Tùy bút Vân-trai tạp-lục (雲齋雜錄)

Thảo luận trong 'Tủ sách Tuỳ Bút - Biên Khảo' bắt đầu bởi Uillean, 3/2/22.

  1. Uillean

    Uillean Banned

    Tác gia Trần Quang Đức sinh ngày 16 tháng 05 năm 1985 tại Hải Phòng.

    Nguyên danh : Trần Quang Đức (陳光德)
    Biểu tự : Nam Phong (南風), Tam Uyển (三碗), Thí Phổ (施普)
    Thất danh : Cao Trai (高齋), Vân Trai (雲齋)
    Bút hiệu : Nam Quốc Nhân (南國人), An Biên học sĩ (安邊學士)
    Pháp hiệu : An Biên cư sĩ (安邊居士)


    [​IMG]

    Ông bắt đầu gia nhập văn đàn từ năm 2010 thông qua một số thi phẩm và cổ văn khảo sự. Nhưng bây giờ cộng đồng mạng thường chỉ nhắc về ông với ấn phẩm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Vì ít nhất, thập niên 2010 cũng là giai đoạn trào lưu phục cổ đặc biệt sôi động so với các thế hệ trước.

    Dưới đây là tuyển tập những luận văn rải rác của ông cùng bằng hữu !
     
    Chỉnh sửa cuối: 5/2/22
  2. Uillean

    Uillean Banned

    TƯ-TƯỞNG ĐẾ-VƯƠNG

    Theo quy luật sáng tạo văn hóa, lại trên tinh thần tự chủ, chủ động xây dựng quốc gia theo mô hình Trung Hoa, triều đình Việt Nam trong hơn một ngàn năm phong kiến quân chủ dù nhiều lần mô phỏng chế độ áo mũ, lễ nhạc, khoa cử của các triều đại Trung Quốc, vẫn luôn tạo nên những nét biến dị độc đáo, làm tôn thêm vẻ uy nghi, sang trọng của vua quan nước Việt.

    Bắt nguồn từ ý thức tự chủ, chống chọi đến cùng trước những chính sách cai trị bạo tàn, người Việt vùng đồng bằng sông Hồng có thể coi là một trong những cộng đồng dân cư “làm loạn” nhiều nhất trong thời còn nội thuộc ách thống trị của Trung Quốc. Bất kể quan niệm của người phương Bắc cho rằng, trời chỉ có một thiên tử, thiên hạ chỉ có một hoàng đế, song không ít thủ lĩnh nước Việt mỗi khi giành được độc lập, giành quyền làm chủ cõi đất phương Nam đều xưng đế, dù khi chạm trán thiên triều vẫn nhún mình xưng là bề tôi : Lý Bí xưng đế năm 544, Mai Thúc Loan xưng đế năm 713, và năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tự xưng Đại Thắng Minh hoàng đế… Phan Huy Chú sở dĩ coi nước Việt "từ thời Đinh Lê mở nước đối chọi với Trung Hoa", bởi tính từ thời điểm này trở đi, vị thế của một đế quốc phong kiến độc lập đã được khẳng định, tư tưởng bá chủ trời Nam đã hết sức sáng rõ như chính lời chúc của Nam Việt Vương Đinh Liễn nhắn gửi trên cột kinh tràng : “Chúc Đại Thắng Minh hoàng đế mãi làm bá chủ trời Nam, giữ yên ngôi báu…”, “mãi trấn vững trời Nam, thứ là khuông phù cơ nghiệp đế vương”. Việc ấy cũng như lời nhận xét của quan Trung Quốc thời Minh là Lý Văn Phượng : “Nhật Tôn tự làm đế nước ấy… lấy quốc hiệu Đại Việt. Từ ấy về sau, con cháu họ Lý cho tới họ Trần, Lê, Mạc đều giẫm theo vết cũ, tiếm xưng đế hiệu”.

    Việc vua nước Việt xưng đế, đồng nghĩa với việc ông vua Việt được hưởng mọi đặc quyền, nghi lễ dành cho thiên tử, không kém vua Trung Hoa. Thái độ của triều đình phương Bắc đối với việc lấn vượt, “không kiêng dè” của triều đình Đại Việt là nhiều khi đành phải khuất mắt trông coi như ghi nhận của quan nhà Tống, Trịnh Tủng : “Họ Lý từ sau Công Uẩn truyền đến thời Hạo Sảm ngày nay, thảy tám đời. Tên các đời là Nhật, là Càn, là Dương, là Thiên, là Long đều có ý lấn vượt bề trên. Triều đình coi nước ấy xa nơi góc bể, không thèm lần lữa so đo”; cũng có khi lại quyết liệt với mưu đồ san bằng nước Việt, mà đỉnh điểm là cuộc xâm lược của nhà Minh trong những năm đầu thế kỷ XV. Việc “không tuân theo chính sóc của triều đình (lịch nhà Minh), tiếm vượt đổi quốc hiệu thành Đại Ngu, xưng láo tôn hiệu, đổi niên hiệu Nguyên Thánh”, một trong hai mươi tội ác nhà Minh gán cho cha con họ Hồ, trên thực tế cũng chính là quán lệ của triều đình Đại Việt. Nhưng sau bao công sức đổ vào công cuộc giáo hóa hòng răn dạy An Nam phải ngoan ngoãn nghe lời, ý đồ của nhà Minh vẫn hoàn toàn sụp đổ, bởi với chiến thắng của Lê Lợi hai mươi năm sau, “đất cát lại là đất cát An Nam, nhân dân lại là nhân dân An Nam, phong tục áo mũ lại được đúng như xưa, nền nếp mối giềng lại được sáng như cũ”, đặc biệt, theo Lý Văn Phượng, Lê Lợi đã “không nghĩ đến việc thành thật hối lỗi, bề ngoài thần phục, nhưng bên trong lại rắp tâm lấn vượt, tiếm hiệu, cải nguyên để đối chọi ngang hàng với Trung Quốc”.

    Chính vì vậy, cũng dễ hiểu khi vua chúa Việt Nam luôn muốn mình ngang hàng, thậm chí vượt trội so với các vị vua tài đức của Trung Hoa, mà không phải vua chúa của một quốc gia nào khác. Sự so sánh này khi là sự so bì về tài năng như Lý Chiêu Hoàng khen chồng, Trần Cảnh : “Văn chất đủ vẻ, thực thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thánh thần văn võ, dù Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được”, hay sử thần Vũ Quỳnh khen vua Lê Thánh Tông : “Quy mô xếp đặt, công nghiệp trung hưng, có thể sánh vai với Thiếu Khang nhà Hạ, nối gót được Tuyên Vương nhà Chu, mà khinh hẳn Quang Vũ nhà Hán, Hiến Tông nhà Đường là hạng dưới vậy” ; khi là sự so sánh về đức độ như vua Trần Dụ Tông khen vua Trần Thái Tông: “Sáng nghiệp Việt - Đường, hai Thái Tông / Kia xưng Trinh Quán, ta Nguyên Phong / Kiến Thành bị giết An Sinh sống / Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng” ; cũng có khi chỉ đơn giản là sự so sánh về dáng vẻ của đôi tai, con mắt như trường hợp Thượng thư Nguyễn Công Bật ca ngợi vua Lý Nhân Tông : “Mắt trong mà đen trắng rõ ràng, khác con mắt hai ngươi Thuấn đế ; tai đẹp mà vành tai dài rộng, chê cái tai ba lỗ Hạ vương”… Việc so bì tài năng đức độ với vua chúa Trung Hoa trên thực tế đã không còn là việc “lưu hành nội bộ” trong triều đình Đại Việt. Triều Tiên vương triều thực lục cho biết, vào ngày mồng 1 tháng 5 năm Triều Tiên Thái Tông thứ 7 (tức 1407), quan Nội sứ nhà Minh là Trịnh Thăng, hành nhân Phùng Cẩn, mang tờ chiếu bình định An Nam đến Triều Tiên. Tại cung Kyeongbok (Cảnh Phúc), sứ thần tuyên chiếu, sai Jeong Gu (Trịnh Củ) dùng tiếng địa phương, Jo Jeong (Tào Chính) dùng tiếng Hán đọc chiếu. Tờ chiếu có đoạn viết : “Tự cho là thánh triết hơn Tam hoàng, đức cao hơn Ngũ đế; coi Văn vương, Võ vương không đủ làm phép tắc, khinh Chu công, Khổng tử không đủ làm bậc thầy; hủy báng Mạnh Tử là đạo nho (nhà nho ăn trộm), Trình Chu thạo cóp nhặt. Dối thánh dối trời, không ngôi không thứ. Tiếm quốc hiệu gọi là Đại Ngu, trộm kỷ nguyên gọi là Thiệu Thánh. Xưng là Lưỡng cung hoàng đế, dám dùng nghi lễ triều đình. Chẳng phải chỉ ngang tàng ở cõi xa, mà kỳ thực muốn chống chọi ngang hàng cùng Trung Quốc”.

    Về mặt lễ nghi trang phục, bởi vậy, cũng không thể thua kém. Do có sự nhận đồng về điển chương, văn hiến của Trung Quốc, trong suốt một thời gian dài, cũng giống như Triều Tiên, triều đình phong kiến Việt Nam đã coi thể chế, văn hiến Trung Hoa là nguồn tham khảo chính thống. Chế độ trang phục cung đình Việt Nam đã mô phỏng chế độ của Trung Quốc để có được sự uy nghiêm, chuẩn mực tương tự. Tuy nhiên, theo quy luật sáng tạo văn hóa, lại trên tinh thần tự chủ, chủ động xây dựng đất nước theo mô hình Trung Hoa, triều đình Việt Nam trong hơn một ngàn năm phong kiến quân chủ dù nhiều lần mô phỏng chế độ áo mũ, lễ nhạc, khoa cử của các triều đại Trung Quốc, vẫn luôn tạo nên những nét biến dị độc đáo, làm tôn thêm vẻ uy nghi, sang trọng của vua quan nước Việt.


    [​IMG]

    HOA-DI Ý-THỨC HỆ

    Trước thế kỷ XIX, khi chưa trở thành danh từ riêng đặc chỉ một chủng tộc hay một quốc gia cụ thể, các khái niệm “Hoa”, “Hạ”, “Trung quốc”, “Trung Hạ”, “Trung Châu”... xuất hiện trong kinh điển thời Xuân Thu (770 tr.CN - 476 tr.CN) được dùng để chỉ vùng đất, cũng có khi chỉ những người văn minh ở trung tâm, có lễ giáo, khu biệt với các sắc dân Man, Di, Nhung, Địch ở bốn phía xung quanh. "Chiến Quốc sách" (戰國策) giải thích : “Trung quốc là nơi bậc trí tuệ thông minh cư trú, nơi vạn vật tài nguyên hội tụ, nơi thánh hiền triển khai giáo hóa, nơi nhân nghĩa được ban bố thi hành, nơi thi thư, lễ nhạc được sử dụng, nơi tài nghệ kỳ tuyệt được triển thi, nơi phương xa đến quan ngưỡng, nơi man di phỏng noi theo”.

    Từ quan niệm “trung tâm văn minh”, Á thánh của đạo Nho, Mạnh Tử chủ trương “dụng Hạ biến di”, đem văn minh tiên tiến của trung nguyên truyền bá ra xung quanh như công cuộc khai hóa. Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận một phần văn hóa Hán, hấp thu tư tưởng Xuân Thu, vua tôi các nước Việt, Triều, Nhật đều tự nhận mình là Trung Quốc, Trung Hạ, tức chủ thể của một nền văn minh có đầy đủ lễ giáo, văn hiến không thua kém các triều đại Hán Đường. Asami Keisai, học giả Nhật Bản thời trung đại từng bàn luận về khái niệm "Trung quốc" cho biết : “Nước tôi [Nhật Bản] biết đạo Xuân Thu thì nước tôi là chủ thể. Nếu coi nước tôi là chủ thể, thì thiên hạ đại nhất thống là đứng ở góc độ nước tôi nhìn sang các nước khác, đó cũng chính là tôn chỉ của Khổng Tử. Không nắm được điều này mà đọc sách Đường thì thành ra những kẻ sùng bái đọc sách Đường [phiếm chỉ sách vở Trung quốc], đứng từ góc độ nhà Đường trông sang để soi chiếu Nhật Bản, thì luôn xiểm nịnh nhà Đường và riêng dùng khái niệm di rợ để lý giải Nhật Bản, hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ Xuân Thu của Khổng Tử. Khổng Tử mà sinh ra ở Nhật Bản thì sẽ từ Nhật Bản lập ra tôn chỉ Xuân Thu. Hiểu như vậy mới là người giỏi học sách Xuân Thu. Nay đọc Xuân Thu mà gọi Nhật Bản là di rợ, thì không phải do sách Xuân Thu hại đến đạo Nho, mà do kẻ không giỏi đọc Xuân Thu hại sách Xuân Thu vậy”. Như vậy, Keisai quan niệm những người đã học theo kinh điển của Trung Quốc thì không thể bị coi là “man di”, và bản thân những quốc gia có lễ giáo tương tự các triều Hán Đường cũng đều có thể được coi là Hoa Hạ, là Trung Quốc. Hay có thể hiểu một cách đơn giản hơn như học giả người Mỹ, Alexander Barton Woodside về chính khái niệm “Trung quốc” được sử dụng tại Việt Nam vào thời Nguyễn : “Năm 1805, vua Gia Long coi Việt Nam là “vương quốc trung tâm” hay Trung quốc. Thuật ngữ tiếng Hán thông thường được dùng để chỉ Trung Hoa, nhưng trong tay người Việt, nó lại trở thành một khái niệm trừu tượng không có sự tham khảo địa lý nào. Nó biến đổi thành một cụm từ có khả năng được dùng để chỉ bất kỳ vương quốc nào được lập nên trên cơ sở những nguyên tắc kinh điển Trung Hoa, khi nhận thấy xung quanh mình bị bao bọc bởi những kẻ man di không được giáo hóa”.

    Lý giải quan niệm của vua tôi người Việt tự nhận đất Việt là quốc gia văn minh ở trung tâm mới có thể lý giải được việc vua tôi Việt Nam không ít lần sử dụng khái niệm Trung quốc, Trung Hạ, Khu Hạ, Hoa Hạ để chỉ nước mình. Tỉ như :

    - "Toàn thư" (大越史記全書) viết : “Trước đây, Lý Giác trốn sang Chiêm Thành, nói tình hình hư thực của Trung quốc [1104]” ; “Đối với những người hào kiệt Trung quốc, chúng [nhà Minh] phần nhiều vờ trao cho quan tước rồi đem về an trí ở phương Bắc [1417]”; Tháng 8, năm 1426, vua Lê Thái Tổ ban dụ cho cả nước viết : “Giặc còn ở Trung quốc, dân chúng còn chưa yên”...

    - "Thiền Tông khóa hư ngữ lục" (禪宗課虛語錄) của Trần Thái Tông khi bàn về sự quý báu của thân người có đoạn viết : “Người nay chẳng biết, lại quý vật mà rẻ thân, chẳng hay thân mình có ba điều khó gặp… Một là, trong lục đạo chỉ có người là quý… có kẻ bị đọa xuống đạo Địa ngục, A tu la, Ngạ quỷ, Súc sinh, không được làm người… Hai là, đã được sinh ra làm người nhưng lại có kẻ sinh ra ở nơi man di, tắm thì chung sông, nằm thì rọ chân, sang hèn ở lẫn, trai gái sống chung, chẳng đượm gió nhân, chẳng nhuần giáo hóa… Ba là, đã được sinh ra ở Trung quốc, nhưng sáu căn không đủ, bốn thể chẳng toàn, mù điếc ngọng câm… tuy ở trong Hoa Hạ cũng hệt như ở ngoài hoang dã. Nay đã làm người, được sinh ra ở Trung quốc, lại có đủ sáu căn, há chẳng quý lắm sao ?”.

    - "Đại Việt Lam Sơn Dụ lăng bi" (大越藍山裕陵碑) soạn năm 1504, đặt tại lăng vua Lê Hiến Tông (di tích Lam Kinh) có đoạn viết : “Trung quốc vững mạnh, ngoại di khiếp hãi“.

    – Tờ sớ Mạc Đăng Dung tâu lên vua Lê vào tháng 12 năm 1517 xin giết Lê Quảng Độ, đại ý nói : “Tam cương ngũ thường là rường cột chống đỡ trời đất, là trụ đá đặt yên sinh dân. Nước mà không có cương thường thì tuy là Trung Hạ cũng có khác nào di địch. Người mà không có cương thường thì tuy mặc xiêm áo, cũng có khác nào cầm thú” 21.

    - Bức thư chúa Trịnh Tráng gửi cho Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan tại Batavia (nay là Jakarta) năm 1637, có đoạn viết : “Nay ta có ý mong quý quan tiết chế của quý quốc Ô Lan [Hà Lan] kết giao với ta. Trên danh nghĩa chân chính, hai nước đùm bọc thương yêu, mãi đến muôn đời. Vậy cắt cử hoặc hai ba tàu, hoặc hai trăm lính thiện xạ đến Trung quốc ta, lấy đó làm tin”.

    Phải công tâm nhìn nhận rằng, vua tôi nước Việt trong giai đoạn phong kiến tự chủ đã xây dựng đế chế theo mô thức Trung Hoa, lấy trật tự Hoa Di làm nền tảng. Mô thức này coi cõi đất hoàng đế ngự trị là trung tâm thiên hạ, tức Trung quốc, Trung Hạ, Hoa Hạ. Hoàng đế thi hành ơn đức, đồng thời bảo ban, dạy dỗ bốn cõi xung quanh, gọi là vương hóa, hoàng hóa. Các vùng biên viễn, man di ngưỡng mộ ơn đức của thiên triều phải thần phục và đến triều cống ; những kẻ chống đối, ương ngạnh phải bị thảo phạt. Việt Nam vừa nằm trong hệ thống những nước triều cống của triều đình Trung Hoa, vừa thiết lập riêng một hệ thống tông chủ - phiên thuộc đối với các vùng đất và quốc gia phương Nam. Tư tưởng này được thể hiện hết sức rõ rệt qua các tờ chiếu, hịch, văn khắc ghi công của vua tôi nước Việt trước hoặc sau khi thảo phạt các tộc người thiểu số và các nước phương Nam, như :

    - Bài hịch đánh động Ma Sa của vua Lý Nhân Tông có đoạn viết : “Trẫm coi triệu họ trong bốn bể đều như con đỏ. Đến cõi xa cũng mến lòng nhân mà quy phụ, phương khác cũng mộ nghĩa mà lại chầu. Nay tên tù trưởng hèn nhà ngươi ngu xuẩn, phụ ước ông cha, quên việc tuế cống”.

    - Thái úy Đỗ Anh Vũ nhà Lý nói : “Để bọn man di quấy Hạ là tội của thần… Nay cấm chỉ thói mọi, chắp tay mà chịu mặc hình ; trộm cắp dân ven, mất mật mà theo hoàng hóa”.

    - "Ma Nhai kỷ công bi văn" (摩崖紀功碑文) của Nguyễn Trung Ngạn trên sườn núi Trầm Hương (Nghệ An) năm 1335 có đoạn viết : “Vào thời hoàng đế thứ sáu triều Trần nước Hoàng Việt, Thái thượng hoàng đế Chương Nghiêu Văn Triết được trời ban mệnh, giữ đất Trung Hạ, khắp trong bốn bể, đâu cũng thần phục, Ai Lao cỏn con, dám chống vương hóa. Năm Ất Hợi, mùa thu, đế thân chinh soái lĩnh sáu quân, đi tuần miền Tây, thế tử nước Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La cùng tù trưởng man di Đạo Thần, Quỳ Cầm… đều dâng phương vật, tranh nhau nghênh đón. Mùa đông, đế đóng quân ở cánh đồng Cự Đồn Mật châu, lệnh cho các tướng và quân lính man di tiến vào nước ấy”.

    - Văn khắc trên vách đá vùng Tây Bắc Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn (親征復泐州佶扞完) do vua Lê Thái Tổ ngự chế cũng có đoạn với đại ý tương tự : “Bọn di địch là mối họa ở vùng biên cương, từ xưa đã có. Bọn Hung Nô thời Hán, bọn Đột Quyết thời Đường, bọn man mọi Mường Lễ ở phía Tây nước Việt ta cũng vậy. Vừa rồi chính trị Trần Hồ suy vi, bọn phiên thần ngang nhiên cát cứ, Cát Hãn giữ nguyên thói cũ, ỷ địa thế hiểm trở không chịu hối cải. Nay ta đem quân tiến đánh, hai quân thủy bộ cùng tiến, cất một trận là dẹp yên. Nhân viết một bài thơ Đường luật, khắc lên trên đá, để răn những tên tù trưởng man di chống lại vương hóa đời sau”.

    - Tờ chiếu đi đánh Ai Lao của vua Lê Thánh Tông tháng 7 năm 1479 cũng viết : “Bậc đế vương đời xưa chế ngự di địch, phục tùng thì cưu mang bằng đức, phản lại thì sấm sét ra oai… Trẫm nay nối công tổ tông, giữ cơ nghiệp lớn, ở đất Trung Hạ, vỗ yên ngoại di… Huống chi, đám dân chốn man rợ này, từ lâu nhiễm mùi hôi tanh của loài chó Lão Qua, muốn khôi phục cương thường cho tục mọi…”. Trong tờ chiếu đánh Bồn Man, ông còn viết : “Nước nhà ta tóm thâu bờ cõi, thống ngự Hoa Di”.

    Tư tưởng Hoa Di được đẩy lên cao độ tại Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản sau khi triều đình phong kiến Trung Hoa do người Hán trị vì bị thay thế bởi “người Hồ” phương Bắc, đặc biệt sau khi người Mãn làm chủ Trung Quốc, lập nên nhà Thanh. Lúc này, ba nước đều tự nhận là quốc gia trung tâm, chủ thể lưu giữ nền văn minh cổ phác và miệt thị gốc gác du mục vốn không có lễ giáo của tộc người Mãn Mông. Đó cũng chính là tư tưởng ẩn chứa trong câu phản vấn của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn trong "Dụ chư tì tướng hịch văn" (諭諸裨將檄文), sau khi ông kể cho tướng lĩnh những câu chuyện đầy nghĩa khí thời Xuân Thu : “Các ngươi là tướng của Trung quốc, phụng sự tù trưởng di rợ mà không thấy căm phẫn ?” (為邦國之將侍立夷宿而無忿心). Về phía Triều Tiên, Tư gián Triệu Quýnh (Cho Kyeong) bày tỏ : “Nước ta xưa nay nổi danh thiên hạ bởi có lễ nghĩa, được gọi với tên Tiểu Trung Hoa, kế thừa liệt thánh, thờ nước lớn một lòng, cung kính cẩn thận, nay phụng sự giặc Hồ, trộm yên tạm bợ, kéo dài chốc lát, làm như vậy đối với tổ tiên thế nào, đối với thiên hạ thế nào, đối với hậu thế thế nào ?”. Còn Tùng Cung Quan Sơn (Matsumiya Kanzan), binh pháp gia Nhật Bản thì nói : “Trộm nghĩ, nước ta từ xưa văn hiến đã đủ đầy, tự xưng là Trung Châu, gọi nước kia [chỉ Trung Quốc] là Tây phiên. Sự phân biệt trong ngoài, thể chế rất là nghiêm ngặt” 31. Diễn biến đến thời Nguyễn, "Đại Nam thực lục" (大南實錄) cũng như không ít sách vở triều Nguyễn dứt khoát gọi người Việt là “Hán nhân”, “Hán dân”, gọi người Trung Quốc là “Thanh nhân”, mà “Thanh” như vua Minh Mệnh từng nói : “Tổ tiên là người Mãn... Mãn là di rợ”. Thậm chí, những người phương Tây như người Pháp, người Anh… cũng đều từng bị vua quan nhà Nguyễn gọi thẳng thừng là “Dương di”.

    Tư tưởng phân biệt Hoa Di, đúc kết lại có thể thấy rõ nhất qua sự việc Lang trung Lý Văn Phức sang Thanh, thấy người Thanh viết bốn chữ lớn “Việt di hội quán” lên vách tường, ông đã rất tức giận, trách mắng quan Quán Bạn, nét mặt và giọng nói đều rất dữ, không chịu vào quán, sau đó lệnh hành nhân xé nát chữ "di" đi rồi mới vào, đoạn viết "Biện di luận" (辯夷論) để trần bày. Đại lược nói : “An Nam vốn hậu duệ của Thánh đế Thần Nông, là Hoa, chẳng phải di vậy, đạo học noi theo Khổng Mạnh Trình Chu, pháp độ tuân theo Chu Hán Đường Tống, không vấn tết tóc, để vạt trái như người Di. Đến như vua Thuấn sinh ra ở Chư Phùng, Văn vương sinh ra ở Kỳ Châu, người đời còn chẳng dám coi vua Thuấn, Văn Vương là di, huống hồ dám coi ta là di ư ?”.

    Phát xuất từ tư tưởng Hoa Di, quy chế trang phục trong cung đình Việt Nam phần lớn được tham khảo từ điển chương, chế độ của triều đình Trung Quốc, một trong những thước đo văn minh đặt trong bối cảnh xã hội phong kiến bấy giờ.

    Kể từ năm 939, Ngô Quyền sau khi xưng vương đã lần đầu tiên cho mô phỏng quy chế áo mão của nhà Đường thể hiện qua việc lấy màu sắc trang phục làm tiêu chí phân biệt phẩm trật của bá quan. Tiếp đến, thời Tiền Lê tới thời Lý đều lần lượt mô phỏng quy chế áo mão của nhà Tống, đánh dấu bởi các sự kiện áp dụng chế độ Triều phục năm 1006 và chế độ Công phục năm 1059. Riêng với triều đình nhà Hồ, từ sau cải cách thời Trần Thuận Tông năm 1396 mà thực chất do Hồ Quý Ly thao túng, triều phục của văn võ bá quan lại quay về mô phỏng theo chế độ trang phục của nhà Hán. Các triều Lê, Nguyễn về sau chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ trang phục của nhà Minh, bắt nguồn từ cải cách trang phục thời vua Lê Thái Tông năm 1437, được đẩy mạnh vào khoảng những năm 1471 thời vua Lê Thánh Tông, và hoàn bị vào năm 1500 thời vua Lê Hiến Tông. Tuy nhiên, đối với với trang phục của các triều đại Nguyên, Thanh, vua chúa nước Việt thường tỏ ra bài bác, khinh thị. Như với trang phục của nhà Nguyên, vua Trần Minh Tông từng nói rõ : “Ngôn ngữ [chỉ ngôn ngữ Hán quan phương] không khác nhau nhiều, nhưng áo mũ không thể giống nhau được”. Nguyễn Trãi nhận xét và khuyến cáo : “Người Ngô lâu ngày nhiễm thói tục của người Nguyên, tóc xõa, răng trắng, áo ngắn mà tay áo dài, mũ xiêm lòe loẹt, lớp lớp như lá vậy... không nên noi theo để làm loạn quốc tục”. Còn trang phục của triều đình Mãn Thanh, năm 1696, sử thần nhà Lê cho biết : “Người Thanh làm chủ Trung Quốc, róc tóc, mặc áo ngắn, noi theo thói cũ Mãn Châu. Áo mũ lễ tục Tống Minh vì vậy mất sạch”. Bùi Văn Dị nhận định : “Triều Thanh hưởng thái bình lâu ngày [...] riêng chế độ áo mũ không đổi. Tục Mãn suy cho cùng thiếu trang nhã [...] Từ khi triều Thanh làm chủ Trung Quốc, bốn phương phải cạo tóc, đổi y phục. Hai trăm năm trở lại đây, tai mắt người ta đã quen cả [...] không còn nhận ra kiểu dáng Hoa Hạ ngày xưa nữa. Sứ nước ta tới Yên Kinh, đội mặc phẩm phục, có kẻ nhận ra trộm ngưỡng mộ Hoa phong. Nhưng bọn không có trí tuệ, phần nhiều túm tụm cười đùa, thấy mũ Phốc đầu, Võng cân, đai áo bèn chỉ trỏ cho là kiểu cách tuồng chèo. Tục rợ Hồ thay đổi con người ta đến mức phải ta thán như vậy đấy”. Tác giả của "Nam sử tư ký" (南史資記) đầu thời Nguyễn cũng chép : “Thanh Thế Tổ lên ngôi, đặt niên hiệu Thuận Trị, thống nhất thiên hạ, thay đổi y phục Trung Quốc... Nước Nam ta y phục vẫn như xưa. Sau này sứ nước ta đến Yên Kinh, phụ lão Trung Quốc thấy y phục của sứ ta đều rơi nước mắt”. Năm 1830, chính vua Minh Mệnh nói rõ : “Trẫm xem sách Hội điển của nước Thanh... áo mũ triều phục đều theo thói tục man di, không phải chế độ phục sức của cổ nhân, như thế lại càng sai trái, không thể làm khuôn phép”.

    Đối với trang phục dân gian, trong mắt sĩ phu người Việt, trang phục của người dân các nước phương Nam và các sắc dân thiểu số đều bị coi là quê kệch, thô lậu. Như Dương Văn An nhận xét vùng Tư Vinh (Huế) : “Có người nói tiếng Huế, mặc váy Chàm, thói ấy rất quê và thô bỉ”, trong khi dân vùng Ô châu [Quảng Trị] có cách ăn vận như Trung Hoa thì được coi là không có gì lạ thường. Ngô Thì Nhậm từng có lời thơ thể hiện niềm tự hào là bậc kỳ lão đất Việt, vận áo mão chỉnh tề, thắt dây thao, đeo ngọc bội, rất văn minh, rất “Hoa”. Ông viết :

    Mở mang có trước sau,
    Đâu riêng Trung Quốc có...
    May sinh ở nước Nam,
    Đường hoàng thân áo mão,
    Chớ bảo ta chẳng Hoa,
    Việt Thường có kỳ lão.

    Đặc biệt, khác với các triều đại Lý - Trần coi tam giáo đồng tôn mà trong đó đạo Phật có vị thế áp đảo, các triều đại Lê - Nguyễn về sau với các chính sách độc tôn Nho thuật đã có những cái nhìn khắt khe, khinh thị đối với phong tục của các sắc dân phương Nam. Tư tưởng Hoa Di lúc này trở nên tiêu cực, và là một trong những nguyên nhân chính thúc đẩy triều đình Lê, Nguyễn thực thi các chính sách đồng hóa văn hóa, “dụng Hạ biến di”. Kể từ việc vua Lê Thánh Tông thảo phạt Bồn Man, Chiêm Thành được mô tả : “Bồn Man bướng nghe giáo hóa thì hạ lệnh cày xới gốc rễ của chúng, Sơn Man quấy rối vùng biên thì cất quân quét sạch sào huyệt của chúng… bắt dân chúng mặc áo xiêm của ta, khiến đất chúng thành quận huyện của ta” ; đến những sắc lệnh cải đổi thói tục của dân man theo thuần phong của người Việt diễn ra liên tiếp dưới thời vua Minh Mệnh, mà một trong những nội dung quan trọng chính là việc hướng người man đổi mặc quần áo của người Việt. Như năm 1829, vua Minh Mệnh xuống dụ ban tên họ cho các thủ lĩnh người man có đoạn viết : “Từ trước đến nay tục mọi noi nhau, chỉ theo thế thứ, chẳng biết ở họ nào mà ra. Ôi sửa đổi phong tục ắt phải dần dần, mà đấng vương giả dạy bảo nào có phân biệt. Lần này bọn thổ ty ấy đã theo về phong hóa, mặc xiêm áo của ta, nhưng nếu cứ để cho có tên mà không có họ, há phải là ý của trẫm coi mọi người như nhau ? Nay gia ơn chuẩn cho Thổ tri châu châu Mường Vang tên Kiềm, cho họ là Lâm ; thổ tri châu châu Na Bôn tên Xế cho họ là Thạch… rồi ghi theo họ mới ban cho, viết đổi lại sắc mệnh mỗi người một đạo, phát giao cho bọn ấy nhận lấy, đời đời tuân phụng, để phân rõ họ hàng, theo luân thường, đều đi đến đạo lớn, khiến ngày càng nhuốm gội Hoa phong”. Năm 1834 người Thủy Xá sai sứ đến cống, vua Minh Mệnh có lời dụ rằng : “Thánh nhân dùng Hạ biến di, nên lấy lễ nghĩa dạy bảo, khiến dần dần đổi thành thói Hoa Hạ. Bèn thưởng cho sứ thần ấy cả bộ áo mũ trước kỳ hạn. Hôm trẫm ngự ở điện, đã chuẩn cho sứ thần ấy vào triều cống, tận mắt thấy bọn họ áo mũ chỉnh tề, quỳ lạy thung dung, đều hợp lễ tiết, trẫm rất lấy làm khen ngợi… Lại thưởng cho chánh sứ lấy họ là Lĩnh, vẫn dùng tên cũ là Duyên, phó sứ họ là Kiệu vẫn dùng tên cũ là Tài, ngõ hầu biết được họ tên, ngày một nhuốm gội Hoa phong...”. Ông đồng thời còn nói : “Thánh nhân dùng Hạ biến di, có thể đem lễ nghĩa ra dạy bảo thì loài có mai vảy cũng có thể thay đổi mà biết mặc xiêm áo”. Tháng 12 năm 1835, ông lại tiếp tục có lời dụ : “Đất man đã lệ thuộc bản đồ của ta từ lâu, dân man cũng là con đỏ của ta, phải nên bảo ban dìu dắt, để ngày một nhiễm theo Hán phong… Phàm những thứ cần dùng đều phải học tập Hán dân, chăm việc làm lụng. Đến như ngôn ngữ thì bảo họ dần dần tập nói Hán âm. Ăn uống và áo quần cũng dạy cho dần dần theo Hán tục. Ngoài ra, hễ có điều gì phải đổi bỏ thói hủ lậu mà làm cho giản tiện dễ dàng thì cũng tùy cơ chỉ bảo. Thông cảm họ dẫu là man mọi, nhưng cũng có lương tri và lương năng… Hun đúc thấm nhuần, dùng Hạ biến di, đấy cũng là một đường lối thay đổi phong tục”.

    Như vậy có thể thấy, tư tưởng Đế vương và quan niệm Hoa di đã có những ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc lựa chọn trang phục cũng như đến văn hóa cung đình Việt Nam. Sau khi văn hiến, phong tục Trung Hoa đã thâm nhập và hòa quyện với các yếu tố bản địa trở thành một phần của văn hóa bản địa, thì từ việc sử dụng ngôn ngữ Hán trong quan phương đến việc áp dụng lề lối, lễ nghi cổ điển của Trung Quốc vào cuộc sống cung đình, triều đình Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản đều không còn khái niệm “vay mượn” hay “bắt chước”. Đối với các quốc gia này, văn minh Trung Hoa đã sớm trở thành một sản phẩm chung, một kho dữ liệu mà họ có quyền sử dụng, và có quyền từ đó tạo cho mình một nền văn hiến, điển chương "không thua kém Trung Quốc".


    [​IMG]

    【Vân-trai Trần-quang-Đức. «Những tư-tưởng ảnh-hưởng đến văn-hóa trang-phục cung-đình Việt-nam»】
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  3. Uillean

    Uillean Banned

    "TRUNG QUỐC" ĐƯỢC NHẬN DIỆN THẾ NÀO
    TRONG Ý THỨC HỆ XƯA ?

    Đã nhiều lần tôi đề cập, các chính thể Lý - Trần - Lê - Nguyễn từng tự xưng "Trung Quốc", "Trung Châu", "Trung Hạ", "Trung Hoa", "Hoa Hạ", thậm chí là "Hán", với ngụ ý đất nước văn minh, cộng đồng người văn minh ở khu vực trung tâm, trước khi những từ này trở thành danh từ riêng đặc chỉ "China" từ cuối thế kỷ XIX [*]. "Hán" hay "Việt" ở đây chỉ là vỏ khái niệm, ngầm ý cho biết sự nhận đồng về văn hóa của vua quan Việt Nam so với Trung Quốc. Các triều đại được lập nên ở bốn nước Việt - Trung - Hàn - Nhật đều là những cá thể riêng biệt, đặt định lễ giáo, vận dụng tư tưởng Nho gia, sử dụng văn tự chữ vuông sáng tác văn chương, ghi chép chính sử theo những phương thức riêng biệt.

    [​IMG]

    Trong tranh minh họa kèm theo :

    ◆ "Văn bia Dụ lăng" [大越藍山裕陵碑] (tạc năm 1504) viết : "Trung Quốc mạnh mẽ, man di khiếp sợ".

    ◆ "Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link" [大南實錄] viết : "Đại Thanh, tổ tiên là người Mãn […]. Xét, Mãn là mọi rợ còn như thế, huống hồ nước ta là đất Nam Hà văn vật, không thể đem so với bọn ấy được" (Đệ nhị kỷ, quyển 26, trang 22) ; "Đất mọi đã lệ thuộc bản đồ của ta từ lâu, dân mọi cũng là con đỏ của ta, phải nên bảo ban dìu dắt, để ngày một nhiễm theo phong tục Hán […]. Phàm những thứ cần dùng đều phải học theo dân Hán, chăm việc làm lụng. Đến như ngôn ngữ thì bảo chúng dần tập nói tiếng Hán. Ăn uống và quần áo cũng dạy cho dần theo tục Hán…" (Đệ nhị kỷ, quyển 163, trang 22).

    Những từ "Trung Quốc", "Hoa", "Hán" trong các bản dịch Việt ngữ lưu hành hiện nay, đã bị "đánh lận" và dịch thành "nước ta", "Việt ta", "trong nước". Và lâu nay, dưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, người ta luôn rao giảng về bản sắc văn hóa Việt, về tinh thần dân tộc Việt, song song với việc diễn giải lịch sử - văn hóa - tư tưởng của các triều đại phong kiến trước đây theo tinh thần mới này. Việc làm này thực chất là đang tự lừa dối chính mình ; nó sẽ ngày một nguy hiểm hơn, khi tư tưởng dân tộc đang có chiều hướng cực đoan và việc bài Hoa (Sinophobia) ngày càng trở nên quá khích.

    Một người bạn tôi từng nói : "Trong lịch sử, lần đầu tiên người Việt chống xâm lăng phương Bắc bởi một thế hệ không biết tiếng Hán, bởi một thế hệ trí thức không thể đọc nổi các văn tự gốc viết về lịch sử của chính dân tộc mình !". Và, chính trong lúc sức đề kháng văn hóa - chính trị của người Việt yếu ớt như hiện nay, tôi lại càng nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc học chữ Hán, của việc học và đọc sử. Người Hàn Quốc, người Nhật Bản vẫn học chữ Hán, tuyệt đối không vì họ muốn sáp nhập vào Trung Quốc, mà bởi họ thấy cần hiểu lịch sử - văn hóa - tư tưởng của chính dân tộc họ viết nên trong hơn ngàn năm qua, để gạn đục khơi trong nền văn hóa Á Đông song song với việc áp dụng tư tưởng dân chủ - tiến bộ từ các nước Âu Mỹ. Và hơn nữa, họ hiểu được cách ứng xử của tổ tiên họ với Trung Quốc, cũng như hiểu hơn về chính người Trung Quốc.


    [*] Phần viết về quan niệm này tôi đã trình bày trong sách Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, từ trang 19 đến trang 47. Trên mạng, bạn nào quan tâm có thể search đọc bản rút gọn "Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link" do tôi viết.


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  4. Uillean

    Uillean Banned

    CỔ NHÂN MÔ TẢ CƯƠNG VỰC AN NAM NHƯ THẾ NÀO ?

    Trứ tác «Biện di luận» (辯夷論) do danh thần Lý Văn Phức (李文馥, 1785 - 1849) viết năm 1841 có đoạn như sau :

    「Huống hồ, từ thời Trần - Lê, quốc thổ An Nam ngày càng mở rộng, đến nay đã gấp bội phần. Phía Bắc giáp ba tỉnh Quảng Đông - Quảng Tây - Vân Nam của Trung Châu ; phía Tây khống chế các tộc man mọi, tiếp giáp các nước Nam Chưởng, Miến Điện ; phía Đông trông ra biển lớn, ôm lấy các đảo ; phía Nam cũng chạm tới biển, vòng qua phía Tây Nam sát vách với Tiêm La. Ngoài ra các thuộc quốc, man di nội phụ khác nhau đều đủ cả. Thực là một đại quốc sừng sững giữa vòm trời đất !」

    「Huống tự Trần Lê, An Nam dĩ hoàn thổ địa nhật tịch, chí kim nhi bội tỉ yên. Bắc tiếp Trung Châu Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam tam tỉnh ; Tây khống chư man, tiếp ư Nam Chưởng, Miến Điện chư quốc ; Đông lâm đại hải, bao chư đảo tự ; Nam diệc để vu hải, nhiễu nhi Tây Nam lân vu Tiêm La. Kỳ dư thuộc quốc phụ man bất nhất nhi túc. Chân bầu nhiên vi thiên địa gian nhất đại quốc hĩ !」 (況自陳黎,安南以還土地日闢,至今而倍蓰焉。北接中州廣東、廣西、雲南三省;西控諸蠻,接於南掌、緬甸諸囯;東臨大海,包諸島嶼;南亦抵于海,遶而西南隣于暹羅。其餘屬國附蠻不一而足。真裒然為天地間一大國矣。)


    [​IMG]
    Bức "Đại Nam nhất thống toàn đồ" (大南ー統全圖), bản in 1834,
    được xoay theo cách đọc dư đồ thuở xưa.

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  5. Uillean

    Uillean Banned

    "NAM QUỐC SƠN HÀ" VÀ NHỮNG DỊ BẢN

    "Nam quốc sơn hà" (南國山河) vốn được viết bằng Hán văn ; người dịch khác nhau đương nhiên sẽ cho bản dịch khác nhau. Nhưng ở đây tạm không bàn đến bản dịch.

    Bản Hán văn "Nam quốc sơn hà" lưu hành hiện nay là bản được chép trong "Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link". Tuy nhiên, câu chuyện anh em Trương Hống, Trương Hát đọc bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" được chép trong cuốn cổ sử này, kỳ thực được các sử gia thời Lê đưa vào sau khi tham khảo sách "Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link". Sách lưu truyền qua vài trăm năm, tồn tại dị bản cũng là điều đương nhiên. Các sử gia thời Lê cũng chỉ là lựa chọn một trong số các dị bản mà thôi. Ở đây xin cung cấp thêm mấy dị bản "Nam quốc sơn hà" khác như sau :


    [​IMG]

    1. "Lĩnh Nam trích quái liệt truyện", ký hiệu R.6, Thư viện Quốc gia, chép :

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhĩ đẳng hành khan thủ bại hư.

    2. "Lĩnh Nam trích quái liệt truyện", ký hiệu A.33, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chép :

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
    Như hà Bắc lỗ lai xâm lược,
    Bạch nhận phiên thành phá trúc dư. [1]

    [Hai câu cuối] lại [có dị bản] viết :

    Như kim nghịch tặc lai công kích,
    Nhữ đẳng hành khan phá bại hư.

    3. "Mã lân dật sử", ký hiệu A.1516, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chép :

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Phân minh dĩ định tại thiên thư.
    Vân hà nghịch lỗ lai xâm phạt,
    Nhữ đẳng khô hài bất táng thu. [2]

    Nói tóm lại, những gì khác với điều tai nghe mắt thấy xưa nay chưa hẳn đã là sai và cũng không nên nâng cao quan điểm chính trị. Câu chuyện thực chất rất là dung dị !


    [1] "Bạch nhận phiên thành phá trúc dư" : Lưỡi đao kiếm sáng loáng sẽ thừa sức đánh như chẻ tre.

    [2] "Nhữ đẳng khô hài bất táng thu" : Xác khô của các ngươi sẽ không được thu gom chôn cất.


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  6. Uillean

    Uillean Banned

    BÀN VỀ NGÀY "QUỐC GIỖ"

    Dù đã có một số học giả chỉ ra nguồn gốc của ngày "quốc giỗ" mồng 10 tháng 3, song tràn ngập trên sách báo nhân dịp ngày quốc lễ này, các tay bồi bút vẫn quen dẫn dụng câu lục bát "Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày giỗ tổ mồng Mười tháng Ba" kèm lời dẫn dắt kiểu như "từ bao đời nay, câu ca ấy vẫn in sâu trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam" hay "câu ca dao được lưu truyền tự ngàn đời".

    Có thể khẳng định câu thơ lục bát được cho là có tự "bao đời" và "ngàn đời" kia, mới được sáng tác và lưu truyền chưa đến 100 năm. Bởi ngày 10 tháng 3 được ấn định trở thành ngày quốc tế (tế [祭] : cúng giỗ) chỉ bắt đầu từ năm 1917. Bia "Hùng Vương từ khảo" (雄王詞考), bên trái đền Thượng do Tham tri Hữu tuần phủ Phú Thọ là Bùi Ngọc Hoàn (裴玉桓, ? - ?) soạn, cho biết : "Năm Khải Định thứ nhì, tức năm 1917 lịch dương, Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định lấy ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ Hùng Vương thứ 18 một ngày, ngày 11 tháng 3, do dân sở tại cúng tế".


    [​IMG]
    Bản rập tấm bia "Hùng Vương từ khảo" và tranh chân dung
    quan Tuần phủ Lê Trung Ngọc (黎中玉, 1867 - 1928),
    người đề xướng lấy 10 tháng 3 hàng năm làm ngày quốc tế.

    Cũng cần lưu ý rằng, "câu ca ấy in sâu trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam" chỉ được thực hiện khi và chỉ khi có sự phổ biến của chữ viết cũng như sách báo trong đại đa số dân chúng, đặc biệt thông qua chương trình giáo dục, những thứ chỉ có từ đầu thế kỷ XX. Ký ức về những ông vua bà chúa cách nay cả hai ngàn năm không thể lưu truyền trong từng cá thể Việt khi mà ở người Kinh không có truyền thống sử thi. Và trước thế kỷ XX, ngay trong giới trí thức tinh hoa vẫn còn tâm lý coi nhẹ Nam sử.


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  7. Uillean

    Uillean Banned

    TÊN GIẢ CỦA VUA VIỆT

    Khảo xét văn thư ngoại giao giữa triều đình An Nam và Trung Hoa thì có thể nhận thấy, bắt đầu từ thời Trần đến hết thời Lê và đầu thời Tây Sơn, hầu hết các vị vua Việt đều dùng tên giả để giao thiệp với Trung Hoa.

    Trong khi trong những văn thư gửi sang nhà Tống, vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông còn xưng tên thật là Cảnh, là Hoảng [1] thì đến văn thư gửi sang nhà Nguyên đều nhất loạt dùng những cái tên giả Quang Bính, Nhật Huyên, khơi mào cho quán lệ sử dụng ngụy danh trong các triều đại về sau. Điều này xuất phát từ tâm lý "ghét Nguyên mến Tống" mà tôi đã có dịp đề cập trong chuyết tác «Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link» (trang 101).

    Về việc xử dụng ngụy danh của nhà Lê, quan nhà Minh là Lý Văn Phượng cho biết : "Lê Lị không nghĩ đến việc thành thực hối lỗi, bề ngoài thần phục, bên trong rắp tâm lấn vượt, tiếm hiệu, cải nguyên để chống chọi ngang hàng với Trung Quốc. Từ con đến cháu y đều có hai tên. Long (Lê Thái Tông) tên giả là Lân. Cơ (Lê Nhân Tông) tên giả là Tuấn. Nghi Dân tên giả là Tông. Tư Thành (Lê Thánh Tông) tên giả là Hạo. Tăng (Lê Hiến Tông) tên giả là Huy. […] Sanh (Lê Trang Tông) tên giả là Ninh. Tên thật dùng để thờ trời đất thánh thần, bá cáo trong nước. Tên giả dùng để phụng sự Trung Hoa, tỏ ý không phục. Mặc dù tay Lê Sanh khốn đốn đủ bề mà vẫn dùng tên giả để lừa gạt nhau. Ấy trong hơn trăm năm, lòng chúng chưa từng một ngày chịu thần phục Trung Hoa vậy" [2].

    Tâm lý "không thần phục Tàu" của vua chúa An Nam trên thực tế đã sẵn có từ trước thời Trần, tuy không thể hiện ở việc dùng tên giả, song cách đặt tên có ý lấn vượt của các vua nhà Lý cũng đã phần nào phản ánh được điều này. Chúa Trịnh Tùng nhận định : "Họ Lý từ sau Công Uẩn truyền đến thời Hạo Sảm ngày nay thảy tám đời. Tên các đời là Nhật, là Càn, là Dương, là Thiên, là Long đều có ý lấn vượt bề trên. Triều đình coi nước ấy xa nơi góc bể không thèm lần lữa so đo" [3].

    Thời Nguyễn, quan hệ Việt - Thanh đã không còn khăng khít như những gì đã diễn ra trước đó. Với quan niệm tổ tiên nhà Thanh là tộc Mãn - Mãn là man mọi [4], nhà Nguyễn đã tự nhận là đế quốc kế thừa văn minh Hoa Hạ chính thống, sở hữu quốc thổ rộng lớn chưa từng có trong lịch sử [5] và cũng đã chẳng cần đến việc xử dụng ngụy danh.

    [1] Tống hội yếu tập cảo (宋会要辑稿).
    [2] Việt kiệu thư (越嶠書).
    [3] Khâm định An Nam kỷ lược (欽定安南紀略).
    [4] Đại Nam thực lục (大南實錄).
    [5] Châu Nguyên tạp vịnh thảo (周原雜詠草).


    [​IMG]

    Phụ chú tên thật và giả của các vua nhà Trần :

    01. Trần Thái Tông : tên thật Cảnh (煚), tên giả Quang Bính (光昺).
    02. Trần Thánh Tông : tên thật Hoảng (晃), tên giả Nhật Huyên (日烜).
    03. Trần Nhân Tông : tên thật Khâm (昑), tên giả Nhật Tốn (日燇).
    04. Trần Anh Tông : tên thật Thuyên (烇), tên giả Nhật Sủy (日㷃).
    05. Trần Minh Tông : tên thật Mạnh (奣), tên giả Nhật Khoáng (日爌).
    06. Trần Hiến Tông : tên thật Vượng (旺), tên giả Nhật Phẫu (日㷆).
    07. Trần Dụ Tông : tên thật Hạo (暭), tên giả Nhật Khũy (日煃).
    08. Trần Nghệ Tông : tên thật Phủ (暊), tên giả Thúc Minh (叔明).
    09. Trần Duệ Tông : tên thật Kính (曔), tên giả Nhật Thoan (日煓).
    10. Trần Phế Đế : tên thật Hiện (晛), tên giả Nhật Vĩ (日煒).
    11. Trần Thuận Tông : tên thật Ngung (顒), tên giả Nhật Côn (日焜).


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  8. Uillean

    Uillean Banned

    "Họ thề sẽ mãi mãi trung thành với vua và xin xả thân vì vua để chống lại quân Trung Quốc. Họ còn gọi đích danh người Trung Quốc vì không có kẻ thù nào lớn hơn người Trung Quốc, mối thù của họ thật là không đội trời chung". "Họ" ở đây chỉ đại biểu của các làng trong toàn quốc đến chúc mừng vua Lê mới lên ngôi. Trích theo "Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đông Kinh" (Relation nouvelle et singulière du royaume de Tonquin) của Jean-Baptiste Tavernier (1605 - 1689), ấn hành năm 1679. Đây có thể coi là một cứ liệu quan trọng cho thấy lòng thù hận của người An Nam thời Lê đối với người Trung Quốc thời Minh.

    Tuy nhiên cũng cần lưu ý, tâm lý bài Tàu của người xưa là ghét triều đình Tàu, còn như văn hóa, ngôn ngữ, thi ca... thì luôn được ưa chuộng. Đánh Tàu xong, khi nhắc đến Khổng Khâu thì người An Nam vẫn gọi là "ngô phu tử" (吾夫子 / thầy ta). Trong bài thơ của Đoàn Nguyễn Tuấn (段阮俊, 1750 - ?) khi đi sứ Trung Quốc có mấy câu thế này : "Cảnh vật An Nam khách hỏi à ? An Nam cảnh vật khác Trung Hoa. […] Tuy nhiên có chỗ giống nhau lắm. Lễ nghĩa văn chương tựa một nhà !" (客問安南景若何?安南風景異中華。。。雖然大有相同処。禮義文章似一家).

    [​IMG]
    "Giặc Minh hung tàn, chùa đã biến đổi" (明賊兇殘,寺已更 / Minh tặc hung tàn, tự dĩ canh).
    Thơ của Lê Thánh Tông đế (黎聖宗, 1442 - 1497) khắc vào mặt sau
    tấm bia thời Lý "Sùng Thiện Diên Linh tháp bi" (崇善延齡塔碑) năm 1467.

    "Kiên Hồ tập" (坚瓠集), mục "Ngoại quốc nhân tiến sĩ" (外國人進士), chép : "Văn giáo đầu thời Minh đã trải tới hải ngoại, có nhiều anh tài ngoại quốc học ở Trung Quốc rồi đỗ tiến sĩ. Thời Hồng Vũ khoa thi năm Tân Hợi có Kim Đào, khoa thi năm Ất Sửu có Thôi Chí Viễn, đều là người Diên An nước Cao Ly vậy... Khoa thi năm Giáp Tuất [1454] thời Cảnh Thái, có Lê Dung người Thanh Oai Giao Chỉ, Nguyễn Cần người Đa Dực Giao Chỉ. Khoa thi năm Canh Thìn [1460] thời Thiên Thuận có Nguyễn Văn Anh người Từ Sơn Giao Chỉ, Hà Quảng người Phù Ninh Giao Chỉ. Khoa thi năm Kỷ Sửu [1469] thời Thành Hóa có Vương Kinh, khoa thi năm Quý Mùi [1523] thời Gia Tĩnh có Trần Nho, đều là người Giao Chỉ vậy. Nguyễn Cần làm quan đến chức Công bộ Tả thị lang, Trần Nho làm quan đến chức Hữu Đô ngự sử".

    "Kiên Hồ tập" (坚瓠集), mục "An Nam thí lục" (安南試錄) chép : "Nước An Nam cách Trung Quốc mấy ngàn dặm, mang tiếng giữ gìn thanh giáo, nhưng kỳ thực tự làm hoàng đế một phương. Đặt niên hiệu, định quy chế đều không kiêng nể. Nước này đặt ra mấy đạo tương tự phiên tỉnh của Trung Quốc. Đạo An Bang là một đạo trong số đó. Có người thấy đề thi Hương của đạo An Bang, chép là khoa thi Tân Mão, năm Hồng Đức thứ hai [1471]. Sơ trường : Giải nghĩa bốn thiên trong Tứ thư, năm thiên trong Ngũ kinh. Nhị trường : Chế, cáo, biểu - mỗi loại một bài. Tam trường : Thơ, phú - mỗi loại một bài. Tứ trường : Một bài văn sách dài. So với Trung Quốc, phép lấy kẻ sĩ của nước này lại còn tỉ mỉ hơn. Có rất nhiều câu đối hay trong biểu, phú".

    [​IMG]

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  9. Uillean

    Uillean Banned

    ĐỀ THI ĐÌNH NĂM 1463

    "Đại Việt sử ký toàn thư" (大越史記全書) có đoạn chép : “Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ tư, niên hiệu Minh Thiên Thuận thứ bảy. Mùa xuân, tháng Giêng, miễn kỳ Hội duyệt các quân vì năm trước có đại xá. Bắt đầu định lệ ba năm một lần thi Hội. Tháng Hai, tổ chức thi Hội cho các sĩ nhân trong nước. Bấy giờ người dự thi có tới 4400 người, lấy đỗ 44 người. Ngày 16, thi Điện cho các tiến sĩ. Sai Nhập nội Kiểm hiệu Bình chương quân quốc trọng sự Nguyễn Lỗi và Nhập nội Đô đốc đồng Bình chương quân quốc trọng sự Tri Đông đạo chư vệ quân dân Quốc tử giám Tế tửu Lê Niệm làm đề điệu. Chính sự viện Tham nghị chính sự Nguyễn Phục làm giám thí, Môn hạ sảnh Tả ti Gián nghị đại phu Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ Nguyễn Như Đổ, Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ Tri Đông đạo quân dân Nguyễn Vĩnh Tích, Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Bá Ký làm độc quyền. Vua ra hiên, thân hành ra đề văn sách hỏi về đạo xuất thân theo thứ bậc khác nhau“.

    ❀​

    制策曰:上古聖神,繼天出治,其道純如也。降及後世,佛老之說興,始有三教之論,而治道人心尤不古若。夫佛老之教,率皆惑世誣民,充塞仁義,其害不可勝言,而酷好篤信。聖人之道,大而三綱五常,小而節文度數,皆切於日用常行間,而人之篤好反不佛老若,何也?

    我國家設官分職,大小相維,内外相統。典樞機則有内密院。提綱轄則有五道官。理獄訟則有五刑院。職糾察則有御史台。掌禮樂則有禮儀院。育人才則有國監路校。司財賦工匠擇優内侍省。任承流宣化則有府路鎮縣。董戍律則有諸衛官軍。凡此皆以爲民也。然而庶類未熙,刑罰猶濫,紀綱未振,禮樂未興,人才未盛,蓄積未豐,泉貨未流通,德澤未下究,軍民猶怨嘆,宿弊未除,寔效未見,其故何歟?

    夫為治之要不外乎明聖道,正人心,闢異端,革宿弊,著寔效。其所以致是者,必有其術。子大夫博古通今詳著于篇,朕將親覽焉。

    Chế sách hỏi : Bậc thánh thần thời thượng cổ, vâng trời trị nước, đạo ấy thật thuần vậy. Kịp đến đời sau, học thuyết Phật - Lão nổi lên, mới có sự luận bàn về Tam giáo, thế mà việc trị nước tu tâm lại không bằng thời cổ. Xét giáo lý Phật - Lão, thảy đều lừa đời dối dân, tắc nghẽn nhân nghĩa, cái hại của nó không thể kể xiết, thế mà người đời yêu chuộng sùng tín. Đạo của thánh nhân, lớn thì có tam cương ngũ thường, nhỏ thì có phép tắc lễ độ, đều thiết thực trong đời sống thường ngày, vậy mà sự sùng chuộng của người ta lại không bằng Phật - Lão, tại sao vậy ?

    Nước nhà ta đặt quan chia chức, lớn nhỏ theo nhau, trong ngoài thống nhất. Chủ quản bộ máy thì có Nội mật viện. Nắm giữ cương hạt thì có Ngũ đạo quan. Xử lý ngục tụng thì có Ngũ hình viện. Giám sát thẩm tra thì có Ngự sử đài. Trông coi lễ nhạc thì có Lễ nghi viện. Đào tạo nhân tài thì có Quốc tử giám và trường học các lộ. Quản lý của cải thuế khóa thợ thuyền thì có Nội thị sảnh. Đảm nhiệm truyền thừa, thi hành giáo hóa thì có các phủ, lộ, trấn, huyện. Đốc thúc binh nhung thì có các vệ quan quân. Tất cả việc đó đều là vì dân vậy. Song le, phẩm loại chưa rõ ràng, hình phạt còn lạm dụng, kỷ cương chưa chấn chỉnh, lễ nhạc chưa hưng thịnh, nhân tài chưa đông đúc, tích trữ chưa dư dật, hàng hóa chưa lưu thông, ân đức chưa tưới khắp, quân dân còn oán than, tệ nạn chưa loại bỏ, hiệu quả chưa thấy đâu, duyên do thế nào vậy ?

    Xét mấu chốt của việc trị nước không nằm ngoài việc làm sáng đạo thánh, uốn thẳng lòng người, loại bỏ dị đoan, dẹp hết tệ nạn, làm rõ hiệu quả. Để có thể làm được như vậy, ắt có cái thuật của nó. Các ngươi, bậc đại phu bác cổ thông kim, hãy chép rõ vào quyển, trẫm sẽ tự xem xét !

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  10. Uillean

    Uillean Banned

    LẠY HAY KHÔNG LẠY
    CHIẾU SẮC CỦA THIÊN TRIỀU ?

    Về nguyên tắc, khi tiếp nhận chiếu sắc của thiên tử Trung Hoa, vua Việt và vua Triều Tiên đều phải quỳ lạy. "Sứ nhà giời" (天使 / thiên sứ) được coi ngang hàng với vua chư hầu, không cần lạy khi kiến diện.

    [​IMG]
    Vua Trần Anh Tông đứng chắp tay đón vua cha Trần Nhân Tông ("Ngàn năm áo mũ", trang 110) ;
    vua tôi Lê Chiêu Thống sang Thanh ("Ngàn năm áo mũ", trang 190) ;
    vua Quang Trung giả sang Thanh ("Ngàn năm áo mũ", trang 271) ;
    vua Mạc Đăng Dung lạy thánh chỉ của vua Minh ("An Nam lai uy đồ sách" / 安南來威圖冊).

    Từ Phu Viễn (徐孚遠, 1599 - 1665) - sứ Nam Minh, là ông thiên sứ duy nhất bị buộc phải lạy vua Lê Thần Tông vào năm 1658, khi ông này sang An Nam xin viện trợ cho việc đánh Thanh. Từ có câu thơ ghi lại nỗi ấm ức này : "Mười năm hoang đảo lòng đan khổ / Một lạy vua man khí tiết hoen" (十年荒島心常苦,一拜夷王節又虧) [1]. Thời Lê, triều đình Việt áp dụng lễ của nhà Minh : Quan dân lạy vua, vua lạy trời, đều làm lễ "năm lạy ba rập đầu". Phan Huy Chú (潘輝注, 1782 - 1840) ghi nhận : "Năm lạy ba rập đầu là lễ thờ trời, tôn kính bề trên… người trong cả nước, nhỏ học lớn làm, xưa nay quen thuộc" [2]. Tuy nhiên, năm 1669, Thanh Khang Hy (康熙帝, 1654 - 1722) đặt ra lễ "ba quỳ chín rập đầu", bắt thiên hạ phải theo. Nghi lễ mới này trái với "quốc tục" theo quan niệm của nhà Lê, nên suốt từ năm 1669 tới năm 1761, việc dùng lễ "năm lạy ba rập đầu" hay "ba quỳ chín rập đầu" luôn là vấn đề gây tranh cãi giữa sứ Thanh và triều đình An Nam. Cụ thể áp dụng lễ nào sẽ do thái độ của từng ngài thiên sứ quyết định. Từ năm 1761 trở về sau, sau lệnh của Thanh Càn Long (乾隆帝, 1711 - 1799), vua Việt mới cam lòng sử dụng lễ "ba quỳ chín rập đầu" khi nhận chiếu sắc của vua Thanh [3].

    Xem lại cổ tịch ghi chép sử Việt, riêng thấy có hai vị vua không chịu lạy chiếu sắc của triều đình Trung Hoa, một là Lê Đại Hành (黎大行, 941 - 1005) và hai là Trần Nhân Tông (陳仁宗, 1258 - 1308).

    Khi gặp sứ Tống, bên cạnh một loạt động thái ngoại giao "đầu gấu" như tặng cặp hổ cho sứ ngắm, sai hơn chục người khiêng mãng xà dài mấy trượng tới tặng cho sứ ăn… Lê Hoàn nói "năm ngoái giao chiến với giặc mọi, ngã ngựa đau chân, nhận chiếu không lạy" [4]. Còn Trần Nhân Tông thì không một lần lạy chiếu của thiên triều, thậm chí ông còn dùng lễ quân vương, coi việc thiên sứ ngang hàng với vua Việt là "làm nhục triều đình". Tống sử ghi nhận, Trần Nhân Tông gửi thư cho Trung Thư sảnh nhà Nguyên, có đoạn viết : "Nước tôi kính vâng thiên triều, đã được phong vương, há không phải quân vương sao ? Sứ thần thiên triều lại nói quân vương và hắn, nghi lễ ngang hàng, e là làm nhục triều đình. Huống hồ nước tôi trước kia vâng chiếu chỉ, được theo tục cũ, phàm đón nhận chiếu thư, vâng đặt ở chính điện rồi lui lánh vào biệt thất, ấy là điển lễ cũ của nước tôi". Trung Thư sảnh phúc thư nói : "Liền mấy năm, sứ giả về nước đều nói : Vương lần nào tiếp nhận chiếu lệnh của thiên tử, chỉ đứng chắp tay không lạy ; gặp gỡ hoặc dự yến tiệc cùng sứ giả, chỗ ngồi còn ở trên sứ. […] Đến như chiếu của thiên tử, bề tôi phải lạy đón, đó là lễ nghĩa xưa nay, không được sai khác. Vậy mà lại nói : Trước vâng chiếu chỉ, thảy noi tục cũ, nước tôi tuân theo mà làm, phàm nhận chiếu lệnh, đều vâng đặt ở chính điện rồi lui lánh tới biệt thất, đó là điển lễ cũ vậy. Đọc đến đây, quả thực đột ngột kinh ngạc. Vương nói ra lời này, vương có yên lòng được không ? Điều chiếu chỉ trước nói tới, ý chừng trong vòm trời đất không chỉ có vạn nước, nước nào có tục nước ấy, bắt thay đổi ngay, có điều bất tiện, vậy nên cho phép dùng tục nước mình, nhưng lẽ nào lại lấy việc không lạy chiếu của thiên tử làm lễ tục hay sao ? Vả lại, mệnh lệnh của vương ban hành trong nước, bề tôi có kẻ tiếp nhận mà không lạy thì vương thấy thế nào ? Người quân tử quý ở chỗ sửa sai, ngẫm đến sự sáng suốt, vương xem lại cho rõ !" [5].

    Triều đình Việt luôn xây dựng đế chế mang tính chất "ngang hàng với Trung Hoa" [6], song ở đây, rõ ràng việc lạy hay không lạy chiếu của thiên triều còn mang một tầm ý nghĩa khác, vượt ra ngoài tư tưởng "chẳng kém Trung Hoa". Cái gọi là tục cũ "nhận chiếu không lạy" mà Trần Nhân Tông nói tới, phải chăng chính là tiền lệ Lê Đại Hành tạo ra ? Bởi từ sau Lê Đại Hành tới Trần Nhân Tông, chưa thấy ông vua Việt nào được mô tả không lạy chiếu của thiên triều.

    [1] "Giao hành trích cảo" (交行摘稿).
    [2] "Lịch triều hiến chương loại chí" (歷朝憲章類志).
    [3] "Ba quỳ chín rập đầu" và "Năm lạy ba rập đầu" : Tranh cãi về nghi lễ giữa triều Thanh và An Nam (三跪九叩与五拜三叩:清朝与安南的礼仪之争).
    [4] "Tống sử" (宋史).
    [5] "Nguyên sử" (元史).
    [6] "Triêu Tiên vương triều thực lục" (朝鮮王朝實錄).


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  11. Uillean

    Uillean Banned

    TRUYỆN VUA TRẦN HIẾN TÔNG HIẾN GÁI CHO SỨ TÀU

    Tối qua tôi đọc Kiên Hồ tập, thấy có đoạn chép mang tên "Thơ chối nàng hầu". Nội dung như sau : "Năm Nguyên Thống thứ ba [1335], Phó Dữ Lệ người Tân Dụ đi sứ An Nam, ngủ trong Thiên Sứ quán. Vua nước ấy [Trần Hiến Tông] cho đưa nàng hầu vào ngủ cùng, Dữ Lệ làm thơ từ chối rằng :

    Đêm trọ An Nam Thiên Sứ quán,
    Giai nhân rạng rỡ sắp mền chăn,
    Tro hương gió thoảng đưa qua chiếu,
    Hoa đuốc trăng in rọi xuống màn.
    Vương mẫu nhọc lòng xui cánh nhạn,
    Văn tiêu rộng bụng thả con loan,
    Thư sinh từ ấy lòng như sắt,
    Chớ khiến mây mưa ướt áo chàng."

    (詩卻侍姬。元綂三年。新喻傅與礪奉使安南。宿天使舘中。其國王以侍姬薦寢。與礪以詩卻之曰。夜宿安南天使舘。玉人供帳爛相輝。寶香燼起風過席。銀燭花偏月照幃。王母謾勞青鳥至。文簫先放綵鸞歸。書生自是心如鐵。莫遣行雲亂濕衣)


    [​IMG]

    Tôi bèn tra lại Nguyên thi kỷ sự, quyển 15, cũng thấy bài thơ này kèm lời chú của Phó Dữ Lệ : "Mấy đêm liền được [vua An Nam] cho nàng hầu đến, đều lập tức chối từ. Chúng tôi không phải lũ Đào Cốc, không nên thử bằng việc này" (連夕蒙遣侍姬,皆即辭卻。我輩非陶穀輩人,不宜以此見).

    Cũng theo Nguyên thi kỷ sự, bài mộ chí Tô Thiên Tước soạn cho Phó Dữ Lệ có đoạn viết : "Dữ Lệ nhận lệnh, đi tới An Nam. Người An Nam hay bày trò xảo trá để lừa sứ giả, có khi ra ngoại ô nghênh đón thết tiệc khao đoàn, có khi đưa nàng hầu trang sức lộng lẫy ra hầu rượu, ông đều chối từ cả" (蘇天爵撰傅與礪墓誌 :與礪受命,行至安南。安南人多設譎詐以紿使者,或郊迎張宴犒眾,或盛飾侍姬侑酒,君皆卻之).

    Trong khi Đảo di chí lược cho biết vào thời Trần (quãng 1330-49) : Người Tàu không được buôn bán trên đất ấy, riêng thuyền buôn trộm thì dừng lại ở mạn Vân Đồn, không được vào tới chợ quan, bởi sợ người Trung Quốc dòm ngó tình hình hư thực của nước ấy vậy (舶人不販其地,唯偷販之舟,止於斷山上下,不得至其官場,恐中國人窺見其國之虛實也).

    Đặt trong bối cảnh nhà Trần, có sự kiêng dè, thận trọng đề phòng người phương Bắc, tôi cho rằng, việc hiến gái cho sứ Tàu vào năm 1335, hẳn mang động cơ chính trị chứ không đơn thuần là mua vui cho sứ giả. Vẫn lưu ý thêm rằng, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ghi nhận, năm 1335, nhà Nguyên sai Lại bộ Thượng thư Thiết Trụ sang báo việc Nguyên Thuận đế đăng cơ.


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  12. Uillean

    Uillean Banned

    TRUYỆN MỸ NHÂN KẾ THỜI TRẦN MINH TÔNG

    Mấy hôm ốm, nằm đọc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (山居雜述), thấy mục "Sứ thần phương Bắc" có chép một truyện rất thú vị kể về anh sứ thần nhà Nguyên tên là Hoàng Thường, đem lòng yêu một mỹ nhân người Nam tên Hồng. Việc sắp cho Hồng gặp Thường và lấy lòng y là theo kế sách của nhà Trần, hòng để Thường về nói tốt với triều đình phương Bắc, khiến hai nước "thông hiếu dài lâu". Và có như vậy, Thường mới có thể quay lại thăm em Hồng nước Nam. Nguyên tác Hán văn vốn trau chuốt, nay xin trộm dịch như vầy :

    [​IMG]

    Thời Trần Minh Tông (陳明宗帝, trị vì 1314-29), Nam Bắc giảng hòa, sứ thần qua lại không ngớt. Bấy giờ người Bắc là Hoàng Thường nổi tiếng trong sạch, nhận đặc mệnh sang sứ. Triều đình tiếp đãi bằng lễ đặc biệt, chu đáo hết mực.

    Người tiếp sứ vâng lệnh vua gửi tới trăm lạng vàng, nói rằng : "Quả quân sai mỗ tới cảm ơn. Bắc triều không quên mối giao hảo với đức tiên quân, phái ngài lặn lội muôn dặm, hạ cố tới nước dưới. Ấp nhỏ hẻo lánh, không có gì đáp tặng, có chút vàng mọn, sai mỗ đem lạy tạ, xin dâng lên ngài !". Thường từ chối rằng : "Sứ thần đã có bổng lộc của triều đình, làm trái là nhục sứ mạng, dám xin chối từ !". Người tiếp sứ vâng mệnh vua gửi tới ba lần, Thường rốt vẫn chối. Người tiếp sứ về báo, vua tán thưởng mấy phen.

    Có triều thần tâu rằng : "Thần nghe, thư sinh nhiều ham muốn, thiếu cứng rắn. Xin hãy thử !". Bèn trang sức cho một mỹ nữ tên Hồng. Sai người tiếp sứ gửi lời : "Quả quân sai mỗ tới cảm ơn ngài, không quên mối giao hảo của hai nước, hạ cố tới tệ ấp, không lấy ai hầu hạ ở bên, hàn huyên coi sóc, làm nặng thêm nỗi lo của quả quân. Nay có cô gái không mấy nổi bật, sai lạy dâng lên, để hầu việc nâng khăn sửa túi". Thường khiêm nhường từ chối. Tiếp sứ nài xin, mới nghe theo. Thoạt cho ở ngoài sứ quán, mười ngày sau, cho vào trong.

    Bỗng nửa đêm nọ, cô gái buồn bã ngâm nga rằng :

    Quán lẻ đêm dài những xiết than,
    Trời thu hiu hắt mảnh trăng tàn.
    Xưa nay vẫn hận tri âm vắng,
    Giấc trọ bưu đình ngẫm vẫn hơn.

    Thường tuổi trẻ khảng khái, ẩn ức đã lâu, đến đây động lòng ham muốn, cảm xúc không thể khống chế, liền khinh suất chạy tới. Từ ấy ngày càng mặn nồng. Thường trêu bảo cô gái : "Đã hơn ở bưu đình chưa ?".

    Một hôm, nai nịt quay về phương Bắc. Cô gái khóc nói : "Chàng ở phương Bắc, thiếp sống biển Nam, vốn không can hệ, ngờ đâu có được niềm vui đêm nay. Bữa tiệc mặn nồng tình chửa hết, tháng ngày nào đã được bao lăm ? Lại sắp phải sớm mai ly biệt !". Đoạn gào khóc thảm thiết hồi lâu.

    Thường khóc nói với cô gái : "Phù sinh bấy chốc, nạn lớn khó sờn, một mai ly biệt, không đáng lo buồn. Song sớm móc đêm trăng, gối đơn đèn lạnh, không biết lấy gì an ủi nỗi cô liêu, ta muốn tặng nàng bài thơ, để những lúc nhớ nhung, đem ra ngâm vịnh, vơi bớt u hoài, được chăng ?". Đoạn đề thơ lên quạt, viết :

    Sớm mai sông Nhị biệt ly nhau,
    Ân ái đêm nay há ngại nhiều.
    Đến lúc nói lời nhung nhớ bấy,
    Hành Dương ngóng đứt biết làm sao.

    Cô gái trân trọng cất giữ, đáp rằng :

    Sông Tương trôi lệ thiếp,
    Non Lĩnh gửi tình chàng.
    Bắc triều hòa hiếu mãi,
    Sứ giả lại ghé sang.

    Thường cũng cảm thán trước tình ý nồng hậu của cô gái.

    Sớm mai tiễn biệt, người tiếp sứ đến đưa. Cô gái thoạt không đem thật tình kể lại, lát sau, bèn đem thơ được tặng dâng lên. Bởi vậy, giá giấy tăng vọt. Người đời sau có thơ rằng :

    Gió tiễn sứ trời tới Quảng đình,
    Trong lòng ngọc khiết lẫn băng thanh.
    Giang Nam một đốm hoa mai trắng,
    Khám phá Hoàng Hoa sắt đá tình.


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  13. Uillean

    Uillean Banned

    SỰ THAY ĐỔI NGỮ NGHĨA CỦA TỪ "TÔI"

    [​IMG]

    "Tôi" vốn có nghĩa là "phận tôi tớ", "thuộc hạ", sau được dùng làm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, tỏ ý khiêm nhường, hạ thấp mình trước đối phương, tương tự như từ "thần" (臣), "bộc" (僕) trong tiếng Hán và tiếng Nhật.

    "Từ điển Việt - Bồ - La" ấn hành năm 1651 giải thích : “Tôi : Đầy tớ, gia nhân, thuộc hạ. Làm tôi. Cùng một nghĩa. Tôi tá : Tôi tớ“, “Tôi : cách nói khiêm hạ. Tôi lạy ông : Tôi tôn kính sự làm chủ của ông” [1].

    Giáo sĩ Marini ở Đàng Ngoài năm 1646 - 1658, ghi lại hình thức chào của người Việt cho biết : Khi gặp vua người Việt thưa “Tôi tâu đúc bua” (Tôi tâu đức vua), gặp chúa thì thưa “Tôi đọû ciúa” (Tôi dộng chúa), với hoàng tử và các quan đại thần thì thưa “Tôi thân đúc ôû” (Tôi thân đức ông), và với những người có địa vị cao hơn mình thì thưa rằng “Tôi cièng” (Tôi chiềng) [2].

    Ðỗ Thế Giai (1709 - 1766), vị quan võ thời Lê trung hưng, trong các tờ khải điều trần của mình, dâng lên vua Lê chúa Trịnh bao giờ cũng mở đầu bằng câu : “Tôi cẩn khải vâng lạy đức bề trên” [3].

    Lê Chất (1769 - 1826), võ quan triều Tây Sơn sau theo nhà Nguyễn, trong tờ tấu chữ Nôm gửi lên vua Gia Long, thưa rằng : “Tấu vái đức hoàng thượng muôn muôn năm cao minh ngự lãm“, cuối tờ tấu viết : “Chúng tôi thật lo thật sợ cúi vái. Đức hoàng thượng muôn muôn năm. Ngày 10 tháng 12 năm Gia Long thứ 16 [1817]. Bề tôi Lê Tông Chất cẩn tấu” [4].

    Đại từ này về sau dần thay đổi ngữ nghĩa, chuyển từ thái độ khiêm hạ sang ngang hàng, được sử dụng trong những trường hợp lịch sự, quan phương. Tôi cho rằng sự thay đổi này chỉ diễn ra vào quãng bốn năm chục năm trở lại đây mà thôi. Bởi bạn tôi (tầm 40 tuổi) theo đạo, thường nói họ luôn băn khoăn không hiểu sao ngày bé khi vào nhà thờ, họ lại xưng là tôi trước Chúa, còn giờ thì nhất loạt đổi dùng từ con. Duyên do đại thể là như vậy !

    Bên cạnh từ tôi, người Việt còn sử dụng những từ như ta, tao, min, qua… để tự xưng. Theo "Từ điển từ cổ" của Vương Lộc :

    ◆ Qua : Từ người chồng tự xưng với vợ hoặc người lớn tự xưng với người ít tuổi. Thí dụ : “Qua xem tướng bậu ngây thơ đã đành” (Lục Vân Tiên), “Bậu nói với qua bậu không lang chạ / Vỡ lở ra rồi đành dạ bậu chưa” (ca dao).

    ◆ Min : Từ người trên tự xưng khi nói với người dưới ; ta, tao. Thí dụ : “Kể tuổi nhà min ngoại bốn mươi / Văn min khấp khểnh, học min lười” (“Thi cơm rượu” – Tú Xương), “Này này sự đã quả nhiên / Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi” (Kim Vân Kiều).

    ◆ Phô : Từ dùng trước một số danh từ, đại từ để diễn đạt ý nghĩa số nhiều ; các, chúng. Thí dụ : “Phô người học đạo, vô số nhiều thay” (Thiền tông bản hạnh), “Phô ngươi, phô nuôi” (Đại Nam quốc âm tự vị), “Nhắn nhủ phô bay đạo cái con” (Quốc âm thi tập). “Phô bay xét nghe…” (Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh), “Tôi đã nói ra cùng phô ông…” (Phép giảng tám ngày), “Bấy nhiêu lời cha đã nói là lời trối sau hết thì phô con phải giữ” (Sách sổ sang chép các việc).

    "Từ điển Việt - Bồ - La" năm 1651 giải thích :

    ◆ Ta : Người bề trên nói như vậy với những người bề dưới, nhưng phải là những người bề dưới trang trọng.

    ◆ Tao : Người trên nói với những người rất thấp như cha nói với con, người quyền quý nói với tiện dân.

    "Thiền tông bản hạnh" do sư Chân Nguyên (1647 - 1726) soạn, kể về hành trạng của vua Trần Nhân Tông, có những đoạn hội thoại giữa vua Nhân Tông với tùy tùng, với các quan. Ở đây vua tự xưng là TAO, gọi kẻ dưới là BAY. Thí dụ : "Thị tòng bay đi cùng tao, thăm xem dân thế dường nào cho hay". "Nhân Tông mỉm cười thốt ra : […] Lòng tao quảng độ chúng sinh, Đầu Đà khổ hạnh giáo thanh truyền đời", "Nhân Tông thốt bảo rằng : Bay ! Lòng tao thuở này muốn tới Ngọa Vân […] Gọi lấy Bảo Sát cho tao, có lời được nhủ tiêu hao mọi lòng […] Pháp Loa tao đã truyền lòng, làm đệ nhị tổ nối dòng Như Lai".


    1. "Từ điển Việt - Bồ - La" của Alexandre de Rhodes.

    2. Bản báo cáo "Sứ mệnh của những nhà truyền giáo Dòng Tên tại Nhật Bản, đặc biệt là nhiệm vụ tại Đàng Ngoài" của Cha Marini. Dẫn theo "Những lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Nam". Lưu ý :

    Dộng : Từ thưa gửi với chúa Trịnh. "Từ điển Việt - Bồ - La" : “Tiếng danh dự mà bất cứ ai bắt đầu thưa với chúa xứ Đông Kinh. Dộng chúa muôn năm ; Làm khải dộng chúa”. Thái tử quỳ dộng chỉnh tề (Phạm Công- Cúc Hoa). Thân (申) : Nói. Chiềng : Tức trình (呈), thưa gửi với người trên ; Chiềng làng chiềng chạ, Thượng Hạ Tây Đông.

    3. Gia phả họ Ðỗ ở thôn Ðông Ngạc (杜族家譜 / Đỗ tộc gia phả).

    4. Dẫn theo Tạp chí Hán Nôm số 6 (121) / 2013.


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  14. Uillean

    Uillean Banned

    Lần nào viết chữ cũng thầm "trách" các cụ răng đen đã tạo ra cái truyền thống "bò viết".

    Thời Lý - Trần trở về trước không rõ thế nào, chứ Lê - Nguyễn về sau y hệt nhau, giờ đây tiếp tục "di hại" đến đám hậu sinh thời [email protected] Không phải ở ta không có bàn ghế, chỉ là nhiều khi quen bò ra như thế.

    Năm 1688, tay sứ thần nhà Thanh là Phan Đỉnh Quế (潘鼎桂, ? - ?) đã mô tả cách viết chữ ở ta như thế này : "Khi viết thì trải chiếu ngồi đất, hai cổ tay không cùng tì lên chiếu, tay trái giữ giấy, còn tay phải đưa bút. Dẫu làm đối sách thi Đình, viết chữ nhỏ chân phương cũng đều như vậy. Cực kỳ khó !" (安南雜紀 / An Nam tạp kỷ).

    [​IMG]

    Từ phải qua trái :

    1. Tranh thời Lê trung hưng.
    2. 4. Ảnh chụp thời Nguyễn.
    3. Tranh của họa sĩ Mai Trung Thứ đầu thập niên 1970.
    5. Ảnh chụp thời Cộng Phú Trọng.


    Nửa đêm sang trại chuối nhấp dăm chén, dạo vài dây. Đoạn, viết bốn chữ "Bạch lộ vong cơ" (白鷺忘機 / Cò trắng quên mọi sự máy móc), lấy tứ từ tên một khúc cổ cầm.

    Con người sở dĩ khổ là vì suy nghĩ nhiều, là vì mang cơ tâm. Buông bỏ cơ tâm thì hòa với tự nhiên, vô ưu tự tại. Chợt nhớ câu thơ của Cao Bá Quát khi nhận ra 69 năm trời sống sai sống uổng : "Văn đạo Hồng phong dục hồi thủ ; Khởi ưng lục thập cửu niên phi !" (Nghe nói non Hồng mong ngoảnh lại ; Sáu mươi chín năm trời chẳng nhẽ sai !) Một quá khách tới chùa Thiên Mụ lại đề thơ viết : "Khả liên tam bách niên cơ nghiệp ; Bất cập sơn tăng nhất mộng trường" (Thương thay cơ nghiệp ba trăm tuổi ; Chẳng sánh sơn tăng giấc mộng dài).

    Tóm lại là, chẳng có gì quan trọng và đừng suy nghĩ gì nhiều !

    [​IMG]

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  15. Uillean

    Uillean Banned

    CỔ CẦM

    Cầm, đứng đầu trong tứ nghệ cầm - kỳ - thi - họa, được coi là biểu tượng cho sự cao nhã trong giới sĩ phu trước đây.

    Cầm (琴) thoạt tiên có 5 dây, người thời Hán chế thành 7 dây (nên về sau còn được gọi là Thất huyền cầm [七弦琴]), 13 Huy (徽 / âm vị trên Cầm, được đánh dấu bởi 13 nốt tròn và khảm chìm trên mặt đàn). Loại đàn trong giai thoại tri âm tri kỷ giữa Bá Nha - Tử Kỳ với khúc "Cao sơn lưu thủy" (高山流水) chính là Cầm. Từ đầu thế kỷ XX, "cầm" trở thành từ phiếm chỉ các loại đàn nói chung, đàn Cầm truyền thống lúc này được gọi là Cổ cầm (古琴).

    Tại Nhật Bản, Cầm (しちげんきん / Shichi-gen-kin) du nhập từ thời Nara (奈良時代, 710 - 794) và từng nằm trong dàn nhã nhạc. Về sau văn hóa Cầm lụi tàn, chỉ được dùng để bày biện. Đến thời Edo (江戸時代, 1603 - 1868), Cầm được phục hưng và số "Cầm sĩ" tại Nhật Bản bấy giờ tính ra hơn 600 người. Tuy nhiên, sau đó cũng lại suy tàn. Thời cận đại, giáo sư - nhà nghiên cứu âm nhạc Shigeo Kishibe (岸辺成雄 / Ngạn Biên Thành Hùng, 1912 - 2005) đã có công tái hoằng dương văn hóa Cầm.

    Tại Việt Nam, Cầm được truyền vào từ thời nào chưa rõ. Theo ghi nhận của Lê Trắc (黎崱, ? - ?), các loại đàn như Cầm - Tranh - Tì bà trước năm 1285 (năm Lê Trắc chạy sang Trung Hoa) được coi là Tiểu nhạc (小樂), người sang kẻ hèn đều có thể sử dụng [1]. Thời Trần Anh Tông (陳英宗, 1276 - 1320), viên quan Độc bạ là Trần Cụ (陳器, ? - ?) giỏi đánh Cầm, hoàng đế sai dạy cho Thái tử - người về sau là hoàng đế Trần Minh Tông [2]. Và sau này, trong bài thơ "Hạnh ngộ" (幸遇), Trần Minh Tông (陳明宗, 1300 - 1357) viết :

    平生曾蓄一張琴,
    埋沒塵埃歲月深。
    幸遇伯牙高妙手,
    更教山水嗣徽音。

    Bình sinh tằng súc nhất trương cầm,
    Mai một trần ai tuế nguyệt thâm.
    Hạnh ngộ Bá Nha cao diệu thủ,
    Cánh giao sơn thủy tự huy âm.

    Đời ta từng giữ một cây cầm,
    Cát bụi chôn vùi bao tháng năm.
    May gặp Bá Nha sành khúc điệu,
    Khiến cho sơn thủy nối huy âm.

    Trong khoảng 20 năm Minh thuộc (時屬明, 1414 - 1427), Huấn đạo Phạm Nhữ Dực (范汝翊, ? - ?) cũng là người biết chơi Cầm. Ông có thơ viết : "Đêm lạnh vẳng trong thất huyền cầm" (夜寒響入七絃琴 / Dạ hàn hưởng nhập thất huyền cầm). Đến thời Lê trung hưng, theo kiến văn của Phạm Đình Hổ (范廷琥, 1768 - 1839) thì không còn ai biết chơi Cầm nữa, cũng không thấy sự hiện diện của Cầm trong những ghi chép liên quan đến âm nhạc triều Lê. Theo Phạm, "Cầm thời xưa chỉ có Nguyễn Sĩ Cố thời Trần biết chơi". Triều Nguyễn, theo phong trào phục cổ, đã đưa Cầm vào dàn nhã nhạc, nhưng chỉ dùng khi tế trời [3]. Song diễn tấu thế nào thì những nhạc công còn sống hiện nay cũng không có ai tỏ tường.

    Chừng dăm năm trở lại đây, đếm đầu ngón tay cũng có người Việt học chơi Cầm. Trong Nam có thiền sư Thích Minh Đức tự làm được Cầm, từng diễn tấu tại Vũ Hán (Trung Quốc) ; đạo nhân Tùy Bạch Âu từng đóng cửa mấy năm trên núi tự học được Cầm ; Lạng Sơn có Đặng Nguyên Thọ là đệ tử tái truyền của Cầm sư - ẩn sĩ Trần Hi Trình (陳熙程) người Hàng Châu (Trung Quốc) ; Hà Nội có anh Nguyễn Văn Hải và tôi tự học Cầm, gần đây còn lập nên nhóm Thiên Nam cầm xã trên Facebook làm chốn giao lưu - học hỏi giữa những người yêu thích Cầm tại Việt Nam.

    [​IMG]

    [1] "An Nam chí lược" (安南志略), nguyên văn nhắc đến Cầm và cả một loại nhạc cụ khác tên là Thất huyền. Cầm (Thất huyền cầm) và Thất huyền đương thời là hai loại nhạc cụ khác nhau, điểm chung duy nhất là đều có 7 dây.

    [2] "Đại Việt sử ký toàn thư" (大越史記全書) - Kỷ nhà Trần.

    [3] "Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ" (欽定大南會典事例) ghi nhận : Dàn nhã nhạc triều Nguyễn có 2 cây Cầm, 2 cây Sắt đặt ở hai bên tả hữu. Trong tấm ảnh chụp lễ tế Giao năm 1916 có thể thấy Cầm - Sắt được đặt bên cạnh những dàn Biên Khánh, Biên Chung.

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  16. Uillean

    Uillean Banned

    THÀNH DÂN TỘC LỚN
    TỪ NHỮNG BÀI HỌC RẤT NHỎ

    Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc từng là những nước đồng văn. Hàng nghìn năm qua, các quốc gia này có mối quan hệ phức tạp, có tương tác, giao lưu, ảnh hưởng tích cực ; có xâm lấn, cai trị, lệ thuộc, tác động tiêu cực… Nhưng khác hẳn Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc đã có những bước đi ngoạn mục, vượt thoát khỏi những ảnh hưởng, kiềm tỏa của Trung Quốc, trở thành quốc gia phát triển hùng mạnh, có ảnh hưởng lớn trong khu vực, với cả Trung Quốc và thế giới. Bài phỏng vấn dưới đây do báo Người Đô Thị thực hiện, trong đó, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Quang Đức sẽ chia sẻ những quan sát của anh về kinh nghiệm “thoát Tàu” của người Hàn Quốc.

    [​IMG]

    PV : Thưa ông, để vượt thoát những tác động tiêu cực trong mối quan hệ với một nước lớn như Trung Hoa, người Hàn và người Nhật đã làm gì để tự cường ?

    TQĐ : Về đường lối chính trị, Nhật Bản luôn đi một đường riêng, ngay trong quá khứ cũng không có mối quan hệ tông chủ – phiên thuộc đối với Trung Quốc. Còn ở bán đảo Triều Tiên, nửa đầu thế kỷ XX, sau khi thoát khỏi sự đô hộ của Đế quốc Nhật Bản, miền Nam theo đường lối tư bản – thân Mỹ, trở thành Đại Hàn Dân quốc. Với một nền chính trị dân chủ, không chịu sự chi phối từ phía Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã có những chính sách tự cường thành công, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Trước đây, cả hai nước đều từng nhập siêu từ Trung Quốc nhưng sau đó đã đẩy mạnh sản xuất trong nước, cổ vũ người dân sử dụng hàng nội địa. Với tinh thần cầu thị, họ đã tạo nên những thương hiệu có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới.

    PV : Thành Seoul xưa được xây theo nguyên mẫu thành Tây An đời Đường của Trung Quốc, nhưng Hàn Quốc ngày nay mang nhiều dấu ấn Âu hoá trên nhiều lĩnh vực. Phải chăng thân phương Tây là một định mệnh với Hàn Quốc ?

    TQĐ : Điều chắc chắn mà tôi có thể trao đổi là trong quá khứ, các triều đại phong kiến ở bán đảo Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản đều từng yêu chuộng văn hóa cung đình Trung Hoa, đặc biệt là các triều đại Đường – Tống – Minh. Không chỉ có thành Seoul (Hán Thành), kinh đô Nara (Nại Lương) của Nhật Bản cũng có nguyên mẫu là thành Tây An thời Đường. Ở ta, thành Thăng Long thời Lý cũng được xây dựng phỏng theo mô hình kinh đô Lạc Dương, Khai Phong thời Tống ; hoàng thành Huế được mô phỏng theo mô hình Tử Cấm Thành thời Minh. Đối với những quốc gia chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Hán thì phong thủy, Kinh Dịch hiển nhiên là những lý niệm không thể thiếu khi xây dựng cung điện, nhất là khu hoạch kinh đô. Người Hàn còn đưa Thái cực đồ vào quốc kỳ, thể hiện quan niệm cổ của người phương Đông về trời đất, vạn vật. Tuy nhiên, thời đại ngày nay, những giá trị mà văn hóa phương Tây đem lại có sức hút rất lớn đối với các quốc gia châu Á, nhất là những nước vốn có truyền thống bảo thủ. Chúng ta thấy một Nhật Bản đã thành công trong việc học tập, xây dựng nhà nước theo mô hình phương Tây. Hàn Quốc cũng đã và đang trở thành một trong những cường quốc châu Á. Vấn đề Âu hóa theo tôi là định mệnh không chỉ đối với Hàn Quốc.

    PV : Ở Seoul, trước cửa tòa nhà quốc hội, người Hàn vẫn lưu giữ, bảo tồn cổng Đại Hán. Ở các tỉnh, thành phố khác, trước đầu làng cổ vẫn có chữ Hán khắc trên bia đá. Trong gia đình người dân, trong góc trang trọng nhất vẫn treo những bài thơ chữ Hán, kể cả thơ của các thi sĩ nổi tiếng Trung Hoa. ông cảm nhận gì về điều này ?

    TQĐ : Trước tòa nhà quốc hội Hàn Quốc có cổng đề ba chữ “Đại Hán môn” (cửa Đại Hán). Điều này gắn liền với một quan niệm thời phong kiến, quan niệm Hoa – Di. Vua quan, sĩ phu Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản đều từng tự nhận là Hoa Hạ, không muốn bị gọi là man di. Các khái niệm Hoa, Hạ bấy giờ thường mang hàm ý văn hóa, chứ chưa đặc chỉ huyết thống hay chủng tộc. Khi nhà Thanh diệt nhà Minh, triều đình Triều Tiên và nhà Nguyễn Việt Nam đều cho rằng vương triều mình kế thừa và gìn giữ văn hóa Trung Hoa chính thống, đều tự nhận là Hoa là Hán, với nghĩa là truyền nhân của văn hóa Trung Hoa. Kinh đô của Triều Tiên được gọi là Hán Thành, Hán Dương. Con sông chạy qua Hán Thành gọi là Hán thủy, Hán giang (cái gọi là “kỳ tích sông Hàn” đúng ra phải gọi là “kỳ tích sông Hán”). Phía Nam kinh thành gọi là Nam Hán. Hàn Quốc và Nhật Bản chuyển trực tiếp từ chế độ phong kiến sang tư bản, không có đấu tố, cải cách ruộng đất, cách mạng văn hoá hay các phong trào phản đế, phản phong. Nếp sống, thị hiếu, thẩm mỹ của người dân không bị định hướng, lên án, chụp mũ để rồi bị đánh hội đồng… Do vậy, nhiều truyền thống trước đây được lưu giữ và nâng tầm để trở thành những nét đẹp văn hóa của Hàn – Nhật. Họ không bài xích cực đoan. Những bài thơ chữ Hán nổi tiếng của người bản địa hay người Trung Quốc vẫn được dẫn dụng, được thể hiện trên các bức thư pháp, bình phong làm vật trang trí. Bởi tất cả những yếu tố văn hóa Trung Hoa trong quá khứ đều góp phần tạo nên văn hóa Hàn, Nhật của ngày hôm nay. Nhật Bản vẫn sử dụng chữ Hán chứ không mang định kiến đó là thứ văn tự vay mượn.

    PV : Rất công phu, cẩn trọng trong việc tìm kiếm nguồn tri thức cổ, ông tìm thấy gì trong những giá sách Seoul ? Những tác phẩm nào gây cho ông ấn tượng mạnh mẽ về thái độ tự tôn tinh thần dân tộc của người Hàn ?

    TQĐ : Tôi từng có một số bài viết nói về tinh thần dân tộc Hàn thể hiện trong học thuật. Do quốc thổ gắn liền với Trung Quốc, có sự giao lưu văn hóa với Trung Quốc từ rất sớm, về sau lại từng tự nhận là truyền nhân của văn minh Hoa Hạ, đến khi chủ nghĩa dân tộc hình thành và được đẩy mạnh vào đầu thế kỷ XX, người Hàn đã phản tư, nhìn nhận lại nguồn gốc dân tộc, về nền văn hoá Hàn, nhiều học giả đã chứng minh ngược lại rằng : chữ Hán, Kinh Dịch, tết Đoan Ngọ, Trung thu… đều do người Hàn Quốc tạo nên. Vừa rồi tới hiệu sách Kyobo, tôi vẫn thấy nhiều cuốn sách khảo cứu dạng này. Tuy nhiên, gần đây độ “hot” của nó đã giảm đi nhiều. Ở Việt Nam ta hiện nay cũng đã có những khảo cứu kiểu như vậy, và có thể nói, ngay cả chủ nghĩa dân tộc trong học thuật thì ở ta vẫn lạc hậu so với Hàn gần 50 năm.

    PV : Ông từng có những bài viết khảo cứu và bày tỏ thái độ trước những phản ứng cực đoan về việc sử dụng đèn lồng Trung Quốc. Cảm giác của ông thế nào khi vào thăm bảo tàng giấy Hanji ?

    TQĐ : Càng phản ứng cực đoan, càng thể hiện sự thiếu hiểu biết và nỗi sợ hãi. Đơn cử như đèn lồng, loại đèn thắp sáng được sử dụng lâu đời ở vùng Đông Á. Thay vì nhập khẩu loại đèn lồng đỏ rẻ tiền từ Trung Quốc, người Hàn và Nhật vẫn làm ra đèn lồng theo kiểu cách của họ. Người Hàn sử dụng loại giấy dó Hanji để tạo ra những chiếc đèn có kiểu dáng khác nhau, đẹp điển nhã, trang trọng, vượt xa loại đèn lồng đỏ do Trung Quốc sản xuất. Trong khi ở ta, chưa nói đến việc sử dụng giấy dó để tạo ra các sản phẩm khác nhau, chỉ riêng việc người Việt xưa có dùng đèn lồng hay không, nhiều nhà nghiên cứu, trí thức cũng không nắm rõ, thậm chí nhiều người còn cao giọng nói đèn lồng chỉ là sản phẩm của văn hoá Tàu. Tôi đã tìm hiểu về đèn lồng Việt. Tôi tán đồng quan điểm không nên nhập đèn lồng từ Trung Quốc. Song thay vì phản ứng cực đoan, bài xích một cách vô tri, ta hãy tìm hiểu kỹ càng trước đã. Cần khuyến khích sản xuất, tiêu thụ mặt hàng truyền thống ở trong nước.

    PV : Khi tới thăm nhà máy mỹ phẩm lớn nhất, thành công nhất Hàn Quốc của ông chủ người Hàn Osan Sulwhasoo, ông có tìm thấy mối liên hệ nào giữa tình yêu của người mẹ với quá trình phát triển thương hiệu mỹ phẩm gắn liền cùng biểu tượng hoa trà này không ?

    TQĐ : Tôi có một cảm nhận rất rõ từ người dân Hàn Quốc : mọi sự thành công của họ đều được tạo tựu trên nền tảng truyền thống, gia đình. Một bông hoa trà người mẹ cài lên áo người con, sau này trở thành biểu tượng của cả một thương hiệu lớn. Dù sở hữu cơ ngơi đồ sộ với những nhà máy, xưởng sản xuất hiện đại, được thiết kế đẹp mắt, nhưng ông chủ tập đoàn đã dành một nơi đẹp nhất, trang trọng nhất, là bảo tàng mỹ phẩm Sulwhasoo, để lưu giữ hình ảnh khu bếp người mẹ thường nấu năm xưa. Những thước phim cảm động ở đây cho người xem được tận mắt chứng kiến quá trình trưởng thành của ông, cũng như sự tri ân vô cùng của ông đối với mẹ, đối với quê hương mình.

    PV : Là tác giả Ngàn năm áo mũ, một công trình nghiên cứu về lịch sử – văn hóa, cụ thể là trang phục dân tộc, ông đã tìm kiếm được điều gì mới mẻ khi đi thăm các bảo tàng, trung tâm văn hoá, làng cổ, chợ… ở Hàn Quốc ?

    TQĐ : Tôi nhận thấy ở các bảo tàng, làng cổ, chợ Dongdaemun hay Namdaemun, mặt hàng thủ công truyền thống Hàn Quốc được bán rất chạy. Người Hàn Quốc cũng rất biết kinh doanh dựa trên các mặt hàng này. Hình nộm vua – hoàng hậu, quạt giấy, kẹp sách mang hình ảnh đặc trưng của Hàn Quốc, thiệp hay phong bì in tranh quốc họa, giấy bọc in mờ những trang sách cổ của Hàn Quốc… đều hết sức trang nhã, mỹ quan. ẩn sau những hình ảnh này là sự trân trọng, phát huy tích cực từ văn hóa cổ truyền của người Hàn Quốc. Để có thể trở thành một dân tộc lớn, chúng ta phải bắt đầu từ những bài học rất nhỏ. Mỗi người Việt hãy tự thay đổi mình từ một cách nhìn, cách nghĩ, một thái độ ứng xử. Đó chắc chắn không phải thái độ mặc cảm, tự ti, một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi, dễ bị kích động. Đó phải là năng lực tri nhận, gạt bỏ những điều cổ hủ, lỗi thời. Đó là thái độ trân trọng, biết đón nhận, tiếp thu tất cả những giá trị cao đẹp của mọi nền văn hóa, trong đó có văn hóa Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản. Đó là tinh thần, khát vọng trở thành một dân tộc lớn, tự cường.
     
  17. Uillean

    Uillean Banned

    GHÉT TÀU NHƯNG CHẲNG KHÁC TÀU

    Chùa thờ Phật, nhà nguyện thờ Chúa, theo lẽ đương nhiên, văn miếu thờ Khổng. Có người nói, chỉ nên thờ Chu Văn An và các vị tiến sĩ khoa bảng Việt Nam, vậy xin hỏi, Chu Văn An hay tiến sĩ nho cử nước Việt bao đời nay có tư tưởng nào khác, siêu việt ra ngoài phạm vi tư tưởng - đạo đức của Khổng giáo, hay chỉ là những tín đồ ngoan đạo, răm rắp kính ngưỡng bậc thầy muôn đời của mình ? Nếu tư tưởng đã là một, chỉ vì ông thầy là phường ngoại bang mà dập thầy thờ trò, cũng chẳng khác nào bỏ Thích Ca mà thờ Nhất Hạnh, bỏ Mác-Lê mà thờ độc ông Hồ. Sự ấy, suy cho cùng, là một thứ tư duy nhược tiểu, bệnh hoạn !

    Với thảm trạng tinh thần của quốc dân hiện nay, chưa phải lúc nghe lọt những điều tích cực từ cổ học. Chẳng cần biết tư tưởng nhân văn của Khổng, và bất cần một cái văn miếu mới, dù nó chỉ mang tính chất địa phương. Chỉ biết trước mắt, biển đảo bị hiếp đáp, nhà cầm quyền trong gần hai chục năm trở lại đây chưa thể hiện được sự cứng rắn, nghiêm khắc cần thiết với người đồng chí phương Bắc (mà trớ trêu thay, sự cứng rắn ấy lại nhằm vào quốc dân). Quốc dân "bó tay" với chính trị, đành phát tiết vào tư tưởng, văn hóa. Nhưng càng phát tiết, càng thể hiện sự trống rỗng và nhược tiểu ; rốt cuộc chỉ biết căm ghét mù quáng.

    Nói cho rốt ráo, nút thắt chính trị không được cởi, thảm trạng tinh thần này sẽ còn tồi tệ hơn nữa. Nút thắt chính trị không được cởi, đừng nói đến việc chấn hưng văn hóa, hoằng dương cổ học, đừng nói đến việc dung hội văn hóa Đông-Tây. Nút thắt chính trị không được cởi, một dân tộc nhỏ sẽ chẳng có cơ hội để trở thành dân tộc lớn, và càng không có cơ hội để trở thành một nước lớn, mãi mãi giằng xé trong một mối thù ghét bệnh hoạn. Ghét Tàu nhưng chẳng khác gì Tàu !

    [​IMG]
    Khổng thánh miếu (tức Văn miếu) ở Sài Gòn những năm 1960
    thời Việt Nam Cộng Hòa, tọa lạc trung tâm Thảo Cầm viên.

    Ngày 15 tháng 8 năm 2012, hai chiếc tàu hải bảo của Nhật Bản đâm bẹp đầu tàu Trung Quốc khi tàu này đi vào lãnh hải đang tranh chấp giữa hai nước, lập tức dấy lên làn sóng biểu tình tẩy chay Nhật Bản và hàng hóa Nhật Bản rầm rộ khắp Trung Quốc dưới sự hậu thuẫn của chính phủ. Một loạt cửa hiệu Nhật phải đóng cửa tại Trung Quốc, nhiều chiếc xe Toyota bị đập vỡ, lật đổ trên đường sau khi đám biểu tình đi ngang qua. Dân Trung Quốc dùng đủ biểu ngữ với những lời lẽ nặng nề nhất lăng mạ Nhật Bản, như "Oa cẩu" tương tự "chó Khựa" mà người Việt vẫn dùng với người Tàu. Tôi nói "người Việt ghét Tàu nhưng chẳng khác gì Tàu" là ở chỗ đó !

    Trong khả năng của mình, tôi luôn gắng giải thích để nhiều người Việt hiểu rằng văn hóa Hán tự, Khổng học... không phải của riêng Trung Quốc, sau khi hòa nhập và bản địa hóa thì nó đã là sản phẩm văn hóa chung của cả vùng Đông Á trong hơn 2000 năm nay. Các trí thức Việt - Hàn - Nhật đã xử dụng chúng để sáng tác văn chương, ghi chép đời sống xã hội nước mình. Lịch đại chính thể quân chủ ở Việt Nam cũng luôn tự nhận là chủ thể thừa kế văn hóa Hoa Hạ không kém đế quốc phương Bắc, cũng như ngày nay, không ai quan niệm Yoga chỉ thuộc quyền sở hữu của riêng Ấn Độ. Bởi vậy, Hàn Quốc và Nhật Bản vẫn coi trọng quốc học, Hán tự, bất cần biết nó có gốc gác từ đâu, và anh láng giềng sát vách hiện đang rêu rao và làm những gì.

    Còn ở Việt Nam, bất kỳ thứ văn hóa, tư tưởng nào có vẻ nguồn gốc từ phương Bắc, đều đang tự tạo ra xu hướng bị tẩy chay, phủ định sạch trơn ; hệt như thái độ của Trung Quốc đối với Nhật Bản. Chính cái tinh thần dân tộc tưởng cao siêu nhưng kỳ thực nhược tiểu này, người Việt cũng rất giống người Tàu. Càng ghét Tàu càng giống Tàu, thế cho nên muốn khác Tàu thì ngay từ cách hành xử, suy nghĩ phải hơn Tàu, đặc biệt đừng sợ Tàu. Muốn làm được việc đó, chỉ có một cách là khai trí, canh tân giáo dục. Song muốn canh tân giáo dục cho rốt ráo, trước tiên phải canh tân thể chế. Nút thắt chính trị không được cởi, sẽ chẳng thể làm bất kỳ điều gì. Dân trí thấp nên quan trí cũng thấp, và ngược lại. Bụng dạ hẹp hòi, cư xử vô văn hóa, thiếu trí tuệ thì chẳng khác gì nhau. Nhật Bản thì đã ở một vị thế hoàn toàn khác chúng ta !

    [​IMG]

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/2/22
  18. Uillean

    Uillean Banned

    NGƯỜI VIỆT GIẢO TRÁ

    GIẢO TRÁ được coi là một trong những nét tính cách nhất quán của người Việt được mô tả trong nhiều sử liệu của Trung Hoa và Triều Tiên thời trung đại ("Yên hành lục" của sứ bộ Triều Tiên viết : “người nước ấy khinh bạc, giảo trá, không đôn hậu“. Sẽ khá tốn giấy mực nếu liệt kê những thư tịch như thế này). Thực tế cho thấy, đứng ở lập trường Trung Hoa để soi xét thì triều đình Việt quả thực đã có nhiều hành động mang tính “giảo trá”, lừa dối Trung Hoa. Mà theo tôi, đây lại chính là một trong những phương thức, thái độ ứng xử của triều đình Việt nhằm giải quyết mâu thuẫn - một mặt cam chịu làm bề tôi, làm nước phên giậu chầu cống Trung Quốc, một mặt vẫn giữ vững vị thế của một đế quốc phương Nam, có quyền tự chủ như nhận định của "Hoàng Minh đại sự ký" : “Người An Nam hung hãn hiếu chiến, vua chúa giảo trá nhất […] tuy chầu cống xưng thần, nhưng tự làm hoàng đế trong nước, giống chuyện cũ Triệu Đà” ("Hoàng Minh đại sự ký" - quyển 15).

    Không hiểu sao khi đọc những dòng nhận định của "Hoàng Minh đại sự ký", tôi lại nghĩ ngay tới Trần Nhân Tông. Thay vì tán thán thiện hạnh và lòng từ bi của ngài, tôi thưởng thức những cơ mưu “giảo trá” của ngài. Từ việc mượn cớ có tang, tự xưng “cô” với sứ Tàu, đến việc cho thuyền ra biển giết Ô Mã Nhi rồi báo với thiên triều : dù đã tận tình cứu vớt, nhưng chỉ cứu được đàn bà, bởi phàm vật nhẹ thì nổi lên, nặng thì chìm xuống ; cho đến những tờ tấu biểu ông gửi cho vua Nguyên Hốt Tất Liệt, từ chối việc phải đích thân sang chầu như thế tử Cao Ly đương thời. Hai tờ biểu gửi Hốt Tất Liệt vào năm 1278 và 1292 ("An Nam chí lược" - quyển 6), có đoạn viết :

    [​IMG]

    「Năm Chí Nguyên thứ 15 (tức 1278) […] thiên sứ […] cùng đến tiểu quốc. Thần dẫn trăm quan, bày lễ đón rước, đốt hương lạy đọc, cúi trông chiếu thư, thấy dụ vào chầu, thần kinh hãi vô cùng. Vả sinh linh cả nước nghe được lời này, nhao nhao sợ mất vua. Chừng do thần sinh trưởng ở đất Việt Thường, khí chất mềm yếu, thủy thổ không quen, nắng mưa khôn chịu, dẫu được ngắm quang cảnh của thượng quốc, làm tân khách của triều đình, nhưng sợ dọc đường bất trắc, uổng phơi xương trắng, khiến lòng nhân từ của bệ hạ cũng phải xót thương mà thôi, không ích gì với thiên triều trong muôn một vậy.」

    「Năm Chí Nguyên thứ 29 (tức 1292) […] thần sinh trưởng ở cõi xa, thủy thổ không quen, nóng lạnh không tường, các sứ thần của tiểu quốc qua lại, chết vì lam chướng đến sáu bảy người. Nếu không lượng sức mình, ắt chết ở dọc đường, rốt không được việc gì cả. Vả lại, tiểu quốc chỉ là một nước man di thôi, phong tục kiêu bạc, thần một khi xa cách, con em không thể dung tha nhau. […] Ôi ! Người sống ở đời, nếu được gặp thánh nhân, thì sách nhà Phật bảo là “đại phúc”, sách nhà Nho bảo là “ngàn năm có một”. Thần há lại không muốn ngắm cảnh của thượng quốc, gội ơn của thánh triều, mà lại dám chống lệnh, để chuốc vạ mau chóng hay sao ! Nhưng có trời chứng giám, thực sự bởi lẽ thường tình ham sống sợ chết, thần cách thiên triều quá xa, đành đắc tội ở một xó.」

    Lời lẽ trong thư quả thực rất “trá” và tôi cho rằng các triều đại Trung Hoa đều biết rõ điều này. Liệu triều đình đương thời (☭) có đang áp dụng kinh nghiệm truyền thống này không ?

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  19. Uillean

    Uillean Banned

    CHÂN DUNG LÊ THÁNH TÔNG ĐẾ QUA SÁCH "MINH SỬ"

    [​IMG]

    ["Minh sử". Quyển thứ 321. Phần liệt truyện thứ 209. Ngoại quốc. An Nam]​

    Hạo (tức Lê Thánh Tông) kẻ hùng kiệt, tự phụ nước giàu binh mạnh, liền tự cao tự đại. Năm thứ tư (1468) đánh chiếm Bằng Tường, Quảng Tây. Hoàng đế nghe tin, lệnh cho quan trấn thủ cẩn thận phòng bị. Năm thứ bảy (1471) phá Chiêm Thành, bắt vua Chiêm Bàn La Trà Toàn, ba năm sau lại đánh phá, bắt vua Chiêm Bàn La Trà Duyệt, đổi nước ấy thành châu Nam Giao, đặt quân trấn thủ…

    Hạo đã được Bằng Tường, diệt Chiêm Thành, liền xâm phạm Quỳnh Châu, Lôi Châu, trộm đất Châu Trì ở Quảng Đông. Các vùng Long Châu, Hữu Bình ở Quảng Tây, Lâm An, Quảng Nam, Trấn An ở Vân Nam cũng mấy lần cấp báo. (Hoàng đế) chiếu lệnh cho quan trấn thủ cật vấn, lại dùng lời lẽ xảo quyệt đối đáp. Việc miếu đường tạm ngơi nghỉ, tuy xuống sắc dụ nhiều lần nhưng không có lời nào nghiêm khắc.

    Hạo càng khinh nhờn không nể sợ, nói : "Vua Chiêm Bàn La Trà Toàn đánh chiếm đạo Hóa Châu, bị em hắn là Bàn La Trà Duyệt giết, nhân đó tự lập. Kịp khi sắp nhận phong, lại bị con là Trà Chất Đài giết. Nước ấy tự loạn, đâu phải tội của thần Hạo này ?". Triều đình biết là xảo trá, không thể vặn hỏi, nhưng khuyên trả lại đất đai.

    Hạo tấu nói : "Chiêm Thành chẳng phải đất màu mỡ, nhà ít tích trữ, đồng toàn dâu gai, núi không thu được vàng bạc, biển hiếm hoi cá mắm, chỉ có ngà voi, sừng tê, gỗ mun, hương trầm. Được đất ấy cũng không ở nổi, được dân ấy cũng không sai nổi, được của ấy cũng không đủ giàu. Đó là lý do thần không chiếm đoạt Chiêm Thành vậy. Nay chiếu chỉ rõ ràng lệnh cho thần trả lại đất đai, vậy xin triều đình phái sứ thần tới vạch lại cương thổ, khiến biên giới hai nước được nghỉ ngơi, thần mong mỏi rất mực !". Bấy giờ Chiêm Thành bị chiếm cứ đã lâu rồi mà lời tâu xằng bậy đến như vậy.

    《明史•卷三百二十一•列傳第二百九•外國二•安南》​

    灝雄桀,自負國富兵強,輒坐大。四年侵據廣西憑祥。帝聞,命守臣謹備之。七年破占城,執其王盤羅茶全,逾三年又破之,執其王盤羅茶悅,遂改其國為交南州,設兵戍守… 灝旣得憑祥,滅占城,遂侵廣東瓊、雷,盜珠池。廣西之龍州、右平,雲南之臨安、廣南、鎮安,亦數告警。詔守臣詰之,輒詭詞對。廟堂務姑息,雖屢降敕諭,無厲詞。灝益玩侮無畏忌,言:「占城王盤羅茶全侵化州道,為其弟盤羅茶悅所弒,因自立。及將受封,又為子茶質苔所弒。其國自亂,非臣灝罪。」中朝知其詐,不能詰,但勸令還其土宇。灝奏言:「占城非沃壤,家鮮積貯,野絕桑麻,山無金寶之收,海乏魚鹽之利,止產象牙、犀角、烏木、沉香。得其地不可居,得其民不可使,得其貨不足富,此臣不侵奪占城故也。明詔令臣復其土宇,乞遣朝使申畫郊圻,俾兩國邊陲休息,臣不勝至願。」時占城久為所據,而其詞誕如此。

    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     
  20. Uillean

    Uillean Banned

    TÓM LƯỢC QUAN HỆ VIỆT - TRUNG THỜI TÔNG CHỦ

    Quan hệ Việt - Trung thời tông chủ, một cách tóm lược, có thể hình dung như sau :

    1. Chính trị chia hai nước - Làm đế mỗi phương

    Sử Ta : "Thước núi tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ ?... Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, tội phải tru di !" (Đại Việt sử ký toàn thư / 大越史記全書).

    Sử Tàu : "Tống - Nguyên cường thịnh còn không thể lấy An Nam. Triều ta [Minh] lấy rồi cũng lại để mất. An Nam ắt không thể lấy được... Ôi, An Nam từ sau khi nhà Tống cắt đất phân phong, mặc cho lập quốc, xưng hoàng xưng đế, mặc cho tự làm. Người Tống đánh chẳng xong, rốt lại phong vương. Người Nguyên đánh chẳng xong, cũng lại phong vương. Triều ta lấy nhưng không được, cũng lại phải phong vương" (Hoàng Minh kinh thế văn thiên biên / 皇明經世文編).

    Sử Hàn : "Dám dùng nghi lễ triều đình. Chẳng phải chỉ ngang tàng ở cõi xa, mà kỳ thực muốn chống chọi ngang hàng cùng Trung Quốc" (Triều Tiên vương triều thực lục / 朝鮮王朝實錄).

    2. Văn hóa tựa một dòng - Đại đồng tiểu dị

    Sử Ta : "Bàn về phép trị nước thì noi nhị đế tam vương, bàn về đạo thống thì noi lục kinh tứ tử, coi Khổng - Mạnh là nhà, coi Chu - Trình là cửa. Về học vấn thì coi Tả - Quốc là nguồn, coi Ban - Mã là nhánh. Về văn chương thì thơ phú noi Chiêu Minh - Văn Tuyển, xem Lý - Đỗ là tấm gương ; thư họa theo Chu lễ - Lục thư, coi Chung - Vương là mô phạm. Chiêu hiền đãi sĩ, ấy khoa cử Hán - Đường vậy. Đai rộng mũ cao, ấy trang phục Tống - Minh vậy. Cứ vậy mà suy, đại để như thế" (Châu nguyên tạp vịnh thảo / 周原雜詠草).

    Sử Tàu : "Sứ thần lại qua, thường có người giỏi văn học tới học nghề, mua các sách kinh truyện, đồng thời chép lấy quy định lễ nghi, quan chế, các chức văn võ trong ngoài cùng hình luật, đem về nước mình, nhất nhất phỏng theo. Bởi vậy, phong tục, văn chương, cách thức viết chữ, chế độ áo mũ, cũng như khoa cử, trường học, quan chế, nghi lễ trong triều, âm nhạc, giáo hóa đều rất khả quan" (Thù vực châu tư lục / 殊域周咨錄).

    [​IMG]

    Trái qua phải, trên xuống dưới :

    1. Sắc phong thời Lê.
    2. Tranh chân dung Nguyễn Trãi.
    3. Tranh chân dung Tùng Thiện vương.
    4. Sắc phong thời Nguyễn.
    5. Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (纂集天南四至路圖書), với đảo Hoàng Sa nằm ở chính giữa, phía dưới dư đồ.


    【Vân-trai Trần-quang-Đức】​
     

Chia sẻ trang này