng đẹp thế". "Em nói ai?" "Còn ai nữa. Bao nhiêu đứa muốn hỏi chị đun nước lá gì gội đầu mà tóc đen thế, nhiều thế, đun củi gì mà má hồng thế đấy!". "Chỉ nói lung tung thôi. Chị già rồi mà". "Không già tí nào đâu chị ơi. Cứ đẹp mãi thế lại khối người Vần Chải khổ thôi". "Bậy quá. Không được đùa thế đâu". Mặc kệ, tiếng cười vẫn cứ lanh lảnh. Chị dâu bối rối, sảy mẹt cốm vãi cả ra ngoài.

    Bốn cum thóc, chỉ một loáng, trăng lên đến ngọn cây dẻ cao nhất cuối rừng thì đám thanh niên giã xong, lại lũ lượt kéo nhau sang nhà khác. Còn một mình chị dâu lúi húi dọn dẹp. Chị khe khẽ hát. Bất chợt tiếng khèn lá đêm trước lại dội lên, chị luống cuống bê thúng cốm đi như chạy lên cầu thang, suýt vấp ngã. Chị cài chặt then cửa, lao vào buồng, tôi còn nghe tiếng thở dồn dập rất lâu.

    Mẹ tôi ra khỏi buồng, đến trước bàn thờ cha tôi. Tôi chỉ nghe được tiếng thở dài nén rất nặng trong lồng ngực mỏng manh của mẹ. Sau khi làm hai đám ma, trong nhà tôi hầu như không còn gì. Bò, dê, gà, lợn mổ để thầy mo cúng làm lễ hết, ngô lúa cũng hết. Cha tôi mất tháng trước thì tháng sau trời nắng to, nắng ghê gớm, nắng từ lúc mặt trời chưa lên hẳn đến lúc mặt trời sắp lặn. Nắng từ ngày này sang ngày khác, già bản tụ tập tất cả bô lão trong làng lập đàn cầu khấn mà trời vẫn không cho một giọt mưa. Trên nương, ngô vừa ra bắp bằng chuôi dao đã khô quắt lại, lúa ngả sang mầu trắng, bông phất phơ như lau. Rừng già lách tách tiếng vỡ nứt. Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi. Ðứng dưới bản nhìn lên chỉ còn thấy một mầu đen của cây cháy. Ðột ngột, kinh hoàng quá, không ai còn khóc được.

    Nương sắn chưa đầy năm cũng nằm trong vùng cháy. Chị dâu mang dao, mang gùi đi từ sáng sớm đến trưa mới về, gùi một gùi sắn đã chín, củ nào cũng chỉ như ngón chân cái, Mí hớn hở ăn, rồi say, nôn ra máu. Nó ốm, tóc dụng trơ cả da đầu, nằm ẹp như một con mèo con, chỉ còn thấy hai hốc mắt. Mẹ cũng kiệt sức, ngồi bó gối bên giường Mí mấy đêm liền, đến lúc chị dâu đỡ mẹ nằm xuống, đôi chân vẫn co như đang ngồi. Ban đêm, lúc mọi người ngủ, chị dâu đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua. Sáng sớm, lúc mọi người chưa dậy chị đã mang ống bương qua hai quả núi đi lấy nước... Những ngày tháng ấy nếu không có chị dâu không biết điều gì sẽ xảy ra. Còn tôi, khi về được bản, nương lúa mới trỉa đã bắt đầu lên xanh, phủ dần mầu đen của tro than. Như một sự trả nợ, vụ ấy trời cho được mùa, lúa ngô mang về không còn chỗ để.

    Chú tôi đến chơi, bảo là "để xem bao giờ thằng Lìn mới chịu lấy vợ". Chú thím cố mãi cũng chỉ toàn con gái. Tưởng có mỗi chuyện ấy thôi nhưng đến lúc ăn cơm xong, đợi chị dâu mang bát đi rửa chú mới nói: "Chị à, con dâu ngày càng đẹp ra đấy, khéo mà giữ kẻo mang tiếng họ Bàn". "Chú nói gì? Nó đi đâu mà phải giữ. Ði từ nhà lên nương, từ nương về nhà, mặt chỉ biết cúi xuống nhìn lối đi...". "Chị không biết rồi...". "Biết cái gì?". "Người già mà ngủ say được thế, sao chị dâu? Ngủ say quá nên không nghe đêm trăng nào cũng có đứa đến gần nhà thổi khèn lá: Ðứa ấy gọi ai? Gọi cái Mí chín mười tuổi à? Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu".

    Tiếng nước xối ào ào rồi lặng yên. Mẹ liếc nhìn chú, lại nhìn ra cửa. Chị dâu khệ nệ bưng chồng bát vào, nước bắn lên váy ướt lem nhem, dính vào đôi bắp chân tròn. Con gái miền núi có đôi bắp chân đẹp là nhờ quấn xà cạp lúc đi làm, lúc ra khỏi cửa, chỉ đêm mới tháo ra. Chú tôi vê điếu thuốc lào phả khói mù mịt, ngồi thêm lúc nữa rồi lẳng lặng ra về. Chị dâu rút nắm đuốc trên gác bếp châm lửa, đưa chú xuống cầu thang. Ngày trước, chú là người phản đối việc anh trai tôi đòi cưới chị. Chú chê chị bé, chê con gái mà ngực lép, lông mày rậm là không biết làm dâu, là có lúc cãi bố mẹ chồng. Sau này, khi anh tôi rồi cha tôi mất, chính chú lại là người thương chị dâu nhất, chuyện gì cũng nói như với con gái. Thế mà bây giờ...

    Chú Phin về rồi, mẹ bảo tôi: "Mày mới về, nghe chú nói, biết thế, đừng nghĩ xấu cho nó". "Mẹ thì nghĩ thế nào?". "Tao làm dâu họ Bàn, nó cũng là dâu họ Bàn, chết đi làm ma họ Bàn. Muốn gì cũng không được đâu".

    Chị dâu ngồi vào khung cửi. Chị bảo cố dệt để còn kịp đi phiên chợ tới. Tôi bảo để tôi thức cùng cho chị đỡ buồn, chị bảo đàn ông chỉ thức đêm ngoài sông, trên rừng, không ai thức cạnh khung cửi. Nghe tiếng lạch xạch, lúc gấp gáp, lúc trễ nải tôi không sao ngủ được.

    Tiếng khèn lá vẫn réo rắt từng đêm, từng đêm. Ðêm nào chị dâu cũng ngồi bên khung cửi, đống lanh trắng chất đầy hai quẩy tấu không hết. Từng đêm, từng đêm ấy, tôi nằm cứng đơ như khúc gỗ, nghiến mỏi hàm răng nhìn chị hai lần, ba lần đứng lên mang dây lanh ra buộc cửa, buộc thêm, thêm mãi, thành một đống rối tung to xù. Không biết có phải tại ánh trăng hắt từ bên ngoài vào hay không mà tôi thấy mặt chị đã không còn hồng, mà tái xanh, cặp mắt như mắt người say rượu. Ðêm thứ tư, đêm thứ năm... đến đêm thứ bảy thì tôi vùng dậy, lao như một con thú ra cửa, giằng tay chị ra khỏi mớ dây lanh bùng nhùng. Chị giằng co với tôi, sợi lanh thô cứng cứa vào tay chị bật máu...

    Tôi không nhớ mình đã nói gì để thằng con trai còn rất trẻ, tóc ướt sũng sương đêm ấy lủi thủi bỏ đi. Lúc trở về nhà, chị dâu đang đứng ở chân cầu thang, mắt nhìn chằm chằm vào bàn tay đang nắm chặt của tôi. Tôi đi qua chị không nói một lời nào, run lên vì hơi nóng rừng rực đang toát ra từ đôi cánh tay trần phơi dưới ánh trăng, từ đôi mắt thẳm của chị.

    Chú Phin ốm, bảo tôi lên canh nương thay chú vài hôm. Tôi mang dao quắm, đèn pin đi. Nương ở xa nên chắc sẽ ở lại luôn đến hôm nào chú khỏi mới về. Buổi chiều, chị dâu lên, mang theo cá nướng với thịt dê. Chị cắm cúi dọn nồi niêu, chăn màn, không nói câu nào. Mãi đến lúc chị định về, tôi cũng mới mở miệng được: "Chị dâu à, em bảo thằng Sìn đem khèn lá đi nơi khác mà thổi. Nhìn vào mắt nó em không chịu được...". Chị dâu run run: "Chị không nghĩ đến thằng Sìn bao giờ đâu chú đừng lo". "Thế thì chị dâu nghĩ đến ai? Ai hở chị dâu? Người ấy có ở Vần Chải không?. "Chú đừng hỏi nữa, chị xin...". Chị dâu khóc. Tiếng khóc bật ra như thác lũ thượng nguồn không gì ngăn được. Khóc như để trôi đi những bức bối trong lòng. Nước mắt chảy ròng ròng trên gương mặt bợt bạt, rớt xuống ướt ngực áo...

    Cuối mùa trăng, tôi lại đi. Mẹ vẫn không một lời ngăn cản, mẹ mặc tôi. Tiễn tôi đi chỉ có chị dâu với em Mí. Ðến chỗ con suối chảy qua chị dừng lại, cúi nhặt một viên sỏi đưa cho tôi: "Chú mang đi để khỏi quên đường về Vần Chải". Tôi cố nhìn chị, mắt chị rưng rưng, lấp lánh cuối rừng chưa kịp lặn. Chị quay đi. Gió sớm từ trong khe núi lùa ra thông thốc làm váy chị, váy em Mí xòe ra.

    Tôi mím môi, bước đi. Bãi lanh còn đẫm sương đêm quệt vào mặt lạnh buốt. Ra đến đoạn suối bên ngoài lại nhìn thấy ngay trước mặt, trên phiến đá rộng, một người đang gục đầu lên hai cánh tay vòng trên đầu gối. Xung quanh, lá rừng bị xé tung tơi tả. Sìn! Ðúng là Sìn. Ngẩng đầu lên nhận ra tôi hình như nó định đứng dậy, định chạy đi, nghĩ sao lại ngồi yên. Ðầu tóc, quần áo Sìn ướt sũng, râu mọc tua tủa trên gương mặt tím tái...

    Tôi đi qua Sìn. Hòn sỏi trong tay bỏng rát. Trăng cuối mùa vẫn chưa kịp lặn nhưng đã lẫn vào chân trời đang sáng dần lên...

    31-12-1999.
    Ð.B.T
    (Văn nghệ quân đội xuân Canh Thìn)
     
  16. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Giếng trong

    Lê Tấn Hiển

    Cánh đồng chó ngáp - nghĩa là cánh đồng dài, rộng quá, đi hết, đến chó cũng phải ngáp. Có thể những đoàn quân đầu tiên qua đây đã đặt tên như thế. Dẫu có hơi quá quắt, nhưng quả thật, lính mình không ngoa. Giữa chiến trận, cái quá quắt của ngôn từ lại có gì như dễ thương, thậm chí, cần thiết nữa. Ðơn vị chúng tôi đang hành quân qua cánh đồng mang cái tên khôi hài dữ tợn này.

    Ðêm ấy không trăng. Nhưng trời đầy sao. Chúng tôi đã thấm mệt mồ hôi ướt đầm lưng áo, thấm cả sang ba lô, rồi lại khô. Cứ thế đến mấy lần, mà vẫn chưa đi hết cánh đồng. Tiểu đội hậu cần vốn đã lủng củng xoong nồi, lại dắt thêm con cầy tơ - đổi được của đồng bào dân tộc, nghe đâu bằng một cái chăn chiên. Biết lính trung đội mê món "mộc tồn", mấy cậu anh nuôi cố giữ, định đến vị trí tập kết làm bữa khao quân trước khi vào trận mới. Nhưng chưa hết nửa cánh đồng, con chó đã nằm rịt, không chịu đi, tròng dây kéo cũng không nổi. Ðành để cu cậu nằm lại. Tội nghiệp. Nó chưa ngáp nhưng chắc gì sống nổi giữa đồng đất bao la này. Mấy thằng tích giữ được củ riềng trong túi cóc, chép miệng tiếc. Có ai đó lên tiếng: "Dào, nó chưa chết là may. Ngay tao cũng sắp... ngáp đến nơi rồi. Khát khô cổ...".

    Người vừa nói là Vinh. Vinh "ba toác". Nó là thằng đa ngôn bạo mồm nhất đại đội. Thằng ruột ngựa nhiều khi đến sống sượng. Nhưng chẳng một ai giận được nó bao giờ, mặc dù nhiều khi phát chối, phát ngượng vì nó.

    Không giận nổi, vì nó luôn luôn đúng. Hồi còn ở pháo, thời huấn luyện, có đoàn kiểm tra của "sư" xuống thăm. Vinh đang "đóng vai" trực chiến. Thấy không mang mũ sắt trên mâm pháo, một ông trợ lý hỏi: "Sao không đội?", nó tỉnh bơ: "Dạ trực vờ, đội làm gì, đánh nhau thật, khỏi nhắc. Mới lại, cơm đã ít, nặng đầu chỉ chóng đói...". Mấy đứa cùng khẩu đội tức lắm, mà không nhịn được phải quay đi, cười. Vậy mà nó được việc. Ngay hôm sau đoàn về, thấy cơm nhiều hơn. Không ai nói ra nhưng biết đấy do công thằng "ba toác".

    Một lần khác, hồi còn ở trên đất Bắc. Ðơn vị chuẩn bị ăn tết. Có mấy chàng lính, nhớ nhà không chịu nổi, trốn ra đường cái, vẫy xe "vù". ú ớ thế nào vớ ngay được xe trung đoàn bộ. Thế là cả tốp bị mời về. Hôm sau, hội bỏ ngũ phải lên đọc kiểm điểm trước đại hội. Ông chính ủy dự nghe, bảo: "Khuyết điểm rõ rồi. Còn tự nhận kỷ luật, chưa thấy ai nói...".

    Bỗng từ dưới hàng quân một người bước lên, giậm gót, đứng nghiêm chào. Thì ra Vinh. Nó dõng dạc: "Tôi xin bảo lãnh và cam đoan với danh dự chiến sĩ, đây sẽ là lầm lỗi cuối cùng của chúng tôi trước lúc ra trận!". Chính ủy nhíu mày, nhưng xúc động nhiều hơn là ngạc nhiên: "Ðồng chí nhân danh gì?" - "Dạ đồng hương" - Vinh đáp gọn lỏn. Kết quả thật không ngờ. Mấy tay trốn hụt được về hàng. Kỷ luật cũng xí xóa. Ông chính ủy, thay vì sự "lên lớp", nán lại hàng giờ với đại đội, kể chuyện kỷ niệm thời tân binh...

    Từ đó, Vinh "ba toác" trở thành niềm tin cậy và chỗ dựa của lính tráng đại đội. Bất kể đầu bò đầu bướu đến đâu, hễ Vinh đã nói một tiếng, là răm rắp.

    Trước ngày vào B, Vinh được đề bạt A trưởng. Rời đất Bắc, nó được phong trung đội phó. Hành quân được hai trạm, tay trung đội trưởng "khung" lăn ra sốt rét, phải nằm lại. Thế là "ba toác" được chỉ định nắm quyền. Lên cán bộ, nhưng mồm miệng nó vẫn thế, có khi còn bỗ bã hơn. Ðược cái, nó làm ra trò, từ chỉ huy, quản lý, phân công, cách đánh, cách lui... một mình nó một kiểu. Nhưng trận nào cũng thắng. Lính các trung đội khác, trông sang mà thèm.

    Chỉ còn chừng cây số nữa là hết cánh đồng. Quân lính anh nào cũng khát. Nước trữ trong bi đông vắt giọt đến mấy bận, khô cong. Dẫu Tào Tháo ở đây cũng khó mà động viên nổi binh sĩ. Vinh cho trung đội dừng lại, bảo: "Xóm làng kia rồi. Nhưng liên lạc tiền trạm chưa báo. Ðịch ta khó biết. Cứ đi. Chỉ được qua. Cấm dừng. Khát ráng chịu, còn hơn tất cả phải ăn đòn!".

    Ðến khi qua cái làng ấy, nghe tin đơn vị khác, mấy thằng suýt chết vì uống phải giếng có thuốc độc. Cả trung đội lè lưỡi. Thoát nạn. Chúng nó xúm nhau vào tung Vinh lên, reo hò, khâm phục.

    Nhưng vẫn không có nước. Lại suốt một ngày nhai lương khô thay cơm, bụng dạ ráo như bánh đa. Ðến mồ hôi cũng không còn mà ra nổi. Ai cũng biết, nhịn ăn một ngày, còn dễ. Chứ nhịn uống, khó lắm... Vinh vừa đi ngược hàng quân vừa nói: "Thằng nào có tiếu lâm, kể đi. Giời bể, đông tây, yêu đương, ma quái gì cũng được. Hay thằng nào có giọng, thì hát, nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh cho phép tất. Cố lên vài chặng nữa. Cây cỏ sống được thì mình sống được. Lính chưa gặp đạn bom, muốn chết cũng khó...".

    Tang tảng sáng. May thay, có liên lạc của C báo: "Vùng an toàn. Cho quân nghỉ nấu cơm. Nhắc các đơn vị tuyệt đối chấp hành chính sách dân vận!". Vinh nghe xong, cười ha hả. Ðợi cậu liên lạc đi khuất, bảo: "Lại có "chất tươi" rồi. Nghe đây, thằng nào thằng nấy cất kỹ "chim" đi! Ðứa nào để sổng, để bay, cứ đúng luật thời chiến mà xử: Chặt!".

    Các A trưởng: Anh em xin được đi kiếm nước uống. Vinh lệnh: "Giữ nguyên hàng quân. Tạt vào ven đường mắc võng. Sẽ có người mang nước đến tận mồm". Mệnh lệnh cứ ào ào, bỗ bã như thế, mà nghiêm. Xuống tới tiểu đội, quân chấp hành tắp lự. Cấm thấy tiếng kêu ca phàn nàn gì. Lính trung đội quen rồi. Vinh đã nói là làm. Vả lại, càng vào sâu vùng lửa đạn, họ càng biết rằng, nắm giữ sinh mạng chiến sĩ, không ai khác, chính là người chỉ huy trực tiếp này.

    Vinh đi kiểm tra một lượt hàng quân. Rồi lấy thêm hai người - Chi và Tối - hai vị đồng hương trốn hụt hồi tết năm ngoái cùng đi. Tối, thực ra tên là Tôi. Ðiểm danh trung đội đến lần thứ hai, Vinh bảo: "Tên gì nghe khó chịu bỏ mẹ, vào đánh nhau rồi lẫn lộn, chết oan có ngày. Ðổi! Từ nay gọi là Tối. Xấu một tý nhưng đố thằng nào dám nhầm...".

    Vinh - Chi và Tối, thành cái bộ ba "tam cúc", cũng chẳng ra "tướng sĩ tượng" hay "xe pháo mã" gì, chỉ biết cứ hành quân hay đánh trận thì thôi, nhưng hễ có chặng nghỉ, lại kè kè, không thể thiếu. Thấy Chi vẻ giữ ý, Vinh to tiếng tuyên bố trước trung đội: "Chúng tao đồng hương thân nhau hơn là đương nhiên. Ðừng thằng nào thắc mắc ghen tị gì. Luật chiến trường không ai cấm móc ngoặc. Mẹ, toàn súng, đạn với cát-tút, thằng nào cũng có cả. Móc cái gì?". Vinh bằng tuổi Tối. Còn Chi kém hai. Thấy hai đứa cứ "anh anh, em em", Vinh phát khùng: "Tao hỏi thật, chúng mày gọi tao là anh vì sao?". Cả hai đứa ngớ ra, chưa hiểu, Vinh tiếp: "Vì tao là chỉ huy hay vì hơn tuổi?", rồi thẳng một lèo: "Thôi, cứ mày tao mẹ nó đi cho dễ, anh em rồi có lúc phải nể, phải nhường. Nể, nhường ngoài mặt trận khó xử lắm... Tối, vốn dân đại học văn hóa lý lẽ: "Thôi, đã là anh em, căn vặn làm gì. Cũng chẳng nệ tuổi tác hay chức vị. Chúng mình kết nghĩa. Xong chưa". Từ đó, Vinh mới chịu nghe, nhưng còn dặn thêm: "Thằng nào không thực lòng, vào trận, cho dính đạn chết quách. Giả dối, chả cứ anh em, sống cũng bằng thừa".

    Ba người vào làng. Vinh bảo: "Tao đi lo nước cho anh em. Thằng Chi kiếm nhà nào không có con gái, mình mắc võng, làm một giấc. Còn thằng Tối, xem đâu có hoa quả gì, "dân vận" một ít về đây".

    Ðộ một tiếng sau, thấy từ trong làng, bốn năm cô gái, chừng như cũng vừa thay bộ cánh mới, lũ lượt gồng gánh tiến ra. Họ mang nước tới tận hàng quân. Chè tươi hẳn hoi. Lính tráng được dịp thỏa thuê, đem hết bình tông, cả thùng lương khô ra chứa. Lại lâu lắm mới có dịp gặp dân, nhất là con gái, anh nào anh ấy ra sức khua môi múa mép. Pha trò, châm chọc. Lính mà, ở đâu chẳng thế. Ai giận được.

    Chi đi khắp làng, rồi quay về thẽ thọt: "Khó quá, nhà nào cũng có, ít là một cô gái, anh Vinh ạ...". Vinh thở dài: "Thôi cũng đành! Chọn lấy một nhà, mắc võng ngoài vườn... mà mình có ngủ với chúng nó đâu mà sợ".

    Còn Tối, sở dĩ Vinh phân đi kiếm hoa quả, cũng có lý do của nó. Thằng này cứ như thể sinh ra để làm chỉ huy, biết người biết của, ranh mãnh ra phết. Chả là có một bận, ba đứa vừa mắc võng giữa rừng, đang đung đưa kể chuyện quê, chợt Tối nhìn lên tán lá phát hiện một cành quéo, có quả hẳn hoi. Tối la lên. Ba đứa chụm đầu nhìn, nuốt nước miếng. ở rừng, vớ được thứ hoa quả vườn, cứ như bắt được vàng, lại là của chua, quý lắm. Hóa ra, họ nằm ngủ cách một cây quéo rừng có dăm mét mà không biết. Nhưng khốn nỗi, cây cao chót vót, thân to lỳ chẳng thấy cành chạc gì, xung quanh lại toàn giống săng lẻ trơn tuồn tuột, khó mà trèo hái. Chỉ có bắn tỉa từng quả là chắc ăn nhất, đạn thì không thiếu, nhưng tiếng súng, sợ lộ bí mật hành quân. Ðành chịu chết. Tối chót mạnh mồm: "Tao vốn dân trèo me trèo sấu thành phố, cao thế chứ cao nữa cũng chưa là gì...". Vinh cười khẩy: "Nói phét! Tao thách! Thằng Tối mà hái được mươi quả xuống đây, tao xin... giặt quần cho mày!". Bị kích động, Tối nghĩ mưu, nối ba cái thắt lưng to vào nhau, buộc ngang lưng như kiểu dây an toàn của thợ điện. Loay hoay một hồi cũng leo được tới ngọn. Bữa ấy, chẳng phải mươi quả, mà cả trung đội ăn canh chua gần tuần mới hết quéo.

    Trưa. Lính trung đội mệt, ăn uống xong là lên võng ngủ hết. Tối, Vinh và Chi chọn ba gốc cây sau vườn, mắc võng thành hình tam giác. Mà nào đã ngủ được. Chi ngây thơ: "Làng xóm gì chỉ thấy rặt con gái!". Vinh quát: "Ngu, thế mà cũng mở miệng nói. Có về làng mình, bây giờ cũng thế. Khác gì. Trai tráng ra mặt trận cả, gì mà không chỉ còn con gái... Thế con bé nhà này đâu mà chưa thấy mặt mũi ra sao cả?" - "Chắc nó thẹn..." - "Thẹn? Tao cam đoan, nếu đang trong nhà, thế nào nó cũng nấp khe cửa nhìn trộm chúng mình...". Rồi cả ba phá lên cười.

    Nửa đêm hôm ấy. Liên lạc báo. Chúng tôi được lệnh thu võng hành quân. Ðời lính kiểu thoắt đến thoắt đi oái oăm thế là thường. Nhưng với Vinh lần này, thấy nó cứ ngơ ngẩn đến khó hiểu. Chi nháy tôi: "Lại có chuyện gì rồi!".

    Quả nhiên, độ ba giờ sau, đi qua một cánh rừng khộp lưa thưa. Vinh lệnh cho trung đội dừng lại, đặt ba lô, tập hợp thành hàng ngũ hẳn hoi. Giữa đường hành quân chuyện như thế là hiếm. Nên mọi người đều đoán hẳn có việc gì hệ trọng sắp xảy ra.

    Sáng trăng suông. Vinh đứng trước hàng quân dễ đến mấy phút, chẳng nói năng gì. Không khí lặng lẽ, hồi hộp. Cuối cùng nó nói, giọng run run là lạ: - Chúng ta từ đất Bắc vào đây, sướng khổ, sống chết có nhau. Lòng dạ như cái bánh, chẳng giấu giếm lừa dối nhau điều gì. Từ ngày trên bảo tôi làm chỉ huy, tôi đã biết số phận chúng mình gắn bó với nhau rồi. Biết anh em tin, tôi cũng cố xứng đáng với anh em, bấy nay chẳng nề hà phân biệt...

    Ngừng một lát, Vinh tiếp:

    - Nhưng hôm nay, tôi đã phạm tội đã lừa dối anh em, hưởng vui thú một mình... Tôi muốn dừng lại đây, để trung đội xử tội, đúng luật chiến trường như tôi vẫn nói...

    Cả trung đội ngạc nhiên ngơ ngác chưa biết chuyện gì. Như hiểu ra, Vinh nói:

    - Ðêm qua, cũng là lần đầu tiên trong đời, không làm sao giữ nổi, tôi... đã ngủ với một cô gái trong làng. Anh em không biết, trên không biết, cấp trên không biết, nhưng tôi biết. Tôi phải chịu kỷ luật trước anh em. Tất cả có thế. Anh em xử đi!...

    Cả trung đội im phăng phắc, không biết xử lý ra sao. Anh em ngạc nhiên và bàng hoàng nhiều hơn vì cái tính cách "thẳng thừng" đến độc đáo chưa từng thấy ở người chỉ huy của họ. Cuối cùng, các tiểu đội xin phép được hội ý, thảo luận, rồi cuối cùng thống nhất uỷ quyền Chi và Tối truyền đạt ý kiến anh em tới Vinh. Ðại ý là: "Ðể bảo đảm hành quân chiến đấu, trung đội tiếp tục lên đường. Khuyến điểm B trưởng chưa có căn cứ và nhân chứng, chưa thể quyết định kỷ luật. Ðợi hết chiến dịch xét lục lại. Mệnh lệnh chiến đấu là trên hết, ai cũng phải chấp hành". Vừa mềm vừa rắn, lại có lý có tình, ấy thế mà cũng phải mỏi mồm mới thuyết phục nổi Vinh. Trước lúc hành quân tiếp, Vinh còn nói: "Chúng mày quá đáng lắm. Nghĩ cho kỹ mà xem. Ðừng tưởng vậy là tốt với tao. Người đời bảo: "Nhất tội nhì nợ", đáng tao chỉ mắc một, giờ lại phải đeo hai... Tội còn cho, nợ - lỡ tao chết, ai trả?..." Rồi cứ thế lùi lũi đi. Suốt đêm hành quân ấy, không thấy nó nói gì.

    ... Chiến dịch nối tiếp chiến dịch. Trung đội đã cùng C phối hợp đánh chiếm và giải phóng nhiều chốt điểm và địa danh quan trọng. Trên gọi trung đội này là "trung đội Nguyễn Quang Vinh", nên thành đơn vị điển hình với nhiều cách đánh táo bạo và dũng cảm. Các tiểu đội cũng đều đã có đứa hy sinh. Bận rộn, tất bật, chuyện của Vinh với cô gái nào đó, cũng không ai nhắc nữa.

    Cho đến một đêm, giải phóng xong thị trấn Ð., trung đội nghỉ trong một rừng cao su bên sườn đồi. Ba người lại mắc võng bên nhau, thức rất khua. Vinh hỏi: "Mai mốt toàn thắng, nếu được về, việc đầu tiên chúng mày làm là gì?". Tối nói sẽ trở lại trường đại học. Chi bảo sẽ "Cưới vợ trước đã, rồi làm gì thì làm. Nó chờ lâu quá rồi". Còn Vinh, sau khi im lặng hồi lâu nó nói:

    - Việc đầu tiên là tao sẽ đào một cái giếng, thật sâu, cho mẹ tao tắm. à, ừ, phải xây một cái nhà tắm đàng hoàng nữa. Tội nghiệp bà cụ, tao đi rồi phải gánh nước mà dùng. Chúng mày còn nhớ không, cái ngày hành quân qua đồng "Chó ngáp" ấy. Càng khát, tao càng thương mẹ ở nhà, đến rớt nước mắt. Quê mình nghèo quá, mang tiếng gần thành phố, mà đến hạt nước lã cũng chẳng mấy nhà sắm nổi làm của riêng...

    Ngừng một lúc như nuốt cơn nghẹn ngào, Vinh trầm ngâm: "Rồi cũng từ cái giếng, mới sinh ra chuyện của tao với đứa con gái làng chiến khu ấy...".

    Rồi nó kể:

    - "Tối hôm ấy, sau khi cho trung đội giải tán về ngủ lấy sức hành quân, tao cũng về võng, ở cái vườn nhà cô bé mà thằng Chi chọn ấy, đặt lưng, ngủ liền. Ðược một giấc khá dài, tự nhiên tao thức dậy. Không gian im ắng. Trời trăng suông, mà sáng lắm. Trong gian nhà vẫn thấy có ánh đèn. Tao thấy nóng nực nhớp nháp, bỗng muốn đi tắm. Mà của đáng tội, nào đã biết cái giếng ở đâu. Thế là trở dậy, đánh bạo và vô tư nữa, vào gõ cửa. Có tiếng con gái đáp ngay, chứng tỏ cô ta vẫn đang thức. Ngọn đèn khêu to, rồi cửa mở. Trời, chúng mày có biết không, khó mà tưởng tượng nổi, một cô bé trẻ, chừng hai mươi, đẹp, tóc buông sau vai trong bộ đồ ngủ, nói không quá, cứ như tiên giáng trần. Giọng nói nữa, sao mà nhẹ nhàng duyên dáng đến thế. Tao sững lại một lúc. Ðâm lúng túng, mãi mới nói nổi câu hỏi. Cô bé gọi tao là "thủ trưởng". Chứng tỏ đã theo dõi sinh hoạt của trung đội từ lúc sáng. Dẫn tao ra cái giếng sau nhà, nhìn phía sau, dưới ánh trăng thân hình cô bé cân đối, chắc lẳn, và nói thật, hấp dẫn nữa. Ra tới giếng, cô ta còn hướng dẫn "thay đồ chỗ này, để quần áo chỗ kia, múc nước ở đó...", rồi bảo: "Cứ tắm tự nhiên, qua giếng nhà em, thủ trưởng không tắm cũng uổng..." và quay vào.

    Khi múc nước tắm, tao mới hiểu ý cô bé vừa mới nói. Cái giếng tròn và to hiếm thấy, đầy ắp, múc không cần dây. Nước mát, ngọt và cảm giác trong sạch tinh khiết kỳ lạ. Ðang dội ào ào, lại thấy cô bé đi ra, tao vòng sang thành giếng bên kia, thụp thấp người xuống, quay lưng lại. Nghe tiếng cô bé: "Em mang xà bông để anh dùng. Mấy bữa nay kẹt ở khẩu, không mua được thứ tốt. Xài tạm nghen...". Tao chờ cô bé vào hẳn, mới quay ra tắm tiếp. Xong xuôi rồi, mát mẻ, thơm tho, tìm áo mặc chẳng thấy đâu nữa. Thì ra, lúc ra đưa xà phòng, cô bé đã cầm cái áo của tao vào nhà. Tình thế thật quá quắt, nhưng không biết đây là âm mưu hay vô tình, tao đang luống cuống thì có tiếng vọng ra, nhỏ nhẹ: "Tắm rồi há, áo của anh mang vô đây rồi. Vô nhà mà thay...". Chết cha đến nước này còn biết làm gì hơn. Thế là tao khép nép, khúm núm bước vào. Cánh cửa khép hờ, đèn khêu đủ sáng, tao thấy rõ cái áo của mình vắt trên sợi dây thép căng trong nhà, bên trên có tấm khăn tắm trắng tinh. Ðẩy cửa bước vào, trong nhà không có ai. à, ra thế, cô gái tế nhị nhường chỗ cho tao thay đồ. Có phần yên tâm hơn, tao máy nhỏ ngọn đèn, rồi bình tĩnh lấy khăn lau người.

    Có tiếng chốt cửa rất khẽ, tao quay ra, chúng mày có tin nổi không, trong bóng tối mờ mờ. Cô bé, và cả tao nữa, như chết lặng, đứng im mấy giây, nhìn nhau, rồi đột nhiên, cô lao vào ôm lấy tao, ghì xiết...

    Cuối cùng, trước lúc tao về võng cô bé mới bảo: "Hết chiến tranh, anh về đây nhé. Ba má em giặc bắn. Anh Hai cũng hy sinh rồi...". Tao xúc động quá, quay vào ôm chặt cô bé, nghẹn ngào: "Tan giặc, nhất định anh sẽ về. Anh sẽ lấy em!". Sực nhớ, còn giữ được tấm ảnh, tao giở túi lấy ra đưa cho cô, rồi quay về võng.

    Cũng may, chỉ lát sau có lệnh hành quân, thú thực, không thì, một là tao sẽ lại vào, hai là sẽ nằm mà khóc suốt đêm ấy mất. Tao thương cô bé vô cùng. Ðơn vị đi, tao cũng chẳng kịp nói với cô lời nào. Nhưng chúng mày tin tao không, cái câu tao nói lúc ấy là nói thật đấy. Hết chiến tranh tao sẽ lấy cô ấy, rồi đưa về Bắc với mẹ tao".

    Chi và Tối lặng đi, không ai nói thêm nữa. Câu chuyện kể như một lời tự thú, mà họ cảm thấy không gợn chút tội lỗi nào. Có tiếng pháo địch ì ầm từ xa, kéo ba dòng suy nghĩ chân thành và non trẻ trở về thực tại. "Ôi, chiến tranh, bao giờ hết chiến tranh. Bao giờ đất nước sạch bóng quân thù!".

    Và họ cùng đi vào giấc ngủ với những mộng mơ khác nhau. Nhưng thảy đều trong trẻo, hiếm hoi và thật xa lắc, mênh mang với thực tại.

    Sớm hôm sau, trước lúc lên đường, tự nhiên Tối và Chi nắm chặt tay Vinh. Mà sao lại bắt tay? Cùng trong hàng quân cả mà. Vinh bảo: "Kỳ này ác liệt đây. Còn lâu mới gặp lại". Tối như bịn rịn: "Gì thì gì, tan trận, tìm nhau nhé". Còn Chi, mắt nó long lanh: "Còn sống, thì chúng mình trước sau cũng gặp lại. Nhưng anh Vinh anh phải về với cô ấy nhé, cô gái có giếng nước trong ấy...".

    Mệnh lệnh hành quân thần tốc. Ðơn vị được lệnh phối hợp cùng các binh chủng tiến về Sài Gòn. Trung đội phải xé lẻ ra, đi với tăng, với thiết giáp, với pháo... Bộ ba, mất liên lạc với nhau ngay từ sớm hôm ấy. Và họ không thể ngờ rằng, đêm qua, lại là đêm cuối cùng còn được mắc võng bên nhau...

    Chiến tranh qua đi. Ðã hai trục năm đất nước im tiếng súng. Với một cuộc đời, thời gian ấy cũng dài. Nhưng với những người lính của trung đội, một phần năm thế kỷ yên bình sao mà nhanh, và ngắn ngủi. Dư âm của đạn bom cùng những kỷ niệm của chiến trường, trong mỗi chiến sĩ trung đội, vẫn còn rõ nét lắm. Tất cả như vừa mới hôm qua...

    *

    Cả trung đội ngoài những người đã vĩnh viễn nằm xuống ngoài trận địa, cứ rơi rớt, thưa thớt dần mỗi năm... Tất cả chỉ còn non nửa. Non nửa, theo cách gọi của chiến trường, nghĩa là trung đội vẫn còn.

    Họ thỏa thuận với nhau một cái nếp: hàng năm, cứ đúng ngày kỷ niệm hội tòng quân, tất cả mọi người, bất kể xa gần bận rộn, họp về bên nếp nhà tranh ở gần một xã ngoại thành, nhà liệt sĩ Nguyễn Quang Vinh - gặp mặt. Họ góp nhau xây, đào cho bà cụ Vinh một cái giếng, có căn nhà tắm xinh xinh. Cứ mỗi lần về đây, họ lần lượt ra tắm. Cái giếng nước mát, trong lạ kỳ, nhìn thấu tới đáy. Một điều lạ, giữa lòng giếng, trồi lên một vật gì lấp lánh, như tỏa sáng. Những hạt bọt nước li ti cứ từ đó nổi lên liên tiếp, không ngừng.

    Lần nào cũng vậy, khi xả nước đầy mặt mũi, nước giếng mát lạnh, mà cảm giác những giọt nước ấm nóng ứa ra từ khoé mắt mỗi người còn rõ lắm. Họ vừa tắm, vừa thầm khóc thương nhớ Vinh, không sao cầm lòng nổi...

    Ðoạn kết

    Chi đã lấy vợ, vẫn cô bạn chờ đợi từ ngày đăng lính. Họ đã có hai đứa con gái. Cậu ấy tốt nghiệp bác sĩ, lại vừa đi tu nghiệp ở Pháp về. Còn Tối, được giữ lại giảng dạy ở trường đại học. Ngành văn.

    Cuối năm vừa rồi, họ quyết định rủ nhau trở lại miền Nam, thăm những vùng đất xưa họ đã đi qua một thời lửa đạn. Và đặc biệt, họ muốn tìm lại cái làng chiến khu có người con gái mà đã từ lâu, họ coi như người thân của trung đội.

    Làng xóm đã thay đổi nhiều quá, phải mất non hai ngày đường, họ mới tìm được cái làng xưa. Ðây rồi, căn nhà có giếng nước to tròn, và vườn cây ngày ấy mắc võng. Ra đón họ là một phụ nữ tóc điểm hoa râm nhưng vẫn còn đọng nhiều nét xinh đẹp thuở thiếu nữ. Giữa gian nhà xây khang trang, dáng dấp một trụ sở làm việc nhiều hơn là nhà ở, tấm ảnh Nguyễn Quang Vinh được phóng to lồng trong khung kính trân trọng, tuyệt không thấy một dải băng đen. Nghĩa là, chị ấy chưa biết Vinh không còn nữa? Hay cũng có thể, chị không muốn nghĩ rằng anh đã chết? Dẫu sao họ không thể biết, và không ai bảo ai, hai người tự thấy mình phải tôn trọng những điều mà người phụ nữ này ước muốn. Chị chỉ lên tấm ảnh Vinh, chưa kịp hỏi, thiếu phụ đã lên tiếng vô tư và vui vẻ: "Chồng tôi đấy. ảnh đi xa chưa về".

    Không biết như thế có phải là tàn nhẫn không, hai người đồng đội im lặng trong niềm xúc động trào dâng. Và họ quyết định không nói ra sự thực đau đớn về người chồng thân yêu của chị.

    Họ ở chơi tới trưa, và được biết chị là phó bí thư và kiêm chủ tịch xã. Hai người được tiếp đãi nồng hậu hơn khi chủ nhà biết rằng họ cũng là những người lính vượt Trường Sơn năm ấy.

    Cuối cùng, họ xin phép được ra giếng tắm. Cái giếng đã gắn bó một mối tình thủy chung, sắt son mà chỉ mình họ biết. Hai người lặng lẽ, trầm ngâm bên thành giếng. Và kia, lạ chưa, dưới đáy nước trong suốt, một điểm sáng lấp lánh trồi lên. Và từ đó, những hạt bọt nước li ti cứ nổi lên, liên tiếp, không ngừng.

    Nước giếng long lanh. Và trên khóe mắt hai người đồng đội, hai cựu chiến binh, cũng long lanh ướt.

    1-1995
     
  17. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Số phận

    Lê Minh Khuê

    Bây giờ người ta thấy bà rờ rẫm đi trong vườn. Vườn vắng tay người chăm sóc nên cây cối cằn cỗi. Chỉ còn mấy cây chè cổ thụ im lìm đương đầu với sương gió. Lá chè càng già càng đậm nước. Bà cụ hái chè bằng những ngón tay thoăn thoắt như thời con gái. Lá chè từng nắm được bỏ vào cái túi vải đeo bên sườn.

    Tập đứng ở hiên nhà nhìn mẹ già. Thấy mẹ hái chè, anh yên tâm. Như vậy cụ đã hoàn toàn thư thái sau ngày đưa được hài cốt anh Thắng trở về. Mắt mẹ đã lòa, vì khóc nhiều. Vì mất ngủ. Vì bồn chồn đau xót. "Mấy đứa đi cùng thằng Thắng đã về cả. Xã xây mộ rồi!".

    "Mẹ cứ để thư thư cho chúng con có thời gian!".

    "Mẹ không biết lý do gì hết. Cứ đưa được nó về cho mẹ".

    Tập phát cáu: "Mẹ cứ làm như chúng con không cố gắng".

    Bà cụ òa khóc. Khóc nhiều, thức đêm nhiều, mắt mờ dần. Ðưa lên bệnh viện thành phố, các bác sĩ mổ hai lần. Về nhà bà cụ vẫn khóc đêm đêm. Có lúc bà ra vườn đứng nói chuyện với cây chè trước kia Thắng trồng: "Bao giờ thì về, hả con?".

    Mắt cụ mổ lần thứ ba thì tìm được hài cốt Thắng. Cụ không còn nhìn rõ. Cụ ngồi xuống ôm thân thể Thắng bọc trong lá cờ, nhẹ nhàng, cụ như lay gọi: "Thắng đây hả con? Thôi được rồi. Về với mẹ!".

    Cụ rạng rỡ cười nói. Ði hái chè cho ông lão mời bạn cựu binh quanh xóm. "Thằng Thắng nó về với tôi rồi!". Cụ lần mò ra chợ mua rau mua mắm, giúp đứa con dâu vợ thằng út. Con dâu đi làm trên phố, tối về leo lên giường mẹ chồng, cho hai chân vào lòng để mẹ ủ ấm. "Con đọc Kiều cho mẹ nghe nào". Ðọc được vài câu, nó buông sách ngủ liền. Cụ vuốt tóc đứa con dâu bé bỏng, mồ côi cha mẹ, về làm dâu xem bố mẹ chồng như cha mẹ ruột. Chồng nó đi học tận Sài Gòn, tết mới về. Nhà bên kia vợ chồng thằng Tập đang quát tháo thằng con nhỏ nghịch như giặc, hôm nào cũng thượng cả bùn vào chăn. Ông lão đi đánh cờ với mấy bạn già.

    Trời mưa nhè nhẹ. Căn nhà ấm như có lò sưởi, vì giấc ngủ đứa con dâu sâu thẳm. Thằng Thắng đã về đây. Nằm ngoài nghĩa trang của xã. Cụ thở một hơi dài như trút tất cả nhọc nhằn về phía sau. Mọi chuyện thế là ổn rồi Thắng ạ!

    *

    Ông Tú vốn quê gốc ở vùng La Khê. Cụ tổ ba đời của ông có công với triều đình, là quốc sư, thầy dạy ấu chúa. Khi cụ về già, triều đình phái cụ vào vùng núi Nưa xứ Thanh khai khẩn đất đai, lập ấp gom dân. Ông Tú sinh ra ở vùng núi Nưa, ra đất Thăng Long học rồi xin về làng bốc thuốc dạy học. Một lần ra Kinh Bắc thăm thầy học cũ, là ông Nghè Me nổi tiếng hay chữ một vùng, ông Tú được thầy cho về thăm nhà. Mến đức độ của người học trò cũ, ông Nghè Me gọi con gái đến chào ông Tú. Ông Tú thấy quyến luyến ngay cái áo tứ thân của con gái ông Nghè làng Me. Biết là theo ông Tú về Thanh để làm lẽ, con gái ông Nghè làng Me cũng chẳng quản gì. Chẳng quản cả đường xa, phong thổ khác lạ. Về Thanh, bà vẫn mặc cái váy dài chấm gót của xứ Kinh Bắc, chẳng lạ lùng nhiều giữa những người đàn bà xứ Thanh nóng cũng như lạnh, váy ngắn trên đầu gối. Khi sinh cô Tuy, con gái thứ hai, bà Tú Thanh mới thầy mình hoàn toàn là người của vùng núi Nưa. Bà lo quản cả gia đình lớn để ông Tú chuyên tâm dạy học, bốc thuốc. Cô Tuy xinh đẹp như mẹ, hiền lành như cục đất, chỉ được học dăm ba chữ trong bếp. Con gái không được đi học. Nếp nhà nho ở gia đình ông Tú nặng nề hơn ở đâu hết. Thay hết răng sữa, bà Tú bắt con gái nhuộm răng. Khi cô Tuy 13 tuổi, ông Tú Thanh nhớ lời hứa với người họ xa ở La Khê cách đây 10 năm, là sẽ cho con gái về làm bạn với con trai nhà ấy, khi cô đến tuổi cập kê. Cô Tuy òa lên khóc khi nghe tin mình phải đi lấy chồng. Mười ba tuổi ăn chưa no, lo chưa đến, bà Tú đã tập cho con gái đội khăn, kéo được đuôi khăn qua vành khăn ở mang tai. Ðoàn rước dâu đi xe lửa từ Hà Nội vào Thanh. Chú rể bé tí mặc áo the, khăn xếp ngượng ngùng bước lên thềm làm lễ gia tiên.

    Dạo ấy xứ Bắc rét cắt da. Cô Tuy run rẩy đưa bàn tay bé nhỏ cho người anh ruột nắm. Cô muốn nép vào anh, muốn anh đưa về với mẹ. Ðêm đầu tiên ở nhà chồng, cô ngủ chung giường với người chị chồng, tấm tức khóc suốt đêm. Chú rể mười lăm tuổi, xanh xao, siêu thuốc sôi trên hỏa lò suốt ngày đêm. Cô Tuy rụt rè bưng thuốc đến cho chồng "Thưa anh...!". Bà Tú Thanh đã dặn cô xưng hô lễ phép với chồng... Bà mẹ chồng có nghề buôn vải ở chợ Hà Ðông, khi ở chợ về thường mua cho cô con dâu tấm mía, gói bỏng. Bà thương cả hai đứa, con trai ốm yếu quanh năm, con dâu còn bé. Dù sao thì cũng là người trong họ, không phải là con dâu thì cũng hàng cháu chắt. Bà cho cô Tuy ra chợ giúp việc. Chữ nghĩa của cô chỉ đủ ghi chép biên nhận hàng mua vào, hàng bán ra. Năm đó hàng ấn Ðộ, hàng Ba Tư được người ta ưa chuộng, lãi hơn hàng nội. Bà sắm cho con dâu cái vòng cổ, đôi khuyên. Ðã quen với nếp nhà, cô Tuy bắt đầu phổng phao. Hai má đỏ hồng và cánh tay trắng trẻo ưa nhìn. Cô lớn lên bao nhiêu, chú bé chồng cô càng ốm yếu. Chú có bệnh lao phổi, lấy vợ, không được ngủ chung giường. Bà mẹ chồng giữ lời hứa với bà thông gia, đợi cô Tuy đến mười bảy tuổi mới cho động phòng. Bà cũng giữ cả cho đứa con trai bệnh tật của mình. Năm 16 tuổi, bà cho cô Tuy gánh hàng riêng để gây vốn, và để quen dần việc kinh doanh độc lập. Cô Tuy thật thà, bán hàng có duyên, lại xinh xắn ưa nhìn, gánh hàng của cô lãi mẹ đẻ lãi con. Cứ đà này chẳng mấy chốc cô sẽ có cửa hiệu. Nhưng cuối năm ấy, người chồng của cô trở bệnh. Bao nhiêu thuốc thang vào người như đổ xuống đất. Cậu ho ra máu, vật vã nhìn người con gái là vợ mình bấy lâu mà chưa một lần cầm tay. "Thôi, tôi xin mình tha tội. Tôi làm khổ mình! Số tôi không bền". Cô Tuy đau thắt tim khi nhìn hình hài người con trai đang teo tóp lại. Cô giàn dụa nước mắt "Thưa anh...".

    Chồng chết, cô Tuy tròn mười sáu tuổi, mặc áo xô nằm lăn lóc trước quan tài, theo phong tục thời ấy. Cô nằm lăn từng vòng, sợ hãi khi thấy bóng đen chiếc quan tài đè nặng lên mình... ít lâu sau bà mẹ chồng bảo: "Thôi, chợ búa thì phải đi, con!". Người ta thấy cô cặm cụi buôn bán. Cửa hàng cô tấp nập khách trên Hà Nội vào mua hàng. Chiến tranh làm mọi người thấp thỏm. Hai mẹ con cô Tuy dồn tiền mua vàng để dành.

    Ðầu năm ất Dậu, bà Tú Thanh ra Hà Ðông gặp bà thông gia: "Ông bà cho phép cháu về bên nhà ít lâu...". Cô Tuy đã đoạn tang chồng, đang ở tuổi rực rỡ thanh xuân, cô xinh đẹp như bông hoa mới nở. Bà mẹ chồng nhìn cô mà xót xa cho đứa con trai xấu số. Là con dâu nhưng cũng là cháu họ xa, cô Tuy được bà thương như con đẻ. Bà đồng ý cho cô về Thanh phụng dưỡng cha mẹ, lâu lâu lại ra, lâu lâu lại về. Thế cũng tiện. Như được sổ lồng, cô Tuy mặc áo tứ thân, thon thả và óng ả đi bên mẹ ra ga. Những bước chân cô líu ríu khi trông xa xa thấy vườn chè bát ngát của nhà cha mẹ. Hoa chè thơm kín đáo như níu lấy cô. Ông Tú Thanh ngồi trong nhà làm thuốc, trông thấy đứa con gái mà thương cho nó vất vả bấy lâu. Nhưng tính ông nghiêm. Ông không cho con gái đi học trường, không cho để răng trắng và ông cũng như là không xót thương khi bắt con đi làm dâu lúc mười ba tuổi. Vậy nên ngay ngày hôm sau ông đã bắt con lo chuyện làm ăn.

    Nhà có dăm mẫu ruộng phát canh, có nghề chăn tằm dệt cửi, đã có người làm. Cô Tuy thích chạy chợ. Cô gánh hàng lên chợ bán vải. Chợ họp sáng. Buổi chiều cô cùng người em hái chè để có lái từ tỉnh lên đưa chè xuống tỉnh. Hai chị em cùng những người thợ hái chè thì thầm nói chuyện, tiếng ngắt lá chè cùng tiếng trò chuyện rúc rích của họ tạo thành âm thanh dễ chịu khi chiều về. Cách mạng, rồi kháng chiến nổ ra, vườn chè của họ vẫn như là êm đềm. Nhưng người ta bắt đầu đào hào, đào hầm trú ẩn trong vườn. Chợ huyện họp đêm. Ban ngày cô Tuy mải miết giúp mẹ quản lý thợ cấy, thợ gặt, quản lý mấy khung cửi dệt vải dưới nhà ngang, và hái chè.

    Ðầu năm 1947, một đoàn các cháu, các dì, các cô từ Hà Nội tản cư về xứ Thanh, vùng tự do. Bà Giáo, người con gái em vợ trước của ông Tú Thanh, chị em cùng cha khác mẹ với cô Tuy, dắt một đàn con nhỏ bảy đứa, cùng ba người ăn ở trong nhà về nương nhờ ông bà Tú Thanh. Nhà của bà Giáo ở thị xã đã bị phá đi, hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến. Dãy nhà ngang rộng bát ngát vẫn dùng để khung dệt vải và chăn tằm, phải dẹp hết để biến thành khu vực cho người ở. Bà Giáo và đàn con của bà ở hết dãy nhà này. Còn đám trẻ con từ Hà Nội gửi vào phải ở nhà trên. Cô Tuy phút chốc phải làm quản gia cho cả đại gia đình. Kháng chiến dài lâu. Người tản cư chắc còn lâu mới về chốn cũ nên mọi chuyện phải sắp xếp đâu vào đấy. Một năm đầu, đám trẻ con tản cư ở Hà Nội vào lần lượt được đón đi. Bảy đứa con của bà Giáo được cô Tuy sắp xếp cho đi học trường của kháng chiến. Bà Giáo lo phần săn sóc bầy con nhưng một đồng cũng không có. Ông Giáo đã đi tham gia kháng chiến, lương lậu thời ấy đâu có gì, nên trăm sự phải nhờ. Và cô Tuy, với đức hy sinh tự nhiên, như trời sinh cô ra để sống cho người khác, xắn tay áo lên để lo cho cha mẹ, cho em gái, cho bà Giáo và mười miệng ăn của nhà bà. Gần mười năm trời, hơn một trăm lạng vàng cô dành dụm được khi buôn bán ở Hà Ðông, đã phải đổi ra vải, ra gạo, ra thịt cá mắm muối... cho một đại gia đình lúc nào cũng gần hai mươi người ăn. Nhà bà Giáo chiếm nửa số nhân khẩu ấy, một mình tay cô Tuy lo buôn bán, lo bù trì để những cậu ấm cô chiêu của nhà bà Giáo lúc nào cũng phải có cá có thịt. Cô lo cho từ cái bút chì, từ cục tẩy, từng viên thuốc ho thuốc sốt cho đám trẻ con bà Giáo.

    Nhưng những năm đó lại rộn rã vui tươi. Vùng tự do, ngoài những trận đánh phá của máy bay Pháp ra, thì chiến sự ở xa lắm. Không như những vùng tề, ở đây trẻ con sinh ra được làm giấy khai sinh có dấu ủy ban kháng chiến. Ðêm đêm các nông hội đoàn thể họp. Tiếng trống ếch rầm rĩ, đuốc cháy như đình liệu. Ông bà Tú Thanh hiến hết vàng bạc cho kháng chiến, lại mở rộng cửa đón người kháng chiến. Nhà rộng, lại cao ráo sáng sủa, đoàn văn hóa khu Bốn tập kết số đông ở nhà ông Tú. Những anh lính tú tài mặc trấn thủ, gảy đàn măng-đô-lin hát "Suối mơ" rồi "Ðây gió đây trong rừng...". Họ vui tính, lễ phép. Họ gọi cô Tuy là chị, là cô. Hai má cô hồng rực lên, hàm răng đen như hạt na đều tăm tắp. Cô chạy chợ, hái chè và bắt đầu đi làm đồng... để có tiền lo cho đám cháu đông đúc con người chị cùng cha khác mẹ. Những thành viên ở đoàn văn hóa khu Bốn, sau này có người lên Ðiện Biên, có người vào thành rồi di cư vào Nam, có người ở lại tỉnh. Những người lên Việt Bắc sau này trở lại Hà Nội... Tất cả họ đều là những người có tiếng tăm, có tài năng. Cô Tuy biết hết và nhớ tính nết từng người. Họ hát những bài ẩm ướt nhưng mắt họ sáng rực, miệng họ tươi cười hạnh phúc. Khi những người lính văn nghệ tản đi các nơi, một đoàn cán bộ cấp tiểu đoàn, bị thương nên được chuyển sang dân chính, nhìn cô Tuy nói giọng Quảng Trị: "Tóc cô dài, đẹp chi lạ!". Cuối năm, ông bà Tú Thanh đánh tiếng ra La Khê, xin phép cho con gái tái giá. Nhà ở La Khê bây giờ là vùng tề, đi lại khó khăn nhưng mẹ chồng cũ của cô Tuy cũng đánh tiếng vào Thanh, cho phép con dâu tái giá. Ðám cưới của cô là đám cưới kháng chiến - Anh Thạch, anh cán bộ người Quảng Trị ấy, làm rể ông bà Tú Thanh như được trở về nhà. Quê anh lúc này khói lửa tràn lan, cha mẹ không biết còn hay mất.

    Anh người cao ráo, có dáng nam nhi được ông bà Tú chấm là người trung hậu. Ðám cưới kháng chiến chỉ có nước chè xanh, khoai lang luộc từng rổ, thuốc lá... và hò hát. Cô Tuy mặc chiếc áo dài từ thời buôn bán ở Hà Ðông, đứng bên anh cán bộ mặc binh phục. Hạnh phúc mở ra cho cuộc đời cô những hứa hẹn. Cưới xong ít lâu, anh Thạch theo đoàn cán bộ đi công tác. Cô Tuy sinh đứa con trai đầu tiên đặt tên là Tập và vẫn lần hồi buôn bán làm lụng nuôi cả bầy con của người chị gái, nuôi con nhỏ, nuôi cha mẹ già.

    Kháng chiến thành công. Bà Giáo đưa lũ con về thị xã. Cô Tuy giờ đây đã trắng tay nhưng xúc động nhận lời cảm ơn của người chị: "Chị đừng phân vân gì. Em lo cho các cháu cũng như người khác phải lo những việc lớn hơn. Kháng chiến thành công là mừng rồi!"... Cô Tuy không đón chờ những biến động lớn sau đó. Nhưng nó vẫn đến như nó phải đến. Ông bà Tú Thanh đều qua đời sau đó mấy năm, do không chịu được những cú xốc lớn. Ruộng vườn sung công và chia cho tá điền. Anh Thạch về đón vợ con đúng những năm sôi động đó. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Buôn bán tư nhân triệt tiêu. Anh Thạch xin cho vợ vào làm nhân viên của một cơ quan gần nơi anh làm việc. Anh Thạch đi công tác liên miên. Cô Tuy một mình nuôi hai đứa con nhỏ với 36 đồng lương. Cô nấu cơm, quét dọn, thường trực cho một cơ quan nhỏ, công việc như con mọn. Ðêm về, mấy mẹ con quây lấy nhau trong căn phòng cơ quan chia cho, lợp tranh, tường đất, nóng thì như nung, mong mưa nhưng mưa lại hứng dột, chiếu chăn ướt sũng. Anh Thạch công tác biệt phái ở khu Bốn hai năm. Hai năm ấy anh chỉ đáo qua nhà được một cái tết, mang cho mấy đứa con hũ mắm tôm, ít cân lạc... rồi đi. Cô Tuy nuôi lợn, nuôi gà, tăng gia thêm rau quả. Chắt bóp được ít tiền, xin cơ quan được miếng đất, cô dựng cho con được cái chỗ chui ra chui vào, hai gian, ngay bên bờ con kênh dẫn nước. ở bên con kênh này, mấy mẹ con còn đặt lờ, đặt vó nhặt con tôm, con tép. Bàn tay đảm đang của cô đã gây dựng được đời sống yên ấm cho mấy mẹ con. Khi anh Thạch trở về, anh ngạc nhiên hết ra sân lại vào nhà: "Mẹ nó khéo tay quá!".

    Những tưởng như vậy là yên ấm, có chồng, có con, đồng lương ít nhưng chịu khó tăng gia, cải thiện, cũng chả đến nỗi nào. Có lúc cô đã được thảnh thơi, đi xem chiếu bóng ở bãi với con, đi thăm chị em bạn. Một buổi chiều đi làm về, thằng Tập chạy ra đón mẹ ở bờ kênh "có khách, mẹ ơi!". Một người đàn bà còn trẻ, trông điệu bộ không được nền nếp lắm, ngồi trên bậu cửa. Bên cạnh chị là hai thằng bé, một lên ba, một lên hai. Người đàn bà nói giọng miền Trung, thản nhiên lắm, chứ chẳng e ấp gì: "Thưa chị, em đem trả anh Thạch hai cháu đây. Em còn trẻ, em xin phép anh Thạch đi lấy chồng". Lúc ấy anh Thạch ngồi như hóa gỗ, cúi gầm mặt. Hai đứa bé sợ hãi nép vào nhau. Người đàn bà trẻ đứng lên, vấn lại tóc, xách cái tay nải lên: "Thôi, các con ở lại với ba, với mẹ già... có gì anh Thạch sẽ nói rõ với chị. Em xin phép đi ngay chuyến tàu xuôi tối nay!". Hai đứa trẻ nhào ra, chạy theo mẹ. Nhưng mẹ nó đi như chạy, tay quệt mắt, tay xốc cái tay nải, không một lần ngoái lại. Ðó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cô Tuy gặp người đàn bà ấy.

    Cô Tuy đứng sững lúc lâu, chờ cho anh Thạch ôm hai đứa con trở lại. Chẳng nói gì, cô òa khóc. Cô khóc vì thương cho phận đàn bà, một chốc phải bỏ lại hai đứa con. Cô khóc vì thương cho mấy đứa trẻ con chồng, ăn mặc rách rưới, chắc từ khi sinh ra đến giờ chẳng sung sướng gì. Cô lẳng lặng đi nấu nồi cơm to, bảo thằng Tập ra gỡ lưới xem có được con tôm con tép gì không, bảo cu Dũng ra vườn nhổ mấy cây cải. Nấu nướng xong, cô dắt hai đứa trẻ ra mương. Cả hai đứa, mắt sưng to vì khóc, tức tưởi, đứng im cho một người đàn bà xa lạ lau rửa, người đàn bà có hai bàn tay phồng rộp vì làm lụng nhưng mọi nét ở bà đều khiến lũ trẻ an lòng, bà hiền hậu như mặt đất, như những cây cỏ bên đường. Ðêm đó cô Tuy nằm giữa. Bên ngoài là hai thằng con cô: thằng Tập thằng Dũng. Bên trong là hai đứa con riêng của chồng: Thắng và Thế. Hai đứa trẻ tức tưởi trong giấc ngủ. Cô Tuy đưa tay vuốt tóc thằng Thắng. Mái tóc trẻ thơ mềm như nắm lông gà con làm cô thổn thức. Thực ra mình cũng chưa đến nỗi khổ. Ðứa trẻ này mới khổ... Một tình cảm tự nhiên lạ lùng xâm chiếm tâm hồn người mẹ. Từ hôm đó, cô Tuy thấy mình quyến luyến với Thắng. Ðứa trẻ ý tứ, rụt rè, hay khóc vụng một mình và hay nhìn cô Tuy bằng đôi mắt mở to, không một nét nào khác với anh Thạch.

    Anh Thạch thanh minh nhưng cô Tuy bảo: "Mình ạ, mọi sự đã thế rồi, mình an tâm đi". Con gái ông bà Tú Thanh, dù quanh năm không được một ngày an nhàn, vẫn là con người của gia phong nền nếp. Cô không bao giờ dám nói một lời không lễ độ với chồng. Anh Thạch đã giáng cho cô một vố đau. Những năm anh đi công tác biệt phái, anh đã kịp có một gia đình vụng trộm. Anh không chu cấp một đồng cho những đứa con chính của mình. Rồi bây giờ, anh mang kết quả về cho cô. Nhưng đối với cô, những đứa trẻ vô tội này có thể làm cho số phận cô bớt cay đắng. Chúng thông minh, hiếu thảo từ bé. Cả bốn đứa mau chóng kết thành anh em nhờ bàn tay chăm sóc chu đáo, tấm lòng nhân hậu vô bờ của người mẹ.

    Anh Thạch bị cơ quan kiểm điểm. Cô Tuy lên gặp thủ trưởng của anh, xin cho anh. Kỷ luật của anh nhờ thế nhẹ đi nhiều lắm.

    Những đứa trẻ dần lớn lên.

    Những năm hòa bình ngắn ngủi đi qua. Chiến tranh. Không quân Mỹ ném những loạt bom đầu tiên xuống nhà máy điện bên kia sông. Anh Thạch được gọi tái ngũ. Khi đi, lần đầu tiên trong suốt những năm chung sống bên nhau, anh nắm tay cô Tuy, nước mắt mờ mịt: "Tôi may mắn mà có mình". Cô Tuy cũng khóc: "Em ơn mình mới phải. Em lại có thêm được hai đứa con!".

    Lương cô Tuy đã tăng lên được 44 đồng, cộng thêm phụ cấp đi B của anh Thạch, mấy mẹ con bữa no bữa đói nuôi nhau. Suốt những năm chiến tranh, bom cày xới quanh nhà. Căn nhà của mấy mẹ con ở gần cầu tỉnh lộ, bị bom cháy hai lần. Hai lần, xen kẽ vào những quãng nghỉ của bom đạn, Tập và Thắng, hai đứa lớn nhất, lại giúp mẹ dựng nhà. Thắng lớn lên, trầm lặng như có nghĩ ngợi lớn lao, nhưng sức vóc dẻo dai, can đảm như đàn ông thực thụ. Cô Tuy nhặt nhạnh len vụn, đan cho một cái áo. May cho cái sơ mi vải màu cỏ úa, Thắng không dám mặc. Cái áo bằng len vụn mẹ đan trông đẹp đến nỗi mặc vào thấy tiếc. Cái áo sơ mi mẹ may tay cũng vậy, có lẽ chỉ nên mặc vào lúc hội hè... Hai cái áo cứ nằm trong chiếc rương cũ, chờ đợi một ngày vui... Thường ngày, mấy đứa mặc những thứ vá víu. Quần áo anh Thạch để lại, cô vá đụp cho hai đứa mặc. Mong cho có ngày chúng nó không phải mặc áo vá!

    Thắng đi học về, chăn dắt đàn vịt và nuôi hai con lợn. Nó nhặt nhạnh cái đun, vơ thức ăn cho lợn đã mệt rã người. Thời ấy, sờ đến cái gì là thiếu cái ấy. Người ta nhặt hết từ hạt thóc rơi cho đến ngọn rau dại. Cánh đồng trống không, cày cấy không nổi vì bom đạn. Thắng vẫn cặm cụi đi đến từng bờ ruộng, lúc về thế nào trong cái rổ mang bên người cũng có cua, có ốc, có những nắm rau dại.

    Tập đã vào quân đội. Thắng nghiễm nhiên trở thành người đàn ông quán xuyến mọi công việc trong nhà. Nó cứ thế, mò mẫm suốt đêm ngoài đồng. Khi về đến nhà, chỉ việc chong ngọn đèn, che kín lại ngồi trong hầm học bài. Nó học hành thông minh, mẹ không bao giờ phải nhắc. Hôm ấy, bọn Mỹ bay suốt ngày trên vùng trời gần thành phố. Một chuỗi bom ném quanh nhà. Thắng ngồi học trong lớp học sơ tán, nhìn về phía nhà thấy khói bốc lên, nó vùng chạy. Nó chạy qua cánh đồng, lao bừa qua cả khoảng ruộng có dấu bom nổ chậm công binh cắm biển nhắc. Nó vừa chạy vừa ngột thở vì lo sợ. Hai đứa em đi học rồi. Chỉ có mẹ ở nhà...

    Nó vấp ngã, không để ý gì đến xung quanh. Nó lội qua cả một chuỗi hố bom phía cổng dẫn vào nhà. Bờ con kênh bị phá. Nước đang chảy ồ ồ vào mấy hố bom mới. Hai con lợn hồng hộc trong chuồng và mái nhà nghi ngút cháy. Có lẽ nó không cháy to được vì bùn và đất đã hầu như đè sập ngôi nhà. Thắng đứng trên bờ hố bom đào giữa sân, gào to: "Mẹ ơi!". Tiếng kêu của nó chìm trong tiếng máy bay. Nó đi về phía nhà. Bàn tay nó đau nhói vì dọn dẹp các thứ trên đường đi. Nó ráng sức nhấc cái kèo nhà đã sập, lấy cái xô múc nước dội lên đám cháy. Ngọn lửa tắt. Nó chui vào trong nhà và nghe thấy tiếng rên. "Mẹ!". Nó nhào tới. Cô Tuy nằm trên bậu cửa, một cây cột đè ngang, không thể nào ra được. Thắng giúp mẹ nhấc cây cột, rồi ôm choàng lấy mẹ, nó khóc òa lên: "Mẹ ơi, mẹ của con, mẹ...".

    Cô Tuy gượng dậy. May quá, không bị thương nhưng cây cột làm cô bị đau như gẫy ở đùi. Ðến lúc này cô mới hốt hoảng: "Chân con làm sao thế?". Thắng nhìn xuống hai cẳng chân, quần rách bươm, máu ra đã dính bết những mảnh vải vào nhau. Nó đã chạy, đã lội qua gai, đã bị mảnh bom cứa vào chân tứa máu. Nhưng tai nạn qua rồi. Hai mẹ con ôm nhau, vừa cười vừa khóc.

    Sau lần dựng lại nhà đó, Thắng có giấy gọi nhập ngũ. Ðã là năm 73, chiến tranh đang đến hồi kết thúc. Hôm nó đi, cô Tuy dở cái áo len, cái áo sơ mi đưa cho nó. Nhưng Thắng bảo: "Con có quân phục rồi. Mẹ giữ cho con, khi nào về con mặc"... Cô Tuy đưa con ra chỗ tập trung quân. Thắng dúi vào mẹ cân đường mới được phát: "Mẹ mang về cho các em". Lần đó Thắng đi và không trở về nữa. Cũng không có một dòng thư. Ðiều lạ lùng nhất cô Tuy luôn không hiểu được mình, cô không lo lắng nhiều cho chồng, cho con đẻ. Tất cả đang ở chiến trường. Trong những lo lắng bồn chồn, cô hướng phần nhiều về Thắng. Cô thương Thắng chưa một lần được mặc cái áo lành lặn, chưa biết miếng cơm no. Tính nó hay nhường nhịn. Nó cũng sống để hy sinh, để dành miếng ngon cho người khác. Nó giống cô.

    *

    Chiến tranh kết thúc. Ông Thạch về trước. Ông bàn với vợ đưa cả gia đình về quê nội. Chiều chồng, bà Tuy bán nhà, bán vườn cây ăn trái mà trước khi đi bộ đội, Thắng đã rào dậu, đem phù sa về tôn vườn, mua cây giống về trồng. Cây sắp có trái thì phải trao cho người khác. Cả nhà dắt díu nhau, đồ đạc đóng vào thùng, vào hộp cho lên xe khách. Chiến tranh mới kết thúc, chặng đường có mấy trăm cây số phải đi hàng tuần. Bà Tuy lại đau xót thấy một lần nữa, mình phải di chuyển, phải bán rẻ những gì hai bàn tay mình làm ra, để đến một vùng đất xa lạ.

    Người anh ruột của ông Thạch ở thành phố, có bốn cửa hàng bán dụng cụ xe máy. Cách mạng về, ông sợ nhiều nhà bị tịch thu nên hứa hẹn với ông Thạch, một ông em cách mạng trăm phần trăm: "Chú đưa thím với các cháu vô. Tui cho hẳn cái chỗ ni mà làm ăn!".

    Bà Tuy lại xắn tay áo lên, quét dọn, sửa sang cơ sở vốn là chỗ sửa xe cộ, máy móc, thành chỗ ở. Ba năm sau, Tập trở về giúp mẹ. Nhà cửa vừa đi vào nếp thì ông anh ông Thạch trở mặt: "Tui cho cô chú mượn, có cho hẳn mô... Tôi đền cho cô chú ít tiền, tìm chỗ khác".

    Ông em cách mạng bị lợi dụng đã xong. Người anh trai đã nhẫn tâm quay lưng lại trước cảnh sống của người em, sau khi nhờ công sức của em để hợp lý hóa tài sản. Ông Thạch tức giận, tính đi kiện. Nhưng bà Tuy cản chồng: "Mình ạ, thôi. Tôi tính nên quay về miền Bắc. Ðó mới là nơi hợp với mình. Tôi cũng muốn về để chờ thằng Thắng!".

    Thời gian sau chiến tranh, đám con cái của bà Giáo, người chị cùng cha khác mẹ với bà, những người mà sau cách mạng, bà đã bán đi cả trăm cây vàng để chu cấp... giờ đây là những người giàu có không thể tả. Họ được học hành đến nơi đến chốn, tất cả đều trốn quân đội vì nhiều lý do, giờ đây họ đã vào tiếp quản các chân quản lý khoa học ở các thành phố lớn. Mỗi người năm, ba biệt thự. Vàng hàng két. Họ biết bà Tuy đang gặp khó khăn: bà phải đưa các con trở lại Bắc. Tiền không có - họ kháo nhau như vậy - nhưng một lời thăm hỏi của họ cũng không hề đến tai bà Tuy. Bà Giáo là người duy nhất quan tâm đến người em đã cưu mang gia đình mình. Nhưng tiền bạc là của các con bà. Bản thân bà cũng phải làm quả bóng, ở nhà thằng này một tháng, rồi cuối tháng phải đến nhà kia. Bà không thể làm gì được.

    Sau cùng, cơ quan cũ của bà Tuy, bạn bè chiến đấu của ông Thạch, của Tập đã xúm vào giúp đỡ. Bà Tuy mua lại được căn nhà và mảnh vườn cũ. Trở về nơi có những kỷ niệm về Thắng, bà Tuy mới thấy yên lòng.

    Một lần, cô Quý con gái thứ ba của bà Giáo dẫn mấy đứa con thơm tho đi du lịch qua nhà bà Tuy. Cô Quý là người con duy nhất của bà Giáo ở lại Hà Nội, vì chồng cô là cán bộ cao cấp, cô không chuyển vào Sài Gòn được. Bà Tuy kiếm cua về rang muối đãi mẹ con cô cháu. Cô Quý ra vườn, vào sân khen nhà đẹp, hứa rằng năm nào cô cũng cho các cháu đến thăm dì. Thằng con cô Quý kêu: "Cua bò lổm ngổm trong bụng con rồi đây này. Lần sau con không thích ăn cua!". Dạo ấy còn là thời tem phiếu. Buổi chiều, bà Tuy dành nửa tháng lương của ông Thạch để mua gà, mua giò. Những đứa trẻ con cô Quý sáng mắt lên: Thịt gà ở đây ngon lắm.

    Cô Quý quay về Hà Nội và không một lần quay lại nữa. Cả khi bà Tuy đau ốm, cả khi những đứa trẻ con của bà phải đi học xa, cũng không một ai trong đám con bà Giáo ngó ngàng đến người có thời đã tiêu tốn cả trăm cây vàng cưu mang mình...

    Mắt bà không còn nhìn rõ. Nhưng đêm nay bà thấy lòng mình nhàn hạ: Thắng đã được đưa về nằm trong nghĩa trang của xã.

    Ðứa con dâu, vợ thằng Thế cựa mình, ôm lấy mẹ.

    12-1996
     
  18. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Tập làm người

    Dương Thanh Tùng

    Tôi, kẻ luôn hoài niệm ưu tư về quá khứ, luyến tiếc tất cả những gì đã một thời tồn tại, đã mất đi. Nỗi quay quắt tâm tưởng vô hình biến tôi thành gã cô đơn- cô đơn trong lòng đồng loại, với những người sống và trở thành bạn của những người chết ở thế giới bên kia... dưới ba thước đất.

    Như gã hành khất trên sân ga chìa tay xin mấy cuộc chia ly, tôi có mặt ở nghĩa trang này từ lúc nó chỉ lèo tèo vài ngôi mộ cho đến khi trở thành rừng mộ bạt ngàn. Và, lúc ấy những người sống phải chạy chọt trước cả tuần, cả tháng để mong có được mấy thước đất vừa ý cho người quá cố yên nghỉ. Trong vô số những cuộc chia ly ấy, tôi đã trở thành bạn tri ân của bạn - gã đào huyệt. Nói một cách ví von bóng bẩy thì gã là người bẻ ghi mở lối cho con tàu đưa người ra vào cõi vĩnh hằng.

    Hắn từ đâu đến, không ai biết, vì có ai hỏi han hắn bao giờ. Ngay cả cái tên của hắn cũng chẳng ai hay. Dẫu tôi đã trở thành bạn bè tri ân cũng không biết gọi hắn là gì. Nhậu với nhau vài lần trên cái mả xây tôi tự đặt cho hắn cái tên - thằng Ðịa, vì dù sao hắn cũng là kẻ sống nhờ đất, đào đất mà sống. Cả cái giang sơn nghĩa địa này là của thằng Ðịa, một mình hắn cai quản, không kẻ đào đất nào dám cạnh tranh với hắn. Một ngày hắn đào có tới vài chục cái lỗ huyệt. Ai trả công nhiều ít bao nhiêu hắn cũng lấy, chẳng kêu ca phàn nàn, chẳng cò kè thêm bớt nhưng lấy rồi hắn cất đi đâu chỉ có hắn biết, trời biết. Thằng Ðịa có bộ mặt nhăn nhúm. Trong một lần chếnh choáng, hắn có nhắc đến cái tai nạn nào đó, hình như là cháy nhà. Khi ấy, thằng Ðịa mới chập chững biết đi, không hiểu sao hắn bò ra được từ cái đám cháy rừng rực, vục mặt xuống một vũng bùn cho đến khi người ta tìm đến lôi hắn dậy. Tôi đã cố gắng chắp vá, suy diễn mãi để cuối cùng có thể hiểu được na ná cái tiểu sử của thằng Ðịa là như vậy... Và cũng chỉ có vậy, nó đơn giản như cái thân hình cao nghêu nghêu với đôi tay chân dài quá khổ lêu đêu, những ngón tay to bè cứng như cái móc sắt của hắn. Mới đầu thằng Ðịa đến đây để ăn vét những nải chuối, cái bánh, xôi quả hương hoa của người chết. Rồi người ta thuê hắn đào huyệt, hắn đào thật nhanh vì con người hắn sinh ra để làm mỗi công việc này. Và cũng từ đó, thằng Ðịa chọn hẳn nơi này làm chỗ trú thân. Túp lều của hắn chỉ có mái mà không có phên che - bốn mùa nắng mưa thông thốc, nền lều là một ngôi mả xây lâu ngày được tấm thân trần trụi của hắn chà cho bóng láng. Quanh năm suốt tháng chỉ thấy hắn ở trần: xuống chợ mua rượu hắn ở trần, đứng trước ngôi mộ vừa lấp đất hương khói nghi ngút cũng ở trần - chẳng có thứ quần áo nào thích hợp với hắn bằng cái quần lửng đến đầu gối mà phía trên cạp được ở đâu đó thôi. Thằng Ðịa chẳng bao giờ tắm, ngứa thì chà chà vào thành mả xây, không đào huyệt nữa thì uống rượu, uống xong rồi thì lăn kềnh ra làm một giấc cho đến khi người lay dậy. Rất ít khi thằng Ðịa nấu nướng, trong túp lều của hắn lúc nào cũng đầy rẫy xôi quả, đôi khi còn có hẳn con gà luộc hoặc một cái đầu heo còn nguyên vẹn, tất cả là của người sống cúng cho người chết, mà người chết không ăn thì hắn ăn, thậm chí ăn không hết hắn còn phải đem cho, cho ai thì tôi chịu. Sau này, tôi mới biết rằng thằng Ðịa không cô đơn. Có một người đàn bà thường lui tới ngôi mả xây với hắn, trời đất công bằng đưa thị tới làm bạn tình với hắn, cho hắn được nếm mùi đàn bà. Nhà thị ở cánh đồng dưới kia. Thị cũng ở một mình, để giữ vịt cho cả làng. Và, cả cái làng nổi lềnh bềnh giữa vũng nước trũng quanh năm ấy cũng chẳng ai dám đến gần thị. Thị biết điều đó. Thị không oán trời, trách đất. Nhưng, còn cái chất đàn bà ngày đêm giẫy giụa trong con người thị, tự thị, thị không sao kìm giữ nổi. Ðã bao lần thằng Ðịa lếu đếu xách chai đi mua rượu ngang qua cái chòi vịt của thị. Thị thèm, thèm lắm. Ðể rồi, đến một hôm, lúc trời chạng vạng đỏ ối trên nghĩa địa mênh mông, thị lần mò tìm lên ngôi mả xây... Mới đầu thằng Ðịa còn ngơ ngác nhưng rồi thì hắn hiểu, hiểu tất cả. Hắn ghì lấy thị, đè ngược xuống nền mả xây... Ðêm mênh mang, nghĩa địa cũng mênh mang nhấp nhô như ảo ảnh. Hắn - thằng Ðịa và người đàn bà chăn vịt quấn chặt lấy nhau, quằn quại. Cái miệng toàn răng lởm chởm của hắn cạp lấy cạp để, ngấu nghiến trên thân thể tanh nồng và đang hừng hực lửa tình của người đàn bà chăn vịt... sau cùng, hắn làm thị vừa lòng bằng cách của hắn, như lúc hắn hùng hục đào đất. Thị rên rỉ còn hắn thì sung sướng vô ngần. Hắn và thị, hai con người, hai sinh vật bị chối bỏ gắn vào nhau, hòa quyện với nhau như thể tạo hóa sinh ra là để như thế rồi. Cuộc tình của thằng Ðịa và người đàn bà ấy được cả đất trời, cả vô số những vì sao đêm và hàng vạn ngôi mộ im lìm chứng giám, chẳng cần đến nghi lễ rườm rà. Hắn là của thị và thị là của hắn. Cứ vài ba bữa, người đàn bà lại lên với thằng Ðịa một lần, khi thì xách theo chai rượu, khi thì vài chục trứng vịt luộc sẵn. Thằng Ðịa ăn không hết thì dồn vào góc mả xây để đến ngày hôm sau. Bao giờ cũng vậy, sau một lần tình tự, thằng Ðịa ngồi tu rượu và ngắm nhìn người đàn bà, hắn thấy đời thật sung sướng. Ðời này mấy ai được bằng hắn. Có một lần, người đàn bà bảo hắn thôi đừng đào đất nữa, xuống dưới kia ở hẳn với thị, chăn vịt đủ sống thừa thãi thì hắn lắc đầu quầy quậy, hắn trỏ tay đuổi về lập tức. Giang sơn của hắn là ở đây, những người chết không xua đuổi hắn. Người sống, từ đứa con nít lên đây cũng không dám nói một lời làm hắn giận. ở đây hắn được là người xuống dưới kia hắn không còn là người nữa vì chẳng ai chấp nhận cho hắn làm người. Hắn biết vậy, nghĩ vậy nên rất tức tối khi nghe người đàn bà kia nói ra cái điều mà hắn không bao giờ muốn.

    Bên cạnh túp lều của thằng Ðịa có một ngôi mộ lúp xúp không xây. Trên ấy có một cụm hồng lúc nào cũng mơn mởn vài búp hoa đỏ thắm, cũng lạ, đất sỏi đá đến cỏ tranh còn mọc không nổi thế mà hoa hồng lại mọc được. Mỗi ngày, sau khi xong công việc, thằng Ðịa lại đem xẻng ra vun đất xung quanh ngôi mộ, hắn làm nhẹ nhàng như sợ người nằm dưới đất giật mình. Và, chiều nào cũng thế, thằng Ðịa xách chai vào tận trong núi hứng lấy từng giọt nước trời về tưới cho khóm hoa trên mộ. Nhiều lúc gió hanh quất ràn rạt, cả vùng đất khô cằn đến người dưới đất còn khát cháy nhưng cụm hồng của thằng Ðịa lúc nào cũng đẫm nước. Bàn tay to bè đen đúa của hắn nâng niu từng nhánh hồng cứ run lên lập cập - hắn sợ gãy. Tôi hỏi thì hắn kể rằng đây là nấm mộ của một người con gái. Cái đám tang ấy rất buồn, chẳng có ai khóc, lấp đất xong người ta vứt lại mấy bông hồng, thoạt đầu thằng Ðịa không để ý, đến hai ngày mà không khô quắt lại. Cho đến một hôm, khi đào đất về, hắn thấy trên mộ vẫn còn một cái cuống hồng tươi xanh. Cuống hồng đã bén rễ vào đất và từ đó nhú lên một cái mầm. Thằng Ðịa rùng mình, hắn nghĩ đến người con gái nằm dưới kia... và cũng từ đó hắn tự đặt ra công việc chăm chút cho cây hồng, cho ngôi mộ. Ngày nào cũng thế, hắn thấy người nhẹ nhàng lắm, sau khi làm xong việc ấy...

    Tôi có việc phải đi xa, cuộc đi xa chưa hẹn trước ngày trở lại. Một buổi khi chiều sắp tàn, tôi lên để giã từ thằng Ðịa. Ðêm ấy, tôi và hắn uống nhiều lắm, rượu cứ vơi đầy. Hắn nói gì, tôi không thể nào nhớ hết. Chỉ biết rằng khi tôi chìa tay chào hắn để ra về thì hắn bảo:

    - Chờ một chút!

    Cái bóng lêu đêu của thằng Ðịa đổ dài dưới trăng hạ huyền, nhấp nhô, nhấp nhô trên từng dãy bia mộ đen kịt cho đến khi mất hút. Thật lâu sau đó thằng Ðịa trở lại, dúi vào tay tôi một cục tiền giấy nhơm nhớp đất. Hắn khóc, khóc thành tiếng, vừa khóc hắn vừa nói:

    - Cầm lấy, cầm đi, đừng trả lại. Khi nào không còn việc đào đất nữa tôi sẽ tìm anh nhưng biết tìm ở đâu.

    - Không sao đâu anh Ðịa - tôi cố ghìm những giọt nước mắt cứ chực trào ra - đến một nơi nào đó tôi sẽ viết thư về... Nói đến đó thì tôi òa khóc thực sự, tôi biết mình lỡ lời. Thằng Ðịa không biết chữ đã đành rồi, nhưng ai công nhận sự tồn tại của hắn ở nghĩa trang này với tư cách một con người... Thằng Ðịa không cha, không mẹ, không một dòng địa chỉ cư trú. Chẳng có thứ giấy tờ nào của nhà chức trách ghi là: có hắn, trừ khi hắn làm chuyện bậy bạ. Mà, cái thằng người đi đến đâu cũng bị xua đuổi như hắn thì có thể làm được gì bậy bạ ngoài chuyện đào đất?! Chắc chắn sẽ chẳng có ai chuyển thư tôi đến cho hắn được. Tôi quay người lao thật nhanh xuống đường để lại sau lưng tiếng khóc tồ tồ của thằng Ðịa giữa chập chùng hoang mộ.

    Thời gian rồi cũng qua đi. Khoảng khắc từ lúc tôi chia tay với thằng Ðịa hôm ấy cho đến ngày trở lại vừa đủ cho một đứa trẻ kịp sinh ra, lớn lên và biết cắp sách đến trường. Cảnh cũ thay đổi nhiều. Trước nghĩa trang, nhà cửa mọc lên san sát, hàng quán buôn bán sầm uất. Nghe nói sắp tới người ta sẽ dời cả nghĩa trang này đi để xây dựng khu chế xuất hay siêu thị gì đó. Tìm mãi mới thấy lối vào nghĩa trang, lối đi nhỏ hẹp chỉ còn vừa đủ cho chiếc xe tang. Ngay ngã ba, một ngôi nhà hai tầng lầu có vẻ như mới vừa được xây dựng cách đây chưa lâu. Trước cổng ngôi nhà treo tấm biển xanh đỏ lòe loẹt.

    "Công ty Dịch vụ mai táng Gò Cát.

    Tên giao dịch: Matagoca.

    Nơi đáng tin cậy của quý khách.

    Rất hân hạnh được đón tiếp

    Tel...Telex...Fax..."

    Trong sân, người ra vào tấp nập. Mấy chiếc xe tang loại vừa, cũ mèm đang sửa máy, phun khói mù mịt. Trước cửa ra vào, dưới mấy bậc tam cấp, một chiếc xe bốn chỗ, đời mới, choáng lộn đậu nghênh ngang, xoay mũi ra cổng sẵn sàng lao đi bất cứ lúc nào chứng tỏ chủ nhân của nó là người rất đỗi sang trọng và hay phải đi công án. Tôi quyết định: chưa vội lên nghĩa trang thăm thằng Ðịa.

    Người bảo vệ già sau khi xem xét kỹ giấy tờ của tôi, ngẩng lên nói một hơi:

    - Quý anh nhà báo, anh liên hệ xin đất, mướn xe hay có việc chi?

    - Tôi muốn gặp giám đốc công ty.

    - Dạ, anh chờ cho một chút. Dạ, giám đốc đang bận. Dạ khách khứa của ổng nhiều lắm.

    - Nhờ chú nhắn giùm, tôi xin gặp ổng sau mười lăm phút nữa. Nếu không được thì tôi sẽ hẹn ông khi khác vậy.

    Sau cú điện thoại của người bảo vệ già, tôi được hướng dẫn vào phòng đợi... Máy lạnh chạy ro ro, ghế xô-pha mềm lún. Một cô gái từ phòng trong đi ra, tay ôm chồng giấy tờ dày cộm. Cô gái nhẹ nhàng bảo tôi chờ, giám đốc Trương Thiên sẽ tiếp ngay bây giờ. Phải công nhận, cô gái có cặp đùi thon thả và dáng đi uyển chuyển đầy hấp dẫn. Tự nhiên tôi nảy ra cái ước mơ hão huyền: Giá như mình được làm giám đốc, chỉ một ngày thôi...

    Cánh cửa lại khẽ mở ra. Mùi nước hoa thoang thoảng. Một cô gái khác nhẹ nhàng trong tà áo dài xanh dịu bảo tôi:

    - Mời ông vào, giám đốc Trương Thiên đang đợi.

    Ôi trời ơi! Tý nữa thì tôi té ngửa. Thằng Ðịa. Ðúng nó rồi!

    - Ðịa, phải anh đấy không Ðịa?!

    Hắn nhe răng - phải, vì miệng của hắn chỉ toàn có răng, hềnh hệch cười. Càng cười mặt hắn càng dúm dó lại, quái đản.

    - Anh, anh về từ bao giờ? Chà lâu quá - Vừa nói hắn vừa đường bệ đứng dậy đưa cái tay dài ngoằng níu tôi ngồi xuống ghế.

    Lại một cô gái nữa xuất hiện, tay bưng cái khay đựng mấy lon bia, ba ly đá lạnh. Ðặt nhẹ cái khay xuống bàn, cô gái gật đầu chào tôi rồi quay sang nhoẻn miệng cười tình với Ðịa. Rót đầy bia vào ly xong, cô ta vén gấu váy, ngồi xuống, nép vào lòng hắn. Thằng Ðịa nhìn tôi, cười, lại cười. Hắn bảo:

    - Hôm nay anh ở lại đây với tôi. Ngày hôm nay tôi nghỉ làm việc. Ai chết mặc kệ. Tôi với anh uống một trận rồi anh muốn gì, tôi, Trương Thiên này sẵn sàng chiều hết.

    Chuông điện thoại leng reng. Cô gái nhoài người, với tay cầm ống nghe:

    - Alô, ai đấy? Dạ Hải Yến thư ký giám đốc Công ty MATAGOCA đây, ông cần gì ạ? Dạ, giám đốc, ông Trương Thiên...- Cô gái bịt tay vào ống nghe, đưa mắt liếc nhìn thằng Ðịa - hắn xua tay.

    - Dạ, ông Trương Thiên đi vắng, ông cần đất ạ, giá cả sẽ thỏa thuận sau, mà có lẽ hơi cao. Ông nên đến làm việc trực tiếp với công ty chúng tôi vào sáng ngày mai để nhận phần đất như ông muốn, à, đáng lẽ định chôn vào chiều nay thì ông phải liên hệ sớm hơn chứ. Ông, ông cũng là giám đốc, giám đốc công ty hữu hạn? Dạ, dạ được, dạ ông có quen giám đốc Trương Thiên...

    - Ai đấy? - Thằng Ðịa hỏi.

    - Thằng cha xưng là giám đốc cái công ty hữu hạn gì đó. Chả nói có quen biết anh.

    - Xin đất chôn người hay đất cho chả làm nhà.

    - Ðất chôn.

    Thằng Ðịa sầm mặt xuống, không nói năng gì. Mấy ngón tay dài ngoẵng, to bè của hắn quặp cứng vào nhau. Thật lâu, sau khi ngửa cổ nốc cạn ly bia, thằng Ðịa quay sang tôi:

    - Anh, anh có muốn một miếng đất làm nhà không?

    - Ðất làm nhà ở đâu?

    - Kia, ngoài kia, nếu anh muốn, tôi sẽ bảo chúng nó cắt cho anh vài trăm thước - hắn nói và chỉ tay ra nghĩa trang trập trùng, mênh mông. Tôi rùng mình, một cảm giác lành lạnh chạy dọc sống lưng.

    Thằng Ðịa tiếp tục:

    - Một trăm thước đất ở nghĩa trang này bữa nay giá cả chục cây vàng rồi đấy. Dân thành phố đổ xô lên đây, giành giật, căng thép gai, cắm cọc gần hết rồi. Tôi vẫn giành lại được ít đất tốt cho người quen...

    - Nhưng, mồ mả người ta còn đầy ra đấy - Tôi bảo hắn.

    - Còn, không những còn mà mỗi ngày có thêm hàng trăm cái mả mới. Nhưng, có luật pháp nào ngăn cản cấm đoán người sống tranh giành đất của người chết đâu?

    Tôi bàng hoàng thật sự khi nghe Ðịa nói ra điều ấy. Hắn, cái thằng vốn không tên tuổi, chẳng biết gì hơn ngoài việc hùng hục đào đất giờ đây đã thực sự là chủ nhân ông của cả một vùng nghĩa địa mênh mênh béo bở mà hàng trăm ngàn con người sống ở dưới thành phố đông đúc đến nghẹt thở kia đang thèm khát. Hắn, bây giờ nghiễm nhiên thành kẻ ban phát, gia ân, gia ân cho cả người sống, lẫn người chết. Tên của hắn - giám đốc Trương Thiên được nhắc đến thường xuyên trong các cuộc họp của Hội đồng tỉnh lỵ.

    Người nghèo nhìn hắn như ông thánh, kẻ giàu sang chờ chực đưa rước. Và, không biết từ bao giờ, để củng cố cho cái quyền lực đất đai, thằng Ðịa đã kịp trang bị cho mình cái lý lẽ đầy ấn tượng nhưng cũng đầy thuyết phục. Phải, luật pháp có đủ cả mọi điều nhưng còn điều duy nhất là "cấm người sống và người chết không được tranh giành đất của nhau" thì luật pháp lại vô tình bỏ quên. Và cũng như một thiên mệnh, chính cái điều ấy nghiễm nhiên củng cố thêm sự vững chắc của thằng Ðịa ở vùng mồ mả mênh mông này. Nghĩ cũng buồn cười, tôi gọi hắn là Ðịa thì hắn lại là Thiên, lại còn thêm cái họ Trương nữa - tự hắn nghĩ ra hay không biết ai đặt cho hắn? Cái tên Thiên có vẻ thích hợp lắm với cương vị của Ðịa bây giờ. Qua khung cửa sổ gắn kính màu, tôi lặng yên, đăm đăm nhìn vào khoảng mông lung chập chờn bia mộ, lỗ chỗ cọc ngắn, cọc dài của người sống cắm xuống giữ đất. Xa tít trên kia là nơi có túp lều liêu xiêu ngày nào của thằng Ðịa. Nhưng biết có còn không? Cả người đàn bà đen đúa bẩn thỉu lúc nào cũng tanh mùi vịt là bạn tình của hắn. Còn gì nữa nhỉ... ừ, phải rồi! Tôi quay vào hỏi hắn:

    - Cái cụm hồng dạo nọ trên ngôi mả không xây có còn không anh Ðịa.

    - Chết rồi! Tôi cho người bưng về đây trồng nhưng sống không nổi. Ðất này mà trồng gì được.

    - Còn người đàn bà?

    - Vẫn ở dưới đó, chăn vịt nhưng tôi không gặp nữa. Mà thôi anh đừng hỏi nhiều. Uống đi cứ tiếp tục uống đi. - Hắn nói và ngửa cổ dốc trọn vào miệng ly bia đầy ự.

    Tôi và hắn không gặp nhau nữa, từ hôm đó. Mãi cho đến một lần, khi cụ thân sinh của một người bạn làm cùng cơ quan qua đời. Không nỡ từ chối sự nhờ vả của anh, tôi tìm đến thằng Ðịa. Vẫn là ngôi nhà cũ, vẫn tấm biển to tướng treo trước cổng...

    Tôi hỏi thăm một người vừa trong đó bước ra:

    - Giám đốc Trương Thiên có nhà không anh?

    - Hả? Anh hỏi ai? Giám đốc nào, Thiên nào?

    - Thiên, Trương Thiên.

    - á, à, à, cái thằng đào đất đó hả, lên trên đó mà tìm, nhà hắn ở trên đó - Người ấy chỉ tay bâng quơ vào một góc nghĩa trang xa vời.

    Người bảo vệ già nhận ra tôi. Ông kể lại rằng cái cơ ngơi này là do một mình thằng Ðịa bỏ vốn ra gây dựng nên. Nghe nói có một ông lớn nào đó cảm kích trước việc thằng Ðịa chăm sóc chu đáo ngôi mộ của con gái ông khi ông đi xa nên đã lo toan giúp đỡ các khoản giấy tờ cần thiết để hình thành công ty mai táng. Sau mấy năm làm giám đốc, với cách toan tính của một thằng người chỉ biết đào đất, một nửa cái chữ bẻ đôi cũng không biết, thằng Ðịa không những trắng tay mà còn thêm nợ nần chồng chất. Ðám con gái đông đúc bu quanh hắn thi nhau vét sạch những đồng tiền bán đất cuối cùng còn sót lại rồi lặng lẽ chia tay mỗi người một ngả. Bao nhiêu chủ nợ ngao ngán nhìn thằng Ðịa lững thững rời bỏ cái cơ ngơi đồ sộ để trở lại với túp lều xưa, trên nghĩa địa. Kiện hắn ư? Thân xác hắn đấy. Ðòi nợ ư? Mênh mông đấy, mà đất đai của nhà nước còn mồ mả là của thiên hạ, ai muốn đòi chia thì cứ đem cọc lên đấy mà cắm. Còn hắn, không làm giám đốc nữa thì lại về đào đất. Dư luận ồn ào xôn xao, nhiều vị chức sắc đau đầu vì hắn một thời gian rồi rốt cuộc đâu lại vào đó. Công ty Matagoca do hắn lập giờ đây đã có người khác đảm đương. Nói tóm lại, người ta lại bắt đầu coi như không có hắn trên cõi đời này như từ bao lâu nay vẫn thế.

    Tôi thẫn thờ theo lối mòn xưa dẫn lên túp lều của thằng Ðịa, lòng không khỏi chạnh buồn. Thế là hắn, thằng Ðịa, bạn tôi đã lại về với cái công việc xưa cũ, biết người ta có còn thuê hắn như xưa nữa không!? Nhưng đống tiền mà hắn chắt chiu chôn giấu sau bao nhiêu năm trời đào đất đã tan theo giấc mộng bọt bèo. Ðịa ơi! Tôi hiểu cái gì đã thôi thúc anh. Bao nhiêu năm hùng hục đào đất, chôn giấu nâng niu từng đồng tiền còm cõi để mong có ngày đổi đời, được ngửa mặt, được làm người - thì đấy, anh đã có tất cả, đã mua được tước vị làm người!! Dẫu chỉ là trò phù du nhưng cũng đáng để cho anh mở mặt suốt mấy năm trời...

    Túp lều xiêu vẹo trống không. Gió trái mùa đang ra sức giật nốt mấy miếng tôn mục nát còn sót lại. Thằng Ðịa nằm đấy thẳng thớm với chiếc quần lửng cột dây dừa. Vị linh mục già khẽ cúi xuống nới đầu sợi dây thòng lọng quấn quanh cổ hắn. Sợi dây đã được tháo hẳn ra để lại trên cổ thằng Ðịa một vòng tròn sâu hoắm. Sau khi vị linh mục già đọc bài kinh dài rửa tội cho hắn, cầu mong cho hắn được nương náu dưới cánh tay che chở của Chúa trời, một tăng ni của nhà Phật bao lần lui tới tiễn đưa người chết ở nghĩa trang này cũng không ngần ngại ban cho thằng Ðịa những dòng kinh siêu thoát lê thê, bàn tay lần tràng hạt mơ hồ những mong linh hồn hắn thanh thản mà lên cõi niết bàn với Ðức Phật. Nghi lễ của loài người tiễn đưa thằng Ðịa về cõi vĩnh hằng xem ra trọn vẹn vô cùng. Hắn kẻ duy nhất trên thế gian ra đi đã cùng một lúc đón nhận hai đặc ân của Chúa Trời và của nhà Phật. Nếu như ở nghĩa trang này hôm ấy có sự hiện diện của thánh A-la nữa thì chắc ngài cũng không ngần ngại giang tay ra đón hắn. Tôi đăm đắm nhìn xuống vết tròn sâu trên cổ thằng Ðịa, lòng mênh mang buồn, buồn vô tận. Phần hồn thằng Ðịa có lẽ đã được tắm gội sạch sẽ nhưng còn cái vết hằn sâu trên cổ là dấu ấn trên thân xác của kiếp người đa mang thì thằng Ðịa vĩnh viễn phải đem theo vì không ai xóa nổi.

    Người đàn bà chăn vịt, hôm ấy, không có mặt để khóc chia tay thằng Ðịa. Nhưng, thật lâu, lâu lắm, khi tôi trở lại, có người kể với tôi rằng trong một đêm mưa, nước từ nghĩa trang tràn xuống đen kịp cả cánh đồng, dân làng nghe trong gió tiếng hú gào thảm thiết của người đàn bà vốn là bạn tình chung thủy của hắn. Sáng ra cả cánh đồng ngập trắng xác vịt. Tự tay người đàn bà ấy đã bóp chết tất cả rồi bỏ đi. Thị đi đâu thì không ai rõ.

    Khi ở nghĩa trang ấy đã thấp thoáng bóng dáng của những tòa cao ốc lộng lẫy, một rừng mộ bạt ngàn chỉ còn lại vài ngôi lèo tèo vắng chủ. Với số tiền ít ỏi trong tay, tôi mong tìm thấy mộ thằng Ðịa để cùng người ta đưa hắn đi nơi khác yên nghỉ, chừa đất cho thiên hạ làm nhà. Nhưng, có còn gì nữa đâu mà tìm. Dưới bóng hoàng hôn sậm đỏ, tôi lại nhìn thấy người đàn bà chăn vịt. Thị đứng như trời trồng giữa vùng đất phẳng lỳ gào lên từng chuỗi, từng chuỗi âm thanh ai oán, não nề. Tiếng gào mơn man chập chờn thổn thức quắt quay của thị đến với hắn - thằng Ðịa. Mấy đứa trẻ chăn trâu bảo với tôi rằng chiều nào cũng thấy người đàn bà ấy đứng đấy, gào lên thê thảm cho đến khi đêm xuống...

    Ðịa ơi! Tôi thắp ba nén nhang lạy anh để viết lại chuyện này. Dưới suối vàng kia mong anh hãy ngậm cười vì trên cõi đời này còn có người đàn bà điên cuồng gào gọi tên anh trong mỗi buổi chiều tà.

    Người ta bảo rằng trước khi chết, suốt mấy ngày trời anh ngồi bó gối trên cái mả xây, thẫn thờ nhìn xuống tòa nhà lộng lẫy khang trang được tạo dựng lên từ sau chuỗi ngày lê thê hùng hục đào đất, chắt chiu chôn giấu từng đồng tiền còm cõi... Anh đã bỏ tiền ra mua được kiếp người ba năm trời trong cái tòa nhà ấy. Nhưng anh có biết đâu rằng suốt ba năm đằng đẵng anh mới chỉ đang là kẻ tập làm người giữa một bầy người hoàn hảo - ấy là tôi nói về những đứa con gái xúm xít quanh anh hàng ngày, những bạn hàng, khách hàng của anh, cả người sống lẫn người chết. Thôi thế cũng đành anh Ðịa nhỉ! Làm người không được thì làm cái thây ma. Mà cái thây ma của anh đã được người ta gột rửa sạch sẽ mọi tội lỗi trần gian thì còn gì nữa đâu mà tiếc nuối. Tiếc làm gì phải không anh Ðịa. Sau này, khi cả nghĩa địa mênh mông biến thành phố phường sầm uất, nhiều người, lúc rảnh rỗi lục tìm trong ký ức và nhắc đến anh như một món nợ khó đòi. Có thể anh còn nợ người ta. Nhưng, đòi từ lúc anh còn sống trên cõi đời đã khó, huống gì...

    Trước cửa mỗi ngôi nhà khang trang của khu phố mới ấy thường có cái khóm thờ nhỏ nghi ngút khói hương, đầy rẫy xôi quả vào ngày rằm, mồng một. ở đâu đó trong cõi hư vô, anh có linh thiêng xin hiện về chứng giám lòng thành của con người mà phù hộ cho họ làm ăn phát đạt.
     
  19. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Thu Lý

    Hoàng Ngọc Hà

    Ðã mấy chục năm rồi hai anh em tôi mới gặp lại nhau. Sau những cuộc chiến tranh đằng đẵng mấy chục năm trời, rồi lại đến lo công chuyện làm ăn, mỗi người mỗi cảnh chẳng có lúc nào mà nghĩ đến chuyện thăm viếng họ hàng.

    Thế mà hôm nay anh ấy lừng lững xuất hiện mà lại đóng complê ca vát, rõ đúng là nhân vật thời đại đất nước đổi mới. Tôi ngỡ ngàng nhìn người đàn ông tóc bàng bạc mầu sương, đôi mắt hum húp mệt mỏi, chỉ đến khi anh nhoẻn miệng cười, trời, anh Hân! Vẫn cái cười hóm hỉnh, có duyên đã xua tan hết lớp thời gian phủ mờ trên khuôn mặt ngoại lục tuần.

    Sau phút ôm chầm lấy nhau, lau mắt nhoèn ướt xúc động, hai anh em tĩnh tâm ngồi xuống sa lông nhấp chén trà sen, anh ngắm tôi lâu hồi lâu rồi thốt lên:

    - Ôi bé Ngọc! Thế mà đã mấy chục mùa lá vàng rơi rồi!

    Bao nhiêu hồi ức tuổi thơ tràn về, bé Ngọc hồi đó lên tám bây giờ sắp lên lão.

    - Thời ấy ở Huế, em nhớ anh mê chị Thu Lý...

    Anh ngả mình trên ghế, rút hộp thuốc bằng bạc chạm nổi, vẫn là cái hộp hình chim phượng xòa cánh. Ngày xưa tôi đã trầm trồ thán phục khi thấy anh Hân bật nắp hộp với dáng điệu thành thạo hào hoa, rút điếu thuốc châm lửa hút, nhưng vừa mới hít khói thì ho sặc sụa. Năm đó anh mười tám tuổi. Anh cần sắm cái hộp đó để chứng tỏ phong cách nam nhi.

    Bây giờ anh lại bật nắp, nắp hộp không còn tự bật mạnh như trước, anh phải gỡ nắp ra, rồi rút một điếu từ tốn đưa lên môi bật lửa châm thuốc nhưng không hút mà lại đặt xuống cái gạt tàn. Im lặng, có lẽ những người thân gặp nhau chỉ nhìn nhau im lặng, là đã nói với nhau nhiều rồi, là làm sống dậy mọi hồi ức thơ ấu.

    - Anh đã gặp lại Thu Lý hai lần... - Anh nhặt điếu thuốc đưa lên môi rít đỏ rực, rồi từ từ nhả khói, mắt mơ màng anh nói như người trong giấc mơ - Cô ấy vẫn như xưa, hoàn toàn không thay đổi...

    Tôi ngỡ mình nghe nhầm:

    - Anh nói sao, năm mươi năm rồi mà không thay đổi?

    Anh thở dài, thốt lên cay đắng:

    - ừ, vẫn đẹp hồn nhiên tuổi mười sáu.

    - Chẳng lẽ thẩm mỹ viện của Pháp lại tài tình đến vậy?

    - Không, đó là tạo hóa thật khôn lường.

    Tôi chẳng hiểu gì, còn anh thì im lặng. Hồi lâu sau anh bắt đầu kể với tôi câu chuyện sau đây, mà có lẽ không phải kể với tôi, mà là suy ngẫm được thốt thành lời.

    ... Ngày đó tôi mê đắm nàng, nhưng nàng như ngôi sao xanh biếc trong đêm thẳm, tôi chỉ có thể ngước nhìn và ao ước. Một thằng học sinh trường litxê (học sinh bậc tú tài) đi trọ học trong một căn gác nghèo, tiền cơm tháng do bố mẹ ở quê gửi lên. Một thanh niên quê mùa và nghèo hèn. Còn nàng ở trong tòa biệt thự kiểu Pháp, có vườn bao quanh, kẻ hầu người hạ ăn mặc còn sang hơn đám học sinh như tôi.

    Hàng ngày tôi đứng bên gác xép nhà bà chủ trọ, ngóng sang đợi chờ phút thiêng liêng của mỗi ngày, giờ nàng đi học về, bước từ xe tay xuống và thướt tha đi vào nhà. Con chó bông trắng nhảy cỡn quanh nàng, nàng ngồi xuống vuốt ve nó, có lúc nàng còn ôm đầu nó, ghé má ấp vào cái mũi đen ướt của nó. Ôi ước gì tôi được hóa thành con chó nhỏ ấy! Chỉ cần được nhìn ngắm nàng như thế là đủ cho một đêm vui sướng lâng lâng với những giấc mộng vàng.

    Nếu hàng ngày con chiên ngoan đạo cần ngắm nguyện trước Ðức Mẹ Maria để lòng được thanh thản, thì Ðức Mẹ Maria của lòng tôi chính là Nàng.

    Thế rồi một buổi chiều, tôi nhìn thấy bên tòa biệt thự ấy, không phải là chiếc xe tay kéo, mà là một chiếc ô-tô sang trọng, đen bóng, và từ đó bước ra một chàng trí thức (tôi đoán thế vì thấy anh ta mang kính trắng). Tay ôm một bó hoa hồng, anh ta bước đi mới chững chạc đàng hoàng làm sao, thật là một đấng hào hoa phong nhã. Anh ta vào nhà rất lâu, tôi đứng bên cửa sổ đã chồn chân, mới thấy anh ta được nàng tiễn ra cổng. Họ dừng lại nói chuyện hồi lâu bên cạnh xe, lúc đó anh ta rút trong túi ra hộp thuốc bằng bạc, bật nắp rút thuốc và khoan thai bật diêm châm lửa hút. Trời, phong thái mới thật là cao sang!

    Từ hôm đó tôi quyết tâm phải mua bằng được một cái hộp bạc như thế, và bắt đầu tập hút thuốc. Chính lần ấy tôi đã đến nhà chú thím để khoe với cô cái hộp đẹp ấy, và bây giờ tôi vẫn giữ đây này, cũ rồi nhưng tôi không thể nào thay cái hộp khác được. Các con tôi cứ chế giễu tôi, nhà ngoại giao mà dùng thứ đó mất cả tư thế. Tôi bào chữa: đồ cổ mới quý! Chúng nó thì hiểu sao được kỷ niệm quý giá thế nào.

    Khi đỗ tú tài phần thứ nhất, cha mẹ tôi mừng lắm, để khuyến khích tôi học hành, các cụ gửi thêm tiền hàng tháng để tôi may mặc bằng người. Tôi đã sắm đủ bộ cánh như những học sinh thành thị, tuy nhiên vẫn phải đi bộ đến trường, sắm được xe đạp thời ấy phải là con nhà giàu mới mua nổi.

    Mỗi lần đi qua ngôi biệt thự ấy, tôi thường căn đúng giờ, lúc nàng bước lên xe để đến trường. Tôi gắng bước đi thật chững chạc, có lúc cũng dừng lại bật nắp hộp lấy thuốc để hút, dáng vẻ trầm ngâm suy tư, cố giữ thẳng đầu để không ngước nhìn hút theo chiếc xe kéo bon bon chạy.

    Tình yêu mơ mộng ấy bỗng vỡ tan như bong bóng xà phòng khi Cách mạng Tháng Tám bừng lên một thời đại mới. Tôi gia nhập Vệ quốc đoàn "Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu..." và quyết "Một ra đi là không trở về...". Nàng không còn ngự trị trong tâm hồn tôi nữa, mà lúc này tôi sống giữa đồng đội "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường"...

    Những lời ca hào hùng ấy là những rung động của trái tim tôi thời kỳ đó. Gia đình, trường học, tình yêu đều trở thành vô cùng nhỏ bé, thậm chí có lúc tôi đã tự giễu mình về cái sự lãng mạn vô duyên ấy. Thế mà thỉnh thoảng trong giấc ngủ nơi chiến trận, hình ảnh khuê các của nàng lại hiện về trong giấc mơ, khi giật mình tỉnh dậy lại buồn cười nghĩ: chẳng hiểu cái cô tiểu thư ấy lúc chạy giặc tản cư thì có phải đi xe kéo không nhỉ?

    Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp trôi qua như một dòng thác lũ, cuốn trôi phăng cả chế độ thực dân, và cuốn mất tăm cả nề nếp gia phong nho giáo, cùng với những kỷ niệm xưa.

    Tôi đã quên hẳn nàng và đã yêu nhiều lần. Tôi yêu một cô y tá ở trường Lục quân, sau đó lại yêu một cô dân công trong chiến dịch Ðiện Biên, rồi suýt nữa lấy một cô bần nông trong cải cách ruộng đất. May nhờ cái tính vốn mơ mộng đa cảm, nhưng lại rụt rè trong hành động, cho nên những cô ấy cũng chỉ là những hình ảnh xáo trộn tâm trạng nhất thời mà thôi. Ðến khi hòa bình lập lại tôi lấy vợ, một nữ công nhân nhà máy dệt, một người đàn bà khỏe mạnh, hiền hậu và đảm đang.

    Tôi tự hào về cách chọn lựa của mình, vừa đúng lập trường lại vừa yên ổn gia đình. Ðó là hậu phương vững chắc của người lính. Tôi đi vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với tâm trạng bình thản, tự tin của người từng trải chiến trận.

    Nhưng, những ngày kháng chiến này sao mà dài thế! Một ngày đêm chỉ hai mươi bốn tiếng mà dường như không chịu trôi đi cho: đêm đêm hành quân dọc Trường Sơn, lê chân nặng nhọc chỉ mong chóng sáng để được nghỉ ngơi. Ngày ngày nằm ẩn dưới hầm hào, rung chuyển váng óc vì bom rải thảm, lại mong chóng tối để tìm chút tĩnh lặng. Ngày này qua ngày khác, chai sạn đi trong gian khổ, đầu óc chỉ có mỗi mục tiêu: đi và đánh.

    Vậy mà ngoảnh lại, hai mươi năm chiến tranh đã vụt qua như một ánh chớp. Chiến thắng lừng lẫy giải phóng miền nam.

    Thế mà vừa hòa bình thống nhất, bước chân vào Sài Gòn hoa lệ, thì ý nghĩ đầu tiên là tìm gặp Nàng, làm như cuộc đi bộ suốt ba mươi năm ấy chỉ một mục đích là đi tìm nàng.

    Thì ra những tình yêu đầu đời có sức bền dai dẳng ngoài ý thức mình. Tình yêu ấy đã chìm lắng trong tiềm thức.

    Ngày đó tôi là một đại tá, một sĩ quan cao cấp của đội quân chiến thắng. Hào quang anh hùng của dân tộc tỏa sáng, khiến tôi lúc ấy cũng tự thấy mình oai phong lẫm liệt.

    Tôi đã tìm ra địa chỉ nhà nàng. Ngôi biệt thự sang trọng hiện đại, lớn gấp mấy lần cái biệt thự ở xứ Huế trước kia. Tôi run run đưa tay lên bấm chuông, cảm giác hãi sợ hồi hộp y như lúc trước đứng chờ đợi nàng lên xe tay để đến trường mỗi buổi sáng.

    Một anh người nhà ra mở cổng, anh ta cung kính cúi đầu thưa:

    - Dạ thưa ngài, ngài cần gì ạ?

    - Tôi muốn gặp bà Thu Lý.

    Loáng qua mắt anh ta một ánh hãi hùng, anh ta lập cập thưa:

    - Xin mời quý ngài vào.

    Tôi dướn thẳng lưng, bước đĩnh đạc, cố giữ vẻ điềm tĩnh. Vào đến phòng khách, tôi choáng mắt trước căn phòng mênh mông kỳ ảo. Ðịnh thần lại tôi mới nhận ra bốn bề đều lắp gương phản chiếu, nên đồ đạc hiện đại như được nhân lên nhiều lần.

    Cửa phía sau hé mở, một bà to béo, lộng lẫy phấn son, tóc uốn cao đen nhánh mầu tim tím, màu thuốc nhuộm. Bà ta đi ra nhẹ nhàng với nụ cười trên môi, nhưng giọng nói run run không giấu được nỗi lo sợ.

    - Kính thưa ngài, ngài cần gặp tôi ạ?

    Nàng đấy sao? Người đẹp trong mộng của tôi? Tim tôi hụt hẫng, lòng trở nên nguội lạnh, tôi chẳng còn là tôi nữa, nói gì với người đàn bà xa lạ này nhỉ?

    Tôi đành gượng gạo nói:

    - Tôi là Hân, khi xưa ở Huế cạnh nhà chị, không hiểu chị còn nhớ không?

    - Ôi trời, thật mừng quá sức. Không ngờ những người cộng sản như anh mà cũng tình cảm như thế.

    Chả lẽ lúc này lại phải giải thích dài dòng về tâm hồn cộng sản, tôi bèn lấy hộp thuốc ra bật nắp rút một điếu, định dùng thuốc che giấu sự lúng túng. Bỗng bà ấy cười vui vẻ:

    - Tôi còn nhớ hồi đó anh mới tập hút, cứ ho sặc sụa hoài.

    - A! Thế ra chị cũng biết chuyện ấy sao?

    - Thì hàng ngày tôi vẫn dõi nhìn theo anh mà!

    Niềm vui sướng muộn màng ấy làm tôi sững sờ, tim như ngừng đập. Nàng cũng chú ý đến tôi sao? Hình như mắt tôi hoa, Thu Lý vừa hiện ra ở cửa, nàng cao mảnh mai, mái tóc thề xõa ngang vai, áo dài trắng, tay xách cặp, nàng vẫn chỉ mười sáu tuổi. Tim tôi đập dội lên như thuở mười tám.

    - Con chào má.

    Bà ấy vui vẻ bảo con:

    - Con chào bác Hân đi. - Quay sang tôi bà giới thiệu - Ðây là Thu Lý, con gái út của tôi đó!

    Ðúng là Thu Lý rồi. Chợt lúc đó tôi nhìn thấy một ông khách, mặt béo phì phị, da xám xỉn, mặt đầy vết nhăn, tôi nghĩ lão già nào ấy nhỉ, sao lại nhìn mình chằm chặp thế kia.

    - Con chào bác. Con xin phép vô nhà.

    Giọng Nam bộ dịu dàng, nàng không nói tiếng Huế nữa sao? Tôi nhìn theo ngơ ngẩn, vẫn dáng điệu uyển chuyển duyên dáng ấy, nàng khuất sau cánh cửa. Tôi quay lại với bà chủ, và lúc này tôi chợt nhận ra lão già trước mặt chính là mình trong gương. Một câu hỏi nhói buốt tim, có lẽ nàng cũng thất vọng như mình, chàng thư sinh xưa đâu còn nữa.

    Tôi vội cáo từ ra về, mặc cho bà ấy nài nỉ mời ở lại dùng bữa với gia đình...

    ***

    - Ðấy là lần thứ nhất, thế còn lần thứ hai vào lúc nào? - Tôi háo hức hỏi, còn anh trầm ngâm im lặng, lát sau mới chậm rãi nói.

    - Vừa gặp lại hôm kia, ở Paris.

    Tôi nhổm dậy bồn chồn, thế là anh vừa ở Pháp về đã đến đây ngay. Chắc là có chuyện gì nên anh mới tìm người thân để dốc bầu tâm sự. Tôi lẩm nhẩm:

    - Tức là tiếp sau hai mươi năm nữa mới gặp?

    Anh tiếp tục kể.

    ***

    ... Sau đó tôi nghe tin nàng cùng gia đình sang Pháp định cư. Cũng phải thôi, cuộc sống cần lao của chúng mình đâu phải là môi trường mà nàng có thể sống được. Thú thật tôi chẳng mấy quan tâm đến bà chủ to béo giàu sang nọ đi đâu, ở đâu? Nhưng mà nàng Thu Lý mười sáu tuổi ấy đã hiện ra như một ảo ảnh, và nàng vẫn ám ảnh dai dẳng trong tâm trí tôi. Cô có hiểu không, lúc nào tôi cũng muốn tìm lại nàng, cũng may gia đình họ đã đi xa nên dần dần tôi cũng chẳng vương vấn gì nữa.

    Cuộc sống mới đổi thay từng ngày, tôi đã chuyển sang công tác đối ngoại. Từ căn hộ ở khu chung cư, tôi đã chuyển sang ngôi biệt thự mới xây, cũng có khu vườn nhỏ bao quanh. Vợ tôi đã về hưu, người đàn bà xốc vác từng gánh cả gia đình trên vai vượt qua cuộc kháng chiến đằng đẵng. Ðã từng là chiến sĩ thi đua, báo cáo điển hình khắp nơi. Bây giờ suốt ngày đi chùa, tìm niềm thư thái trong chốn Phật thiền.

    Còn tôi không còn quân phục sĩ quan, mà đã quen với lễ phục ngoại giao, lên xuống ô-tô đen bóng bước đi thật đàng hoàng, chững chạc giống như chàng trí thức đeo kính dạo nọ đã đến nhà nàng. Sự đổi đời quá chậm nên duyên phận không thành!

    Lần vừa rồi có dịp sang Pháp làm việc, ý nghĩ đầu tiên là nhất định phải tìm gặp nàng. Tôi biết gặp cũng chẳng để làm gì, nhưng mà tôi chỉ muốn được nhìn thấy lại nàng, cần lắm lắm. Thật điên rồ, nhưng da diết mong đợi, hồi hộp run rẩy như những buổi sáng thuở xưa đón đợi nàng trước cổng để nhìn nàng lên xe đi học.

    Nhà nàng bây giờ ở một căn hộ trên tầng năm, trong một tòa nhà lớn hiện đại. Bước từ thang máy ra, tôi bấm chuông ở cánh cửa có gắn biển đồng đề tên nàng. Cửa tự động mở, một bà già tóc bạc phơ, bước đi chập chững, đôi chân yếu ớt phải đỡ một tấm thân phồn thực mỡ màng, khuôn mặt phúc hậu vẫn đẹp. Bà nhìn tôi trân trân với ánh mắt bạc mầu, rồi một giọng trầm trầm như vang lên từ đáy ngực:

    - Trời ơi! Anh Hân, anh vẫn tìm đến cố nhân sao?

    Nơi đất khách quê người, gặp người quê hương thật xúc động, nước mắt ròng ròng lan tỏa trên khuôn mặt bà già theo những nếp nhăn thời gian. Thế mà lòng một nỗi bực dọc như vừa bị ai đánh tráo dối lừa. Tôi hờ hững bắt tay bà cụ già, rồi miễn cưỡng ngồi xuống chiếc ghế xa-lông sang trọng. Bà già lập cập đến bên tủ buýp phê lấy rượu, bánh, để tiếp khách.

    Tôi lơ đãng ngắm nhìn căn phòng cực kỳ mỹ lệ và hiện đại, nhưng sao mà lạnh lẽo trống vắng quá đỗi.

    Cửa lại tự động mở (lúc này tôi mới hiểu khi bấm chuông là cửa tự động mở, nếu không bị khóa). Nàng lại hiện ra sáng ngời nơi khung cửa. Vẫn mười sáu tuổi, dong dỏng cao, tóc xõa ngang vai, áo dài trắng tay cầm mấy bông hoa.

    - Me voici, grande mère! (Cháu đây bà ơi).

    Nàng chào bà bằng giọng đặc người Paris.

    Bà Thu Lý quay ra nhìn, trông thấy nàng bà cụ reo lên:

    - Cháu đến thăm bà đấy ư?

    - Vâng, cháu vừa đi biểu diễn văn nghệ dân tộc ở hội nghị Việt kiều. Cháu hát được tặng hoa, cháu mang về tặng bà.

    Bà già quay sang tôi hãnh diện giới thiệu:

    - Ðây là cháu ngoại của tôi, cũng tên là Thu Lý.

    Bà cười phô hàm răng giả rất đẹp, bà nói tiếp:

    - Thu Lý đệ tam.

    Tim tôi lịm đi rồi lại rộn ràng đập như trống trận. Nàng vẫn như xưa, hình như có cao hơn nhưng vẫn khuôn mặt ấy, mái tóc ấy, dáng dấp ấy, và đôi mắt tuyệt vời ấy. Tình cảm xao xuyến tràn ngập của tuổi mười tám trở về, nhưng thân thể của một lão ngoại lục tuần không chịu đựng nổi xúc động mãnh liệt ấy, tay tôi run lên, mắt hoa, mặt tái nhợt. Tôi lịm đi trên ghế. Tôi mơ màng cảm thấy bàn tay dịu dàng của cô bé đỡ tôi, và một chiếc khăn mặt ấm thơm tho nhẹ nhàng lau mồ hôi trán đang vã ra đầm đìa. Nàng bỏ vào miệng tôi một viên thuốc gì đó, rồi giúp tôi uống từng ngụm một thứ nước ngọt thơm và nóng.

    Lát sau tôi tỉnh táo lại, cô bé ngồi cạnh tôi thân thiết, nói tiếng Việt bằng một giọng lơ lớ:

    - Ôi, ông làm cháu sợ quá, có lẽ ông bị bệnh tim như bà cháu.

    Tôi cười gượng gạo:

    - ờ bệnh của tuổi già ấy mà.

    - Bà cháu vẫn kể về ông cho cháu nghe đấy. Bà tả ông là một thư sinh đẹp trai và học rất giỏi.

    Tim tôi lại dội lên, vậy là thời ấy nàng biết tôi rất rõ, và dành cho tôi một tình cảm không phải là ít. Tôi vui vẻ nói:

    - Thời đó bà cháu đẹp lắm, giống hệt như cháu bây giờ.

    Cô bé cười sáng ngời:

    - Ai cũng bảo bà cháu đẹp, mẹ cháu và cháu giống nhaulại cùng đặt một tên, nhưng bà cháu là Thu Lý Phạm, mẹ cháu là Thu Lý Ðào, còn cháu là Thu Lý Hoàng. Bên này họ gọi nhau bằng họ nên cũng chả lẫn được.

    Bà cụ già nãy giờ loay hoay gì trong bếp, lúc này đi ra tay bưng một chén chè hạt sen nóng.

    - Anh ăn một chút chè sen xứ Huế mình. ở cái đất Paris náo nhiệt này dễ bị tress lắm.

    Tôi vội đỡ chén chè, mùi hương sen lan tỏa, một chút quê hương, một thoáng xa xưa tràn vào không gian, xóa nhòa khoảng cách thời gian đằng đẵng nửa thế kỷ.

    - Hôm nay, anh ở lại đây một hôm nhé. Tôi sẽ dẫn anh đi thăm thành phố hoa lệ này.

    Tôi giật mình nghe giọng nói khàn đục của bà già, giấc mơ tan biến. Tôi chợt thấy bàn tay nõn nà của cô bé đặt trên tay tôi, bàn tay bệch bạc lốm đốm đồi mồi. Lòng tôi như tan chảy, ảo mộng cơ chừng sẽ biến mất.

    Tôi vội vàng đứng dậy cáo từ:

    - Thật tiếc, tôi đã đến giờ hẹn làm việc với sứ quán. Xin từ biệt Thu Lý của tôi.

    Cho đến lúc này hình ảnh hai bà cháu xuống tận đường tiễn tôi vẫn lung linh trước mắt tôi, họ đứng đấy: một tàn úa, một rực rỡ. Ôi thời gian thật kinh khủng! Nhưng tạo hóa đã tái sinh, hình như thời gian chẳng hề trôi bao giờ.

    ***

    Chuyện vãn với nhau quên mất cả bóng đêm đã phủ tấm màn đen lên khu vườn. Loang loáng ngoài đường phố những vệt sáng vùn vụt phóng qua, những đôi thanh niên cưỡi xe, ôm lưng nhau cười khúc khích, họ dạo chơi buổi tối bằng xe máy.

    - Buổi tối cũng có niềm vui buổi tối phải không anh. Chúng ta vào ăn cơm đi, các cháu của anh hôm nay làm tiệc đãi anh đấy.

    - ừ, niềm vui tuổi chúng ta là được xum vầy với gia đình, được gặp lại nhau, nhớ lại thời xa xưa và tiếc...

    Anh nói vậy giọng trầm trầm nghẹn lại, tôi cướp lời:

    - Không, không nuối tiếc làm gì. Chỉ đến lúc già mới thấy hết cái đẹp của thời trẻ, mới biết quý giá nó. Vậy là ta không mất gì hết. Thời gian trôi đi, nhưng thời trẻ của chúng ta có mất bao giờ!
     
  20. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Tôi, Em Và Mưa

    Lê Nhược Mai


    Cho đến bây giờ, tôi vẫn thường đến thăm em vào mùa mưa. Người thiếu nữ năm nào đã trở thành cô giáo.
    Thường thì tôi ngồi im lìm, nhâm nhi tách trà dành cho khách, lâu lâu liếc nhìn. Em ngồi đối diện tôi qua chiếc bàn có chiều rộng quá khổ. Người thợ mộc vô danh nào đó đã cố tình tạo 1 khoảng cách giữa em và tôi trong chiều mưa này. Thấy đó mà xa xôi, nhạt nhòa như những cơn mưa của tôi thời thanh niên, như những cơn mưa của em thời thiếu nữ...
    Lại bâng khuâng nhớ câu thơ:

    "Thuở làm thơ yêu em
    Trời mưa chưa ướt áo..."


    Tôi xin cám ơn nhà thơ đã vì tôi mà viết một câu tâm đắc. Quả tình, những cơn mưa bay ngang thời 20 tuổi, chưa thể làm ướt áo, cho dù là mưa duyên mùa hạ hay mưa dầm mùa đông. Bởi lẽ, thành phố của em có quá nhiều mái hiên người! Cho nên mưa chỉ là cái cớ để 2 người giả bộ co ro đứng gần nhau. Làm sao ướt áo? Và làm sao những bài thơ viết trong đêm tàn, nghiêm vần chỉnh điệu cho được? Ôi, những bài thơ nhòe nhoẹt mưa bay, lời-ý vụng về mà tôi cố tình bỏ quên trong tập sách, năn nỉ em cho mượn, chẳng đọc bao giờ. Mượn cho có lý do đem trả.
    Và cũng từ những cơn mưa ân huệ đất trời ban phát... hình như chúng ta yêu nhau. Trong sạch như nước mưa, nồng nàn như đêm tối... Để rồi những mùa mưa phiêu bạt, hình như ta xa nhau, xa nhau cho tới khi tôi thảng thốt biết mình đã mất em vĩnh viễn.
    Em đã không đợi chờ mưa, đợi chờ tôi !?
    Cõi trần gian này có quá nhiều mái hiên trú mưa, nhưng bây giờ tôi biết tìm đâu ra mái hiên ngày trước để được gần em đôi phút. Sự đời xoay vần, những ngôi nhà đã thay ngôi đổi chủ, tôi trách gì em đã quên mái hiên xưa? Quên những cơn mưa thời trẻ tuổi ?

    *
    * *


    Chiều nay, cơn mưa đầu mùa hạ lại xui tôi đến tìm em. Nhưng chỉ để hoài niệm về 1 hình bóng cũ, tôi tự làm 1 cuộc phân ưu cho mối tình đầu của mình, có mưa làm nhân chứng, có em ngồi kia, khuôn mặt đàn bà đẹp, phảng phất 1 dung nhan quá khứ...

    *
    * *


    Tôi xin mượn những cơn mưa đã rơi trên đời tôi, trong suốt quá trình rong ruổi, làm quà tặng cho em, thay thế những bông hồng mà thủa đó tôi chưa đủ lich lãm gởi em.
    Cám ơn mưa, cám ơn em và cám ơn người làm thơ. Để khi tiễn biệt nhau về, tôi vẫn thầm đọc:

    "Thuở làm thơ yêu em
    Trời mưa chưa ướt áo..."
     
Moderators: galaxy, teacher.anh

Chia sẻ trang này