Đôi dòng lưu niệm Việt-nam kịch-ảnh : Một đoạn-trường

Thảo luận trong 'Bàn Trà' bắt đầu bởi Uillean, 8/1/22.

  1. Uillean

    Uillean Banned

    Nhân có sự gợi ý của anh huytran (chung họ với mình, hề-hề), mình quyết định lập chủ đề ĐIỆN-ẢNH KỊCH-TRƯỜNG để chúng ta có thể giúp nhau biết thêm nhiều khía cạnh trong cả thế kỉ sân khấu màn ảnh Việt Nam. Điều này chắc chắn vô hình trung gây cái hứng khởi sâu sắc hơn cho sự đọc và sự hiểu những tác phẩm nguyên bản của nó - điều xem ra còn khuyết trên diễn đàn này, cũng như có thể là dư luận chung.

    Lẽ dĩ nhiên, ít hay nhiều bạn vẫn phải biết qua một đôi vở kịch cuốn phim Việt Nam. Chứ không thể nào chỉ nghe ai kể lại hoặc thậm chí không cả thạo tiếng Việt - điều mà hiện tại giới trẻ đang mắc, đấy là làm khách trọ ngay trên chính quê hương mình.


    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22
    amylee thích bài này.
  2. Uillean

    Uillean Banned

    Nhân cái sự rất lạ, dạo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, mình mới biết hóa ra kịch bản Số phận trớ trêu nổi tiếng tại Nga lại đã từng làm mưa làm gió ở tận Sài Gòn (dù vẫn biết thập niên 1980 dòng kịch "perestroika" thống trị sân khấu Việt Nam). Ai dè đúng đêm Giao Thừa đài HTV đã làm cái việc hi hữu nhất trong vòng ba thập niên qua, là phát lại băng kịch xưa - vì theo lí tính, chẳng có ai đón năm mới bằng một điều rất cũ, nhất là truyền hình.

    Nhưng cũng nhắc đến truyền hình, càng về cuối năm truyền hình miền Bắc ảm đạm hơn, tới mức phim Phố trong làng phải tạm dừng quay, và người ta phát lại cuốn Mùa xuân ở lại từng chiếu trước đó chỉ một năm. Thằng bạn mình mới bảo, rõ ràng điện ảnh kịch trường Việt Nam chung đang khủng hoảng, họ thậm chí diễn lại những cuốn phim vở kịch rất cũ - cũ ở cái nghĩa thời gian và cũ ở cái nghĩa không hấp dẫn. Một điểm nữa chứng minh cho lời nó, là suốt năm 2021 Bộ Văn Hóa phải lập quỹ hỗ trợ thực hiện gấp kênh sân khấu trực tuyến, thay vì mua vé thì khán giả chỉ việc ngồi nhà (nguyên nhân nào thì mình mạn phép khỏi nói), thế nhưng chất lượng các vở cũng không hề thu hút được sự quan tâm lớn của dư luận [như yêu cầu của Bộ]. Thế mới biết, giờ khán giả trẻ - nhất là đám genZ - chẳng coi điện ảnh kịch trường bản quốc ra gì hết.

    Phải là bạn nào từng sống qua các năm vừa xóa cơ chế bao cấp, mới thấu hết nỗi truân chuyên của điện ảnh kịch trường lúc đó. Về lí, dạo ấy nghệ sĩ, các rạp và nhà đài được quyền tự do hành nghề không phải xin phép như trước, nhưng trào lưu xem băng video lậu Hong Kong, Đài Loan, Mĩ... thời gian ấy khiến cho sân khấu và màn ảnh Việt Nam ở mức sống không nổi. Cái điều phi lí, là bây giờ nhân sự, vật lực quá dư dật, nhưng các nhà đài lại không làm nổi cuốn phim hay vở kịch nào có chất lượng bì với giai đoạn ấy, nếu không nói là QUAY VỀ THỜI NGUYÊN THỦY. Vì theo kí ức của mình, quãng từ 1995 cho tới 2010 phim truyền hình sản xuất và thương lượng bản quyền nhiều tới mức bão hòa, có lúc một phim phải chiếm Giờ Vàng tới 2 tiếng. Nhưng đó là truyện khi nhân sự và kĩ thuật đã tiến bộ, chứ trước đó, phải tới 10 năm đài chủ lực như VTV (lúc đó gọi là đài truyền hình trung ương) chỉ phát tầm 10 tiếng mỗi ngày đối với TV không lắp UHF, còn tầm 15 tiếng với TV màu nhãn hiệu Nhật (chức năng bắt sóng khỏe hơn, tiền nào của nấy mà). Tuy nhiên ở khung sau này gọi "giờ vàng" lại chỉ có thời sự, ca nhạc với dạy ngoại ngữ, còn phim truyền hình chiếu đúng 30 phút - mỗi tết nguyên đán thì tăng cường 60 phút thôi. Thời gian ấy các gương mặt Hoàng Dũng, Minh Hòa, Minh Vượng, Duy Thanh, Hoàng Cúc, Trịnh Mai, Trịnh Thịnh, Dương Quảng, Phương Thanh, Tiến Mộc... nhẵn mặt trên VTV. Thế nhưng có những cuốn phát đi phát lại dễ hàng chục lần trong thời gian cực ngắn, cốt truyện giản đơn và có khi cả phim chỉ 3-4 diễn viên. Tại miền Nam có lẽ tình hình khởi sắc hơn chút, nhưng cũng chỉ có Trong nhà ngoài phố tạm được coi là hấp dẫn nhờ tài tử đông, nội dung khôi hài. Cái điều không ngờ nhất, là tình trạng diễn-cho-có, chiếu-cho-xong đấy bây giờ lặp lại ngay trên VTV, ở thời được coi là hoàng kim của nhân lực và vật lực thế này. [Nếu bạn nào xa xứ lâu không biết, thì mình phân trần như này, kể từ 2018 phim giờ vàng VTV1 bị cắt xuống còn 30 phút, nhưng chí ít vẫn có phim mới chiếu đều, dù nội dung toàn soạn vội theo hình thức dealine và diễn viên vô hồn lắm, nhưng trường hợp Mùa xuân ở lại đầu năm 2022 chính là chuông cảnh tỉnh cho cuộc khủng hoảng chắc chắn còn dài này. Họ lười tới mức không thèm lục lại kho phim cũ để lựa cuốn nào hay hơn, mà chỉ chiếu bừa cho có].

    Còn về thoại kịch dĩ nhiên càng ảm đạm hơn, vì nó đã qua cái đỉnh hoàng kim thập niên 1980 rồi - cái thuở người ta đạp cả lên đầu nhau để vào rạp, ở trường đại học thì các giáo sư tranh cãi nảy lửa về kịch cổ điển Hi Lạp, hay kịch tâm lí xã hội Tô Liên. Lui sâu về trước, thì cụ Vũ Đình Long vẫn được tạm coi như tổ sư thoại kịch, nhưng mình có một bản thâu âm từ năm 1900 của người Pháp, nó ghi lại kịch mục ngắn của tài tử An Nam dự hội đấu xảo thuộc địa Paris, thế nên có thể coi thoại kịch là yếu tố do tiếp thu văn hóa Pháp mà có. Tiếc là gần đây, vở hài kịch xã hội Chén thuốc độc từ chỗ bài trừ mê tín dị đoan lại bị biến thành "tôn vinh nghệ thuật truyền thống".


    [​IMG]
    [​IMG]

    Cũng nhân đây có chút tư liệu để các bạn hình dung về những chặng đường kịch ảnh vừa qua :

    ➠ Phim Lời sám hối muộn màng lấy bối cảnh đại học tổng hợp Hà Nội thập niên 1980. Anh trò cưng sang nhà thầy định vay tiền tổ chức sinh nhật, nhưng thầy cứ mải mê nói về kịch Hi Lạp, quên cả nước đang reo, và thằng học trò đang nóng ruột. Cũng lưu ý rằng, thập niên 1980 kịch cổ điển Hi Lạp được dựng vô số tại Việt Nam, thậm chí chuyển soạn tuồng, cải lương, gây cái phong trào đọc thần thoại (cuốn cụ Khỏa) vô cùng hứng khởi trong sinh viên học sinh.



    ➠ Phim Nơi tình yêu đã chết, một trong các cuốn phim được chiếu ở giai đoạn ảm đạm nhất của phim kịch Việt Nam, tức là đầu thập niên 1990. Phim này chế tác theo hình thức nhà đài cung cấp kĩ thuật, đơn vị tư nhân tuyển diễn viên, quay xong thì chiếu trên TV và phát hành video thu lợi nhuận. Cuốn phim này về sau trở thành ý tưởng sản xuất phim Ông cố vấn (cô Minh Hòa tiếp tục đóng phu nhân Ngô Đình Nhu). Từ giữa thập niên 1990 trở đi, tới 90% hoặc có thể hơn phim do VFC (lúc ấy chưa thuộc VTV) sản xuất đều bắt chước hình thức này, nhưng họ không tự phát hành video mà lại nhờ hãng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hải ngoại. Hãng Mỹ Vân vốn thành lập năm 1952 tại Hà Nội, là cơ sở điện ảnh chuyên nghiệp tiên phong tại Việt Nam, sau này còn được ví là "Warner Bros Việt Nam" vì chế tác nhiều phim kinh phí nhân sự rất tốn kém. Hầu hết phim truyền hình Việt Nam chiếu trên mạng mà hơi nhiễu đều là chiết từ băng video của hãng Mỹ Vân, chứ bản gốc của VFC lại không hề phát trên mạng.


    ➠ Kịch phẩm Nhà búp bê của Henrik Johan Ibsen. Mình không am hiểu lắm về kịch nghệ miền Nam thập niên 1980-90 (vì căn bản chẳng có tư liệu), thế nhưng cũng biết chút rằng, giai đoạn cuối thời bao cấp dòng kịch lãng mạn Tây phương khá áp đảo tại miền Nam, trong khi miền Bắc vẫn loanh quanh với Lưu Quang Vũ hay mấy vở gián điệp Tô Liên.


    ➠ Một số phim truyền hình VTV thuộc dòng kinh phí thấp thập niên 1980-90 : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (1989), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (1990), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (1991)
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/1/22
    meetdak, Phùng Mạnh and amylee like this.
  3. Uillean

    Uillean Banned

    MẸ VÀ NGƯỜI TÌNH

    Mẹ và người tình là một vở thoại kịch tâm lý xã hội thành thị của tác giả Lê Chí Trung, xuất phẩm năm 2009 tại Sài Gòn.


    Nguyên ủy Mẹ và người tình là vở chính kịch Người yêu của cha tôi, đặt trong không gian một gia đình gốc Bắc thập niên 2000. Khi tác giả Lê Chí Trung ủy thác Sân khấu kịch Hồng Vân trình diễn, phía hiệu đính viên đã thêm nhiều tình tiết và lời thoại cho nhiều lớp lang hơn, nhìn chung biến tác phẩm thành một vở bi hài kịch.

    Đồng thời, do nguyên nhân khách quan nên bối cảnh được dời vào một thành thị miền Nam. Ở lớp diễn đầu, tất cả nhân vật chính đều dùng giọng Bắc, chỉ số ít vai phụ vẫn dùng giọng Nam. Về sau, do lớp diễn viên trẻ chưa nhiều kinh nghiệm, bối cảnh kịch được quy định hẳn tại miền Nam.



    Chồng mất sớm, bà Xuân một mình tảo tần nuôi bầy con đến phương trưởng. Không chỉ đóng vai trò dưỡng dục, mà bà còn dọn sẵn nấc thang sự nghiệp cho từng đứa. Nhìn chung thì các con bà sớm trở nên kiểu mẫu về sự thành công trong cả công việc và mức sống.

    Tuy nhiên, cái đầm ấm xa hoa giả tạo chỉ dần trôi tuột khi bà Xuân bất ngờ tuyên bố tái giá với người tình cũ : Ông Sơn - hiện góa vợ. Các con bà vì sĩ diện với bàn dân thiên hạ, sợ mất vị thế đang có, và thầm muốn "trả đũa" việc lúc trước mẹ đặt họ vào cái vị trí không xứng khả năng và niềm ưa thích.

    Những cuộc cãi vã giữa người trong nhà xoay quanh mối tình già của mẹ và bác Sơn đã gột sạch cái mặt thật của mỗi nhân vật. Cho đến lúc chết uất, bà Xuân phải trả giá hoặc "nếm" cái hậu quả đau đớn cho chính bà gây ra : Không ai trong gia đình được quyền sống thật với bản thân.

    ✦ Nhà bà Xuân : Nhân lễ giỗ chồng bà Xuân và sinh nhật bà Xuân, các con tề tựu để chúc mừng bà, ngoại trừ nhân vật Dũng là con út hiện du học trời Tây không về được.
    ✦ Công viên : Bà Xuân và ông Sơn sớm nào cũng hẹn nhau đi tập thể dục, vừa để ôn lại kỉ niệm vừa sưởi ấm hai tấm lòng cô đơn đã lâu. Một toán dân phòng chạy lại đòi phạt ông bà tội hủ hóa chốn công cộng, gây mất trật tự mĩ quan đô thị. Con cả Thịnh và vợ kịp ra cứu mẹ bằng cách hối lộ qua loa.
    ✦ Nhà ông Sơn : Ông Sơn sống trong một khu nhà tập thể cũ, dạo gần đây ngày nào cũng bị những thanh âm chát chúa khủng bố tinh thần, đồng thời quán giải khát nhà ông bị bọn du đãng quấy rầy không làm ăn gì được.
    ✦ Nhà bà Xuân : Hùng và Lan ở với mẹ, trong khi Hùng thường trốn nhà đi chơi với cô bồ sư phạm thì Lan cũng mải hò hẹn tình tứ, thậm chí dắt trai về nhà ân ái ngay giữa phòng khách. Khi anh chị em tụ tập, họ mới vô tình tiết lộ sự thật những vụ rùm beng dạo gần đây đều do mỗi người một tay góp sức hòng chia rẽ mối tình bà Xuân và ông Sơn. Bà Xuân nghe được, bước vào tranh cãi với các con. Vừa khi đó, Dũng bỏ học về nước, khiến mẹ càng phẫn uất. Bà Xuân đột quị vì không chịu được sự dối trá do chính mình gieo nên.


    ✧ Bà Xuân : Nhân vật trung tâm. Bà góa luôn gắng giữ nếp nhà bằng thói gia trưởng, nêu nguyên tắc không bao giờ làm gì khuất tất và cũng không bao giờ lắng nghe người dưới nói.
    ✧ Thịnh : Con trưởng. Nhờ cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối mà leo dần lên chức viện trưởng, nhưng bị vợ (Hà) cắm sừng ngay trước mặt mà không dám hé răng vì sợ tai tiếng. Thịnh bày ra vụ tố cáo mẹ hủ hóa với bác Sơn.
    ✧ Vinh : Con thứ. Hành nghề kinh doanh bất động sản, có vợ tên Thu là "con phe chợ giời vô học". Y vốn đam mê nghề múa, nhưng mẹ bắt phải "ở nhà làm cột trụ gia đình".
    ✧ Hùng : Con ba. Phải đi tập tễnh do từng chiến đấu ngoài mặt trận. Hùng thất nghiệp nên được gia đình giao phụng dưỡng mẹ và chăm nom nhà cửa. Anh qua lại một nữ sinh sư phạm, nhưng bà Xuân phản đối, cho là hạng "bán phổi" kém danh giá.
    ✧ Lan : Con tư. Vẫn là nữ sinh, bị lưu ban nhiều lần do mải chơi và ham làm đỏm. Cô yêu Tú, một thanh niên thuần túy sống hợp thời và giản đơn, thâm tâm Lan chỉ coi cậu là món trang sức đẹp khi cần, chán thì vứt không tiếc.
    ✧ Dũng : Con út. Được mẹ chỉ định du học lấy bằng tiến sĩ về, nhưng cậu liên tục thi rớt và bỏ học vì bản thân muốn theo nghiệp người mẫu.
    ✧ Ông Sơn : Một công chức hồi hưu đã lâu, nhân gặp người tình cũ là bà Xuân mà nảy ý định tục huyền.
    ✧ Thắng : Con ông Sơn. Nhất định không chịu để bố cưới bà Xuân vì vừa ghét vừa sợ các con bà.



    Vở Mẹ và người tình khi vừa công diễn đã đoạt ngay Huy chương vàng Liên hoan Sân khấu Chuyên nghiệp Toàn quốc 2009, đồng thời gây cơn sốt vé tại Trung tâm Văn hóa Phú Nhuận (Sài Gòn) - "trụ sở" Sân khấu kịch Hồng Vân. Vở này trở thành đỉnh cao về mặt diễn xuất và định hướng phát triển của Sân khấu Hồng Vân vốn trước đó chỉ tập trung những vở hài kịch nhảm. Mẹ và người tình làm tiền đề cho công cuộc dàn dựng hàng loạt trứ tác văn chương Việt Nam cận đại, khiến Sân khấu Hồng Vân vang danh với nhãn hiệu "kịch văn học". Riêng phong cách biểu đạt tâm lý của Mẹ và người tình đã làm cơ sở cho việc dàn dựng vở Người vợ ma.

    Tuy nhiên, suốt nhiều năm sau khi Mẹ và người tình xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chưa vở nào của Sân khấu Hồng Vân tái lập được kì tích hâm mộ như vậy. Sau khi nhận thấy sân khấu đã lâm khủng hoảng vì lạm dùng dòng kịch kinh dị, đến 2018, Sân khấu kịch Hồng Vân lại manh nha tái diễn Mẹ và người tình và khôi phục dòng "kịch văn học".


     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22
    meetdak and Phùng Mạnh like this.
  4. Uillean

    Uillean Banned

    HOA KHÔI DẠY CHỒNG

    Hoa khôi dạy chồng là nhan đề vở chèo do tác giả Doãn Hoàng Giang công bố tại Hà Nội năm 1994.


    Đầu thập niên 1990, chiếng chèo Bắc Bộ chịu áp lực của trào lưu phim mì ăn liền và ca nhạc trẻ Sài Gòn nên phải ra sức cách tân để giữ khán giả. Trong bối cảnh đó, đạo diễn sân khấu kì cựu Doãn Hoàng Giang đã dựng liên tiếp ba vở chèo theo phong cách thể hiện hoàn toàn mới, gồm : Bài ca Điện Biên, Nàng SitaHoa khôi dạy chồng. Trong đó, Hoa khôi dạy chồng là vở chót và đặc sắc hơn cả.

    Vở chèo tuy có tuyến truyện tương đối giản dị nhưng đầy chất trào lộng thâm thúy đã bắt trúng tâm lý thời thượng, nên ngay khi công diễn đạt tỉ suất khán giả cực cao riêng tại cụm rạp Hà Nội trước khi được tái diễn ở khắp miền Bắc.

    Cô tiểu thư Hồng Ngọc đoạt giải hoa khôi Bắc Kỳ, ông bà tham bèn bắn tin kén chồng cho con, những mong ông bà được rể quý mà cô Hồng Ngọc được tấm chồng giàu sang. Nhưng hỡi ôi, tìm đỏ mắt vẫn không đâu ra rể "môn đăng hộ đối" : Người thì sứt môi què cụt, người lại học hành chẳng tới nơi tới chốn... dù gia thế cũng chẳng ai mấy nỗi.

    Tới một hôm, có cậu Kim Ấm lại nhà. Ấm ta ướm hỏi cô Hồng Ngọc, nhưng bị ông bà tham và cả cô Ngọc dội gáo nước lạnh vì cái điệu tuy giàu mà cư xử bất nhã. Kim Ấm chẳng nói chẳng rằng, cắp đít bỏ về.

    Ấm bèn bắt thằng tớ Xuân Ất giả bộ là học sinh trường thuốc mới ở "ba-di" về, còn chính Kim Ấm đóng giả đày tớ. Hai thày trò cắp tráp tới hỏi cưới cô Ngọc về cho "cậu Văn Ất". Ông bà tham mừng như bắt được vàng, bèn gấp rút tổ chức hôn lễ cho hai người.

    Nhưng đúng đêm tân hôn, "thằng tớ" Ấm hiện nguyên hình là cậu chủ, xấn xổ sang nhà tham đòi áo mão giày dép hòng làm nhục cô Hồng Ngọc trước bàn dân thiên hạ. Ông bà tham sợ rúm cả người, câm lặng chịu tủi hổ, còn cô Ngọc dõng dạc nhận liều thằng tớ Ất là chồng danh chính ngôn thuận, rồi lễ phép "mời" Kim Ấm về.

    Kể tự bấy, cô Hồng Ngọc dốc công dạy Ất học tập, hẹn rằng chỉ khi nào y lấy được bằng đíp-lôm mới cho động phòng. Ất ban đầu cứng cổ, sau phải ngoan.

    Chưa đầy ba năm sau, Kim Ấm nướng sạch gia sản vào chiếu bạc, phải ra đường hành nghề đánh giày thuê. Trong lúc đó, Ất tu chí học hành và chiếm được bảng vàng, chính thức trở thành "thằng rể quý" nhà ông bà tham, không phụ lòng cô Ngọc.



    Vở chèo Hoa khôi dạy chồng thường được coi như sự tiếp nối thành công của loạt kịch phẩm và phim ảnh chuyển thể dòng văn chương lãng mạn hiện thực thời Tự Lực văn đoàn vốn đạt doanh thu và thành tựu nghệ thuật đều rất khả quan giai đoạn cuối thập niên 1980 vắt sang thập niên 1990 riêng ở Bắc Bộ.

    Trong hai thập niên 1990 và 2000, vở chèo này liên tục được chuyển soạn sang các loại hình văn nghệ tương tác khác và hầu hết thành công rực rõ bởi yếu tố trào lộng rất sâu cay, đả kích thói đời coi trọng sự hào nhoáng hình thức hơn vẻ đẹp nội tâm.

    Hài kịch Vợ khôn dạy chồng dại năm 2001. Với các tài tử : Hồng Vân, Minh Hoàng, Hoàng Châu, Xuân Trang, Đức Hải, Trịnh Kim Chi, Đức Thịnh, Anh Vũ.
    DVD hài kịch Lên voi năm 2006. Đạo diễn Phạm Đông Hồng, cùng các tài tử Xuân Hinh, Quang Thắng, An Chinh, Kim Oanh, Minh Hằng, Quốc Anh, Chiến Thắng.



     
    Chỉnh sửa cuối: 15/1/22
    meetdak thích bài này.
  5. Uillean

    Uillean Banned

    CÂY TRẦU KHÔNG

    Trong những ngày giãn cách xã hội căng thẳng nhất hồi đầu năm 2021, mình có vô tình được coi một bộ phim dài tập mới ra mắt : Cây trầu không. Nói đúng ra, phim này đã đóng máy từ năm 2013, nhưng không hiểu sao mãi tới năm 2021 mới được công bố chính thức trên mạng (dù dự định ban sơ là trình chiếu trên VTV1).

    Cũng phải kể thật là mình đã khóc, vì truyện phim phần nào gợi kí ức tuổi thơ, nhưng phần khác vì những biến thiên trong số phận con người nước này được mô tả chân thực quá. Cảnh đứa con gái thăm mẹ ở nơi sơ tán, rồi đoạn bà mẹ thấy con trai về trong giấc mơ, cảnh anh lính vừa tỏ tình xong thì dẫm phải mìn hi sinh...


    [​IMG]

    Mãi gần đây mình mới biết, bộ phim dựa theo tiểu thuyết hai tập của nữ tác gia Trần Thị Nguyệt Hằng (thường dùng bút danh Trần Thị Hằng). Tác phẩm đã ra đời từ thập niên 1980-90 nhưng cho tới nay vẫn chưa có nhan đề thống nhất. Nhưng cũng phải nói rằng, ai đã đọc Sóng ở đáy sông, nhất thiết đừng bỏ qua bộ tiểu thuyết này.

    ✎ Tập 1 : Những người đàn ông đã gặp. Nhà xuất bản Hải Phòng, 1993. Giải nhì Giải thưởng văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm (không giải nhất).
    ✎ Tập 2 : Cây trầu không. Nhà xuất bản Hải Phòng, 1993. Giải C Giải thưởng Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam.


    [​IMG]

    Số phận đa đoan của nữ kí giả Trà Hân trong hoàn cảnh đất nước còn đang khó khăn bởi chiến tranh, những phức tạp trớ trêu trong đời sống hàng ngày, song hành cùng những va đụng của người làm báo giữa một xã hội đầy biến động của thời kỳ chuyển đổi kinh tế đầy gian nan.

    Những thách thức buộc Trà Hân phải vượt lên, cùng với sự quang minh chính đại của nghề báo phải trải qua bao nhiêu thăng trầm. Để rồi cuối cùng Trà Hân vẫn là cây trầu không giàn leo, tồn tại giữa đời, hứng ánh nắng mặt trời, để cay nồng thơm đượm.
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/1/22
  6. huytran

    huytran Lớp 4

    Cũng hay mà ở trên bạn có nhắc đến chèo, vì nó có mối liên quan thú vị. Thật ra thời cuối bao cấp ở miền Nam kịch cũng không thể coi là quá phát triển, mặc dù đây mới là cái nhìn riêng của tôi, 1 người thời đó không có tiền đi rạp, mà chỉ theo dõi trên truyền hình. Và ít ra là 90% dân miền Nam cùng có mối quan hệ với sân khấu (sk) như tôi vậy.

    Thời ấy Đài TH TPHCM 1 tuần chỉ dành 1 buổi tối thứ Bảy, khoảng 1-2 tiếng cho sk, và cái gì thuộc về sk cũng có thể bỏ vào đó: kịch nói, kịch bài chòi, chèo, hát bội, thậm chí có lần chiếu cả kịch dù kê tiếng Khmer, nhưng xem ra cải lương thường được chiếu cố hơn. Vì thế nên kịch nói cũng chỉ xuất hiện trong 10 năm trời được 1 số vở, mà đa số cũng là kịch nội địa, có nội dung xã hội. Những vở đó không phải không hay, chỉ là nó ít có sự sáng tạo nghệ thuật hơn.

    Tuy nhiên, sự va chạm cọ xát giữa nhiều loại hình đem lại những lợi ích rất lớn. Khoảng năm 80 trở đi, các cơ quan nghệ thuật TP được giao vào tay những chuyên gia sân khấu có đào tạo bài bản miền Bắc, hoặc các nhân sự lãnh đạo văn công thời chiến. Họ thay thế cho những bầu gánh, thầy tuồng trước kia của miền Nam chỉ có kinh nghiệm và đào tạo kiểu học việc, nhưng lại biết khôn khéo lưu dụng số nhân tài miền Nam và kết hợp khả năng của 2 bên. Nhờ vậy, tôi thấy cải lương, kể cả hát bội, có những khởi sắc lớn. Các hình thức thể hiện trở nên phong phú và chuyên sâu hơn hẳn (chẳng hạn như biết sử dụng vũ đạo và nhạc nền), nội dung dám tiến vào những chủ đề văn hóa, lịch sử lớn của loài người chứ không chỉ loanh quanh giải trí cho bình dân. Sk miền Nam từ đó tăng vọt chất lượng, cả về mặt ý tưởng trừu tượng lẫn tính hiện thực. Tôi nghĩ có lẽ chèo miền Bắc sau năm 54 cũng đã trải qua biến đổi tương tự, ví dụ nhìn thấy qua vở "Công chúa Tô Lan" của Chèo Hải Phòng, có 1 không khí mơ màng khác hẳn với chèo Thị Mầu, Xúy Vân thường lệ.

    Trong cuộc trao đổi này thì kịch nói không được lợi ích gì nhiều, vì những môn kia là nhạc kịch, trừ phi kịch nói lấy đề tài liên quan đến cải lương hát bội. Còn lại thì tiêu chuẩn chuyên nghiệp của kịch nói đã lần lần đi vào các môn bình dân, đầu tiên nhờ hiện tượng các bộ môn phóng tác kịch bản lẫn của nhau. Ví dụ năm 80 mấy, tôi quên mất, Đoàn SG 1 làm vở "Hòn đảo Thần Vệ nữ" theo kịch của Alexis Parnis, hình như cũng làm theo kịch nói của miền Bắc. Sau đó có vở "Nàng Xê đa" dựa theo chèo của Lưu Quang Thuận - LQ Vũ, gốc truyện là Ramayana của Ấn Độ, diễn ở rạp đến cả 1000 suất rồi mới đưa lên truyền hình.

    "Nàng Xê đa" không rõ là vô tình hay do trình độ người soạn tuồng (1 tác giả ít ai biết là Thể Hà Vân) mà có nội dung tuyệt vời, tinh tế từ từng chi tiết nhỏ. Ta có thể dùng triết học và tâm lý học hiện đại phân tích sát theo nội dung thật của kịch bản, chứ không phải áp đặt miễn cưỡng, khái quát hóa, hay tưởng tượng/suy diễn quá xa như đa số trường hợp phân tích văn học bằng triết lý. Nó đã vượt xa khỏi motif cổ tích anh hùng mỹ nhân của cải lương mà tiến tới mô tả tính đa chiều của đúng sai tốt xấu, mà rất tự nhiên giản dị, không lên gân cãi lý hay khoe chữ như đa số cải lương muốn làm cho nghiêm túc ngày nay. Đem được nó lên sk hoàn hảo cũng là nhờ công của những đạo diễn và phụ trách dàn dựng hoạt động trên cả lãnh vực kịch nói và cải lương (trong trường hợp này là ông Đoàn Bá).

    Ngay bên hát bội tôi cũng nhận thấy các diễn viên đã đi xa hơn những ước lệ cổ truyền, mà bắt đầu biết miêu tả tình cảm phức tạp, thực tế của con người ngoài đời. Nói chung, những năm cuối 80 đầu 90 là những năm nhiều niềm vui cho người yêu sk.

    Năm 90 tôi xuất ngoại; thời đó internet chưa phổ biến, giữa 2 bờ đại dương là 1 vực sâu không cầu nối. Đến khi bắt đầu thấy tác phẩm sk trong nước đưa lên mạng thì tôi rất bất ngờ là mọi chuyện có vẻ như đã thoái hóa. Ngày xưa chỉ coi được kịch truyền hình, giờ thì cả video, cả diễn rạp; tiếc rằng số lượng nhiều mà lọc ra chẳng được bao nhiêu. Kịch nói thì chỉ toàn chuyện đời thường phường xóm, cải lương thì tuồng Tàu hoang đường vô nghĩa hoặc yêu đương khóc lóc, thậm chí còn kém hơn hẳn thời trước 75. Kịch ngoại quốc hình như bị cấm diễn (?), có thấy chăng chỉ là ở các buổi diễn báo cáo tốt nghiệp, nghĩa là với dàn diễn viên còn vụng về non nớt, nhập vai lúng túng. Kịch bản mới cố làm ra có nội hàm sâu sắc thì lại sa vào lỗi triết lý vụn, dông dài, tranh luận thô thiển (và chỉ loanh quanh 2 chuyện vườn Lệ Chi với Lý Chiêu Hoàng). Có phải đó là hệ quả của sự thay đổi xã hội trong những năm mở cửa?

    Nói công bằng thì vẫn còn có những người cố gắng làm ra tác phẩm đẹp, và thậm chí làm thành công, thu được lời hoặc được khen ngợi, nhưng những trường hợp đó quá ít ỏi, lẫn lộn vào giữa cái ồn ào náo nhiệt của cả một xã hội ảo. Cho nên bây giờ mối ao ước được xem lại tác phẩm cũ xưa, khó thấy lại của tôi vẫn lấn át hy vọng gặp được cái gì mới mẻ, bất ngờ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/1/22
  7. Uillean

    Uillean Banned

    Tình trạng suy thoái của kịch nghệ nói chung thì anh nhận định khá chính xác, mà có lẽ giờ thành quốc nạn luôn rồi. Ở đây, em chỉ bổ sung ý kiến nhỏ, rằng từ thời Stalin tới giờ, kịch vẫn được ví là "đặc sản" của thể chế cộng sản, nôm na là nhờ yếu tố gọn nhẹ khi diễn và sâu sắc trong tuyên truyền. Đơn cử trường hợp Tô Liên, từng có thời bảo trợ cho sân khấu thăng hoa khủng khiếp - nhất là những năm trì trệ Brezhnev - thậm chí những vùng hẻo lánh ở Trung Á cũng có một số tài tử được vươn lên tầm minh tinh quốc tế ; thế nhưng sau khi Tô Liên cáo chung, kịch trường Nga và cả Ukraina (hai thành tố quan trọng nhất) cũng chỉ giữ được chừng mươi năm thì cũng bại vì trào lưu văn nghệ mới ở Tây phương. Duy có cái hay là nhiều năm nay, chính phủ Nga vẫn đảm bảo ngân sách tán trợ rất xứng đáng cho kịch nghệ và cả số hóa hầu hết băng kịch rồi đưa lên mạng. Thành thử, cho dù đã thất thế, bên đấy họ vẫn giữ được sợi chỉ đỏ của kịch nghệ hàn lâm (em không dùng từ "kinh điển" như mấy người bây giờ lạm dụng), ấy là diễn những vở đã đi vào nguyên lí mà không cần bận tâm hay dở, bán được vé hay không...

    Kể vậy cũng để thấy, thảm trạng sân khấu Việt Nam có lẽ cũng vì mất chỗ dựa nơi chính quyền thôi. Thực ra vấn đề không hẳn ở đồng tiền, mà chính phủ có những cơ chế đặc thù cho ngành thì nó sẽ duy trì được theo hình thức "chân trong chân ngoài", nghĩa là chừng 30% lớp diễn là kịch nghệ hàn lâm, còn lại có thể chỉ là chạy theo cái hầu bao của bình dân để nuôi diễn viên. Phải mãi độ 1-2 năm nay, cơ quan văn hóa có lẽ đã nhận ra tinh thần xã hội nghèo nàn mức nào, dù rõ ràng thu nhập đã ở mức rất cao, nên họ mới quyết tâm chấn hưng sân khấu. Thế nhưng cho tới giờ, cái đề án đưa sân khấu truyền thống vào học đường vẫn chỉ trên giấy, còn việc bảo trợ diễn xuất chỉ là cái kênh trực tuyến như em từng nói - chung quy là cực kì nhỏ. Chứ chừng chục năm nay đã có nhiều sân khấu phải giải thể hoặc thu gọn hoạt động rồi, và gần đây họ phải chuyển sang hình thức quay phim hài chiếu mạng, hoặc là cho diễn viên được nghỉ dài hạn đi đóng phim, lên truyền hình để có thu nhập... Tuy là bi đát thế, em thừa nhận là họ vẫn coi sân khấu là "tổ đình", duy có công chúng là thiệt vì không được thưởng thức những vở kịch mãn nhãn như xưa nữa.

    Riêng việc cấm hay không cấm kịch ngoại, em khẳng định là không hề đâu. Nhưng cái chính là ở vấn đề diễn xuất - khi mà tài tử ít có quỹ thời gian nhập tâm, tìm hiểu bối cảnh nhân vật sống thì dĩ nhiên ra một tác phẩm nham nhở. Em kể một trường hợp cách đây lâu rồi... Một nữ văn sĩ khoe trên mạng là nhà hát Tuổi Trẻ sắp diễn Cậu Vania (Anton Chekhov), thế nhưng thực ra chỉ để rủ đám bạn học cũ (nhiều người trong số đó thậm chí không gặp nhau hơn chục năm rồi) tới coi rồi... đi ăn phở. Mà quả nhiên dưới hàng khán giả cũng lác đác (chắc phân nửa là người quen của dịch giả, diễn viên, đạo diễn...) ; thế còn trên sân khấu : Thay vì bối cảnh thế kỉ XIX, người ta cho tài tử ăn vận như ở thế kỉ XXI - thế cũng tạm được, nhưng mời cả một cô kịch sĩ Nhật Bản không biết tiếng Việt sang lĩnh một vai tương đối quan trọng. [Cũng phải nói thêm, cái sướng khi coi kịch ngoại là diễn viên được kích thích sự thăng hoa và tưởng tượng hơn hẳn dạng kịch "tâm lí xã hội" toàn những cơ chế chính sách, xe hơi chứng khoán... nhưng hình như bây giờ giới soạn giả cũng lười tham khảo, nên cho ra mấy vở thớ lợ, cứ loanh quanh mấy chủ đề-đề tài chán mớ đời] Cho nên theo em nghĩ, coi kịch ngoại là "thể nghiệm" ở Việt Nam là cùng, cho sinh viên diễn để rèn tay nghề cũng đúng thôi. Cũng còn may là gần đây người ta đưa video sân khấu lên nhiều, kể cả những vở của miền Nam miền Bắc từ thập niên 1960, chứ cách đây vài năm thì không ai hình dung được thời thịnh của kịch nghệ Việt Nam nó như thế nào.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/1/22
    tiendungtmv thích bài này.
  8. Uillean

    Uillean Banned

    [​IMG]

    Tổng-thống Tưởng Giới-thạch cùng phu-nhân Tống-mỹ-Linh tiếp nghệ-sĩ Nguyễn-thành-Châu (đoàn-trưởng), minh-tinh Kiều-Chinh, Thẩm-thúy-Hằng cùng đoàn văn-nghệ Việt-nam dự Đại-hội Điện-ảnh Á-châu tại Đài-bắc (Trung-hoa Dân-quốc), 1964. Nguồn ảnh : Kí-giả Lê-quang-thanh-Tâm.
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/1/22
  9. Uillean

    Uillean Banned

    BÀI CA GIỮ NƯỚC

    Bộ ba pho chèo Bài ca giữ nước của cố NSND Tào Mạt gồm Lý Thánh Tông tuyển hiền, Ỷ Lan nhiếp chínhLý Nhân Tông kế nghiệp.

    Dù lấy bối cảnh triều Lý nhưng đây không phải ca kịch lịch sử, mà ngầm ẩn trong câu truyện "đời xưa" là tinh thần cải cách khai phóng trong nhãn quan của người "nặng gánh sơn hà" (từ này cũng là nhan đề một vở chèo). Tác phẩm có lẽ chịu ảnh hưởng thi pháp Quách Mạt Nhược, vì thời kì này kịch trường miền Bắc có tình trạng "bão hòa" dòng kịch của ông.

    Đây cũng là lần đầu (và tới giờ vẫn là duy nhất), soạn giả đem yếu tố chương hồi vào chèo - vốn là thể loại có kết cấu ngắn, tình tiết đơn sơ chứ không lớp lang như tuồng cổ và tuồng cải lương.




     
  10. Uillean

    Uillean Banned

    NGƯỜI VỢ MA

    Đầu thập niên 2000, sân khấu hài kịch Sài Gòn sa sút vì không cạnh tranh lại với Làn Sóng Xanh và Hàn lưu, trong khi khán giả ngày càng ỷ vào truyền hình để lười tới rạp. Ở bối cảnh ảm đạm đó, các chương trình Gặp Nhau Cuối Tuần và Gala Cười được coi như sự cứu viện tạm thời từ miền Bắc cũng ngày càng sa lầy, khiến cho sân khấu hai miền có nguy cơ tan rã. Sân khấu Việt Nam lại đứng trước chọn lựa hoặc cách tân hoặc hòa tan vào các loại hình văn nghệ khác ăn khách hơn.

    Ngay từ năm 2003, nghệ sĩ Hồng Vân đã có ý định dựng vở bi trường kịch Người vợ ma của kí giả Quang Thi (bút danh Xuyên Lâm), nhưng vì độ khó trong diễn biến tâm lý nhân vật nên có ít nhất hai đạo diễn kỳ cựu khi vừa đọc kịch bản đều từ khước. Tác phẩm tưởng chừng vĩnh viễn bỏ xó, nhưng vào năm 2005, nam tài tử Thái Hòa - bấy giờ vốn rất ăn khách ở mảng tấu hài - lại xin bà bầu Hồng Vân thử làm đạo diễn vì "muốn làm một cái gì đó thật mới mẻ, chưa từng trùng lặp, đặc biệt là thích dựng kịch ma, kịch kinh dị". Khi thủ bản đến tay, ông quyết định dựng bằng được.

    Tối 18 tháng 10 năm 2006, suất diễn đầu Người vợ ma ra mắt khán giả tại Sân khấu kịch Phú Nhuận kèm tựa trên bích chương "Không giải quyết trẻ em và người có bệnh tim". Từ thời điểm đó tới mấy tháng sau, vở diễn gây cháy vé và trở thành một hiện tượng văn nghệ cho suốt hai năm. Mà theo lời nghệ sĩ Hồng Vân, kể từ năm 2006 tới tận 2020, khi dịch Covid-19 buộc sân khấu tạm ngưng, Người vợ ma hễ lần nào công diễn đều hấp dẫn lượng khán giả vô cùng lớn, không hẳn vì cốt truyện kì quái mà chủ yếu do hiệu ứng thính-thị giác cùng lối diễn thoại lúc hài lúc bi của mỗi nhân vật.

    Cũng theo lời nghệ sĩ Cát Phượng, sau khi Người vợ ma đạt thành công vang dội, nghệ sĩ Thái Hòa quyết định dựng tiếp Người vợ ma 2 : Ngôi nhà hoangNgười vợ ma 3 : Ảnh ảo. Trong đó, Thái Hòa phác thảo kịch bản và dựng thoại, còn Cát Phượng chuốt lại cho ra ngôn ngữ kịch hơn. Tuy nhiên, các phần này về sau ít được dựng lại vì đạt tỉ suất khán giả rất thấp so với phần đầu.

    Trong căn biệt thự màu tro lạnh, nhà tỉ phú Tâm rước về một gái mại dâm tên Lan làm vợ. Nhưng ông chỉ mải mê với công truyện làm ăn và những cái bắt tay sặc mùi kim tiền, để tới nỗi người vợ cảm thấy cô đơn quá mà ngoại tình, và khi hối lỗi bèn tự vẫn. Kể từ đó, căn buồng ngủ của phu nhân nhà tỉ phú bị khóa kín, chăn chiếu giường tủ vẫn nguyên như sinh thời.

    Ít lâu sau, nhà tỉ phú tái hôn với Thủy - một người đàn bà trẻ trung sắc sảo, vốn hành nghề bác sĩ tâm lý và có ngoại hình giống hệt vợ quá cố. Khoảng dăm tuần sau, đứa con gái tên Yến của nhà tỉ phú với vợ quá cố cứ thường nói rằng đêm nào mẹ cũng về thủ thỉ với cô trong bộ dạng khi tự tử. Ban đầu, cả nhà tỉ phú và gia nhân đều không tin, nhưng sau tới mụ vú cùng lão quản gia cũng thấy thế. Từ chỗ ngờ sợ, họ đâm ra kín đáo dò xét nội tình.

    Đương lúc quẫn bách, nhà tỉ phú còn mướn hẳn một chuyên gia tâm lý học về điều tra. Thế rồi sự thật cũng hé lộ, người vợ mới đã thuê người giả dạng bà vợ quá cố hòng ép cho đứa con chồng bị rối loạn tâm thần, những mong từ đó độc chiếm gia tài. Tuy nhiên, đúng lúc này, hồn ma thật của người vợ lại hiện về báo oán cô vợ mới, khiến cho những người hiện diện không biết đâu mà ma thật đâu là ma giả, và ai mới thực là người vợ cũ về trò truyện hằng đêm với đứa con gái nhỏ.

    Ở hai phần sau, nhà tỉ phú lượng thứ cho tội ác của cô vợ mới. Gia đình chuyển tới một căn biệt thự khác nhưng tai ương tiếp tục giáng xuống đầu họ.

    ✧ Ông Tâm : Nhà đại tỉ phú, chủ nhân căn biệt thự màu tro lạnh
    ✧ Bà Thủy / Người vợ ma (Lan) : Vợ cũ và vợ mới ông Tâm
    ✧ Bé Yến : Con ông Tâm với vợ quá cố, thường ngồi giường ôm búp bê
    ✧ A Sửu : Lão quản gia gốc Triều, nhân vật tấu hài duy nhứt
    ✧ Mụ vú : Coi bé Yến như con, tính nhát như cáy
    ✧ Khôi : Gã trai nghiện ma túy, bị ám ảnh bởi tiếng dương cầm canh khuya


    Tại Việt Nam, cho tới thời điểm trước năm 2021 vẫn chưa phổ biến rộng rãi trong quần chúng hệ thống khái niệm về dòng "kịch hắc ám" (恐怖劇, horror plays) và các lý thuyết bổ trợ để hiểu rõ vấn đề nghệ thuật này. Giới truyền thông và văn nghệ chuyên nghiệp cũng chỉ gọi nôm na là "kịch ma", "kịch kinh dị" hay "kịch tâm lý kinh dị". Tuy nhiên, trong các luận văn và chuyên đề khoa học từ cấp đại học trở lên, dòng kịch tâm lý ám ảnh nói chung được coi là một phần của lý thuyết "Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link", gọi theo một đoản thiên của tác gia Edgar Allan Poe hoặc đôi khi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link theo một tiểu thuyết của tác gia Oscar Wilde.

    Theo lời kí giả Quang Thi, ông soạn vở Người vợ ma dựa trên thi pháp Edgar Allan Poe (Con quạ) và Bồ Tùng Linh (Liêu trai chí dị). Tuy nhiên, nội dung kịch phẩm này đôi chút có ảnh hưởng của vở Con tinh xuất hiện giữa thủ đô do tác gia Nguyễn Thành Châu (Năm Châu) soạn năm 1963, đặc biệt qua hình tượng người vợ cũ/đứa con gái và lão quản gia người Tiều có nhiều điểm tương đồng.

    Lúc viết “Người vợ ma”, tôi đâu có nghĩ nó... thành công đến vậy. Lúc đó, độ năm 2003, tôi nhận thấy sân khấu hài không sớm thì muộn cũng sa vào lối mòn, với những mảng miếng cũ, còn dựa vào tài năng diễn xuất của diễn viên mãi cũng không được. Tôi nghĩ đến một tiết tấu kịch nhanh, được dẫn dắt bởi nhiều bất ngờ, và có nhiều kỹ xảo sân khấu để thêm màu sắc và hỗ trợ diễn viên. Lúc đó, tôi bỗng nhớ đến câu chuyện “người vợ ma” mà tôi bị ám ảnh từ nhỏ, nên viết ra. Thế nên, tôi không nghĩ cái gì thuộc về ma đều ăn khách. Đến một ngày nào đó, sân khấu có một câu chuyện cảm động, sâu sắc được chuyển tải bằng một hình thức hấp dẫn, đầy mới mẻ... thì tôi nghĩ sẽ có những hiện tượng như “Người vợ ma” tiếp theo mà thôi.

    Tôi cho rằng “ma” cũng là một cảm giác thường trực của con người. Một cảm giác của nỗi sợ hãi, của bản năng. Con người từ nhỏ tới lớn thử hỏi ai không một lần được nghe kể chuyện ma ? Nhưng, nghệ thuật không được đứng dưới hay ngang bằng để “lợi dụng” cảm giác đó, mà phải biến thứ cảm giác bản năng sợ hãi kia thành cảm xúc, thành nhận thức. Nghĩa là, từ “ma” bạn phải kể ra một câu chuyện về thế giới con người.


    Vở diễn này trước nhất đem lại danh vọng cho nghệ sĩ Thái Hòa, từ một "kép nhí" của sân khấu hài, ông được hãng Chánh Phương mời vào loạt vai nặng kí trong các phim màn ảnh đại vĩ tuyến và trở thành gương mặt điện ảnh bảo chứng doanh thu suốt hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Người vợ ma cũng tiên khởi trào lưu dựng kịch và phim kinh dị tại Việt Nam, vốn là mảng thời gian dài trước đó tương đối khó thực hiện và cũng không mấy khi qua được lưới kiểm duyệt. Qua đó chấn hưng sân khấu và điện ảnh Việt Nam được một thời gian khá dài cho tới khi bão hòa và phải chuyển hướng khác.

    ✦ Năm 2020, kênh YouTube của nghệ sĩ nhân dân Hồng Vân đã khai trương loạt video Chuyện ma có thật, áp dụng những hiệu ứng từ sự thành công của nhóm kĩ thuật viên Người vợ ma.

    ✦ Trong chương trình Ký Ức Vui Vẻ mùa 3 tập 21 (2021), nhà sản xuất đã dựng một trích đoạn Người vợ ma. Trong đó, đôi nghệ sĩ Hồng Vân và Minh Nhí đã kể lại chút kỷ niệm "rợn tóc gáy" trực tiếp liên đới xuất phẩm này.


     
    Chỉnh sửa cuối: 25/1/22
  11. huytran

    huytran Lớp 4

    Vở kịch này chắc bạn đã xem rồi? Tôi có 1 vài nhận xét, chỉ từ đọc tóm tắt ở trên nên rất có thể không chính xác hay công bằng với vở kịch.

    1/Tôi rất dị ứng với chuyện tấu hài trong kịch, vẫn biết rằng thời nay phải thế mới câu được khách. Hài và tấu hài là 2 thứ khác nhau rất xa; tấu hài như 1 khúc đầu thừa đuôi thẹo chẳng dính vào đâu, không giúp thêm được gì cho tính cách nhân vật hay nội dung kịch. Nhất là nó thường chỉ biết khai thác những điệu bộ lố lăng, những lời nói thêm thắt nhảm nhí, chẳng hạn gần đây ưa cho những diễn viên nam béo mập đóng giả vai nữ, tôi thật không hiểu chuyện đó có gì buồn cười? Mà cái tệ nhất là người ta sợ khán giả cười chưa đã, nên hay làm cho những màn này lê thê đến cả chục phút, suốt thời gian đó lập đi lập lại 1 kiểu ăn nói, diễn trò.

    Cho nên khi nghe nói vở này do 1 người chuyên tấu hài đạo diễn, và dĩ nhiên có nhân vật tấu hài, tôi mất đi rất nhiều hứng thú liên quan đến nó.

    2/ Người không cần có kiến thức tâm lý, mà chỉ quan sát đời sống cũng biết rằng rất khó mà làm cho trẻ con bị rối loạn tâm thần được, trừ phi làm cho nó kinh hãi quá sức, hoặc cho uống thuốc. Trẻ con sống trong thế giới riêng, đầy hoạt động tinh thần, chúng tưởng tượng ra đủ thứ nhân vật, đủ thứ khung cảnh khác lạ chung quanh mình, nhưng rồi vẫn suy nghĩ, giao tiếp bình thường với người chung quanh, đâu có vì vậy mà bị rối loạn tâm trí. Cho nên nếu chỉ giả làm người mẹ đã chết nói chuyện với con thì không thể nào làm cho đứa bé "phát điên" (tạm dùng chữ đó) được, dù có thể đầu độc tinh thần nó, ví dụ như làm cho nó thù ghét người khác, nhưng đó không phải là lý do hợp pháp để mất gia tài.

    Tôi có cảm giác đây là 1 chi tiết tưởng tượng quá vụng và khiên cưỡng. Xin nhắc lại là tôi chưa xem kịch, nên rất có thể tôi sai :)

    3/ Dùng những thủ pháp gây ấn tượng kinh dị đã quá sáo mòn (kể cả vào thời đó), ví dụ đứa trẻ thích ôm búp bê.
     
    Uillean thích bài này.
  12. Uillean

    Uillean Banned

    Dạ, về căn bản em cũng như anh, là không thích dòng kịch "kinh dị" kiểu như này. Vì sự thực nó chỉ hợp với bình dân lôm lam, nhất là dạo gần đây giới trẻ ngày càng chuộng văn hóa thứ cấp (tolkienism), thành thử văn nghệ nói chung phải diễn theo lối "lộ" để họ móc hầu bao đi coi. Nhưng với nghệ thuật hàn lâm, làm như vậy là hỏng ăn đứt rồi, chưa kể là bào mòn phẩm chất nghệ sĩ.

    Còn với Người vợ ma, thì cũng nên lui về thì điểm 2005, Thái Hòa xem tác phẩm này là cơ hội bứt phá lên, vì trước đó khá lâu ông hầu như bị "đì" ở những dạng vai chạy cờ. Nên thôi thì, dẫu non tay nhưng vở này cũng nuôi được khá nhiều nghệ sĩ - đặc biệt là những người chỉ mới bước chân lên sân khấu, kinh nghiệm cũng chưa tích lũy được nhiều.

    Nhìn chung, chắc anh cũng hiểu - em rất yêu văn nghệ miền Nam, nhưng đúng là ở xứ này văn nghệ hàn lâm rất khó cất cánh, bởi lượng công chúng của nó không cao. Hồi mới thống nhất, thậm chí trường quốc gia âm nhạc vẫn chưa có khoa sáng tác, còn lĩnh vực diễn xuất thì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nghệ sĩ đi lên từ chạy cờ chứ không đào tạo chính quy được như miền Bắc. Ở Bắc thì cái dở nhất chỉ là ít thích ứng được với thời cuộc, chứ em từng gặp khối người thường có tâm lí thu mình lại trong một cái kén gọi là "hàn lâm, bác học" - không ai phủ nhận là họ ở trong một thế giới nghệ thuật cực kì thăng hoa về kĩ thuật lẫn cảm xúc, nhưng họ không muốn san sẻ cho ai cả, và còn kì thị người nào muốn chen vô nữa. Cái này em hẹn sẽ có lúc kể rõ thêm !

    Tuy nhiên, trở lại sân khấu kịch, em vẫn tin rằng kịch nghệ nói chung và thoại kịch nói riêng phải trọng yếu tố tâm lí, cái không gian và cả biên độ thời gian chỉ cần hẹp thôi - thậm chí càng hẹp thì lại càng đẩy tâm lí lên cao hơn. Như năm 2021, trên truyền hình Việt Nam có hiện tượng rất lạ là Mùa hoa tìm lại. Một phim kinh phí rất thấp, diễn viên cũng không nổi và càng chẳng được o bế như đám mặt hoa da phấn vẫn nhan nhản trên sóng mấy năm nay, thế mà đạt tỉ suất bạn xem đài khá cao. Bối cảnh chủ yếu là một thôn ven đô, mà tình tiết lại theo nguyên lí Odýsseia, như là yếu tố tương phản chứ không dàn đều như thường thấy ở nhiều phim truyền hình. Cuốn phim này nếu anh chưa coi, thì rất nên tìm lấy vài tập.

    Chung quy thì em rất mê thoại kịch, nhưng mà sẽ hẹn anh lần lượt cung cấp thêm tư liệu vậy, chứ nói dăm ba câu cũng không bộc lộ được hết. o_O


    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/2/22
  13. Uillean

    Uillean Banned

    NHỮNG BỘ PHIM ĐẦU TIÊN (trích)

    Trong một căn phòng nhỏ, khoảng hơn chục mét vuông, ở đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội), ánh đèn điện le lói suốt đêm ngày. Ở đây, những hình phác thảo về con cáo, con gà... xuất hiện. Đó là những nhân vật đầu tiên của bộ phim hoạt họa đầu tiên. Công việc được triển khai, và nhiều khó khăn bước đầu cũng lần lượt nảy sinh. Để làm một bộ phim hoạt họa dài 300 mét, nghĩa là chiếu trên màn ảnh mười phút đồng hồ, cần phải vẽ được 15000 hình vẽ trên giấy kính khổ 18cm x 24cm. Tổ quốc vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ gần mười năm ròng rã. Công việc khôi phục lại đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặt ra nhiều vấn đề trọng đại. Đâu phải dễ dàng để kiếm cho ra được một tờ giấy kính khổ 18cm x 24cm, chứ chưa nói tới 15000 tờ. Nhưng khó khăn không làm giảm được ý chí và lòng quyết tâm của những người tham gia làm phim đầu tiên. Trước mỗi khó khăn, họ lại cùng nhau bàn bạc, tìm cho ra lối thoát : Giấy đánh máy loại mỏng được đem thí nghiệm tẩm dầu trong suốt, thay giấy kính. Khi đem dùng, chất lượng có kém hơn giấy kính nhưng vẫn đảm bảo kỹ thuật in hình tương đối rõ.

    Bàn vẽ không có. Những tấm cánh cửa lồng kính trong căn phòng được hạ xuống làm bàn vẽ. Đến xưởng, chỉ cần nhìn vào căn phòng với những ô cửa không hề có cánh cửa đó, cũng biết rằng đấy là giờ làm việc của sáu cán bộ ngành phim hoạt họa. Cũng cần nói thêm về sáu người «khai phá mở đường» này đôi chút. Trừ anh Lê Minh Hiền và Trương Qua là hai người được học ít nhiều về phim hoạt họa ở nước bạn, bốn người còn lại hoàn toàn chưa biết thế nào là vẽ và làm phim hoạt họa. Vừa làm vừa học. Một lớp cấp tốc để đào tạo nhóm họa sĩ cho phim hoạt họa được tiến hành song song với quyết định làm bộ phim hoạt họa đầu tiên. Bài học chính là những nhân vật, những cảnh của phim này. Và do đó, về sau, khi bộ phim hoàn thành và được chiếu rộng rãi, dưới những hàng chữ giới thiệu tên phim và tên những người làm phim, người xem còn thấy dòng chữ : «Bài tập của lớp họa sĩ hoạt họa». Những dòng chữ ấy đánh dấu sự ra đời của một ngành học mới của điện ảnh Việt Nam : Ngành họa sĩ hoạt họa.

    Hàng ngày, sau khi những bản vẽ trên giấy đánh máy tẩm dầu được hoàn chỉnh, bộ phận quay phim lại bắt đầu làm việc. Chiếc máy quay phim cũng là một công trình sáng tạo tập thể, chắp vá từ nhiều máy khác lại. Nhưng với chiếc máy quay phim cọc cạch này được đặt trong phòng quay vốn là một cái phòng tắm được sửa sang lại, những thước phim có hình đầu tiên xuất hiện.



    【Ngô Mạnh Lân, Trần Ngọc Thanh. «Phim hoạt họa Việt Nam»】
     
  14. Uillean

    Uillean Banned

    ĐI TÌM THỂ LOẠI MỚI (trích)

    Trong khi tiến hành làm bộ phim "Cây đa chú Cuội", một nhóm họa sĩ khác đồng thời được giao trách nhiệm làm bộ phim theo thể loại cắt giấy. So với thể loại hoạt họa, phim cắt giấy có ưu điểm riêng : Giá thành bộ phim hạ hơn, thời gian quay phim nhanh hơn. Nhưng quy trình sản xuất một bộ phim cắt giấy phần nào khác với phim hoạt họa. Dựa trên phác thảo nhân vật của họa sĩ thể hiện, các họa sĩ chia những phần cử động trên một nhân vật thành từng mảng riêng. Các mảng đó được chắp nối với nhau bằng nhiều chốt nhỏ để tạo thành trục, giúp cho nhân vật hoạt động được. Khi quay phim người ta cũng bấm từng hình một như quay hoạt họa. Người họa sĩ động tác chịu trách nhiệm di chuyển nhân vật và thay đổi nhân vật. Vì những hình vẽ cũng riêng biệt như phim hoạt họa, nên người họa sĩ động tác chỉ cần uốn nắn nhân vật là được. Nguyên tắc thì như vậy. Nhưng để tạo được nhân vật với các khớp chốt cử động cho có hiệu quả khi diễn xuất, là một vấn đề khá khó khăn và rắc rối với những người làm bộ phim cắt giấy đầu tiên này. Đó là chưa kể đến nỗi vất vả khi đi tìm nguyên liệu, khi quay phim bằng chiếc máy quay KC.50 cổ lỗ, ống kính lỏng lẻo như chỉ chực rơi. Với căn phòng nhỏ, một tổ làm phim đã thấy chật chội. Triển khai làm hai phim cùng một lúc, những người làm phim đã phải lấy gian bếp vẫn bỏ trống để làm nơi in và tráng phim. Và chỉ sau vài buổi lao động thu dọn sửa sang, gian bếp ám khói đen đã được quét vôi, sửa lại thành phòng tráng phim của tổ phim cắt giấy.

    Buổi chiếu phim ráp và chiếu thử lần đầu bộ phim "Con một nhà" cũng gây nên xúc động và trở thành sự kiện quan trọng của anh chị em làm phim hoạt họa. Nó đánh dấu sự ra đời của thể loại phim cắt giấy và sự lớn lên nhanh chóng của ngành phim hoạt họa Việt Nam. So với bộ phim hoạt họa đầu tiên, "Con một nhà" đã tránh được nhiều bỡ ngỡ ban đầu. Kịch bản phim đề cập đến một vấn đề thời sự trong sản xuất nông nghiệp : Ngô, khoai, sắn đều là «con một nhà», đều là những lương thực quan trọng.



    【Ngô Mạnh Lân, Trần Ngọc Thanh. «Phim hoạt họa Việt Nam»】
     
  15. Uillean

    Uillean Banned

    NHỮNG CHUYẾN ĐI THỰC TẾ (trích)

    Trong thời gian đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh bằng không quân, leo thang bắn phá miền Bắc, có nhiều ngày mất điện, anh chị em trong các tổ làm phim phải dùng nguồn điện của máy diezel. Nhiều tuần lễ anh chị em làm việc cả đêm và có những lúc phải quay phim ngay trong hầm trú ẩn. Thực hiện chủ trương sơ tán chung, xưởng phim phải phân tán làm nhiều bộ phận về các miền nông thôn. Anh chị em thường gọi vui những lần đi này là «những chuyến đi thực tế bất đắc dĩ». Nhưng thực ra, chính trong dịp đi sơ tán, trong những «chuyến đi thực tế bất đắc dĩ» này, người làm phim lại có điều kiện để xâm nhập cuộc sống dài ngày hơn và từ đó, các hình tượng nghệ thuật thể hiện trên phim sinh động hơn. Tổ làm phim "Mèo con" là tổ có những ghi nhận sâu sắc về điều đó.

    Sau khi nhận kịch bản "Mèo con", tổ làm phim phải lên đường gấp đến địa điểm sơ tán. Nhiều khó khăn xuất hiện, tưởng chừng như phải bỏ dở công việc. Nông thôn không có điện. Nhưng xưởng phim cũng chẳng thể đem máy nổ được theo. Công việc vẽ phim chỉ có thể làm được ban ngày. Nhưng chỉ ít lâu sau, anh chị em đã khắc phục khó khăn về ánh sáng để làm việc được. Nguồn điện không có, thì dùng nguồn sáng của mặt trời để quay phim. Có những anh chị em họa sĩ tranh thủ vẽ được cả dưới ánh sáng đèn dầu. Phim quay xong làm thế nào để xem ráp ? Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng cả tổ làm phim đành phải rủ nhau ra thị xã chiếu nhờ nguồn điện của một cơ quan. Đối với anh chị em trong tổ làm phim này, đó là những kỷ niệm thật khó quên ! Có đêm trời rét, mưa dầm gió bấc, trên con đường lầy lội, thỉnh thoảng lại phải tìm chỗ trú máy bay địch để đi xem ráp phim, anh chị em vẫn vui vẻ. Sau khi xem những thước phim ráp thành công, trở về đã nửa đêm, nhưng khuôn mặt người nào cũng rạng rỡ, tiếng cười, tiếng nói ồn ào, vui vẻ.

    Sau này, khi được tin bộ phim hoạt họa "Mèo con" làm trong thời điểm gian khó của xưởng, được tặng giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ I (tổ chức tại Hà Nội năm 1970), được tặng giải Bồ nông bạc tại Liên hoan phim hoạt họa quốc tế (tổ chức tại Maimaia - Romania, năm 1966), anh chị em trong tổ làm phim này cũng như anh chị em của xưởng đều rút ra một kết luận : Có được kết quả trên, chính là nhờ chuyến đi «thực tế» khá dài ngày trong suốt thời gian làm bộ phim. Thực tình, khi được sống cùng với nhau trong một tổ làm phim, giữa khung cảnh của đồng quê, hình ảnh đống rơm, ao bèo, hàng tre, con mèo, con chuột, con gà, con cóc... quen thuộc hàng ngày đồng thời lại là những cảnh, những nhân vật chủ yếu của bộ phim, anh chị em đã có điều kiện trao đổi, nhận xét và bắt được cái «thần» của cảnh, của vật mà đưa vào sáng tác của mình.



    【Ngô Mạnh Lân, Trần Ngọc Thanh. «Phim hoạt họa Việt Nam»】
     
  16. Uillean

    Uillean Banned

    NHỮNG THƯỚC PHIM MÀU VÀ CHIẾC CỐI ĐÁ THÔ SƠ (trích)

    Vào đầu năm 1967, giữa thời gian cuộc chiến tranh chống Mỹ đang đi vào giai đoạn ác liệt, Xưởng phim hoạt họa Việt Nam quyết định làm những bộ phim màu đầu tiên. Thời gian này, xưởng phim đang sơ tán thành nhiều bộ phận xa Hà Nội. Như vậy, quyết định làm phim màu sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn. Giấy kính để vẽ phim đòi hỏi phải dùng những màu thích hợp. Xưởng lại không có cán bộ kỹ thuật chuyên môn để pha chế màu. Khó có thể tưởng tượng được rằng màu sắc rực rỡ của những thước phim màu ban đầu, sau này trở thành những bộ phim màu đầu tiên như "Bài ca trên vách núi", lại do bàn tay của một số chị em trình độ văn hóa còn thấp của xưởng phim làm nên. Chị em đã pha chế và nghiền màu trong những chiếc cối đá thô sơ ở một vùng quê sơ tán mà họ vẫn thường dùng để giã cua. Với công thức pha chế thật đơn giản, sử dụng nguyên liệu dễ kiếm, họ đã cung cấp cho tổ họa sĩ chừng hai mươi loại màu khác nhau để vẽ nên 15000 bức hình đầy màu sắc. Trong xưởng phim chưa một ai có kinh nghiệm bảo quản được các loại màu trong thời tiết nóng, lạnh và hanh khô rất bất thường của khí hậu miền Bắc ; chưa một ai có kinh nghiệm để quay những thước phim màu đầu tiên. Và, khi phim quay được rồi, một vấn đề rất quan trọng, và là khâu cuối cùng, quyết định việc thành bại, đó là công việc in tráng. Ngay những cán bộ có kinh nghiệm của Xưởng in tráng cũng chưa hề in tráng một thước phim màu nào từ trước đến nay. Đối với họ, in tráng bộ phim màu đầu tiên này chính là một thử thách. Vừa làm vừa học. Suốt sáu tháng đầu, phương pháp thô sơ của công việc in tráng không thành công. Phim in trong giai đoạn đó không lên hình. Tổ làm phim phải bắt đầu quay lại từ thước phim đầu tiên.

    Những đồng nghiệp của xưởng phim bạn đã phải thu nhặt từng thước ống cao su, từng chi tiết của phụ tùng xe đạp như trục, líp, xích... để thiết kế một máy in tráng màu đặc biệt. Và, sau mười lăm giờ ròng rã, những thước phim màu đầu tiên của bộ phim hoạt họa đầu tiên đã thu được kết quả.

    Cho đến nay, công việc pha màu của Xưởng phim hoạt họa không còn vất vả nữa. Xưởng in tráng phim Việt Nam cũng đã in tráng hàng vạn mét phim màu bằng dụng cụ, máy móc và kỹ thuật khá hiện đại. Nhưng năm 1967, đối với những người làm phim hoạt họa Việt Nam và có lẽ đối với cả các cán bộ Xưởng in tráng, vẫn là một năm đáng ghi nhớ. Nó đánh dấu bước trưởng thành của điện ảnh Việt Nam, chuyển từ việc làm phim đen trắng sang làm phim màu. Ba bộ phim màu làm trong năm này là : "Bài ca trên vách núi", "Con sáo biết nói" và "Em làm thợ xây".




    【Ngô Mạnh Lân, Trần Ngọc Thanh. «Phim hoạt họa Việt Nam»】
     
  17. Uillean

    Uillean Banned

    NHỮNG THƯỚC PHIM MÀU VÀ CHIẾC CỐI ĐÁ THÔ SƠ (trích)

    Cũng trong thời gian này, Xưởng phim hoạt họa còn cho ra mắt các khán giả thiếu nhi ba bộ phim dài với đề tài là những chuyện cổ tích thần thoại. Đó là các phim : “Chuyện ông Gióng”, “Kặm Phạ - Nàng Ngà”, “Sơn Tinh - Thủy Tinh”.

    Trừ “Kặm Phạ - Nàng Ngà” là chuyện cổ tích dân gian Lào, “Chuyện ông Gióng” và “Sơn Tinh - Thủy Tinh” đã rất quen thuộc với thiếu nhi nước ta. Nói chung, về hình tượng nhân vật cũng như bố cục câu chuyện, những truyện thuộc loại cổ tích dân gian này đã được thử thách và giọt giũa qua nhiều thế kỷ. Cái khó lớn nhất của những người làm phim thuộc thể loại này là làm thế nào dựng nên được không khí của truyện, tạo được bối cảnh cho các nhân vật hoạt động một cách hợp lý và sinh động, theo đặc trưng của thể loại phim hoạt họa. Để làm được việc đó, những người làm phim, trước hết là đạo diễn và họa sĩ thể hiện, đã phải tìm đọc những cuốn sách về lịch sử, về dân tộc học. Họa sĩ thể hiện phim “Chuyện ông Gióng” đã về quê hương của Gióng ở Phù Đổng gặp các cụ già, nghe các cụ kể lại về truyền thuyết, dự hội làng, ghi chép phác thảo về những bụi tre, những cánh đồng, những mỏm đồi nơi xưa kia đã từng in vết chân của chú bé làng Phù Đổng. Những người trong tổ làm phim cũng đã trèo lên đỉnh Sóc Sơn đứng nhìn quê hương Phù Đổng : Những bụi tre, những cánh đồng, những ao hồ, tưởng tượng cảnh Gióng đang ghìm cương ngựa đứng nhìn quê hương thân yêu lần cuối cùng trước khi bay lên trời. Cảm hứng cho những nét vẽ chân thực của bộ phim sau này được xuất hiện từ đó. Bộ phim “Kặm Phạ - Nàng Ngà” cũng vậy. Những người làm phim đã sang tận đất nước đã sinh ra câu chuyện cổ tích đầy lý thú đó, ghi chép được hàng trăm bức tranh phong cảnh và chân dung các cô gái Lào xinh đẹp và duyên dáng để về lựa chọn lấy những nét điển hình và tiêu biểu, tạo nên cảnh trang trí và nhân vật của bộ phim.

    Cảnh trang trí và nhân vật trong “Chuyện ông Gióng” và “Sơn Tinh - Thủy Tinh” đều bắt nguồn từ những phác thảo chép trong các viện bảo tàng, từ những nét chạm khắc trên mặt trống đồng từ thời Hùng Vương, đến những nét hoa văn trên các đầu đao, cửa võng của các hiện vật. Trên cơ sở những nét thực đó, những người làm phim mà trước hết là họa sĩ thể hiện, đã sáng tạo ra các hình tượng cho bộ phim của mình.

    Xuất phát từ ý thức lao động nghệ thuật đúng đắn đó, nên dù bắt tay vào làm những phim cổ tích đầu tiên, với độ dài gấp hai đến ba lần những bộ phim bình thường, những phim thuộc đề tài này đã được người xem ưa thích và đánh giá tốt. Phim “Chuyện ông Gióng” được tặng giải thưởng Bông sen vàng trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ II tổ chức tại Hà Nội năm 1973, được giải Bồ câu vàng trong Liên hoan phim quốc tế tổ chức tại Leipzig (Cộng hòa Dân chủ Đức) năm 1971. Bộ phim “Kặm Phạ - Nàng Ngà” được tặng giải thưởng Bông sen vàng trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ II và bộ phim “Sơn Tinh - Thủy Tinh” trong liên hoan phim này cũng được tặng giải thưởng Bông sen bạc.





    【Ngô Mạnh Lân, Trần Ngọc Thanh. «Phim hoạt họa Việt Nam»】
     
  18. Uillean

    Uillean Banned

    MỘT BƯỚC THỂ NGHIỆM (trích)

    Trên thế giới, những bộ phim quay phối hợp giữa diễn viên là người thực với búp bê hoặc với tranh vẽ, đã có từ lâu. Làm một bộ phim như thế, đòi hỏi phải có những trang bị, thiết bị tương đối phức tạp. Đó là chưa kể đến những yêu cầu về nghệ thuật và kỹ thuật đặt ra cho những người làm phim ngay từ khâu đầu tiên là kịch bản văn học, đến khâu cuối cùng là thu thanh và lồng tiếng.

    Bước vào năm 1973, Xưởng phim hoạt họa sản xuất bộ phim quay phối hợp đầu tiên giữa diễn viên là người thực và búp bê : Phim “Lật đật và phồng phềnh”.

    Gọi là phim quay phối hợp giữa người với con rối búp bê, nhưng mức độ diễn xuất của diễn viên là người thực trong bộ phim này chỉ giới hạn ở một vài cảnh trong phần mở đầu và phần cuối của bộ phim, và nhìn chung, diễn viên chưa phải đặt vào trong những tình huống yêu cầu có những xử lý phức tạp. Tuy nhiên, khi xem những thước phim màu đầu tiên quay phần diễn xuất của người thật, những người làm phim và khán giả thiếu nhi đều thấy vui thích.



    【Ngô Mạnh Lân, Trần Ngọc Thanh. «Phim hoạt họa Việt Nam»】
     
  19. Uillean

    Uillean Banned

    Năm 1966, Xưởng hoạt họa - búp bê có 20 phim các thể loại nhưng đều là phim đen trắng. Đội ngũ các nhà làm phim đã quyết tâm khắc phục những khó khăn về mặt kỹ thuật để bắt tay làm những phim hoạt hình màu đầu tiên. Cố kỹ sư Phan Nghiêm đã nỗ lực hết sức mình để cho ra đời những bộ phim hoạt hình màu đầu tiên khiến cho các em thích thú phim hoạt hình hơn.

    "Bài ca trên vách núi" ca ngợi tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của đồng bào Tây Nguyên. Đạo diễn Trương Qua đã dựng lại bức chân dung sinh động về vùng đất Tây Nguyên với những hình ảnh rừng núi, cây cối, hầm chông, tầng tầng lớp lớp nhân dân các dân tộc ở Tây Nguyên nhất tề đứng dậy.

    Các nhà làm phim đã tạo ra Máy Tự Lực được làm bằng các ống nhựa và xích, rô-líp xe đạp để in tráng bộ phim màu đầu tiên "Bài ca trên vách núi".

    "Bài ca trên vách núi" (1967) đoạt giải thưởng của Hội điện ảnh România tại LHP Quốc tế lần thứ II ở Mamaia (România). Tại LHP Việt Nam lần I - Hà Nội năm 1970, phim được tặng giải Bông sen bạc.


    [​IMG]

    【Thành Nguyễn. FB Hoạt Hình Việt】
     

Chia sẻ trang này