Đôi dòng lưu niệm Việt-nam kịch-ảnh : Một đoạn-trường

Thảo luận trong 'Bàn Trà' bắt đầu bởi Uillean, 8/1/22.

  1. Uillean

    Uillean Lớp 2

    Nhân có sự gợi ý của anh huytran (chung họ với mình, hề-hề), mình quyết định lập chủ đề ĐIỆN-ẢNH KỊCH-TRƯỜNG để chúng ta có thể giúp nhau biết thêm nhiều khía cạnh trong cả thế kỉ sân khấu màn ảnh Việt Nam. Điều này chắc chắn vô hình trung gây cái hứng khởi sâu sắc hơn cho sự đọc và sự hiểu những tác phẩm nguyên bản của nó - điều xem ra còn khuyết trên diễn đàn này, cũng như có thể là dư luận chung.

    Lẽ dĩ nhiên, ít hay nhiều bạn vẫn phải biết qua một đôi vở kịch cuốn phim Việt Nam. Chứ không thể nào chỉ nghe ai kể lại hoặc thậm chí không cả thạo tiếng Việt - điều mà hiện tại giới trẻ đang mắc, đấy là làm khách trọ ngay trên chính quê hương mình.


    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22 lúc 23:05
    amylee thích bài này.
  2. Uillean

    Uillean Lớp 2

    Nhân cái sự rất lạ, dạo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, mình mới biết hóa ra kịch bản Số phận trớ trêu nổi tiếng tại Nga lại đã từng làm mưa làm gió ở tận Sài Gòn (dù vẫn biết thập niên 1980 dòng kịch "perestroika" thống trị sân khấu Việt Nam). Ai dè đúng đêm Giao Thừa đài HTV đã làm cái việc hi hữu nhất trong vòng ba thập niên qua, là phát lại băng kịch xưa - vì theo lí tính, chẳng có ai đón năm mới bằng một điều rất cũ, nhất là truyền hình.

    Nhưng cũng nhắc đến truyền hình, càng về cuối năm truyền hình miền Bắc ảm đạm hơn, tới mức phim Phố trong làng phải tạm dừng quay, và người ta phát lại cuốn Mùa xuân ở lại từng chiếu trước đó chỉ một năm. Thằng bạn mình mới bảo, rõ ràng điện ảnh kịch trường Việt Nam chung đang khủng hoảng, họ thậm chí diễn lại những cuốn phim vở kịch rất cũ - cũ ở cái nghĩa thời gian và cũ ở cái nghĩa không hấp dẫn. Một điểm nữa chứng minh cho lời nó, là suốt năm 2021 Bộ Văn Hóa phải lập quỹ hỗ trợ thực hiện gấp kênh sân khấu trực tuyến, thay vì mua vé thì khán giả chỉ việc ngồi nhà (nguyên nhân nào thì mình mạn phép khỏi nói), thế nhưng chất lượng các vở cũng không hề thu hút được sự quan tâm lớn của dư luận [như yêu cầu của Bộ]. Thế mới biết, giờ khán giả trẻ - nhất là đám genZ - chẳng coi điện ảnh kịch trường bản quốc ra gì hết.

    Phải là bạn nào từng sống qua các năm vừa xóa cơ chế bao cấp, mới thấu hết nỗi truân chuyên của điện ảnh kịch trường lúc đó. Về lí, dạo ấy nghệ sĩ, các rạp và nhà đài được quyền tự do hành nghề không phải xin phép như trước, nhưng trào lưu xem băng video lậu Hong Kong, Đài Loan, Mĩ... thời gian ấy khiến cho sân khấu và màn ảnh Việt Nam ở mức sống không nổi. Cái điều phi lí, là bây giờ nhân sự, vật lực quá dư dật, nhưng các nhà đài lại không làm nổi cuốn phim hay vở kịch nào có chất lượng bì với giai đoạn ấy, nếu không nói là QUAY VỀ THỜI NGUYÊN THỦY. Vì theo kí ức của mình, quãng từ 1995 cho tới 2010 phim truyền hình sản xuất và thương lượng bản quyền nhiều tới mức bão hòa, có lúc một phim phải chiếm Giờ Vàng tới 2 tiếng. Nhưng đó là truyện khi nhân sự và kĩ thuật đã tiến bộ, chứ trước đó, phải tới 10 năm đài chủ lực như VTV (lúc đó gọi là đài truyền hình trung ương) chỉ phát tầm 10 tiếng mỗi ngày đối với TV không lắp UHF, còn tầm 15 tiếng với TV màu nhãn hiệu Nhật (chức năng bắt sóng khỏe hơn, tiền nào của nấy mà). Tuy nhiên ở khung sau này gọi "giờ vàng" lại chỉ có thời sự, ca nhạc với dạy ngoại ngữ, còn phim truyền hình chiếu đúng 30 phút - mỗi tết nguyên đán thì tăng cường 60 phút thôi. Thời gian ấy các gương mặt Hoàng Dũng, Minh Hòa, Minh Vượng, Duy Thanh, Hoàng Cúc, Trịnh Mai, Trịnh Thịnh, Dương Quảng, Phương Thanh, Tiến Mộc... nhẵn mặt trên VTV. Thế nhưng có những cuốn phát đi phát lại dễ hàng chục lần trong thời gian cực ngắn, cốt truyện giản đơn và có khi cả phim chỉ 3-4 diễn viên. Tại miền Nam có lẽ tình hình khởi sắc hơn chút, nhưng cũng chỉ có Trong nhà ngoài phố tạm được coi là hấp dẫn nhờ tài tử đông, nội dung khôi hài. Cái điều không ngờ nhất, là tình trạng diễn-cho-có, chiếu-cho-xong đấy bây giờ lặp lại ngay trên VTV, ở thời được coi là hoàng kim của nhân lực và vật lực thế này. [Nếu bạn nào xa xứ lâu không biết, thì mình phân trần như này, kể từ 2018 phim giờ vàng VTV1 bị cắt xuống còn 30 phút, nhưng chí ít vẫn có phim mới chiếu đều, dù nội dung toàn soạn vội theo hình thức dealine và diễn viên vô hồn lắm, nhưng trường hợp Mùa xuân ở lại đầu năm 2022 chính là chuông cảnh tỉnh cho cuộc khủng hoảng chắc chắn còn dài này. Họ lười tới mức không thèm lục lại kho phim cũ để lựa cuốn nào hay hơn, mà chỉ chiếu bừa cho có].

    Còn về thoại kịch dĩ nhiên càng ảm đạm hơn, vì nó đã qua cái đỉnh hoàng kim thập niên 1980 rồi - cái thuở người ta đạp cả lên đầu nhau để vào rạp, ở trường đại học thì các giáo sư tranh cãi nảy lửa về kịch cổ điển Hi Lạp, hay kịch tâm lí xã hội Tô Liên. Lui sâu về trước, thì cụ Vũ Đình Long vẫn được tạm coi như tổ sư thoại kịch, nhưng mình có một bản thâu âm từ năm 1900 của người Pháp, nó ghi lại kịch mục ngắn của tài tử An Nam dự hội đấu xảo thuộc địa Paris, thế nên có thể coi thoại kịch là yếu tố do tiếp thu văn hóa Pháp mà có. Tiếc là gần đây, vở hài kịch xã hội Chén thuốc độc từ chỗ bài trừ mê tín dị đoan lại bị biến thành "tôn vinh nghệ thuật truyền thống".


    [​IMG]
    [​IMG]

    Cũng nhân đây có chút tư liệu để các bạn hình dung về những chặng đường kịch ảnh vừa qua :

    ➠ Phim Lời sám hối muộn màng lấy bối cảnh đại học tổng hợp Hà Nội thập niên 1980. Anh trò cưng sang nhà thầy định vay tiền tổ chức sinh nhật, nhưng thầy cứ mải mê nói về kịch Hi Lạp, quên cả nước đang reo, và thằng học trò đang nóng ruột. Cũng lưu ý rằng, thập niên 1980 kịch cổ điển Hi Lạp được dựng vô số tại Việt Nam, thậm chí chuyển soạn tuồng, cải lương, gây cái phong trào đọc thần thoại (cuốn cụ Khỏa) vô cùng hứng khởi trong sinh viên học sinh.



    ➠ Phim Nơi tình yêu đã chết, một trong các cuốn phim được chiếu ở giai đoạn ảm đạm nhất của phim kịch Việt Nam, tức là đầu thập niên 1990. Phim này chế tác theo hình thức nhà đài cung cấp kĩ thuật, đơn vị tư nhân tuyển diễn viên, quay xong thì chiếu trên TV và phát hành video thu lợi nhuận. Cuốn phim này về sau trở thành ý tưởng sản xuất phim Ông cố vấn (cô Minh Hòa tiếp tục đóng phu nhân Ngô Đình Nhu). Từ giữa thập niên 1990 trở đi, tới 90% hoặc có thể hơn phim do VFC (lúc ấy chưa thuộc VTV) sản xuất đều bắt chước hình thức này, nhưng họ không tự phát hành video mà lại nhờ hãng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hải ngoại. Hãng Mỹ Vân vốn thành lập năm 1952 tại Hà Nội, là cơ sở điện ảnh chuyên nghiệp tiên phong tại Việt Nam, sau này còn được ví là "Warner Bros Việt Nam" vì chế tác nhiều phim kinh phí nhân sự rất tốn kém. Hầu hết phim truyền hình Việt Nam chiếu trên mạng mà hơi nhiễu đều là chiết từ băng video của hãng Mỹ Vân, chứ bản gốc của VFC lại không hề phát trên mạng.


    ➠ Kịch phẩm Nhà búp bê của Henrik Johan Ibsen. Mình không am hiểu lắm về kịch nghệ miền Nam thập niên 1980-90 (vì căn bản chẳng có tư liệu), thế nhưng cũng biết chút rằng, giai đoạn cuối thời bao cấp dòng kịch lãng mạn Tây phương khá áp đảo tại miền Nam, trong khi miền Bắc vẫn loanh quanh với Lưu Quang Vũ hay mấy vở gián điệp Tô Liên.


    ➠ Một số phim truyền hình VTV thuộc dòng kinh phí thấp thập niên 1980-90 : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (1989), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (1990), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (1991)
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22 lúc 23:03
    amylee thích bài này.
  3. Uillean

    Uillean Lớp 2

    MẸ VÀ NGƯỜI TÌNH

    Mẹ và người tình là một vở thoại kịch tâm lý xã hội thành thị của tác giả Lê Chí Trung, xuất phẩm năm 2009 tại Sài Gòn.


    Nguyên ủy Mẹ và người tình là vở chính kịch Người yêu của cha tôi, đặt trong không gian một gia đình gốc Bắc thập niên 2000. Khi tác giả Lê Chí Trung ủy thác Sân khấu kịch Hồng Vân trình diễn, phía hiệu đính viên đã thêm nhiều tình tiết và lời thoại cho nhiều lớp lang hơn, nhìn chung biến tác phẩm thành một vở bi hài kịch.

    Đồng thời, do nguyên nhân khách quan nên bối cảnh được dời vào một thành thị miền Nam. Ở lớp diễn đầu, tất cả nhân vật chính đều dùng giọng Bắc, chỉ số ít vai phụ vẫn dùng giọng Nam. Về sau, do lớp diễn viên trẻ chưa nhiều kinh nghiệm, bối cảnh kịch được quy định hẳn tại miền Nam.



    Chồng mất sớm, bà Xuân một mình tảo tần nuôi bầy con đến phương trưởng. Không chỉ đóng vai trò dưỡng dục, mà bà còn dọn sẵn nấc thang sự nghiệp cho từng đứa. Nhìn chung thì các con bà sớm trở nên kiểu mẫu về sự thành công trong cả công việc và mức sống.

    Tuy nhiên, cái đầm ấm xa hoa giả tạo chỉ dần trôi tuột khi bà Xuân bất ngờ tuyên bố tái giá với người tình cũ : Ông Sơn - hiện góa vợ. Các con bà vì sĩ diện với bàn dân thiên hạ, sợ mất vị thế đang có, và thầm muốn "trả đũa" việc lúc trước mẹ đặt họ vào cái vị trí không xứng khả năng và niềm ưa thích.

    Những cuộc cãi vã giữa người trong nhà xoay quanh mối tình già của mẹ và bác Sơn đã gột sạch cái mặt thật của mỗi nhân vật. Cho đến lúc chết uất, bà Xuân phải trả giá hoặc "nếm" cái hậu quả đau đớn cho chính bà gây ra : Không ai trong gia đình được quyền sống thật với bản thân.

    ✦ Nhà bà Xuân : Nhân lễ giỗ chồng bà Xuân và sinh nhật bà Xuân, các con tề tựu để chúc mừng bà, ngoại trừ nhân vật Dũng là con út hiện du học trời Tây không về được.
    ✦ Công viên : Bà Xuân và ông Sơn sớm nào cũng hẹn nhau đi tập thể dục, vừa để ôn lại kỉ niệm vừa sưởi ấm hai tấm lòng cô đơn đã lâu. Một toán dân phòng chạy lại đòi phạt ông bà tội hủ hóa chốn công cộng, gây mất trật tự mĩ quan đô thị. Con cả Thịnh và vợ kịp ra cứu mẹ bằng cách hối lộ qua loa.
    ✦ Nhà ông Sơn : Ông Sơn sống trong một khu nhà tập thể cũ, dạo gần đây ngày nào cũng bị những thanh âm chát chúa khủng bố tinh thần, đồng thời quán giải khát nhà ông bị bọn du đãng quấy rầy không làm ăn gì được.
    ✦ Nhà bà Xuân : Hùng và Lan ở với mẹ, trong khi Hùng thường trốn nhà đi chơi với cô bồ sư phạm thì Lan cũng mải hò hẹn tình tứ, thậm chí dắt trai về nhà ân ái ngay giữa phòng khách. Khi anh chị em tụ tập, họ mới vô tình tiết lộ sự thật những vụ rùm beng dạo gần đây đều do mỗi người một tay góp sức hòng chia rẽ mối tình bà Xuân và ông Sơn. Bà Xuân nghe được, bước vào tranh cãi với các con. Vừa khi đó, Dũng bỏ học về nước, khiến mẹ càng phẫn uất. Bà Xuân đột quị vì không chịu được sự dối trá do chính mình gieo nên.


    ✧ Bà Xuân : Nhân vật trung tâm. Bà góa luôn gắng giữ nếp nhà bằng thói gia trưởng, nêu nguyên tắc không bao giờ làm gì khuất tất và cũng không bao giờ lắng nghe người dưới nói.
    ✧ Thịnh : Con trưởng. Nhờ cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối mà leo dần lên chức viện trưởng, nhưng bị vợ (Hà) cắm sừng ngay trước mặt mà không dám hé răng vì sợ tai tiếng. Thịnh bày ra vụ tố cáo mẹ hủ hóa với bác Sơn.
    ✧ Vinh : Con thứ. Hành nghề kinh doanh bất động sản, có vợ tên Thu là "con phe chợ giời vô học". Y vốn đam mê nghề múa, nhưng mẹ bắt phải "ở nhà làm cột trụ gia đình".
    ✧ Hùng : Con ba. Phải đi tập tễnh do từng chiến đấu ngoài mặt trận. Hùng thất nghiệp nên được gia đình giao phụng dưỡng mẹ và chăm nom nhà cửa. Anh qua lại một nữ sinh sư phạm, nhưng bà Xuân phản đối, cho là hạng "bán phổi" kém danh giá.
    ✧ Lan : Con tư. Vẫn là nữ sinh, bị lưu ban nhiều lần do mải chơi và ham làm đỏm. Cô yêu Tú, một thanh niên thuần túy sống hợp thời và giản đơn, thâm tâm Lan chỉ coi cậu là món trang sức đẹp khi cần, chán thì vứt không tiếc.
    ✧ Dũng : Con út. Được mẹ chỉ định du học lấy bằng tiến sĩ về, nhưng cậu liên tục thi rớt và bỏ học vì bản thân muốn theo nghiệp người mẫu.
    ✧ Ông Sơn : Một công chức hồi hưu đã lâu, nhân gặp người tình cũ là bà Xuân mà nảy ý định tục huyền.
    ✧ Thắng : Con ông Sơn. Nhất định không chịu để bố cưới bà Xuân vì vừa ghét vừa sợ các con bà.



    Vở Mẹ và người tình khi vừa công diễn đã đoạt ngay Huy chương vàng Liên hoan Sân khấu Chuyên nghiệp Toàn quốc 2009, đồng thời gây cơn sốt vé tại Trung tâm Văn hóa Phú Nhuận (Sài Gòn) - "trụ sở" Sân khấu kịch Hồng Vân. Vở này trở thành đỉnh cao về mặt diễn xuất và định hướng phát triển của Sân khấu Hồng Vân vốn trước đó chỉ tập trung những vở hài kịch nhảm. Mẹ và người tình làm tiền đề cho công cuộc dàn dựng hàng loạt trứ tác văn chương Việt Nam cận đại, khiến Sân khấu Hồng Vân vang danh với nhãn hiệu "kịch văn học". Riêng phong cách biểu đạt tâm lý của Mẹ và người tình đã làm cơ sở cho việc dàn dựng vở Người vợ ma.

    Tuy nhiên, suốt nhiều năm sau khi Mẹ và người tình xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chưa vở nào của Sân khấu Hồng Vân tái lập được kì tích hâm mộ như vậy. Sau khi nhận thấy sân khấu đã lâm khủng hoảng vì lạm dùng dòng kịch kinh dị, đến 2018, Sân khấu kịch Hồng Vân lại manh nha tái diễn Mẹ và người tình và khôi phục dòng "kịch văn học".


     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22 lúc 23:04
  4. Uillean

    Uillean Lớp 2

    HOA KHÔI DẠY CHỒNG

    Hoa khôi dạy chồng là nhan đề vở chèo do tác giả Doãn Hoàng Giang công bố tại Hà Nội năm 1994.


    Đầu thập niên 1990, chiếng chèo Bắc Bộ chịu áp lực của trào lưu phim mì ăn liền và ca nhạc trẻ Sài Gòn nên phải ra sức cách tân để giữ khán giả. Trong bối cảnh đó, đạo diễn sân khấu kì cựu Doãn Hoàng Giang đã dựng liên tiếp ba vở chèo theo phong cách thể hiện hoàn toàn mới, gồm : Bài ca Điện Biên, Nàng SitaHoa khôi dạy chồng. Trong đó, Hoa khôi dạy chồng là vở chót và đặc sắc hơn cả.

    Vở chèo tuy có tuyến truyện tương đối giản dị nhưng đầy chất trào lộng thâm thúy đã bắt trúng tâm lý thời thượng, nên ngay khi công diễn đạt tỉ suất khán giả cực cao riêng tại cụm rạp Hà Nội trước khi được tái diễn ở khắp miền Bắc.

    Cô tiểu thư Hồng Ngọc đoạt giải hoa khôi Bắc Kỳ, ông bà tham bèn bắn tin kén chồng cho con, những mong ông bà được rể quý mà cô Hồng Ngọc được tấm chồng giàu sang. Nhưng hỡi ôi, tìm đỏ mắt vẫn không đâu ra rể "môn đăng hộ đối" : Người thì sứt môi què cụt, người lại học hành chẳng tới nơi tới chốn... dù gia thế cũng chẳng ai mấy nỗi.

    Tới một hôm, có cậu Kim Ấm lại nhà. Ấm ta ướm hỏi cô Hồng Ngọc, nhưng bị ông bà tham và cả cô Ngọc dội gáo nước lạnh vì cái điệu tuy giàu mà cư xử bất nhã. Kim Ấm chẳng nói chẳng rằng, cắp đít bỏ về.

    Ấm bèn bắt thằng tớ Xuân Ất giả bộ là học sinh trường thuốc mới ở "ba-di" về, còn chính Kim Ấm đóng giả đày tớ. Hai thày trò cắp tráp tới hỏi cưới cô Ngọc về cho "cậu Văn Ất". Ông bà tham mừng như bắt được vàng, bèn gấp rút tổ chức hôn lễ cho hai người.

    Nhưng đúng đêm tân hôn, "thằng tớ" Ấm hiện nguyên hình là cậu chủ, xấn xổ sang nhà tham đòi áo mão giày dép hòng làm nhục cô Hồng Ngọc trước bàn dân thiên hạ. Ông bà tham sợ rúm cả người, câm lặng chịu tủi hổ, còn cô Ngọc dõng dạc nhận liều thằng tớ Ất là chồng danh chính ngôn thuận, rồi lễ phép "mời" Kim Ấm về.

    Kể tự bấy, cô Hồng Ngọc dốc công dạy Ất học tập, hẹn rằng chỉ khi nào y lấy được bằng đíp-lôm mới cho động phòng. Ất ban đầu cứng cổ, sau phải ngoan.

    Chưa đầy ba năm sau, Kim Ấm nướng sạch gia sản vào chiếu bạc, phải ra đường hành nghề đánh giày thuê. Trong lúc đó, Ất tu chí học hành và chiếm được bảng vàng, chính thức trở thành "thằng rể quý" nhà ông bà tham, không phụ lòng cô Ngọc.



    Vở chèo Hoa khôi dạy chồng thường được coi như sự tiếp nối thành công của loạt kịch phẩm và phim ảnh chuyển thể dòng văn chương lãng mạn hiện thực thời Tự Lực văn đoàn vốn đạt doanh thu và thành tựu nghệ thuật đều rất khả quan giai đoạn cuối thập niên 1980 vắt sang thập niên 1990 riêng ở Bắc Bộ.

    Trong hai thập niên 1990 và 2000, vở chèo này liên tục được chuyển soạn sang các loại hình văn nghệ tương tác khác và hầu hết thành công rực rõ bởi yếu tố trào lộng rất sâu cay, đả kích thói đời coi trọng sự hào nhoáng hình thức hơn vẻ đẹp nội tâm.

    Hài kịch Vợ khôn dạy chồng dại năm 2001. Với các tài tử : Hồng Vân, Minh Hoàng, Hoàng Châu, Xuân Trang, Đức Hải, Trịnh Kim Chi, Đức Thịnh, Anh Vũ.
    DVD hài kịch Lên voi năm 2006. Đạo diễn Phạm Đông Hồng, cùng các tài tử Xuân Hinh, Quang Thắng, An Chinh, Kim Oanh, Minh Hằng, Quốc Anh, Chiến Thắng.



     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22 lúc 23:06
  5. Uillean

    Uillean Lớp 2

    CÂY TRẦU KHÔNG

    Trong những ngày giãn cách xã hội căng thẳng nhất hồi đầu năm 2021, mình có vô tình được coi một bộ phim dài tập mới ra mắt : Cây trầu không. Nói đúng ra, phim này đã đóng máy từ năm 2013, nhưng không hiểu sao mãi tới năm 2021 mới được công bố chính thức trên mạng (dù dự định ban sơ là trình chiếu trên VTV1).

    Cũng phải kể thật là mình đã khóc, vì truyện phim phần nào gợi kí ức tuổi thơ, nhưng phần khác vì những biến thiên trong số phận con người nước này được mô tả chân thực quá. Cảnh đứa con gái thăm mẹ ở nơi sơ tán, rồi đoạn bà mẹ thấy con trai về trong giấc mơ, cảnh anh lính vừa tỏ tình xong thì dẫm phải mìn hi sinh...


    [​IMG]

    Mãi gần đây mình mới biết, bộ phim dựa theo tiểu thuyết hai tập của nữ tác gia Trần Thị Nguyệt Hằng (thường dùng bút danh Trần Thị Hằng). Tác phẩm đã ra đời từ thập niên 1980-90 nhưng cho tới nay vẫn chưa có nhan đề thống nhất. Nhưng cũng phải nói rằng, ai đã đọc Sóng ở đáy sông, nhất thiết đừng bỏ qua bộ tiểu thuyết này.

    ✎ Tập 1 : Những người đàn ông đã gặp. Nhà xuất bản Hải Phòng, 1993. Giải nhì Giải thưởng văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm (không giải nhất).
    ✎ Tập 2 : Cây trầu không. Nhà xuất bản Hải Phòng, 1993. Giải C Giải thưởng Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam.


    [​IMG]

    Số phận đa đoan của nữ kí giả Trà Hân trong hoàn cảnh đất nước còn đang khó khăn bởi chiến tranh, những phức tạp trớ trêu trong đời sống hàng ngày, song hành cùng những va đụng của người làm báo giữa một xã hội đầy biến động của thời kỳ chuyển đổi kinh tế đầy gian nan.

    Những thách thức buộc Trà Hân phải vượt lên, cùng với sự quang minh chính đại của nghề báo phải trải qua bao nhiêu thăng trầm. Để rồi cuối cùng Trà Hân vẫn là cây trầu không giàn leo, tồn tại giữa đời, hứng ánh nắng mặt trời, để cay nồng thơm đượm.
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22 lúc 23:07
    Mã Khắc Tư thích bài này.
  6. huytran

    huytran Lớp 4

    Cũng hay mà ở trên bạn có nhắc đến chèo, vì nó có mối liên quan thú vị. Thật ra thời cuối bao cấp ở miền Nam kịch cũng không thể coi là quá phát triển, mặc dù đây mới là cái nhìn riêng của tôi, 1 người thời đó không có tiền đi rạp, mà chỉ theo dõi trên truyền hình. Và ít ra là 90% dân miền Nam cùng có mối quan hệ với sân khấu (sk) như tôi vậy.

    Thời ấy Đài TH TPHCM 1 tuần chỉ dành 1 buổi tối thứ Bảy, khoảng 1-2 tiếng cho sk, và cái gì thuộc về sk cũng có thể bỏ vào đó: kịch nói, kịch bài chòi, chèo, hát bội, thậm chí có lần chiếu cả kịch dù kê tiếng Khmer, nhưng xem ra cải lương thường được chiếu cố hơn. Vì thế nên kịch nói cũng chỉ xuất hiện trong 10 năm trời được 1 số vở, mà đa số cũng là kịch nội địa, có nội dung xã hội. Những vở đó không phải không hay, chỉ là nó ít có sự sáng tạo nghệ thuật hơn.

    Tuy nhiên, sự va chạm cọ xát giữa nhiều loại hình đem lại những lợi ích rất lớn. Khoảng năm 80 trở đi, các cơ quan nghệ thuật TP được giao vào tay những chuyên gia sân khấu có đào tạo bài bản miền Bắc, hoặc các nhân sự lãnh đạo văn công thời chiến. Họ thay thế cho những bầu gánh, thầy tuồng trước kia của miền Nam chỉ có kinh nghiệm và đào tạo kiểu học việc, nhưng lại biết khôn khéo lưu dụng số nhân tài miền Nam và kết hợp khả năng của 2 bên. Nhờ vậy, tôi thấy cải lương, kể cả hát bội, có những khởi sắc lớn. Các hình thức thể hiện trở nên phong phú và chuyên sâu hơn hẳn (chẳng hạn như biết sử dụng vũ đạo và nhạc nền), nội dung dám tiến vào những chủ đề văn hóa, lịch sử lớn của loài người chứ không chỉ loanh quanh giải trí cho bình dân. Sk miền Nam từ đó tăng vọt chất lượng, cả về mặt ý tưởng trừu tượng lẫn tính hiện thực. Tôi nghĩ có lẽ chèo miền Bắc sau năm 54 cũng đã trải qua biến đổi tương tự, ví dụ nhìn thấy qua vở "Công chúa Tô Lan" của Chèo Hải Phòng, có 1 không khí mơ màng khác hẳn với chèo Thị Mầu, Xúy Vân thường lệ.

    Trong cuộc trao đổi này thì kịch nói không được lợi ích gì nhiều, vì những môn kia là nhạc kịch, trừ phi kịch nói lấy đề tài liên quan đến cải lương hát bội. Còn lại thì tiêu chuẩn chuyên nghiệp của kịch nói đã lần lần đi vào các môn bình dân, đầu tiên nhờ hiện tượng các bộ môn phóng tác kịch bản lẫn của nhau. Ví dụ năm 80 mấy, tôi quên mất, Đoàn SG 1 làm vở "Hòn đảo Thần Vệ nữ" theo kịch của Alexis Parnis, hình như cũng làm theo kịch nói của miền Bắc. Sau đó có vở "Nàng Xê đa" dựa theo chèo của Lưu Quang Thuận - LQ Vũ, gốc truyện là Ramayana của Ấn Độ, diễn ở rạp đến cả 1000 suất rồi mới đưa lên truyền hình.

    "Nàng Xê đa" không rõ là vô tình hay do trình độ người soạn tuồng (1 tác giả ít ai biết là Thể Hà Vân) mà có nội dung tuyệt vời, tinh tế từ từng chi tiết nhỏ. Ta có thể dùng triết học và tâm lý học hiện đại phân tích sát theo nội dung thật của kịch bản, chứ không phải áp đặt miễn cưỡng, khái quát hóa, hay tưởng tượng/suy diễn quá xa như đa số trường hợp phân tích văn học bằng triết lý. Nó đã vượt xa khỏi motif cổ tích anh hùng mỹ nhân của cải lương mà tiến tới mô tả tính đa chiều của đúng sai tốt xấu, mà rất tự nhiên giản dị, không lên gân cãi lý hay khoe chữ như đa số cải lương muốn làm cho nghiêm túc ngày nay. Đem được nó lên sk hoàn hảo cũng là nhờ công của những đạo diễn và phụ trách dàn dựng hoạt động trên cả lãnh vực kịch nói và cải lương (trong trường hợp này là ông Đoàn Bá).

    Ngay bên hát bội tôi cũng nhận thấy các diễn viên đã đi xa hơn những ước lệ cổ truyền, mà bắt đầu biết miêu tả tình cảm phức tạp, thực tế của con người ngoài đời. Nói chung, những năm cuối 80 đầu 90 là những năm nhiều niềm vui cho người yêu sk.

    Năm 90 tôi xuất ngoại; thời đó internet chưa phổ biến, giữa 2 bờ đại dương là 1 vực sâu không cầu nối. Đến khi bắt đầu thấy tác phẩm sk trong nước đưa lên mạng thì tôi rất bất ngờ là mọi chuyện có vẻ như đã thoái hóa. Ngày xưa chỉ coi được kịch truyền hình, giờ thì cả video, cả diễn rạp; tiếc rằng số lượng nhiều mà lọc ra chẳng được bao nhiêu. Kịch nói thì chỉ toàn chuyện đời thường phường xóm, cải lương thì tuồng Tàu hoang đường vô nghĩa hoặc yêu đương khóc lóc, thậm chí còn kém hơn hẳn thời trước 75. Kịch ngoại quốc hình như bị cấm diễn (?), có thấy chăng chỉ là ở các buổi diễn báo cáo tốt nghiệp, nghĩa là với dàn diễn viên còn vụng về non nớt, nhập vai lúng túng. Kịch bản mới cố làm ra có nội hàm sâu sắc thì lại sa vào lỗi triết lý vụn, dông dài, tranh luận thô thiển (và chỉ loanh quanh 2 chuyện vườn Lệ Chi với Lý Chiêu Hoàng). Có phải đó là hệ quả của sự thay đổi xã hội trong những năm mở cửa?

    Nói công bằng thì vẫn còn có những người cố gắng làm ra tác phẩm đẹp, và thậm chí làm thành công, thu được lời hoặc được khen ngợi, nhưng những trường hợp đó quá ít ỏi, lẫn lộn vào giữa cái ồn ào náo nhiệt của cả một xã hội ảo. Cho nên bây giờ mối ao ước được xem lại tác phẩm cũ xưa, khó thấy lại của tôi vẫn lấn át hy vọng gặp được cái gì mới mẻ, bất ngờ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/1/22 lúc 23:04
  7. Uillean

    Uillean Lớp 2

    Tình trạng suy thoái của kịch nghệ nói chung thì anh nhận định khá chính xác, mà có lẽ giờ thành quốc nạn luôn rồi. Ở đây, em chỉ bổ sung ý kiến nhỏ, rằng từ thời Stalin tới giờ, kịch vẫn được ví là "đặc sản" của thể chế cộng sản, nôm na là nhờ yếu tố gọn nhẹ khi diễn và sâu sắc trong tuyên truyền. Đơn cử trường hợp Tô Liên, từng có thời bảo trợ cho sân khấu thăng hoa khủng khiếp - nhất là những năm trì trệ Brezhnev - thậm chí những vùng hẻo lánh ở Trung Á cũng có một số tài tử được vươn lên tầm minh tinh quốc tế ; thế nhưng sau khi Tô Liên cáo chung, kịch trường Nga và cả Ukraina (hai thành tố quan trọng nhất) cũng chỉ giữ được chừng mươi năm thì cũng bại vì trào lưu văn nghệ mới ở Tây phương. Duy có cái hay là nhiều năm nay, chính phủ Nga vẫn đảm bảo ngân sách tán trợ rất xứng đáng cho kịch nghệ và cả số hóa hầu hết băng kịch rồi đưa lên mạng. Thành thử, cho dù đã thất thế, bên đấy họ vẫn giữ được sợi chỉ đỏ của kịch nghệ hàn lâm (em không dùng từ "kinh điển" như mấy người bây giờ lạm dụng), ấy là diễn những vở đã đi vào nguyên lí mà không cần bận tâm hay dở, bán được vé hay không...

    Kể vậy cũng để thấy, thảm trạng sân khấu Việt Nam có lẽ cũng vì mất chỗ dựa nơi chính quyền thôi. Thực ra vấn đề không hẳn ở đồng tiền, mà chính phủ có những cơ chế đặc thù cho ngành thì nó sẽ duy trì được theo hình thức "chân trong chân ngoài", nghĩa là chừng 30% lớp diễn là kịch nghệ hàn lâm, còn lại có thể chỉ là chạy theo cái hầu bao của bình dân để nuôi diễn viên. Phải mãi độ 1-2 năm nay, cơ quan văn hóa có lẽ đã nhận ra tinh thần xã hội nghèo nàn mức nào, dù rõ ràng thu nhập đã ở mức rất cao, nên họ mới quyết tâm chấn hưng sân khấu. Thế nhưng cho tới giờ, cái đề án đưa sân khấu truyền thống vào học đường vẫn chỉ trên giấy, còn việc bảo trợ diễn xuất chỉ là cái kênh trực tuyến như em từng nói - chung quy là cực kì nhỏ. Chứ chừng chục năm nay đã có nhiều sân khấu phải giải thể hoặc thu gọn hoạt động rồi, và gần đây họ phải chuyển sang hình thức quay phim hài chiếu mạng, hoặc là cho diễn viên được nghỉ dài hạn đi đóng phim, lên truyền hình để có thu nhập... Tuy là bi đát thế, em thừa nhận là họ vẫn coi sân khấu là "tổ đình", duy có công chúng là thiệt vì không được thưởng thức những vở kịch mãn nhãn như xưa nữa.

    Riêng việc cấm hay không cấm kịch ngoại, em khẳng định là không hề đâu. Nhưng cái chính là ở vấn đề diễn xuất - khi mà tài tử ít có quỹ thời gian nhập tâm, tìm hiểu bối cảnh nhân vật sống thì dĩ nhiên ra một tác phẩm nham nhở. Em kể một trường hợp cách đây lâu rồi... Một nữ văn sĩ khoe trên mạng là nhà hát Tuổi Trẻ sắp diễn Cậu Vania (Anton Chekhov), thế nhưng thực ra chỉ để rủ đám bạn học cũ (nhiều người trong số đó thậm chí không gặp nhau hơn chục năm rồi) tới coi rồi... đi ăn phở. Mà quả nhiên dưới hàng khán giả cũng lác đác (chắc phân nửa là người quen của dịch giả, diễn viên, đạo diễn...) ; thế còn trên sân khấu : Thay vì bối cảnh thế kỉ XIX, người ta cho tài tử ăn vận như ở thế kỉ XXI - thế cũng tạm được, nhưng mời cả một cô kịch sĩ Nhật Bản không biết tiếng Việt sang lĩnh một vai tương đối quan trọng. [Cũng phải nói thêm, cái sướng khi coi kịch ngoại là diễn viên được kích thích sự thăng hoa và tưởng tượng hơn hẳn dạng kịch "tâm lí xã hội" toàn những cơ chế chính sách, xe hơi chứng khoán... nhưng hình như bây giờ giới soạn giả cũng lười tham khảo, nên cho ra mấy vở thớ lợ, cứ loanh quanh mấy chủ đề-đề tài chán mớ đời] Cho nên theo em nghĩ, coi kịch ngoại là "thể nghiệm" ở Việt Nam là cùng, cho sinh viên diễn để rèn tay nghề cũng đúng thôi. Cũng còn may là gần đây người ta đưa video sân khấu lên nhiều, kể cả những vở của miền Nam miền Bắc từ thập niên 1960, chứ cách đây vài năm thì không ai hình dung được thời thịnh của kịch nghệ Việt Nam nó như thế nào.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/1/22 lúc 14:41
    tiendungtmv thích bài này.
  8. Uillean

    Uillean Lớp 2

    [​IMG]

    Tổng-thống Tưởng Giới-thạch cùng phu-nhân Tống-mỹ-Linh tiếp nghệ-sĩ Nguyễn-thành-Châu (đoàn-trưởng), minh-tinh Kiều-Chinh, Thẩm-thúy-Hằng cùng đoàn văn-nghệ Việt-nam dự Đại-hội Điện-ảnh Á-châu tại Đài-bắc (Trung-hoa Dân-quốc), 1964. Nguồn ảnh : Kí-giả Lê-quang-thanh-Tâm.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/1/22 lúc 16:28
  9. Uillean

    Uillean Lớp 2

    BÀI CA GIỮ NƯỚC

    Bộ ba pho chèo Bài ca giữ nước của cố NSND Tào Mạt gồm Lý Thánh Tông tuyển hiền, Ỷ Lan nhiếp chínhLý Nhân Tông kế nghiệp.

    Dù lấy bối cảnh triều Lý nhưng đây không phải ca kịch lịch sử, mà ngầm ẩn trong câu truyện "đời xưa" là tinh thần cải cách khai phóng trong nhãn quan của người "nặng gánh sơn hà" (từ này cũng là nhan đề một vở chèo). Tác phẩm có lẽ chịu ảnh hưởng thi pháp Quách Mạt Nhược, vì thời kì này kịch trường miền Bắc có tình trạng "bão hòa" dòng kịch của ông.

    Đây cũng là lần đầu (và tới giờ vẫn là duy nhất), soạn giả đem yếu tố chương hồi vào chèo - vốn là thể loại có kết cấu ngắn, tình tiết đơn sơ chứ không lớp lang như tuồng cổ và tuồng cải lương.




     

Chia sẻ trang này