Triết học - Tôn giáo Vị ẩn sĩ khôn ngoan - Ebba Pauli

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi An Lạc, 19/8/18.

Moderators: galaxy, teacher.anh
  1. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    [​IMG]

    Nguyên tác: L'ermite
    Chuyển ngữ: Nữ Đan viện Biển Đức
    Nhà xuất bản Tôn giáo - 2007
    *
    Nội dung
    1. Hạnh phúc
    2. Sự nhận lời
    3. Vị Hoàng đế
    4. Hoán cải
    5. Sinh thiếu tháng
    6. Bệnh tật
    7. Đức tin
    8. Trở nên tốt lành
    9. Tình bạn
    10. Người chủ trại
    11. Cái nghèo tột bậc
    12. Người mẹ
    13. Cái chết của một em bé
    14. Anh tiều phu
    15. Cô gái giúp việc tại nông trại
    16. Mạnh hơn hận thù
    17. Chỗ danh dự
    18. Thiên Chúa công minh
    19. Chiến thắng
    20. Như anh em
    21. Cái chết của vị ẩn sĩ
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/8/18
    tran.ngoc thích bài này.
  2. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    1. HẠNH PHÚC.

    Bữa kia có một thiếu nữ, nước da tươi mát tới trước hang đá. Nàng có mái tóc huyền gợn sóng, đóng khung cho khuôn mặt kiều diễm.

    - Thưa cha, nàng lên tiếng, linh hồn con khao khát hạnh phúc. Con còn trẻ lại khỏe mạnh, và con biết có một nguồn hạnh phúc lớn lao nào đây đang chờ con. Con theo đuổi không ngừng, nhưng hạnh phúc vẫn lẩn trốn con, và khốn thay, đời con vẫn còn bấp bênh. Con thấy rõ hạnh phúc của con ở xa xa, và con biết rằng, chỉ cần nắm được nó thôi, mọi sự sẽ biến đổi ngay tức khắc, đời con sẽ trở nên phong phú tươi đẹp... con đã khấn nài Đức Mẹ, vì cùng là phụ nữ Người có thể đáp ứng được khát vọng của con phần nào chăng, song Người vẫn làm thinh. Rốt cuộc lòng khao khát trở thành đau đớn, khiến sức lực con hao mòn. Vậy thưa cha, làm thế nào để đạt tới hạnh phúc?

    - Hỡi con, vị ẩn sĩ trả lời, điều con tưởng sẽ mang lại hạnh phúc cho con, chỉ có thể chiếm được bằng bất công, do chính con hay một người khác thi hành. Song điều mà ta chiếm được do bất công, đâu còn có thể gọi là hạnh phúc? Vì thế con nên từ khước thì hơn.

    - Con không thể từ khước hạnh phúc của con được, thiếu nữ phản đối, vì với con, nó còn mạnh hơn cả lẽ sống nữa.

    Nàng quay ngoắt đi và thăn thoắt xuống núi.

    *

    Một năm sau, thiếu nữ trở lại trước hang đá.

    - Thưa cha, nàng nói: cha đã có lý. Hạnh phúc của con chỉ có thể chiếm đoạt được do bất công. Con đã làm điều bất công đó, và giờ đây con đang nắm trong tay điều mà đáng lẽ phải là hạnh phúc của con. Nhưng thật kỳ lạ, nó không phải là hạnh phúc nữa, đúng như cha đã nói trước.

    Ẩn sĩ buồn bã lắc đầu và nín thinh.

    - Vậy không có hạnh phúc thật cho con sao, thưa cha?

    Ẩn sĩ lặng lẽ nhìn vào khoảng không, như tìm câu giải đáp. Rồi một lần nữa, ông lắc đầu. Thiếu nữ đã hiểu.

    - Nếu thế con không cần thiết sống làm gì nữa, nàng nói với một giọng tuy còn non nớt nhưng hầu như tan vỡ. Trong giây lát, trí nàng trưởng thành.

    Nàng đứng dậy để cáo lui, nhưng ẩn sĩ ra dấu cho nàng ở lại. Ông chậm rãi nói:

    - Còn một cái gì lớn hơn cả hạnh phúc, cái đó không bao giờ qua đi; để chiếm hữu nó, ta phải từ bỏ thế gian và mọi người: đó là sự bình an.

    - Bình an. Thiếu nữ uể oải nhắc lại.

    Thật là một sự bù trừ hết sức tầm thường so với cái hạnh phúc mà nàng đang khao khát với tất cả con người... Nhưng khi ngước lên gương mặt nhăn nheo và bắt gặp cái nhìn sâu thẳm và chứa đựng đầy ánh sáng của vị ẩn sĩ, nàng hiểu là mình đứng trước một sự cao cả mà cho đến bây giờ hãy còn bí nhiệm đối với nàng.

    - Bình an. Nàng nhắc lại với một vẻ suy tư. Xin cha cho con biết phải làm như thế nào để chiếm hữu được nó?

    - Với người này phải hy sinh nhiều, với người kia phải chiến đấu cam go, với người khác nữa phải gánh vác nặng. Nhưng tất cả chúng ta đều phải vâng phục tiếng nói của Thiên Chúa nơi mình.

    Thiếu nữ nhìn ẩn sĩ, phác một cử chỉ giã từ, rồi trở xuống thung lũng.

    ***

    Lại một năm trôi qua, khi thiếu nữ trở lại hang đá tìm gặp ẩn sĩ.

    - Thưa cha, một lần nữa cha lại có lý. Con đã nghe thấy tiếng Thiên Chúa và đã nghe theo. Con làm việc hy sinh. Giờ đây con không tìm thấy hạnh phúc nữa, nhưng con đã tìm thấy bình an!
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/8/18
  3. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    2. SỰ NHẬN LỜI.

    Một hôm có một thiếu phụ khác đến gặp vị ẩn sĩ. Thấy ông đang cầu nguyện, không muốn làm rộn, nàng đứng yên trước cửa. Cầu nguyện xong, đạo sĩ bước ra ngoài, người thiếu phụ lên tiếng:

    - Thưa cha, cha cầu nguyện làm gì? Cho dù các linh mục muốn nói gì đi nữa thì cũng không đúng, vì Thiên Chúa đâu có nhận lời cầu xin của loài người.

    - Chị kia, chị có biết là chị đang nói phạm thượng đó không? Ẩn sĩ đáp.

    - Tôi biết điều tôi đang nói, tôi không phạm thượng chút nào, thiếu phụ bình thản trả lời. Từ hai mươi năm nay tôi vẫn xin Thiên Chúa một điều và bao giờ cũng chỉ một điều đó. Tôi đã nhiều phen phủ phục trước những bàn thờ ở khắp mọi nơi, tôi đã đốt không biết bao nhiêu nến, tôi đã dâng cúng nhiều lần cho Mẹ Thiên Chúa. Lời cầu xin duy nhất ấy hằng liên lỉ dâng lên tự đáy lòng. Đó là tư tưởng đầu tiên mỗi sáng, và cũng là ý nguyện cuối cùng của tôi mỗi tối. Tuy vậy, lời nài van ấy vẫn chưa được chấp nhận. Như thế, khi xác tín rằng Thiên Chúa không nhận lời cầu xin của chúng ta, tôi biết là mình muốn nói gì.

    - Không, chị chưa biết đó thôi. Có lẽ lời cầu của chị không phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.

    Thiếu phụ lắc đầu. Nàng hỏi:

    - Phải chăng Thiên Chúa không muốn cho những đôi vợ chồng thương yêu nhau?
    Và nàng kể cho vị đạo sĩ nghe, khi còn con gái, nàng đã lấy một người nàng yêu thương. Nhưng chỉ sau đó ít năm, chồng nàng thay đổi lòng dạ, và tất cả những điều nàng nói hoặc làm để gây lại tình yêu của chồng đều vô hiệu. Bây giờ cả hai người không còn trẻ nữa. Tuy họ vẫn chung sống, nhưng hình như có một bức tường vô hình ngăn cách, và nếu có muốn cứu vãn tình thế dù chỉ vớt vát bên ngoài cũng không sao thực hiện nổi, kể xong, nàng nói:

    - Thử hỏi còn có điều phiền muộn nào lớn lao cho bằng sống hết năm này qua năm khác bên cạnh người mà ta yêu quý hơn cả lẽ sống, nhưng thực ra chỉ coi nhau như thù địch?

    Đạo sĩ nhìn thiếu phụ, lòng đầy thông cảm. Ông hiểu rõ nỗi đau thầm kín và lòng say mến nhiệt thành của tâm hồn này. Ông không thể nói với nàng như vị linh mục trong làng rằng: Lời cầu xin của nàng chưa sốt sắng đủ để vươn lên tới trời. Ông cũng thấy rõ là, mặc dầu thời gian trôi đi, và dù đã phải chịu đau khổ rất nhiều, tình yêu của nàng vẫn còn tươi trẻ và mãnh liệt như thuở ban đầu. Vì thế trái ngược lại với điều vị linh mục làng bên kia vẫn làm, ông không tìm cứu vãn danh dự Thiên Chúa bằng cách làm cho thiếu phụ tin rằng tình yêu của nàng là si cuồng như lòng sùng mộ ngẫu tượng, và như thế không đẹp lòng Thiên Chúa. Ẩn sĩ biết rằng con người không bao giờ yêu cho đủ và Thiên Chúa tình yêu không thể lên án tình yêu. Ông nói:

    - Này chị, chị không biết chị nói gì, vì thế Thiên Chúa không chấp nhận sự phạm thượng của chị. Nhưng chị là nạn nhân của một sự lầm lẫn to tát. Lời cầu xin của chị đã được nhận lời, có lẽ từ lâu, nhưng chị chưa biết đó thôi, và cứ tiếp tục xin một điều mà chị đã được như ý.

    - Tôi không hiểu điều ngài muốn nói.

    - Cầu nguyện chưa đủ, ẩn sĩ tiếp, còn phải biết nhận thức khi nào lời cầu xin của ta đã được chấp thuận. Chị trở về đi, cầu xin nữa, nhưng hãy chấp nhận điều Thiên Chúa đã ban cho chị.

    Ông lui gót vào hang. Nhưng trong cái nhìn của thiếu phụ ánh lên một tia hy vọng. Và như được nâng bổng trên đôi cánh, nàng vội vã băng mình xuống dốc.

    *

    Tám ngày sau, thiếu phụ trở lại trước cửa hang.

    - Thưa cha, nàng vui vẻ nói, Thiên Chúa chấp nhận lời cầu xin của loài người. Con đã được kinh nghiệm như thế.

    Vị ẩn sĩ ra dấu đồng ý. Theo ông, điều nàng vừa nói chỉ như bày tỏ một sự dĩ nhiên và quá rõ. Và hình như ông đã biết trước những gì nàng sắp nói. Nhưng thiếu phụ như không đồng ý. Nàng mải mê theo đuổi ý nghĩ và nhấn mạnh hơn:

    - Thưa cha, chiều hôm ở đây về, con vội chạy vào phòng chàng và lần đầu tiên từ hai chục năm nay, chàng cũng vội đứng dậy đón con. Thế sao trước đây chàng đã không bao giờ có cử chỉ đó?

    - Bởi vì từ hai mươi năm nay, không bao giờ con tỏ ra vồn vã với chàng như bữa đó.

    - Và, thiếu phụ tiếp, khi ngước mắt lên nhìn chàng, con đã nhận thấy ở nơi khóe mắt chàng một vẻ gì y hệt ánh mắt rạng rỡ thuở xưa, tia mắt rạng rỡ ngày chúng con thành hôn. Xin cha làm ơn cho con biết tại sao mà trong bao nhiêu năm qua ánh mắt chàng đã hết long lanh?

    - Chính tại vì con đã không còn trông đợi ánh mắt rạng rỡ đó xuất hiện nữa, ẩn sĩ trả lời.

    - Và bây giờ chúng con cùng nhau trò chuyện như những năm tươi đẹp nhất trước kia. Những năm vừa qua thật là dài và nặng nề biết bao, đối với chúng con quả là một cơn ác mộng, và hình như chỉ ngày nay mặt trời mới bắt đầu mọc lên cho chúng con. Thưa cha, cha có thể cắt nghĩa tại sao mặc dầu con đã cầu nguyện nhiều mà tai họa vẫn có thể giáng xuống và chia rẽ chúng con trong suốt hai mươi năm trời?

    - Con còn chưa hiểu sao? Ẩn sĩ trả lời. Con cầu xin sự lành nhưng lòng vẫn tin vào sự dữ, con đã giơ tay cho nó. Chính Thiên Chúa cũng không thể cứu được ta ngoài ý muốn của ta, hoặc ban cho ta sự lành, nếu tay ta luôn luôn chắp lại để cầu nguyện, mà không bao giờ biết mở ra để đón nhận điều chúng ta cầu xin.

    Thiếu phụ trở nên đăm chiêu hồi lâu. Hình như nàng đang sống lại thời gian qua. “Thật ta ngu dại biết bao!”. Sau khi thốt lên như vậy, nàng vội vã băng mình xuống dốc. Nàng cần có nhiều thời khắc để bù lại quãng thời gian đã mất.

    ***
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/8/18
  4. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    3. VỊ HOÀNG ĐẾ.

    Hoàng đế nước đó là một vị anh quân tốt lành và đầy khôn ngoan, trị nước rất khéo léo. Hồi còn thanh xuân, ngài đã sống trong một cuộc đời bôn ba mạo hiểm, ba chìm bảy nổi. Người ta còn thuật lại những hành vi hung hãn, tàn bạo của ngài thời đó. Nhưng từ ngày lên ngôi báu, ngài đã thay đổi hẳn nếp sống, và người ta chỉ thấy toàn những điều tốt nơi ngài. Nhưng khi mất cái thú yêu mạo hiểm, ngài cũng mất luôn cả niềm vui. Từ ngày đăng quang, không một ai thấy ngài mỉm cười bao giờ.

    Một hôm, nhà vua tới hang đá của vị ẩn sĩ, mang theo vài người hộ giá. Tới nơi, họ dựng lên cho nhà vua một cái lều kết bằng thân cây cách hang đá một quãng. Trong lều xếp một lớp lá khô làm nệm, trên trải tấm áo khoác của nhà vua. Góc lều để một số thực phẩm để dự trữ. Tự tay nhà vua đóng lên vách một tượng thánh giá bằng ngà. Xong xuôi nhà vua đã cho họ ra về, còn ngài ở lại trên núi một mình.

    Chiều đến, ngài đi về phía hang đá.

    - Thưa cha, nhà vua lên tiếng, ý trẫm muốn sống một thời gian trong cô tịch. Trẫm muốn ăn chay cầu nguyện như cha. Nhớ lại những lỗi lầm trẫm đã phạm hồi còn trai tráng, trẫm thấy lương tâm cắn rứt. Trẫm thèm khát một sự bình an, trẫm đã tìm nó giữa loài người nhưng không được. Có lẽ nơi đây trẫm sẽ tìm thấy.

    - Muôn tâu đức vua, ở đây cũng không hơn gì nơi khác, nhưng bình an phải ở tự trong lòng người.

    - Phải rồi, cha nói có lẽ đúng, nhà vua vừa nói vừa ngắm nhìn vị ẩn sĩ đáng kính. A, trẫm sẵn sàng trả bất cứ giá nào để trẫm cũng được bình an. Dù có phải nhường lại một nửa ngai vàng cũng cam.

    - Bình an không thể mua được bằng tiền tài! Cho dù cả một quốc gia cũng không thể đánh đổi được, ẩn sĩ trả lời.

    Nhà vua không hỏi thêm điều gì nữa, ngài trở về lều với một vẻ trầm ngâm.

    Đêm ấy và cả những đêm sau nữa, ẩn sĩ nghe thấy nhà vua trằn trọc hàng giờ trên nệm lá, lẩm nhẩm đọc kinh xen lẫn với lời nài van khẩn thiết thốt ra tự đáy lòng thống hối.

    Ban ngày nhà vua đi lang thang trong rừng, chỉ ăn chút lương khô, quả dại và uống nước suối từ những mỏm đá phun ra. Chiều đến, ngài trở về lều mệt mỏi và cũng vẫn chán nản như buổi sáng lúc ra đi. Ngài ném mình xuống ổ lá, nhưng giấc ngủ vẫn lẩn trốn ngài như mọi đêm trước.

    Một buổi chiều ngài trở lại gặp ẩn sĩ. Ngài nói:

    - Xin cha nghe lời thú tội của trẫm.

    Rồi không đợi trả lời, nhà vua quỳ gối mắt nhìn xuống đất, bắt đầu thú tội. Chắc chắn là những tội rất nặng! Vì hơn một lần ẩn sĩ vô tình đưa tay lên làm dấu thánh giá. Từ lâu sống trong cô tịch, ẩn sĩ đã quên những vực thẳm vô hình, của tàn bạo và hận thù mà con người có thể rơi vào. Ông phải choáng váng và không còn lấy làm lạ tại sao nhà vua ban ngày không được nghỉ ngơi, và phải trằn trọc thâu đêm.

    - Thưa cha, nhà vua nói sau khi đã thú tội xong, dám xin cha tha thứ tội lỗi, và ban phép cho trẫm quên được những lỗi lầm đã phạm. Đó là điều mà không một linh mục nào trong nước sau khi đã thử nghiệm mà được thành công.

    Nhà vua càng cúi xuống thấp chờ đợi lời xá tội.

    Nhưng ẩn sĩ làm thinh.

    Bây giờ nhà vua khẩn khoản nài van. Ngài hứa sẽ làm tất cả những gì ẩn sĩ dạy. Ngài sẽ hạ mình xuống dù đến mức nào cũng được. Ngài sẽ hy sinh tất cả những gì ngài có, miễn sao được giải thoát khỏi ách tội lỗi.

    Sau cùng ẩn sĩ cất tiếng:

    - Tâu bệ hạ, không một người phàm nào có quyền tha tội cho bệ hạ, và cũng không ai có quyền cho phép bệ hạ quên hết các tội lỗi. Chỉ duy một mình Thiên Chúa có quyền đó mà thôi.

    - Nhưng trẫm không nghe thấy tiếng Thiên Chúa, trẫm đã kêu van hết lời mà Người vẫn làm thinh không đáp lại.

    - Tiếng nói của Thiên Chúa chỉ có thể nghe được trong thinh lặng. Nhà vua đã hy vọng là trong sa mạc sẽ nghe được tiếng Người. Nhưng thinh lặng phải ở ngay trong lòng chúng ta. Bệ hạ có thể cùng vua Đa-vít nhắc lại câu này: “Lạy Chúa, ngày ngày con kêu lên Chúa, mà Chúa không đáp lời; đêm đêm con van nài, mà chẳng được ngơi nghỉ. Con kêu van hầu đã kiệt sức, miệng lưỡi con khô se”. Và cũng xin nói điều này nữa: “Con đã giữ thinh lặng, dù cho khốn cùng khổ sở, con cũng không thốt ra lời”. Khi ấy bệ hạ mới có thể nghe được tiếng Người, một tiếng nói không ở trong bão lốc nhưng ở trong tiếng thì thào êm dịu của cơn gió nhẹ. Và có lẽ nhà vua cũng mới có thể sung sướng mà kêu lên cùng vua Đa-vít rằng: “Khi con kêu cầu, Chúa đã đáp lời con!”

    Vẻ suy tư, nhà vua đứng dậy cáo từ trở lại căn lều tranh.

    Những tuần lễ lặng lẽ trôi qua. Cũng như trước, mỗi sáng nhà vua lại đi lang thang trong rừng và mỗi chiều ngài lại trở về lều, lả đi vì mệt... Nhưng cái nhìn của ngài không còn là cái nhìn của một người tuyệt vọng, những nét trên gương mặt có vẻ cứng cỏi. Và ban đêm ngài đã ngủ được.

    Rồi một sớm tinh mơ, đạo sĩ thấy nhà vua đến trước cửa hang, từ giã để lên đường.

    - Thưa cha, nhà vua lên tiếng, cha nói đúng. Trong sự khôn ngoan hạn hẹp, chúng ta chỉ biết kêu gọi liên lỉ mà không biết lắng nghe. Giờ đây trẫm đã nghe được tiếng Chúa trong thầm lặng và trẫm vẫn còn nghe thấy nữa. Nhưng đó không phải như tiếng loài người. Trẫm chỉ nhận thấy như một cảm xúc êm dịu là lỗi lầm của trẫm được tha thứ. Như thế có phải đúng như cha muốn nói không?

    - Không phải ai ai cũng nghe thấy tiếng Chúa như nhau. Bệ hạ cảm biết như thấy là đủ.

    - Trẫm cũng thấy như thế là đủ rồi. Trẫm đã được giải thoát khỏi tội, và có thể quên được rồi. Giờ đây trẫm lại trở về với nhiệm vụ để cai trị quốc gia. Và lần đầu tiên, ẩn sĩ thấy nhà vua mỉm cười, một nụ cười trong sáng và tươi vui của một người đã được cái họ tha thiết ước mong.

    *****

    Nhiều năm trôi qua, nhà vua tìm ẩn sĩ.

    Cũng như lần đầu, nhà vua leo lên con đường dốc chênh vênh, với vài tên cận vệ. Họ sửa sang lại túp lều đã hư nát cho nhà vua, rồi trở ra về. Đến chiều tối, cũng như lần trước, nhà vua lần tới hang đá.

    - Thưa cha, vua lên tiếng, trẫm mệt mỏi hầu chết được. Không ai có thể biết được một ông vua phải chịu đựng, những gánh nặng ông vua phải vác. Mọi sự: công việc, lo âu, phiền muộn đối với người chỉ có một phần, thì đối với người cầm quyền trị nước, nó còn tăng lên gấp đôi. Linh hồn trẫm bị gánh nặng đè lên đầu bẹp, chẳng bao lâu trẫm sẽ kiệt sức.

    Ẩn sĩ không trả lời. Ông đăm đăm nhìn nhà vua vẫn tiếp tục nói:

    - Không bao giờ trẫm quên được thời kỳ còn ở đây trong cô tịch, cùng với sự bình an trong tâm hồn. Trẫm muốn lại được lưu lại ở đây ít lâu. Có lẽ Thiên Chúa sẽ nghe lời cầu xin thiết tha của trẫm mà cất gánh nặng đi, nếu không được tất cả thì ít là một phần, để trẫm lại có thể trỗi dậy mà tiếp tục dấn bước.

    - Tâu bệ hạ, khi chúng ta phàn nàn với Thiên Chúa về gánh nặng của mình, thì cách đáp ứng tốt nhất của Người không phải là cất gánh nặng đi.

    - Thật vậy sao? Tuy nhiên trẫm cũng bằng lòng được Người đáp ứng như vậy, cho dù đó không phải là cách đáp ứng tốt nhất.

    - Có lẽ bệ hạ sẽ bằng lòng, nhưng không lâu sau bệ hạ cũng sẽ nhận thấy cách đáp ứng đó không giống như trước, và rồi bệ hạ lại khao khát một cái gì khác.

    - Cha thật là một người kỳ lạ, nhà vua nói. Nhưng xin hãy cho trẫm biết, theo ý cha, cách Thiên Chúa đáp ứng hay nhất là gì?

    - Là Thiên Chúa dang bàn tay quyền năng của Người trên chúng ta và tăng cường đôi vai chúng ta để gánh nặng không còn quá nặng với chúng ta nữa. Bàn tay Người nắn lại lưng đã cong của chúng ta để mặc dầu sức nặng vẫn đè xuống, nhưng chúng ta vẫn có thể cất cao đầu mà tiến bước: đó là cách đáp ứng tốt nhất.

    - Cha nói có lý, nhà vua trả lời với một vẻ suy tư. Cách đáp ứng đó, thật ra, có thể so sánh với Thiên Chúa đã đáp ứng trẫm lần đầu tiên.

    Nhà vua yên lặng giây lâu, rồi lại hỏi:

    - Làm sao con người có thể nhận biết là bàn tay Chúa dang trên họ?

    - Thiên Chúa không bó buộc ai, vị ẩn sĩ già trả lời. Bao lâu con người còn giẫy giụa và còn chiến đấu, bấy lâu họ chưa thể nhận biết được điều đó. Cần phải giữ yên lặng nội tâm để lắng nghe lời Chúa, phải ngưng chiến đấu để biết chờ đợi sự trợ giúp, để cảm thấy bàn tay uy quyền của Thiên Chúa dang ra cho họ.

    Nhà vua thôi không hỏi nữa, quay trở về lều với một vẻ suy nghĩ. Ngài sống đời cô tịch, và lần này, với thời gian qua đi, ngài thay đổi hẳn. Những buổi đi dạo trong rừng không còn là một lẩn tránh từ nơi này đến nơi nọ. Bây giờ nhà vua đã có thể dừng lại giây lâu để ngắm dòng suối quanh co róc rách, một bông hoa hay bụi cây bám vào kẽ đá để kiếm một chút màu mỡ, hay ngắm một con chim tha mồi về tổ. Và lúc đi dạo, đôi khi ngài còn mỉm cười.

    Thời gian thấm thoát trôi qua, nhiều tuần, rồi nhiều tháng, cho đến một buổi sáng kia, nhà vua nai nịt gọn ghẽ, đến trước hang đá, từ giã ẩn sĩ lại lên đường.

    - Thưa cha, một lần nữa cha lại có lý. Trong thời gian vừa qua, trẫm sống trong chờ đợi. Toàn thể thiên nhiên đã nói với trẫm: “Đấng hằng năm vẫn làm cho sa mạc hồi xuân, xanh tốt và làm cho các thú vật được sinh sôi, cũng mang sức mạnh của đời sống lại cho nhà vua”. Quả thật Thiên Chúa đã dang bàn tay của Người trên trẫm. Trẫm sẽ trở lại sống với loài người. Những ưu tư, phiền muộn, công việc bộn bề đang chờ đợi trẫm. Mọi chuyện sẽ vẫn như cũ, tuy nhiên cũng lại khác xưa. Lưng trẫm đã được uốn thẳng và đôi vai có thể vác nặng được.

    - Phải rồi, chúng ta có thể mang nổi gánh nặng, ẩn sĩ xác nhận.

    - Những thù địch của trẫm vẫn tiếp tục từ phía đông phía tây dồn dập kéo đến. Nhưng từ nay cánh tay trẫm sẽ đủ sức cầm gươm.

    - Chắc chắn như vậy, ẩn sĩ xác nhận.

    - Phận sự của một quân vương thật lớn lao, nhà vua nói tiếp, là duy trì công lý và bình an trong nước, trừng phạt và chống lại điều ác, khuyến khích điều thiện, là làm thế nào cho mỗi công dân có thể sống an bình và đạt được công lý. Cha có tin rằng trẫm sẽ chu toàn được phận sự đó chăng?

    Đạo sĩ lắc đầu trả lời:

    - Tâu bệ hạ, công việc mà bệ hạ vưa nói đó không phải là phận sự của duy một người. Nó lưu truyền qua mọi thế hệ. Nó đã khởi sự từ trước khi bệ hạ ra đời, và khi mãn phần, bệ hạ sẽ truyền nó lại cho người kế nghiệp. Nhưng nếu bệ hạ làm cho công việc đó thực hiện mau chóng hơn, thì là đầy đủ bổn phận rồi.

    - Trẫm thấy thế là đủ, nhà vua lặp lại.

    Rồi ngài xuống núi. Ẩn sĩ để ý thấy dáng đi của nhà vua quả quyết và nhẹ nhàng như dáng đi của một thanh niên. Mắt ngài không còn nhìn xuống đất nhưng nhìn xa về phía trước để tiến bước.

    *****

    Vài năm sau, nhà vua đau nặng. Biết là không qua khỏi, nhà vua sai sứ giả đến triệu ẩn sĩ vào cung. Ẩn sĩ chống gậy xuống núi. Đi qua đâu cũng thấy dân chúng lo lắng buồn bã, xầm xì về cái tin nhà vua sắp băng hà. Người ta thắp nhiều nến để cầu nguyện cho nhà vua.

    Vừa tới cung điện, ẩn sĩ được dẫn ngày vào yết kiến. Tựa trên chiếc gậy, đạo sĩ đứng bên long sàng, nhà vua ra dấu chào đạo sĩ.

    - Thưa cha, nhà vua nói với giọng yếu ớt, đã hai lần trong đời trẫm, khi lâm cơn khốn cùng, trẫm đều cầu cứu đến cha. Giờ đây là lần thứ ba và cũng là lần cuối, vì trẫm sắp từ giã cõi đời.

    - Dạ phải, ẩn sĩ đáp gọn như thế.

    - Quặn người lại vì lo lắng đến tội lỗi đã là kinh khủng; bị gánh lo âu phiền não đè trĩu, và cảm thấy mình sắp kiệt sức cũng là kinh khủng. Nhưng kinh khủng hơn cả, theo trẫm nghĩ, có lẽ là phải chết.

    - Bệ hạ còn nhớ ngày mà cơn khủng khiếp đầu tiên rời bỏ beeh hạ?

    Bênh nhân cười:

    - Không bao giờ trẫm quên được. Đó là ngày trẫm nghe tiếng Thiên Chúa trong thâm tâm.

    - Làm thế nào một người tội lỗi như bệ hạ, lại có thể nghe được tiếng Thiên Chúa trong thâm tâm? Ẩn sĩ hỏi lại.

    - Ta đã học biết không những kêu Thiên Chúa, mà còn lắng nghe tiếng Người trong thinh lặng, nhà vua trả lời. Và ngài nhắm mắt lặng thinh như sống lại giây phút mà ngài gọi là phép lạ đầu tiên trong đời mình.

    - Xin hỏi bệ hạ một câu nữa, ẩn sĩ tiếp. Bệ hạ còn nhớ cái ngày mà sự khiếp đảm lần thứ hai rời khỏi beeh hạ?

    - Điều này nữa, không bao giờ trẫm quên. Chính lúc đó là lúc cảm thấy Thiên Chúa dang bàn tay quyền năng trên trẫm.

    - Mà làm thế nào một người tội lỗi cả thể như bệ hạ, sức lực kiệt quệ, lại có thể cảm thấy bàn tay toàn năng Thiên Chúa đặt trên mình? Ẩn sĩ hỏi lại.

    - Ta sẽ học hết không những làm việc và chiến đấu, nhưng còn chờ đợi và ở yên trong an bình. Và một lần nữa, nhà vua nhắm mắt như muốn đi sâu vào nội tâm để sống lại những giây phút ngài đón nhận phép lạ thứ hai Thiên Chúa đã ban trong đời mình.

    Bấy giờ ẩn sĩ cất cao giọng, thong thả và long trọng nói:

    - Tâu bệ hạ, bệ hạ đã được nghe thấy tiếng Thiên Chúa vĩnh cửu, đã được cảm thấy bàn tay của Người đặt trên mình. Giờ đây bệ hạ sắp sửa được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Người.

    - Chiêm ngưỡng Thánh Nhan Chúa, bệnh nhân nhắc lại, và trong cái nhìn đã dại đi, lại ánh lên một niềm hăng hái mới mẻ. Chiêm ngưỡng Thánh Nhan... A, một mối sợ hãi cuối cùng cũng sẽ mất đi, không còn nữa. Im lặng một lát, nhà vua lại hỏi:

    - Thưa cha, phải làm thế nào để được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Chúa?

    - Chỉ khi ở trong yên lặng tuyệt đối, ẩn sĩ đáp, khi cái nhìn của chúng ta không còn ngó vào bên trong, để ngắm nhìn chính mình, hay nhìn về phía dưới nơi những sầu thương tang tóc, hay nhìn về phía trước, về một tương lai còn đang ao ước hay sợ sệt, nhưng chỉ nhìn lên, hướng về Chúa thôi. Khi ấy chúng ta chiêm ngưỡng được Thiên Chúa.

    - Yên lặng tuyệt đối, nhà vua thầm thì, người ta có thể đạt tới được không?

    - Ở đời này thì không, tâu bệ hạ. Trong trần thế này, thật không được, vì cái nhìn của chúng ta khi thì nhìn xuống, khi thì nhìn vào trong hoặc về phía trước; chỉ duy trong sự chết, chúng ta mới đạt tới yên lặng tuyệt đối mà thôi.

    - Thế thì trẫm muốn chết, nhà vua nói.

    Và ngài phái sứ gải đi khắp trong nước để ra lệnh thôi cầu nguyện và thôi làm lễ cầu bình phục cho mình. Ngài muốn chết và nếu thần dân ai có mến thương ngài thì đừng làm phật ý ngài.

    Trong cung thất, suốt cả ngày và đêm hôm đó rất yên tĩnh, một sự yên tĩnh thẳm sâu đi trước cái chết. Khi bình minh xuất hiện, nhà vua đi bình an. Cái nhìn của ngài hình như chìm vào cõi xa xăm, và một nụ cười tươi sáng rạng ngời trên gương mặt của ngài.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/8/18
  5. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    4. HOÁN CẢI.

    Bữa nọ, có một người đàn ông đứng tuổi đến hỏi ý kiến vị ẩn sĩ. Ông ta người khỏe mạnh, sung sức, gương mặt nhân hậu, chưa từng bị buồn phiền hay lo âu ghi đậm nét nhăn nheo. Ông leo núi một cách khó nhọc, như người chỉ từng quen với những con đường dễ đi. Cuối cùng khi đến trước hang đá, ông tỏ vẻ lúng túng khi thấy mình ở chỗ đó. Thật vậy, hôm đó ông đã lần bước trên một con đường mà ông chưa từng đi.

    Vị ẩn sĩ vẫy tay chào ông, và trong giây lát ngài kín đáo đưa mắt nhìn khách. Nhưng gương mặt kia như không gợi lên cho ngài cái gì đặc biệt, ngài lại nhìn vào khoảng không. Khách càng lúng túng hơn, không biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào.

    - Có phải ngài là người mà ai cũng có thể hỏi ý kiến về mọi việc đấy không? Khách hỏi với một vẻ linh hoạt, vì chẳng lẽ ông đã qua một chặng đường dài đến đây để rồi lại không nói gì. Ở dưới làng, người ta bảo rằng chỉ cần đặt câu hỏi là ngài trả lời ngay. Ban đầu tôi định hỏi linh mục, nhưng rốt cuộc, tôi lại lên đây.

    Khách tưởng rằng vị ẩn sĩ sẽ cảm thấy thích thú khi thấy người ta đến với mình thay vì đến nhà thờ giáo xứ; nhưng xem ra không có như vậy.

    - Cứ hỏi, vị ẩn sĩ nói gọn lỏn. May mà tôi đáp được chăng.

    - Thật là một điều kỳ lạ, khách bắt đầu nói. Ông nói nhanh, mắt nhìn xuống đất, như mất tự nhiên trên một vùng đất xa lạ. Tôi không còn tưởng nghĩ đến những thứ đó từ thuở thanh xuân. Tôi phải lo cho nông trại và các dự định của tôi; tôi bận lắm, và không có thì giờ nhàn rỗi để lo các vấn đề tuộc loại đó. Thỉnh thoảng tôi cũng có dự lễ, tôi đi xưng tội vào dịp Giáng Sinh, Phục Sinh, nhưng đấy chỉ là một tiết mục riêng biệt. Vả lại, nói đúng ra là việc của đàn bà. Nhà tôi khá chu đáo về việc này. Nhưng tôi không nghĩ là tôi tệ hơn những người khác. Suốt đời tôi cố gắng sống lương thiện, hay ít ra tôi mong được như vậy. Tôi không làm hại ai, theo như tôi biết. Tắt một lời, tôi cũng như ai thôi.

    Vị ẩn sĩ không tỏ vẻ nghi ngờ gì cả, nhưng ngài không trả lời. Cho nên khách không cảm thấy được khuyến khích để nói lên những gì chất chứa trong lòng. Ông hiểu là mình vẫn phải tiếp tục nói dù không có ai giúp, nếu muốn câu chuyện đạt mục đích. Ông tiếp:

    - Nhưng hôm qua, có em tôi từ ngoại quốc về. Từ hai chục năm nay, chúng tôi chưa gặp lại nhau. Thuở bé và thời còn trẻ, chúng tôi không bao giờ rời nhau. Chúng tôi thường chơi chung và làm việc chung với nhau. Tuổi chúng tôi xấp xỉ nhau, chỉ hơn kém nhau một năm thôi. Chúng tôi cùng chung một ước vọng và dường như ý kiến cũng hợp nhau. Ngài hiểu chứ? Tuổi xuân mà. Chúng tôi từng mơ ước liều mạng để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại. Chúng tôi khẩn nài Đức Mẹ ban sức cho chúng tôi làm việc đó. Mẹ tôi dạy chúng tôi như thế. Phải, bà không giống các bà mẹ khác; bà đặt nặng những gì đã dạy chúng tôi.

    Khách nhìn ẩn sĩ, vị này gật đầu đồng ý. Bây giờ ngài chú ý nghe. Được khuyến khích, khách tiếp:

    - Chúng tôi cũng thế, chúng tôi đã coi trọng mọi sự với tất cả khả năng của thanh niên. Và rồi thời gian trôi qua. Sau khi ông cụ tôi qua đời, tôi phải đảm nhận nông trang và ở lại quê nhà. Kế đó, tôi kết bạn, còn em tôi ra đi chu du khắp thế giới và không đem theo của gì, vì nó muốn thế. Trở thành đan sĩ, hắn đến Rôma và đã được xem thấy bao nhiêu điều. Không bao giờ chúng tôi được tin tức của nhau. Và hôm qua, bất chợt nó trở về.

    - Thế thì em anh hẳn có nhiều điều để thuật lại cho anh, ẩn sĩ lên tiếng khi khách vừa dứt lời.

    - Đúng vậy, khách trả lời với vẻ trầm ngâm. Thật thì đúng như vậy. Nhưng tôi không hiểu rõ, có cái gì lạ lắm. Nó nói chuyện như hồi hai chục năm trước đây. Nó nói đến những gì chúng tôi đã cùng nhau suy tư và ao ước thời ấy. Giờ đây, nó không còn nói như trẻ con nữa, vì nó đã trưởng thành còn hơn tôi nữa kia. Nó cũng khác xưa ở chỗ nó không hài lòng với những ý tưởng, những ước mơ điều thiện, điều đẹp của chúng tôi ngày xưa. Nó còn đi xa hơn thế nữa: nó đã thực hiện những gì chúng tôi mơ ước thực hiện, đã trở thành người mà chúng tôi mơ ước trở thành. Nó không bao giờ có của cải gì mà cũng không muốn gì, tuyệt nhiên không. Nó đi lang thang nơi này chốn nọ để dạy người ta trở nên tốt lành. Nó xin của người giàu để cho người nghèo. Và nó có vẻ chẳng lo nghĩ gì ngoài việc phụng sự Thiên Chúa.

    - Như thế mà lạ lắm sao? Ẩn sĩ mỉm cười hỏi. Đấy chẳng phải là điều sở nguyện của các anh cách đây hai chục năm đó sao?

    - Chính đấy mới là điều kỳ lạ, khách vội la lên cách hồn nhiên không còn lúng túng nữa. Hai mươi năm về trước, chúng tôi giống in hệt nhau. Và giờ đây thì một vực thẳm ngăn cách chúng tôi. Em tôi là một nô bộc của Chúa, một thánh nhân. Còn tôi, tôi không còn hiểu nổi nó nữa. Dường như nó dùng ngôn ngữ mà từ hai chục năm nay tôi không còn nghe nữa. Tuy nhiên, chính tôi đã dùng ngôn ngữ ấy qua một lần. Tôi đã dùng. Ngài nghe rõ chứ. Còn bây giờ... tôi...

    Khách im bặt, tìm không ra từ ngữ để diễn tả ý nghĩ của mình. Rồi bằng cái khoát tay, ông kết thúc câu nói cho xong chuyện: “Bây giờ tôi nghĩ là tôi cũng như phần đông thiên hạ”.

    Ẩn sĩ để thoát một nụ cười mỉm. Rồi, tay chỉ một vùng mây xám trên đầu, ngài nói:

    - Hôm qua trời cũng khuất mây như thế. Anh có tưởng đó cũng là những cụm mây hôm qua đó không?

    Khách lắc đầu tỏ vè bực bội. Bây giờ thì đâu phải là lúc nói chuyện mây gió.

    - Anh biết chứ, mây đâu có giống hệt nhau ngày này qua ngày khác, ẩn sĩ tiếp. Anh thừa biết là mây tự hủy mình phần nào dưới dạng mưa hay sương mù, và lại chuyên chở hơi ẩm khác. Nếu không thế, nó không hiện hữu được. Và anh cũng biết rõ là vạn vật trong thiên nhiên đều như thế: cây rụng lá, lá thối đi thành đất, và cùng lúc cây hút chất nhựa mới từ đất, và chất nuôi mới từ khí trời. Mỗi năm, thân cây lớn thêm một vòng, và mọc thêm nhiều nhành mới. Cây hai chục tuổi không giống cây một tuổi, nhưng cũng vẫn là một cây.

    - Tôi biết điều đó, khách chậm rãi trả lời.

    - Ở điểm đó, con người cũng giống thiên nhiên, ẩn sĩ tiếp. Và không phải chỉ thể xác chúng ta mới thay đổi và canh tân, mà cả tâm hồn chúng ta nữa. Không có năm nào, thậm chí không có ngày nào, mà chúng ta không lột bỏ một phần hữu thể chúng ta, và cũng không ngày nào mà chúng ta không tự tạo một phần chúng ta từ những cái mà không phải là chúng ta. Tất cả tùy thuộc những gì chúng ta vất bỏ và những gì chúng ta tiếp nhận.

    Chìm đắm trong suy tư, khách hỏi:

    - Ngài muốn nói là chúng ta không thể vẫn giữ y nguyên như hồi hai mươi năm về trước?

    Ẩn sĩ nói rõ hơn:

    - Tôi muốn nói rằng những ý nghĩ và cảm xúc của thời thanh xuân mà anh đã để lọt qua kẽ tay thì em anh lại gìn giữ cẩn thận như một kho tàng quý báu nhất. Em anh đã loại bỏ khỏi cuộc đời sự lo lắng về chính mình và về những tư lợi về cá nhân ở trần thế. Còn anh trong khi đó, anh đã mở cửa lòng anh cho những thứ ấy, cho nên bây giờ đây chúng trở thành một phần tất yếu của bản thân anh. Như thế thì làm sao hai anh em còn giống nhau được?

    Khách nghĩ một lúc mà không tìm ra lý lẽ để cãi lại. Tất cả những điều ấy rất giản dị và rõ ràng lại có tầm quan trọng đáng sợ!

    - Thưa cha, khách chậm rãi nói, nếu tôi không cưới vợ, không có nông trại, không có nhà cửa, và tôi không tìm cách sướng thân mà lại ra đi, nghèo nàn và cô độc, đến những phương trời xa xôi, thì thử hỏi ngày nay tôi có giống em tôi không?

    Ẩn sĩ lắc đầu:

    - Tôi không biết. Không bao giờ một người có thể khuyên người khác nên hay không nên làm điều gì để khỏi làm lọt qua kẽ tay cái gì họ quý nhất, hay ngược lại, để chiếm đoạt những tài sản mới. Mỗi người chỉ có thể biết cho mình mà thôi.

    Khách lại suy nghĩ một lần nữa. Và một câu hỏi khác ngập ngừng ở đầu môi:

    - Thưa cha, cha cho rằng tôi đã có thể trở nên như em tôi không?

    - Hẳn là như vậy, ẩn sĩ đáp. Ngày nay cũng thế, Nước Trời bị bạo lực tấn công và chỉ những người cường bạo mới chiếm được. Còn anh, đã hao công tổn sức vào việc khác.

    - Đúng thế, khách lẩm bẩm. Tôi đã lao tác, đã vật lộn và đã nhọc công, nhưng chỉ để đạt một mục tiêu khác!

    Sau một phút thinh lặng, khách tiếp:

    - Vậy phải làm gì để vứt bỏ điều mà ta có từ trước đến giờ?

    - Chả có gì đặc biệt, ẩn sĩ thở ra. Chỉ cần coi thường nó đến độ tư tưởng ta không còn thích thú khi nghĩ đến nó. Phải loại nó ra khỏi con người mình, thì rồi nó không còn là thành phần bản thân ta nữa.

    - Còn nếu mình muốn vứt bỏ điều xấu? Việc đó có dễ dàng được như thế không?

    - Không luôn được như thế, ẩn sĩ trả lời. Nhưng cách tốt nhất đế vứt bỏ nó vẫn là tống khứ nó đi. Người ta tưởng rằng mình sẽ được giải thoát khỏi sự ác khi mình buồn bực vì nó và lo sợ liên miên. Nhưng khi chúng ta biết được những gì quyền lực Thiên Chúa có thể hoàn tất nơi bản tính mỏng giòn yếu đuối của con người, thì đến lượt chúng cũng hiểu được một chút cái nghệ thuật của Người là coi sự ác chẳng ra gì. Chúng ta không còn chỉ nghĩ đến nó. Từ đó dần dần chúng ta được giải thoát khỏi sự ác đã thấm nhập vào hữu thể chúng ta từ trước đến giờ. Và một ngày nào đó, Thầy Chí Thánh của chúng ta sẽ cho chúng ta có quyền quên nó đi, và không còn nhìn nó là thực thể của mình nữa.

    - Còn về điều lành, điều thiện mà tôi muốn thu tích thì sao?

    - Phải đặt nó thật cao, cao đến độ khi anh gặp nó bất luận ở đâu, thì anh cũng phải dành thì giờ để dừng lại nơi nó và vui mừng vì nó. Đặt nó thật cao đến độ không còn hy sinh nào anh cho là quá nặng, trong những giờ phút quyết định của anh, hoặc để mất hoặc để chiếm đoạt được nó; cao đến độ với lòng tin, lời cầu nguyện và lòng tin mãnh liệt để chiếm hữu nó, anh biến nó thành phép lạ mỗi ngày trong cuộc sống anh.

    Khách không còn đặt câu hỏi nữa. Gương mặt bình thường của ông dần dần lộ vẻ suy tư, và cái nhìn bất giác lần theo con đường mòn dẫn về làng.

    - Chắc hẳn cha có lý, khách nói. Người ta chỉ có thể gặt cái mình đã gieo. Đó là lẽ tất nhiên. Nếu ta đánh mất một vật gì, ta phải tìm lại nó. Nếu ta đi lầm đường, ta phải lộn trở lại. Mọi sự trên đời là thế và tôi thiết nghĩ, đối với việc linh hồn cũng thế thôi. Nhưng đối với tôi, việc này xem ra bất tận. Bây giờ tôi phải quay lại đằng sau, đến điểm tôi phải dừng lại hai mươi năm về trước, để rồi tiến đến điểm em tôi đang ở bây giờ. Tôi chưa thấy được bao giờ sẽ làm xong việc đó.

    Khách nhìn lên, chờ câu trả lời, nhưng vị ẩn sĩ chỉ nhìn ông với cặp mắt dò xét. Dường như vị ẩn sĩ đang đặt khách lên bàn cân xem ông ta quyết định nghiêm chỉnh đến mức nào, và ông ý thức được tầm quan trọng của quyết định đó bao nhiêu.

    - Còn điều thiện tôi tìm kiếm thì lại xa xôi quá chừng, khách nói tiếp. Tôi chưa có tí gì cả.

    - Nếu anh có rồi, thì anh đã chẳng cần phải tìm kiếm.

    - Đúng vậy, khách nhượng bộ, nhưng tôi quyết tâm đoạt nó bằng bạo lực. Tôi tự thấy như trong gương, cái tôi hiện nay và cái tôi có thể trở thành. Và tôi không muốn, tôi không thể đứng yên tại chỗ, hay là tiếp tục con đường tôi đang đi. Xin Thiên Chúa trợ giúp tôi, vì tôi không biết phải làm gì và phải bắt đầu từ đâu.

    - Anh đã bắt đầu rồi. Ẩn sĩ nói.

    - Tôi đã bắt đầu? Khách ngạc nhiên la lên.

    - Phải, anh đã khởi sự khi anh leo lên đây sáng nay để đàm thoại với tôi. Rồi lại một lần khởi sự nữa, và lần này quyết liệt hơn: “Tôi muốn, tôi sẽ làm, tôi phải làm”. Anh thử nghĩ lại xem, vài hôm trước đây thôi anh có làm được như thế hay không? Anh có nghĩ rằng anh đạt được thành quả đó tự sức mình mà thôi không?

    - Hẳn là không, khách thành thật trả lời, nét mặt sáng lên một niềm vui lộ ra bên ngoài. Thế mà tự tôi, tôi đã không hiểu điều đó. Mà nếu như thế, thì dù sao chăng nữa Thiên Chúa đâu có đối nghịch với tôi? Tôi đã bỏ qua những điều quyết tâm và đã thất hứa! Ngài có lý mà chống đối tôi, nhưng không, Ngài đã không làm thế.

    Khách chìm đắm trong ý nghĩ này, lặp đi lặp lại những lời cuối cùng. Thế rồi chợt ông ta như bừng dậy khỏi đà suy tư và giã từ vị ẩn sĩ.

    - Thế được rồi. Nếu Thiên Chúa không chống lại tôi mà lại ở với tôi, thì tôi còn cần gì nữa? Tôi lấy thế làm đủ rồi.

    - Đủ rồi, ẩn sĩ trầm tĩnh nói.

    *****

    Vị linh mục ở làng sẽ không coi những gì xảy đến hôm đó với ông khách là một cuộc hoán cải. Vì ông này không nói như những người hoán cải khác và đã không đi con đường họ thường đi. Phần lớn những gì họ hiểu vẫn còn huyền bí đối với ông. Nhưng vị ẩn sĩ vẫn không thấy bận tâm: Ngài biết rằng từ hôm đó trở đi, ông khách sẽ đi theo một con đường mới.
     
    phihong2510 thích bài này.
  6. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    05. SINH THIẾU THÁNG

    Vào một buổi chiều, lúc sẩm tối, một người đàn ông tới hang vị ẩn sĩ. Ông không còn trẻ, gương mặt gầy ốm, xanh xao, có nét nhăn hằn rõ, đôi mắt đen đượm vẻ mệt mỏi ưu sầu, đôi tay thon trắng như tay phụ nữ, chắc hẳn ông không quen làm việc nặng. Ông ngồi dựa bên tảng đá chờ vị ẩn sĩ đến gặp ông.

    - Thưa cha, ông khẽ nói, tự chấm dứt đời mình có phải là tội không?

    Ẩn sĩ chưa từng ngạc nhiên trước những câu hỏi người ta đặt ra. Ông nhận thấy quả tim con người ít thay đổi. Thế nhưng trước câu hỏi này được đặt ra với một giọng bình thản đắn đo, ông đã phải sửng sốt. Bằng cặp mắt dò xét, ông nhìn người đối thoại mà không trả lời.

    - Cuộc sống cần phải có một ý nghĩa, khách nói tiếp. Một khi trở thành vô nghĩa, người ta được quyền tự hỏi tại sao lại cứ phải tiếp tục sống. Khi tất cả những gì ta muốn chiếm hữu, những gì ta yêu quý bị hủy diệt, khi không còn ai trên đời cần đến mình nữa, thì còn tiếp tục sống làm gì?

    Khách vẫn ngồi, nhìn vào khoảng không. Những ngón tay gầy guộc rứt rứt một cách máy móc những lá thông nhọn từ một cành con ông vừa nhặt lên. Ông tiếp:

    - Chắc ngài sẽ bảo tôi rằng trên đời này còn biết bao việc phải làm, và mỗi người đều có thể dễ dàng tìm ra một việc gì để chu toàn. Đúng vậy, không ai còn hồ nghi điều đó. Nhưng tôi chả thấy được lợi ích gì. Việc làm của một người... đâu có giá trị là mấy! Trong dòng thời gian, nó chẳng tày giọt nước. Hoặc nữa, ngài có thể bảo tôi là đi tìm chân lý để tự thỏa mãn, nhưng con người không có đời nào đạt tới chân lý trọn vẹn. Điều này cũng là lẽ dĩ nhiên. Chân lý luôn vượt khỏi tầm tay ta. Nó vượt khỏi chúng ta đến nỗi tìm nó chỉ hoài công thôi. Giá như sau khi cố gắng suốt đời, mà tôi đạt được một phần chân lý cỏn con – đây tôi nói giả dụ thôi vì không chắc gì đã được – thì nói cho cùng, liệu có ích gì không? Tôi cũng không vì đó mà hạnh phúc hơn ai. Mà người khác cũng vậy. Thế thì tôi không được tự miễn cho tôi cố gắng đó để ngả đầu nghỉ giấc nghìn thu sao?

    Khách im lặng. Những lá nhọn cuối cùng đã tách rời từ cành thông trơ trụi và xấu xí trên tay khách. Đôi mắt u sầu lúc nãy ánh lên một tia sáng mờ mờ.

    - Rốt cuộc, ngài sẽ cho tôi là hèn nhát, khách khẽ nói, nhưng tôi không thấy hèn nhát ở chỗ nào. Lẽ thường, người ta sợ chết một cách hèn nhát, nhưng nếu có ai đương đầu với sự chết một cách bình thản nơi chiến trường, người ta sẽ cho đó là can đảm. A! Phải chi tôi gặp một người đang chết đuối để cứu hắn, và chấm dứt đời tôi luôn thể. Người ta cũng sẽ gọi đó là can đảm.

    Khách cất cao giọng cười chua chát và khe khắt, rồi ngưng bật rồi nói nói tiếp ngay:

    - Ngài nói đi chứ! Ngài muốn bảo đó là một sự hèn nhát hay đó là một tội trọng cũng được. Nhưng ngài nói đi, trả lời tôi đi!

    - Có bao giờ anh trông thấy một đứa trẻ sinh thiếu tháng chưa? Ẩn sĩ bắt đầu nói.

    Khách ngạc nhiên nhìn cụ già. Thật ông không chờ đợi câu hỏi này. Ông không thấy nó ăn nhằm gì với điều ông vừa nói. Nhưng nét mặt nghiêm trang của ẩn sĩ đòi buộc ông trả lời.

    - Thưa có, khách ngập ngừng nói, có một lần. Đó là một đứa bé èo ọt sống không nổi.

    - Đấy, anh hãy hình dung một đứa trẻ không thích ở trong lòng mẹ vì nơi đó tối tăm chật hẹp. Nó tự dứt mình ra bằng bạo lực để thoát khỏi cảnh sống đó. Nó sẽ sinh thiếu tháng.

    Khách đăm đăm nhìn vị ẩn sĩ. Ông đã hiểu. Ông ấp úng:

    - Ngài muốn nói... rằng?

    - Đứa bé không biết những gì cuộc sống này dành cho nó, ẩn sĩ tiếp. Cho nên, nếu như nó đi vào cuộc sống này bằng bạo lực - ấy là giả sử nó có khả năng làm thế - thì đó là một hành động điên rồ tột bậc. Còn anh, anh cũng không biết gì hơn về kiếp sống mà anh sẽ bước vào khi anh tự kết liễu đời mình. Anh cũng sẽ là một đứa trẻ sinh thiếu tháng.

    Khách nhìn xuống và bất giác ông lại bẻ gãy cành thông đang cầm tay.

    - Con người không làm chủ đời mình, ẩn sĩ tiếp. Họ lệ thuộc một định luật mà nhiều khi họ không hiểu thấu, vì luật đó khôn ngoan hơn là nếu con người tự định đoạt về luật đó. Có lẽ anh sẽ bảo tôi: Ngài biết gì về chuyện đó? Thì đây, tôi nhận thấy rằng tất cả những gì uốn chiều theo luật sự sống thì lớn lên và triển nở, trái lại những gì chống lại luật đó thì suy giảm và tàn lụi. Hãy xem cảnh vật cũng khép mình theo định luật đó. Cảnh vật đẹp tuyệt vời trong sức mạnh, trong sự đổi thay và tái sinh bất tận của nó. Có những người tập yêu luật đó. Đối với họ những biến cố vui buồn, lao tác và đau khổ, sinh và tử, đều là những sứ giả của Đấng làm chủ sự sống. Họ hiểu được điều đó bằng con tim hơn là bằng lý trí. Họ tự đặt mình dưới luật đó một cách bình thản và dũng cảm, và rồi họ nghiệm thấy rằng luật đó tốt. Luật đem lại cho họ điều lành mà họ thiếu và dần dần họ biến chuyển, trở nên khác.

    Khách vẫn dán mắt nhìn ẩn sĩ. Ông ngồi im và đôi tay bất động. Cuối cùng ông nói:

    - Tôi chưa có kinh nghiệm đó. Tôi luôn chống đối lại cái mà gọi là luật sự sống, khi nó đụng chạm ý riêng tôi, và khi nó tước đoạt của tôi thay vì ban phát. Đúng vậy, tôi đã đứng lên chống lại nó, và căm thù nó. Và bây giờ tôi chỉ muốn phủ nhận nó.

    Khách ngưng lời, rồi chậm rãi tiếp:

    - Ngài bảo rằng nếu bây giờ linh hồn tôi đi vào cõi sống khác, nó sẽ giống như đứa bé cằn cọc mà tôi đã từng được thấy một lần. Tôi hiểu điều ngài muốn nói. Có lẽ ngài có lý, ít nhất là nếu có một kiếp sống khác. Không ai biết chắc điều đó, mà cũng chẳng ai có bằng chứng nghịch lại. Cuối cùng, việc có đời sau dường như đúng hơn là không có. Và tôi hình dung linh hồn tôi mệt mỏi, ít sống động, tựa hồ như đứa bé héo hon kia... Ngài có nghĩ rằng linh hồn tôi có thể thay đổi, nếu tôi khép mình theo luật sự sống, và nếu tôi không tự cắt đứt sợi chỉ đời tôi? Thật thì tôi không thấy làm sao thực hiện được điều đó. Tôi cũng hiểu rằng nếu chỉ chấp nhận sống thôi thì chưa đủ, ngài còn đòi hỏi tôi hơn thế nữa.

    - Đúng vậy, ẩn sĩ nói, tôi muốn anh sống sao cho linh hồn anh có thể triển nở và đạt tầm vóc trưởng thành.

    Khách lẩm bẩm:

    - Linh hồn héo tàn đáng thương của tôi phải lớn lên, phải triển nở! Không thể được, ngài nghe chứ, không thể được. Tôi cũng không biết nó còn tí gì không. Cuộc đời đã quá cay nghiệt với nó.

    - Thế thì tôi nói đúng, ẩn sĩ đáp. Ai đương đầu với định luật thì sẽ bị nó bẻ gãy. Chính anh vừa chứng minh lời tôi nói. Anh thử tập yêu mến và kính trọng luật sống. Hãy chấp nhận nó và anh sẽ cảm nghiệm thấy nó tốt. Và linh hồn anh sẽ sống và sẽ triển nở.

    - Yêu nó, kính trọng nó! Khách lập lại, giọng chua chát. Ngài không hiểu điều ngài đòi tôi phải làm. Ai có thể quý trọng cái gì ác độc, cái gì tước đoạt mình?

    - Trước khi sự sống tước đoạt tất cả, nó đã cho tất cả, ẩn sĩ dịu dàng nói. Anh có yêu và chúc lành sự sống khi nó cho tất cả không?

    Khách ngẫm nghĩ một chút rồi lắc đầu:

    - Thưa không.

    - Anh nghe đây. Anh có tuyệt đối vô can về những gì đã xảy ra không? Ẩn sĩ tiếp. Phải chăng anh còn giữ được toàn những kỷ niệm sáng ngời của những gì anh đã mất? Nếu đúng vậy, nỗi đau của anh bây giờ chắc sẽ ít đắng cay hơn. Nhưng nếu anh còn giữ được những kỷ niệm xấu, ấy là vì trong đó còn vương vấn cảm thức tội lỗi, tội của chính anh, phải thế không? Và khi người ta hành động không đúng đắn, người ta sẽ khổ tâm và ân hận, điều đó có lạ gì đâu?

    Khách im lặng thật lâu, cúi đầu xuống, cái nhìn dán chặt xuống đất. Vị ẩn sĩ cũng lặng thinh. Màn đêm buông xuống và hai người không còn trông rõ nhau nữa. Cuối cùng, khách đứng lên.

    - Khi tôi lên đây, khách nói giọng run run, tôi tưởng rằng ngài sẽ cưỡng ép tôi sống. Tôi nghĩ ngài sẽ nói với tôi rằng tự chấm dứt đời mình là trọng tội không thể tha thứ được. Nhưng không, ngài không nói với tôi như vậy.

    - Tội ít khi là một hành động rõ rệt nào đó, ẩn sĩ tiếp. Đúng ra, tội là khi người ta sống ở một mức độ kém hơn mà người ta CÓ THỂ hay PHẢI sống. Chấm dứt đời mình là một tội ít nặng hơn là sống và tiếp tục sống thế nào đến nỗi đời sống trở nên một gánh nặng không thể chịu nổi.

    Khách ra dấu tán thành.

    - Đúng thế, tôi cũng nghĩ như vậy. Ngài đã đạt mục tiêu. Tôi nhất định sống. Tôi không thể làm khác. Tôi thấy trước mắt tôi đứa bé còi cọc. Lần đầu tiên, tôi vui lòng đặt mình dưới cái mà ngài gọi là luật sự sống. Đành rằng lòng còn nặng nề, nhưng được thế là khá. Như vậy có bõ công không? Rồi đây có thu lượm được gì không?

    - Có, ẩn sĩ đáp, anh vừa đặt mình dưới luật, luật tốt đấy. Từ nay luật đó không còn chống lại anh nữa, mà tiếp sức cho anh. Anh lên đây như một kẻ thủ thế và chiến đấu với nó. Anh trở về như một đồng minh của nó. Anh có hiểu là tất cả sẽ đổi thay không?

    Vị ẩn sĩ đưa mắt nhìn theo khách hồi lâu.
     
  7. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    6. BỆNH TẬT.

    Vào lúc nóng nhất của một ngày mùa hạ đẹp trời, khi ẩn sĩ lui vào hang đá tìm bóng mát, thì một em bé gái đầu trần chân đất đến bên cửa hang. Mái tóc dài phủ cả lưng cô bé. Em mặc một bộ áo đơn sơ và bạc màu. Em dừng lại một lát nơi ngưỡng cửa, đưa mắt tò mò nhìn ẩn sĩ, rồi tiến lại bên ông.

    - Thưa nội, em nói, mời ông xuống làng thăm ba cháu ốm. Rồi em cắt nghĩa: Ông biết không, ba cháu vẫn thường đau luôn.

    - Nghe gọi bằng ông nội, ẩn sĩ mỉm cười. Vì sao cô bé lại có ý nghĩ gọi mình như thế? Quả là mấy người lớn thường gọi ông bằng cha, mà chính ông cũng chả hiểu tại sao. Có lẽ vì thế nên cô bé nghĩ phải gọi ông bằng ông nội! Cô bé chìa tay cho ẩn sĩ. Không đợi phải nài xin, cụ già nắm chặt bàn tay tí hon ấm áp vào bàn tay gậy guộc của mình, nhặt lấy cây gậy, rồi cả hai cùng xuống thung lũng.

    Cô bé thuật cho cụ nghe lý do em phải lên đường. Hôm trước, cha em đã ngỏ ý là người chỉ còn một nguyện vọng là được gặp vị ẩn sĩ.

    - Mẹ cháu thì không thể bỏ nhà được, vì bận coi mấy con bò sữa và bầy gia súc khác, mà cũng vì phải săn sóc ba cháu nữa; bệnh hoạn như ba cháu thì không thể nào để suốt ngày một mình được. Vì thế cháu mới xin đi. Cháu tin chắc sẽ tìm thấy đường và sẽ trở về trước chiều tối. Rốt cuộc mẹ cháu phải chịu cho cháu đi. Sáng nay, mẹ cháu đánh thức cháu dậy sớm hơn mọi khi. Mẹ cháu xếp bánh mì và pho mát vào giỏ cho cháu để cháu ăn đường. Và ông thấy không, cháu đã tìm ra lối và cháu đã mời được ông về đó. Rồi ông cháu mình sẽ về đến nhà, ba cháu chắc chắn sẽ rất bằng lòng, người vốn bệnh nặng, và lúc nào cũng đau ốm.

    Ẩn sĩ lắng nghe cô bé ríu rít kể chuyện, với thái độ của một người hiểu nhiều hơn những gì lời nói diễn tả. Thỉnh thoảng ông đáp vài câu ngắn, khuyến khích cô bé tiếp tục nói.

    - Cháu cũng hơi mệt rồi. Ông biết không, cháu vẫn quen vào rừng một mình để chăn dê, nhặt củi hay hái quả. Mẹ cháu thì không muốn đi xa nhà, nhưng nhiều hôm cũng buộc phải đi. Những hôm đó thì chính cháu phải ở lại với ba. Đó là việc khó nhất. Vì cháu không được làm, nên cháu cũng chẳng biết làm gì nữa. Ba cháu buồn sầu luôn. Có nhiều người đến thăm để tìm cách giúp ba cháu. Người ta chích máu, làm thuốc, người ta đọc kinh, thắp nến. Ai cũng quả quyết rằng ba cháu sẽ khỏi. Nhưng chưa bao giờ ba cháu khỏi cả. Đến cả cha xứ cũng đến nhà cháu, cùng với ảnh Đức Mẹ, có cả các chú giúp lễ cùng với hương trầm đủ thứ mà cũng không làm gì được. Ông tưởng tượng xem, người ta đến rất đông để cầu kinh cho ba cháu, đông đến nỗi không thể vào hết được trong nhà, có người phải đứng ngoài mà hát. Người ta ngửi thấy mùi trầm hương suốt ngày! Ba và mẹ cháu đã ăn chay và làm tất cả những gì có thể làm được. Nhưng ba cháu vẫn không lành bệnh.

    Cô bé thuật lại những sự kiện nho nhỏ ấy với giọng trang trọng không hợp với tuổi thơ của cô. Nhưng lời chót em đã nói thật khẽ. Lẽ dĩ nhiên đó là điều huyền bí, và tư tưởng thơ bé của em bị khựng lại như đứng trước một bức tường. Rồi giọng nói của em như rên rỉ, khi em nhắc lại: “ba cháu vẫn cứ bệnh đau yếu hoài”.

    Ẩn sĩ siết nhẹ bàn tay nhỏ bé, và để em kể tiếp câu chuyện.

    - Thưa ông, cháu không hay đi chơi với bọn trẻ trong làng. Chúng nó ồn lắm! Lại nữa, ở nhà bao giờ cũng nhiều việc phải làm. Việc mà cháu thích nhất là được ra ngoài với các súc vật. Trong vườn có con nhím già... A! Mọi sự sẽ tốt đẹp biết bao nếu ba cháu không đau!

    Cô bé tiếp tục kể chuyện, nhưng bước đi của bé chậm dần. Cả hai người nghỉ chân bên vệ đường, giở bánh mì và pho mát ra ăn. Cô bé đã cẩn thận chia làm hai phần bằng nhau. Rồi em ngủ thiếp đi, đầu tựa lên gối cụ già. Hai giờ đồng hồ trôi qua như thế và cụ già ngồi yên ngắm nhìn gương mặt tuy trẻ thơ mà đã ra vẻ nghiêm trang của cô bé.

    Khi em thức giấc, cả hai cùng tiếp tục lộ trình, và trời đã khuya khi họ về tới làng. Vài người đàn bà ra khỏi cửa nhìn họ đi qua, những người khác gặp họ ngoài đường thì tiến lại gần xin vị ẩn sĩ chúc lành. Còn phần đông dân làng đã lên gường ngủ cả.

    Cuối cùng cả hai đến trước nhà cô bé. Rảo bước mau gần như chiến thắng, em dẫn vị ẩn sĩ đến cuối chân thang. Nhưng khi mẹ em ra đón thì em chỉ nói:

    - Mẹ ơi, con đã thành công. Ông nội đây này.

    Người đàn bà dường như không nghe thấy câu nói ấy. Chị chỉ nhìn vị ẩn sĩ:

    - Thưa cha, chị nói thật khẽ, cầu mong việc cha vào mái nhà đau thương này hôm nay được chúc lành.

    Chị đưa vị ẩn sĩ vào nhà, mời ngồi, đem nước đến cho ông rửa tay, rồi chị lặng lẽ sửa soạn bánh mì, sữa và mật trên một chiếc bàn thấp cho bữa tối. Khi khách ăn xong chị mới bắt đầu câu chuyện.

    Tất cả những gì cô bé đã kể lúc đi đường, giờ đây đến lượt mẹ em thuật lại gần hệt, nhưng với giọng trầm tĩnh hơn. Và chị cũng kết luận bằng một lời thất vọng:

    - Bao cố gắng đã chẳng đi đến đâu. Không làm gì được nữa. Nhà con vẫn cứ ốm mãi.

    Ẩn sĩ đưa mắt nhìn quanh. Cô bé đã nằm trên giường trong góc phòng. Tuy ngủ rồi nhưng chốc chốc lại thở dài. Vài thanh củi con cháy trong lò sưởi và một ánh sáng lờ mờ chiếu soi căn lều. Ngoài trời sức nóng ban ngày đã nhường chỗ cho làn khí mát dịu, nhưng bên trong nhà bầu khí vẫn nặng nề, ngột ngạt. Dường như tất cả đồ đạc trong phòng, từ những kèo nhà ám khói trên trần đến những vật dụng cũ kỹ đều như vọng lại lời nói của người đàn bà: không thể làm gì được nữa.

    - Vị ẩn sĩ đứng lên đi về phía đằng cuối. Người đàn bà mở cửa và mời cụ già đến bên người bệnh. Đây là một căn phòng bày biện sơ sài. Ở góc phòng, một ngọn đèn leo lét tỏa chiếu vào ảnh Đức Mẹ. Chiếc giường người bệnh kê giữa phòng, cạnh đó có một chiếc ghế dài.

    Người bệnh nằm dài trên giường, tứ chi biến dạng, chỗ phù thũng chỗ gầy guộc, gương mặt nhợt nhạt, hốc hác, tia nhìn nóng bỏng hướng về phía cửa. Khi vị ẩn sĩ bước qua ngưỡng cửa, con bệnh dán mắt nhìn ngài đăm đăm. Hai người gặp nhau trong một cái nhìn thật lâu.

    Cụ già gật đầu ra hiệu đồng ý. Đúng như ông đã hình dung ra người suốt ngày ông được nghe nói đến.

    Ẩn sĩ đến ngồi bên ghế dài cạnh gường, và người bệnh bắt đầu kể lể. Bằng một giọng yếu ớt và trầm trầm, nhưng lại vang lên một sức mạnh lạ lùng, bệnh nhân lại bắt đầu câu chuyện mà vợ con anh đã kể. Nhưng đi ngược lại thời gian xa hơn, anh kể nhiều về thời niên thiếu. Chưa bao giờ anh được như người khác vì anh luôn phải mang cái ách của bênh tật. Anh kể lại hạnh phúc thời xuân xanh, trong ba năm vắn vỏi, lúc đó anh tưởng rằng mình sẽ tìm lại được sức khỏe, mọi sự đối với anh đều sáng sủa. Và tuy rất khác xa với thiên hạ thường tình, anh cũng chinh phục được tình yêu của một thiếu nữ đứng đắn. Anh cưới vợ, lập được một tổ ấm, rồi một đứa bé chào đời làm tăng thêm vẻ vui tươi. Sau đó căn bệnh tái phát trầm trọng hơn, và giờ đây thì anh luôn phải ở dưới gọng kềm của nó. Trong một thời gian lâu, anh đã thử mọi cách. Nhưng tất cả đều vô hiệu và anh đành lãnh nhận số phận vô phúc suốt đời.

    Người bệnh đã nói một mạch không ngừng, với những câu văn như rút ra từ một cuốn sách. Vị ẩn sĩ hiểu rằng bệnh nhân đã thuật lại câu chuyện đó gần như mỗi ngày cho những người đến thăm anh, và gần như mỗi đêm anh lại tự thuật cho mình.

    Ẩn sĩ bắt đầu nói với giọng chậm rãi và êm thắm.

    - Phải, số phận của một người bệnh nặng nề lắm. Hiếm có những cơn thử thách khó chịu đựng như thế này, vì thường những thử thách khác chỉ tấn công vào một vài khía cạnh nào đó của cuộc sống thôi. Trái lại, trong trường hợp bệnh tật thì cơn thử thách bao trùm tất cả và loại bệnh nhân ra khỏi cuộc sống. Thế nên đối với bệnh nhân, tất cả đều mang sắc thái khác. Sự bất động, sự đau đớn thể xác và những đêm dài dằng dặc lại làm cho tình trạng lại càng nặng nề hơn. Và điều nặng nề hơn cả chính là sự cô đơn hoàn toàn của người bệnh, vì lẽ bệnh tật đã loại họ ra khỏi cuộc sống bình thường, và không ai có thể tự cô lập mình cùng với họ: Ai cũng đang ở và cần ở trong cuộc sống. Dù những người này có yêu thương người bệnh và muốn chia sẻ sự cô đơn của họ thì cũng không thể cho phép những người ấy làm như vậy; bởi vì như thế là ném cả những người này ra khỏi cuộc sống bình thường. Không, người bệnh nào cũng phải đành chấp nhận hoàn cảnh của mình, bởi vì theo một nghĩa nào đó, họ cô độc và phải sống cô độc.

    Bệnh nhân nằm bất động chăm chú lắng nghe. Đây rồi, mãi đến nay mới có một người hiểu anh, không nói với anh những lời an ủi nhàm chán mà anh vẫn nghe trong trường hợp tương tự, không khuyên anh phải tỏ ra biết ơn, vì bệnh anh không quá tệ, vì trong nỗi khổ của anh, anh có cái may mắn là được một người vợ yêu quý và tận tụy ở bên và chỉ sống cho anh. Mãi đến nay mới có một người hiểu rằng, dù người ta làm gì cho anh đi nữa, anh cũng vẫn tiếp tục cô đơn và rất cô đơn.

    Duy có một điều trong lời nói của vị ẩn sĩ làm anh phân vân: ông nói rằng người ta không có quyền độc chiếm ai đến độ lôi kéo người ấy ra khỏi cuộc sống bình thường. Anh nghĩ đến vợ và con anh. Phải chăng, đến một mức nào đó, chính là trường hợp của họ? Phải chăng họ đã theo anh vào sự cô độc. Anh không biết phải nghĩ sao về điểm này.

    Nhưng ẩn sĩ đã lại tiếp:

    - Nói cho cùng, điều lạ lùng là Thiên Chúa đặt trên vai một người gánh nặng như thế, một bệnh tật phải chịu suốt cả đời người. Ta có thể nghĩ rằng nếu Ngài đã trao cho anh gánh nặng đó, ắt hẳn Ngài chờ đợi nơi anh rất nhiều. Bởi vì chắc hẳn ý muốn của Thiên Chúa không phải là để mặc cho bệnh tật thống trị tâm hồn một người nào chỉ bởi lẽ nó thống trị thân xác người ấy. Và ý định của Ngài lại càng không phải là bệnh tật thống trị cả gia đình anh. Nhưng đó chính là điều mà bệnh tật đang tìm cách thực hiện. Nếu ta thụ động, để mặc nó hoành hoành, thì nó sẽ áp đảo con người toàn diện: tư tưởng, ý chí và tất cả chức năng con người. Nó sẽ trở nên điều chính yếu với anh, trở nên thực tại duy nhất, và anh sẽ thấy tất cả những cái khác đều dần trở nên hư ảo. Đúng thế, ai không muốn trở thành nô lệ của bệnh tật thì phải vùng lên chống lại nó. Và một lần nữa, khi nào Thiên Chúa cho một người nào phải đối phó với nó, chính là vì Ngài biết rằng người đó có một tâm hồn mạnh mẽ, hay ít ra một linh hồn có thể trở nên mạnh mẽ.

    Bệnh nhân im lặng lắng nghe. Những điều ẩn sĩ nói, áp dụng rất đúng vào hoàn cảnh của anh. Thật vậy, bệnh tật, con quái vật khủng khiếp ấy, đã cầm giữ anh trong xiềng xích của nó. Nó chiếm đoạt tất cả, nó đổi thay tất cả, làm cho cái tốt trở thành xấu. Chính anh vừa nói rằng nó giữ anh dưới quyền thống trị của nó. Và có thể không những chỉ thể xác anh mà thôi, nhưng cả tâm hồn anh nữa cũng ở dưới quyền nó, mặc dù trước đây chưa bao giờ anh ý thức điều đó. Bệnh tật đã đè nặng trên cả cuộc đời anh. Bây giờ anh thay đổi khác hẳn trước đây, trong những ngày hạnh phúc thật ngắn ngủi! Thành thật mà nói, bây giờ anh không nhận ra chính mình nữa. Nghĩ đến điều đó, bỗng dưng anh cảm thấy như nghẹt thở. Còn đức tin? Lúc còn trẻ, anh đã có đức tin, một niềm tin cá vị. Nhưng bây giờ niềm tin đó đâu rồi? Niềm tin đã tỏ ra bất lực, không giải thoát được anh khỏi bệnh tật, và anh đã bỏ rơi nó như một đồ vô dụng. Ở đây cũng thế, chính bệnh tật quyết định sự sống còn của đức tin anh.

    Mắt không rời vị ẩn sĩ, nhưng trong trí anh những ý tưởng mới mẻ đó cứ trở đi trở lại.

    - Bệnh tật làm người ta trở nên độc ác, sau cùng anh thốt lên.

    - Đúng vậy, ẩn sĩ đáp, nếu nó thống trị được ta, biến thể xác ta thành cái gì chính yếu, cái gì chi phối tất cả. Càng thành công nó càng làm chúng ta trở nên ích kỷ, nghĩa là xấu xa.

    Người bệnh tiếp tục suy tư. Phải, tất cả các điều đó đều đúng. Thật thế, những ước mơ, khát vọng và những quyết định của thời thanh xuân, giờ đây chẳng còn chút gì. Anh chỉ còn một ước muốn cỏn con: lành bệnh. Đối với anh, chỉ còn mỗi một kiến thức, một chân lý thôi: đó là làm sao được lành bệnh. Bệnh tật đã làm cho anh trở thành một con người nhỏ nhen, ích kỷ. Nó đã xáo trộn tổ ấm gia đình anh, đã đổ vào tâm hồn anh nỗi đắng cay và thất vọng, và tạo ra một sự trống rỗng. Khi giờ sau cùng điểm, anh sẽ chết một cách thảm thương, trần trụi, sẽ nguyền rủa hay chế nhạo quyền lực đã ban cho sự sống.

    Anh nghiến răng lặp lại:

    - Bệnh tật làm con người trở nên độc ác.

    - Đúng, khi nó nắm quyền thống trị ta, ẩn sĩ cũng lặp lại.

    Khi nó nắm quyền thống trị ta... thật thế! Anh đã không bao giờ nghĩ cách giành giật với nó. Không chống cự anh đã buông thả cho nó tất cả, tất! Và anh thấy dường như bây giờ con quái vật đang nhe nanh như muốn bảo: “Người đã trao quyền cho ta, ta phải giữ!”.

    Bệnh nhân lại thinh lặng. Sau hồi lâu, anh hỏi:

    - Làm thế nào để tước đoạt quyền hành của bệnh hoạn?

    - Bằng cách dành cho nó ít chỗ hơn trong tâm hồn mình, càng ngày càng ít đi. Ngược lại, phải dành nhiều chỗ hơn cho quyền lực đáng lẽ phải ngự trị trên anh ta, ngày càng nhiều chỗ hơn. Đó là cách thay đổi quyền lực.

    - Quyền lực kia, quyền lực phải thắng trên ta là quyền lực nào, thưa cha?

    - Đó là con người nội tâm chúng ta, ẩn sĩ chậm rãi đáp, đó là con người đích thực của mình, con người mà khi Thiên Chúa ban cho ta sự sống, đã đặt để nó trong ta. Chính cái đó phân biệt ta với người khác, chính nó chứa đựng mọi khả năng, giúp ta hoàn thành bản ngã của ta như Thiên Chúa đã dự tính cho ta ngày chào đời. Đó là sức mạnh cần phải nắm quyền làm chủ chúng ta. Khi ấy ta mới tự chiếm hữu được chính mình, đồng thời Ngài cũng chiếm hữu ta và ta chiếm hữu Ngài.

    Con người mà lẽ ra ta phải trở thành!... Hình ảnh này tiếp nối hình ảnh khác đang diễn ra trong cái nhìn nội tâm của bệnh nhân. Anh đã có thể trở nên một con người xứng đáng, một người chồng, một người cha, một Kitô hữu, nếu...

    Ẩn sĩ đứng lên, ra mở tung cửa sổ. Làn khí mát dịu của đêm hè tràn vào căn phòng. Bệnh nhân hít vào từng đợt hơi dài. Chim chóc chưa lên tiếng hót, và cảnh vật còn bao trùm trong thinh lặng. Nhưng về phương đông một vầng sáng báo hiệu ngày sắp đến.

    Khi ấy ẩn sĩ ra khỏi phòng bệnh nhân, người thiếu phụ rời khỏi bàn quỳ đặt nơi góc nhà, cạnh ảnh Đức Mẹ. Có lẽ chị cầu nguyện suốt đêm.

    Tay còn cầm tràng hạt, mặt nhợt nhạt dáng mệt mỏi, chị đến tiếp vị ẩn sĩ, chị không có dáng vẻ một người đã tìm được bình an trong việc cầm trí cầu nguyện.

    - Thưa cha, chị lên tiếng mà không cảm thấy mâu thuẫn giữa lời chị hỏi với việc đạo đức vừa làm, cha có làm được gì hơn Mẹ của Thiên Chúa không?

    Ẩn sĩ nhìn chị, vẻ thương hại. Chị kiệt sức gần như đứng không vững.

    Cô bé giật mình tỉnh giấc. Mình mặc sơ sài, đi chân không, em vội vàng băng ngang phòng chạy đến nắm áo mẹ. Em còn ngái ngủ, nhưng em ý thức được rõ ràng những gì đã xảy ra đêm hôm qua.

    - Nội ơi, liệu ba con có bình phục không? Cô bé ngước mắt nhìn ẩn sĩ. vị ẩn sĩ lần lượt nhìn hết mẹ đến con. Cả hai cùng hỏi một câu nhưng mỗi người một cách. Ẩn sĩ chậm rãi nói:

    - Một lần kia, có một bị một kẻ thù đáng sợ đến tấn công. Tên này chiếm đoạt tài sản, ruộng vườn và cả gia đình anh. Rồi nó ngồi canh giữ anh và coi như tù bình, còn tài sản anh thì như chiến lợi phẩm của nó...

    Người đàn bà lắc đầu, chị đã hiểu. Ẩn sĩ tiếp:

    - Anh ta không bao giờ có ý nghĩ tự vệ, chống lại tên thù cường bạo đó. Nó chiếm đoạt tất cả nhà cửa, tổ ấm, vợ con. Và anh ta không chống cự lại, trở thành nô lệ cho hắn.

    Người đàn bà lắng nghe càng lúc càng thích thú dán mắt vào vị ẩn sĩ.

    - Một ngày kia, ẩn sĩ tiếp, anh ta hiểu rằng anh không thể tiếp tục để hắn hành hạ mình. Anh nhìn kỹ những xiềng xích mình đang mang, và với sức mạnh của Thiên Chúa, anh đã bẻ gãy hết cái này đến cái khác. Anh chiến đấu với kẻ thù để lấy lại tất cả những gì tên này đã cướp đoạt của anh. Và anh bắt đầu chiếm lại dần tài sản của mình.

    Vị ẩn sĩ vừa nói cho cả hai mẹ con cùng nghe. Ông quay mặt về hướng cửa sổ, nhìn tia sáng vàng báo hiệu ngày đang rạng. Và ông thêm một câu duy nhất:

    - Hôm nay, người ấy đang vùng đứng lên để khởi đầu cuộc chiến đấu.

    Lời đó đã có một âm hưởng trong trái tim người đàn bà, chị mấp máy đôi môi như muốn nhắc lại. Có thật rằng một cái gì mới mẻ sắp bắt đầu không? Phải chăng ước vọng thâm sâu và niềm cậy trông kiên trì của chị đã không luống công? Và cuối cùng, một mảnh hạnh phúc có tìm được lối về tổ ấm của chị không? Bất giác chị vội kéo đứa con lại sát mình.

    Tuy nhiên, những lời nói của vị ẩn sĩ vẫn có một âm thanh là lạ. Chị không hình dung được sự giải thoát theo kiểu này. Chị mong chờ nó dưới dạng một phép lạ, hay nhất là qua trung gian các phương tiện ban ân sủng của Giáo Hội. Thế nhưng, đằng này điều ẩn sĩ nói lại khác hẳn. Một cuộc chiến đấu bắt đầu... Thế thì kết quả còn lâu mới đạt được, và không biết có thắng cuộc không? Chị lẩm bẩm:

    - Thế thì điều mà mọi người và các linh mục cho rằng: ăn chay... cầu nguyện... và Đức Mẹ Thiên Chúa có thể làm phép lạ, lại không đúng sao... ?

    Bị giao động chị lại im lặng và nhìn vị ẩn sĩ với vẻ e dè. Lẽ ra chị phải vui mừng về điều ông nói, nhưng chị không làm được. Điều đó quá xa lạ với những gì chị chờ đợi.

    - Thiên Chúa hằng nhận lời chúng ta, ẩn sĩ đáp. Người ban ơn lành và sức mạnh cho chúng ta, những ơn tuyệt hảo và sức mạnh phi thường. Nhưng kẻ nào cất dấu một hồng ân tận đáy lòng và để hoang phí, sống như không có nó, hay người nào để yên không sử dụng một sức mạnh mà Thiên Chúa không còn biết cho gì hơn nữa. Không ai trở nên phú túc về phần thiêng liêng nếu đã không biết dùng lòng tin mà nói “Tôi đã lãnh nhận” cũng không ai trở nên cường tráng trong nội tâm nếu đã không biết nói lên “Tôi có thể”

    Người đàn bà ra dấu đồng ý, chị đã hiểu điều này. Ý tưởng này là mối dây liên kết hai quan niệm cũ và mới của chị về sự vật. Tuy nhiên vẫn còn thiếu một cái gì... Vậy còn mối băn khoăn lo lắng thường xuyên và độc nhất của chị về chồng, mối băn khoăn mà cho tới vừa rồi khi chị rời khỏi ghế quỳ cầu nguyện chị vẫn còn ôm ấp? Như có cái gì bảo chị đừng hỏi ẩn sĩ về điểm này ngay bây giờ, nhưng cầm lòng không được nên câu hỏi lại buột ra:

    - Nhưng anh ấy có lành bênh được không?

    Ẩn sĩ không nói một lời, nhưng chính em nhỏ trả lời thay ông. Từ nãy tới giờ, em im lặng lắng nghe câu chuyện mà em chỉ hiểu lõm bõm. Em đã hiểu lời của vị ẩn sĩ: “Ngay hôm nay, người ấy đang vùng đứng lên để khởi đầu cuộc chiến”, lời nói ấy về cha em. Và hơn cả lời nói, em đã hiểu giọng nói thay đổi của vị ẩn sĩ mà em cảm thấy đượm nét vui mừng và chiến thắng. Chỉ bằng trực giác mà em hiểu chứ không thể diễn tả bằng lời nói. Em kéo áo mẹ, vẻ ngạc nhiên và phiền trách:

    - Mẹ ơi, ông nội bảo rằng ngay từ hôm nay ta bắt đầu trở lại như ngày trước.

    Người mẹ nhìn vị ẩn sĩ. Liệu chị có hiểu lời vị ẩn sĩ như con chị hiểu không? Ẩn sĩ đặt tay lên đầu cô bé.

    - Cháu nói đúng, giọng ông dịu dàng. Con người hôm nay, chuẩn bị tâm hồn để chiến đấu, cũng chính thật sự là mình ngay từ bây giờ. Tâm hồn càng khỏe mạnh bao nhiêu thì càng lướt thắng khó khăn và càng biết chế ngự thân xác bấy nhiêu. Có thể một ngày nào đó chồng chị sẽ vui mừng hoan hỉ nhận được ơn Thiên Chúa ban cho bình phục hoàn toàn, nhưng cũng có thể một ngày nào đó tinh thần anh sẽ cường tráng đủ để dâng hiến cho Thiên Chúa sức khỏe thể lý, như một cái gì từ nay anh không cần nữa. Chỉ Thiên Chúa mới biết điều đó. Nhưng dù anh có thưa cùng Chúa với lòng tin mạnh mẽ: “Con có thể chịu bênh tật, vì con tin đó là Thánh Ý Ngài”, trong cả hai trường hợp, anh đều mạnh mẽ đủ để thực hiện những lời đó. Anh sẽ trở thành chính con người thật của mình. Không những anh sẽ là người mà chị quen biết và yêu mến lúc chị hiến dâng đời chị cho anh, nhưng anh sẽ còn là người mà, vào những ngày chị xây mộng đẹp khi tình yêu đang nồng nàn nhất, chị biết rằng anh rất có thể trở nên trong trường hợp thuận tiện nhất, và là người chị đã ngắm nhìn hình ảnh kiện toàn trong thâm tâm. Như thế chưa đủ cho con sao?

    - Vâng, đúng là đủ rồi. Chị nhanh nhẹn trả lời. Con người mà trong những ngày ấy tôi biết rằng anh có thể trở nên... Vâng, thế là đủ.
     
    vinhhoa thích bài này.
  8. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    7. ĐỨC TIN.

    Một thiếu phụ đến viếng ẩn sĩ. Khó mà đoán được tuổi chị; chị có gương mặt đẹp và trang trọng, cử chỉ mềm mại và thư thái, khiến ta cảm tưởng chị không vội vã bao giờ.

    - Thưa cha, chị nói cha thật hạnh phhucs vì có niềm tin. Vâng, bất cứ ai tin đều được hạnh phúc. Khi người ta tin rằng sự đau khổ mình đang phải chịu là do bàn tay của người cha yêu thương mình gởi đến, thì đau khổ có kể là gì. Và nếu một người thân mất đi, người ta cũng chẳng xem sao, vì biết rằng sẽ còn gặp gỡ nhau ở đời sau. Con không hiểu được vì sao những người tự xưng mình có đức tin lại có thể phàn nàn về cuộc sống. Theo con dường như đối với họ tất cả đều phải dễ dàng.

    Cụ già tỏ vè đồng ý:

    - Đúng vậy, nếu chúng ta tin thật sự, thì tất cả sẽ dễ dàng đối với ta.

    Thiếu phụ thinh lặng một lát, rồi nói gọn lỏn:

    - Phần con, con không thể nào tin được.

    Ẩn sĩ nhìn chị rất lâu, chờ đợi chị nói tiếp. Nhưng chị im bặt. Sau cùng ẩn sĩ hỏi:

    - Chị chưa bao giờ tin hay sao?

    Thiếu phụ do dự, rồi nói tiếp:

    - Đôi lúc con có trực giác rằng những gì là tinh túy và tốt đẹp nhất trong những tín ngưỡng của con người ta phải là thật. Và khi ấy cảm giác đó hầu như trở nên một xác tín. Con nghĩ rằng sự thể phải là như vậy, nếu không thì cuộc sống sẽ quá khó khăn và quá bí nhiệm. Nhưng cảm giác đó từ ngoài đến và không được lâu. Chắc chắn trực giác và niềm xác tín đó không do tự con, nếu không nó đã không hoàn toàn biến như vậy.

    Ẩn sĩ nói:

    - Sự hiểu biết của chúng ta về những điều thiêng liêng đôi khi giống như ghềnh đá và ven bờ phản chiếu trên mặt hồ miền núi. Chỉ những khi yên lặng tuyệt đối, hình ảnh kia mới in nét trong suốt và rõ rệt, khiến ta tưởng như có thể sờ đụng tới được. Nhưng khi có một làn gió nhẹ thoáng qua, hình ảnh bị mờ đi, và chỉ một cơn giông cũng đủ làm nó biến mất. Nhưng nếu không có thực thể phản chiếu thì sẽ không thể có hình ảnh.

    Thiếu phụ lắng nghe, có vẻ suy tư về điều vừa nghe. Nhưng chị không đáp lại. Ẩn sĩ hỏi:

    - Giả như tôi bảo chị rằng: Chị có thể đạt tới đức tin nếu chị hy sinh từ bỏ, hãm mình đền tội, ăn chay cầu nguyện trong vòng nhiều năm, thì chị có chấp nhận điều kiện đó không?

    - Vâng, thiếu phụ trả lời không chút do dự. Nếu con biết chắc điều đó dẫn đến niềm tin, con sẽ ăn chay, canh thức, con sẽ làm hết mọi việc đền tội cha bảo con phải làm.

    Ẩn sĩ hiểu rằng từ lâu nàng đã theo đuổi con đường khổ chế, và ông nói thêm:

    - Và giả như tôi bảo chị rằng chị cần phải chịu đau khổ nhiều, và điều này tùy chị chọn lựa?

    - Con sẽ chọn đau khổ, chị hăng hái trả lời, nếu con tin rằng có thể đạt tới mục đích bằng cách này.

    Ẩn sĩ mỉm cười buồn bã khi nghe câu “nếu con tin”. Hoài nghi vẫn nằm ở đấy.

    - Và nếu chị phải hy sinh cái quý nhất của chị?

    Thiếu phụ lưỡng lự một lát, gương mặt vốn nghiêm trang lại càng trở nên trang trọng hơn. Cuối cùng nàng thốt lên:

    - Điều này con cũng sẽ làm, vâng, cả điều này nữa.

    - Thế thì chị có đức tin, ẩn sĩ nói:

    - Con, con mà có đức tin? Thiếu phụ ngạc nhiên hỏi lại. Con chỉ mới nói rằng con sẵn sàng hy sinh tất cả, nếu con có thể đạt tới đức tin bằng cách đó.

    - Khi mà lòng mến một điều tốt đẹp hơn, người ta sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ, mọi hy sinh trong một thời gian lâu dài, thì như thế tỏ ra rằng người ta tin vào điều đó. Chị đã tin vào thực tại tốt đẹp đó và chị tin rằng nó xứng đáng với cái giá mà chị sẵn sàng trả để đạt được nó. Chị không cảm thấy mình chiếm hữu được đức tin. Chị không cảm thấy niềm vui và sức mạnh mà đức tin đem lại, nhưng chị đã có đức tin thật sự.

    - Có thật thế không, thiếu phụ hỏi, càng lúc càng sửng sốt, vậy ra con có đức tin sao?

    - Phải, Thiên Chúa đã cho đức tin nẩy mầm và lớn lên trong tâm hồn chị cho dù chị không nhận thấy, và không biết được Thiên Chúa đã làm cách nào. Nhưng chị vì đã sống quá lâu trong hoài nghi, nên chị khó mà tin được rằng mình có đức tin.

    - Vâng, đúng thế, con nghi ngờ chính niềm tin của con.

    - Đừng hoài nghi nữa, vị ẩn sĩ nói, đức tin là một cây non mảnh dẻ, và niềm tin của chị mới là một mầm non còn yếu ớt. Trong bầu khí băng giá của hoài nghi, nó có thể chết được.

    Ẩn sĩ lặng thinh một chập, rồi tiếp:

    - Chị muốn giữ chay, canh thức, chịu đau khổ, để có được đức tin. Thế nhưng không cần phải làm những điều đó, vì chính chị đã có được ân huệ tuyệt hảo ấy của Thiên Chúa rồi. Điều cần thiết bây giờ là đừng làm nó chết ngạt.

    Thiếu nữ thinh lặng, một vè đẹp chiếu sáng gương mặt chị. Chị càng đắm chìm trong suy tư gương mặt chị càng rạng ngời một vè đẹp thầm kín, tựa hồ ẩn sĩ đã báo tin chị sắp được làm mẹ.

    Sau cùng thiếu phụ ngước mắt nhìn ẩn sĩ. Đôi mắt đẫm lệ, nhưng đó là những giọt lệ vui mừng.

    - Con không muốn bóp nghẹt chút gì, nàng dịu dàng nói, nhưng con phải làm gì bây giờ?...

    - Chị phải tin vào chính niềm tin của mình, ẩn sĩ đáp. Nếu chị từ chối nó, nó sẽ không thể sống được. Chị phải tin vào nó.

    Thiếu phụ cúi đầu. Lúc đó chị có cảm giác là chị thiếu một chút, mình đã chối từ đứa con đang mang trong dạ.

    Rồi chị lại nhìn ẩn sĩ, ngập ngừng một lời tạ ơn và thinh lặng cáo biệt.

    Ẩn sĩ nhìn chị thong thả lần xuống đường mòn, êm như trong giấc mộng.
     
  9. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    8. TRỞ NÊN TỐT LÀNH.

    Một buổi chiều thu, một người đàn bà men theo con đường nhỏ dẫn lên nhà vị ẩn tu. Bà từ một thôn xóm xa xôi tới chớ không phải ở dưới làng dưới lên. Bà dậy thật sớm từ tinh sương, nhưng bà đã dừng lại nơi mỗi chặng đường thánh giá bên vệ đường. Có chặng bà đặt những đóa hoa như các trẻ nhỏ quen làm. Chặng khác, bà thầm thĩ một kinh Lạy Cha hoặc một kinh Kính Mừng. Tới ngôi nhà nguyện nhỏ trên một đỉnh đồi cao nhất, trên tường có những bức họa phô diễn các linh hồn nơi luyện ngục, bà dừng lại ở đây, lần một chuỗi Mân Côi chỉ cho các linh hồn bị bỏ rơi. Rồi bà lại tiếp tục leo núi và sau cùng, thở hổn hển và kiệt sức, bà tới trước cửa hang.

    Vị ẩn sĩ ngồi ngay ngưỡng cửa. Bà tiến lại gần.

    - Thưa cha, bà nói, từ ba mươi lăm năm nay, con làm những việc vất vả, nặng nhọc nhất, con từ bỏ tất cả những lạc thú trần ai. Con trốn tránh mọi cám dỗ. Hết ngày này sang ngày khác, con nhẫn nại vác thánh giá Chúa, và con bố thí cho người nghèo theo sức con, con không chểnh mảng bỏ xem lễ bao giờ. Con cầu khẩn Đức Mẹ và Các Thánh; con rên rỉ thảm thiết xin các ngài trợ giúp, nhưng không ích gì cho con cả. Lòng con hẳn là xấu xí lắm, vì con nhận thấy nơi con vẫn có chút gì ma quái ngay cả khi con không vấp phạm. Con ước ao trở thành những đấng Thánh mà con thường nghe nói, nhưng con vẫn còn là một kẻ trọng tội. Con không tin rằng có lúc con có thể làm được việc gì với ý ngay lành. Con giúp đỡ tha nhân nhưng con không yêu mến họ. Và ngay trong lúc mà con tỏ lỗi với con, con cũng cảm thấy kiêu ngạo vì thấy không bao nhiêu người chỉ có một mình con là đi tìm sự thánh thiện.

    Bà ngưng lời mắt nhìn vào cõi mơ hồ. Bà thầm thì nói tiếp:

    - Không còn cách gì để trở nên tốt lành nữa sao? Con chỉ còn cái cách là nghĩ đến nó. Con đề phòng tất cả mọi tư tưởng của con. Con làm điều mà con tin rằng Chúa đòi hỏi nơi con, ít ra con thử cố làm. Điều đó không ích gì sao? Vậy con phải làm gì nữa?

    - Không, vị ẩn sĩ dịu dàng trả lời, điều đón không ích gì cả.

    Có thể là bà đã chờ đợi câu trả lời đó thay vì ngạc nhiên. Câu đó như xác nhận kinh nghiệm của bà; nhưng bà nhắc lại:

    - Con phải làm gì nữa?

    Hai người cùng im bặt. Người đàn bà cất tiếng:

    - Phải chăng còn không đủ lòng thống hối ăn năn? Hay con không cầu nguyện và chiến đấu cho đủ?

    - Đủ, vị ẩn sĩ trả lời, và quá lẽ quá đủ. Con đã ngược đãi thân con. Hãy ngắm xem cảnh vật quanh con. Bông hoa đâu có cần áp lực để trổ bông? Nó cũng không cần lo lắng đến hình dáng màu sắc. Nó hút thức ăn dưới đất, nó uống ánh dương và sương mai; và làm như vậy nó trở thành một trong những kỳ công của Thiên Chúa nơi trần gian. Con hãy làm như bông hoa.

    - Vậy con không cần phải chiến đấu, không cần phải hãm mình nữa chăng? Bà ta thầm thì; từ đây con sẽ khoanh tay và không làm gì nữa cả chăng? Cha là ai mà dám nói lên những lời như vậy.

    - Ta là một kẻ từng sống nhiều, ẩn sĩ trả lời.

    - Thế nhưng con người cũng phải khác bông hoa chứ? Người đàn bà phản đối. Trong làng có hàng trăm người sống kiểu cha nói. Không một lúc nào họ nuối tiếc họ là gì, họ nghĩ gì, họ sẽ trở ra sao. Nhưng đó chỉ là những người chất phác.

    Nhà ẩn tu không hưởng ứng điều nhận xét đó.

    - Ta không thể trả lời cách khác cho con được. Hãy về đi và trong đời sống hãy ráng làm như bông hoa.

    Ông nhìn người đàn bà và biết bà ta nghĩ rằng ông đã cho bà hòn đá thay vì chiếc bánh. Nhưng ông để bà ta ra về, chỉ buồn rầu nhìn theo. Cho tới khi bà đã xa hẳn rồi, mắt ông vẫn còn đăm đăm nhìn về phía bà khuất dạng. Môi ông mấp máy, nhưng không rõ ông nói gì.

    Thời gian trôi đi. Sau cùng người đàn bà trở lại hang đá. Và lần này cũng vẫn bà lên tiếng trước.

    - Lạ thật, bà nói, con không quên được những lời cha nói về bông hoa, con tin rằng giờ đây con mới hiểu được đôi phần điều cha muốn chỉ dạy. Con đã tập sống theo lời cha: không chịu khó, không chiến đấu, nhưng giữ bình tĩnh và mở rộng tâm hồn như để hô hấp. Và... tất cả đều thay đổi. Thật là khác hẳn... Hình như có một cái gì lớn lên nơi con. Vâng, con không thể diễn tả nỗi điều đó... Hầu như là con sống động hơn...

    Vị ẩn sĩ vui vẻ nhìn bà nhưng lặng thinh. Bà lại tiếp:

    - Trước con chỉ làm việc và chiến đấu. Con không còn giây phút nào để thở nữa. Dù vậy lỗi lầm và tội phạm con vẫn thấy chồng chất. Chúng trở nên kinh khủng. Bây giờ thì có thể nói là chính Chúa làm việc nơi con.

    Vị ẩn sĩ ra dấu chấp thuận.

    - Đúng lắm, ông nói, lỗi lầm, tật xấu của ta không phải là quan trọng ở đời này. Nếu chúng trở thành quan trọng, chỉ là để làm tê liệt ta. Nhưng điều hệ trọng nhất là chính Chúa làm. Và cái đó mới giải thoát ta.

    Người đàn bà chăm chú lắng nghe và nghiêng đầu tỏ ý tán thành. Rút cuộc bà đã hiểu phần nào.

    - Thưa cha, bà nói, xin hãy dạy con một điều: sự gì xảy ra nơi con khi con cố sống như bông hoa?

    - Đó là sức mạnh Chúa.

    Gương mặt người đàn bà rạng lên một niềm vui khiêm tốn.

    - Con cũng nghĩ thế, bà ta nói, nhưng đó là phép lạ của Chúa.

    - Phải rồi, vị ẩn sĩ đáp, chính thế đó.

    Người đàn bà đứng lặng hồi lâu, chìm đắm trong suy tư.

    - Con vui mừng hết sức, bà nói, nhưng con e điều đó sẽ trở lại. Thưa cha, liệu nó có thể trở lại được không?

    - Không, nếu con đừng nghi ngại gì, ẩn sĩ trả lời.

    Bà suy nghĩ về câu đáp, rồi lại nói:

    - Con vẫn chưa làm chủ được lối sống mới này; con sợ không thể làm được tất cả những gì phải làm con sợ không có thì giờ, con bất lực rồi.

    - Nếu con không hấp tấp, nhà lão thành trả lời, nếu con không áy náy đến kết quả của việc con làm, khi đó con sẽ đủ sức.

    Người đàn bà nhấn mạnh:

    - Nếu con không biết làm, nếu con nghi ngờ?

    - Thế thì hãy làm điều con thích hơn cả. Ẩn sĩ đáp.

    - Điều con thích làm hơn cả... Câu trả lời của cha thật bất ngờ. Dù sao con cũng phải làm điều Chúa muốn, không phải theo ý con...

    Vị ẩn sĩ mỉm cười.

    - Ta thấy ở con lúc nào cũng có sự hoài nghi về Thánh Ý Chúa. Nhưng làm sao con biết được, nếu con không nghe theo tiếng nói tự đáy lương tâm con? Nơi đó Chúa phán dạy. Chỉ có bề ngoài của con đôi khi muốn làm trái lại. Phải, con hãy làm điều con muốn khi con tự vấn trước nhan Chúa.

    Bốn tia mắt giao nhau. Và, trên gương mặt người đàn bà, niềm vui khiêm nhu lúc nãy lại hiện ra. Bà hít một hơi dài khoan khoái.

    - Lời chỉ giáo của cha thật bất ngờ. Nhưng nó giúp ích nhiều.

    Và bà lui gót.
     
  10. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    9. TÌNH BẠN

    Mùa đông năm ấy thật lạnh. Đã ba lần, xóm làng bé nhỏ dưới thung lũng dựa vào triền núi – nơi định cư của vị ẩn sĩ – bị băng tuyết phong tỏa hoàn toàn. Xuân về, khi nước lớn, những khối tuyết tan chảy ồ ạt đổ xuống thung lũng, những khe nước không đủ sức chứa nữa. Khắp vùng núi đâu cũng có nước chảy, khiến các cánh đồng dưới chân núi đều bị ngập lụt. Nhiều phen, người ta đã lo rằng, căn chòi này hay kho thóc nọ bị cuốn đi. Thế nhưng, không có tai ương nào xảy ra cả. Sau cùng, những ngôi nhà bé nhỏ lại nhô lên, xám đen hơn và xiêu vẹo hơn trước, với các chân cột mục nát thêm và chóng suy sụp hơn.

    Rồi những ngày tươi đẹp trở lại, các dòng nước rút về lòng khe. Khối nước lũ phủ ngập cánh đồng và bãi cỏ làm tê liệt đường sá, cầu cống cũng lần lượt biến mất. Mùa xuân trở lại như phép màu.

    Trong suốt mùa đông, dân làng thường nghĩ đến vị ẩn sĩ. Họ lo, không những ông bị rét hơn thường lệ vì tuyết năm ấy rơi rất nhiều, mà họ còn lo vì chuyện khác nữa. Từ thuở nào đến nay, người ta vẫn thường thấy ẩn sĩ đi lại trong rừng, đôi khi băng ngang qua làng. Người ta vẫn biết ông đã già, lưng còng xuống, dáng đi chậm rãi. Nhưng nay, ông còng lưng xuống hơn trước, và khi đi lại quanh hang đá của ông, xem ra vất vả lắm. Để xuống làng, ông phải mất trọn một ngày đàng, và người ta tự hỏi không biết khi trở về phải leo dốc thì phải ra sao, có lẽ buộc lòng ông phải dừng lại nghỉ đêm dưới gốc cây, hoặc tiếp tục mò mẫm đi trong đêm tối cũng không chừng. Càng ngày ông càng ít xuống thăm làng, và giả như các bà nội trợ tại các nông trại quen biết, không mang lương thực tiếp tế cho, thì có lẽ ông cũng đành chịu thiếu thốn cả những vật dụng cần thiết. Về củi đun cũng vậy: các bà chất một số củi khá dồi dào gần hang đá, vì giờ đây ông quá yếu không thể đi nhặt cành khô trong rừng được nữa.

    Đã hơn một lần, các bạn hữu của ông dưới làng cùng nhau thổ lộ nỗi lo lắng của họ về người bạn già trên núi. Họ cũng nhận thấy là mắt ông đã kém tinh tường, ông có thể vấp ngã và bị thương, hoặc ông rất có thể đau ốm và bị bỏ rơi trong hàng một mình mà không ai biết. Không, tình trạng không thể kéo dài thế này mãi được, không thể để vị ẩn sĩ trên núi một mình lâu hơn nữa.

    Vài người trong làng là bạn thân của vị ẩn sĩ từ lâu, bèn quyết định lên thăm ngài. Vào một buổi chiều xuân đẹp trời, họ lên đường, khi cả cánh rừng như ngời sáng với lá xanh, hoa thắm. Đám rêu màu xanh mát và tươi ánh lên như bạc. Rặng thông trổ đầy búp, cây tùng mang đầy quả đỏ hình nón chóp, trên thảm cỏ lốm đốm những bông hoa trắng óng ánh như những vì sao. Tuy ngày sắp tàn nhưng trời còn sáng lắm.

    Họ thấy ẩn sĩ ngồi trước hang, với dáng người quen thuộc, lưng dựa vào một tảng đá. Thấy họ đến và đứng quây chung quanh mình, ông không đổi dáng ngồi, chỉ lần lượt nhìn từng người cách lặng lẽ. Ông không quen tiếp nhiều người cùng một lúc như thế này bao giờ. Khi dân làng đến tâm sự, họ thường thích nói riêng trong tình thân mật mà thôi.

    Khi biết rõ họ đến thăm với mục đích gì, ông tỏ vẻ ngạc nhiên và xúc động. Ông nói:

    - Có phải chỉ vì thế mà các con đến chăng? Các con yêu quý, chỉ vì ta mà các con đến đây sao? Thật là quý hóa! Nhưng đừng nhọc công lo lắng cho ta làm gì. Ta được số phận may mắn hơn các con ở dưới đó nhiều. Không ai sung sướng bằng ta. Thử nhìn coi ở đây có đẹp không? Mỗi sáng ta thấy mặt trời trước các con, và chiều đến ta còn thấy ánh sáng lâu hơn các con. Hãy lắng nghe tiếng chim. Các con có nghe chúng hót không? Tiếng gió rì rào trong rặng thông, gió thổi qua rồi trở lại. Gió là bạn của ta và không làm ta sợ chút nào, ngay cả khi giông tố bão lốc. Nhưng ngoài chim và gió ra, ta không còn nghe thấy gì nữa. Ở đây rất yên tĩnh, bình lặng, vạn vật như nín hơi. Các con có đồng ý là ở đây sướng lắm không?

    Một trong những phụ nữ lên tiếng:

    - Nhưng cha có thể ngã bệnh và phải nằm lẻ loi một mình không ai chăm sóc.

    Ẩn sĩ mỉm cười nói:

    - Chết ư? Không đâu. Người ta không chết đâu. Mọi người lầm tưởng người ta chết, nhưng không phải thế.

    Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của họ, ẩn sĩ lại cười, rồi tiếp:

    - Cái mà chúng ta gọi là cuộc sống, đó chỉ là một cuộc hành trình. Mỗi người tiếp tục dấn bước theo con đường của mình không ngừng. Đôi lúc có người cùng đi bên cạnh, nhưng thường là đi một mình. Vùng đất ta băng qua, thay đổi theo nhịp tiến. Có lúc trời sáng sủa, đường đi dễ dàng, ngược lại, có lúc cực nhọc khó khăn. Nhưng dọc đường, ta nhìn ngắm, ta học hỏi và sau cùng, ta thu thập được nhiều điều hơn khi mới khởi hành. Rồi đến ngày mà mọi sự đều thay đổi và một chặng đường mới bắt đầu. Những gì, cho đến bây giờ còn là cần thiết cho chúng ta, từ nay ta có thể bỏ qua được hết. Bỏ lại để rồi lại tiếp tục lộ trình của mình. Người ta gọi đó là cái chết.

    Họ im lặng nhìn ẩn sĩ, tỏ vẻ sửng sốt. Ông tiếp:

    - Khi ngày đó đến, ta sẽ không cần đến bàn tay này nữa – và ông giơ ra ánh sáng bàn tay gầy guộc nổi gân xanh – cũng không cần đến đôi chân này đã từng mang ta đi khắp đồi núi. Cả đến đôi mắt này đã từng chiêm ngưỡng những kỳ công của Thiên Chúa trong thế giới hữu hình, hữu sắc này. Và cũng không cần đến đôi tai này, biết bao lần đã giúp ta nghe được những lo âu phiền não của các con, với cả đôi môi này nữa, đã chuyển đến các con lời giải đáp của ta. Và vì không cần đến chúng nữa, nên ta bỏ lại. Chúng sẽ trở về với thế giới tro bụi vốn là của chúng. Còn ta, ta sẽ đi xa hơn nữa, để nhìn ngắm, học hỏi và thông hiểu nhiều hơn.

    - Nhưng rồi chúng con sẽ ra sao, sau khi cha lìa bỏ chúng con? Một thiếu phụ vội hỏi.

    - Các con lại tiếp tục con đường của các con, ẩn sĩ đáp, mỗi người có con đường của mình. Vì không ai có thể đi thay con đường của người khác. Và rất ít khi chúng ta được cùng đi với nhau. Nếu có dịp đồng hành, thì hãy cùng đi trong niềm vui. Nhưng khi giờ đã điểm, giờ mà mọi sự đều thay đổi, thì chúng ta sẽ chỉ có một mình. Và chúng ta phải tiếp tục con đường một mình.

    - Cha có nghĩ rằng chết là... khó lắm không? Một người đàn ông lên tiếng hỏi.

    - Nếu chúng ta chỉ sống cho những gì chúng ta sẽ phải để lại, cho những gì chúng ta ăn uống, hoặc cất giữ trong rương, trong két, nếu chúng ta chỉ sống bằng thân xác chúng ta là những thứ sẽ trở thành tro bụi, thì chết chắc sẽ là điều khó khăn. Khi ấy ta sẽ có ấn tượng là mình chết thật sự. Thế nhưng đó chỉ là ảo tưởng, vì cuộc sống không phải là cuộc sống thật.

    Im lặng một lát, ẩn sĩ lại tiếp:

    - Cuộc sống thật, ta không sống bằng thân xác, nhưng bằng con người nội tâm của chúng ta. Đó là cuộc sống ẩn giấu. Nếu ta bắt đầu cuộc sống đó ngay từ đời này, thì khi ấy ta sẽ tiếp tục sống cuộc sống ấy và ta sẽ tiến bước cách tự do, thanh thoát hơn.

    Ẩn sĩ đứng dậy, các bạn ông sửa soạn ra về.

    - Vậy thưa cha, cha không đến với chúng con sao? Một người trong nhóm vội hỏi.

    Ẩn sĩ suy nghĩ giây lâu. Sau cùng ông đáp:

    - Phải, ta sẽ đến ở với các con ít lâu. Thế nào ta cũng phải đến. Có lẽ vào mùa thu năm nay, khi lá cây dưới làng ngả màu vàng, và trên này trái thông cứng lại, khi băng giá làm nhăn các trái nạc đỏ, khi đó ta có thể... trong một thời gian ngắn... Những tiếng sau cùng ông nói rất khẽ.

    Các bạn ngài đành tạm bằng lòng với lời hứa này.
     
  11. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    10. NGƯỜI CHỦ TRẠI.

    Mùa hè năm ấy, số người lên thăm ẩn sĩ đông. Người ta biết rằng ẩn sĩ không còn sống bao lâu nữa, và trong đám dân làng, những ai cho đến bây giờ chưa hề đến gặp ông, cũng bắt đầu nghĩ đến chuyện đi viếng ông. Và như thế, có nhiều người đã lên đường mà không biết vì sao. Họ có cảm giác sẽ đánh mất một cái gì không hàn gắn được, nếu ẩn sĩ chết đi mà họ chưa có dịp gặp gỡ và hầu chuyện ông.

    Một hôm, trong làng người ta kháo nhau rằng chủ trại Phêrô lên thăm ẩn sĩ. Nhiều người ngạc nhiên về điều đó. Vì nông trại của anh Phêrô không giống các nông trại khác: người ta có thể nghĩ rằng hình như trại đó bị nguyền rủa. Nông trại này không bao giờ được mùa, cả những khi hàng xóm mừng vì thu hoạch tốt. Đành rằng những đất đai của anh gồm những cánh đồng sỏi đá, cây cỏ hiếm hoi, nhưng đó cũng là trường hợp chung cho hết cả dân làng; vì thế người ta tin phải có nhiều lý do khác gây ra việc thiếu may mắn này. Các người làm thuê cho anh luôn bất mãn và lười biếng; gia súc không phát triển; cả đến vườn rau cũng vậy, mặc dù nơi đây đất đai khá màu mỡ, cũng chỉ sinh cỏ dại chứ không có gì khác. Tắt một lời, ngay đến đứa con nít cũng hiểu được rằng có một cái gì không ổn trong nông trại của Phêrô.

    Tuy nhiên, người ta không thể nói được rằng vợ chồng anh nông dân đó là những người lười biếng hay thiếu khả năng. Chắc chắn không phải vậy. Họ làm việc còn kham khổ hơn bất cứ ai, họ là những người cần kiệm. Anh chồng luôn đích thân đến các phiên chợ để mua bán cho được lợi hơn. Nhưng một ngày kia khi người ta thấy anh trở về với con ngựa chột và con lừa ít ngày sau ngã bệnh, người ta hiểu ngay rằng khi mọi việc đã lệch lạc, thì không thể làm gì được, dù có chăm sóc hay cố gắng cũng không thay đổi được gì. Mà trong nông trại anh Phêrô, mọi việc đều không may thế đấy.

    Trong trại không có bóng một đứa bé. Có người thì cho thế là hay, vì nghĩ rằng một đứa bé sẽ không thích thú ở đấy. Trái lại, người khác – thường là các bà mẹ - cho rằng sự hiện diện của một đứa trẻ có lẽ sẽ thay đổi tất cả trong nông trại.

    Nhưng điều làm dân làng ngạc nhiên hơn cả, là hai vợ chồng anh nông dân rất siêng đi lễ và xưng tội, và cũng mau mắn dâng cúng Đức Mẹ và các thánh như bất cứ ai.

    Vị linh mục, thường đi qua gần đó, thỉnh thoảng lại ghé thăm. Và khi con chiên của ngài than phiền về những mối âu lo của họ. Ngài lại tìm cách an ủi rằng những khó khăn ở đời này sẽ cho họ hưởng trọng hậu ở đời sau. Nhưng ngài không làm sao cho họ thoát khỏi nỗi ưu sầu. Hai vợ chồng anh nông dân cứ phải tiếp tục cuộc sống nặng nề và kém vui.

    Hôm đó, với tâm trạng không xác tín và gần như miễn cưỡng, anh leo núi đến hang vị ẩn sĩ. Anh như người đứng trước một tình thế mới với một bài toán xa lạ, và tự hỏi mình có nên lo chuyện ấy hay không. Anh có một cảm giác là lạ và khó chịu, vừa xao xuyến vừa chờ đợi. Nếu bây giờ anh quay gót trở về làng, chắc là anh sẽ thấy như trút một gánh nặng. Thế nhưng, dù sao đi nữa, anh cũng không thể đành lòng trở về. Anh tràn đầy hy vọng, mặc dù đang buồn phiền cực độ.

    Vừa đến nơi, anh liền bắt đầu kể chuyện đời anh. Anh kể lể dài dòng về những nỗi vất vả, âu lo của mình, về mùa màng thất thoát, về đàn súc vật thường đau ốm hay chết chóc, về những người làm thuê biếng nhác và thiếu khả năng, về công việc làm ăn thất bại không mang lại kết quả mong muốn, tuy anh rất thận trọng và khéo léo.

    Đã từ lâu ẩn sĩ không được nghe những chi tiết về cuộc sống thường nhật của con người. Anh nông dân dũng cảm thấy ẩn sĩ không phải là người để anh tham khảo ý kiến về những vấn đề đó: thật vậy, làm sao ông hiểu được những việc đó, ông vốn là người sống trên núi, trong cô tịch, dùng hết thì giờ để cầu nguyện và chỉ tưởng nghĩ đến việc trên trời?

    Không, anh không nghi ngờ chút nào về ơn gọi thánh thiện và tốt đẹp nhất này. Nhưng ơn gọi đó không thích hợp cho hết mọi người, và những người chuyên chăm cầu nguyện có lẽ không thể cảm thông được với những người ngoài đời.

    Tuy nhiên, anh vẫn tiếp tục câu chuyện. Anh kể nhiều về vợ anh và về chính mình, tự hài lòng về sự kiên trì và hăng hái làm việc của hai người. Anh khoe khoang nhiều về vợ mình, nhưng thực ra người ta cảm thấy anh cũng rất tự mãn về chính mình, và xét cho cùng, anh cho rằng Thiên Chúa không đối xử với anh đúng theo công trạng của anh. Anh cũng ám chỉ về việc anh năng đi lễ và sùng kính Đức Mẹ. Ngày lễ Đức Bà mới đây, anh đã dâng cúng những mười đồng tiền bạc, và để xin được thu hoạch vụ mùa tốt, anh đã dâng thêm một miếng vàng lá hình lưỡi liềm để treo vào ngón tay của tượng Đức Mẹ trong nhà thờ họ.

    Bất giác anh nông phu nói những lời sau cùng thật khẽ vì không ai được biết xuất xứ những của dâng cúng tự nguyện trong nhà thờ. Tội kiêu ngạo sẽ dễ len lỏi vào lòng người ta và, như mọi người đều hiểu biết, như thế của dâng hiến sẽ mất hết giá trị. Nhưng với ẩn sĩ thì khác, người ta có thể tâm sự với ông cả những điều đó nữa. Chắc ông sẽ không kể lại cho ai biết miếng vàng đó là của chủ trại Phêrô dâng cúng.

    Nhưng anh nông dân luôn trở lại những nỗi xao xuyến âu lo vốn ám ảnh anh ngày đêm. Không thể biết được sẽ có tai họa nào khác sắp giáng xuống trên họ, hoặc những cố gắng của họ có kết quả mỹ mãn chăng. Họ kiệt sức mà chẳng thu lượm được niềm vui nào. Cuối cùng mọi thứ đó có ích lợi gì?

    Như thế không có nghĩa là anh mong được chết. Xét cho cùng, anh thích nông trại, gia đình và nếp sống cần cù của anh; nếu không có những thứ đó, anh sẽ buồn rầu và không cảm thấy thoải mái. Nhưng vì anh đã nói rất nhiều đến nỗi bất hạnh và buồn khổ của mình, nên sau cùng anh đâm ra thương hại chính mình. Kể xong, anh làm thinh để nghe lời giải đáp của nhà ẩn sĩ. Sau một chập yên lặng, ông lên tiếng:

    - Nỗi bất hạnh xem ra ưa thích ở nhà anh.

    - Chắc hẳn là như vậy, anh càu nhàu.

    - Có lẽ tại anh đã gọi nó đến, ẩn sĩ tiếp lời.

    Vừa nghe những lời này, anh sa sầm nét mặt. Anh đã chẳng kể đầy đủ chi tiết về cuộc sống của anh và vợ anh cho ẩn sĩ biết rằng vợ chồng anh không phải là hạng người xấu nhưng là những người làm lụng chất phác sao? Vậy còn muốn đòi hỏi họ điều gì hơn nữa? Anh vừa lườm nguýt, vừa nói với giọng chua chát:

    - Các bạn láng giềng còn ít chịu khó hơn tôi. Hễ họ muốn là họ tự cho phép mình nghỉ thêm ngày thứ hai và ngày lễ. Họ ăn nhậu vui chơi suốt đêm. Dù thế, mọi việc vẫn êm xuôi đối với họ. Còn cha, cha lại cho rằng mọi sự không may mắn đến với tôi là lỗi tại tôi?

    - Người ta có thể gọi điều bất hạnh đến bằng nhiều cách, ẩn sĩ tiếp. Anh có muốn tôi nói cho anh biết không?

    - Vâng, người nông dân vẫn cau có đáp lại.

    - Tôi không biết phải hiểu thế nào câu trả lời của anh, ẩn sĩ đáp. Miệng anh nói muốn, nhưng lòng anh nói không. Vậy nếu anh không muốn thì anh lên đây làm gì?

    Người đàn ông cúi mặt xuống. Anh đổi giọng:

    - Tôi xin nghe.

    - Người nào làm điều xấu để đạt mối lợi cho mình, người đó sẽ thu hút điều xấu đến với mình. Điều này thật hiển nhiên, và phần đông người ta hiểu trên lý thuyết. Ai hành hạ súc vật bằng cách bắt chúng làm việ quá nặng, hoặc ai không cho người giúp việc ăn uống đầy đủ, thì không thể hy vọng thành công. Còn người nào cho rộng rãi sẽ được bù lại dư đầy. Phúc âm nói: “Bạn đong cho người ta bằng đấu nào, thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy”. Chắc anh cũng thừa biết đời là như vậy. Cái đấu tốt nhất chúng ta có thể dùng chính là tình yêu. Nếu anh yêu chuộng hạt lúa mì đang mọc vì nó cho thấy phép lạ của Thiên Chúa, nếu anh yêu mọi người và súc vật bằng cách lo lắng cụ thể đến quyền lợi của họ cũng như của chính mình, thì khi có được cuộc sống cũng sẽ dùng đấu tốt đong cho anh, đấu đổ đầy và lắc chặt, khi phải định số phận cho chính anh. Anh thấy không: đó là cách ta có thể làm cho hạnh phúc hay bất hạnh đến với mình.

    Người nông dân đã hiểu lời ẩn sĩ nói, nhưng có vẻ không hài lòng. Vì anh không sống hòa thuận với hàng xóm láng giềng và những người giúp việc trong nông trại, anh thường không ở được lâu. Nhưng anh luôn qui lỗi cho hàng xóm và người giúp việc. Thế nhưng ai biết được? Có lẽ chính anh đã không dùng đấu tốt để đong...

    - Nhưng, ẩn sĩ tiếp, còn một cách khác để kêu gọi định mệnh của mình đến. Chính điều ta mong đợi thì nó sẽ đến, và điều gì ta lo sợ tất phải xảy ra.

    Gương mặt người nông dân tươi lên một chút, nhưng rồi tức khắc sa sầm lại ngay, khi ẩn sĩn hỏi:

    - Anh có tin Thiên Chúa không?

    Câu hỏi chi mà kỳ cục! Khi người ta dự lễ và xưng tội, khi người ta dâng cúng cho đền thờ, có thể nào lại là người vô đạo được không?

    - Có, anh trả lời, không cần nén cơn tức giận. Vâng, tôi tin Chúa. Sau khi đã nghe tôi kể chuyện đời tôi thì cha phải hiểu chứ.

    Ẩn sĩ vẫn bình thản. Ông ngọt ngào đáp:

    - Anh đã kể cho tôi nhiều điều thật nhưng chỉ khiến tôi nghĩ trái lại, lòng tin vào Chúa xóa bỏ sợ hải. Người ta không thể đồng thời vừa tin lại vừa sợ. Vì khi ta chiều theo sợ hãi, là ta hết tin rồi.

    Ẩn sĩ đưa mắt nhìn ngọn cây. Một đàn quạ mỏ vàng vừa đáp xuống đậu trên cây thông gần đó. Cụ già xòe bàn tay ra. Một con trong bọn đập cánh vài cái, rồi đáp xuống đậu trên tay ông một cách thân mật. Cụ già lấy mảnh bánh vụn trong chiếc túi da buộc nơi dây lưng, rồi để trong lòng bàn tay cho con chim ăn. Ông từ từ đưa lên gần mặt. Bộ lông đen lánh chạm vào bộ râu trắng toát, như vuốt ve. Rồi ông nâng tay lên, con quạ cất cánh bay đi. Ông nói:

    - Anh thấy đó, con chim tín nhiệm nơi tôi, nó không sợ.

    Người nông dân không biết đối đáp làm sao. Ẩn sĩ tiếp:

    - Người ta có thể sợ sự dữ vì hai lý do: trước hết vì chúng ta quá dính bén những gì thuộc đời này. Chúng ta ưa thích được yên ổn, sung sướng bản thân, sống hạnh phúc và dễ dàng. Vừa khi xảy ra biến cố nhỏ to bất lợi cho ta, hoặc mọi sự không được như ý ta muốn, ta cho đó là tai họa. Tuy nhiên, đáng lẽ ta không được coi những việc đó là quan trọng như thế. “Lạy Chúa, con chỉ cần được Ngài là đủ, con còn mong chi trên trời hay dưới đất nữa?”. Đó chính là điều ta sẽ phải nói như vậy. Nhưng chúng ta đòi hỏi rất nhiều, thường thường chỉ là những chuyện nhỏ mọn, và hễ không được thỏa mãn là ta cảm thấy mình khổ sở.

    Người nông dân suy nghĩ và im lặng. Ẩn sĩ tiếp:

    - Nhưng còn hơn thế nữa, nỗi lo sợ của chúng ta còn bắt nguồn từ sự thiếu tin tưởng vào Chúa. Anh nghĩ sao, khi một đứa trẻ, trước một việc khó khăn lại từ chối không để cha mẹ nó giúp đỡ?

    - Tôi cho đó là một đứa trẻ thiếu khôn ngoan, người nông dân đáp.

    - Còn tôi, tôi bảo cho anh biết đó không phải là một đứa trẻ mà là một người lớn tí hon. Một đứa trẻ không hành động như thế, nó tin tưởng nơi cha nó. Còn người lớn, bất luận nam hay nữ, luôn cư xử như thế với Cha trên trời. Cuộc sống là một công trình lớn lao mà Thiên Chúa đã trao phó cho chúng ta, nhưng Ngài không buộc ta phải làm lấy một mình. Ngài thừa biết chúng ta không đủ khả năng. Dầu vậy loài người đã cư xử không khác đứa trẻ kia, họ cho rằng cuộc sống quá ư khó khăn đến nỗi phải tự lo liệu lấy một mình.

    - Nhưng tôi vẫn đọc kinh cầu nguyện mà? Người nông dân ngắt lời.

    - Phải, anh cầu nguyện, ẩn sĩ nói. Anh tưởng rằng điều đó giúp ích được chút gì chăng. Nhưng đối với anh, thì sự cố gắng của anh là điều chính yếu, mà anh tin tưởng vào đó hơn nhiều.

    Người nông dân cúi đầu xuống. Cơn giận đã qua. Ẩn sĩ có lý, và anh cảm thấy điều đó. Cuối cùng anh hỏi:

    - Thế chúng ta không cần cố gắng sao?

    - Anh hiểu thế nào là cố gắng? Ẩn sĩ hỏi lại.

    Khách suy nghĩ. Cuối cùng anh trả lời:

    - Là làm việc không ngừng, không phung phí thời giờ hay của cải. Và một điều nữa, là phải cảm biết mình có trách nhiệm về tất cả mọi việc – thí dụ tôi có trách nhiệm lo cho nông trại tôi – để công việc làm được trôi chảy và cuối cùng được tốt đẹp.

    - Đúng vậy, ẩn sĩ trả lời, nhưng có bao giờ anh suy nghĩ sự kiện này là kết quả cuối cùng – Sự thành công – không tùy thuộc chúng ta không? Con người không có quyền trên hoàn cảnh định đoạt kết quả. Bởi thế, khi con người muốn cáng đáng việc ấy, là họ đã gánh lấy một công việc quá sức và ngoài khả năng của họ. Và rút cuộc họ phải lo lắng liên miên.

    Người nông dân lại cân nhắc những lời lẽ vị ẩn sĩ, và không thấy có gì để cãi lại được. Đó là sự thật! Phải chăng vợ chồng anh đã lao nhọc và vất vả không ngừng, để rồi chẳng đi đến đâu? Sau một lát anh hỏi:

    - Thế thì không cần phải lo lắng sao?

    - Không, ẩn sĩ nói, dù điều này có làm cho anh ngạc nhiên. Khi con người lo lắng về số phận của mình, tức là họ tự đảm nhận phần việc của Thiên Chúa. Và Thiên Chúa để mặc họ làm. Ngài không cưỡng bách. Nhưng con người không tìm được niềm vui nào ở đó.

    À đúng rồi! Điều này đúng thật! Vợ chồng anh chưa bao giờ nếm được niềm vui.

    - Vậy phải làm thế nào bây giờ? Người nông dân hỏi, sau khi đã ôn lại kỹ càng trong ký ức cuộc sống tại nông trại, và đã thử hình dung những gì sẽ xảy đến trong tương lai nếu anh quyết định từ nay không bận tâm lo lắng nữa.

    - Hãy bắt đầu lại, ẩn sĩ đáp. Hãy đong với cái đấu khác. Hãy dùng cái đấu to lớn của tình thương. Trước hết phải tín nhiệm vào Chúa, và anh sẽ thấy Thiên Chúa dùng đấu nào đong cho anh bắt đầu từ hôm nay. Nếu chúng ta muốn tuân phục Ngài hết lòng, và nếu chúng ta tin tưởng vào điều thiện, thì không có gì ngăn cản phúc lành Thiên Chúa đổ xuống dồi dào trên chúng ta.

    Người nông dân nhìn vị ẩn sĩ với vẻ suy tư, rồi anh quyết định hỏi một câu mà từ lâu:

    - Xét cho cùng, Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc không? Ngài có muốn cho cuộc đời chúng ta trôi chảy êm đềm, ngọt ngào không? Hay là Ngài muốn thấy chúng ta bị đè nặng vì lao nhọc, khắc khoải và khốn khổ? Phải chi tôi biết được điều này!

    Ẩn sĩ cười tươi tắn. Ông nói:

    - Thiên Chúa muốn thấy chúng ta được hạnh phúc.

    Người nông dân cãi lại:

    - Nhưng... rồi anh đứt ngang, gương mặt lộ ra một câu hỏi.

    Ẩn sĩ đáp câu hỏi thinh lặng của khách:

    - Có những đau khổ và giày vò là kết quả của điều xấu ta đã làm. Thiên Chúa không muốn chúng ta làm điều xấu, cho nên Ngài không muốn những hậu quả của nó. Nhưng một định luật của cuộc sống, là mọi hành động xấu tự nó đã mang theo một hình phạt. Vốn phải là như vậy, dù là hành động của chính ta hay của bất cứ ai khác, và dù sự dữ chỉ là một lời nói hay một ý tưởng không diễn tả. Trái đắng cho ta biết cây của nó không tốt. Không có gì ở đời này thoát ra ngoài lề luật đó. Chính đau khổ có vai trò cho ta thấy điều đó. Vì thế chúng ta phải chịu đựng nó. Khi nó hoàn tất nhiệm vụ và khi chúng ta đã am hiểu bài học, thì đau khổ không còn cần thiết cho ta nữa. Chúng ta phải vượt qua nó càng nhanh càng trọn vẹn thì càng tốt. Và chúng ta lột bỏ con người cũ chừng nào, chúng ta đẩy xa ta những gì thuộc thế giới tối tăm chừng ấy. Chính cuộc sống bắt buộc những gì mạnh mẽ trong ta phải lướt thắng những gì yếu kém, những gì lành mạnh phải thắng những gì yếu kém thiếu lành mạnh, và đời sống thoải mái phải thay thế sự bần cùng. Khi chúng ta ước vọng như vậy, là chúng ta đi theo đinh luật bình thường của cuộc sống. Quả thế, cuộc sống dành cho chúng ta muôn vàn ơn phúc lành; một thế giới ánh sáng mở rộng trước mắt chúng ta, nếu chúng ta biết tín nhiệm vào định luật tốt của cuộc sống và biết vâng phục nó. Nhưng con người vừa sợ sự dữ lại vừa tin vào sự dữ. Vì thế con người ngã gục trước quyền năng sự dữ. Ông Gióp đã nói: “Những gì tôi e sợ đã đổ xuống trên tôi”. Và dường như anh đã lặp lại lời của Gióp.

    - Tôi bắt đầu hiểu, anh lẩm bẩm, nhưng điều này khác hẳn những gì tôi... Anh không kết thúc câu hỏi.

    - Phải, ẩn sĩ đáp, khác hẳn.

    *****

    Một hôm, vào cuối mùa hạ, anh Phêrô trở lại thăm vị ẩn sĩ. Người ta đang vào giữa mùa cắt cỏ, nhưng anh cũng cố tìm cách hy sinh một buổi chiều để leo lên thăm ông.

    Như thể cuộc đối thoại bữa trước mới xảy ra hôm qua, anh vào đề ngay:

    - Điều mà chúng ta đã nói, thật là đơn giản hơn cả người ta tưởng.

    - Đúng đấy, đơn giản hơn ta tưởng, ẩn sĩ lặp lại.

    - Sống như tôi sống lúc trước, người nông dân tiếp, chẳng khác nào muốn chèo thuyền trên sông, từ bờ này qua bờ kia. Dòng nước ngược chiều và người ta không tiến được. Người ta cũng đáp vào bờ nhưng ở nơi khác, phía dưới chỗ mình muốn. Và đó là công việc rất vất vả. Còn sống như tôi đang sống bây giờ, trái lại, chỉ là để cho dòng nước đưa thuyền đi. Chỉ cần canh chừng cho nó ở giữa dòng và tự nó tiến tới.

    Ẩn sĩ mỉm cười:

    - Chắc là thuyền anh đang ở giữa sông?

    Người nông dân bỏ nón ra, đứng im hồi lâu. Dung mạo anh thật tươi tắn. Anh nói cách trịnh trọng.

    - Mỗi ngày tôi cố gắng vâng phục định luật tốt, tôi tin tưởng nơi luật đó và luật đó phù trợ tôi. Từ này tôi không còn sợ chi nữa. Ước gì cả cuộc đời tôi được như vậy. Amen.

    Anh đội nón vào và thinh lặng một lúc. Rồi với giọng bình thường, anh tiếp:

    - Thưa cha, vợ tôi sắp có cháu bé. Chúng tôi không còn trẻ nữa, và đã từ lâu cả hai đều mong ước có con. Cháu bé không ra đời trước đây, âu cũng là điều tốt, vì hồi đó nông trại quá buồn tẻ đối với một đứa trẻ. Giờ đây thì khác hẳn. Đã có niềm vui trong gia đình. Đó, hôm nay tôi đã lên đây là để đưa cho cha tin đó.

    Anh sắp ra về, nhưng chợt nhận ra lần này chỉ có mình anh nói, anh vội hỏi:

    - Cha không có một lời nào ban cho tôi trước khi lên đường sao? Trong ý, anh muốn có cái gì để nói lại cho vợ khi chị hỏi về ẩn sĩ. cụ già lắc đầu.

    - Hôm nay anh không cần lời tôi nữa. Một lời khuyên chỉ cần cho một người không thấy rõ con đường mình đi, còn anh, anh đã biết đường rồi.

    - Vâng, ngợi khen Chúa, người nông dân trả lời. Ngày trước tôi không hiểu, giờ đây tôi đã thấy lối đi rồi.

    Đi được vài bước trên đường mòn, anh quay nhìn về phía ẩn sĩ và kêu to:

    - Cám ơn cha! Cha còn nhớ buổi trò chuyện của chúng ta hồi mùa xuân chớ? Xin hết lòng cảm ơn cha.

    Ẩn sĩ cũng kêu với, đáp lại:

    - Còn tôi, tôi cám ơn anh đã đến thăm tôi hôm nay!
     
  12. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    11. CÁI NGHÈO TỘT BẬC.

    Dân làng đã ngạc nhiên khi thấy bác Phêrô lên viếng thăm ẩn sĩ, họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy chị hàng xóm ở gần nhà bác nhất cũng lên đường.

    Đời sống của chị rất dư giả và chị sống có một mình, không ai nghi ngờ chị có điều âu lo phiền muộn. Vậy mà một ngày đẹp trời, đến lượt chị đến trước cửa hang đá.

    - Thưa cha, chị nói, cha có thể cho gặp một khắc đồng hồ được không?

    - Được, tôi nghe đây, ẩn sĩ trả lời.

    - Cha thấy không, chị vừa nói vừa ngồi xuống trên một hòn đá trước mặt ẩn sĩ, con không giống một ai trong những người lên đây gặp cha: họ gần như là người thánh, hoặc họ ước ao nên thánh. Còn con, con không có gì phải buồn phiền nhiều, cũng không bị cùng cực về mặt thiêng liêng để phải đến tâm sự cùng cha. Con chỉ là một người rất bình thường, và con chỉ muốn hỏi cha một chi tiết nhỏ thôi.

    - Tôi nghe đây, ẩn sĩ lặp lại.

    - Thế này, chị tiếp, tại sao mọi người không thương mến con? Cha có thể nói cho con biết không?

    - Tại sao mọi người không thương mến chị?

    Ẩn sĩ lặp lại như một tiếng vang, rồi ngài ngước mắt nhìn chị.

    Người đàn bà ngồi đó, trên tảng đá, trông không đẹp chút nào. Trong cử chỉ của chị có mọt vè gì cứng cỏi, khúc mắc. Nét mặt không dịu dàng. Các nếp nhăn chưa có nhiều nhưng sâu đậm. Đôi mắt đen lánh của chị có tia nhìn sắc bén.

    - Con sẽ giải thích để cha hiểu, chị nói. Con chỉ có một mình trên đời. Cha mẹ và anh chị con đều chết cả; con không có chồng con gì hết. Cám ơn Chúa! Bởi vì chồng con chhir gây ra lao nhọc và lo âu, con đã nhận thấy thế biết bao lần rồi. May thay con chỉ phải lo cho mình mà thôi. Con muốn làm gì thì làm, con đi, con ở tùy thích và con làm việc vừa đủ như ý. Con không cần phải xét đến ai hết. Con đã muốn như thế, và con đã sắp xếp được đời mình như thế. Sức khỏe con dồi dào và con không phải lo lắng gì.

    Ẩn sĩ nghe khách nói, mắt vẫn đăm đăm, nhìn chị. Đúng vậy, chị thật không giống một ai trong những người thường đến gặp ông. Chị nói tiếp:

    - Nhưng cứ cô độc mãi rồi cũng thấy buồn. Con muốn được tiếp xúc với người khác, được trao đổi với họ. Khi trước việc đó rất dễ dàng, người ta đến thăm con, và con đi thăm họ. Nhưng mọi sự đã thay đổi. Bây giờ thì rất hiếm mới có người tới gõ cửa nhà con, và khi con đến thăm ai, con có cảm tưởng là họ chẳng vui gì. Con kể cha nghe đúng như đã xảy ra. Ngày Chúa nhật, sau thánh lễ, ở sân trước nhà thờ, mọi người tụ tập trao đổi tin tức trong tuần, thì con thấy mỗi khi con lại gần thì họ im bặt.

    Khách không nói nữa, và vị ẩn sĩ như tìm đọc tư tưởng chị trên gương mặt khép kín. Cuối cùng, chị sốt ruột, liền nói:

    - Ít nhất cha cũng cho con được một lời chứ? Tai sao người ta không thương con?

    - Còn chị, chị có thương họ không? Ẩn sĩ hỏi.

    Chị bật cười, rồi nói:

    - Không thương là bao. Cuộc sống đã dạy cho con quá nhiều, hơn nữa. Thiên Chúa đã cho con đôi mắt, đôi tai và trí xét đoán ngay thẳng, để khỏi thấy những dại dột, nhỏ nhen và độc dữ của con người? Họ tưởng tượng hoặc muốn cho người khác tưởng mình là những anh hùng, trong khi họ là những người hèn. Cuộc đời cũng vậy, khi con còn trẻ, con tưởng cuộc đời là sung mãn phong phú lắm, nhưng ngay cả trong những trường hợp thuận tiện nhất, đời cũng chỉ đem lại toàn thất vọng. Tuy nhiên cũng không nên quá bi quan, nhưng phải chấp nhận đời là thế. Con người cũng vậy, họ thế nào, mình phải chấp nhận họ như vậy, và nhất là đừng có ảo tưởng để khỏi bị lừa gạt.

    - Tôi bắt đầu hiểu tại sao người ta không mến chị, ẩn sĩ chậm rãi nói. Chị nghèo, rất nghèo nàn, nên không có gì để cho họ.

    - Không phải thế, chị ta vội vã la lên, vẻ đắc thắng. Cha rất thông minh, nhưng cha đã nhìn sai điểm này. Trong làng con ở trong một ngôi nhà thừa hưởng của cha mẹ, và con có khá nhiều tài sản. Có rất ít người độc thân sống dư giả như con. Ai muốn bảo con là gì cũng được, nhưng keo kiệt, thì không phải tính con.

    - Đó không phải là điều tôi muốn nói, ẩn sĩ nghiêm nghị trả lời. Chị không nghèo tiền, nhưng nghèo những của cải mà mối mọt không đục khoét được, và trộm cắp không lấy đi được. Chị nghèo niềm tin và niềm vui, nghèo đến nỗi không những chị đã không có gì để cho người khác, mà chị còn lấy mất phần cỏn con họ đang có nữa.

    Người đàn bà tỏ vẻ sửng sốt. Dường như ẩn sĩ cầm tay chị dẫn đi vào một con đường mà chị không muốn dấn mình vào. Ẩn sĩ tiếp:

    - Để có thể sống, con người cần tin: tin vào cuộc sống, tin vào người đồng loại, tin vào chính mình và tin vào Thiên Chúa ở nơi mình. Dù không hiểu vì sao, họ cảm thấy bị lôi cuốn đến với những ai giúp họ tin; trái lại, tự nhiên họ trốn xa những ai cướp mất niềm tin mong manh của họ.

    - Tôi không cướp đoạt của ai điều gì hết, bị xúc phạm, người đàn bà cãi lại. Ai muốn tin và nghĩ điều gì mặc họ. Điều tôi nghĩ, tôi đâu có la trên mái nhà cho ai nghe đâu. Vả lại, nếu tôi có nói những gì tôi nghĩ về người này, người nọ, thì khi xong rồi, họ cứ việc quên đi.

    Ẩn sĩ cúi xuống hái một đóa hoa héo, trông giống một cuộn bông trắng nhỏ và nhẹ. Ông đưa cho chị và bảo:

    - Thổi đi.

    Chị làm theo, vẻ hơi do dự. Các hạt hoa dính liền với những chiếc dù tí hon liền tung bay tứ phía và lát sau rơi vãi trên mặt đất. Cụ già ra lệnh:

    - Bây giờ hãy thu những hạt ấy lại!

    - Không thể được, chị trả lời vẻ sửng sốt. Chúng bay mất tăm. Ai mà biết được chúng rơi đâu bây giờ.

    - Thật thế, ai mà biết được? Ẩn sĩ nói. Những gì chị nói cũng vậy, làm sao chị có thể thu nhặt lại được, một khi chị đã để rơi rớt giữa mọi người. Rơi xuống đâu, nó sẽ nằm yên đó, và sẽ mọc lên những hạt này.

    Người đàn bà cúi đầu không nói được lời nào.

    Ẩn sĩ trao cho chị một hòn đá to.

    - Chị cầm hòn đá này ném xuống vực thẳm.

    Chị làm theo. Người ta nghe thấy tiếng đá lăn trên ghềnh đá dưới vực, dội lên, rồi sau cùng rơi xuống đất.

    - Chị đi tìm nó đi, ẩn sĩ ra lệnh.

    - Việc này cũng không thể được, chị ta sốt ruột la lên. Tôi không thể xuống vực được. Dù tôi có đi khắp vòng quả núi này, làm sao tôi có thể tìm lại được hòn đá trong trăm ngàn hòn đá ngổn ngang khắp chốn?

    - Chị nói phải, ẩn sĩ đáp. Thì cũng thế, chị không thể làm sống lại niềm hy vọng nơi tha nhân, khi mà, vì lời nói của chị, họ đã ném hy vọng của họ vào vực thẳm của hư vô.

    Lại một lần nữa, người đàn bà chỉ biết nín thinh. Ẩn sĩ lại chỉ cây thông nhỏ cách đó vài bước và nói:

    - Hãy bẻ hết chồi thông non đó đi.

    Người đàn bà lại vâng lời làm theo, như một cái máy.

    - Được rồi, ẩn sĩ nói. Và bây giờ chị lại gắn nó lại chỗ cũ.

    - Điều này lại càng khó hơn tất cả, chị bực mình la lên, ném tung các chồi thông ra xa. Cha thừa biết là không thể được.

    - Đúng vậy, ẩn sĩ nghiêm giọng nói. Điều này khó hơn tất cả mọi điều trước. Nhưng không có các chồi đó, cây thông này năm nay sẽ không lớn được nữa. Sự tăng trưởng của nó bị chặn đứng. Và nếu chị tước hết chồi non đến tận thân cây, nó có thể chết được. Con người cũng vậy, họ không thể sống được nếu bị tước đoạt điều gì giúp ích họ vượt lên chính mình, nghĩa là niềm tin vào một cái gì lớn hơn chính họ.

    - Cha là một người cứng cỏi và nghiêm khắc!

    - Sự thật vẫn cứng cỏi và thường nghiên khắc! Ẩn sĩ đáp lời. Nếu không, sẽ không còn sự thật nữa.

    - Bây giờ chắc con phải về, chị tiếp lời. Cái gì cha cũng gọi là quá ư nghiêm trọng. Khi lên đây, con không coi mọi sự là quan trọng đến thế đâu.

    Khách ra về. Ẩn sĩ nhìn theo chị rất lâu.

    ***

    Một thời gian sau, người đàn bà trở lại, chị nói:

    - Con không thể nào quên lời cha được. Con cố quên nhưng vô ích. Rồi con chợt nhớ lại rằng, vì lời nói của con mà chị hàng xóm đã mất tín nhiệm vào chồng chị. Con đã kể cho chị nghe những gì con biết về anh ấy, và lúc đó con tưởng điều đó là thật. Nhưng rồi sau con mới biết rằng đó chỉ là một phần sự thật thôi. Con đã tìm cách sửa chữa lỗi con, nhưng đã quá muộn. Cũng như con đã ném hòn đá đi, thiếu phụ kia cũng ném xa chị niềm tin tưởng vào chồng, mà không sao tìm lại được.

    Ẩn sĩ nhìn chị với cái nhìn đượm vẻ u buồn. Chị nói tiếp:

    - Con cũng nhớ lại một thiếu nữ dễ thương. Cô ước mơ nghĩ đến tình yêu một cách ngây thơ, như tuổi trẻ vốn mộng mơ. Nhưng con đã nói cô nghe những gì con nghĩ về tình yêu và về điều mà người ta quen gọi là niềm hạnh phúc lớn nhất ở đời này. Cô đã nghe và tin lời con. Từ đó, cô đã thay đổi hẳn: cô như một cây thông nhỏ không chồi! Có cái gì đã gãy dập trong cô.

    Ẩn sĩ trở nên buồn rầu hơn nữa. Ông nghiêm giọng nói:

    - Chị có rất nhiều điều đè nặng lương tâm.

    - Vâng, có thể là thế, mặc dầu trước kia con không bao giờ nghĩ đến các điều đó, người đàn bà bình thản trả lời với một vẻ như dửng dưng. Cha biết cách làm cho người ta phải suy nghĩ. Mấy tuần nay con cố tìm nhặt lại những hạt giống mà bữa trước con đã thổi tung ra từ đóa hoa héo tàn. Nhưng cũng chỉ nhặt lại được vài hạt thôi. Làm sao mà nhớ được tất cả những gì ta đã nói suốt ngày này qua ngày khác?

    Ẩn sĩ không trả lời. Chị sốt ruột hỏi:

    - Phải chăng sử dụng đôi mắt, đôi tai và lý trí là điều xấu? Có thể nào lại cấm mình nhìn, nghe và hiểu những gì về đời sống và về giá trị con người không? Hoặc giả, có lẽ phải làm thinh về những gì nhìn thấy và biết chăng?

    Ẩn sĩ chậm rãi đáp:

    - Mắt và tai chúng ta chỉ nhận thức được những gì đánh động giác quan, những gì xảy ra và đã để lại dấu vết trong thế giới bên ngoài và hữu hình. Thế nhưng những gì sắp xảy đến trong tương lai vượt khỏi tầm mức chúng vì điều đó thuộc thế giới nội tâm và vô hình. Tuy nhiên thế giới này lại quan trọng hơn nhiều. Cũng chính vì thế mà ta nhìn không rõ, nếu ta chỉ dùng đôi mắt, đôi tai và lý trí mà thôi. Lúc đó ta xét đoán người khác và cuộc đời như ta đoán xét một hòn đá hay thỏi gỗ. Ta quên rằng con người là những gì sống động, luôn luôn có thể thay đổi và canh tân.

    - Mắt, tai và lý trí... người đàn bà lặp lại: nếu chúng không đủ để nhận thức, thì thật con không còn biết phải dùng giác quan nào khác nữa đấy!

    - Còn một giác quan nữa, ẩn sĩ ngọt ngào đáp lại. Ta có thể gọi đó là cái nhìn nội tâm. Sách chép rằng: “Con mắt là ánh sáng của thể xác. Nếu mắt người vẩn đục, toàn thân ngươi sẽ ở trong tối tăm”. Điều đó nói về cái nhìn nội tâm.

    - Có lẽ mắt con bị vẩn đục, chị âm thầm nói, con không có được cái nhìn đó. Con chỉ thấy được những gì hiện hữu thực sự.

    - Không đúng, ẩn sĩ nói, đó chính là điều mà chị nhầm lẫn. Chị nhìn thấy những gì xảy ra trước mắt, thấy thực tại ngoại giới, nghĩa là một khía cạnh của sự thật thôi, và đó là khía cạnh đen tối nhất. Khía cạnh này thường khi lại là khía cạnh hiển hiện nhất. Nhưng ánh sáng mạnh hơn và thực hơn tối tăm. Cũng như trong thiên nhiên, mỗi buổi mai ánh sáng lại thắng bóng tối, thì một ngày nào đó ánh sáng cũng sẽ toàn thắng trong đời sống con người. Điều này là chắc chắn, vì ánh sáng xuất phát từ Thiên Chúa. Chị mù quáng về những điểm này, tuy nhiên chị lại tưởng rằng mình sáng suốt.

    - Thật vậy, người đàn bà nhượng bộ, con cứ tưởng rằng con sáng suốt, nhưng bây giờ con biết rằng những điều cha nói là thật.

    Chị giữ thinh lặng thật lâu, đắm chìm trong suy tư. Ẩn sĩ tôn trọng sự thinh lặng đó. Cuối cùng chị nói:

    - Con đã tước đoạt một cái gì của kẻ khác, làm cho họ nghèo đi hơn là khi không có con. Con nhìn nhận rằng làm như vậy là xấu. Thế nhưng làm sao con lại đi đến mức độ đó? Làm sao con lại trở nên nghèo nàn đến nỗi có ý định tước đoạt của tha nhân cái điều cỏn con mà họ đang có? À, mà đâu có phải từ trước vẫn như thế. Có một thời... Chị ngừng lại. Giọng nói bỗng đổi hẳn, nó trở nên dịu.

    - Tôi đã hiểu, ẩn sĩ dịu dàng nói. Thật phải trải qua nhiều đau khổ mới trở thành cay đắng như chị.

    - Ồ thật không, cha đã hiểu điều đó? Chị sửng sốt hỏi. Con tưởng rằng cha chỉ biết lên án con thôi. Thật vậy, con đã đau khổ nhiều. Nhưng con không muốn phải đau khổ. Con đã muốn làm cho mình thành chai đá cứng cỏi, đã trở nên dửng dưng như con bây giờ. Thà như thế còn hơn rên rỉ với khóc than. Con không muốn được ai thương hại, ngay cả mình thương hại chính mình. Nhưng không bao giờ con ước ao làm hại tha nhân. Nhưng than ôi! Đó lại chính là điều con đã làm, và bây giờ con không tháo gỡ được. Đó là điều tệ hại nhất. Biết làm sao bây giờ?

    Ẩn sĩ đáp:

    - Trước hết tìm cách cứu chữa chính sự nghèo nàn của chị, để rồi chị có được chút gì cho kẻ khác.

    - Nói thì dễ lắm! Chị thở dài. Làm sao đạt được điều đó?

    - Chị không có ý kiến gì ư?

    - Có chứ, con chỉ thấy lờ mờ thôi. Để cứu chữa cái nghèo của con, chắc phải cầu đến một Đấng lớn hơn và giàu có hơn mọi người.

    Ẩn sĩ gật đầu đồng ý.

    Người đàn bà đứng dậy cáo từ. Chị nói vẻ suy tư:

    - Con thiết tưởng trong trường hợp của con, cần phải tự giải quyết lấy một mình. Chắc chắn chẳng ai giúp con được đâu. Con cần phải dấn thân vào một con đường mới. Nó sẽ đưa đến đâu? Con chưa biết nhưng cứ thử làm.

    - Nếu ai có thể bỏ lại đàng sau những gì cũ kỹ để tiến hóa đến những hình thức mới, đó là bằng chứng họ thật sự sống động.

    - Thật không? Chị hỏi. Vậy để thử xem coi. Dù sao con cũng muốn thử một phen.

    Chị vẫn đứng yên một lát, sẵn sàng lên đường. Rồi, quay về phía ẩn sĩ một lần nữa, chị nói thêm:

    - Nghĩ lại, ban đầu con lên đây để hỏi cha tại sao người ta không thương mến con. Làm như người ta có lý do nào để mến con?

    - Cuối cùng, chị tiếp sau một hồi thinh lặng, dù sao cũng có một chút ít kết quả, con muốn bắt đầu lại lần nữa. Thật vậy, con đã được trả lời cho câu hỏi của con rồi; con đã được phục vụ chu đáo.

    Chị ra về, ẩn sĩ nhìn theo. Không: quả thật chị không giống ai trong những người quen đến gặp ông. Ông biết chị sẽ không trở lại nữa. Như chị đã nói, chị sẽ tự giải quyết công việc một mình. Và chắc chắn chị sẽ thành công, vì chị thành thật và thẳng thắn.
     
  13. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    12. NGƯỜI MẸ.

    Vị ẩn sĩ hôm ấy xuống làng. Ông dừng chân trước một mái nhà tranh đã bạc màu vì mưa và tuyết. Qua khu vườn nhỏ bé trồng đủ thứ hoa sặc sỡ trông thật vui mắt, ông phải cúi khom lưng xuống mới qua được cánh cửa.

    Phía bên trong thật lạnh lẽo. Ánh sáng vàng nhạt của buổi chiều tà không đủ sưởi ấm căn phòng. Trong lò, không một ánh lửa. Trên đống tro, một cái nồi treo lủng lẳng trên nóc, ám khói đen kịt. Đồ đạc nghèo nàn và căn phòng không có gì là hấp dẫn. Gần khung cửa sổ nhỏ hẹp, một người đàn bà ngồi lặng yên, hai bàn tay để bên nhau. Bà ta không làm gì cả mắt đang ngó nhìn ra ngoài.

    Thấy ẩn sĩ vào, bà quay về phía cửa.

    - Người là ai? Bà cất tiếng hỏi, không buồn đứng dậy.

    - Một ông lão cô độc, đạo sĩ trả lời.

    Và không đợi mời, ông ung dung tiến vào ngồi đối diện với người đàn bà gần cửa sổ. Chỗ đó nhìn bao quát cả dưới lòng thung lũng. Bà ta đăm đắm nhìn ẩn sĩ một cách ngạo nghễ.

    - Có phải ông là cụ già trên núi không? Bà hỏi.

    Ẩn sĩ gật đầu, à nói:

    - Tư tưởng bà đã kêu gọi ta. Bà đang có điều phiền muộn.

    - Đúng vậy, người đàn bà đáp lại với giọng đùng đục. Con trai tôi chết rồi.

    Bà không có vẻ ngạc nhiên trước sự viếng thăm đột ngột của ẩn sĩ, và việc ông biết nỗi buồn của mình. Rồi bà lại quay đi ngó sững qua cửa sổ. Xem ra bà không nhìn thấy vẻ huy hoàng xán lạn của bầu trời hoàng hôn với những tia sáng muôn màu thay đổi luôn chiếu tỏa xuống cảnh vật chung quanh. Ngay chính lúc đó, ánh sáng xiên chiếu qua những thân cây và tắm trong ánh sáng rực rỡ.

    Ẩn sĩ nhìn người đàn bà: gương mặt bà ta bất động, đường viền nơi miệng bà ta rắn lại, đôi môi khô se, nước da sạm như chì.

    Bà cất tiếng nói giọng đục ngầu:

    - Biển cả đã cướp mất con tôi. Có sáu người tất cả. Con tàu bị chìm nghỉm. Họ chết đuối hết. Một người cha với hai con trai một nhà gần đây. Hai người nữa ở một làng ven biển. Và đứa con trai tôi.

    Người đàn bà nói một cách khó khăn, từng câu một, nhát gừng và cụt ngủn. Tuy nhiên bà ta vẫn nói tiếp:

    - Nó là đứa con trai độc nhất của tôi. Tôi không sinh được một đứa nào khác. Nó vắng nhà luôn không bao giờ quan tâm đến mẹ già của nó. Tôi sống cô độc ở đây, ngày đêm nghỉ tới nó, hy vọng một ngày kia nó trở về... và sẽ hồi tâm. Rồi bà nói tiếp, giọng thầm thì: Trong làng có một thiếu nữ và đứa con của nó. Nó đã làm cho nàng đau khổ rồi bỏ rơi cả hai mẹ con, trước sự khinh miệt của xóm làng. Mọi người gọi nó là quân vô lại. Quả đúng như vậy! Họ còn xì xào rằng: lính tuần canh đang ra công lùng bắt, vì nó dính líu đến một vụ án mạng. Cũng có thể lắm! Tôi chẳng biết nữa, nhưng ý nghĩ đó làm cho tôi không yên tâm chút nào.

    Bà ta ngồi đong đưa trên ghế, giọng run lên:

    - Nó không bao giờ đi lễ. Cũng chưa bao giờ xưng tội với linh mục. Ông đừng tưởng nó làm dấu khi đi qua trước tượng Đức Mẹ. Đó là một đứa nghịch đạo. Bà ta càng hạ thấp giọng: Và trong những giờ phút đen tối, khi nó nổi cơn lôi đình – và điều đó thường xảy ra luôn – nó đã kêu cầu đến ma quỉ.

    Người đàn bà đưa mắt nhìn quanh với vẻ lo ngại, như sợ rằng chỉ mới nhắc đến tên đầu mục của đêm tối cũng đủ khiến nó xuất hiện tức thì.

    Rồi với giọng tắc nghẽn, bà ta tiếp:

    - Đó, nó là như thế đó. Ma quỉ mang bao nhiêu tên... con tôi đều kêu gọi đến tất cả. Và giờ đây nó chết đi... không ăn năn, không xưng tội. Không đủ thời giờ để đền tội, dù chỉ một chút cũng không. Nếu Thiên Chúa bắt nó ốm hay bắt nó bị tù đày như những người khác để đền tội, thì tôi còn hiểu được. Nhưng đằng này, nó không kịp thì giờ chuẩn bị trước...

    Trong lúc quá đau khổ, người đàn bà siết mạnh ngón tay đến nỗi mạch máu ngưng đọng, các ngón tay trở nên trắng bệch. Bà rên rỉ:

    - Tôi đã cầu nguyện cho nó ngày đêm. Tôi đã bán chác tất cả đồ đạc, những gì đáng giá, để mang dâng Đức Mẹ. Có vị đan sĩ cho tôi tượng ảnh của một vị thánh, tôi đã may ngay vào áo cho nó. Và khi được tin nó chết, tôi đã mang đồng bạc cuối cùng đi xin linh mục làm lễ cho nó. Ngài nhận tiền nhưng xem ra ngài không tin rằng một thánh lễ có thể cứu được linh hồn nó. Dĩ nhiên, điều đó không thay đổi được gì cả. Ma quỉ đòi sự gì thuộc về nó.

    Một lần nữa người đàn bà lại đưa mắt lấm lét nhìn quanh. Như khiêu khích, bà nhắc lại: “Ma quỉ đòi sự gì thuộc về nó!”.

    Từ nãy ẩn sĩ lắng nghe không nói một lời. Đến đây, ông ngắt lời bà:

    - Nếu con bà trở lại, thì bà đón tiếp nó như thế nào?

    - Sao ông lại hỏi thế? Nó chết rồi.

    - Nhưng nó trở lại thì bà có tha thứ cho nó không? Ẩn sĩ gặng hỏi.

    Người đàn bà nhìn ẩn sĩ, cái nhìn ngạc nhiên pha lẫn bất bình.

    - Thật ông không biết gì nên mới đặt câu hói như vậy. Dĩ nhiên là tôi sẽ tha thứ cho con tôi, vì tôi là mẹ nó cơ mà!

    - Còn Thiên Chúa là Cha của mọi người, và Ngài cũng là Cha của con bà nữa.

    Ngạc nhiên, người đàn bà ngước nhìn lên mà không trả lời.

    - Tại sao Thiên Chúa lại có thể kém lượng từ bi hơn bà! Ẩn sĩ hỏi, bà biết tha thứ, tại sao Thiên Chúa lại không biết làm như vậy.

    Một phút im lặng. Sau cùng, người đàn bà chậm rãi nói:

    - Phải rồi. Có thể Ngài tha thứ, nếu nó biết hối cải, nếu nó đền tội. Nhưng bây giờ thì quá muộn, vì nó đã chết rồi.

    - Nhưng Thiên Chúa thì vẫn là một, dù ở bên này hay bên kia sự chết. Ở mọi nơi mọi chốn, đâu đâu cũng vẫn là Ngài.

    - Ông muốn nói... bà ta nói với một giọng kém mạnh dạn hơn, ông tin là Thiên Chúa có thể tha thứ ở bên kia?... ở thế giới khác.

    Ẩn sĩ lặng lẽ gật đầu.

    Một bầu khí yên tĩnh và bình an chiếm lấy căn phòng. Người đàn bà vẫn chắp tay đặt trên đầu gối. Nhưng mắt bà ta không rời nhà ẩn sĩ đang ngồi đối diện.

    Ông nói:

    - Chúng ta là con người, chúng ta không thể hiểu được cái chết. Chúng ta cứ tưởng chết là thay đổi hẳn tất cả một trật. Nhưng không phải thế. Đó chỉ là một bước tiến trên con đường ta đang đi. Cho dù đã chết, con trai bà không khá hơn, không tệ hơn. Nó chỉ sống trong một hoàn cảnh khác, có thế thôi. Mà Thiên Chúa thì vẫn là một.

    Ông ngừng lại một chút trước khi nói tiếp, như muốn để cho những lời nói của mình thấm nhập vào linh hồn người đàn bà.

    - Khi một người chết đi, ta chỉ biết con người của họ như lúc họ từ giã cõi đời, nhưng chưa chắc đó là cái “tôi” đầy đủ của họ. Có thể có những biến cố cuối cùng của đời họ khiến ta tưởng họ hay hoặc dở, nhưng khác với con người thật của họ. Còn ở thế giới bên kia sự chết, cái “tôi” của họ lộ ra đầy đủ với tất cả những gì chúng ta chưa thấy hoạc chính họ cũng chưa nhìn rõ nơi chính mình. Khi ấy tất cả sự thật được phơi bày ra. Có lẽ nó sẽ đen tối hơn ta nghĩ, và cũng có thể tươi sáng hơn.

    - Khi con tôi còn bé, người đàn bà thầm thì, khi tôi bồng nó trên tay... rồi sau đó nó là đứa trẻ tốt.

    Bà ta bắt đầu kể lể. Từng nét, từng nét, bà tô điểm dần dần cho bức họa: Hồi con bà còn thơ ấu, lúc lớn lên dần dần, thời thanh niên, cho đến những năm đầu của tuổi trưởng thành. Mọi sự đều êm đẹp, vô tội, thơ ngây với tất cả niềm hân hoan tươi mát của người thanh niên với tính tình tốt, với tài khéo léo trong công việc, nhất nhất đều ghi sâu trong lòng bà. Và giờ đây bà ngồi lần giở cái kho kỷ niệm súc tích ấy ra. Vẻ cứng cỏi trên gương mặt bà, vẻ khắt khe khi nãy không còn nữa. Giờ đây bà trở nên hoạt bát. Tùy theo từng đoạn của câu chuyện, giọng bà thay đổi dần dần. Hơn một lần bà lấy tay quệt ngang mắt đẫm lệ.

    Rồi bà ngưng bặt. Nhưng ta để ý thấy trong đầu bà còn thấm nhiễm bao kỷ niệm của đứa con yêu.

    - Và tất cả những điều đó chỉ một mình bà biết mà thôi, ẩn sĩ nói, mọi người không ai hay biết, vì thế họ mới lên án con bà. Nhưng còn bà, vì biết rõ nó nên bà thương yêu nó. Thiên Chúa cũng thế, Người còn biết nó hơn cả bà nữa. Và cả những điều bà không thấy nơi con bà, những điều còn ở trong ao ước, trong hy vọng, trong tiếc nuối, Thiên Chúa đều biết hết. Và giờ đây tất cả những cái đó đều xuất hiện ở bên kia thế giới. Ở đó không còn vấn đề nửa sự thật như ở đây ta thấy nữa.

    - Mọi điều đó đều xuất hiện... người đàn bà nhắc lại. Vậy ra con tôi không mãi mãi bị xa lìa khỏi thánh nhan Thiên Chúa sao? Ông có chắc không? Và bà hồi hộp chờ câu trả lời.

    - Thiên Chúa là Cha còn hơn cả bà là mẹ nữa.

    Người đàn bà yên lặng giờ lâu không nhúc nhích. Chỉ đôi môi lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại như máy: Hơn cả ta là mẹ nữa!

    Tuy nhiên chẳng mấy lúc, những ý tưởng cũ lại ám ảnh trong đầu. Bà ta nghĩ đến ma quỉ địa ngục và hình phạt đời đời. Bà vung tay qua trán như muốn xua đuổi tư tưởng hắc ám, nhưng vô ích.

    - Ta phải tước bỏ sự dữ nơi ta, ẩn sĩ dịu dàng nói. Ngay từ đời này, việc đó không tránh khỏi đau khổ. Bên kia thế giới cũng vậy. Chính bà đã vừa nói là nếu con bà phải đau khổ thì còn có thể hiểu được. Người ta gặt cái gì mà người ta đã gieo: đó là luật chung, một điều luật tốt đẹp của Thiên Chúa dành cho con cái của Người. Nhưng nhờ đau khổ, chúng ta mới học biết nhiều. Và khi vượt qua được sự dữ đã từng đè nén ta, thì sự lành do Chúa đem lại sẽ lớn lên trong ta và sau cùng chỉ còn sự lành. Đó là cái “tôi” độc nhất và là cái tôi thật sự của mỗi người.

    Người đàn bà uống lấy những lời đó như người đang cơn khát, và sau cùng thở hắt ra một hơi dài như trút được gánh nặng.

    Hai tay vẫn chắp lại, bà ngồi yên lặng, cúi đầu. Giọng bà bỗng vang lên chứa chan hạnh phúc.

    - Con xin tin vào lời cha. Phải con tin lắm! Và bây giờ, con lại có thể cầu nguyện cho con con được. Vâng, con sẽ cầu nguyện cho nó đêm ngày!
     
  14. An Lạc

    An Lạc Mầm non

    13. CÁI CHẾT CỦA MỘT ĐỨA BÉ.

    Thiếu phụ đứng đó, nhìn vào trong động đá. Ẩn sĩ đang ngồi ở bàn, chiếc bàn đục đẽo bằng rìu rất thô sơ, hai tay ông ôm lấy đầu, chìm đắm trong suy niệm. Thiếu phụ do dự đi vào, tiến đến gần ẩn sĩ. Nhưng thấy ông không nhìn thấy sự hiện diện của mình, chị liền ngồi xuống trên một khúc gỗ đối diện với cụ già, quyết định chờ đợi. Hai tay khoanh lại, chị cũng thả hồn trôi theo dòng tư tưởng.

    Thời gian lặng lẽ trôi. Sau cùng, vị ẩn sĩ ngẩng đầu lên và đăm đăm nhìn chị. Ông có vẻ từ từ trở về với thực tại, tuy cũng không mấy ngạc nhiên khi thấy có một người ngồi đó. Ông thản nhiên hỏi:

    - Tôi có thể giúp được gì cho chị?

    Thiếu phụ đứng dậy, xích khúc gỗ lại gần rồi lại ngồi xuống. Rồi nghiêng về ẩn sĩ, chị nói:

    - Con đã từng là mẹ, nhưng nay hết rồi. Đứa con duy nhất của con, cháu đã chết hôm qua... Cha có hiểu được không... không đâu, cha không hiểu nổi đâu.

    Cái nhìn của thiếu phụ gặp cái nhìn của vị ẩn sĩ. Một vẻ gì trên gương mặt ẩn sĩ như phản đối những lời thiếu phụ vừa nói. Ông nói gọt lỏn:

    - Nó không chết đâu.

    Chị nhún vai, gương mặt đanh lại. Chị gằn giọng:

    - Người ta vẫn nói thế đấy.

    Ẩn sĩ im lặng, và thiếu phụ cũng nín thinh. Sau hồi lâu, chị lên tiếng:

    - Tâm hồn con như tê liệt. Con không thể than khóc cũng không rên xiết được như người ta. Lồng ngực con bị đè nặng. Con chỉ vừa đủ sức để biết mình còn sống. Có thể nào sống được sau cơn thử thách như thế không?

    - Được, ẩn sĩ trả lời.

    Dường như không nghe thấy lời chị ấy tiếp.

    - Nó là đứa con duy nhất của con. Một thiên thần tí hon với mái tóc vàng óng ánh. Và đôi mắt long lanh như những vì sao! Chắc cha sẽ bảo con là các bà mẹ đều khen con mình như thế. Khi con ôm lấy cháu trong tay là con cảm thấy hạnh phúc. Thế là con mãn nguyện rồi. Tiếng cháu như âm thanh trong trẻo của một cái chuông nhỏ. Tiếng cười của cháu nghe như tiếng suối róc rách vô tư, và bàn tay cháu xinh xinh ấm áp trong bàn tay con... Than ôi! Thế là hết, cháu đã chết rồi.

    - Đời sống chúng ta chắc sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta mất thị giác, ẩn sĩ thủng thỉnh nói.

    - Mất thị giác? Thiếu phụ ngạc nhiên hỏi lại. Cha muốn nói gì?

    - Nói vậy cũng hơi vô lý thật đấy, ẩn sĩ đáp. Nhưng mất thị giác, chúng ta có thể dễ dàng không bị dừng lại nơi sự vật bên ngoài. Còn như bây giờ, những gì chúng ta thấy bằng đôi mắt, những gì chúng ta nghe bằng đôi tai, và chúng ta sờ được với bàn tay, thì đó là những điều duy nhất có giá trị đối với ta. Chị thử nghĩ lại xem, có phải đó là những điều duy nhất chị vừa nhắc lại cho tôi đấy không? Thế nhưng không phải những ngoại vật đó đã tạo nên hạnh phúc cho chị đâu. Nó chỉ là dấu chỉ hữu hình, là biểu tượng của một thực tại khác. Và chính thực tại đó mới là cái sự thật đem lại hạnh phúc cho chị.

    - Biểu tượng của một thực tại khác? Thiếu phụ nhắc lại. Con không được hiểu rõ.

    - Khi con chị nhìn chị, ẩn sĩ đáp, khi cháu mỉm cười với chị, khi cháu gọi chị và cầm tay chị thì có một sứ điệp được truyền từ tâm hồn cháu đến tâm hồn chị. Cái nhìn của cháu bé nói lên tình yêu của nó đối với chị, nụ cười của cháu diễn tả niềm vui của tuổi thơ; bàn tay nhỏ bé của nó khi tìm gặp lại bàn tay của chị, điều đó biểu lộ một niềm tin tưởng tuyệt đối. Đã hẳn tình yêu, niềm vui, lòng tin tưởng là những thực tại vô hình, nhưng nếu đằng sau những cử chỉ của con chị không có những thực tại đó, thì chắc những cử chỉ ấy không thể đem lại hạnh phúc cho chị. Tất cả những hình thức biểu lộ bên ngoài đã làm cho chị sung sướng vì chúng diễn tả một cái gì vô cùng quý báu: đó là linh hồn của con chị.

    Đôi mắt người mẹ đẫm lệ, từ từ chảy dọc theo gò má, nhưng thiếu phụ không màng lau.

    - Vâng, chị chậm rãi nói, quả đúng vậy.

    - Thế nhưng, kho tàng vô hình, quý báu kia, chị không bị mất; linh hồn cháu không chết đâu. Linh hồn không chết được. Xuất phát từ Thiên Chúa, linh hồn vẫn hiện hữu bây giờ cũng như trước cái mà chị gọi là cái chết. Chỉ khác có một điều, là bây giờ linh hồn cháu không còn diễn tả được bằng một cách thế như trước, điều nó cảm thấy hay điều nó muốn. Còn chị, chị cũng không nhận thức được những cách biểu lộ mới của sự hiện hữu của linh hồn cháu nữa.

    Thiếu phụ chăm chú nhìn ẩn sĩ. Ông tiếp:

    - Người đời thường nghĩ rằng những gì mình thấy nghe và sờ được mới có thực. Về thể xác chúng ta, tiền bạc hay đồ vật gì khác chúng ta thường tích trữ cũng vậy. Chúng ta khó có thể hiểu được rằng đó chỉ là những vẻ bên ngoài của một thực tại thiêng liêng là thực tại duy nhất sống động và có thật. Nhưng bao lâu chúng ta chưa học biết điều đó, chúng ta vẫn quá lệ thuộc vào tất cả những gì xảy đến với chúng ta, dù là việc nhỏ hay việc lớn. Chúng ta tin rằng mình giàu khi có nhiều của cải vật chất, và ngược lại, mình nghèo khi thiếu những cái đó. Và ta can đảm nhiều hay ít là tùy ở sự tin tưởng đó.

    Ẩn sĩ dừng lại. Nhưng cái nhìn của thiếu phụ như muốn hỏi thêm, ông tiếp:

    - Kinh nghiệm cuộc sống dạy cho chúng ta biết chân giá trị của các sự vật. Đôi khi cuộc sống mang lại cho ta ít nhiều của cải bên ngoài như ta vẫn mong muốn: sự giàu có chẳng hạn. Nhưng sau đó nó cũng vạch cho ta thấy rằng những lợi lộc đó không mang bình an hay bảo đảm cho chúng ta. Nhưng chính bình an và bảo đảm mới là điều chúng ta ước mong và tìm kiếm. Hoặc giả, đời sống đem lại cho ta sự thành công mà ta đang mơ ước, nhưng đây cũng thế, kinh nghiệm cho ta thấy sự thành công không thể cung cấp cho ta sự thỏa mãn lâu dài. Hay hơn thế nữa, đời sống tước lột tài sản vật chất của ta để làm giàu cho ta một tài sản thiêng liêng, để chúng ta hiểu rằng tài sản này mới là chính yếu.

    - Con đã mất cả hai thứ tài sản đó, người mẹ nói bằng một giọng trầm buồn. Con đã mất tất cả.

    - Không, ẩn sĩ đáp. Chị hãy tưởng tượng khi con chị lớn lên, càng lớn nó càng tỏ ra vô ơn, lãnh đạm với chị, trong cái nhìn cũng như trong cử chỉ và bằng lời nói cũng như bằng hành động, nó để lộ những khuynh hướng xấu xa, như thế thì dù chị có giữ được thân xác nó, thì chị cũng đã bị mất con người nội tâm của nó và đó mới là cái chính yếu: tức là linh hồn của con chị vậy.

    Thiếu phụ nhìn đăm đăm về phía trước mặt. Chị nói thật khẽ, phải chú ý lắm mới nghe được:

    - Đúng thế! Như thế lại càng tệ hơn. Con sẽ mất mát nhiều hơn nữa.

    - Phải, tuy nhiên khi đó chị vẫn giữ được cái hình thể bên ngoài của con người mà trước kia đã là hạnh phúc của chị. Giờ đây chị đã hiểu điều tôi muốn nói khi quả quyết rằng con chị không chết chăng? Từ nay không cái gì, không một ai có thể tước đoạt, làm hư hao hay hỷ diệt được điều đã tạo nên hạnh phúc của chị. Con chị vẫn vô tội và vẫn ngây thơ như thuở nào. Nó đang sống, nó đi vào vùng ánh sáng ngày càng rực rỡ hơn. Và một ngày nào đó, chị lại tìm thấy cháu, tinh thần nó sẽ phong phú hơn là bây giờ chị có thể hình dung, nhưng nó vẫn là con của chị. Chị có thể tin rằng ngày đó chị có thể nói là con chị chết hoặc đã chết không? Và nếu không thì giờ đây chị có thể thành thật mà nói là nó đã chết không?

    - Không, thiếu phụ buột miệng la lên, không, con không thể nói như thế được.

    Ẩn sĩ lắc đầu. Ông nói:

    - Bây giờ chị đã hiểu rồi. Chị về đi, và hãy thử sống làm sao tới ngày đến lượt chị lột bỏ con người bên ngoài của chị, chị có thể nhận ra con chị. Chỉ những ai có tâm hồn trong sạch mới nhìn thấy Chúa và nhận ra dung nhan Ngài trong linh hồn con người. Hàng ngày chị hãy tự nhủ rằng có lẽ con chị đang nghe chị, đang thấy chị, rằng nó thấu hiểu tư tưởng thầm kín của chị và niềm khát vọng thẳm sâu của lòng chị. Chúng ta biết rất ít về những gì những người ra đi trước chúng ta có thể làm hay không làm được. Nhưng có điều này là chắc chắn: mỗi lần mà một thực tại vật chất nào mất giá trị đối với chị, và chi thu tích được một giá trị thiêng liêng, thì lúc đó chị sẽ có cảm giác đến gần con chị hơn.

    Thiếu phụ giữ thinh lặng hồi lâu. Cuối cùng chị đứng dậy cáo từ. Chị nói:

    - Cha đã hiểu, cha am hiểu hơn chính con.
     
Moderators: galaxy, teacher.anh

Chia sẻ trang này