Hoàn thành NC-17 Vượt thời gian - Linda Howard

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi Nguyễn Hằng, 8/12/14.

  1. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    [​IMG]

    Chuyện gì sẽ xảy ra khi một sỹ quan cảnh sát có sự tò mò không tưởng và thái độ nghi ngờ một cách tỉnh táo với mọi thứ - Knox Davis của hạt Peke tình cờ rơi vào những cảm xúc khao khát và đồng thời cũng là nghi ngờ với một đặc vụ xinh đẹp - Nikita Stove. Và điều làm tình huống của họ trớ trêu hơn, cô đang bị quấn vào một vụ giết người trên địa phận của anh quản lý và tệ hơn, cô tự xưng mình đến từ 200 năm sau và là một đặc vụ của tương lai. Liệu cô đang nói thật hay chỉ đơn giản là đang chạy tội cho mình để thoát khỏi vụ án mà cô đang "đánh hơi" xung quanh?
     
  2. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Lần đầu tiên mình dịch truyện, mong mọi người nhẹ tay và nhiệt tình giúp đỡ nếu có chỗ nào mình dịch chưa hay nhé ^^. Linda Howard là một trong những tác giả mình hâm mộ nhất, và hi vọng là cuốn truyện này sẽ không làm mọi người thất vọng.
     
  3. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Prologue

    Trụ sở tòa án hạt Peke, Kentucky
    Tháng 1, 1985

    Có một đám đông nhỏ, khoảng 50 người, đứng chứng kiến chiếc rương thời gian được chôn bên cạnh chân cột cờ trước trụ sở tòa án của hạt. Ngày đầu tiên của năm mới lạnh lẽo và đầy gió, và bầu trời xám xịt liên tục phun những bông tuyết nhỏ xíu xuống họ. Hơn một nửa của đám đông này, bao gồm những người mà có thể là do vị thế chính trị, hoặc vì những tham vọng của riêng họ, hoặc những hoàn cảnh riêng bắt buộc phải có mặt tại đây: ông thị trưởng và những ủy viên hội đồng, thẩm phán chứng thực di chúc, bốn luật sư, ủy viên của hạt, một số doanh nhân địa phương, ngài cảnh sát trưởng, ông đội trưởng cảnh sát, ông hiệu trưởng của trường trung học, và ông huấn luyện viên của đội bóng.

    Một số phụ nữ cũng có mặt: Bà Edie Proctor, cô giám thị của trường, và những bà vợ của các nhà chính trị và các luật sư. Một người đưa tin từ tòa báo địa phương cũng ở đó, đang ghi chép và đồng thời chụp ảnh vì tờ báo này khá nhỏ và không đủ tiền để trả cho một nhân viên chuyên đảm trách việc chụp ảnh.

    Kelvin Davis, người chủ cửa hàng dụng cụ, đang đứng với người con trai mười lăm tuổi của mình. Họ ở đó chủ yếu bởi vì trụ sở tòa án nằm ngay đối diện cửa hàng mà anh và con trai mình đang sống, mà trận bóng bầu dục của năm mới vẫn chưa bắt đầu và họ chẳng có gì khác để làm. Cậu bé, Knox, cao và gầy, so vai lại chống lại cơn gió lạnh và quan sát khuôn mặt của những người đang có mặt. Cậu tỉ mỉ một cách kì lạ và đôi khi khiến cho những người lớn xung quanh cậu cảm thấy không thoải mái, nhưng cậu không gây nên bất cứ rắc rối nào cả, chỉ chăm chỉ giúp Kelvin làm việc trong cửa hàng sau giờ học, giữ điểm số của mình luôn tăng lên đều đặn, và được yêu thích bởi những bạn đồng trang lứa. Nói tóm lại, Kelvin nghĩ rằng anh đã gặp may khi nuôi dạy con trai mình.

    Họ đã chuyển nhà đến Pekesville từ Lexington 9 năm trước. Kelvin là một người góa vợ và có ý định duy trì tình trạng này. Anh yêu vợ mình, chắc chắn rồi, nhưng hôn nhân là một quá trình khó khăn mà ông không nghĩ rằng mình muốn trải qua một lần nữa. Đôi khi anh cũng có đi chơi với một vài người phụ nữ, mặc dù nó khá là thưa thớt và không khiến sự hấp dẫn nào giữa họ được tăng thêm. Anh nghĩ rằng mình sẽ để Knox trải qua thời kì trung học và sau đó bước vào đại học, sau đó có thể anh sẽ cân nhắc đến vị trí của mình trong một cuộc hôn nhân khác, nhưng vào thời điểm hiện tại anh sẽ chỉ tập trung nuôi dạy con trai mình.

    ’13.’ Knox phát biểu một cách đột ngột, giữ cho giọng mình ở mức thì thầm. Một cái nhíu mày khiến cho hai hàng lông mày cậu bé kéo lại gần nhau.

    “13 cái gì?”

    “Họ đã đặt 13 vật vào trong chiếc rương, nhưng trên báo nói sẽ chỉ có 12 vật thôi. Con đang băn khoăn không biết vật thứ 13 là gì.”


    “Con có chắc là 13 không?”

    “Con đã đếm mà.”


    Tất nhiên là Knox đã đếm. Kelvin thở dài thầm trong lòng, anh không thực sự băn khoăn về con số các vật được đặt trong chiếc rương. Knox dường như để ý và luôn kiểm tra cẩn thận mọi thứ. Nếu tờ báo nói có 12 vật sẽ được đặt vào trong rương thời gian, vậy thì Knox sẽ đếm để có thể chắc chắn rằng tờ báo đã đúng – và trong trường hợp này – đã sai.

    “Con đang thắc mắc không biết vật thứ 13 là cái gì,” Knox lại lặp lại, vẫn đang cau mày khi cậu bé nhìn chằm chằm vào chiếc rương thời gian. Ông thị trưởng đang đặt chiếc rương – thực ra nó là một chiếc hộp kim loại, được bọc một cách cẩn thận trong lớp nhựa chống thấm nước – vào chiếc hố đã được đào vào hôm trước.

    Ông thị trưởng phát biểu vài lời, đám đông quanh ông cười lớn khi ông nói, và ông đội trưởng đội bóng bắt đầu xúc đất đổ lên chiếc hộp. Chỉ trong vòng vài phút, chiếc hố đã được lấp đầy và huấn luyện viên nén đất xuống cho bằng với mặt đất xung quanh. Có một số đất bị thừa ra, đương nhiên, nhưng huấn luyện viên không buồn đắp chúng thành đống nữa. Ông thị trưởng và một ủy viên hội đồng nâng một phiến đá hoa cương được khắc ngày của hôm nay và cũng ngày này nhưng của một thế kỉ sau, thời điểm mà chiếc rương thời gian sẽ được mở ra, và thả nó xuống lớp đất mới đắp với một tiếng thịch nặng nề. họ có thể đã định đặt phiến đá hoa cương xuống một cách chính xác vào chỗ đất trên miệng hố với một lực vừa phải để người phóng viên có thể ghi lại hình ảnh đó với chiếc máy ảnh của anh ta, nhưng trọng lượng của phiến đá rõ ràng đã khiến họ ngạc nhiên và họ đã phải thả rơi nó. Phiến đá rơi hơi lệch sang một bên. Người huấn luyện viên đã phải quỳ xuống trên nền đất lạnh giá và sử dụng cả hai tay để đẩy phiến đá vào đúng vị trí của nó.

    Người phóng viên của tòa báo đã chụp một số tấm ảnh để ghi lại sự kiện này trong bài báo của mình.

    Hơi run rẩy, Knox đung đưa người từ trước ra sau để giữ ấm. “Con sẽ đi hỏi đây,” cậu bé nói một cách đột ngột, và di chuyển khỏi vị trí bên cạnh Kelvin xuyên qua đám đông đang tản ra khi họ rời khỏi buổi lễ để đuổi theo người phóng viên của tòa báo.

    Thở dài, Kelvin đi theo con trai mình. Đôi khi anh nghĩ Knox còn giống một chú chó bulldog cứng đầu hơn là một cậu bé vì cậu hầu như không bao giờ để yên cho một thứ gì đó cậu đã quan tâm.

    “Cháu có ý gì?” Kelvin nghe người phóng viên, Max Browning, nói khi anh ta nhìn vào Knox với cái nhíu mày khi bị làm phiền.

    “Chiếc rương thời gian,” Knox giải thích. “Trên báo nói là sẽ có 12 vật được đặt vào những thực ra là đã có 13 vật. Cháu đã đếm mà. Cháu chỉ muốn biết vật thứ 13 là gì thôi mà.”

    “Chỉ có 12 vật thôi. Đúng như những gì trên báo đã nói.”

    “Cháu đã đếm chính xác mà.” Knox nhắc lại. Cậu bé không hề cáu kỉnh, nhưng vẫn giữ vững lập trường của mình.

    Max liếc về phía Kelvin. “Hey,” anh ta nói như một lời chào, và sau đó nhún vai với Knox. “Chú xin lỗi, nhưng chú không thể giúp gì cho cháu. Chú không thấy có gì kì lạ ở đây cả.”

    Knox quay đầu và khóa chặt cái nhìn của mình vào lưng của ngài thị trưởng đang rời đi như tên lửa khóa chặt mục tiêu của mình. Nếu Max không thể giúp được cậu thì cậu sẽ đi đến người nằm ở nguồn gốc của vấn đề này.

    Kelvin tóm lấy lưng áo khoác của Knox khi cậu bé bắt đầu nỗ lực của mình để tìm hiểu vấn đề ở chỗ ông thị trưởng. “Đừng có đi do thám ngài thị trưởng,” anh nói nhẹ nhàng. “Vấn đề này không quan trọng đến thế.”

    “Con chỉ muốn biết thôi mà.”

    “Vậy con có thể hỏi huấn luyện viên khi quay lại trường học vào thứ hai tới.”

    “Mất đến 6 ngày chờ đợi đấy!” Knox nhìn hoảng loạn với cái ý tưởng phải đợi lâu đến vậy để được biết một sự việc mà cậu có thể tìm hiểu vào ngày hôm nay.

    “Chiếc rương thời gian sẽ chẳng chạy đi đâu cả.” Kelvin nhìn vào đồng hồ của mình. “Còn trận đấu bóng đã săp sửa bắt đầu rồi; vào nhà thôi.” Ohio State sẽ đấu với Southern Cal, và Kelvin thì thực sự thích đội Buckeyes vì chồng của em gái út của anh chơi cho Southern Cal 10 năm trước và Kelvin ghét tên khốn đó, vì vậy anh ủng hộ cho bất kì đội nào đấu với đội bóng này.

    Knox nhìn quanh, cau có khi cậu nhận ra ngài thị trưởng đã ra khỏi tầm nhìn và ông huấn luyện viên thì đang lái xe đi. Bà Proctor, bà giám thị ở trường, đang nói chuyện với một người đàn ông mà Knox không nhận ra, và đằng nào thì cậu cũng không muốn tiếp cận với bà Proctor vì bà nhìn rất chua cay và giả tạo, với quá nhiều lớp trang điểm chất đống trên những nếp nhăn của bà, và cậu nghĩ có lẽ bà cũng có mùi chua như là cái vẻ ngoài của bà. (she probably smelled as sour as she looked – tác giả chơi chữ, sour vừa có nghĩa là khó tính, khó gần nhưng nếu là mùi vị nó chỉ vị chua khó ngửi.)

    Một cách bất mãn, cậu theo cha quay trở về cửa hàng dụng cụ.

    Cậu không bao giờ có cơ hội hỏi ông huấn luyện viên về bất kì cái gì trong chiếc rương thời gian, vì vào buổi sáng ngày hôm sau, ông huấn luyện viên, Howard Easley, được tìm thấy đang treo trên cây trong sân sau nhà ông ta. Không có tờ giấy nào được để lại, nhưng cảnh sát nghĩ rằng ông ta đã tự tử vì ông ta đã li dị một năm trước và đã thất bại trong nỗ lực mong vợ trước của ông cho ông một cơ hội nữa. Ông đã bị treo ở đó lâu đến nỗi mà xác của ông đã hoàn toàn lạnh cóng, và tuyết đã chất đống trên đầu và vai ông.

    Vụ tự tử của ông huấn luyện viên đã đánh văng tất cả những băn khoăn về chiếc hộp thời gian ra khỏi đầu Knox. Khi cậu nghe những chi tiết về tuyết trên đầu ông huấn luyện viên, cậu đã chạy bay đến thư viện và tìm hiểu thông tin độ cứng của tử thi và phải mất bao lâu để xác chết có thể cứng đến như vậy. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, bao gồm việc liệu tối qua có gió lạnh đủ khiến cho tử thi bị cứng lại nhanh hơn, những nếu cậu đoán đúng, thì ông huấn luyện viên đã bị treo trên đó ít nhất phải từ nửa đêm.

    Bị thu hút, cậu tiếp tục đào bới đống tài liệu, và cậu bị thích thú bởi hết điều này đến điều khác khi cậu tiếp tục tìm kiếm những thông tin về kĩ thuật điều tra. Đây thật sự là một việc thú vị, cậu nghĩ. Và cậu thích nó. Giải mã những bí ẩn bằng cách ghép từng mảnh nhỏ bằng chứng lại với nhau – đó dù sao cũng chính xác là những gì mà cậu luôn thích làm. Quên chuyện thừa kế cửa hàng dụng cụ đi; cậu muốn trở thành một cảnh sát.
     
  4. anhthu0260

    anhthu0260 Mầm non

    Mình cũng thích tác giả này. Ủng hộ và ngóng bạn. Cám ơn nhé
     
    Nguyễn Hằng thích bài này.
  5. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 1

    27 tháng 7, 2005
    “Ê, Knox, ai đã đào cái hố ở cạnh chân cột cờ thế?”
    Knox nhìn lên từ bản báo cáo anh đang đọc. Với cương vị là trưởng ban thám tử của hạt, anh có văn phòng riêng, mặc dù nó nhỏ và vô cùng chật chội. Cảnh sát viên Jason MacFarland đang nghiêng người vào qua cánh cửa đang mở, biểu hiện trên gương mặt tàn nhang của anh chỉ hơi tò mò một chút.
    “Cái hố nào cạnh chân cột cờ?”
    “Cho anh biết nhé, có một cái hố ở ngay cạnh chân cột cờ đấy. Tôi thề là nó không có ở đó khi ca trực của tôi kết thúc chiều qua, nhưng mà thực sự đang có một cái hố ở đó mà.”
    “Uhm.”
    Knox xoa xoa cằm. Bản thân anh đã không chú ý đến điều này, vì anh đã đỗ xe sau trụ sở tòa án khi anh đến vào lúc 4.30 sáng nay để xem qua đống giấy tờ ngập đến tận cổ. Anh đã phải thức cả đêm, và đã quá mệt đến nỗi anh có lẽ cũng sẽ không chú ý đến việc này cho dù anh có bước qua ngay bên cạnh cái hố giả tưởng ấy.
    Sau khi ngồi ở bàn làm việc 3 tiếng đồng hồ, anh nghĩ có lẽ mình cần thư giãn gân cốt một chút. Chộp lấy cốc cà phê, anh đổ đầy nó khi anh đi qua chiếc máy pha cà phê, anh bước ra khỏi cửa bên của tòa nhà cùng với cảnh sát MacFarland, và sau đó bước vòng quanh tòa nhà trụ sở tòa án bằng gạch đỏ để ra đằng trước, những đôi giày đế cao su của họ bước đi một cách không tiếng động trên lối đi bộ. Một ngày mới đã bắt đầu với bầu trời không một gợn mây, và những ngọn cỏ xanh tươi mát ướt đẫm sương đêm. Những khóm hoa xuân đầy màu sắc rung rinh trong những hàng hoa được chăm sóc cẩn thận, nhưng Knox gặp khó khăn trong việc gọi tên từng loài trong chúng. Anh biết hoa hồng và hoa thủy tiên. Tất cả những loài khác thì được lẫn lộn trong một khái niệm chung là “hòa”.
    Trụ sở tòa án mở cửa vào 8 giờ, và bãi đỗ xe đằng sau tòa nhà sẽ nhanh chóng được lấp đầy bởi những chiếc xe của nhân viên. Sở cảnh sát ở một bên cánh độc lập phía bên phải của tòa nhà, và nhà giam của hạt chiếm vị trí ở hai tầng trên cùng của tòa nhà năm tầng. Những người bị giam ở đây thường chòng ghẹo những nữ nhân viên và những người phụ nữ ra vào tòa nhà, cho đến khi hội đồng của hạt lắp đặt những tấm ngăn trên cửa sổ cho phép ánh sáng và không khí lọt vào mà vẫn chặn tầm nhìn của những tù nhân xuống bãi đỗ xe phía bên dưới một cách hiệu quả.
    Cột cờ nằm ở góc bên trái của quảng trường phía trước trụ sở tòa án; những ghế dài nằm đối diện với con phố phía bên ngoài từ cả hai mặt của góc đường, và ở đây có nhiều hàng hoa được chăm sóc cẩn thận hơn. Hôm nay không thấy có một cơn gió nào dù là nhẹ nhất; lá cờ rủ xuống một cách im lìm. Và ở dưới chân cột cờ có một cái hố nằm gọn ghẽ, rộng khoảng gần 1 mét và sâu khoảng gần 61 cm.
    Knox và người cảnh sát khựng lại trên lối đi bộ, họ có thể dễ dàng nhìn thấy cái hố từ chỗ này. Một phiến đá hoa cương đã bị lật ngược lên và nằm trên cỏ. Đất dường như đã bị rải ra xung quanh nhiều hơn những gì cần thiết để đào một cái hố bình thường. “Chỗ đó là chiếc rương thời gian.” Knox nói và thở dài. Đây chắc lại là một trò đùa chết tiệt mà bọn nhóc trung học có thể làm, nhưng nó cũng chiếm dụng thời gian của anh như bất kì một vụ án nào khác.
    “Chiếc rương thời gian nào?” MacFarland hỏi.
    “Ở đó đã từng chôn một chiếc rương thời gian....khỉ thật, vào 20 năm trước: năm 1985. Tôi đã nhìn họ chôn nó vào ngày đầu tiên của năm mới.”
    “Có gì trong nó vậy?”
    “Tôi không nhớ, nhưng không có gì cho thấy đó là những vật có giá trị. Những thứ như là bản copy của một tờ báo, một cuốn niên giám, một băng nhạc và vài thứ khác.”
    Dù anh nhớ là tờ báo đăng tin đã không liệt kê tất cả mọi thứ trong chiếc rương thời gian ra, và khi nhớ lại điều này, anh vẫn hơi bực mình.
    “Dường như điều này là do một đám nhóc thực hiện,” MacFarland nói. “Có thể chúng nghĩ là ăn trộm một chiếc rương thời gian có thể khá là vui.”
    “Ừ.”
    Theo thói quen, Knox kiểm tra mặt đất xung quanh. Không có dấu chấn nào trên lớp cỏ ướt, có nghĩa là những kẻ trộm láu cá này đã làm việc này hàng tiếng đồng hồ trước. Anh bước lên trên một trong những chiếc ghế dài để có thể có tầm nhìn tốt hơn, và nói “Cái này hay đây.”
    “Cái gì vậy?”
    “Không có gì cả. Không hề có dấu chân nào.”
    Với cách mà đám đất mới bị đào lên bị rải rác ra xung quanh như vậy thì ít nhất phải có một phần dấu chân bị in lại ở đâu đó. Nhưng những mảng đất trông cứ như là chúng bị bắn lên từ dưới mặt đất vậy, hơn là bị đào lên và hất ra xung quanh bởi một cái xẻng. Cột cờ chỉ nằm cách chiếc ghế khoảng hơn 3 mét, vậy nên anh có một tầm nhìn rất tốt; không đời nào anh lại bỏ qua một dấu chân nào. Đơn giản là trên mặt đất không có dấu chân nào hết.
    MacFarland cũng đứng lên chiếc ghế dài bên cạnh anh. “Điều này sẽ làm chúng ta hơi lẫn lộn một chút đây,” anh nói, sau khi nhìn đăm đăm xuống mặt đất trong ít nhất là 30 giây. "Tôi tự hỏi không biết làm thế nào mà chúng làm được như vậy?”
    “Có chúa mới biết.” Nhưng anh sẽ tìm ra bằng cách nào đó. Bởi vì nhà giam của hạt nằm ở hai tầng trên cùng của trụ sở tòa án, tất cả các góc của tòa nhà đều được trang bị máy quay an ninh, được đính cao ngay bên dưới mép của phần mái chìa ra của tòa nhà và được sơn đồng màu để hòa vào với bức tường. Trừ khi có ai đó biết những chiếc máy quay này đặt ở đâu, vậy anh sẽ mất một thời gian khá vất vả để tìm ra chứng.
    Anh vẫn cần phải hoàn thành bản báo cáo đó, nhưng việc không có dấu chân xung quanh chiếc hố khiến anh nổi tính tò mò. Giờ anh chỉ cần biết tên nhóc con này đã làm thế nào để có thể đào được chiếc rương thời gian lên ngay dưới ánh sáng của chiếc đèn trên phố mà không để lại dấu ấn nào trên nền đất mới. Có thể là ở Đại lộ Một, con phố ở ngay phía trước tòa nhà này không có nhiều người qua lại vào đêm, nhưng luôn luôn có xe tuần tra đi qua đi lại. Phải có một ai đó nhìn thấy gì và báo cáo chứ.
    Anh nhìn qua con phố thẳng vào cửa hàng dụng cụ nơi mà anh và bố mình đã sinh sống; sau khi anh đi học đại học, bố anh cuối cùng đã nghiêm túc trong mối quan hệ với một người phụ nữ và tái hôn khoảng mười năm trước. Knox khá thích Lynnette, và mừng là Kelvin đã không phải sống đơn độc. Tuy nhiên Lynnette không muốn sống ngay phía trên cửa hàng dụng cụ nên họ đã mua một ngôi nhà trong vùng. Nếu Kelvin mà vẫn còn sống ở đó, thì Knox biết là không tên nhóc nào có thể làm gì mà thoát khỏi con mắt quan sát của Kelvin, vì cửa sổ phòng ngủ của ông nhìn thẳng ra quảng trường.
    “Chăng dải băng vàng xung quanh hiện trường đi, ngăn mọi người dẫm đạp lên nó.” Anh bảo MacFarland.
    MacFarland có thể đã phản đối là ở đó chẳng có gì ngoài một cái hố, và dù sao đi nữa một chiếc rương thời gian không có giá trị gì cả - chắc chắn là không đủ để bắt đầu một cuộc điều tra – nhưng đơn giản anh chỉ gật đầu. Yêu cầu Knox phải dừng lại là việc của cảnh sát trưởng, không phải của anh; bên cạnh đó, Knox là một nguồn tiêu khiến lớn cho các cảnh sát viên, những người thỉnh thoảng đánh cuộc xem anh ta có thể đẩy mọi việc xa đến đâu để giải quyết đến cùng một vấn đề.
    Anh và MacFarland đi theo con đường cũ quanh tòa nhà để đến văn phòng cảnh sát, nơi mà họ gần như làm việc cùng nhau: MacFarland là đề thực hiện những hướng dẫn của anh, và Knox thì để đi đến khu vực nhà giam, nơi mà những chiếc máy quay an ninh được quản lý – “manned”.
    “Manned” là một phạm trù rộng, bởi vì chính xác hơn thì chúng được “womanned” bởi một người phụ nữ có đôi mắt dữ dội, cao 1.83m tên Tarana Wilson, người gần như theo dõi và bảo vệ lãnh địa của mình một cách cuồng tín. Những đường nét khuôn mặt của cô mạnh mẽ như tạc, làn da của cô bóng lên như đồng, và cô có đai nâu trong võ thuật. Knox tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng cô có thể đánh bại anh.
    Vì một người đàn ông thông minh không bao giờ tiếp cận một nữ hoàng mà không mang theo quà tặng, Knox chộp lấy một chiếc bánh vòng phủ đầy kem từ căng tin và đổ đầy hai cốc cà phê, một cho bản thân anh và một trong một chiếc cốc giấy. Với quà tặng trong tay, anh bước lên cầu thang.
    Anh phải dừng lại và trình báo danh tính; và được đẩy thẳng vào phòng làm việc của người giám ngục.
    Những phòng giam thật sự nằm trên tầng trên, và sự thông hành vào những tầng này bị kiểm soát một cách nghiêm ngặt. Họ không hề có một vụ trốn ngục nào trong 15 năm vừa qua. Không phải vì hạt Peke không giam giữ những tội phạm nghiêm trọng trong phòng giam của hạt, những tội phạm này được giam trong nhà giam của bang.
    Cánh cửa vào văn phòng của Tanara đang mở, và cô đang đi qua đi lại trước mười màn hình đen trắng. Cô ít khi ngồi xuống, cô dường như luôn luôn di chuyển, dường như có quá nhiều năng lượng trong cơ thể mảnh mai cao ráo nhưng cơ bắp của cô để cô có thể ngồi yên.
    “Này, T.” Knox nói khi anh xông vào, giơ cốc cà phê ra.
    Cô nhìn chiếc cốc một cách nghi ngại, và sau đó nhìn lại phía những chiếc màn hình.
    “Cái gì vậy?”
    “Cà phê.”
    “Anh mang cà phê cho tôi để làm gì?”

    “Để được ở bên người tốt đối với cô. Tôi sợ mà.”
    Điều đó khiến cô lia tia mắt hẹp, tối về phía anh. “Nói dối.”
    “Được rồi, vậy tôi thật sự có một vụ bỏng tay cho cô và đây chỉ là cách để làm cô dịu đi thôi.”

    Một nụ cười nhẹ làm cong cánh môi cô. Cô nhận lấy cốc cà phê và hớp một ngụm trong khi theo dõi các màn hình. “Nó có thể có tác dụng, nếu tôi và các chị em mình không thề trên kinh thánh là sẽ tránh xa các chàng da trắng ra.”
    Anh khịt mũi, và chìa ra cái bánh vòng, “Cái này cũng là cho cô.”
    “Giờ thì tôi bắt đầu thấy sợ rằng anh thực sự có ý mềm hóa tôi đấy, nhưng tôi có tin cho anh đây: phải mất nhiều hơn là mấy cái bánh vòng để làm thế đấy.”
    “Nó được phủ kem.”
    “À, trong trường hợp này thì có thể tôi sẽ cân nhắc lại.”
    Cô chụp lấy cái bánh vòng và cắn một miếng thật to, làm lớp kem trắng biến dạng ở cả hai bên của lớp bột bánh. Cô liếm lớp kem phủ trước khi nó có thể rơi xuống sàn, sự chú ý của cô chưa bao giờ rời khỏi các màn hình.
    “Giờ thì, tôi có thể giúp gì được anh?”
    “Có nhìn thấy cái cột cờ không?”
    anh hỏi, chỉ vào màn hình thích hợp.
    “Có, thì sao nào?”
    “Có một cái hố ở phía trước nó, nơi mà chiếc rương thời gian đã từng được chôn.”
    “Đã từng?”

    “Có ai đó đã đào nó lên tối qua.”
    “Khỉ thật. Ai đó đã ăn cắp chiếc rương thời gian ư? Tôi không biết là chúng ta có một cái đấy, nhưng kệ nó đi.”
    “Tôi cần xem cuộn băng của đêm qua.”

    “Lấy ngay cho anh đây. Điều đó thật là vớ vẩn, ăn cắp chiếc rương thời gian của thị trấn.”
    Một lúc sau Knox đã ngồi trước một màn hình để không, tua lại đoạn băng an ninh và nhìn chăm chú trong khi tất cả mọi thứ đang chạy ngược trở lại. Anh nhìn thấy bản thân mình và MacFarland, sau đó thời gian quay ngược trở lại và bình minh xuất hiện. Giao thông vẫn đang thưa thớt, như là anh đã dự kiến. Nhưng những gì mà anh không mong đợi là việc không nhìn thấy ai tiếp cận cột cờ và giành ra vài phút để đào một cái hố. Không hề có một ai tiếp cận. Anh đã tua đoạn băng đến tận lúc hoàng hôn của ngày hôm trước và dừng lại, nhíu mày.
    “Anh đã tìm thấy tên khốn chết tiệt ấy chưa?” Tarana hỏi một cách rề rà mà không nhìn vào anh, vì cô vẫn đang theo dõi những chiếc màn hình của mình.
    “Chưa.” Nhìn gần vào hình ảnh đứng yên, anh chỉ đơn giản nhìn thấy phiến đá đánh dấu vẫn nằm nguyên vị trí cũ và mặt đất vẫn phẳng lặng vào lúc 8.30 tối. Lớp cỏ dầy xanh mượt vẫn phủ kín quanh phiến đá đánh dấu đó.
    “Anh có ý gì khi nói chưa?”
    “Ý tôi là tôi chẳng nhìn thấy ai cả.”
    “Đừng có nói với tôi là có ai đó đã đào chiếc rương thời gian lên cả tuần trước, và các anh chỉ vừa mới chú ý đến việc này nhé.”
    “Theo đoạn băng này thì nó vẫn ở nguyên đó vào lúc hoàng hôn ngày hôm qua.”

    Cô xoay lại, nhìn chăm chăm vào hình ảnh đó. “Nếu nó ở đó vào ngày hôm qua, vậy thì anh phải nhìn thấy ai đó lấy nó đi trong cuốn băng rồi chứ.”
    “Tôi không nhìn thấy ai cả.” anh nhắc lại một cách kiên nhẫn, và tua nhanh cuốn băng đến lúc bình minh để chỉ cho cô thấy. Khi anh dừng cuộn băng, họ có thể nhìn thấy cái hố ở bệ đỡ của cột cờ và phiến đá hoa cương bị lật lên ở một bên. Một cái cau mày dữ dội lôi hai hàng chân mày của cô lại với nhau.
    “Cho chạy lại lần nữa đi.” Cô giật giọng, đi đến đứng sau lưng anh.
    Anh làm như vậy, tua ngược lại đoạn băng một lần nữa, và lần này thì anh dừng lại từng đoạn một để quan sát sự xuất hiện lần đầu của những kẻ phạm tội. Vào lúc 2:30 sáng, chiếc hố vẫn ở đó. Khi anh dừng lại một lần nữa, vào lúc 1:53 sáng, hiện trường vẫn ở nguyên trạng thái cũ.
    “Giờ cho đoạn băng chạy như bình thường đi.” Cô nói, kéo một chiếc ghế lại gần. Cô liếc nhanh vào những chiếc màn hình một lần, và sau đó quay sự chú ý của mình vào cuốn băng đang chạy trước mặt cô.
    Knox nhấn nút Play và đồng hồ đếm thời gian bắt đầu đếm từng giây một. 7 phút sau anh nói, “Chết tiệt, cái gì thế?” Một tia sáng ngắn ngủi màu trắng lóe lên trền màn hình.
    Anh dừng cuộn băng lại, nhấn nút Rewind và sau đó gần như ngay lập tức nhấn nút Play một lần nữa. Cuộn băng đã quay ngược trở lại 3 phút trước đó. Điều tương tự xảy ra. Mặt đất đang không có dấu hiệu gì bị xâm phạm, sau đó ánh sáng trắng đó xuất hiện, và khi nó biến mất, chiếc rương cũng biến mất luôn.
    “Ai đó đã giở trò với máy quay của tôi.” Tarana nói với giọng đầy chết chóc.
    “Tôi không nghĩ vậy.” Nhăn mày, Knox tua lại đoạn băng qua vài phút đặc biệt đó. “Nhìn đồng hồ đi.”
    Cùng nhau họ nhìn từng giây trôi qua. Vào lúc 2 giờ sáng, ánh sáng trắng đó chiếm cả màn hình. Vào lúc 2:01 sáng, ánh sáng nhạt đi và chiếc rương thời gian đã biến mất.
    “Điều đó là không thể.” Tarana nói gắt lên, đứng bật dậy và đá mạnh vào chiếc ghế. Cô quay lại và nhìn chòng chọc vào tất cả các màn hình. “Nếu ai đó đã giở trò với chiếc máy quay đó, hắn ta có thể giở trò với tất cả những cái này, và điều đó là không thể xảy ra.”
    Knox xem lại quá trình đó một cách yên lặng. Anh không hề chú ý đến tia sáng đó khi anh tua đi hay tua lại đoạn băng. Nhưng chắc chắn là nó có ở đấy, và phiến đá hoa cương đã ở đúng chỗ cũ trước khi tia sáng đó xuất hiện nhưng đã bị đẩy lật sang bên khi tia sáng đó biến mất, và chiếc hố đen ngòm đã nằm gọn ghẽ dưới chân cột cờ.
    Anh tua lại toàn bộ đoạn băng. Thời gian hiển thị chính xác 24 giờ trước khi anh bước vào đây và Tarana đã dừng cuộn băng lại. Anh không biết liệu có ai có thể cắt ghép cuộn băng mà không làm ảnh hưởng đến thời gian hiển thị không, hay liệu điều đó có thể xảy ra mà không có người nào đó đột nhập vào văn phòng này, điều mà một đám nhóc trung học không thể làm được.
    Anh gãi gãi cằm. Anh nghĩ anh có thể ngồi với đồng hồ của anh trong 1 tay và đếm thời gian của cuộn băng, nhưng điều này có thể tốn đến 24 giờ và sẽ chán đến chết đi được. có một cách có thể tìm hiểu nhanh hơn.
    Tarana đang đi đi lại lại đằng sau anh, thở ra lửa và lầm bầm chửi rủa. Knox thật sự cảm thấy tiếc cho ai bước vào cửa tiếp theo, vì, không có một mục tiêu xác định vào lúc này, cô sẽ chỉ trút giận lên bất kì ai trong tầm tay.
    “Tôi đi sang cửa hàng dụng cụ đây.” Anh nói, trượt chiếc ghế về phía sau và cầm lấy chiếc cốc cà phê.
    “Cửa hàng dụng cụ? Anh đi đến cửa hàng dụng cụ làm gì? Anh không thể nhảy nhót bước vào đây, chỉ cho tôi thấy có ai đó đã giở trò với máy quay an ninh của tôi sau đó lại nhẹ nhàng bước đi mua đinh như thế. Anh ngồi ngay xuống cho tôi!”
    “Bố tôi cũng có máy quay an ninh.”
    Knox nói, “Một trong số chúng hướng thẳng ra cửa.”
    “Thì sao?”
    cô gắt lên, sau đó chợt nhận ra. “Ồ, tôi hiểu rồi. Cửa kính đúng không, cửa trước của cửa hàng nhà anh là một cái cửa kính to, nhìn thẳng qua đường đến chỗ cái cột cờ.”
    Anh nháy mắt với cô khi anh bước ra cửa.
    Khi anh băng qua đường thì quảng trường đã đông người qua lại, mọi người đang đến trụ sở tòa án, để thực hiện việc của mình như là trả tiền vé phạt, lấy bằng lái xe, đăng kí thuyền. Một số cửa hàng đã mở cửa, trong đó bao gồm cả cửa hàng dụng cụ; tất cả các cửa hàng khác thì mở cửa lúc 9 giờ. MacFarland đã căng dây xung quanh một chu vi khá rộng quanh hiện trường của vụ án, chặn tất cả mọi hướng xung chiếc cột cờ khoảng 18m, vì vậy đã chặn luôn cả đường đi bộ và mọi người bắt buộc phải đi vòng xung quanh.
    Cái chuông nhỏ trước cửa hàng rung lên khi Knox bước vào, và Kelvin ngước lên trong khi đang làm việc với một khách hàng. “Bố sẽ nói chuyện với con ngay.”, ông nói.
    “Cứ từ từ thôi bố ạ.” Ngước lên nhìn, Knox xác định vị trí của chiếc máy quay và quay lại để nhìn theo hướng mà nó chỉ. Đúng như anh nghĩ, chiếc cột cờ nằm gần như hoàn toàn đối diện với cửa chính. Bất kì ai đã thực hiện trò láu cá kia có thể làm cách nào đó mà vô hiệu hóa được chiếc máy quay bên trụ sở tòa án, mặc dù anh không biết là làm thế nào, nhưng chiếc máy quay này nằm trong cửa hàng và chưa hề bị đụng đến.
    Người khách hàng rời đi và Knox bước đến chỗ quầy tính tiền. “Con cần xem băng quay an ninh của bố.” anh nói với Kelvin. Anh hất đầu về phía cửa sổ, “Ai đó đã đào chiếc rương thời gian đêm qua và đã làm cách nào đó mà vô hiệu hóa được mấy cái máy quay an ninh. Con nghĩ rằng có thể máy quay ở đây sẽ ghi lại được gì đó.”
    Kelvin nhìn lên chiếc máy quay, và suy nghĩ theo hướng mà Knox đã nghĩ. “Bố cho là vậy. Cả sáng nay bố đã băn khoăn không biết những dải băng vàng đó để làm gì. Có phải là chiếc rương thời gian mà con và bố đã cùng xem họ chôn xuống đúng không?”
    “Đúng là cái đó. Trừ khi họ đã đào nó lên và thay một cái mới xuống mà con không biết.”
    “Năm 1985, Southern Cal đã thắng giải Super Bowl, và bố phải nghe tên khốn Aaron đó lải nhải suốt cả năm về chuyện này.”

    Kelvin luôn đề cập đến em rể mình Aaron như là “tên khốn Aaron” (asshole Aaron) vì ông thích cách láy âm ở đây; tuy nhiên ông thì không thích em rể ông chút nào. Thò tay xuống dưới quầy, ông rút cuộn băng ra và đưa nó cho Knox. “Của con đây.”
    “Con không biết khi nào thì con có thể trả nó lại đâu.”
    “Đừng lo. Bố có băng dự trữ mà.”

    Cầm cuộn băng trong tay, Knox quay về văn phòng của mình. Anh có một đầu đọc băng nên đã bắt nó lên, và cho cuộn băng vào. Với chiếc điều khiển trong tay, anh tua lại cuộn băng cho đến khi gần với thời điểm mà sự việc xảy ra, dừng lại và bắt đầu từ con số 1:59 sáng hiển thị trên chiếc đồng hồ đếm thời gian trên màn hình. Các chi tiết không rõ ràng lắm vì cánh cửa kính đã hạn chế một số điểm, nhưng anh có thể nhìn rõ phiến đá hoa cương vuông đánh dấu địa điểm đó ngay tại địa điểm nó được đặt xuống. anh nhấn nút Play và quan sát. Luôn luôn có một chút khác biệt giữa những chiếc đồng hồ, vì vậy anh không thể biết được anh sẽ phải xem cuốn băng trong bao lâu.
    Vào lúc 2:03:07, có một ánh sáng trắng lóe lên. Knox ngồi thẳng dậy, nhìn chằm chằm vào màn hình. Vào lúc 2:03:18, ánh sáng đó nhạt dần và biến mất. Giờ thì cái hình vuông sáng màu của phiến đá hoa cương đang nằm chỏng chơ một bên, và nền đất thì đã bị đào bới.
    “Chết tiệt thật,”, anh nói nhỏ, ”Đang có chuyện quái gì xảy ra vậy?”
     
  6. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Cảm ơn bạn nhé. Mình sẽ cố gắng upload đều tay ^^
     
    Ly Thy thích bài này.
  7. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 2

    Một lần điều tra hiện trường kĩ càng hơn nữa cũng không mang lại thêm kết quả gì. Phiến đá hoa cương đánh dấu địa điểm này được đánh bóng ở mặt khắc ngày tháng, nhưng khi phủ phấn lên đó cũng không thu được dấu vân tay nào. Chắc chắn rằng ở đó không có dấu chân nào cả. Toàn bộ điều này thật sự rất lạ.
    Vào lúc này, thì Knox không phải là người duy nhất tò mò. Tarana đang phát điên lên, cô vẫn chắc chắn rằng có ai đó đã giở trò với máy quay an ninh của cô dù Knox đã cố nói với cô rằng chiếc máy quay trong cửa hàng của bố anh cũng xuất hiện tia sáng trắng tương tự, sau đó thì không có gì xuất hiện nữa. Anh nghĩ khi cô đã bình tĩnh một chút thì anh sẽ thử lại lần nữa.

    MacFarland đang kể với mọi người chuyện sáng nay anh đã chú ý đến chiếc hố khi lái xe qua để đi làm vào sáng hôm nay; những người khác cũng nói họ đã nhìn thấy cái hố, nhưng không nghĩ gì về nó cả. Nếu ở đó có một cái xác thì mọi chuyện sẽ khác, nhưng một cái hố thì dường như không có gì đáng để nghi ngờ.

    Hạt Peke khá nhỏ, và không phải là một nơi nóng bỏng cho tội phạm hoạt động. Pekesville có một lượng dân số khá lí tưởng là 23 000 người, chỉ đủ để cung cấp một số tiện ích mà một thị trấn nhỏ hơn không có nhưng cũng không lớn đến nỗi đủ để thu hút những hoạt động phi pháp hay những người tôn sùng quỷ sa tăng, tất cả những gì kì lạ như vậy. Sở cảnh sát thường phải giải quyết những vụ việc đơn giản của một thị trấn nhỏ như: những vụ gây gổ trong địa phương, trộm cắp, lái xe khi say rượu, hoặc một vài vụ buôn bán thuốc cấm. Gần đây những xưởng chế biến thuốc meth (một loại chất gây nghiện gây ảo giác – viết tắt của methamphetamine) đã trở nên khá là phổ biến, và vì những xưởng chế biến này thường được dựng lên ở những vùng hẻo lánh, có nghĩa là hầu hết chúng nằm ở những vùng nông thôn phụ cận ở ngoại vi thành phố hơn là nằm trong nội thành Pekesville, điều này nghĩa là các cảnh sát viên đã nhanh chóng làm quen với việc phải xử lý các vụ việc nghiêm trọng theo đúng nghĩa đen của nó.
    Nhưng một cái hố trên mặt đất? Họ biết phải làm gì với nó chứ?


    Khi cảnh sát trưởng, Calvin Cutler, rẽ đám đông để bước vào văn phòng của ông và nghe về vụ việc bí ẩn này, ông thấy phải tự bản thân mình nhìn thấy cái hố. Được bao quanh bởi một số cảnh sát viên và hai thanh tra, ông cùng họ đi ra mặt tiền của trụ sở tòa án. “Không phải là điều này khiến tất cả mọi giả thuyết đều thành vô nghĩa à,” ông nói, nhìn chăm chăm vào những đám đất rải rác trong khu vực hiện trường được rào lại bởi dải băng vàng. “Ai lại dở hơi đến nỗi muốn ăn cắp một chiếc rương thời gian chứ?”

    Calvin Cutler không hề chửi thề, điều này bất thường trong một văn phòng yên bình như thế đến nỗi những người làm việc dưới quyền ông thỉnh thoảng nhắc đến ông, đương nhiên chỉ là sau lưng, với cái tên “Andy”. Với chiều cao 1m98 và nặng 137 kg, và bàn tay có thể nuốt chửng cả một quả bóng rổ. Ông đã bắt đầu làm việc như một cảnh sát viên, và đã làm việc vất vả cực nhọc để lên tới vị trí của một trưởng ban cảnh sát, và khi cảnh sát trưởng nghỉ hưu, ông đã ra ứng cử cho vị trí này và giờ đang ở giữa nhiệm kì thứ tư của ông. Cảnh sát trưởng Cutler biết được chu trình làm việc từ đầu đến cuối, và Knox không nghĩ có ai giỏi hơn mà anh có thể làm việc cho.

    “Chắc là mấy đứa nhóc trong vùng,” ông nói tiếp. “Không ai có thể làm một việc ngu ngốc như vậy.”

    “Nhưng bọn nhóc đã thực hiện nó như thế nào chứ?” Knox hỏi.

    Ngài cảnh sát trưởng quay lại và nhìn thẳng vào chiếc máy quay nằm ở góc trên cùng của trụ sở tòa án. “Không có gì ngoài một tia sáng sao?”

    “Và cả trên các thước phim của máy quay an ninh của cửa hàng dụng cụ nữa.”

    Cảnh sát trưởng Cutler cho tay vào túi quần và nhe răng cười với Knox. “Chắc khiến cậu phát điên, tôi nghĩ vậy.”

    “Nó khiến tôi thấy tò mò.”

    “Tôi đoán điều này có nghĩa là cậu sẽ tiêu tiền của phòng để điều tra đến tận cùng của vụ chiếc hố bí ẩn này, nếu cậu cho phép tôi được tiên đoán trước.”


    Knox nhún vai. Trong danh sách những sự việc ưu tiên của anh, thì việc này được nằm ở tận cùng của danh sách. Không có nạn nhân nào, và không có gì có giá trị thực sự bị lấy đi. Đây là một vụ phá hoại tài sản, nhưng câu hỏi thật sự là, liệu có ai thực sự quan tâm không? Và điều quan trọng nhất là cảnh sát trưởng quyết định anh sẽ điều tra vụ nào, không phải bản thân anh. “Chắc chỉ trong thời gian rảnh của tôi thôi, nếu ông không phiền. Nó khá rắc rối, nhưng không quan trọng đến thế.”

    “Đó là nếu nói anh có thời gian rảnh,” ngài cảnh sát trưởng nói một cách thoải mái trong khi tất cả mọi người đang đi vào trong tòa nhà.

    “Vâng.” Knox đồng ý. Dù chỉ là một hạt nhỏ, văn phòng cảnh sát vẫn khá là bận rộn vì họ thường xuyên nằm trong tình trạng thiếu nhân viên. Knox là trưởng ban điều tra, nhưng vì ban này chỉ bao gồm 3 thanh tra nên anh không nghĩ chức vụ này quan trọng cho lắm. Chỉ có 3 người bọn họ nghĩa là ca trực 8 tiếng là những gì mà họ nghe đến nhưng không chắc chắn lắm là họ tin vào nó; họ hầu như phải sẵn sàng 24h trong ngày, 7 ngày trong tuần. Knox thường phải làm việc khoảng 70 – 80 giờ một tuần, nhưng một phần trong đó cũng là bởi vì 2 thanh tra còn lại đã lập gia đình và anh cố dành cho họ thời gian với gia đình. Trong lối suy nghĩ của anh thì điều đó không có nghĩa là anh là một đội trưởng tốt; điều đó chỉ đơn giản có nghĩa là anh là một người cô đơn; và anh làm việc để không phải quay về nhà một mình ngoài việc là để ngủ.

    Anh đã tốn thời gian khá nhiều cho việc đi loanh quanh thắc mắc về vụ chiếc rương thời gian này rồi, và anh có cả đống giấy tờ cần phải xử lí trên bàn mà anh cần phải cày xới, cộng thêm cả những vụ anh cần phải thực sự điều tra một chút. Sau khi võ trang cho mình với một cốc cà phê nữa, anh bắt đầu công việc của mình.

    Knox thích làm việc trong bộ máy luật pháp. Không chỉ bởi vì anh thích không khí làm việc thân thiện, mà còn vì công việc này thực sự rất phù hợp với anh. Liệu có công việc nào mà anh có thể được trả tiền cho việc tra hỏi người khác, nhòm ngó xung quanh và giải quyết những vấn đề bí ẩn chứ? Thôi được rồi, có thể có những công việc khác cho phép anh làm những việc này, nhưng làm việc trong bộ máy luật pháp, anh được phép mang theo vũ khí. Điều này đương nhiên là tốt hơn trở thành một, xem nào, một phóng viên chẳng hạn, vào tất cả các ngày trong tuần.

    Sau khi ngồi làm việc khoảng một giờ, với khoảng một phần tư giấy tờ tồn đọng đã được giải quyết, anh đứng lên và xỏ tay vào một chiếc áo khoác mỏng. Anh khoác bao đựng súng ra ngoài chiếc áo polo được xơ vin một cách gọn gàng vào quần jean của anh và đi đôi giày thể thao hơi cũ. Nếu xét đến sự nóng nực của một buổi sớm mùa hè, anh sẽ rất vui nếu không phải mặc thêm chiếc áo khoác, nhưng đây là luật bất thành văn về trang phục của cảnh sát trưởng nên anh đành chịu. Calvin chẳng thèm quan tâm nếu những thanh tra dưới quyền ông mặc đồ ngủ đi làm, miễn là họ mặc kèm một chiếc áo khoác. Vì ngài cảnh sát trưởng không có yêu cầu phải đeo ca ra vát nên anh cảm thấy mình vẫn còn khá là may mắn.

    “Anh định đi đâu thế?” Helen, trợ lý của cảnh sát trưởng Cutler hỏi khi cô nghiêng người vào để quẳng một chồng báo cáo khoảng 10 cm lên bàn của anh.

    “Nhà của Jesse Bingham. Ai đó đã đột nhập vào nhà kho của ông ta đêm qua, cắt nát mấy cái bánh xe của cái máy cày của ông ấy, giết cả một vài con gà nữa."

    “Tôi chưa bao giờ gặp một người đàn ông nào mà xứng đáng bị cắt nát lốp xe như ông ta cả, nhưng tôi ghét việc đã xảy ra với mấy con gà,” Helen nói, và chậm rãi đi về văn phòng của mình. Jesse Bingham nổi tiếng với bản tính khó ưa của ông ta, và ông ta gửi những lời phàn nàn của mình khi có bất cứ ai đi ngang qua ông ta.

    Knox cũng ghét việc xảy ra với mấy con gà. Chúng là những con chim ngu ngốc, nhưng chắc chắn là chúng cũng đã phải chịu đựng đau khổ lắm rồi khi bị sở hữu bởi Jesse Bingham.

    Lái xe ra khỏi bãi đậu, anh rẽ trái ở Đại lộ Số bốn, dẫn thẳng ra đường cao tốc. Khi dừng lại ở cột đèn đỏ, bật đèn pha rẽ phải lên, anh nhìn thấy một hình bóng lẻ loi đang đứng trong nghĩa trang Brookhaven ngay bên lề đường cao tốc. Anh tắt đèn pha của mình, và khi đèn tín hiệu chuyển xanh, anh lái thẳng qua ngã tư để tới cổng vào của nghĩa trang.

    Anh đỗ xe dưới tán cây rộng lớn của một cây sồi vài trăm năm tuổi, sau đó bước ra và đi bộ ngang qua thảm cỏ dày đến chỗ người phụ nữ đang đứng với bàn tay vuốt ve nhẹ nhàng trên tấm bia mộ bằng đá cẩm thạch trắng. Không cần nhìn, anh cũng biết hàng chữ được khắc trên bia mộ: Rebecca Lacey, con gái yêu của Edward và Ruth Lacey, theo sau là ngày sinh và ngày mất của cô. Nếu cô chỉ qua đời chậm ba tháng nữa, tấm bia mộ có thể đã viết: Rebecca Davis, người vợ yêu quý của Knox Davis. Anh vòng tay quanh người phụ nữ, và không nói lời nào, bà nghiêng đầu dựa vào vai anh. Họ lặng nhìn vào nấm mộ của người phụ nữ trẻ mà họ đã cùng yêu quý: con gái bà, vị hôn thê của anh.

    “Vậy mà đã 7 năm rồi,” bà nói dịu dàng. “Đôi khi cô trải qua vài ngày mà không hề nghĩ về con bé, và sau đó khi bác nhận ra điều đó, mọi việc còn tệ hơn những ngày mà nỗi đau quá mãnh liệt như là con bé mới ra đi ngày hôm qua.”

    “Cháu biết,” anh nói, vì anh cũng đã thấy như vậy. Lần đầu tiên anh nhận ra là ngày hôm trước anh đã hoàn toàn không nhớ gì đến Rebecca, cảm giác là mình đã phản bội cô quá lớn đến nỗi anh gần như không thể chịu đựng được. Nhưng thời gian cũng dần trôi qua, và có người ra đi cũng có người ở lại, dù thế nào đi nữa, cuộc sống và những việc diễn ra vẫn có cách trôi đi và lấp đầy những chỗ trống bị bỏ lại trước đây. Giờ đây anh có thể nhìn vào ngôi mộ của vô mà không cảm thấy như trái tim đang bị xé nát ra thành từng mảnh. Anh có thể nhớ về cô với những hình ảnh xa xôi, nhưng cảm giác về tình yêu dành cho cô đã nhạt đi. Anh có thể vẫn yêu những giờ phút mà họ đã chia sẻ với nhau, sự hứa hẹn của hạnh phúc trong cuộc đời họ, nhưng cô đã ra đi được 7 năm và anh không còn yêu cô nữa.

    Anh hôn lên trán người phụ nữ đã suýt trở thành mẹ vợ của anh. Mọi việc đối với bà không hề giống những gì chúng tác động đến anh; Rebecca sẽ luôn là đứa con của bà; và tình yêu bà dành cho cô sẽ không bao giờ thay đổi. Đó là một tình yêu không phụ thuộc vào các hooc môn hay các yếu tố khác để luôn mãnh liệt như lúc ban đầu, và nó vẫn tồn tại mà không cần thiết phải luôn luôn ở gần nhau. Nhưng mặt khác, bà cũng có những ngày mà những ký ức không hề sống lại, và có thể đó là cách mà tự nhiên khiến cho những nỗi đau trở nên có thể chịu đựng được.

    Ruth Lacey là một người phụ nữ mảnh khảnh vẻ bề ngoài trẻ hơn số tuổi 53 của mình. Chỉ có rất ít sợi bạc trên mái tóc của bà và bà vẫn duy trì mái tóc tém làm nổi bật khuôn mặt thanh nhã của mình. Bà lúc đó khoảng 20 tuổi khi Rebecca ra đời, lứa tuổi mà đối với anh bây giờ là trẻ một cách kì cục. Ed, chồng của bà, nói thẳng ra là đã lừa dối bà từ ngày mà hai người làm đám cưới, nhưng bà đã ở lại với ông ta, bởi cái lí do mà ngoài bà ra thì không ai có thể hiểu được. Có thể bà đã quá chán ngán với cuộc hôn nhân của mình đến nỗi mà không buồn thoát ra khỏi nó để tìm kiếm một trải nghiệm tương tự với một người khác nữa, vì vậy bà đã ở lại với ông ta vì những nguyên nhân vô cùng thiết thực. Có thể bà đã yêu tên khốn đó. Knox biết không có cách nào để một người có thể biết được những điều xảy ra với cuộc sống riêng tư của người khác, hoặc hiểu được mối liên hệ đã khiến cho hai người ở bên nhau.

    Bà là người phụ nữ khá cởi mở và thân thiện, nhưng thực ra lại rất nội tâm. Khi Rebecca qua đời, bà đã luôn giữ nỗi đau và sự thương tiếc trong lòng – trừ với Knox. Vào lúc đó họ đã luôn bên nhau và bà đã cho anh thấy sự sâu sắc của nỗi mất mát và đau thương của bà. Họ đã giúp đỡ nhau vượt qua những ngày đen tối, và với mỗi năm trôi qua, dù họ càng ngày càng ít liên lạc với nhau hơn nhưng mối liên hệ và những cảm xúc thì vẫn còn đó, như thể họ là chiến binh đã chiến đấu bên nhau và không bao giờ quên được mối liên kết đó.

    Luôn có hoa tươi trên mộ của Rebecca. Knox đã đặt những bó hoa của anh trên đó, nhưng vài năm gần đây, những bó hoa đó phần lớn là của Ruth. Năm ngoái, anh không nghĩ là anh đã đặt chân đến nghĩa trang lần nào. Trong 3 năm trước đó, anh chỉ đến trong ngày giỗ của cô.

    Điều thú vị là vào ngày sau khi đám tang của Rebecca diễn ra, khi anh và Ruth đứng một cách chính xác nơi họ đang đứng bây giờ, Ruth đã nói với anh một cách chính xác chiều hướng mà mọi chuyện sẽ diễn ra. “Có thể trong một thời gian,” bà nói “cháu sẽ đến đây một cách thường xuyên; và sau đó dần dần cháu sẽ có thể quên đi. Cháu có thể sẽ đến vào ngày giỗ của con bé, hoặc ngày sinh nhật. Có thể cả vào giáng sinh. Có lẽ cháu sẽ quên đi và hoàn toàn không đến nữa. Đó là cách mà mọi việc phải xảy ra. Đừng bao giờ cảm thấy có tội về điều đó. Cháu vẫn phải sống cuộc đời của mình, và cháu không thể làm được việc đó nếu vẫn cứ cố níu kéo vào những gì không còn tồn tại nữa.”

    Anh dừng lại và nhổ một cọng cỏ đã trốn thoát ánh mắt đại bàng của người chăm sóc mộ, và nhớ đến đám tang của cô, và đến ngôi mộ ngập chìm trong những bông hoa tuyệt đẹp. Cô đã ra đi vào một ngày tháng 3, chỉ trước khi mùa xuân bước vào những ngày đẹp nhất. Vào đêm hôm trước, anh đã ở lại nhà cô cả đêm – dù họ đã đính hôn, nhưng họ vẫn không chuyển vào ở chung với nhau – và sau khi họ thức dậy vào sáng hôm đó, cô đã nói “Em hơi bị đau đầu. Em sẽ uống một ít thuốc giảm đau vậy.” Cô đi thẳng xuống bếp còn anh bước vào buồng tắm. Sau khi anh đã cạo râu và thay quần áo, anh đi vào bếp và tìm thấy cô đang nằm trên sàn, đã tắt thở. Anh gọi 911 và thực hiện CPR (sơ cứu tại chỗ) ngay lập tức, dù biết điều đó là vô ích, nhưng không thể bắt bản thân từ bỏ hi vọng. Khi các bác sĩ cấp cứu đến, anh đã kiệt sức và mồ hôi toát ra như tắm nhưng không thể bắt bản thân dừng lại vì trái tim của anh vẫn từ chối thừa nhận những gì lý trí đã nhận biết từ lâu.

    Giải phẫu tử thi cho thấy một động mạch bị phình cực lớn trong não cô đã vỡ. dù cho cô có đang đứng trong một phòng cấp cứu của bệnh viện khi điều đó xảy ra, không ai có thể phản ứng đủ nhanh để cứu cô. Vậy là cô đã ra đi, khi đang ở tuổi 26, 2 tuần trước bữa tiệc quà tặng cho cô dâu của mình , 9 tuần trước đám cưới của họ.

    Đó là khi anh bắt đầu làm việc với số lượng giờ tăng vọt, và 7 năm sau anh vẫn đang làm với lịch làm việc như vậy. Có thể đã đến lúc anh cần giảm giờ làm xuống, ví dụ như chỉ 60 giờ một tuần hoặc tương tự như vậy. Anh không hẹn hò nhiều – lẽ hiển nhiên là bạn không thể hẹn hò khi lúc nào bạn cũng làm việc – vì thế dĩ nhiên là anh vẫn chưa phát triển một mối quan hệ tình cảm với bất cứ ai từ khi Rebecca ra đi. Anh đã 35 tuổi rối, và chắc chắn là anh sẽ không thể trẻ lại một chút nào.

    “Sẽ thế nào nếu chúng ta có thể quay ngược được thời gian nhỉ?” Ruth hỏi một cách nhẹ nhàng, khiến anh quay sự chú ý lại với bà. “Sẽ thế nào nếu chúng ta biết trước chuyện gì sẽ xảy ra, cô có thể quay lại ngày trước khi Rebecca qua đời và bắt con bé vào bệnh viện khám?”

    “Cháu không tin vào những điều như “giá như”,” anh nói, vẫn giữ giọng của mình nhẹ nhàng. “Chúng ta cần đương đầu với thực tế và phải bước tiếp.”

    “Cháu chưa bao giờ ước rằng mọi chuyện sẽ khác đi sao?”

    “Hàng ngàn lần rồi, và với cả ngàn cách. Nhưng vẫn chẳng có gì thay đổi cả. Đây là thực tế và đôi khi thực tế thì vô cùng tồi tệ.”


    “Đúng vậy, đối với chúng ta thì việc này chắc chắn là rất tệ,” bà nói, đôi bàn tay nhẹ nhàng vuốt ve tấm bia mộ của con gái bà.

    “Cô vẫn đến đây thường xuyên sao?”

    “Không thường xuyên như trước đây. Cô đã không đến đây trong vài tháng, và cô muốn mang hoa tươi đến cho con bé. Cô không mang chúng đến trong một thời gian rồi, và việc cô không nhớ để mang hoa đến đây thường xuyên đang khiến cô điên lên.”

    “Như cháu đã nói, chúng ta phải bước tiếp thôi.” Anh lại vòng tay quanh eo bà và xoay người bà hướng về phía cổng, rời xa khỏi ngôi mộ.

    “Nhưng cô không muốn quên con bé.”

    “Cháu nhớ về những khoảnh khắc cô ấy còn sống, hơn là những khoảnh khắc cô ấy đã qua đời.”


    “Cháu có nhớ giọng của con bé không? Dạo này cô hầu như không thể nhớ được; sau đó đột nhiên cô dường như nghe thấy tiếng vọng của giọng nói đó và trong một khoảnh khắc cô nhớ về nó cực kì rõ ràng; sau đó nó lại mất đi. Khuôn mặt của con bé thì luôn sắc nét trong tâm trí cô, nhưng thật khó để nhớ được giọng nói của nó.” Bà nhìn chăm chăm vào những hàng cây phía xa, cố gắng kìm giữ nước mắt, và trong một lúc, bà đã thành công. “Cô vẫn nhớ những năm tháng đó, những khoảnh khắc có con bé bên mình. Từ lúc là một đứa trẻ sơ sinh, một đứa bé mới tập đi, một cô bé, một nữ sinh và đến lúc là một phụ nữ trưởng thành. Cô có thể nhìn thấy trong tâm trí mình hình ảnh của con bé trong mọi giai đoạn trưởng thành, gióng như một thước phim quay chậm vậy, và cô ước gì mình đã chú ý nhiều hơn, cố để ghi nhớ mọi chi tiết dù là nhỏ nhất. Nhưng chúng ta không bao giờ biết trước được là con cái chúng ta sẽ ra đi trước; chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta mới là người nằm xuống trước chứ.”

    “Có một lý thuyết về việc chúng ta được quay lại để học và trải nghiệm những điều mà chúng ta đã bỏ qua ở kiếp trước.” bản thân anh chưa bao giờ tin vào điều này, nhưng anh nghĩ rằng ý tưởng này có thể mang lại sự thoải mái cho tâm hồn con người.

    “Vậy chắc kiếp trước cô đã sống những cuộc đời vô cùng hạnh phúc,” bà nói. Bà khịt mũi một cách rất thanh nhã. “Và đương nhiên là bác cũng đã có những người chồng vô cùng tuyệt vời.”

    Câu nói khiến Knox ngạc nhiên và anh tặc lưỡi. Nhìn xuống bà, anh thấy bà đang cắn môi để nén một nụ cười. “Cô rất cứng cỏi,” anh nói. “Rồi cô sẽ vượt qua được thôi.”

    “Vậy cháu đang định làm gì?” Ruth hỏi khi hai người ra đến xe của bà. Bà đã không khóc, và bà có thể coi nó như một chiến thắng dù cho nỗi đau vẫn bao phủ quanh hình hài mong manh của bà như một tấm mạng. Bà hỏi câu hỏi đó chỉ để kéo bà ra khỏi sự hồi tưởng về quá khứ một cách hoàn toàn, không phải vì bà thực sự quan tâm đến câu trả lời.

    “Cháu đang đi đến nhà Jesse Bingham. Ai đó đã cắt nát lốp máy cày của ông ta và giết vài con gà nữa.”

    “Tại sao người ta lại có thể làm tổn thương những con gia cầm tội nghiệp ấy được?” bà hỏi, khẽ nhăn mày. “Điều đó thật kinh khủng.”

    “Vâng, cháu cũng thấy khá lo lắng về việc liên quan đến những con gà.”

    “Nhưng không chút nào liên quan đến những chiếc lốp xe của Jesse đúng không?” Cái nhăn mày biến mất khỏi trán bà và bà bật cười khi anh ôm bà.

    Anh mở cửa xe cho bà và theo thói quen, quan sát để đảm bảo chắc chắn bà đã thắt dây an toàn. “Lái xe cẩn thận cô nhé,” anh nói khi đóng cửa xe, và bà khẽ vẫy tay với anh khi bà khởi động xe và lái đi.

    Knox quay lại xe của mình, ước gì mình đã không nhìn thấy bà. Bà khiến anh cảm thấy có tội, cứ như thể anh đáng lẽ nên thương tiếc sâu sắc như bà. Nhưng anh không thể. Anh không muốn làm vậy. Anh muốn tìm ai đó để yêu thương và để vui cười cùng anh, để có thể làm tình cùng anh, và một ngày nào đó sẽ kết hôn và sinh con cho anh, dù cho hiện tại anh không đời nào có cơ hội tìm được người đó, chỉ vì cái hố mà anh đã đào cho bản thân.

    Anh khiến tâm trí của mình quay trở lại với công việc và lái xe đến trang trại của Bingham để xem anh có thể làm gì với vụ phá hoại tài sản. Đôi khi người bị hại có thể có ý tưởng về việc ai đã làm điều đó, hoặc những người hàng xóm cũng có thể nhìn thấy điều gì đó, nhưng trong trường hợp của Jesse, hầu như tất cả những người biết ông ta đều ghét ông ta, và ông ta cũng chẳng có người hàng xóm nào ở quanh cả. Ông ta là một trong những người đổ mọi tội lỗi những việc xấu xảy ra với mình cho người khác; nếu ông ta gặp vấn đề với động cơ của mình, ông ta lập tức nghĩ rằng ai đó đã đổ đường vào bình xăng của ông ta. Nếu ông ta bị mất thứ gì, ông ta lập tức nghĩ ai đó đã ăn cắp chúng và làm báo cáo gửi cho cảnh sát. Nhưng họ không thể chỉ đơn giản là lờ phắt ông ta đi; bất cứ khi nào ông ta tố cáo cái gì họ đều phải điều tra, bởi vì chỉ cần một lần ông ta tố cáo đúng mà họ lại không làm gì cả thì cuộc sống của họ sẽ biến thành địa ngục.

    Tuy nhiên những chiếc lốp xe bị cắt nát và những con gà chết thì không thể được tưởng tượng ra bởi kiểu người như Jesse. Có khả năng là những chiếc lốp bị cắt hoặc cũng có thể là không, và những con gà có thể bị chết hoặc vẫn đang lúc cúc bắt sâu. Ít nhất thì Knox vẫn thấy có gì đó cần xem xét.

    Trang trại của Bingham nằm trên một vùng đất rất đẹp, với những ngọn đồi phủ đầy cây và những cánh đồng rộng lớn. Một tính cách tốt của Jesse là ông ta chăm lo cho vùng đất này rất tốt. Hàng rào được duy trì ở trạng thái tốt, bãi cỏ được cắt gọn ghẽ, ngôi nhà được sơn mới thường xuyên, kho thóc và chuồng gia súc gia cầm được chăm sóc cẩn thận. Jesse cũng không có bất kì ai giúp đỡ ông ta khi làm việc ở đây, ông ta tự làm mọi việc dù ông ta đã hơn 60 tuổi, gần 70. Ông ta đã kết hôn một lần, nhưng bà Bingham đã thể hiện lí trí tỉnh táo của mình khi rời bỏ ông ta một cách dứt khoát hơn 30 năm trước, và đến sống với em gái mình ở Ohio. Mọi người đồn là họ chưa bao giờ li dị nhau, mà chuyện này theo Knox thì là một cách thông minh để bảo vệ tài sản. Jesse hoàn toàn chắc chắn là sẽ chẳng tìm thấy ai khác chịu kết hôn với ông ta, và bà Bingham đã quá e sợ hôn nhân sau kinh nghiệm của bà với ông ta đến nỗi bà sẽ chẳng buồn nhúc nhích một ngón tay để thử lần nữa.

    Knox đỗ xe của anh bên cạnh xe tải của Jesse và bước ra. Cánh cửa nhà mở ra khi anh bắt đầu bước lên các bậc cấp trước hiên nhà. “Anh phải mất một thời gian khá dài để đến xử lí vụ của tôi đấy,” Jesse nhận xét một cách chua cay qua lớp chắn của cánh cửa kính ngoài hiên. “Tôi có những việc trong trang trại mà tôi phải hoàn thành, thay vì cứ ngồi đần người ra mà chờ đến lúc anh quyết định xuất hiện đấy.”

    “Tôi cũng xin gửi lời chào buổi sáng đến ông.” Knox nói một cách khô khan. Việc gặp gỡ Jesse luôn khiến anh ngạc nhiên. Nếu trên thế giới này có tồn tại một người mà vẻ bề ngoài chắc chắn trái ngược với tính cách của ông ta, đó chắc chắn là Jesse Bingham. Ông ta thấp, hơi tròn trịa, với khuôn mặt tròn trịa hiền từ và một đôi mắt màu xanh sáng; nhưng khi ông ta mở miệng ra nói chuyện thì chẳng có gì tốt lành được thốt ra cả. Hiệu quả mà sự đối lập đó tạo ra cứ như xem một ông già Noel bị mất trí vậy.

    “Liệu anh có định thực hiện công việc của mình không, hay chỉ định đứng đó và thốt ra những lời mỉa mai châm biếm.” Jesse gắt lên.

    Knox cố gắng duy trì sự kiên nhẫn của mình một cách nghiêm ngặt. “Tại sao ông không cho tôi xem chiếc máy cày và những con gà đi?”

    Jesse bước nhanh một cách đầy giận dữ đến kho chứa, và Knox đi theo ông ta. Chiếc máy cày được đỗ trong một chái nhà có mái che nối liền với kho chứa, và dù từ khoảng cách xa Knox cũng có thể nhìn thấy những chiếc bánh xe đang xẹp lép. “Ở đó,” Jesse nói, chỉ về phía chiếc máy cày, “Những tên khốn nhỏ bé đó đã cắt nát cả 6 bánh xe của tôi.”

    “Ông nghĩ là những đứa trẻ đã làm việc này sao?” Knox hỏi, băn khoăn không biết có phải một đám nhóc trong thị trấn đã có một đêm thực sự bận rộn vào hôm qua.

    “Làm thế quái nào mà tôi biết được? Đó là công việc của câu, tìm hiểu mọi thứ. Tất cả những gì tôi biết là tôi sẽ phải tìm Matt Reston ở xưởng sửa chữa máy cày, và mua một vài chiếc bánh xe mới.”

    “Ông đã nói là ‘những tên khốn nhỏ bé’.”


    “Chỉ là một cách nói thôi. Chả lẽ cậu không nhận ra điều đó à?”

    “Chắc chắn rồi,” Knox đáp lại một cách nhanh chóng, “Giống như là ‘tên khốn’. Chỉ là một cách nói thôi mà.”

    Jesse nhìn anh một cách đầy nghi ngờ. Trong cuộc đời ông ta, hầu như tất cả mọi người nếu không nổi điên lên ngay trước mặt ông ta vì thói khó chịu, thì cũng muốn đấm ngay vào mặt ông ta vì điều đó. Knox Davis luôn bình tĩnh, nhưng bằng cách này hay cách khác, anh cũng đã làm cho ông ta hiểu là anh đã chịu đựng ông ta đủ rồi.

    Knox xem xét mặt đất một cách cẩn thận; không may là những dấu chân in trên mặt đất dường như đều là của Jesse, điều này có thể nhận ra vì là một người đàn ông thì ông ta là người có hình thể khá nhỏ nhắn. “Ông đã đi quanh khu vực này đúng không?”

    “Thế cậu nghĩ có cách nào khác để tôi nhìn thấy tất cả 6 chiếc lốp à?”


    “Nếu có bất kì dấu vết nào được in lại trên nền đất, thì ông cũng đã phá hủy chúng rồi.”

    “Cứ làm như là anh có thể nhìn vào một dấu chân và biết được là ai đã gây ra việc này ấy. Tôi không tin vào mấy thứ vớ vẩn ấy đâu. Hàng triệu người đi cùng một cỡ giầy mà.”


    Knox biết chính xác chỗ nào anh có thể dùng để đặt đôi chân mang giày thể thao cỡ 11 của mình. Anh xem xét những chiếc lốp, tìm kiếm dấu tay in trên những phần bằng kim loại, nhưng từ những gì anh quan sát được, anh có thể nói là mỗi chiếc lốp có một vết cắt; một con dao đâm thẳng vào và kéo dọc xuống. Nếu chiếc máy cày có bị phá hoại nhiều hơn ngoài phần đó thì anh cũng không thể biết được. Có lẽ anh nên lấy một dấu vân tay mà không phải của Jesse từ chiếc máy cày – nếu Jesse không lau rửa chiếc máy cày vào sáng nay và xóa sạch mọi dấu vết. Knox không thể bỏ qua bất kì giả thiết nào, dù anh biết ông già cáu kỉnh này không thể tự cắt những chiếc lốp xe của mình, vì điều đó có nghĩa là ông ta sẽ phải bỏ tiền ra để thay những chiếc lốp mới. Trừ khi – “Ông có mua bảo hiểm cho những sự cố thế này không Jesse?”

    “Dĩ nhiên là có rồi. Chỉ có một tên ngốc mới không có những khoản dự phòng khi có đầy rẫy những nạn nhân giả vờ chạy loanh quanh, giả vờ ngã vào đất của anh và kiện anh ra tòa như bây giờ.”

    “Mức phí bảo hiểm của ông là bao nhiêu?”


    “Điều đó thì có liên quan gì đến anh?”

    “Chỉ hỏi thôi mà.”


    Mặt của Jesse bắt đầu đỏ dần lên. “Anh nghĩ tôi làm chuyện này? Anh nghĩ là tôi tự cắt nát lốp xe mình á?”

    “Nếu khoản tiền bảo hiểm của ông đủ mua những chiếc lốp xe mới, và ông có một mức phí bảo hiểm thấp, đó có thể là một phương cách tiết kiệm tiền.
    Ông có thể có được những chiếc lốp mày cày mới với giá chỉ, khoảng bao nhiêu nhỉ, một trăm đô la chẳng hạn?”

    “Tôi sẽ gọi cho ông cảnh sát trưởng!”
    Jesse gào lên. “Biến ngay ra khỏi đất của tôi! Tôi muốn ai đó khác đến….”

    “Tôi hoặc không ai cả,” Knox ngắt lời, “Tôi chưa thể nói được là ai đã cắt lốp xe của ông. Công việc của tôi là nghĩ đến tất cả các giả thuyết. Ông cũng là một khả năng gây ra việc này.” Anh đi vòng qua nhà kho để đến phía sau, cẩn thận tránh xa khỏi những vùng đất mềm xung quanh bức tường mà Jesse dùng để phơi cỏ. Đúng rồi, ở đó. Chỗ đó có một khoảnh đất có dấu vết gì đó. Anh nhìn gần hơn, và nhận thấy dường như nó giống như một dấu chân nằm đè lên một dấu chân khác, cứ như là đã có ai đó bước trùng lặp dấu chân, vào đúng bằng đường họ đã ra. Và dấu chân này cũng to hơn hẳn dấu chân của Jesse.

    “Vậy còn những con gà của tôi thì sao? Anh nghĩ là tôi cũng giết chúng sao? Cứ thử nhìn chúng mà xem.” Jesse đã đi theo anh, vẫn đang gầm gừ, và gần như là nhảy chồm chồm lên vì điên tiết.

    Knox giơ một tay ra phía trước để ngăn ông ta lại. “Đừng làm hỏng những dấu vết này. Ông có thể lùi lại được không?”

    “Giờ thì thay đổi suy nghĩ rồi hả? Làm sao anh dám đến nhà người ta và buộc tội người đó----“


    “Jesse.” Knox nói nhỏ, nhưng ánh nhìn trong mắt anh khi anh quay lại và nhìn xoáy thẳng vào Jesse thể hiện là anh thực sự chịu đựng đủ rồi.

    Jesse khựng lại giữa câu chửi rủa, và tự thỏa mãn bản thân bằng vẻ mặt cau có.

    “Giờ thì chỉ cho tôi những con gà đi.”

    “Lối này.” Ông ta lẩm bẩm, và dẫn đường, đi vòng qua phía sau chiếc máy cày để đến một chuồng gà nằm gọn bên cạnh hàng cây được cắt tỉa cẩn thận sau nhà ông ta. “Nhìn vào đó kìa,“ ông ta nói và chỉ thẳng vào cái chuồng gà. “Có sáu con bị như thế.”

    Sáu con gà mái nằm rải rác xung quanh cái chuồng gà. Không có vệt máu nào trên hiện trường, vì vậy Knox đoán là ai đó đã bẻ cổ chúng. Sự độc ác của một vài người chưa bao giờ thất bại trong việc làm anh cảm thấy ngạc nhiên và kinh tởm.

    “Ông có nghe thấy gì vào đêm qua không?”

    “Chẳng thấy gì cả, nhưng tôi hơi mệt và trước đó thì bị mất ngủ, nên có lẽ tôi đã ngủ quá say. Một đêm rất kì lạ. Những ánh chớp đó khiến tôi không thể ngủ được, nhưng kì lạ là tôi lại không hề nghe thấy tiếng sấm nào. Cuối cùng thì chúng cũng dừng lại vào lúc nửa đêm, và tôi cũng đi ngủ được. Tôi nghĩ chuyện này xảy ra sau lúc đó.”


    “Ánh chớp à?” Knox hỏi, mày của anh nhăn lại. Anh không nhớ là có chớp vào đêm qua, và anh đã thức và đi loanh quanh cả đêm.

    “Chúng cũng có vẻ gần với mặt đất. Như tôi đã nói thôi: kì quặc. Chúng không hề giống những tia chớp thông thường chút nào. Chỉ có những ánh sáng trắng lóe lên, giống như những chiếc bóng đèn lớn bị nổ vậy.”

    Những tia sáng trắng à, Knox nghĩ. Chẳng lẽ lại là trùng hợp? Đang có chuyện quái gì xảy ra quanh đây vậy?
     
  8. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 3

    “Có thể những tia sáng đó có liên quan đấy,” Knox nói. “Đã có một vụ phá hoại tài sản khác vào tối qua và ở đó cũng xuất hiện một tia sáng trắng. Ông nhìn thấy chúng ở đâu vậy, chỉ cần ước đoán thôi.”

    “Tôi chẳng thấy làm thế quái nào mà những tia sáng đó lại có liên quan đến việc những con gà của tôi bi giết cả,” Jesse cằn nhằn, nhưng ông ta cũng xoay người và chỉ về phía rừng cây nằm phía bên kia con đường. “Ở đằng kia kìa, cửa sổ phòng ngủ của tôi đối diện với hướng đó.”

    “Ông nói là chúng ở gần với mặt đất.” Knox xoay người và quan sát vùng đất đó: nằm trên đồi và cây rừng thì rậm rạp, giống như hầu hết các vùng đất ở phía tây Kentucky. “Gần đến mức nào? Khoảng tầm các ngọn cây hay cao hơn?”

    “Ngay ở trên các ngọn cây thôi, tôi nghĩ vậy.”

    “Ông có phỏng đoán nào về khoảng cách từ đây đến đó không?”

    Jesse là một nông dần, và những người nông dân thì nắm rất rõ về khoảng cách. Ông ta gần như có thể dùng bước chân để ước lượng chính xác diện tích của một mẫu anh. Có thể là ban đêm sẽ hạn chế khả năng ước lượng của ông ta, nhưng ông ta vẫn có lợi thế khi nắm được từng vùng đồi, từng đường nét của khu đất của mình. Ông ta nheo mắt lại khi liếc lên ngọn đồi, cảm thấy quá hứng thú để phàn nàn, “Khoảng 90m, tôi cho là thế. Chắc không thể xa hơn được đâu, hoặc anh sẽ phải trèo qua ngọn đồi và đi sang phía sườn bên kia.”

    Điều này có vẻ hợp lí với Knox. “Tôi sẽ đến chỗ đó xem sao,” anh nói. “Ông có muốn đi cùng không?”

    “Để tôi đi ủng vào đã.”

    Trong khi Jesse đi lấy ủng, Knox mở cốp xe và lấy ra đôi ủng của chính mình, đôi ủng của anh cao gần đến đầu gối nên khá là tiện dụng. Lớp da dày giúp anh ngăn chặn những vết thương do rắn cắn. Anh khá là may mắn khi không bi dị ứng với chất độc của cây sồi và những cây thường xuân độc, nhưng cho đến nay thì anh không biết bất kì ai có thể miễn nhiễm với nọc độc của rắn. Anh ngồi ngay xuống bậc thềm trước nhà để đi ủng của mình vào.

    Jesse bước ra với một đôi ủng Wellington đã xỏ vào chân, và họ cùng nhau bước chậm sang bên kia đường để tiến vào rừng. Knox nghĩ đây phải là quãng thời gian dài kỉ lục mà Jesse không cằn nhằn la ó về vấn đề gì; đã kéo dài khoảng – xem nào, chắc được 5 phút đằng đẵng rồi nhỉ? Anh kiểm tra lại đồng hồ để chắc chắn là mình có thể theo dõi được độ dài của khoảng thời gian yên bình này.

    Nhiệt độ đã mát mẻ hơn ở dưới những tán cây rậm rạp. Anh không phải là người hiểu rõ về những cánh rừng cho lắm, nhưng anh có thể phân biệt được sồi trắng và sồi đỏ, cây phong, và cây độc cần. Những cây đỗ quyên dại tô điểm cho mặt đất với những đốm màu tinh tế. Mùi tươi mới, ngai ngái của đất trêu đùa mũi anh, mời gọi anh hít vào những hơi thật sâu, thật sảng khoái.

    “Mùi ở đây thật tuyệt, đúng không?” Jesse nhìn thấy hành động đó, và lần đầu tiên trong đời ông ta đã trở nên yên lặng thay vì thốt ra những lời cay độc. Knox làm một chú ý nhỏ trong đầu rằng dường như cánh rừng ảnh hưởng tốt đến tính cách của Jesse, có thể mọi người nên xây một ngôi nhà gỗ ở đây và khóa ông ta trong đó.

    Địa hình bắt đầu dốc lên, những con dốc bắt đầu trở nên thoai thoải. Họ vạch đường qua những bụi cây, giật quần áo họ ra khỏi những bụi hồng dại có đầy gai đã níu họ lại, trèo qua một vài tảng đá hay đi men theo những tảng quá to. Jesse cứ liên tục nhìn xung quanh, đang ước lượng khoảng cách trong đầu mình, vì những tán lá quá rậm rạp ngăn không cho ông ta nhìn thấy ngôi nhà để làm mốc. Họ đã gần đến đỉnh đồi khi bất chợt ông ta dừng lại, “Tôi đoán nó diễn ra ngay ở chỗ này.”

    Knox quan sát mọi chi tiết xung quanh anh một cách chậm rãi. Ngay phía bên phải, những tán lá dường như đã trở nên mỏng hơn, nhưng vẫn quá dầy để có thể gọi là quang đãng. Những cái cây mọc dầy đặc và cao ở đây, với những cây sơn thù du đang nở hoa mọc chen dưới bóng râm của những cây cao hơn. Theo như anh quan sát thì không chiếc lá nào bị quăn vàng hoặc nhìn như bị động chạm đến, vậy thì bất kể ánh sáng trắng ấy có là cái gì thì có thể nó không xảy ra đủ gần để có thể gây ảnh hưởng đến những chiếc lá hoặc nó không kèm theo nhiệt độ cao.

    Tuy nhiên với mặt đất thì…dường như đã có gì đó bất thường xảy ra với nó, tuy không rõ ràng, điều này có thể kết luận được do lớp đất tối màu và ẩm ướt hơn đã bị lật lên trên. “Có ai đó đã ở đây,” anh nói với Jesse, và chỉ cho ông ta thấy mặt đất của khu rừng.

    “Tôi thấy rồi.”

    “Nhưng họ cũng đã dọn sạch những dấu vết để lại rồi. Tôi không hiểu là họ đang làm gì ở đây.” Knox xoay quanh một vòng, tìm kiếm một khoảng không trên tán lá cho phép anh nhìn thấy điều gì đó bất thường. “Chúng ta chẳng thể nhìn thấy gì từ đây. Tôi đoán là có nguồn sáng nào đó đã lóe lên ở đây, nhưng để làm gì chứ?” Anh đánh hơi trong không khí một lần nữa, nhưng cũng chỉ ngửi thấy mùi lá mục ngai ngái như cũ. Không thể nào có chuyện gần đây có ai đó đã đốt cái gì ở đây được, nếu không thì mùi khói vẫn còn phải vương vấn trong không khí.

    “Có thể là một loài động vật nào đó đã gây nên việc này,” Jesse nói, chỉ vào những bụi cây đã bị động chạm. "Hai con hươu đực có thể đã đọ sừng ở đây, hoặc một con cáo đã tóm được một con thỏ chẳng hạn. Dù tôi chẳng nhìn thấy chút máu nào vương lại. Và tôi cũng chẳng nhìn thấy việc tìm hiểu này có nghĩa gì cả, ngoài việc lãng phí thời gian.”

    Knox kiểm tra đồng hồ của mình; 30 phút đã trôi qua, lại một kỉ lục thế giới mới của Jesse Bingham. “Ông nói đúng,” anh nói, quay người lại, và đi ngược lại lối vừa nãy để xuống đồi. “Tôi chỉ hơi tò mò về sự xuất hiện của những ánh sáng đó thôi mà.”

    “Tôi đã bảo anh rồi, đó chỉ là những tia chớp của một cơn giông thôi.”

    “Nó không phải là chớp nếu như ông không hề nghe thấy tiếng sấm nào. Nó diễn ra ngay trên đầu ông mà.” Bất kể loại chớp nào cũng sinh ra sấm. Hơn thế nữa, tia sáng làm nhòa máy quay anh ninh trong thị trấn chắc chắn không phải là một tia chớp.

    “Vậy có lẽ đã có sấm nhưng tôi không nhớ thôi.”

    “Đó không phải những gì ông đã nói. Ông nói là ông không hề nghe thấy tiếng sấm nào mà.”

    “Tôi đang già cả rồi. Và tai tôi không còn tốt lắm.”

    Sự kiên nhẫn của anh tan tành, Knox quay ngoắt lại và chọn một ngón tay và ngữ Jesse “Đừng có đùa với tôi.”

    Jesse liếc anh một cái, nhưng trước khi ông ta quyết định có nên thử dồn anh xa hơn chút nữa, chiếc máy bộ đàm đeo bên hông của anh lên tiếng.

    “Mã 27,” giọng của người trực tổng đài vang lên. “Mã 27; số 2490 West Brockton; 10-76.”

    Knox đã trên đường lao xuống đồi. Mã 27 có nghĩa là “người bị tấn công hoặc bị sát hại”, và 10-76 có nghĩa là một thanh tra được triệu tập. Anh rút chiếc máy bộ đàm ta khỏi thắt lưng và bấm vào nó để cho người trực tổng đài số hiệu của anh 10-4 và ETA.

    “Này!” Jesse hét lên đằng sau anh, nhưng Knox không hề chậm lại hay tỏ ra để ý đến ông ta theo bất kì cách nào.


    Anh nắm cực kì rõ những con đường ở hath Peke, kể cả những con đường mòn. West Brockton bắt đầu được biết đến tại Pekesville đơn giản với cái tên “Brockton”, nhưng khi nó cắt ngang qua đường quốc lộ nó trở thành “West Brockton”. Con đường gần như là khu dân cư đặc biệt, giành cho tầng lớp thượng lưu và trung lưu, dù cho khi người ta càng đi xa hơn khỏi trung tâm thị trấn thì các ngôi nhà càng thưa thớt hơn. Theo như những gì anh nhớ, thì 2490 cách vành đai thành phố khoảng 1 dặm.


    Anh quay trở về xe nhanh hơn lúc anh lên đồi rất nhiều. Chụp lấy cái đèn màu xanh đặt trên chỗ ngồi, anh đặt nó lên nóc xe và bật lên, sau đó đạp lút chân ga và để lại những vệt cao su đằng sau khi anh lao thẳng đến mục tiêu.


    Anh nhận ra ngôi nhà ngay khi anh trông thấy nó, và không chỉ bởi vì hàng loạt chiếc xe của hạt và xe cứu thương đậu ngoài lề đường. Anh biết những người sống trong đó – ít nhất là đã từng biết. Hiện giờ thì anh không biết sẽ có bao nhiêu xác người mà anh tìm thấy trong nhà.


    Không ai đỗ xe trên đường xe chạy hoặc trên sân nhà, ít nhất thì vẫn chưa. Anh đã đào tạo họ rất tốt: phải để cho một thanh tra và Boyd Ray, chuyên gia giám định pháp y của họ, thử tìm các bằng chứng trước khi chúng bị đè lên, bị giẫm đạp, hoặc bị xóa mất – đương nhiên là họ không có một phòng pháp y với những thiết bị tân tiến nhất, nhưng chết tiệt, ít nhất Boyd cũng có cơ hội.


    Khi Knox ra khỏi xe của mình thì một trong những cảnh sát viên, Carly Holcomb, đi về phía anh. Biểu cảm trên khuôn mặt tàn nhang của anh ta nghiêm túc vô cùng, một biểu cảm mà anh chưa bao giờ nhìn thấy trên khuôn mặt đó.

    “Đây là nhà của Taylor Allen,” Knox nói. Taylor là một luật sư, và Knox nghĩ, từ những lần mà anh làm việc với ông ta, ông ta là một người khá đứng đắn, so với những luật sư khác. Ông ta có lẽ vào khoảng trên 50 tuổi, đã li dị vài năm trước đây, và nhanh chóng tìm cho mình một người vợ 29 tuổi vô cùng xinh đẹp.

    Carly gật đầu, “Ông ta ở bên trong,” cô nói, bắt kịp và bước ngay bên cạnh Knox khi anh bước về phía ngôi nhà. “Khi ông ta không đến văn phòng của mình, thư ký của ông ta đã gọi nhưng không thấy ai trả lời. Cô ấy đã thử gọi vào số di động, và khi cô ấy thấy ngay cả trên số điện thoại này cũng không ai trả lời, cô ấy đã gọi điện thoại cho bà Allen lúc ấy đang đi thăm bạn bè tại Louisville vào sáng sớm. Bà Allen thông báo lại là bà ấy có nói chuyện với ông Allen vào lúc sáng sớm hôm nay, và ông ta không đề cập bất kì việc gì liên quan đến chuyện mình có kế hoạch đi đâu đó trước khi đến văn phòng. Người thư kí lo sợ rằng có thể ông đã có một cơn đau tim nên đã gọi cho sở cảnh sát và tôi đã rẽ qua đây để kiểm tra.”

    “Cô đã tìm thấy ông ấy?” Knox lập tức hỏi.

    “Vâng, thưa sếp. Đầu tiên, tôi đã kiểm tra nhà để xe, và xe ông ấy vẫn nằm trong đó. Tôi đã gõ cửa nhưng không ai trả lời.” Cô kéo quyển sổ ghi chép ra và liếc vào nó. “Lúc đó là 09:15 sáng. Cửa trước đã khóa. Tôi đã thử cả cánh cửa sau và cửa kính trượt trên hiên nhà, nhưng chúng cũng đã bị khóa.”

    “Vậy làm thế nào cô vào được?”

    “Tôi đã không vào, thưa sếp. Chưa ai vào cả. Tôi đã đi vòng ra phía bên hông nhà và thử nhìn qua cửa sổ. Ông ấy đang nằm sấp giữa phòng khách.”

    “Liệu có phải là một cơn đau tim không?”

    “Không, thưa sếp. Ông ấy bị một mũi giáo cắm vào sau lưng.”

    “Một mũi giáo?” Knox lặp lại, giật mình và không chắc chắn là mình hiểu đúng.

    “Đúng, thưa sếp. Theo đánh giá của tôi thì chiều dài của nó gần 1,5m.”

    Họ cùng bước lên các bậc thang dẫn lên thềm. Ngôi nhà này là một trong những ngôi nhà mới được xây dựng theo cách khiến nó trông cổ hơn, với một hàng hiên rộng bao quanh cả hai cánh của ngôi nhà. Gỗ được sơn màu trắng, và màn cửa chớp ở cả hai bên của những chiếc cửa sổ cao đều có màu xanh đậm sạch sẽ. Bản thân của hiên nhà được sơn một màu xám bàng bạc, và khi nhìn xuống thì Knox chỉ nhìn thấy một hàng dấu chân trên ván sàn. Anh chỉ cho Carly thấy, và cô xác nhận “Của tôi đấy.”

    Không có những dấu chân khác ở quanh đây. Vậy thì không có nhiều người đã đi qua cửa trước lắm. Taylor và vợ ông có thể thường vào nhà và rời đi qua cửa nhà để xe; vì họ ở ngoại vi thành phố, nên thư của họ thường được mang đến bởi người đưa thư của khu vực này, và để thư từ vào một chiếc hộp thư bên đường, thay vì mang tận vào nhà.

    Carly hướng dẫn anh đi đến rìa cửa sổ bên phía tay trái. Rèm cửa một bên được vén lên, vì vậy anh bước sang một bên và nhìn vào trong. Hàng hiên đã tạo ra bóng râm, và đèn được bật lên ở bên trong; anh không cần phải ấn sát mặt vào cửa sổ để nhìn. Một người đàn ông nằm úp mặt trên chiếc thảm của phòng khách, đầu của ông quay về phía họ và – chúa ơi, thực sự có một ngọn lao cắm vào sau lưng ông ta. Một ngọn lao khốn kiếp.

    Mắt của Taylor Allen đang mở trừng trừng và vô hồn, máu chảy từ chiếc miệng đang há ra của ông và đọng thành vũng quanh đầu ông. Ông nằm trong cái tư thế vô hồn mà chỉ tồn tại khi có sự hiện diện của cái chết.

    Knox đã nhìn thấy người ta bị giết bằng súng hơi, súng trường, và súng ngắn; anh đã nhìn thấy người bị chèn qua bởi một chiếc xe hơi, xe tải, máy cày, xe máy và cả một cái đầu máy xe tải. Anh đã nhìn thấy người bị đâm chém bởi rất nhiều vật sắc nhọn, từ một con dao bỏ túi cho đến một cái cưa máy. Sự việc như thế này, tuy nhiên, lại là lần đầu. “Ngày nay không nhiều người sử dụng giáo đâu.” Anh nói một cách trầm ngâm.

    Carly đột ngột ho lên, quay đầu đi trong khi cô che miệng mình bằng một tay.

    “Cô ổn chứ?” anh hỏi, không thực sự chú ý vào cô trong khi nghiên cứu hiện trường phòng khách. “Nếu cô phải nôn thì đi ra sân đi nhé.”

    “Vâng thưa ngài.” Cô nói lúng búng “Ý tôi là, tôi ổn. Chỉ là hơi ngứa họng thôi.”

    Anh lục túi mình một cách im lặng, và lôi ra một lọ si rô ho mà anh vẫn mang theo kể từ mùa đông và không nghĩ đến chuyện vứt nó đi khi anh dọn túi, và đưa cho cô. Cô ho thêm vài cái khi nhận lấy lọ si rô từ tay anh, giọng cô nghe như bị bóp nghẹt lại khi cô cố gắng kiểm soát cơn ho.

    Dường như không có gì bị làm lộn xộn trong nhà, anh nhận thấy từ góc quan sát của mình. Không có chiếc đèn nào bị lật đổ, tất cả đồ đạc trong nhà dường như đều ở đúng chỗ của chúng. Tất cả mọi điều nhìn như thể Taylor Allen đã bị tóm bất ngờ bởi một người xâm nhập biết ném lao – dường như người này vẫn còn ở bên trong nhà, dù điều đó nghe như không thể xảy ra. Những cánh cửa bị khóa không có ý nghĩa nhiều lắm; hầu hết các cánh cửa đều có thể được khóa lại bằng cách xoay một chiếc chìa khóa hoặc bấm nút khóa lại, sau đó sập cửa khi bạn ra ngoài.

    Boyd Ray chạy ào đến, mang theo một cái hộp dụng cụ chứa những công cụ mà anh dùng. “Các anh có cái gì cho tôi thế?” anh ta nói khi nhày phóc lên hiên nhà

    “Một hiện trường sạch sẽ,” Knox trả lời, bước lùi lại. “Chưa ai vào trong đâu.”

    Khuôn mặt đỏ bừng lấm tấm mồ hôi của Boyd sáng bừng lên. “Không đùa chứ. Tuyệt vời. Để xem tôi có thể tìm thấy những gì ở đây nào.” Một đội giám định pháp y không thường có được một hiện trường nguyên bản hoàn toàn chưa bị can thiệp như thế này; thông thường thì hiện trường đều đã bị thay đổi một chút bởi các nhà chức trách, hoặc gia đình nạn nhân, có trường hợp là những người hàng xóm tốt bụng.

    Giành cho Boyd thời gian thu thập bằng chứng cần thiết cũng chẳng làm cho Taylor Allen sống lại thêm giây nào. Knox rút lui sang bên kia con đường và để cho Boyd làm việc.

    Thu thập bằng chứng là một quá trình tỉ mỉ. Những bề mặt bằng phẳng sẽ được rắc bụi để thu thập dấu vân tay hoặc dấu chân, chụp ảnh, những chiếc nhíp được dùng để gắp những mảnh nhỏ xíu của giấy, vải vóc hay những chất liệu khác ra khỏi lớp cỏ. Boyd lượn vài vòng quanh ngôi nhà để tìm kiếm những dấu chân để lại, hay vết lốp xe trên đường xe chạy của ngôi nhà, bất kể thứ gì mà anh ta có thể chụp ảnh, thu thập hoặc bảo tồn lại được. Ngày mùa hè trở nên nóng nực hơn. Phía đông Kentucky thường mát mẻ hơn những nơi khác trong bang, vì có nằm ở vùng núi, nhưng nhiệt độ hôm nay ít nhất cũng phải nằm ở mức 90 (độ F).

    Cuối cùng thì Boyd cũng ra hiệu rằng anh ta đã hoàn thành việc kiểm tra ngoài ngôi nhà, và anh ta mang theo một vài dụng cụ ra xe. Knox và một trong những thanh tra dưới quyền anh, Roger Dee Franklin, cố gắng phá khóa các cánh cửa nhưng không thể khiến chúng mở ra được. Cánh cửa trượt bằng kính được cài lại một cách chắc chắn bằng một thanh chặn an toàn. Cuối cùng, trong sự thất vọng cùng cực, Knox đành phải gọi người mang đến thanh rầm phá cửa (heavy battering ram) mà họ dùng để phá các cánh cửa. Anh chọn cánh cửa sau để phá lấy lối vài, vì nó là cánh cửa xa nhất so với hiện trường, và anh để cho nhân viên của mình thực hiện công việc. Khi cánh cửa bị tan ra thành từng mảnh treo lủng lẳng trên bản lề, anh và Roger Dee, cùng với Boyd bước vào trong ngôi nhà.

    Và cả cánh cửa trước cũng vậy. Then cài ở đây thậm chí còn lớn hơn. Cánh cửa trượt bị loại ra khỏi vòng nghi vấn trở thành lối thoát của hung thủ vì không có cách nào mà người ta có thể cài thanh chắn an toàn từ phía ngoài.

    Nhưng ngôi nhà trống rỗng. Một cuộc tìm kiếm kĩ càng đã cho thấy người duy nhất ở bên trong, ngoài họ ra, là nạn nhân.

    “Làm thế quái nào mà chuyện này có thể xảy ra chứ?” Roger Dee lẩm bẩm một mình. “Tất cả các cánh cửa đều bị khóa, và ở đây không có ai cả. Đừng có nói với tôi là ông Allen tự xiên ngọn lao vào mình nhé.”

    “Nhà để xe,” Knox nói. “Điều khiển mở cửa nhà để xe có thể đã biến mất khỏi chiếc xa. Hãy đảm bảo là Boyd phủ bụi chiếc xe để tìm dấu vân tay.” Đó là cách giải thích hợp lý duy nhất để có tên giết người có thể thoát ra; sau đó hắn ta có thể hạ cánh cửa nhà để xe xuống và căn nhà sẽ bị khóa kín hoàn toàn. Đó là chiến thuật đánh lạc hướng hoàn hảo.

    Roger Dee rời đi, và sau đó tuyên bố khi anh quay lại, “Tôi không tìm thấy chiếc điều khiển cửa nhà để xe nào cả, nhưng chiếc xe là một trong những chiếc xe đời mới với thiết bị đóng mở cửa nhà để xe được thiết kế gắn liền với xe. Có lẽ ông ta không có chiếc điều khiến cầm tay nào đâu.”

    “Tôi dám cá là ông ta có. Chúng ta sẽ tìm hiểu chuyện này từ người vợ. Hầu hết tất cả mọi người đều không bận lòng về chuyện cài đặt chương trình cho thiết bị điều khiến đóng mở cửa nhà để xe lắp đặt sẵn trong xe trong khi họ có một chiếc điều khiến nằm ngay trong tay đâu. Nhân tiện, đã liên lạc được với bà Allen chưa?”

    “Một vài người bạn đang đưa bà ấy về nhà.”

    “Có thể là bà ấy chưa nhận ra là bà ấy không thể ở lại đây được. Hãy đảm bảo rằng bà ấy được tiếp đón chu đáo, và được đưa đến một nhà nghỉ nhé.” Bất cứ khi nào có ai đó bị sát hại, và có sự thiếu những bằng chứng hiển nhiên dẫn đến kết tội một ai đó, Knox lập tức nghi ngờ người chồng hoặc người vợ của nạn nhân. Anh không thể tưởng tượng ra người vợ trẻ thực hiện công việc đam ông chồng tội nghiệp của mình với một ngọn lao, nhưng những thứ kì lạ cũng đã từng xảy ra. Cho đến khi anh kiểm chứng được những bằng chứng ngoại phạm của cô ta, thì cô ta vẫn là nghi phạm.

    Anh lang thang quanh ngôi nhà, xem mình có thể tìm thấy gì. Một cốc cà phê duy nhất được để trong bồn rửa bát, cùng với một bát ngũ cốc và một chiếc thìa đơn độc. Kiểu bữa sáng chỉ giành cho một người, cho thấy rằng Taylor Allen có thể đã ở trong nhà một mình, hoặc ông ta chỉ đơn giản là ăn sáng một mình. Knox nhìn vào thùng rác và thấy vỏ bọc của một bữa tối làm sẵn được hâm nóng trong lò vi sóng, cùng với một túi ni lông màu đen còn chứa vài mẩu của một thứ nhìn như là món xúp lơ xanh. Vỏ bọc của một thanh kẹo nằm trên cùng của thùng rác.

    Trên tầng, chỉ một bên của giường cho thấy là đã có người ngủ trên đó. Chiếc giường đã được trải theo một khuôn mẫu: tấm trải giường đặt hàng riêng đã được kéo lên phủ lên những chiếc gối, nhưng chiếc giường vẫn còn gọn gàng và thẳng thớm ở một bên, và hơi lộn xộn ở một bên chưa được trải lại. Knox biết kiểu trải giường này, vì nó là cách anh trải giường của chính bản thân mình. Ở trong phòng tắm chỉ có một chiếc bàn chải đánh răng, dù giá đỡ có đủ chỗ cho 2 chiếc. Một bồn rửa mặt vẫn có dấu hiệu ẩm ướt, trong khi chiếc kia thì vẫn còn khô cong.

    Tất cả những dấu vết đều cho thấy Taylor Allen đã ở trong nhà một mình. Nhưng ai đó đã ở đây, có lẽ là ai đó ông ta biết. Ông ta đã mở cửa và để tên giết người vào. Sau đó, khi ông ta quay lưng lại, tên giết người đã….. Không, làm thế nào mà tên giết người đã giấu được một ngọn giáo dài gần 1,5m? Ông Allen nhất định đã phải chú ý đến điều đó chứ. Cách duy nhất để một ngọn lao trở nên không đáng chú ý là khi ai đó có sở thích sưu tập giáo mác đã mang một mẫu đến cho ông Allen xem, người mà bằng cách nào đó đã bị thu hút bởi thứ vũ khí này.

    Ngay lúc này, Knox không thể nghĩ ra bất kì một nhà sưu tập giáo mác nào tại hạt Peke.
     
    uyenki, hoahuynh2011, halucky and 7 others like this.
  9. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 4

    Knox ngồi xổm xuống một bên, không hề chạm tay vào thứ gì cả, trong khi Boyd cẩn thận bước vào trong nhà về phía cái xác, sử dụng một máy hút bụi cầm tay để hút các sợi vải và tóc từ chiếc thảm. Sau đó sẽ đến lượt cái xác, và những dấu vết có thể được tìm thấy trên nó. Cán làm bằng gỗ của ngọn giáo có thể được làm tại nhà, dù cho nó nhìn có vẻ rất mịn và như thể được sản xuất hàng loạt, đến nỗi Knox nghĩ nó có thể chỉ là một chiếc cán chổi. Nhưng còn đầu nhọn bằng kim loại của nó thì chỉ có thể là vật làm tại nhà, có lẽ tên giết người có hẳn một xưởng chế tác kim loại trong nhà của hắn.

    Roger Dee ngồi xổm xuống bên cạnh anh “Anh đang nghĩ gì thế?”

    “Tôi đang nghĩ đến những ngọn giáo,” Knox trả lời, “và những khả năng có thể xảy ra.”

    “Ví dụ như?”

    “Tôi không phải chuyên gia về giáo mác, nhưng đối với tôi thì giáo mác được dùng theo hai cách: anh có thể đâm trực tiếp hoặc ném. Với cả hai cách, không đời nào góc tiếp cận của ngọn lao lại là thẳng đứng được. Vì vậy anh có thể chọn cách đâm ngược từ dưới lên hoặc đâm từ trên xuống. Bác sĩ pháp y mới có thể chắc chắn được, nhưng theo tôi quan sát thì dường như mũi giáo hơi chúc xuống.”

    “Đâm từ trên xuống. Chúng ta có thể ước đoán cơ bản về chiều cao của tên tội phạm này.”

    “Trừ khi mũi giáo này được ném ra. Một mũi giáo được ném ra thì sẽ có góc hơi nghiêng đi đúng không? Một cú ném bằng một tay sẽ có góc rơi hình vòng cung, và sau đó mới đâm vào, thay vì từ dưới lên sẽ là từ trên xuống. Ngọn giáo sẽ đâm vào cơ thể nạn nhân với góc từ phải sang trái nếu người ném là thuận tay phải, và từ trái sang phải nếu người ném thuận tay trái.”

    “Đồng ý,” Roger Dee hơi cắn môi, nhìn cái xác đang nằm sấp trên vũng máu đã khô lại và chuyển thành màu đen. “Ông ta không chảy máu nhiều lắm, vậy nên ông ta đã chết gần như ngay lập tức.”

    “Từ vị trí của ngọn giáo, tôi đoán là nó đã xuyên qua tim ông ta.” Có phải ông ta đã ngã xuống ngay chỗ đó, hoặc có thể đã quay lại và đối mặt với kẻ đã tấn công ông ta, và sau đó ngã xuống? Và liệu ngọn lao đã được đâm vào người ông ta, hay được phóng?

    Knox suy ngẫm về những khả năng có thể xảy ra khi tấn công bằng giáo, có thể hơi khác so với một viên đạn, sự tấn công này đòi hỏi phải có một tầm quan sát tốt để có thể đạt hiệu quả mong muốn khi ném ngọn lao ra. Và khi ném lao cũng yêu cầu một sức mạnh nhất định, và cả sự may mắn nữa. “Một cách hợp lý, ông ta phải bị đâm bằng ngọn giáo này. Một sự lựa chọn vũ khí kì lạ nhưng cách tấn công thì lại bình thường. Nhưng cứ cho là ngọn giáo đã được ném ra. Tên giết người phải đứng ở đâu để có được tầm nhìn rõ ràng chứ?”

    Roger Dee chỉ thẳng vào chỗ tiền sảnh trước lối vào phòng khách.

    “Chắc là phải ở đó.”

    “Còn nếu như ông Allen đã quay người, sau đó bước xuống, thì tên giết người đã đứng ngay trước cái cửa sổ này.” Knox chỉ vào một cử sổ bên hông nhà. “Nếu xét đến kích cỡ của căn phòng, chiều dài của ngọn giáo, hắn ta phải muốn đến gần hơn. Chúng ta có hai giả thiết, và chúng ta cần quan tâm đến chúng một cách tương đồng như nhau.”

    “Vậy giả sử nhưng ông Allen chỉ quay được nửa vòng thôi thì sao?”

    “Theo quan điểm của tôi,” Boyd Ray nói vọng lên từ vị trí của anh ta bên cạnh cái xác. “nếu ông ta chỉ quay nửa vòng thì ông ta phải nằm úp hẳn mặt xuống. Có thể ông ta đã lết thêm một đoạn, và tư thế ngã có lẽ phải hơi kì lạ hơn một chút. Nhưng như tôi thấy lúc này thì ông ta đã đổ sập người và cắm mặt thẳng xuống đất.”

    Nhân viên của anh không có nhiều kinh nghiệm làm việc với các vụ sát nhân, Knox nghĩ, nhưng chẳng có gì sai trong suy luận của họ cả.

    Họ đã thực hiện tất cả các thủ tục thông thường, như là kiểm tra máy trả lời tự động, nhấn nút Gọi lại trên máy điện thoại để xem số cuối cùng mà ông Allen gọi đến, và lấy số điện thoại cuối cùng mà ông ta nhận được. Với số gọi đi, cuộc gọi cuối mà ông ta thực hiện là đến văn phòng và cuộc gọi cuối mà ông ta nhận được là từ một số điện thoại ở Louisville, có thể là cuộc gọi mà bà Allen đã báo với cô thư ký.

    “Nếu tôi có bản năng nghi ngờ mọi thứ,” Knox nói “Tôi sẽ tự hỏi xem bà Allen thực hiện cuộc điện thoại sáng hôm nay để chắc chắn rằng ông Allen có ở nhà.”

    Roger Dee càu nhàu. Một sự thật hiển nhiên là người chồng hay người vợ thường là nghi phạm số một, và là người được nghĩ đến đầu tiên trong một vụ sát nhân. Bạn càng có mối quan hệ thân thiết với ai đó, bạn càng có khả năng giết hoặc bị giết bởi chính bản thân người đó. “Anh đang cho rằng cô ta đã thuê ai đó làm việc này.”

    “Vì tôi không nghĩ là nước Anh có cho phép ném lao như một lựa chọn để thực hiện hành vi giết người, tôi có thể khẳng định là cô ta đã không tự mình thực hiện việc này.” Anh đã nghe nói là bà Allen có hai chuyên ngành chính khi học đại học: hẹn hò và trang điểm. Anh chưa bao giờ gặp cô ta, vì vậy anh không có nhận xét gì về tính cách của cô ta cả. Những cuộc phỏng vấn có thể sẽ hé lộ ra liệu cô ta có cảm thấy cuộc hôn nhân của mình mất hấp dẫn và cả ông chồng của cô ta cũng vậy, liệu cô ta có bất kì hiểu biết nào về giáo mác hay không, liệu cô ta có phải đang lượn vòng vòng xung quanh và có quan hệ mờ ám với ai không.

    Nhưng trong lúc này, manh mối tốt nhất của họ là ngọn lao. Một việc bí ẩn như là sản xuất một ngọn lao phải bị ai đó chú ý đến, và ngọn giáo đã được sản xuất ở một nơi nào đó. Đầu kim loại của ngọn giáo này sẽ được phân tích, loại gỗ được xác định và nếu may mắn thì họ sẽ biết ngọn giáo được sản xuất ở đâu. Có thể kẻ giết người đã sử dụng thứ vũ khí từ chính bộ sưu tập của anh ta – ngu ngốc, nhưng đó cũng là một khả năng có thể xảy ra. Hầu hết những kẻ giết người đều không được biết đến như những người sử dụng bộ não của mình tốt lắm. Chúng đều mắc lỗi. Kể cả những kẻ thông mình nhất, những người biến vụ án thành những trò chơi của chúng, đôi khi cũng phạm sai lầm.

    Trong vụ này, việc sử dụng một thứ vũ khí đặc biệt như vậy là một sai lầm, vì nó cho Knox một đầu mối để lần theo.

    Đêm tiếp theo, một người phụ nữ đăng kí nhận phòng trong một nhà nghỉ bên đường cao tốc, ngay phía ngoài Pekesville. Cô khá xinh đẹp, với mái tóc và đôi mắt tối màu, và một biểu cảm thân thiện trên gương mặt khiến mọi người muốn nói chuyện với cô. Pauline Scalia đã bị thu hút bởi biểu cảm đó và phát hiện ra người khách mới này đến từ New York, có thể sẽ ở lại trong thị trấn trong vài ngày, và có một kiểu cười dễ lây. Cô thanh toán bằng một thẻ tín dụng được phát hành dưới cái tên Nikita T. Stover, và bằng lái xe của cô khớp với nhân dạng của cô, cả tên và ảnh chụp.

    Sau khi lấy được chìa khóa, Nikita Stover đỗ xe trước cửa phòng số 117, lấy ra một cái va li nhỏ, và biến mất sau cửa phòng. Nửa giờ sau, ánh đèn được tắt đi, cho thấy rằng cô Stover đã đi ngủ.

    Buổi sáng hôm sau, Nikita thay quần áo với sự háo hức được kiểm soát chặt chẽ. Sự háo hức khiến tim cô đập rộn rã trong lồng ngực, và cô có thể thấy từng mạch máu trong cơ thể khi chúng đập liên hồi. Cuối cùng thì cô cũng đã ở đây rồi, cô đã thực sự ở đây! Sau tất cả những năm dài huấn luyện, học tập và tự chuẩn bị bản thân cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, cô cuối cùng cũng đã được nhận nhiệm vụ này! Và một nhiệm vụ mới tuyệt làm sao chứ!

    Không phải là các ông sếp của cô đã giúp đỡ gì cô cả; cô đã là đặc vụ thứ ba được phái đến để thực hiện nhiệm vụ này. Người đầu tiên là Houseman, đã bị giết khi đang thực thi nhiệm vụ. Người thứ hai, McElroy, đã thất bại một cách thảm hại. Nikita nhận thức rất rõ về mối nguy hiểm cô đang phải đối mặt, cả về mặt riêng tư và trong công việc, nhưng cô vẫn cảm thấy sự thôi thúc của adrenalin chảy rần rật trong huyết quản của cô. Cô thật sự rất yêu thích các thử thách, và cô đã sẵn sàng hơn bao giờ hết cho nhiệm vụ này.

    Cô hơi ngượng ngập khi cố gắng cài nút áo sơ mi, phải hít một hơi thật sâu để kiềm chế sự run rẩy nhẹ nhàng của ngón tay cô, và sau đó thì hoàn thành việc gài nút áo. Cô nhìn chăm chú vào hình ảnh của bản thân ở trong gương. Tất cả mọi thứ trông có vẻ bình thường: áo sơ mi trắng, quần đen được đặt may, bao đeo súng được treo vào bên trái hông cô. Cô đi một đôi giày đơn giản với gót cao khoảng 3 phân, một chiếc đồng hồ đeo tay đơn giản với dây đeo màu đen, và một cặp vòng đeo tai bằng vàng trên tai cô. Cô mặc chiếc áo khoác mỏng vào và kiểm tra để chắc chắn rằng vũ khí của cô đã được che lại cẩn thận. Hơi nhíu mày, cô điều chỉnh vạt áo để giấu đi chỗ gồ lên của báng súng. Giờ thì được rồi, cô đã sẵn sàng ra ngoài.

    Cô đã có một kế hoạch, và cô đã sẵn sàng để bắt đầu thực hiện kế hoạch đó. Điểm mà McElroy đã phạm sai lầm, cô nghĩ, là cố gắng thực hiện nhiệm vụ một mình mà không nhờ đến sự giúp đỡ của lực lượng địa phương. Anh ta đã đi theo hướng làm việc của một cao bồi, là một cách rất tốt để bảo vệ độ bí mật của nhiệm vụ, nhưng nó cũng là cách khiến cho bản thân anh ta gặp rất nhiều nguy hiểm và hạn chế những cuộc điều tra của anh ta. Có phải lúc nào sự an toàn cũng là điều tốt nhất không? Bằng việc làm theo một chỉ thị, anh ta đã thất bại trong việc thực thi phần quan trọng nhất của nhiệm vụ này. Cô không có ý định sẽ thất bại.

    Cô thấy bản thân mình đang mỉm cười sung sướng với suy nghĩ của mình. Trời ơi, cô thật sự rất yêu thích những câu thành ngữ đầy tính gợi tả: good to go, cowboy, go it alone. (sẵn sàng để làm việc, cao bồi, làm việc một mình.) Những câu này đều mang tính biểu trưng cho văn hóa một cách sâu sắc, trong khi ngôn ngữ của thời đại cô đều nghiêm túc hơn và vô cùng ảm đạm. Cô đã học ngôn ngữ địa phương vô cùng kĩ càng đến nỗi giờ cô suy nghĩ bằng những ngôn từ đó, điều này khá là thuận lợi cho cô; cô sẽ ít khi nói lỡ lời và mắc sai lầm. Ngữ điệu thì ít rắc rối hơn, vì cô không phải đang cố gắng hòa nhập như một người dân địa phương.

    Chộp lấy máy ảnh và túi khoác vai màu đen của mình, cô rời khỏi phòng trọ và tự động kiểm tra để đảm bảo cánh cửa đã được khóa lại. Không khí nóng nực của mùa hè Kentucky bao phủ lấy cô, khiến cô ước gì mình không phải mặc một cái áo khoác, nhưng vẻ bề ngoài chuyên nghiệp là cần thiết.

    Chiếc xe thuê của cô đỗ ngay trước cửa phòng cô. Cô nhìn thấy là mình đã không đỗ nó một cách chính xác vào giữa khu được đánh dấu, và hơi thất vọng vì việc thiếu kĩ năng của mình. Những gì cô được huấn luyện là vô cùng hữu ích, nhưng nó không thể thay thế được kinh nghiệm trên thực tế. Lái xe trong khóa huấn luyện không giống như lái một phương tiện giao thông lạ lẫm ở một nơi không quen thuộc vào lúc đêm khuya. Ít nhất thì cô đã không đâm vào đâu, hoặc thậm chí bị lạc. Đó có thể là một cách ngu ngốc để bắt đầu nhiệm vụ của cô.

    Một thiết bị điều khiển từ xa nhỏ mở khóa cái xe, và cô ngồi vào đằng sau tay lái. Luôn luôn là một người cẩn thận, cô ngồi một lúc để xem xét lại hệ thống điều khiển và làm quen lại với những tay nắm khác nhau, các cần điều khiển, và các nút trong xe, sau đó xoay chìa khóa và mỉm cười khi động cơ đốt trong gầm lên hưởng ứng. Cô ngồi một lúc nữa để nghịch cái đài; nhấn nút Select cũng không có hiệu quả lắm trừ việc xuất hiện tiếng rè rè, nhưng cô đã học được vào đêm hôm trước là nút Seek (tìm kiếm) có thể tìm được một kênh bằng cách dò tất cả các tần số. Cô mỉm cười mỗi khi đến các kênh âm nhạc mà cô nghe thấy, nhưng vẫn cứ tiếp tục nhấn nút Seek cho đến khi tìm được tần số của một kênh nghe như là một chương trình của đài phát thanh địa phương. Cô cần biết tình hình của nơi này.

    Cô đã nghiên cứu bản đồ của thị trấn và các khu vực xung quanh cho đến khi cô nhớ được tất cả các con phố, nhưng cô vẫn giữ một tấm bản đồ trên tay khi cô dò một cách cẩn thận các đèn tín hiệu giao thông và biển báo giao thông. Xác định vị trí của ngôi nhà cô muốn tìm không hề khó, và cô khá tự hào về bản thân. Càng ngày càng thuận lợi hơn.

    Ngôi nhà ở ngay ngoại vi thành phố, nơi các ngôi nhà ở cách xa nhau và những cánh đông bắt đầu xuất hiện. Cô đỗ xe ngay trước ngôi nhà và ngồi im một lúc, quan sát khung cảnh xung quanh. Phải nói là khá đẹp. Những cây cao xanh mướt và vườn hoa được chăm sóc cẩn thận, với bãi cỏ xanh mơn mởn, cùng một ngôi nhà nhìn sang trọng nhưng không quá phô trương. Ngôi nhà có màu trắng, với những cánh cửa chớp màu xanh, và một hàng hiên rộng rãi xinh xắn bao quanh mạn phải của ngôi nhà. Bốn bậc cấp dẫn lên thềm và thẳng đến cửa chính.

    Những bụi cây xanh thẫm được bao phủ bởi vô vàn những bông hoa màu hồng bao quanh khu vực móng nhà và che phủ những phần được xây bằng gạch. Nikita không phải một người yêu thích nghề làm vườn, nhưng cô nghĩ những bụi cây đó có thể là cây đỗ quyên. Có thể thôi. Những bụi cây được chăm sóc một cách cẩn thận, thảm cỏ vừa mới được cắt gần đây. Hai cây sồi khổng lồ - ít nhất thì cô cũng biết trông cây sồi như thế nào – đổ bóng xuống cả khoảng sân trước và cả một phần ngôi nhà. Bằng vàng đán dấu hiện trường của cảnh sát được chăng giữa hai cái cây, ngăn lối vào của đường xe chạy, và bao quanh ngôi nhà với một chu vi rộng.

    Ngoắc chiếc túi lên vai, cô bước ra khỏi xe, với chiếc máy chụp ảnh trong tay, và chụp một vài bức ảnh, để có dữ liệu giúp cô liên tưởng lại khi cô viết báo cáo, hoặc dựng nên các giả thuyết. Cúi người luồn qua những dải băng vàng, cô bước dọc theo đường xe chạy được lát gạch, và chụp các bức ảnh làm tư liệu trong khi cô di chuyển. Cô không hi vọng sẽ nhìn thấy điều gì đó giúp cô tìm ra kẻ giết người, điều gì đó mà những đặc vụ đầy kinh nghiệm khác đã bỏ lỡ, nhưng cô đang ước lượng khoảng cách và diện tích của hiện trường trong đầu. Một cách chậm rãi, cô đi vòng quanh nhà, chú ý đến mọi cửa sổ và cửa chính, tình trạng của những bụi cây phía dưới khung cửa sổ, khoảng cách từ mặt đất đến mỗi khung cửa sổ là bao nhiêu. Những thông tin như thế có thể hữu ích, có thể không. Cô đã biết là làm cách nào mà tên giết người thực hiện được vụ ám sát này, chỉ chưa biết là ai làm mà thôi. Hoặc tên này đang lẩn trốn ở đâu.

    Ở đằng sau nhà có một cánh cửa nhỏ ở chân ngôi nhà dẫn lối vào một không gian nhỏ hẹp ở dưới nhà. Cô quan sát kĩ mặt đất để chắc chắn rằng không có dấu chân nào ở trước cánh cửa, sau đó khom người xuống để nhìn kĩ hơn, có một tay cầm trên cánh cửa nhưng cô không muốn chạm vào nó và làm hỏng bằng chứng của cảnh sát địa phương. Thay vào đó cô cố lách ngón tay vào khe cửa cho đến khi cô có thể nhấc tấm ván ép mỏng về phía trước, chú ý đến việc góc đằng trước của cánh cửa bị kéo lê trên đất khi cô làm vậy. Cô lấy một chiếc đèn pin dạng bút từ túi ra và soi trực diện vào khoảng đất ngay dưới cái cửa vào. Nó nhìn như không hề bị chạm đến, không có vết xước hay dấu tay nào khác trên nền đất cả.

    Sự thiếu dấu vết để lại đã cho cô thêm bằng chứng rằng cô đã đúng. Nhét chiếc đèn lại vào túi, cô đẩy cái cửa về chỗ của nó.

    “Cô đang làm cái quái gì tại hiện trường vụ án của tôi vậy hả?”

    Một giọng nói trầm phát ra từ vị trí phía trên ở ngay đằng sau cô bắn xuyên qua hệ thống thần kinh của cô như một tia sét. Cô nhảy dựng lên, nhưng cố gắng khống chế tiếng hét đang trồi lên đến cổ họng mình. “May cho anh là tôi không bị yếu tim đấy.” cô nói khi đứng lên và quay lại để đối mặt với chủ nhân của giọng nói.

    “Trả lời câu hỏi của tôi đi đã,” anh nói với giọng nói lạnh lẽo và khuôn mặt không cảm xúc.

    Anh là một người đàn ông với đôi vai rộng và cao, có lẽ là khoảng 60 – 70 cm, và cô đã cao 1,61m. Anh ta mặc quần jean, đeo một đôi ủng bị trầy xước và mặc một chiếc áo khoác xanh ngoài một chiếc áo polo màu trắng. Mái tóc nâu của anh ta hơi bù xù, không được cắt tỉa kĩ càng lắm. Có lẽ anh ta không có thời gian để cắt tóc hoặc có lẽ anh ta có một chút tế bào của sự nổi loạn trong người.

    Trong khi cô đang ngập ngừng anh ta đã chống tay trái lên hông, một cử chỉ có chủ đích khiến một vạt áo của anh ta hơi mở ra và để lộ chiếc huy hiệu giắt bên hông của anh ta, cũng như thứ vũ khí to lớn giắt trong bao đựng đeo trên vai. “Nếu cô là một phóng viên đưa tin,” anh ta nói, rõ ràng đã chú ý đến chiếc máy ảnh mà cô đang mang, “thì cô gặp rắc rối lớn rồi đấy.”

    Cũng với một cách cố ý như vậy, Nikita hé tà áo của mình ra để cho anh ta thấy vũ khí của cô; sau đó cô nhấc miệng của chiếc túi đeo trên vai lên và chìa huy hiệu của mình ra. “Tôi là Nikita Stover, nhân viên FBI,” cô nói và chìa tay về phía anh ta.

    Một bên mày anh ta nhướng lên, và nếu cô không nhầm, anh ta trông còn bực bội hơn, “Lần cuối cùng tôi kiểm tra, thì một vụ giết người không phải là trách nhiệm của bên liên bang. Cô đang làm gì ở đây?”

    Cô nhún vai và thả tay xuống. Mọi việc có thể sẽ thuận lợi hơn nếu anh ta có thái độ thân thiện hơn, vì anh ta rõ ràng là người chịu trách nhiệm điều tra vụ sát nhân này; anh ta đã gọi hiện trường này là của anh ta. Đây có lẽ là phần hơi rắc rối, cô chỉ hi vọng là những giấy tờ của cô đủ ổn để anh ta không nghi ngờ mà điều tra cô. “Tôi đang lần theo một dấu vết,” cô nói kèm theo tiếng thở dài, “Đang có một chuỗi các vụ án tấn công vào các thẩm phán và các luật sư, và chúng tôi nghĩ cùng một kẻ đã thực hiện chúng. Anh có nhớ vụ một vị thẩm phán liên bang đã bị sát hại tại Wichita vào năm ngoái không? Chúng tôi vẫn đang theo dấu tất cả các vụ án có thể có liên quan đến nhau để tìm một sơ hở, nhưng cho đến hiện tại thì tình hình vẫn chưa có gì sáng sủa cả.” Cô liếc một cái về phía ngôi nhà, “Ông Allen là một luật sư, vì thế tôi có mặt ở đây. Tôi không định đoạt quyền chỉ huy điều tra của anh; chỉ hi vọng là anh có thể giúp tôi thôi.”

    Hình dáng của bờ vai rộng đó dường như hơi dịu đi, nhưng ánh mắt anh ta thì vẫn lạnh lẽo, “Vậy tại sao cô không liên lạc với tôi?"

    “Tôi định đến chỗ anh ngay sau khi rời khỏi đây. Tôi muốn nhìn thấy ngôi nhà trước. tôi không có ý định vào trong, và tôi đã cẩn thận để không làm hỏng bất kì bằng chứng nào.” Trong thâm tâm, cô hít một hơi thật sâu, và trao cho anh ta một nụ cười rồi vươn tay ra. “Hãy thử lại nào. Tôi là Nikita Stover, nhân viên FBI.”

    Lần này thì anh ta bắt tay cô. Lòng bàn tay của anh ta hơi gồ ghề, và rất ấm áp. “Tôi là Knox Davis, trưởng bộ phận thanh tra của hạt.”

    Một tiếng nứt đanh gọn rít lên trong khí trời buổi sáng, và vụn vữa bắn tung ra từ bức tường gần như ngay sau đầu cô. Sân sau không có nơi nào có thể che chắc được cho họ nên họ đồng thời di chuyển, cả hai người đều lăn đến góc xa của ngôi nhà. Anh xô cô lao đi trước anh, khiến cô bị vấp ngã. Khi cô lấy lại được thăng bằng, cô ép chặt mình vào tường của ngôi nhà, vũ khí nắm chặt trong tay, dù cô không có ấn tượng là mình đã rút nó ra.

    Anh ta cũng có một khẩu súng tự động cỡ lớn nắm trong tay, hướng về phía trước khi anh ta nghiêng đầu ra quan sát góc đường và nhanh chóng rụt vào. “Tôi chẳng nhìn thấy gì cả.” anh ta nói và nhe răng ra cười khi liếc về phía cô. Đôi mắt xanh của anh ta lấp lánh, “Chào mừng đến hạt Peke.”

    “Anh nghĩ chuyện này buồn cười lắm à?” Cô quát lên.

    “Chắc chắn là nó vô cùng thú vị.” Giọng của anh ta kéo dài một cách lười biếng, cứ như thể là anh ta không thể nào thấy thú vị trước một việc vô cùng bình thường như là bị bắn vậy. “Có ai đó rõ ràng không muốn cô ở đây, khiến tôi hơi băn khoăn làm thế nào để hắn ta biết được cô đang ở đây vào lúc này.” Trong khi anh vẫn liếc nhanh xung quanh, và gỡ một chiếc bộ đàm ra khỏi thắt lưng. Sau khi nhấn mã, anh ta nói “Mã 28, 10-00, số 2490 West Brockton.” Anh ta liếc về phía cô. “Đội phản ứng nhanh sẽ đến trong một vài phút nữa.”

    “Tôi cũng đoán vậy.”

    “Ai biết cô có thể ở đây?”

    “Không ai cả. Không phải tại vị trí và thời điểm này.” Một cơn ớn lạnh chạy dọc cột sống cô, vì kết quả của hành động lần này sắp sửa trở nên tồi tệ hơn những gì mà cô đã tưởng tượng.

    “Có ai đó biết. Viên đạn đó được nhắm vào cô.”

    Cô không thể phủ nhận vấn đề này nếu xem xét đến góc độ của viên đạn, thì có thể cô là nạn nhân hoặc tên này là một người bắn cực kì tồi. Nếu không tính đến việc tên đó bắn tồi, cô bị bắt buộc phải đối mặt với một kết luận tồi tệ: một trong những đồng nghiệp muốn giết cô.
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/12/14
  10. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 5
    Thanh tra Davis vẫn duy trì tư thế ép chặt vào tường ngôi nhà, nhìn như thể anh ta sẵn sàng đứng đó cho đến khi đội kị binh, cái tên mà anh ta dùng để gọi lực lượng này, đến. “Chúng ta không đuổi theo hắn sao?” Nikita hỏi một cách thất vọng, nghiêng vai về phía anh ta hích khẽ để đẩy anh ta tiến lên. Cô cần biết ai là người đã bắn cô, và liệu có phải nhiệm vụ này đã được xếp đặt từ đầu. Liệu có phải đó là lý do tại sao khiến McElroy thất bại và Houseman đã phải chết?

    “Có lẽ là tôi đã quên cái chủ nghĩa anh hùng của mình ở nhà rồi,” anh trả lời mà không nhìn vào cô.

    (Ở đây Knox đã dùng một thành ngữ - Put on white hat – hành động anh hùng. Và đã khiến cho Nikita hiểu nhầm)

    “Ừ thì anh không đội mũ,” cô nói, gần như hét lên vì anh ta, thay vì hành động, thì lại đứng đây mà nói những điều ngớ ngẩn như thế này.

    Anh ta liếc nhìn cô, một biểu cảm khó tin, hơi bối rối lướt qua mặt anh ta. “Ý tôi là, tôi không đội cái mũ anh hùng nào hôm nay cả. Cô biết đấy, những người phe thiện luôn đội mũ trắng mà? Giống như những chàng cao bồi ấy, cô biết chứ?”

    “Hiểu rồi,” Uhm. Cô đáng lẽ nên liên tưởng đến nó mới phải, đặc biệt là khi cô vừa mới nghĩ đến những câu thành ngữ liên quan đến các chàng cao bồi mới lúc nãy xong. Trong lòng cô hơi co rúm lại vì sai lầm mà cô không thường mắc phải như thế này, và má cô bắt đầu đỏ lên. “Vậy thì anh có thể ở lại đây, còn tôi sẽ đuổi theo hắn ta.”

    Cô bắt đầu tiến về phía trước và cánh tay anh ta quét ra, ấn chặt cô vào tường ngôi nhà. “Không đời nào. Tôi không nhìn thấy bất cứ một cử động hay một chút khói nào cả. Vì vậy chúng ta không thể xác định được vị trí của hắn ta. Có rất nhiều vị trí quanh đây mà một tên bắn tỉa có thể dùng để che giấu bản thân, và có rất nhiều khoảng đất trống có thể khiến cô trở thành một mục tiêu chết. Cô phải ở lại đây.”

    “Tôi là một đặc vụ liên bang …” cô bắt đầu cãi, chuẩn bị sẵn sàng để khiến anh ta nhận ra vị trí của mình. Cô dùng cả hai tay để luồn xuống dưới đẩy cánh tay đang ấn chặt vào xương quai xanh của cô, quá gần với cổ họng khiến cho cô cảm thấy không thoải mái. Nỗ lực của cô là vô ích; cô không thể làm anh ta suy suyển, trừ khi cô được chuẩn bị để có phương pháp bạo lực hơn.

    “Đúng thế, và tôi sẽ chết chắc nếu phải dính với cái đống giấy tờ phải thực hiện để giải thích việc cô để bản thân bị bắn. Đống giấy tờ của hạt này đã đủ lắm rồi; nhưng nếu với cấp liên bang, tôi sẽ phải điền các mẫu văn bản trong vòng một tuần kể từ bây giờ. Vì vậy ở yên đấy cho tôi.”

    Cô cắn môi khi cân nhắc tình hình, đôi mắt tối màu của cô nhép lại khi nhìn đăm đăm vào mặt anh ta. Cô cần phải có được sự ủng hộ của anh ta, nhưng cô cũng cần tìm ra ai là kẻ đã bắn cô, và rõ ràng là cô không thể làm cả hai việc cùng một lúc.

    Mặt khác, anh ta đã giữ cô lại quá lâu, đủ thời gian cho tên ám sát bỏ trốn rồi, và kể cả bây giờ cô có vứt anh ta ở đây và đuổi theo kẻ đã tấn công cô, thì gần như là cô sẽ chẳng tìm thấy gì cả. “Thôi được rồi,” cuối cùng cô nói “Dù sao thì có lẽ anh đã chờ quá lâu để bắt hắn ta rồi.”

    “Vậy cứ đổ tội cho tôi khi cô viết báo cáo.” Anh nói nghe như thể là anh hoàn toàn chả thèm quan tâm đến việc cô có thể làm vậy, như thể là chẳng có gì mà cô hay FBI có thể làm trong sự nghiệp của anh mà có thể khiến anh lo lắng vậy.

    Cô nhún vai – dù sao thì cũng nhúc nhích vai nhiều nhất mà cô có thể trong lúc cô đang bị ấn chặt vào một bên hông nhà thế này, và nói “Không, chả có ích gì khi than vãn và viện cớ này nọ cả. Dù sao thì cuối cùng trách nhiệm vẫn cứ đổ lên đầu tôi thôi.”

    Anh nhìn cô một lúc lâu một cách đánh giá khi anh buông tay khỏi cổ cô, và sau đó lướt cái nhìn cảnh giác của anh sang hướng khác. “Lùi lại về phía hàng hiện đi. Nếu tên bắn tỉa có thể luồn ra hướng khác để thay đổi góc bắn, chúng ta hoàn toàn bị lộ ra ở đây.”

    Cô nhìn quanh và nhìn thấy những bậc thang dốc để đi lên hàng hiên ở phía sau cô chỉ cách vài mét. Những gì anh nói rất có lý, vì vậy cô di chuyển nhẹ nhàng trong tư thế khom người xuống về phía những bậc thang, và bước lên chúng và đi vòng quanh để đi đến phía mặt tiền của ngôi nhà. Anh đi ngay phía sau cô, canh chừng phía sau họ trong khi cô để mắt đến phía đằng trước.

    Anh nói, “Bất kì ai hiểu được logic học đều biết rằng di chuyển ngang qua khoảng sân trống đó là đi vào chỗ chết.”

    Anh đang cố gắng để xoa dịu cô, và cô hơi cảm động vì sự chu đáo của anh, “Uhm, TPTB không phải lúc nào cũng có hiểu biết về logic học.”

    Có một sự im lặng ngắn ngủi phía sau cô, “TPTB?”

    Giờ thì đến lượt cô nhìn anh một cách không chắc chắn. Cô đã sử dụng một cụm viết tắt thông dụng, đã được biết đến từ lâu. “The Powers That Be” (những người nắm giữ quyền lực) , cô giải thích một cách thận trọng và thêm “Một lối viết tắt trên mạng.”

    “Hiểu rồi. Tôi không hiểu lắm về những thứ liên quan đến Internet; dù vậy thì những người làm việc với những vụ án liên quan đến vị thành niên cần bắt kịp với những gì đang thịnh hành.”

    Cuộc sống của cô đã quá gắn bó với những chiếc máy tính khiến cô không thể tưởng tượng ra việc hoàn toàn thiếu đi sự tương tác với chúng, nhưng mặt khác cô lại ghen tị với sự tự do mà anh có được khi không phải phụ thuộc như vậy. Và sau đó cô rùng mình khi nhận ra một sự thật là trong khi cô còn thực hiện nhiệm vụ này, cô nhất thiết phải tự do như anh. Cô không thể bị quản lý qua máy tính, và cô không có cách nào để liên lạc với thượng cấp của cô mà không tự bản thân trở về căn cứ. Lúc đầu sự thiếu vắng những ràng buộc này đã khiến cô lo lắng nhưng vài phút sau khi ai đó bắn vào cô, quan điểm của cô đã thay đổi một cách đáng kể.

    Nếu cô đã không thể bị quản lý, cách duy nhất để tên bắn tỉa biết cô đang ở đâu là theo dõi cô. Nhưng tại sao hắn ta không bắn cô trước đây, khi cô còn đang ở một mình? Hoặc khi cô đang đi bộ ra xe của mình từ phòng nghỉ của cô? Tại sao lại là ở đây và bây giờ?

    Âm thanh của những chiếc còi báo của cảnh sát vang lên từ phía xa đã ngắt ngang luồng suy nghĩ của cô, nhưng cô biết là chẳng sớm thì muộn cô cũng sẽ quay lại với chúng, phân tích tất cả những yếu tố liên quan và những khả năng có thể xảy ra cho đến khi có được giả thiết nào đó hợp lý.

    Đội kị binh đến trong đội hình của 6 chiếc xe tuần tra lướt vào trên những chiếc bánh xe phanh rít lại, theo sau bởi một chiếc xe thùng được trang bị chẳng khác gì một chiếc xe tăng. Cánh cửa đôi của chiếc xe mở tung ra và một đội hình gồm 6 người đàn ông vạm vỡ, cùng mặc đồng phục màu xanh thẫm và được vũ trang đến tận chân răng leo ra.

    “Một đội SWAT?” (viết tắt cho special weapons and tactics – đội đặc nhiệm) cô nói một cách ngạc nhiên, “Anh nói là một đội kị binh, chứ không nói là một đơn vị vũ trang hạng nặng.”

    “Họ không được hành động nhiều lắm, vậy nên tôi đoán họ cần duỗi chân duỗi tay một chút.” Anh nói một cách dễ dàng, “Bên cạnh đó, họ quý tôi mà.”

    Cô hừ khẽ, nhưng không trả lời khi đột nhiên họ bị bao vây bởi những cảnh sát viên, tất cả đều nắm chặt vũ khí trong tay và hét vào tai cô các mệnh lệnh. Một cách muộn màng, cô nhận ra là tất cả các loại vũ khí kia đều đang chĩa vào cô và cô nhanh chóng nói, “Đặc vụ liên bang đây,” trong khi cô từ từ giơ tay đang cầm súng lên cao quá đầu và tay kia thì nâng miệng ví lên để họ có thể thấy được chiếc phù hiệu.

    Những khẩu súng lập tức được hạ xuống, nhưng chẳng có lời xin lỗi nào được đưa ra và cô cũng không hi vọng mình nhận được chúng. Nếu cô dám thừa nhận với bản thân, cô có thể thông cảm với phản ứng đó; những cảnh sát viên đã làm đúng chức trách của mình.

    “Đây là đặc vụ Stover,” Davis nói, “Chúng tôi đang ở phía sau ngôi nhà và có kẻ nào đó đã bắn vào cô ấy từ phía hàng cây đằng kia.”

    “Anh có chắc là hắn nhắm vào cô ấy không?” một cảnh sát viên hỏi.

    “Có vẻ như là vậy, nếu xem xét đến góc độ của viên đạn. Nếu không thì tên này hẳn phải là một xạ thủ cực tồi.”

    Davis bước ra xa vài mét với các cảnh sát viên, thì thầm nói chuyện với họ. Nikita đứng nguyên tại chỗ, bị cô lập hoàn toàn và cố gắng không để điều đó làm phiền cô. Cô là người ngoài ở đây, những người này làm việc với nhau hàng ngày. Nhưng cuộc sống của cô rõ ràng đang trong trạng thái bị đe dọa và cô không những muốn được tham gia vào, mà cô còn cần đi trước họ ít nhất là nửa bước.

    Trước khi khu vực này được đảm bảo an toàn, sẽ thật là dại dột nếu bước ra khỏi sự an toàn của nơi này, vì vậy cô bị buộc phải ở lại trên hàng hiên. Cô bước vài mét xung quanh khu vực để tìm chiếc túi cá nhân của cô, và lấy ra một chiếc di động nhỏ từ ví của mình và nhấn một loạt số. Những con số này là ngẫu nhiên và chẳng để liên hệ đến ai cả, vì không đời nào cô có thể báo cho thượng cấp của mình tình trạng của cô. Nếu những gì cô nghi ngờ là đúng, một trong những người đó có thể đã phá hoại nhiệm vụ này, và cô không thể liên lạc với họ dù cho việc đó có trong tầm tay của cô.

    Nhưng tại sao lại có người muốn tấn công cô chứ? Việc cô giải quyết được vấn đề này sẽ đem lại lợi ích cho tất cả mọi người mà. Điều đó không hề có lí một chút nào, nhưng mặt khác cũng có rất nhiều vụ ngay từ ban đầu đã là vô lý rồi.

    Một cảm giác sợ hãi bắt đầu cuộn lên trong cô và cô đấu tranh để làm dịu nó đi. Dù cho cô có một mình, bị cô lập khỏi bất kì sự hỗ trợ nào thì sao chứ? Ai đó đã mắc sai lầm về chiến thuật khi để lỡ phát đạn đó và giờ thì cô có lợi thế vì đã được cảnh báo trước.

    Cô lấy một bản ghi nhớ điện tử từ trong túi mình ra, đặt nó lên lan can của mái hiên và bắt đầu ghi chú trực tiếp lên màn hình. Liệt kê mọi thứ bằng cách viết ra cụ thể luôn giúp cô gắn kết được các sự kiện thành một tổng thể, và bên cạnh đó, cô cũng cần phải làm gì đó thay vì đứng đờ ra một cách vô dụng.

    Thứ nhất: cô đã chọn nhà nghỉ một cách tình cờ, vì vậy cô phải bị theo dõi từ khi cô đặt chân đến vùng đất này.

    Thứ hai: nếu là vậy, tại sao kẻ tấn công cô không bắn cô ngay lúc cô vừa đến, mà lại phải đợi đến tận hôm nay? Hoặc là đột nhập vào phòng nghỉ của cô đêm qua và sát hại cô? Cô đã không đề phòng vào lúc đó, nhưng giờ thì cô đã cẩn thận hơn.

    Thứ ba: không có nhiều nhà nghỉ ở Pekeville lắm, vì vậy việc xác định vị trí của cô có thể khó đến mức nào chứ? Có lẽ điểm đến chính xác của cô không được biết tới, nhưng thay vào đó tên này đã có thể kiểm tra tất cả các nhà nghỉ, tìm thấy chiếc xe cô đã thuê, và theo cô đến một nơi vắng vẻ hơn.

    “Cái kiểu chữ gì mà kì lạ thế?” một giọng nói quen thuộc cất lên khi thanh tra Davis đi về phía cô và liếc xuống những ghi chú của cô. Anh ta vươn tay ra và lấy bản ghi nhớ ra khỏi tay cô và xem xét nó, lật qua lật lại để nhìn thật kĩ.

    “Một loại kí tự viết thảo mà tôi tự tạo ra để ngăn những người đàn ông tọc mạch đọc qua vai tôi ấy mà,” cô nói một cách trơn tru dù một nụ cười vẫn mấp mé trên môi cô. Cô nháy mắt với anh ta, “Anh có nhìn thấy người đàn ông tọc mạch nào quanh đây không?”


    “Tội danh được thành lập,” anh nói, nhưng chẳng có vẻ hối cải chút nào. “Dụng cụ này nhìn hay đấy. Có lẽ là liên bang đã có đủ kinh phí để mua những đồ chơi cao cấp như thế này cho nhân viên của họ.”

    “Tôi cũng đoán là vậy,” cô nói.

    Anh dựa người vào một chiếc cột và nói, “Cô có ý tưởng nào về ai đó muốn cô chết chưa? Không tính đến một khả năng rất nhỏ là cô đã ở sai địa điểm và vào một thời gian sai lầm khiến đó là một phát đạn ngẫu nhiên, ai đó đã bắn mà không có góc ngắm tốt lắm. Đây không phải là mùa săn huơu nhưng mọi người không phải lúc nào cũng tuân thủ luật pháp đúng không?"

    Khu vực này chắc chắn có thể được gọi là vắng vẻ, dù nó nằm ngay ngoài thành phố. Và mọi việc đôi khi cứ xảy ra thôi, không có lí do nào để giải thích cả.

    “Tôi thích nghĩ rằng đây chỉ là một vụ tai nạn, nhưng tôi không thể dể bản thân tin vào nó,” cô nói một cách hối tiếc. “Một đặc vụ khác đã bị sát hại trong khi đang thực hiện nhiệm vụ này; chúng tôi nghĩ rằng anh ta đã đến gần với tên giết người, nhưng giờ tôi phải cân nhắc khả năng là nhiệm vụ của anh ta đã bị phá hoại.”

    “Có nghĩa là ai đó trong văn phòng của cô đang làm việc với tên giết người để loại bỏ các vị thẩm phán và luật sư mà họ nghĩ rằng đang làm việc cho thế lực đen tối sao?”

    “Có rất nhiều kẻ như thế mà,” cô nói một cách trung lập. Thế lực đen tối? Từ này thật kì quặc nhưng nó khiến cô thấy thích. “Vậy còn vị luật sư đã từng sống ở đây thì sao? Ông ấy là người thế nào?”

    “Một người khá tốt, đối với vị trí là một luật sư. Ông ta không nhận nhiều vụ án hình sự lắm, mặc dù ông ấy cũng nhận một vài vụ nhỏ. Hầu hết là ông ta nhận những vụ tranh chấp tài sản, li dị, di chúc, kiểu như vậy. Tôi không thể nói là ông ta thu hút nhiều sự chú ý lắm.”

    “Vậy là giả thiết về “thế lực đen tối” tan tành.”

    “Nhưng cũng còn góc độ khác nữa. Vụ sát hại ông Allen có thể không liên quan gì đến những vụ án mà cô đang theo đuổi. Nhưng dù ai đã sát hại ông ta thì hắn cũng đã rình rập quanh đây, có lẽ đã theo dõi ngôi nhà vì một lí do nào đó, và khi hắn nhìn thấy cô lang thang quanh đây, hắn đã bắn cô.”

    Giả thiết đó có lẽ hợp lí hơn cái giả thiết “tai nạn vẫn hay xảy ra”. Những kẻ giết người vì một lí do nào đó thường loanh quanh ở khu vực hiện trường gây án, có lẽ bởi vì hầu hết bọn chúng đều không được thông minh cho lắm. Ngoại trừ…..”Vậy tại sao hắn không bắn anh? Anh là một mục tiêu lớn hơn.”

    “Đó là vấn đề,” anh thừa nhận. “Nhưng cho đến khi chúng ta bằng cách nào đó có thể chứng minh được chuyện gì đang diễn ra, thì sẽ an toàn hơn cho cô khi rời khỏi thành phố và không nói cho ai biết cô đang đi đâu. Tôi nhìn thấy cô đã nói chuyện trên điện thoại; cô đã báo cáo việc này à?”

    “Không. Tôi đã kiểm tra một file mềm.”

    “Người ta sẽ không ghi lại những gì cô đã kiểm tra à?”

    “Sẽ có nếu ai đó biết phải tìm bản ghi nhớ đó ở đâu.”

    “Hoặc là họ sẽ lấy được bảng kê các cuộc điện thoại trên máy di động của cô. Nghe này, tôi biết cô là đặc vụ liên bang và có nhiều nguồn hỗ trợ hơn chúng tôi ở đây, nhưng nếu ai đó đã cố gắng sát hại cô, thì bằng cách nào đó vụ của ông Allen phải có liên quan đến vụ ám sát ở Wichita, và ai đó trong văn phòng của cô đã có liên quan, và điều tốt nhất mà cô có thể làm là biến mất một thời gian. Những khả năng đó là nhỏ bé, và cô không thể chỉ dựa vào may mắn của mình được.”

    “Tôi cũng không thể bỏ đi vào lúc này mà không biết kẻ nào đứng sau vụ này được.”

    “Có nghĩa là cô sẽ ở lại đây.” Anh nói như một lời tuyên bố, không phải một câu hỏi.

    “Tôi sẽ, trừ khi anh tống cổ tôi ra khỏi thành phố.”

    “Được rồi. Vậy tôi sẽ xem có cách nào để cô khó bị tìm thấy khi ở lại đây không.”

    Sự chấp nhận quyết định của cô một cách dễ dàng từ phía anh ta đã khiến cô hơi choáng váng, và khiến một cảm giác kì lạ hơi cuộn lên trong dạ dày cô. Cô nheo mắt lại nhìn anh ta, nói: “Tại sao anh chấp nhận dễ dàng thế? Tôi biết là lực lượng cảnh sát địa phương rất khó chịu với việc để FBI dính mũi vào vụ của họ.”

    “Ồ, thì nó chỉ là bản chất con người tôi thôi, “anh mỉm cười nói “tôi yêu những điều huyền bí đáng để khám phá mà.”
     
  11. stampit

    stampit Mầm non

    Thanks bạn nhiều ... ngày nào cũng có chap mới để đọc hết :)
     
    Nguyễn Hằng thích bài này.
  12. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Hic, hôm nay mình tranh thủ post hai chap, vì cuối tuần này mình có việc về quê nên không post được ^^ Cảm ơn mọi người đã ủng hộ ^^
     
    NHTB, lynx, Ly Thy and 1 other person like this.
  13. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 6

    Đội SWAT và các cảnh sát viên lục soát dọc theo hàng cây phía sau ngôi nhà của Allen và tìm thấy nơi mà có lẽ tên bắn tỉa đã đứng, được chỉ ra bởi những chiếc lá dập nát và một cành cây thấp là đà rõ ràng được dùng làm nơi đặt báng súng, nhưng bản thân hắn thì đã bỏ đi từ lâu. Họ đã tìm ra hướng bắn bằng cách khá đơn giản là chọc một chiếc bút chì vào lỗ đạn trong ngôi nhà; vì viên đạn bay theo đường thẳng từ một khoảng cách gần, chiếc bút chì có thể chỉ ra một cách chính xác góc tác động và chỉ ra nơi mà kẻ nổ súng đã đứng.

    Nikita đứng ở nơi mà tên bắn tỉa đã đứng, Knox Davis ở bên cạnh cô, và quan sát góc mà cô và Knox đã cùng đứng. Từ góc này, Knox đứng bên trái còn cô đứng bên phải, đối mặt với anh. Viên đạn đã sượt qua rất gần đằng sau cô, găm thẳng vào tường. Nếu Knox là mục tiêu, phát bắn đã cách mục tiêu đến hàng chục cm; giả sử như tên bắn tỉa này không hề có bất kì chứng chỉ nào trong môn thể thao bắn súng; chắc chắn tên này đã nhắm vào cô.

    “Chết tiệt thật,” cô lẩm bẩm.

    Lông mày anh nhướng lên “Chết tiệt cái gì?”

    “Tôi ước gì anh đã là mục tiêu.”

    “Trời đất, cảm ơn nhiều nhé.”

    “Anh biết tôi có ý gì mà. Nếu ai đó ngắm bắn anh, lí do có thể khá rõ ràng. Anh sống quanh vùng này. Có thể anh đã khiến ai đó bực mình. Có thể bất kì ai đã ám sát ông Allen muốn dừng cuộc điều tra này lại.”

    Thay vì thế, cô đã mất đi hi vọng cuối cùng về việc nhiệm vụ của cô không bị phá hoại. Cô đã thực sự hoàn toàn cô độc, bị tách rời khỏi bất cứ sự viện trợ nào vì cô không biết có thể tin được ai. Cô thậm chí không thể quay về tổng bộ, mà biết những thông tin mà cô biết và mang theo một lời cảnh báo; cô gần như chắc chắn sẽ bị tiêu diệt trước khi có thể thông báo được thông tin quan trọng đó.

    “Tôi đã suy nghĩ về tình huống này,” anh ta nói, túm lấy cánh tay cô và đẩy cô về phía ngôi nhà. Anh ta dùng lực khá nhẹ nên cô đã bước được một vài bước trước khi nhận ra anh ta đang làm gì. Cô vẫn chưa sẵn sàng rời khỏi hiện trường – thực ra, cô đã hi vọng sẽ có một vài phút riêng tư để có thể quét cả khu vực này để tìm một vài mẫu DNA còn sót lại – nhưng giờ thì cô không thể thực hiện cuộc điều tra đó mà không khiến anh ta chú ý, có nghĩa là cô không thể có những phút riêng tư mà cô cần.

    Anh ta khá giỏi, cô nhận ra. Cách tiếp cận một cách lặng lẽ và thân thiện đó khiến mọi người không đề phòng. Cô có lẽ đã không đủ tỉnh táo trước anh ta để nhận ra điều đó nếu như cô không nhìn thấy sự lạnh lẽo trong mắt anh ta khi lần đầu anh ta nhìn thấy cô đi loanh quanh ở hiện trường vụ án “của anh ta”, hoặc không bị cánh tay anh ta găm vào tường để ngăn cô không tự hành động một mình. Cô cần anh ta, nhưng cô cũng cần phải cẩn thận với anh ta.

    “Cô có nghe tôi nói gì không đấy?” Anh ta hỏi một cách hơi khó chịu.

    “Nghe cái gì cơ? Anh chưa nói tiếng nào kể từ khi anh thông báo về việc “nghĩ về tình huống này”.”

    “Cô nhìn cứ như thể đang du lãng ở tận đâu ấy.” Anh giải thích.

    Anh nghĩ cô trông bình thản? Dù vậy cô hiểu ý anh muốn nói là gì, và từ tốn đáp lại “Tôi đang suy nghĩ.”

    “Cô có thể vừa suy nghĩ vừa lắng nghe cùng một lúc được không?”

    “Chắc chắn rồi. Phụ nữ là những tạo vật đa chức năng kì diệu của tạo hoá mà.”

    Anh tặc lưỡi và hướng cô đi quanh một gốc cây đổ mà cô có thể dễ dàng bước qua. Cô đã đọc rằng đàn ông phương nam hơi có xu hướng bảo vệ, vì vậy cô chấp nhận sự giúp đỡ không cần thiết đó.

    “Cô có thể ở lại nhà của tôi,” anh nói và nâng một tay lên ngăn lại ngay khi cô mở miệng định từ chối lập tức. “Nghe tôi nói hết đã. Tôi sẽ chuyển vào khách sạn phục vụ ăn sáng Starling (bed-and-breakfast là khách sạn cung cấp chỗ trọ và phục vụ miễn phí bữa sáng), nói với mọi người rằng ngôi nahf cần được mắc lại dây điện hoặc cái gì đó tương tự. Không người hàng xóm nào lại đi kiểm tra cả, hoặc suy nghĩ về việc nhìn thấy ánh điện trong nhà vì tôi thường đỗ xe trong nhà để xe. Tôi dù sao cũng không thường ở đó, vì vậy chuyện đó không nghiêm trọng lắm đối với tôi.”

    “Trừ những chi phí tài chính.” Làm thế nào mà cô có thể giải quyết việc này được chứ? Cô không thể trả lại tiền cho anh, thật ra không biết liệu cô có thể nhận được bất kì khoàn tiền nào hay không. Tiền mặt mà cô có có lẽ có thể giúp cô giải quyết vấn đề trong lúc này.

    Anh xua xua tay vẻ không quan tâm. “Đừng lo về chuyện đó. Cô có thể trả lại cho tôi sau.”

    Đề nghị này, dù cho có hào phóng một cách kì quặc, vẫn cứ khiến cô bận tâm. Tại sao anh ta lại đề nghị cho mượn nhà của mình trong khi họ vừa mới gặp nhau, trong một hoàn cảnh không được tốt đẹp cho lắm? Họ không phải là bạn bè với nhau. Hơn thế nữa, theo kinh nghiệm của cô, những nhân viên cảnh sát thường khó nhằn và đa nghi hơn bất cứ người dân nào khác.

    Câu trả lời khiến dạ dày cô cuộn lại. Anh ta đang nghi ngờ – nghi ngờ cô. Anh ta muốn cô ở chỗ mà anh ta có thể trông chừng được trong khi anh ta kiểm tra những gì cô nói, anh ta có thể đã gọi một cuộc điện thoại để bắt đầu quá trình kiểm tra đó.

    Một cách bình tĩnh, cô kéo tay cô ra khỏi cái nắm tay của anh ra trong khi cô bước vòng quanh một thân cây; sau đó cô chờ anh ta và lại trở về vị trí bước song song với anh ta. Sự tự nguyện bước bên cạnh anh ta có thể khiến anh ta ít nghi ngờ hơn về động cơ của cô, nhưng giờ thì tay cô đã được tự do nếu cô cần có hành động gì đó bất ngờ.

    Cô suy nghĩ điên cuồng, cố gắng quyết định cách tốt nhất để làm việc với anh ta là gì. Anh ta rất quan trọng đối với nhiệm vụ của cô; kế hoạch của cô ngay từ đầu đã là tiếp xúc với chỉ huy của đội điều tra địa phương, nhưng cái cách mà anh ta tìm thấy cô đi lòng vòng quanh hiện trường đã khiến cô giật mình và bắt đầu một cách sai lầm, và kể cả việc cô bị bắn cũng chẳng thuyết phục được anh ta rằng cô là một trong những người tốt của vụ này.

    “Tôi không biết phải làm gì,” cuối cùng cô thú nhận, “Tôi, à…, đây là nhiệm vụ đầu tiên của tôi, và mọi việc đã diễn ra quá xa so với những gì tôi phỏng đoán, có lẽ cả sự nghiệp của tôi sẽ kết thúc tại quầy lễ tân nếu tôi làm hỏng vụ này.”

    Biểu cảm trong mắt anh ta, thay vì mềm hoá, lại trở nên cứng rắn hơn. “Một người mới lại được giao một nhiệm vụ như thế này à?”

    “Chỉ là công việc sưu tầm thôi mà,” cô nói, nhìn thẳng về phía trước. “Chẳng ai nghĩ là tôi sẽ thu thập được bất kì cái gì quan trọng cả.”

    “Vậy tại sao lại cử cô đến đây? Và còn hơn thế nữa, tại sao lại cố giết cô, vì chắc chắn như thế sẽ bứt dây động rừng.” (ở đây Knox dùng thành ngữ “Let the cat out of the bag” có nghĩa là bứt dây động rừng.)

    Mèo á? Cô nhanh chóng liên kết các hàm ý của câu mà anh nói và quyết định ý nghĩa chính của câu nói. “Tôi cũng không biết,” cuối cùng cô cất lời, “tôi cũng không thể hiểu được chuyện đó. Tôi chỉ đang làm những công tác điều tra cơ bản nhất thôi, thu thập tư liệu sơ bộ và gửi nó đến Quantico để được nghiên cứu kỹ hơn.” Đó là sự thật, hay cũng là cái gần nhất với nó.

    “Vậy là cô đã nhìn thấy gì đó, tra hỏi ai đó, và làm lộ ra một mảnh ghép rất quan trọng của vấn đề.”

    “Tôi chẳng thể nghĩ ra được gì, và chắc chắn là không có gì tôi tìm ra mà lực lượng điều tra địa phương không phát hiện ra rồi.” Cô lắc lắc đầu, và nói. “Quay trở lại chủ đề ban đầu đi, tôi cảm thấy rất bất tiện khi ở lại nhà anh.”

    “Dù cho tôi không có ở đó?”

    “Dù cho ---“ cô nói một cách chắc chắn, “Đó cũng chỉ là một giả thiết mà thôi.”

    “Không phải đối với tôi. Như tôi đã nói, tôi không ở lại đó nhiều lắm. Tôi phải làm việc nhiều giờ liền, và ngôi nhà chủ yếu là nơi để ngủ trong vài giờ.”

    “Anh chưa kết hôn à?”

    “Chưa.” Một nét biểu cảm lướt qua mặt anh, quá nhanh đến nỗi cô không thể đọc được nó. “Những nhân viên điều tra khác thì rồi, vì vậy tôi để họ có được nhiều thời gian với gia đình nhất có thể.”

    Anh ta thật là tốt bụng, cô nghĩ. Nói tóm lại, anh ta dường như một người rất tốt. Đa nghi, nhưng tốt bụng.

    Họ đến ngôi nhà và cô dừng lại, nhìn quanh ngôi nhà đẹp đẽ và khung cảnh tuyệt vời ở xung quanh. Những cái cây đang xanh tươi mơn mởn, và những đoá hoa đầy màu sắc nở rộ trên những bồn hoa được cắt tỉa kĩ càng xung quanh nhà.

    “Viên đạn đã được phát hiện ra chưa?” cô hỏi, chỉ vào cái lỗ trên ngôi nhà. “Sẽ rất thú vị khi tìm ra phân tích đạn đạo có khớp hay không.”

    “Khớp với cái gì?” anh ta hỏi.

    "Đương nhiên là với viên đạn đã giết chết ông Allen rồi.”

    “Ồ, phải rồi, với cái đó.”

    Những bằng chứng rõ ràng cho thấy rằng anh ta đã không tin cô, Nikita nghĩ. Cô biết là Taylor Allen không bị bắn, nhưng chi tiết đó đã không được thông báo với giới truyền thông. Cô đã gợi ý với Knox nhưng anh ta vẫn không hề tiết lộ cho cô thông tin về ngọn giáo.

    Cô cảm thấy nhụt chí, mặt trời đã lên cao và vô cùng nóng bỏng, và cô muốn được đứng trong bóng râm. Quay trở về mái hiên trước, cô ngồi xuống trên một trong những chiếc ghế làm bằng cây liễu gai màu trắng. Phần thân ghế bằng vải sọc xanh trắng nâng lấy cô, bao bọc cô làm cô cảm thấy vô cùng dễ chịu. Đây là một ngôi nhà được chăm sóc rất cẩn thận và đầy tự hào, cô nghĩ khi lấy chiếc máy ghi chú cá nhân ra và bắt đầu ghi chú thêm.

    “Tôi cho rằng bà Allen đã bị điều tra,” cô nói một cách lơ đãng khi chiếc bóng tạm thời của cô dựa người vào thanh chắn của hiên nhà trước mặt cô, bắt chéo chân và đứng một cách lười nhác ở đó.

    “Bằng chứng ngoại phạm vô cùng chắc chắn. Bà ấy đã ở với bạn bè. Tôi vẫn đang tìm những bằng chứng cho việc đây là một vụ mà kẻ ám sát đã được thuê.”

    “Giá trị bảo hiểm nhân thọ của ông ta lớn chứ?”

    “Đủ lớn.”

    “Có người đàn ông thứ ba nào không?”


    “Nếu có thì tôi vẫn chưa tìm ra người nào cả.”

    Cô cắn cắn môi, “Liệu có thể là một người đàn bà không? Tình nhân của ông ta, không phải của bà ấy. Dù cho của bà ấy cũng là một khả năng.”

    “Lần nữa, tôi chẳng tìm thấy gì cả. Họ có vẻ là một cặp đôi hạnh phúc.”

    “Chẳng hạnh phúc lắm đâu, nếu như bà ta thuê người giết ông ấy.”

    “Chỉ là một manh mối mà tôi đang lần theo thôi, một trong số khá nhiều. Dù vậy thì cô mới khiến cho chúng rối tung lên đấy.”


    “Không cố ý mà.” Cô ngửa đầu ra sau và nhìn anh chăm chú, để ý thấy nét thông minh bình tĩnh trên khuôn mặt góc cạnh của anh. Có lẽ là di sản của người Celtic, cô nghĩ, khi nhớ ra rằng khu vực này của đất nước đã tràn ngập những người lai Scotland và Ireland từ trước cuộc nội chiến và không thay đổi nhiều lắm trong vòng 2,5 thế kỉ sau. Khuôn mặt sắc cạnh với gò mà cao và cái cằm nhọn đó có thể được tìm thấy trong hình dáng khuôn mặt của hàng trăm người trong những bức ảnh cũ được bảo tồn một cách cẩn thận.

    “Cô đến từ đâu vậy?” anh hỏi một cách đột ngột, “Tôi không thể nhận ra ngữ điệu đó là đến từ đâu.”

    Và thật đáng ngạc nhiên nếu anh có thể, cô nghĩ một cách hài hước. “Nguyên gốc là từ Florida, nhưng tôi học đại học tại bang Washington, và tôi đã làm việc ở vài bang khác nhau.” Một lần nữa, đây cũng là sự thật, nhưng lần này thì là sự thật hoàn toàn.

    “Điều đó có thể tạo nên sự thay đổi lớn đấy.”

    “Thì đúng vậy mà,” cô đông ý, “Thế còn anh thì sao?” Anh ta là người đã hỏi câu hỏi riêng tư trước, vì vậy cô cảm thấy mình cũng có quyền hỏi lại một câu tương tự.

    “Tôi đã sống ở đây từ khi tôi là một đứa trẻ, tôi được sinh ra ở Lexington, nhưng chúng tôi đã chuyển đến đây khi mẹ tôi qua đời.”

    “Tôi rất tiếc,” cô nói với vẻ cảm thông chân thành, “Chắc điều đó phải rất khó khăn với một đứa trẻ.”

    “Cũng khá khó khăn. Lúc đó tôi 6 tuổi.”

    “Bố anh có tái hôn không?”

    “Không cho đến khi tôi đã trưởng thành và đi xa nhà.”


    “Anh đã đi đâu?”

    “Nói chung là đi học đại học, nhưng ý tôi nói là tôi đã đủ trưởng thành để sống tự lập.” Giọng của anh nghe rất bình thường nhưng ánh nhìn của anh thì lại gắn chặt vào cô.

    Những câu thành ngữ và những cụm diễn đạt mang tính ám chỉ đang khiến cô lỡ lời, khiến cô khá thất vọng vì ngôn ngữ là lĩnh vực mà cô đã nghiên cữu nhiều nhất, cũng vô cùng thích thú với nó, và là lĩnh vực cô tự tin nhất. McElroy đã gặp phải trường hợp như thế này, nhưng sự mạo hiểm mà anh ta phải đương đầu đã được giảm đi một cách tối thiểu vì anh ta không có liên hệ gì với lực lượng điều tra địa phương, và thay vì như vậy anh ta đã cố gắng thực hiện nhiệm vụ một cách lặng lẽ nhất có thể. Có lẽ ý tưởng của anh ta là tốt hơn, nhưng giờ thì đã quá muộn cho cô cân nhắc về điều đó.

    “Tại sao cô không theo tôi về văn phòng của tôi nhỉ?” anh ta hỏi, “Chúng ta có thể xem qua những hồ sơ về vụ của Allen.”


    Bản năng của cô đấu tranh kịch liệt với sự tận tuỵ của cô giành cho công việc. Cô nghi ngờ rằng anh ta muốn cô ở gần cho đến khi anh ta nghe lại phản hồi từ yêu cầu xác nhận của anh ta về danh tính của cô, đó là trong trường hợp anh ta vẫn chưa làm vậy, tuy vậy cô vẫn cần xem những tài liệu đó. Cô quyết định mạo hiểm, và tin rằng cô có thể thoát khỏi bất kì khó khăn nào có khả năng xuất hiện.

    “Chắc chắn rôi,” cô nói. “Liệu chúng ta có thể dừng lại đâu đó mua đồ ăn không? Tôi đã bỏ mất bữa sáng.”

    Nếu cô ta là FBI, Knox nghĩ, mình sẽ ăn luôn cái huy hiệu của mình.

    Quần áo đúng chuẩn: bảo thủ, không quá sang trọng. Cô ta có kĩ năng rất tốt trong sử dụng vũ khí, và cô ta cũng thông minh, nhanh nhẹn. Hầu hết các nhân viên công lực không thích làm việc với đặc vụ liên bang, nhưng hầu hết những người Knox đã gặp đều là những người thông minh, nói chung là vậy. Những tên chết giẫm, một vài người trong số họ là vậy, nhưng là những tên khốn thông minh.

    Có lẽ là vì cô ta không cảnh giác cho lắm. Cô ta có một khuôn mặt cởi mở, thân thiện và một nụ cười rạng rỡ, nụ cười mời gọi người khác mỉm cười đáp lại, và cô ta rất thoải mái trong khi làm việc. Không đặc vụ liên bang nào mà anh biết thoải mái trong bất cứ vấn đề gì.

    Và sau đó là vấn đề trong giao tiếp. Một vài lần anh cảm thấy như thể là họ đang nói về những chủ đề hoàn toàn khác hẳn nhau, nhưng sau đó anh chú ý thấy điều đó chỉ xayra khi anh sử dụng khẩu ngữ hoặc thành ngữ, và cô ta thì hiểu những câu đó theo nghĩa đen. Mỗi một vùng trong đất nước đều có ngôn ngữ địa phương riêng, nhưng “mũ trắng” (thể hiện hành động anh hùng) thì không phải chỉ phổ biến ở miền nam. Mọi chuyện xảy ra như thể cô ta thậm chí không phải người Mĩ, nhưng là một ai đó đã học tiếng Anh – Mĩ một cách có mục đích như một ngôn ngữ thứ hai. Khả năng thứ hai này đã sự cảnh giác trong anh nằm trong tình trạng báo động.

    Cô ta có thể đến từ bất kì đâu; không có nét đặc trưng của một dân tộc nào mà anh có thể nhìn ra từ bên ngoài của cô ta. Cô ta có mái tóc nâu tối sáng bóng, được rẽ ngôi theo chữ V ngay trước trán, với đôi mắt nâu to tròn, một bờ môi đầy đặn và mềm mại, và cả những chiếc răng trắng chắc chắn là giống hệt một người Mĩ tiêu chuẩn. Những vòng nẹp răng, chất fluoride, sự chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ và những chuyến thăm nha sĩ đều đặn mới có thể tạo ra một hàm răng như thế. Cô tat rang điểm rất nhạt, và một vài lọn tóc được nhuộm khác màu được buông đều ở hai bên mái tóc được rẽ lệch của cô.

    Anh nghĩ cô không phải người Trung Đông hoặc Sla-vơ. Làn da cô có màu hơi sậm hơn và có lẽ cô là hậu duệ của những người có nguồn gốc Ý hoặc Tây Ban Nha, nhưng cô nằm trong số những người cao của chủng tộc đó.

    Điều mà anh có thể kết luận là, anh không thể xác định được bất cứ điều gì về cô, và điều đó khiến anh không thoải mái.

    Cô ngồi trong chiếc ghế đối diện với anh ngang qua bàn, chiếc ghế của cô được kéo lại gần để cô có thể sử dụng chiếc bàn để kê đồ. Anh chú ý rằng dường như cô đã hơi do dự khi cắn vào chiếc hamburger lần đầu tiên, cứ như thể là cô không chắc chắn lắm về vị của nó. Sau đó thì cô nhai miếng bánh một cách nhiệt tình hơn, nhưng cho đến tận khi anh cầm lấy một trong những thanh khoai tây chiên và chấm vào phần nước sốt cà mà anh đã đổ ra phần giấy bọc chiếc bánh, thì cô mới lặp lại y hệt hành động của anh.

    Cô chưa bao giờ ăn hamburger và khoai tây chiên trước đây. Suy nghĩ này vang lên trong đầu anh với một vẻ chắc chắn của một sự thông báo. Anh cố nghĩ ra một nơi nào đó trên thế giới, ngoài những quốc gia kém phát triển, mà McDonald’s chưa có một hoặc hai trụ sở. Làm thế nào mà cô lại chưa từng ăn hamburger cơ chứ, trừ khi cô đã được nuôi dạy như một người ăn chay hoàn toàn và cho đến tận ngày hôm qua mới thoát ra khỏi vòng kềm toả của những cây củ cải?

    “Cô nói là cô đến từ đâu nhỉ?”

    “Florida. Sarasota.” Cô lấy một thanh khoai tây chiên nữa và chấm nó vào nước sốt cà, rồi tống vào miệng. Cầm chiếc cốc lên và đưa ống hút vào miệng, cô hút một hơi dài nước Coca – thứ nước có đường, không phải loại cho người ăn kiêng được hâm mộ bởi hầu hết những người phụ nữ mà anh biết. “Mmmm, cái này ngon thật đấy.” Cô lẩm bẩm thoả mãn.

    Trong khi cô ăn, cô nhìn quanh văn phòng nhỏ xíu nhưng chật hẹp của anh như thể nó là một viện bảo tàng và cô bị hấp dẫn bởi những hiện vật tại đây. Anh thắc mắc không biết điều gì hấp dẫn cô nhất: đống giấy tờ, chiếc bàn sứt sẹo và cũ kĩ, chiếc ghế kêu rin rít của anh, hoặc có thể là những vết rạn trên khung cửa sổ chăng?

    Điện thoại của anh reo lên và anh nhấc máy. “Tôi là Davis đây. Được rồi.” Anh kẹp chiếc ống nghe giữa hàm anh và vai, đẩy chiếc ghế của anh lùi lại để anh có thể với tới ngăn kéo đựng tài liệu và kéo nó mở ra. Anh tìm thấy một file và rút nó ra. “Nó đây rồi.”

    Đặc vụ Stover – hoặc ai cũng được – đang tự làm mình bận rộn trong khi anh nói chuyện bằng cách đứng dậy và đi xung quanh văn phòng. Cô ta không thể đi quá xa, một vài bước chân theo mỗi chiều là hết, nhưng cô nhẹ nhàng chạm vào mọi vật với một đầu ngón tay, và sau đó chuyển đến những thứ khác. Anh quan sát cách cô ta đặt cái chạm nhẹ nhàng lên chiếc máy pha cà phê ố vàng 10 năm tuổi hiệu Mr. Coffee của anh, và sau đó chuyển sang tấm bảng dán những trát Truy nã.

    Anh nghĩ cô ta là một người ưa nhìn, nhưng cũng có thể cô ta có cái nhìn như thế nếu cô ta là một đặc vụ vừa ra trường và mới được bổ nhiệm. Anh quan sát hình dáng mông cô ta, được bó gọn và làm nổi bật lên bởi chiếc quần, và sau đó thì cảm thấy mình như một tên biến thái và nhìn sang chỗ khác. Vào giây sau thì anh quyết định làm một tên biến thái và lại quay lại nhìn, cuối cùng thì đó là một đôi mông đẹp.

    Một giọng nói gào lên trong tai anh và bắt anh quay sự chú ý lại với tài liệu đang đọc, nhưng anh vẫn duy trì sự chú ý sâu sắc với nơi mà cô đang đi và những hành động mà cô đang thực hiện. Và vì văn phòng của anh rất nhỏ nên việc đó là không hề khó.

    Cô quay lại bàn anh để cầm cốc Coca lên. Anh quan sát cách môi cô ngậm quanh ống hút nhữa, một hành động lập tức khiến anh có những rung động thể xác mãnh liệt khiến anh phải nhìn đi chỗ khác. Được rồi, giờ thì anh là một tên biến thái động dục. Có những rung động thể xác với một phụ nữ mà anh đang nghi ngờ là đóng giả một đặc vụ liên bang không phải là một hành động chuyên nghiệp và anh không thích điều đó.

    Cuối cùng thì anh cũng kết thúc cuộc trò chuyện của mình và gác điện thoại, và sau đó trả hồ sơ đang cầm về vị trí cũ trong ngăn đựng hồ sơ. Dựa người vào ghế, anh nói một cách dễ dàng “Tại sao cô không cho tôi biết cô thực sự đến từ đâu nhỉ?”

    Trong sự ngạc nhiên của anh, cô giành cho anh một nụ cười láu lỉnh “Tôi biết anh không tin tôi, nhưng tôi thực sự là một đặc vụ liên bang. “ Nhấc mặt trên của chiếc ví lên, cô lấy chiếc huy hiệu ra và đưa nó cho anh, và sau đó làm tương tự với thẻ cá nhân của cô “Một đặc vụ thật sự và nguyên bản của chính phủ liên bang. Tôi cho rằng anh đã yêu cầu có sự xác nhận rồi, liệu tôi có phải ở lại đây cho đến khi anh có được nó không?”

    “Nếu cô không phiền,” anh nói, một cách vô cùng lịch sự khi kiểm tra chiếc huy hiệu và chiếc thẻ. Chúng trông rất thật, nhưng một kẻ làm giả giỏi có thể thực hiện những công việc khá bất ngờ. Đối với vấn đề này anh phải cẩn thận, nếu cô thực sự là một đặc vụ liên bang, thì anh không muốn thực hiện một hành động sai lầm khi tước vũ khí của cô và đưa cô đến nơi tạm giam, điều mà có thể quẳng anh vào một đống rắc rối to đùng. Mặt khác, anh cũng không thể bỏ qua cô một cách tự động; anh cần phải kiểm tra cô, nếu không anh sẽ trở thành một tên cảnh sát tồi. Cuối cùng anh đưa chiếc huy hiệu và thẻ lại cho cô và cô đặt lại chúng vào chỗ cũ.

    “Vậy còn bằng lái xe của tôi?” cô đề nghị “Hoặc thẻ tín dụng? Anh có muốn xem không?”

    “Nếu cô không phiền,” anh nhắc lại, và cô thật sự bật cười khi cô mở ví và lấy cả hai chiếc thẻ ra, đẩy chúng ngang qua bàn.

    Anh xem chiếc bằng lái xe với phần dấu nổi ba chiều của nó, xem thật kĩ để tìm ra dấu hiệu của việc làm giả, và sau đó so sánh chữ ký ở cuối của nó với chữ ký ở đằng sau của thẻ tín dụng. Tất nhiên là chúng khớp nhau. Anh bắt đầu cảm thấy ngớ ngẩn, trong khi cô không những chỉ thư giãn, cô thậm chí còn cảm thấy thú vị.

    “Tốt,” anh nói khi trả lại những chiếc thẻ cho cô. “Giờ thì tôi không cảm thấy như thể tôi cần phải tước vũ khí của cô.”

    “Cố gắng tước vũ khí của tôi,” cô sửa, “Có điểm giới hạn khiến tôi dừng việc là một công dân tốt và trở thành một đặc vụ bị chọc giận đấy.”

    “Vậy thì đừng làm gì khiến tôi bối rối, và chúng ta sẽ làm việc chung một cách thuận lợi thôi.”

    Cô nhặt một thanh khoai tây chiên nữa lên. “Nếu tôi muốn bắn anh, tôi đã có thể làm thế vào sáng nay khi chúng ta chỉ có hai người, và vũ khí của tôi đã ra khỏi vỏ rồi.”

    “À, về chuyện đó.” Anh nói, “Cô đã có ý tưởng nào về việc làm thế nào mà vụ ám sát Taylor Allen lại có liên quan đến những vụ khác của cô chưa, và vì lí do gì mà một người trong văn phòng của cô rõ ràng đã để rò rỉ thông tin về vị trí của cô cho một kẻ bắn tỉa, người mà có thể là thủ phạm trong vụ này nhưng cũng có thể là không phải.”

    “Nhìn lướt qua thì tôi chẳng thể tìm thấy bất kì mối liên hệ nào giữa vụ của ông Allen và những vụ khác. Còn việc muốn tôi phải chết chẳng có lí chút nào. Cứ cho rằng tôi đúng là đã tìm ra điều gì đó đe doạ ai đó trong văn phòng của tôi, tôi cũng chẳng rõ là chi tiết nào nữa, và giết tôi chỉ đồng nghĩa với việc để ai đó có kinh nghiệm hơn nhận vụ này. Theo như tôi thấy thì giết tôi chẳng có ích lợi cho ai cả.”

    “Cô có vẻ khá bình tĩnh trong vụ việc này,”
    anh kết luận.

    “Vậy tôi có lựa chọn gì khác chứ? Tôi cho rằng tôi nên hoảng loạn và khóc ròng trên vai anh đúng không, nhưng điều đó có thể giúp ích gì cho tôi ngoài việc để lại một cái mũi bị tắc chứ?”

    Cô cũng không hề hoảng hốt khi bị bắn, anh nhớ lại. Anh thích sự vững vàng ở cô. Có rất nhiều điểm ở cô mà anh thích, bao gồm cả nụ cười thân thiện đó nữa. Anh chỉ ước rằng cái giấy xác nhận chết tiệt ấy có thể đến sớm để anh có thể cảm thấy đỡ hơn về việc thích cô. Cho đến tận khi đó, anh đã để cho sự cảnh giác của mình bị hạ thấp vừa phải chỉ đủ để không bước qua ranh giới của sự thiếu chuyên nghiệp.

    Điện thoại reo lần nữa và anh nhấc nó lên trả lời. Anh lắng nghe trong một lúc và nói “Cảm ơn.” Và gác máy rồi nhẹ nhàng rút khẩu súng từ trong bao đựng ra và chĩa vào cô. “Sử dụng hai ngón tay để rút vũ khí của cô ra, và đặt nó lên bàn rồi lùi lại.” Anh nói trong một tông giọng máy móc và vô cảm, “Cô đã bị bắt vì mạo danh một đặc vụ liên bang.”
     
  14. Carrot7411

    Carrot7411 Mầm non

    Truyện của Linda Howard luôn hấp dẫn. Cảm ơn bạn đã dịch.
     
    hoahuynh2011 thích bài này.
  15. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 7

    Trái tim Nikita đập thịch một cái và adrenalin nhanh chóng chạy đua trong huyết quản cô. Đây rồi; cô đã hi vọng rằng mọi việc sẽ không đẩy cô đến bước đường này, nhưng cô là một người thực tế và cô đã chuẩn bị trước mọi tình huống có thể xảy ra. Cô phải trở thành người có sức thuyết phục hơn bao giờ hết, hoặc cô sẽ bị nướng chín (thành ngữ Her ass is toast – nhưng Nikita nhớ nhầm thành Her ass is burnt.). Không, hình như không phải. Một từ dùng trong nấu nướng, nhưng không phải từ này. Đốt, nấu, nướng,….ồ, đúng rồi – Cô sẽ bị thiêu sống.

    Cái suy nghĩ ngớ ngẩn đó khiến cô bình tĩnh lại một chút. Không hề phản đối, cô tách vạt áo khoác của mình ra và sử dụng 2 ngón tay của bàn tay trái trong một tư thế kì lạ để lấy khẩu súng từ trong bao đựng ra. Cô đặt nó lên bàn, báng súng quay về một bên. Bàn tay to lớn của anh ta chụp lên khẩu súng và di chuyển nó ra xa khỏi tầm với của cô.

    “Cô có quyền giữ im lặng,” anh bắt đầu nói khi đẩy cô đứng lên và còng tay cô lại. Mẩu thép bập vào tay cô, rất chặt đến nỗi cô có cảm tưởng như xương của mình đã bị vặn xoắn vào nhau. Cô không thèm nghe lấy một lời anh nói khi anh tuyên bố quyền của cô; cô đã thuộc lòng những dòng đó từ lâu rồi.

    “Làm ơn hãy dốc hết đồ trong túi của tôi lên bàn của anh.” Cô nói một cách nhẹ nhàng và ngước nhìn anh. Anh vẫn đang đứng rất gần, túm chặt lấy cánh tay cô, quá gần khiến cô có thể cảm nhận được vô cùng rõ ràng hơi ấm cơ thể anh. Cảnh sát đã được đào tạo để sử dụng chính thân thể họ để kìm giữ và khống chế, để khoá chặt lấy tội phạm, những vòng siết mạnh mẽ làm tê liệt các nghi phạm bởi sự đau đớn của họ. Cô không hề có một hành động chống lại nào dù là nhỏ nhất, thực ra cô đã di chuyển thậm chí còn gần vào anh hơn, quá gần đến nỗi tóc cô chạm đến được vai anh. “Làm ơn.”

    Ánh nhìn của anh khắc nghiệt và không thân thiện, khuôn mặt của anh trở nên vô cảm, mọi dấu hiệu của sự dễ dãi đã biến mất, anh hỏi “Để làm gì?”

    “Có một vài thứ trong đó mà tôi muốn chỉ cho anh. Cứ còng tôi vào cái ghế hoặc cái bàn nếu anh lo là tôi sẽ cố bỏ trốn. Tôi hứa là tôi sẽ không, nhưng có thể là anh sẽ thấy bối rối đấy.”

    “Bối rối á?” anh hỏi, hơi cảm thấy khó hiểu và cô đã thu hút được sự chú ý của anh, “Sao tôi lại phải thế?”

    “Vì tôi đã được huấn luyện là anh sẽ không như vậy.” Có lẽ điều này có thể có tác dụng. Cô có thể nhìn thấy những tia sáng của sự hứng thú trong mắt anh.

    “Nếu cô là một đặc vụ FBI, tôi có thể tin điều đó.”

    “Tôi thật sự là một đặc vụ FBI, chỉ là không phải trong thời điểm này thôi.”

    “Có thể cô sẽ thuyết phục được một vị thẩm phán tin vào sự hoang tưởng của cô, nhưng tôi thì không. Họ không có bất kì một hồ sơ lưu nào về đặc vụ Nikita T. Stover, trước đây hay bất kì lúc nào.”

    “Tôi không nói “cựu”. Làm ơn đi, chỉ cần dốc hết mọi thứ trong ví tôi lên bàn anh đi. Tôi sẽ nói cho anh về mọi thứ nằm trong đó.”

    Trong một lúc cô đã nghĩ rằng anh sẽ từ chối, nhưng cuối cùng sự tò mò của anh đã chiến thắng. Anh không hề mạo hiểm chút nào, anh bảo cô ngồi xuống và dùng một chiếc còng thứ hai để cố định một cổ chân của cô vào chiếc ghế. Bị còng thì không quá thoải mái bởi cách mà nó kéo ngược vai cô về phía sau. Những tù nhân đã từng bị như thế này không cố giữ thẳng vai ra; họ xuôi một bên vai xuống và để cho chiếc còng trôi lệch về một bên tay, và giảm sức ép lên cả hai khớp xương vai một cách hiệu quả. Cô đã thử, và gần như đã thở dài nhẹ nhõm khi cơn đau lập tức dịu đi.

    Cầm chiếc ví của cô lên, anh đổ tất cả ra mặt bàn. Sau một lúc, anh nhíu mày nhìn vào bộ công cụ của cô “Những cái này là gì thế?”

    “Đầu tiên nhìn vào ví của tôi đã. Ở trong ngăn có khoá kéo có một chiếc thẻ, lấy nó ra và nhìn vào nó đi.”

    Anh kéo khoá của ngăn mà cô nói và lôi chiếc thẻ ra. Nó dầy hơn hầu hết những chiếc thẻ khác, có chiều dầy gần băng 3 chiếc thẻ công dân (tương đương chứng minh thư) chập lại, và khá là nhẹ, làm bằng hợp chất trong mờ và hầu như không thể phá huỷ được. Nó không thể bị đốt cháy, và bản thân cô đã thử cắt nó ra thành từng mảnh chỉ bởi vì họ nói nó không thể bị phá huỷ. Và họ đã đúng.

    Ở mặt bên trái có một dấu ấn bằng vàng với một con đại bàng ở trên cùng đã được khắc vào đó bằng la de, một dấu ấn tương tự nhưng không hoàn toàn giống với cái mà cô đã cho anh xem trước đây. Trên dấu ấn viết “Department of Justice” (Bộ hành pháp) ở cuối và “Federal Bureau of Investigation” (Cục điều tra lien bang) trên cùng. Những dòng chữ này không hề thay đổi, nhưng hình dạng của dấu ấn đã thay đổi, hơi tròn hơn, và con đại bàng nhìn hung dữ hơn. Ở mặt bên phải là một ảnh chụp ba chiều của cô, và ở dưới là tên và số hiệu của cô.

    “Tuyệt đấy,” anh nói, cầm chiếc thẻ và nghiêng nó đi để tấm ảnh 3 chiều sáng lên “Cái này thì chứng minh được cái gì chứ? Rằng cô biết ai đó có thể làm được ảnh ba chiều à?”

    “Thử phá huỷ nó đi,” cô nói “Cứ làm đi, thử mọi cách mà anh có thể nghĩ ra. Cắt vụn nó. Làm nó tan chảy. Đổ a xít lên nó. Và xem chuyện gì sẽ xảy ra.”

    “Tôi không mang theo a xít bên mình vào ngày hôm nay,” anh nói, nhưng cũng lấy một chiếc kéo từ trong ngăn bàn giữa của mình ra và thử cắt chiếc thẻ. Và sau đó anh thử một lần nữa, một ánh nhìn chăm chú xuất hiện trên mặt anh, “Cái này dầy hơn những chiếc thẻ bình thường.”, anh nói và ấn xuống bằng tất cả sức lực của mình.

    Chiếc đinh tán bắn tung ra khỏi chiếc kéo và hai nửa kéo rời ra trong lòng bàn tay anh.

    “Chết tiệt thật.” Anh nói một cách ngạc nhiên, và kiểm tra chiếc thẻ với vẻ thích thú hơn “Nó làm bằng gì vậy?”


    “Nếu tôi nói cho anh biết, tôi sẽ phải giết anh” Cô nói đùa. Khi anh không cười, cô nhún vai, “Tôi cũng không biết. Nó được gọi là Poly-di cái gì đó; tôi chưa bao giờ có đủ khả năng để phát âm nó. Tên thương mại của nó là Ondite, điều mà tôi hoàn toàn không có manh mối là sao lại thế. NASA đã phát triển nó cho các tàu vũ trụ vào khoảng 120 năm trước. Đại loại vậy.”

    Ánh nhìn của anh lại trở nên khắc nghiệt “Đừng có đùa với tôi nữa. Nếu câu chuyện vớ vẩn này là tất cả những gì cô muốn giải thích thì đừng có lãng phí thời gian của tôi nữa.”

    “Bởi vì NASA không tồn tại vào 120 năm trước? Nó không, nếu tình ngược từ thời điểm hiện tại. Giờ thì thử đốt cái thẻ đi.” Cô gợi ý, nghĩ rằng có lẽ anh cần được gợi ý và tin tưởng hơn chút nữa trước khi cô giải thích về NASA.

    “Tôi sẽ tin cô trong chuyện này,” anh nói, và quẳng chiếc thẻ lên bàn.

    Cô đang để mất sự tin tưởng của anh. Điều quan trọng là phải khiến cho anh tò mò đủ để tiếp tục lắng nghe cô. Anh nhìn như thể đã sẵn sàng tống cô vào nhà giam, vì vậy cô nói một cách vội vã, “Chiếc cặp màu bạc, mở nó ra đi.”

    “Tại sao cô không tiết kiệm thời gian cho bản thân và…”

    Đột nhiên sự kiên nhẫn của cô không con duy trì được nữa. Cô phải thuyết phục được anh ta, và không có nhiều thời gian để làm điều này. “Ôi, vì Chúa,” cô nói một cách tuyệt vọng “Tôi đến từ tương lại. Vào năm 2207, chính xác hơn. Tôi là đặc vụ Nikita Stover được gửi quay lại từ tương lai để bắt một tên sát nhân đã quay về từ thời đại của tôi để sát hại-------“

    “Anh không tin những gì tôi nói đúng không?”

    “Cô đang nói đùa đấy á?” anh nói một cách cợt nhả. Anh khoanh tay ngang ngực và rõ ràng đang đợi cô kết thúc.

    “Chiếc cặp màu bạc là một chiếc máy quét DNA. Tôi đã hi vọng có cơ hội quét được cánh rừng phía sau nhà ông Allen, nhưng anh đã theo tôi quá sát. Cứ tự nhiên, mở nó ra đi. Tôi chắc chắn rằng anh đủ thông minh để nhận ra công nghệ mà chưa tồn tại vào thời điểm này.”

    Khích tướng anh có lẽ không phải là hành động thông minh lắm, nhưng cô có thể làm bất cứ điều gì để tránh xa một nhà giam. Cô sẽ trở nên vô dụng ở đó, và nếu vị trí của cô bị phát hiện ra thì sẽ dễ dàng để có một cuộc tấn công nữa.

    “Nếu nó vẫn chưa tồn tại, vậy tại sao nó lại nằm ở đây?” anh hỏi, nhặt chiếc cặp lên và giơ về phía cô, cứ làm như thể là cô không biết điều đó từ trước vậy.

    “Tôi không nói là “chưa”, tôi chỉ nói là “vào thời điểm hiện tại thì chưa thôi. Có cả một trời khác biệt đấy.”

    “Tôi thì chả thấy gì cả. Tôi đang cầm nó mà.”


    “Được rồi, du hành thời gian khiến tôi bị rối loạn với cú pháp câu, được chưa.” Cô gắt lên “Anh có muốn bắt đầu một vụ cãi nhau về thì quá khứ và tương lai không đấy? Chiếc máy quét tồn tại tạm thời vào thời điểm này, nhưng khi tôi rời đi, nó sẽ đi cùng tôi và sau đó thì nó sẽ trở nên không tồn tại.”

    Một lần nữa cô lại nhìn thấy sự tò mò thấp thoáng trong biểu hiện của anh khi cô đề cập đến thì quá khứ và tương lai, thứ mà cô ghét nhất khi còn đi học. Du hành thời gian có thể khiến ngôn ngữ bị rối tung lên, khiến một người gặp khó khăn khi miêu tả mình dự định làm gì, cùng lúc đó thì anh ta đã sớm hoàn thành việc đó rồi. Nhưng cô không muốn thảo luận về ngôn ngữ với anh, cô muốn anh xem xét chiếc máy quét.

    “Phần nắp trên của cặp thật sự là một phần của chiếc máy quét.” Cô nói và hất đầu về phía chiếc cặp. “Nó được gập ngược về phía sau và nối liền với đáy chiếc cặp. Thiết bị sẽ không hoạt động trừ khi tất cả các phần đã được kết nối.”

    “Chẳng có cái lỗ nào trên phần nắp để kết nối cả,” anh chỉ ra, và một lần nữa xoay chiếc cặp về phía cô.

    Nikita đảo mắt. “Có đấy. Chúng được đóng lại cho đến khi anh chạm vào đúng nơi, làm thế để tránh bụi và các mảnh vụn không mong muốn. Anh có thể làm ơn chỉ mở cái thứ chết tiệt ấy ra được chứ?”

    Bờ môi anh hơi cong lên thích thú trước giọng gắt gỏng của cô. “Cô đang hơi vội vã đấy, cô Stover. Cô nên nhớ ai đang bị còng và ai không đấy nhé.”

    Cô nheo mắt lại, “Chỉ bởi vì tôi cho phép anh còng tôi để cho thấy thiện chí của tôi thôi.”

    “Nếu cô nói vậy,” trong khi nói anh vẫn đang nghịch ngợm chiếc máy quét, và giờ thì anh mở nó ra một cách từ từ và mở hẳn chiếc nắp trên ra, giữ nó gần sát mặt anh để anh có thể nhìn thấy bất kì một chiếc chốt bí mật nào bật ra. Nhưng khi hai bề mặt trên và dưới chạm vào nhau thì có một tiếng click nhẹ khi hai nửa của chiếc cặp khoá chặt vào nhau. Lập tức chức năng tự quét bắt đầu chạy, một loạt đèn có màu khác nhau nhấp nháy liên tục trên màn hình.

    Anh cố đẩy hai bề mặt đó tách nhau ra, nhưng một khi bộ phận nắp trên bị khoá lại, nó sẽ duy trì trạng thái như thế cho đến khi có người nhấn nút Thả.

    “Nam châm à?” Anh nhíu mày, hỏi.

    “Không. Tôi đã cho anh biết cách nó hoạt động rồi. Nhấn cái nút hình tam giác phía trên để nhả cơ chế khoá ra.”

    Anh quan sát bề mặt của chiếc máy quét, nhấn chiếc nút đặc biệt đó và ánh sáng tắt ngóm khi anh vừa rời tay khỏi bề mặt chiếc nút.

    Một cách im lặng, anh lại gập chiếc nắp trên ngược lại một lần nữa để nó chạm đến nửa dưới. Và một tiếng Click nhỏ vang lên và những ánh đèn lại xuất hiện khi chế đô quét tự động lại được khởi động.

    “Một thiết bị tuyệt vời,” cuối cùng anh cũng thốt ra, “Nó dùng để làm gì, ngoài việc trông rất ấn tượng ra?”

    “Tôi đã bảo anh rồi, nó là một máy quét DNA. Nó có thể nhận ra và phân tích một mẫu DNA. Nếu anh có tên trong ngân hàng dữ liệu, giống tôi, nó sẽ cung cấp cho anh tên, địa chỉ và bất kì tiền án tiền sự nào, cũng như nơi tôi làm việc, nơi tôi sinh sống, và những gen di truyền của tôi.”

    “Nó làm việc như thế nào?”


    “Nó đủ nhạy để phân tích DNA từ một mẫu tế bào da mà con người rải khắp nơi, và hướng chúng ta đến nghi phạm. Tiện tôi đang ngồi ngay trước mặt anh, anh sẽ không phải gặp nhiều rắc rối lắm. Để bắt đầu quá trình thu thập mẫu và phân tích, chỉ cần ấn nó vào da hoặc quần áo của tôi, và nhấn chiếc nút hình tròn màu xanh.”

    “Nhưng có thể cô đã lập trình bất kể thông tin gì cô muốn vào chiếc máy này, đúng không?” Mỉm cười, anh nhấn nó vào da anh và nhấn chiếc nút tròn xanh.

    Những ánh đèn sáng lên liên tục, và thông tin chạy liên tục trên màn hình 2x3 inch. Chếc máy quét sử dụng một chiều thay vì 3, vì với cách đó thì hệ thống sẽ ít phức tạp hơn và rẻ hơn khi hoạt động trên chiến trường. Đây là công nghệ mà được sử dụng tại thời của anh nên khá dễ theo dõi, và nó không thay đổi gì trong suốt hai thế kỷ. Khi cái gì đó có hiệu quả, giống như những chiếc bánh xe chẳng hạn, thì chúng sẽ tồn tại với thời gian, trong khi những công nghệ khác thì chìm vào quên lãng.

    “…Đối tượng không xác định,” Anh đọc to lên “Cấu trúc gene bao gồm những di truyền từ vùng Bắc Châu Âu, cụ thể là các tộc người Xen tíc cổ, và có dấu hiệu nhỏ của tộc người Cherokee của Bắc Mĩ. Đối tượng có mắt xanh, tóc nâu. Cần thêm dữ liệu để xác nhận danh tính.”

    Anh nhìn chằm chằm vào màn hình trong một lúc lâu, biểu hiện của anh không thể đọc được. “Làm thế nào để tôi xoá cái này đi?”

    “Quét một đối tượng khác, hoặc đóng hệ thống lại. Thông tin đã được lưu trừ khi anh nhấn nút xoá, là nút màu da cam liền với nút xanh lá.”

    Anh xoá dữ liệu đã được quét về anh ra khỏi chiếc máy quét, và sau đó ấn nó vào má cô trong im lặng và nhấn chiếc nút xanh.

    “Stover,” anh đọc “Nikita Tzuria. 30 tuổi, cao 67 inch hoặc 1,7179 m, trọng lượng hiện tại không xác định.” Anh dừng lại, quét ánh mắt dọc người cô và nói “Tôi cho rằng cô ở vào khoảng 130 – 135 pound (60 – 61 kg), tuỳ thuộc vào việc cô có cơ bắp hay không.”

    Nikita không thể ngăn mình mỉm cười, bởi vì lần cuối cô kiểm tra sức khoẻ cô có cân nặng 133 pound (60,5 kg). cuộc kiểm tra này vào khoảng 1 năm trước, nhưng quần áo của cô vẫn vừa, nên cô nghĩ rằng bây giờ cô cũng nặng gần tương đương như hồi đó.

    Anh tiếp tục đọc “Đối tượng là nhân viên của Bộ hành pháp Mỹ, đơn vị điều tra, chính xác là Cục điều tra liên bang, trong 6 năm. Sinh sống tại Des Moines, Iowa. Gene di truyền, theo thứ tự sức ảnh hương: Bắc Âu, Nam Âu, Trung Quốc, Trung Đông, Sla-vơ, và bộ tộc Aztec của Trung Mỹ.” Anh liếc nhanh về phía cô “Danh sách khá dài đấy.”

    “Tôi có thể nói gì đây?” Cô nhún một vai, với cánh tay đang bị còng thì đó là tất cả những gì mà cô cố gắng làm được. “Các vị tổ tiên của tôi di chuyển khá nhiều.”

    “Trung Đông.” Ánh nhìn của anh ghim chặt vào cô. “Chính xác thì vùng nào ở Trung Đông?”

    “Israel. Tzuria, tên đệm của tôi, là tiếng Do Thái. Tôi cũng không hiểu nó có nghĩa là gì.”

    “Tên của cô là tiếng Nga.”

    “Đổ lỗi cho mẹ tôi ấy. Tên của bà là Nicolette, và bà nghĩ Nikita hợp với nó. Nhưng tôi nghĩ rằng cũng đúng thôi, vì tôi cũng có một phần di truyền từ người Sla-vơ mà.”


    “Vậy còn phần về Trung Quốc thì sao?”

    “Đó có thể là do cụ cố từ thời…..Tôi quên mất là bao nhiêu đời trước rồi. 6 hoặc 7, tôi nghĩ vậy.”

    “Cụ cố á?”


    “Giống như là các thế hệ ấy. Cụ cố của cố của cố của cố vân vân và vân vân của tôi. Là người đến từ thời Trung Quốc bùng nổ.”

    “Tôi hiểu.”

    Có lẽ anh hiểu, có lẽ không. Anh đang nhìn vào cô giống như thể là cô có 2 đầu vậy. “Thế còn phần Aztec thì sao?”

    “Tôi chẳng thể nào giải thích được nó. Vì nó là tên cuối cùng được liệt kê ra, tôi nghĩ ảnh hưởng di truyền quá nhỏ nên trên thực tế nó cũng không quan trọng lắm.”

    Anh gãi gãi cằm. “Tôi phải nói là tất cả những điều này khá là thú vị, nhưng làm thế nào mà nó lại có thể thuyết phục tôi rằng cái câu chuyện hoang đường của cô đang kể lại bao hàm một phần sự thật chứ?”

    “Tôi nghĩ anh nên thực hiện một vài mẫu thử quét DNA nữa; quét chiếc ghế hoặc áo khoác của anh; để nó cho anh biết những mẫu thử đó là của đối tượng nào. Hoặc mang nó ra ngoài và quét ai đó mà tôi chưa bao giờ gặp, vậy nên tôi không có cách nào tôi có thể lập trình trước về họ với chiếc máy.”

    “Nó sẽ lại báo với tôi là đối tượng không xác định như trước thôi. Còn về mục gene di truyền thì làm sao tôi biết được những gì mà cái máy nói là sự thật? Tôi cũng không rõ tổ tiên của ai đến từ đâu.”

    “Nhưng điều đó vẫn có thể hiểu được. Hãy chọn người bất thường nhất mà anh có thể nghĩ đến. Cứ thử đi. Tôi vẫn ở ngay đây thôi.”

    Một lần nữa môi anh cong lên với nụ cười. “Đương nhiên là cô vẫn sẽ ở đây rồi,” anh nói, và từ từ đi ra khỏi phòng với chiếc máy quét trên tay. Ít nhất thì anh cũng đóng cửa sau lưng cô, vì vậy không ai có thể nhìn thấy là cô đang bị bắt giữ. Trong khi chờ đợi thì cố gắng làm giảm sự căng thẳng trên các cơ của mình bằng cách di chuyển từ trước ra sau, để một bên được nghỉ ngơi trong khi bên còn lại chịu đựng cơn đau.

    Sau khoảng 20 phút thì anh quay lại, và đặt chiếc máy quét lên trên bàn. Anh ngồi xuống ở ghế của mình và nhìn cô ngang qua mặt bàn sứt sẹo. “Tôi sẽ tin cô về vụ đưa ra được một công nghệ mà tôi chưa bao giờ gặp, nhưng đó là tất cả. Tôi nghĩ rằng những đặc vụ FBI – đặc vụ thật – sẽ có thể vô cùng hứng thú với chiếc máy nhỏ bé này. Cô còn có thể chỉ cho tôi xem những gì nữa?”

    Anh vẫn chưa bị thuyết phục, nhưng chắc chắn là bị thu hút. Nikita bắt đầu đoán được tính cách của anh. Bất kì điều gì anh không hiểu đều khiến anh hứng thú; anh không đời nào dừng bản thân mình trong việc giải quyết một điều bí ẩn, cũng cùng trình độ như việc bắt bản thân anh đập tay và cất cánh bay vậy. Dù mâu thuẫn với bản thân mình, anh vẫn muốn nghe xem cô còn có thể nói những gì nữa, vẫn muốn nhìn xem những dụng cụ khác của cô có thể làm gì.

    Cô suy nghĩ vài giây, cố gắng tìm xem có gì có thể khiến anh ấn tượng nhất. Cô đã nghĩ rằng chiếc máy quét DNA có thể thực hiện được việc đó. Cuối cùng cô nói, “Anh có nhìn thấy một tuýp nhỏ màu đỏ không?”

    Anh lục lọi trong đống đồ của cô và lấy ra một tuýp màu đỏ nhỏ và mỏng, dài khoảng 3 inch và có đường kính của một chiếc bút. “Cái này hả?”

    “Đúng rồi. Cái đó Reskin. Nó có khả năng nối liền các vết cắt và các vết trầy da. Anh có con dao nào ở đấy không?”

    Anh nhướng mày. “Cô muốn tôi tự cắt mình á?”

    “Không, tôi không bao giờ lại đòi hỏi anh hi sinh nhiều đến thế,” cô nói một cách nghiêm trọng hoá vấn đề “Tôi muốn anh cắt tôi cơ.”

    Anh khịt mũi một cái trước giọng điệu khô khốc của cô, và sau đó dừng lại và nói “Cô đang nói nghiêm túc.”

    “Đương nhiên.”

    Anh nhe răng ra cười, lắc lắc đầu “Có những luật chống lại một sĩ qunan cảnh sát sử dụng một con dao với một tù nhân, trừ khi tù nhân đó sử dụng bạo lực chống lại sỹ quan đó hoặc người khác. Nếu tôi cắt vào người cô, dù chỉ là vết xước bé tí xíu, cô sẽ có thể kiện tôi trong vòng 1 giờ đồng hồ nữa. Nhưng dù sao đi nữa, cố gắng tốt đấy.”

    “Vậy cũng được, anh có thể cắt vào người mình. Tôi không quan tâm. Cứ đâm dao vào ai đó là được.”

    Lần này thì anh thực sự cười lớn, như thể là anh đang thưởng thức một cuộc nói chuyện vậy, “Tôi sẽ không đâm cô, tôi hoặc bất kì ai khác. Đường cùng rồi. Thử cái gì khác đi.”

    “Hèn nhát.” Cô lẩm bẩm. “Đưa con dao cho tôi và tôi sẽ tự mình cắt vào người mình. Nó không thể khó đến thế được, dù cho tôi đang bị còng tay. Anh có thể nói cho người nào tình cờ biết việc này rằng bằng cách nào đó tôi đã có được con dao trong túi mình và dấu vân tay của tôi sẽ có trên nó, anh sẽ an toàn khỏi mọi cáo buộc. Anh thoả mãn chưa?”

    “Tôi sẽ không để cô cắt bản thân mình đâu,” anh nói nhẹ nhàng, “bỏ cuộc đi.”

    “Tôi không thể tin được anh có thể cứng đầu đến thế. Đã có gì mà tôi nói với anh từ lúc nãy đến bây giờ mà chưa có tác dụng như tôi nói chưa? Anh không thể cắt được chiếc thẻ công dân, chiếc máy quét đã hoạt động. Tại sao anh không thử tin tôi một chút nhỉ?”

    “Vì tôi không phải một tên ngốc chăng?” Anh đề nghị.

    “Anh sẽ là một tên ngốc nếu anh không tin tôi. Một tên ngu ngốc thiển cận mắc bệnh về gene di truyền.”

    “Mắc bệnh về gene di truyền?”

    Anh nghe như thể đang thưởng thức việc này vậy, mắt anh sáng lấp lánh và môi anh cong lên trước khi anh kìm chế được mình và giữ chúng trong một đường thẳng.

    “Đó là một cách nói tinh tế thay cho nói anh được sinh ra với một gia đình có sự quan hệ cận đời về mặt hôn nhân và khiến anh có khuyết thiếu trong gene. Nếu anh chỉ có hai nguồn gene? Sẽ là một phép màu nếu anh có thể hoạt động bình thường được.”

    “Tôi hoạt động bình thường về mọi mặt,” anh đảm bảo với cô, nhe răng ra cười.

    Cô rên rỉ và nhắm mắt trong sự chán chường. Giờ thì anh lại đang ám chỉ cô về những hoạt động tình dục của anh cơ đấy…cô nghĩ. Sự khác biệt về mặt ngôn ngữ khiến cô không chắc chắn lắm. Nếu anh thực sự làm thế, cô cho rằng đàn ông cuối cùng cũng vẫn là đàn ông, dù cho họ sống ở thế kỉ nào đi nữa.

    “Được rồi, được rồi.” Anh nói, đột nhiên nghiêm túc lại. Mắt Nikita mở bừng ra và cô quan sát khi anh cho tay vào trong túi quần jean và lôi ra một con dao, mà khi anh mở nó ra thì xuất hiện một lưỡi dao sắc bén dài khoảng 10 cm. Một cách kiên quyết, anh lướt lưỡi dao lên đầu ngón cái bàn tay trái, và máu lập tức ứa ra và bắt đầu nhỏ giọt lên bàn tay anh.

    “Mở Reskin ra,” cô hướng dẫn “Bôi nó lên vết cắt. À, lau sạch máu trước đi, sau đó thì lướt nó qua vết cắt.”

    “Không cần cô phải nói,” anh vừa nói vừa túm lấy một chiếc khăn giấy còn thừa từ bữa trưa của họ và đặt nó lên ngón tay đang chảy máu của anh. “Nếu cô dám trêu tôi, thì trò này sẽ khiến tôi rơi vào tâm trạng rất tệ đấy.” Anh cảnh cáo.

    Cô lờ anh đi, quan sát khi anh giữ tuýp Reskin bên tay trái và mở chiếc nắp, lôi ra một chiếc ống nhỏ lấp lánh bởi chất lỏng màu trắng đục. “Không cần nhiều lắm đâu, chỉ một lớp mỏng thôi là được.”

    “Nó tốt hơn rồi.” Anh lấy miếng khăn giấy ra và nhanh chóng bôi Reskin lên vết vắt. “Ouch!” anh lập tức kêu lên. “Chết tiệt! Cô không nói là cái thứ khỉ gió này gây đau chết đi được,như bị bỏng ấy.”

    Nikita cười lớn, cô không thể kìm giữ được. “Giờ thì xem ngón tay anh đi.”

    Anh nhìn vào ngón tay mình và biểu hiện của anh thay đổi theo một cách mà cô không thể miêu tả được: nó không phải là sốc, hay không tin tưởng nhưng kiểu như trở nên tê dại. Rất từ từ anh đậy nắp tuýp Reskin lại và đặt tuýp thuốc nhỏ màu đỏ xuống bàn, và sau đó lau hết lớp chất lỏng còn sót lại trên da anh đi.

    Anh không nói gì trong một thời gian khá dài khiến cô có cảm tưởng muốn hét lên vì căng thẳng, nhưng cô cố giữ kiểm soát mình một cách chặt chẽ và chờ anh quyết định xem sẽ làm gì tiếp theo. Anh có thể chối bỏ những gì bản thân vừa chứng kiến. Mọi người đôi khi có thê trở nên vô lí, vì vậy cô phải chuẩn bị cho điều đó.

    Cuối cùng anh đứng lên từ sau chiếc bàn và bước vòng qua nó để cúi xuống sau ghế của cô và tháo bỏ chiếc còng dùng để giữ cô vào chiếc ghế. Sau đó anh nắm lấy một tay cô trong tay mình khi anh tháo bỏ chiếc còng ra khỏi hai cổ tay cô.

    Thả cả hai chiếc còng xuống bàn, anh quay lại chỗ ngồi của mình và nói “Được rồi, bắt đầu nói đi, kể cho tôi mọi chuyện.”

    “Mọi chuyện? Anh có bao nhiêu thời gian?”

    “Cứ nói đi. Tôi sẽ bảo cô dừng khi tôi có đủ thông tin.”
     
  16. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 8

    Giờ khi anh đã thực sự lắng nghe, cô lại không biết phải bắt đầu từ đâu cả. Cô vẫn đang xoa xoa cổ tay, nhưng dừng lại và xoè rộng bàn tay minh ra để máu lưu thông.

    “Anh muốn biết gì nào? Hãy cho tôi một chủ đề mà anh muốn thảo luận đi.”

    “Cô đã đề cập đến việc theo dấu một kẻ sát nhân. Tôi không nói là tôi tin kiểu chuyện du hành thời gian này – nhưng tôi cũng đang cố tóm một kẻ sát nhân, nên tôi sẽ lắng nghe cô trong chuyện này.”

    Cô im lặng trong một lúc, cố gắng sắp xếp các ý nghĩ của mình. “Chúng ta có thể cần một bảng biểu để có thể hiểu rõ điều này.”

    Anh lấy một quyển sổ ghi chú lò xo và mở rộng nó rồi đẩy về phía cô. “Vậy vẽ một cái đi.”

    Anh đã nói là vẽ một cái cơ đấy. Cô lướt ngón tay mình trên tờ giấy có dòng kẻ. Giá như người đàn ông này biết rằng cơ hội được thực sự sử dụng một chiếc bút và một tờ giấy đối với cô hiếm như thế nào, anh ta có thể cười đau cả bụng mất. Cô chỉ được quen thuộc với chúng vì quá trình nghiên cứu của cô đòi hỏi điểu đó. Giấy thật gần như là vô giá, được giữ gìn để lưu giữ những thông tin vô cùng quan trọng và để dạy những phần rất nhỏ trong số các điều tra viên về những gì tồn tại trong quá khứ. Có quá nhiều thứ loài người đã học được và có thể thực hiện, nhưng bảo tồn những thông tin dưới dạng số hoá để lưu truyền chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác đã làm họ mê muội. Có lẽ cô có thể mang về một số giấy, cô nghĩ. Việc bán nó đi có thể giúp đỡ cô rất lớn về mặt tài chính.

    “Bút đâu?” cuối cùng thì cô cũng lên tiếng, và anh móc một chiếc từ trong túi ra và chìa cho cô.

    Đầu tiên cô kẻ môt đường thẳng ngang từ giấy, và sau đó là những dòng kẻ nhỏ hơn để chia khung cho nó. Bắt đầu với Thứ Hai, trên mỗi phần cô viết một chữ cái thể hiện cho một ngày trong tuần: M, T, W, T, F, S, S cho đến hết chiều rộng của tờ giấy.

    Và sau đó cô vẽ một mũi tên dọc chỉ vào điểm giữa của Thứ Hai và Thứ Ba. “Đã có ai đó đã đi xuyên thời gian vào khoảng sáng sớm ngày Thứ Hai nhưng chúng tôi không biết là ai. Bất kể đó là ai thì người đó cũng biết cách lách qua hàng rào an ninh tại Khu Thí Nghiệm Xuyên Thời Gian, và cách để tự dịch chuyển anh ta. Chúng tôi biết điều đó khi anh ta…”

    “Anh ta?”


    “Chỉ là để tiện khi nói thôi, tôi sẽ dùng “anh ta” thay vì “anh ta hoặc cô ta”, nhưng đó cũng có thể là một phụ nữ. Dù sao đi nữa, vì việc cài đặt của máy tính, chúng tôi biết thời gian và địa điểm mà anh ta được chuyển đến. Lúc đầu, trọng lượng của người dịch chuyển phải được đo đếm và máy tính phải được hiệu chuẩn theo trọng lượng đó, nhưng điều đó quá nguy hiểm, vì sẽ có chuyện gì xảy ra nếu như anh ta chỉ tăng thêm 1 pound thôi tại thời gian khác? Anh ta sẽ không quay về được. Vì vậy phương pháp đó đã được điều chỉnh, và giờ thì trọng lượng không còn quan trọng nữa, vấn đề nằm ở những kết nối (the links – vừa hiểu là kết nối, vừa hiểu là vòng).”

    “Những kết nối?”

    Anh ta là bậc thầy trong việc đặt ra những câu hỏi một từ (trong nguyên tác, anh chỉ hỏi chị có mỗi chữ – Links?), cô nghĩ. “Chúng thật ra là những chiếc vòng để đeo quanh mắt cá chân và cổ tay, được lập trình để đưa người đi và đón người quay lại.”

    “Vậy của cô ở đâu rồi?”

    “Đã được chôn môt cách an toàn ở nơi mà không ai tìm thấy được. Nếu tôi bị mất những chiếc vòng đó, tôi không thể quay lại trừ khi một đội SAR được gửi đến với những chiếc vòng thay thế.”


    “Khi chúng tôi nhắc đến SAR, chúng tôi có ý nói đến Search and Rescue (Tìm kiếm và cứu nạn).” Anh nhắc cô.

    “Đó vẫn là ý nghĩa của nó tại thời đại chúng tôi. Họ là một đội tinh nhuệ được huấn luyện một cách đặc biêt, vì không ai có thể biết được họ sẽ rơi vào hoàn cảnh nào. Thông thường thì chỉ một sĩ quan SAR được gửi đến, để loại bỏ khả năng thu hút sự chú ý.”


    Anh tựa cằm vào tay và mỉm cười với cô. “Nếu cô đang kể một câu truyện cổ tích, thì nó đúng là một câu truyện hay đấy. Cô có trí tưởng tượng khá là phong phú. Tiếp tục đi.”

    Cô nhìn anh với chăm chú đầy đánh giá. “Nếu anh vẫn nghĩ rằng đây là một câu chuyện hư cấu đơn thuần, anh sẽ không phí thời gian để ngồi nghe, và bản thân anh cũng biết điều đó. Không chỉ vậy, nếu đây là một buổi thẩm vấn, chúng ta sẽ không ngồi trong văn phòng anh, mà ngồi trong phòng thẩm vấn và được ghi hình. Có thể anh không muốn tin tôi, nhưng anh không thể giải thích được các dụng cụ của tôi đúng không?”

    “Tôi đang lắng nghe đây. Đừng yêu cầu tôi làm nhiều hơn thế.”

    Cô cần nhiều hơn từ anh, nhưng vào lúc này cô cứ để yên mọi chuyện như vậy và quay lại biểu mẫu mà cô đang vẽ dở. “Một thông điệp đã được để lại trên máy tính trong Phòng Thí Nghiệm Xuyên Thời Gian, đại loại như kiểu cứ bắt ta đi nếu các ngươi có thể.” Cô dừng lại. “Anh phải hiểu rằng có một số nhóm người chống lại việc du hành thời gian, với rất nhiều lí do khác nhau. Một số người trong họ xem xét nó dưới góc độ đạo đức – đại loại như anh không nên xen vào trật tự chúa trời đã tạo nên. Với một số nhóm khác thì việc này thực tế hơn, như là đừng thay đổi lịch sử nếu không mọi thứ trong địa ngục sẽ thoát ra.”

    “Về mặt lí thuyết, anh không thể thay đổi lịch sử.”

    “Về cơ bản, ít nhất thì điều đó là sai. Giả sử như ai đó trong thời đại của tôi tìm thấy ghi chép về một số xổ số trúng thưởng. Anh ta có thể quay về đúng thời gian đó và mua một vé số với con số đó, và số tiền thưởng sẽ được chia đều giữa anh ta và người thắng cuộc, hoặc những người thắng cuộc. Chỉ số tiền thưởng của những người thắng sẽ thay đổi, và có thể sẽ có một dao động về mặt kinh tế vô cùng nhỏ xuất hiện, ngoài ra chẳng còn gì khác.”


    “Và người du hành thời gian đó có thể mang chỗ tiền thưởng đó quay về thời đại của anh ta.”

    “Đúng, nhưng số tiền tệ đó chỉ có giá trị với những người sưu tập đồ cổ, vì vậy thực ra anh ta mang về một bộ sưu tập tiền cổ có giá trị thay vì mang về giá trị về mặt tiền tệ của số tiền đó.”

    “Vậy còn việc thay đổi lịch sử với quy mô rộng hơn thì sao?”

    “Việc du hành thời gian có những quy định vô cùng chặt chẽ; không phải bất kì ai cũng có thể được cho phép thực hiện việc này, vì những mối nguy hiểm tiềm tàng của nó. Liệu chuyện gì sẽ xảy ra nếu một người du hành ngược thời gian và ám sát Hitler trước khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nô? Liệu sức tác động của nó sẽ là gì? Nếu không có cuộc chiến này làm đổi mới các nền kinh tế đã bị suy kiệt vì Cuộc đại suy thoái, cuộc sống trong thế kỉ tiếp theo sẽ ra sao?”


    “Ý cô là Hoa Kì sẽ không trở thành một siêu cường.”

    “Không ai biết cả, và đó là sự nguy hiểm khi cố thay đổi lịch sử với quy mô lớn. Những nếu Hoa Kì không bị thúc đẩy tiến tới vị trí siêu cường, thì cuộc chạy đua vào vũ trụ có diễn ra không? Liệu những chiếc máy tính có được phát minh không, nếu không có nhu cầu của du hành vào không gian như một dộng lực.”


    “Vậy rõ ràng là kể cả những điều tồi tệ cũng không nên bị thay đổi.”

    “Chính xác. Tất cả mọi điều, tồi tệ và tốt đẹp, đã làm nên con đường mà loài người đang đi.”


    Anh ngồi lui lại và theo dõi cô với đôi mắt nheo lại. “Rất nhiều điều tồi tệ đã xảy ra. Cô có thể nghĩ rằng thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp nếu một số điều như vậy đã không xảy ra.”

    “Ý anh là ai đó cứ tiếp tục sống thay vì chết đi?” Khi anh gật đầu cô nói tiếp, “Anh có thể đảm bảo rằng người đã qua đời ấy, nếu được sống, sẽ không gây ra việc gì kinh khủng hơn việc đã xảy ra không?”

    “Không ai có thể đảm bảo điều đó.”

    “Chính xác. Vì không ai biết chắc, nên hội đồng quản lý việc du hành thời gian quyết định giữ nguyên hiện trạng của mọi việc.”


    “Và kẻ du hành thời gian trái phép mà cô đang săn lùng này thì không đồng ý. Tại sao hắn lại để lại một thông điệp? Nếu ái đó thực sự muốn thực hiện điều gì đó lén lút, người đó sẽ không để lại một thông điệp để công bố điều đó.”

    “Không đời nào anh ta có thể du hành vượt thời gian mà không cho ai biết. Những chiếc máy tính cho thấy mọi hành trình, bắt đầu tại đâu và kết thúc lúc nào. Vì vậy tôi cho rằng hắn ta nghĩ hắn nên chơi đùa một chút, có lẽ bắt đầu một hành động mà chưa được suy ngẫm cẩn thận. Điều mà chính xác là đã xảy ra.”
    Cô nói một cách cay cú.

    “Cô mà chưa suy nghĩ cẩn thận á? Tôi không thể tưởng tượng được điều đó.”

    “Nhân viên đặc vụ đầu tiên được gửi đi điều tra đã bị ám sát,”
    cô nói lạnh lùng, cảm thấy khó chịu trước sự mỉa mai của anh. Cô vẽ thêm một mũi tên nữa tiếp nối mũi tên đầu tiên. “Người du hành thời gian trái phép này đã đợi nhân viên ấy khi anh ta đang dịch chuyển. Xác của anh ta đã được gửi lại cho chúng tôi.”

    “Người đặc vụ đầu tiên? Họ đã gửi bao nhiêu người?”

    “Tôi là người thứ ba. Houseman đã bị giết. McElroy đã được đặt để đến vào thời điểm nửa tiếng sau, nhưng anh ta không điều tra được gì và đã bị rút về.”
    Cô vẽ mũi tên thứ ba chỉ ra thời điểm McElroy đến, và thời điểm đến của cô vào đêm tiếp theo.

    “Tất cả sự đến và đi này,” anh từ tốn nói, “tôi cứ nghĩ ai đó sẽ chú ý đến việc gì đó bất thường.” Ngay khi lời nói vuột ra khỏi miệng, anh khựng lại, ánh nhìn của anh trở nên trống rỗng khi những suy nghĩ của anh dội lại. “Ở yên đấy.” Anh nói, đứng bật dậy và bước nhanh ra cửa. “Tôi muốn cho cô xem cái này.”

    Anh quay lại trong chưa đến năm phút, cầm một khối hình chữ nhật màu đen. Anh bật một màn hình nhỏ đặt trên một tủ hồ sơ, và trượt khối chữ nhật đen đó vào một chiếc máy đen. VCR, trí nhớ của cô thì thầm. Nó là một máy đọc dữ liệu cổ xưa, mày này có thể dịch dữ liệu sang dạng âm thanh và hình ảnh.

    Một hình ảnh bắt đầu hình thàn trên màn hình và anh nói “Nhìn này” trong khi anh bấm vào chiếc điều khiển để khiến đoạn phim chạy nhanh hơn. Anh dừng nó với một chiếc điều khiển khác, và sau đó bắt đầu chạy tiếp từng khung hình một. Cô nhận ra toà nhà của toà án nơi cô đang bị giữ, nhưng không có bất kì một hành động nào cả, không có gì xảy ra. Từ bóng tối thăm thẳm và góc quay cô biết rằng đoạn phim này được quay vào ban đêm.

    Sau đó một tia sáng trắng xoá chiếm trọn màn hình.

    Cô lập tức ngồi bật dậy nhìn chăm chăm. Khung hình tiếp theo là một khung cảnh tương tự, chỉ khác ở chỗ giờ đây dường như đã có một cái hố trên nền đất, nơi mà trước đó trống trơn.

    “Cô có biết bất kì điều gì về tia sáng đó không?” anh hỏi chậm rãi.

    “Đó là điều xảy ra khi có ai đó dịch chuyển đến hoặc đi,” cô nói một cách đầy kinh ngạc. ”Nhưng theo những gì được ghi lại thì không có ai đến khu vực này hết. Điều này đã xảy ra bao giờ?”

    “Sáng thứ hai,” anh nói, và gõ gõ vào biều đồ của cô, thời điểm tên giết người đã dịch chuyển.

    “Hắn ta không dịch chuyển đến đây,” cô khăng khăng. “bản điều hướng cho thấy hắn đã dịch chuyển đến địa điểm cách đây vài dặm. Tôi đã ở đó, tôi là người tìm ra vị trí đó. Nơi tên giết người giết chết Houseman. Hắn ta không thể ở đây được.”

    “Vậy thì là ai? Cô có ý tưởng nào về việc này không?”

    Cô lắc đầu. Cô đã xem xét các dữ liệu; những lần dịch chuyển chỉ được thực hiện bởi tên sát nhân, Houseman, và McElroy – trừ khi có ai đó đã dịch chuyển sau khi cô được đưa đến đây. Người nào đó đã có thể dễ dàng sắp xếp việc dịch chuyển đến trước tên sát nhân, trước bất kỳ người nào; không phải dễ để có thể đặt thời gian và không gian để dịch chuyển đến và đi, nhưng máy tính có thể thực hiện công việc này chỉ trong vài phần của giây.

    Ai đó đã dịch chuyển đến đây. Nhưng ai? Và tại sao? Phải chăng người này cũng chính là người đã bắn vào cô hôm nay? Nhưng lí do là gì?
     
    myuyen79, tuyaile, Dreami and 5 others like this.
  17. vu thu giang

    vu thu giang Mầm non

    Cám ơn bạn, mong chờ chương tiếp theo của bạn
     
  18. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 9

    “Tôi cho rằng đây không phải một tin vui cho cô,” anh nói, quan sát cô một cách kĩ càng.

    Nikita lắc đầu. “Ai đó đã dịch chuyển đến mà tôi không nhận ra,” cô nói, cảm thấy hơi mờ mịt. “Đây có thể là tin tốt, cũng có thể là tin xấu. Tôi không có cách nào tìm ra xem người này là người du hành thời gian hợp pháp hay là viện binh cho tên sát nhân.” Cô chỉ vào màn hình, “Cái hố trên mặt đất đó….Nó là cái gì vậy?” cô nghĩ rằng cô biết, và tự cảm thấy thắc mắc tại sao bản thân cô, hay những người này, có thể quá thông minh đến nỗi gặp rắc rối với chính sự thông minh của mình.

    “Hai mươi năm trước, thị trấn này đã chôn một chiếc rương thời gian ở đó,” Knox nói,

    “Vào sáng thứ hai, ai đó đã đào nó lên và ăn trộm nó. Cô đang nói là một trong những người du hành thời gian của các cô đã lấy nó? Đầu tiên, tại sao quá trình đào bới không được máy quay ghi lại? Thứ hai, làm thế quái nào mà ai đó lại có thể cần một chiếc rương thời gian?”

    “Đầu tiên, khi ai đó dịch chuyển đến, nó đại loại như kiểu thời gian bị đông lại trong một lát, như thể mọi thứ bị sốc và dừng hoạt động. Đó là một trong những luận điểm mà những nhóm bài xích du hành thời gian đã sử dụng như bằng chứng cho rằng chúng tôi không nên làm điều này. Những nhà vật lý vẫn chưa thể giải thích điều này, nhưng họ có một giả thiết cho rằng những nhà du hành thời gian đã làm rối loạn thời gian mới trên mức độ phân tử trước khi mọi việc trở lại như bình thường.”

    “Nhưng trong khi mọi thứ khác bị đóng băng, nhà du hành đó có bị không? Việc này chỉ diễn ra trong vòng vài giây, thay vì trong cả khoảng thời gian mà ai đó cần để đào chiếc rương lên đúng không?”

    “Trên lý thuyết, khoảng dừng này là rất ngắn, chỉ một phần của giây. Nó ngắn đến nỗi tôi không nghĩ rằng ai đó có thể nghĩ đến khả năng một nhà du hành có thể bị đông cứng hay không.”


    “Cô không thể dịch chuyển cả một phiến đá hoa cương và đào chiếc rương thời gian lên trong một phần của giây.”


    “Không”
    cô nói một cách do dự, “Trừ khi có công nghệ nào đó mà tôi chưa từng biết đến, nhưng FBI thực hiện một nỗ lực thực sự trong việc cập nhật thông tin về sự phát triển của những công nghệ mới.”

    “Vậy thì điều đó vẫn chưa thể giải thích tại sao chiếc rương thời gian lại biến mất.” Anh nhìn có vẻ thất vọng.”Trừ khi khoảng dừng còn lâu hơn những gì mọi người nghĩ. Tôi cho rằng đó là cách giải thích hợp lý duy nhất, nhưng từ hợp lý có vẻ sẽ không phù hợp với cuộc trò chuyện này phải không? Nhưng còn về phần thứ hai trong câu hỏi của tôi: Tại sao?”

    “Có một phần tài liệu được chôn trong chiếc rương thời gian đặc biệt này chứa những lý thuyết và một phần quá trình để du hành thời gian một cách thành công.” Cô nói, “Nếu những tài liệu này không nằm trong chiếc rương thời gian khi nó được mở vào năm 2085, hoặc nếu bản thân chiếc rương thời gian bị đánh cắp, thì công nghệ này sẽ không được phát triển.”

    “Trong chiếc rương thời gian của chúng tôi sao?” anh nói một cách nghi ngờ. “Ai lại đi viết những thứ như vậy? Tôi không biết bất kỳ một thiên tài vật lý học lượng tử nào quanh đây cả.”

    “Không ai biết người đã viết ra những tài liệu đó. Có thể nó đã được biết đến vào một lúc nào đó, nhưng thông tin ấy đã chết theo thời gian. Rất nhiều thông tin số hoá đã bị mất hoặc gián đoạn trước khi con người nhận ra những chiếc đĩa mềm không phải là cách hiệu quả để lưu trữ thông tin.”

    “Tôi cũng đã ở đó,” anh nói trong một cách trầm ngâm.

    “Cái gì? Lúc nào?”

    “Khi chiếc rương thời gian được chôn xuống, vào ngày 1 tháng 1 năm 1985. Tờ báo địa phương nói có 12 vật phẩm được cho vào trong chiếc rương, nhưng tôi đã đếm được 13. Một phần tài liệu nghiên cứu không nằm trong những đồ vật được liệt kê. Tôi chưa bao giờ tìm ra vật thứ 13 là gì.”

    “Vậy đó hẳn phải là phần tài liệu này.” Cô thở dài và nhìn chăm chăm ra cửa sổ nơi có bầu trời xanh thăm thẳm, với những đụn mây trắng mũm mĩm thỉnh thoảng trôi lững lờ qua. “Anh đã bao giờ gặp một đám người vô cùng thông minh nhưng lại bỏ qua một điều hiển nhiên nhất không?”

    “Điều đó xảy ra hàng ngày mà.”

    “Chúng tôi đã làm vậy. Nói thẳng ra, đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp trường hợp này. Khi chúng tôi được thông báo rằng có một người du hành bất hợp pháp đã du hành vượt thời gian, tất cả những gì chúng tôi có thể nghĩ đến là gửi đặc vụ truy theo hắn. Không ai trong chúng tôi nghĩ đến một điều đơn giản là đi đến thời điểm trước khi hắn dịch chuyển đến.”

    “Hiển nhiên là có ai đó đã nghĩ đến điều đó.”

    “Tôi hi vọng như vậy,” cô nói và mỉm cười với anh. “Đó là tình huống tốt đẹp nhất. Khả năng khác là tên tội phạm này không phải là người duy nhất. Tôi đã bị bắn, nhớ không? Vậy có khả năng là những kẻ xấu đã có được chiếc rương thời gian, nhưng cũng có thể là những người tốt đã có. Tôi đơn giản là không biết.”

    Knox kiểm tra đồng hồ đeo tay, anh ngáp một cái và xoa xoa mắt. “Có rất nhiều điều không hợp lý, nhưng như thế cũng đủ để tôi sẽ tạm thời nghiêng về phía câu chuyện cô nói. Những công cụ thần kỳ cô có, và chiếc thẻ, đã cho cô thêm thời gian. Điều đó không có nghĩa là tôi sẽ thả cô đi trước khi tôi chắc chắn về mọi chuyện, dù bằng cách này hay cách khác, nếu cô bị điên, mà điều này là hoàn toàn có khả năng, cũng có thể là cô đã thực sự đi xuyên thời gian. Vì vậy tôi sẽ cần phải ra quyết định xem tôi sẽ làm gì với cô.”

    "Chúng ta đang tìm kiếm cùng một kẻ sát nhân.”

    “Uhm, tôi chỉ không hiểu là bằng cách nào mà chiếc rương thời gian, kẻ du hành thời gian bất hợp pháp và tất cả những chuyện liên quan lại có thể liên quan đến vụ giết người mà tôi đang điều tra?”

    “Liệu có khả năng nào đề ông ta là người viết ra các tài liệu nghiên cứu đó không? Tất cả những gì tôi đã từng đọc đều khẳng định rằng tác giả là một người vô danh, nhưng những người lưu giữ và nghiên cứu văn tự vẫn tìm thấy một phần của các quyển sách cũ, những bản ghi âm, báo chí – những thứ tương tự như vậy – hàng ngày mà. Có thể đã có những thông tin mới được tìm ra.”

    Knox lắc đầu. “Taylor chắc chắn là không phải một nhà vật lý. Ông ta là một luật sư tại một thị trấn nhỏ, không còn nghi ngờ gì về điểu đó. Và điều gì làm cô chắc chắn rằng ông ta đã bị sát hại bởi kẻ du hành thời gian của cô?”

    “Ông ta đã bị giết bằng một ngọn giáo đúng không?”


    “Nào nào” Knox nói một cách dịu dàng, ngửa người trên chiếc ghế và kê tay xuống đầu mình. “Làm thế quái nào mà cô lại biết điều đó? Chi tiết nhỏ đó không được tiết lộ cho báo chí.”

    Điều đó thật kỳ diệu, cô nghĩ, khi một ánh mắt xanh như vậy lại có thể trở nên lạnh lẽo đến vậy.”McElroy đã theo dấu UT – kẻ du hành vượt thời gian trái phép này – và tìm thấy cái xác. Anh ta biết rằng kẻ này đã thực hiện điều đó vì ngọn giáo mà các vị sẽ không bao giờ tìm ra nơi xuất xứ và nguồn gốc vì nó được sản xuất tại Trung Quốc vào năm 2023.”

    Anh mở một quyển sổ ra và bắt đầu ghi chú. “Trung Quốc dừng việc chế tạo bom nguyên tử và chuyển sang giáo mác sao?”

    “Tôi nói nó được sản xuất tại đó, không phải được sử dụng tại đó. Anh có nghĩ anh nên làm vậy không?” cô hỏi, chỉ vào quyển sổ của anh. “Viết lại nó ấy.”

    “Nếu chúng ta đang thảo luận về một trong những vụ mà tôi phụ trách, vậy thì tôi sẽ phải ghi nó lại.” Giọng điệu của anh cho thấy không còn chuyện gì phải bàn cãi nữa.

    “Người ta sản xuất giáo mác đề làm cái khỉ gì? Nó không phải là một kỹ thuật tiên tiến.”

    “Trong một thời gian dài, giáo mác là sự lựa chọn của những kẻ khủng bố cho vũ khí cấp thấp, giá rẻ là nguyên nhân chủ yếu của việc này. Khi họ thiếu nguồn cung về tiền, những phương thức sát nhân thay thế đã được tìm kiếm, và giáo mác đã được lựa chọn. Có điều gì đó mang tính biểu tượng với những ngọn giáo, đặc biệt là khi đột nhiên nó được cắm xuyên qua cổ ai đó. Cách này sẽ không gây tiếng động, khiến nó trở thành một vũ khí tối ưu trong đêm tối.”

    “Vậy có gì đặc biệt mang tính biểu tượng với chiếc giáo này không, hay là nó chỉ nằm vạ vật đâu đó và tên này nhìn thấy rồi đánh cắp theo kiểu suy nghĩ đột ngột “Chà, sẽ gọn gàng hơn khi giết ai đó với một ngọn giáo”?”

    “Ngọn giáo đặc biệt này được trưng bày trong một viện bảo tàng, và nó đúng là khá đặc trưng đối với một số người. Ngọn giáo đó đã sát hại một vị tướng Mỹ được trang bị đến tận răng vào năm 2025, vì vậy đối với họ nó biểu trưng cho tinh thần của con người vượt lên trên công nghệ, hoặc một điều gì đó tương tự thế.”


    “Một chiến thắng của những kẻ thủ cựu.”

    “Chính xác. Với những nhóm này thì điều đó chính xác là những gì họ đang làm, cứu giúp con người khỏi chính những công nghệ của họ.”


    “Tôi thực sự ghét những người cố cứu tôi khỏi bản than mình,” anh lẩm bẩm.

    Dù cho nỗi lo lắng vẫn cồn cào trong cô, cô vẫn phải mỉm cười. “Đúng rồi. Những tay sai của Chúa.”

    Anh tặc lưỡi, và cô nói, “Gì cơ?”

    “Không có gì. Điều gì xuất hiện đầu tiên trong bảng thống kê của cô?”

    Cô muốn biết cái đứng đằng sau phần “không có gì” của anh ta vì theo kinh nghiệm của cô, khi một người nói không có gì thì chắc chắn trăm phần trăm là có điều gì đó đang diễn ra. Nhưng anh ta nói đúng, lúc này có những chuyện quan trọng hơn cô phải làm, và cô không biết liệu anh ta có tán thành việc này hay không. Anh ta có thể đã tháo còng cho cô, nhưng hiện tại anh ta vẫn đang là người nắm quyền chủ động trừ khi cô muốn làm bị thương nhiều người, kể cả anh ta, và chắc chắn là điều đó không thể xảy ra.

    “Tôi cần phải quay trở về thời đại của tôi, “ cô nói, “tôi cần cảnh báo mọi người là chúng tôi có nội gián, và nếu không phải môtj người trong số chúng tôi đã đến sớm hơn và đánh cắp chiếc rương thời gian để bảo vệ nó, vậy thì đó chính xác là những gì chúng tôi phải làm, nhưng lần này chúng tôi sẽ đến sớm một ngày.”

    “Cô đang đề cập đến việc đi đi lại lại xuôi ngược thời gian, cho đến khi thời gian mà các người đến đây xếp lớp lên nhau như vẩy cá vậy.”

    “Đúng, chính xác là như vậy,” cô nói, và cảm thấy hài lòng vì anh đã nắm được vấn đề,”Như tôi đã nói, lĩnh vực này còn mới mẻ với chúng tôi, nhưng tất cả những gi chúng tôi cần làm là bảo vệ chiếc rương thời gian và tóm được kẻ sát nhân này. Chúng tôi biết thời điểm hắn đến đây; một trong số chúng tôi cần dịch chuyển đến trước hắn ta. Không thể tin được là chúng tôi đã thiển cận như vậy.”

    “Nhưng nếu các người đến trước anh ta và bắt anh ta, anh ta vẫn chưa gây ra án mạng và vẫn còn vô tội, trừ tội du hành thời gian trái phép.”

    Cô trao cho anh một ánh nhìn bất lực. “Chúng tôi không thể thay đổi sự sống và cái chết. Chúng tôi không thể làm cho Taylor Allen sống lại. Nhưng tôi không thể nghĩ ra được bất kỳ điều gì khác để làm. Tôi cần phải quay lại. Khi tôi làm bản báo cáo của mình xong, sự việc này sẽ vượt ra ngoài vòng kiểm soát của tôi, nhưng ít nhất tôi sẽ cố gắng để có một kết quả tốt nhất.”

    “Thôi được rồi,” Anh nói một cách dịu dàng, “Tôi sẽ đồng tình với cô về việc này – miễn là tôi được chứng kiến tận mắt.”

    “Anh thích quan sát mọi thứ, đúng không?” Khỉ thật! Nikita biết cô không nên nói vậy nhưng dù sao thì nó cũng đã vuột ra khỏi miệng cô. Cô cũng đang làm khá tốt trong việc giữ cho mọi thứ không mang tính cá nhân và tập trung vào những vấn đề trước mắt, vì sẽ là bất công khi cô để mọi thứ vương vấn với cô quá nhiều khi bản than lại không có ý định ở lại. Nhưng cô thích đôi mắt xanh và hình dáng thanh mảnh của anh, và anh cũng có đôi tay đẹp mạnh mẽ, tuy nhiên cô vẫn cố giữ bản thân mình không chú ý đến những điều đó.

    “Tôi làm còn tốt hơn,” anh kéo dài giọng mình ra, mí mắt sụp xuống trong một biểu cảm lười biếng cố tình làm trái tim cô lỡ đi vài nhịp.

    Dạ dày cô đột nhiên siết lại, cảm giác của sự phản ứng về mặt thể xác quá mạnh đến nỗi cô đã trở nên hơi lo lắng. Cô nuốt mạnh, và vội vàng khôi phục tự chủ. Không, điều này không được phép xảy ra. “Tôi xin lỗi,” cô cất lời, “tôi đã không nên nói vậy, điều đó thật không chuyên nghiệp.”

    “Tôi không để ý lắm đến sự không chuyên nghiệp đâu, trước đây hay sau này cũng thế.”

    “Tôi thì có.” Đôi má cô nóng rát lên vì sự xấu hổ. “Nó sẽ không bao giờ xảy ra nữa.”

    “Tôi đoán cô nói đúng,” Anh trả lời với sự tiếc nuối rõ ràng, “Nếu cô thực sự rời đi, nó thực sự sẽ không thể xảy ra.”

    “Đó là lý do tại sao tôi không nên nói đến những chuyện ngoài lề, tôi xin lỗi.”

    “Nếu cô đã nói vậy.” Anh đợi một lát, sau đó đứng lên. “Chúng ta không phải đợi đến tối hoặc làm điều gì tương tự đâu phải không? Vì cô cần phải dịch chuyển, hay làm gì đó tương tự.”

    “Không.” Cô cảm thấy nhẹ cả người khi đề tài được chuyển đi. “Tôi có thể rời đi bất kỳ lúc nào.”

    Anh mỉm cười và lắc đầu trước câu nói hai nghĩa ấy. “Được rồi, tôi sẽ lái xe đưa cô đến đấy vì chiếc xe đi thuê của cô hiển nhiên là đã bị kẻ muốn lấy mạng cô sáng nay nhận ra. Đợi ở đây đi, và tôi sẽ nhờ một trong các cảnh sát ở đây đỗ xe tôi ở khu vực an toàn mà chúng tôi dùng cho các tù nhân đặc biệt; với cách đó thì không ai có thể nhìn thấy cô.”


    Cô ta có thể là một kẻ vô cùng điên rồ, cũng có lẽ cô đang cố lừa anh, có lẽ cô chính là kẻ sát nhân – Knox không thể quên sự thật là cô biết về ngọn giáo – nhưng dù cô có là gì đi nữa thì cô cũng đã kể một câu chuyện hay. Và ngay khi anh có thể nhốt cô lại, anh sẽ cân nhắc về những dụng cụ cô mang theo và tiếp tục nghe.

    Dù sao đi nữa, anh không thể phủ nhận rằng thẻ căn cước của cô, chiếc máy quét AND, và tuýp Reskin nhỏ đó là những thứ mà anh chưa bao giờ nghe hay nhìn thấy. Vết cắt trên tay anh đã hoàn toàn lành lặn. Điều đó, vượt trên tất cả, là điều đã khiến anh phải thừa nhận rằng có khả năng, chỉ là khả năng thôi, có một phần sự thật trong câu chuyện giật gân cô kể. Những thứ khác có thể anh không có tí thông tin nào, nhưng nếu có thứ gì có thể chữa khỏi một vết thương ngay khi được bôi lên da ? Chắc chắn rằng anh và những người khác trong đất nước này sẽ được nghe về nó. Wall Street và công ty đã sản xuất Reskin sẽ truyền bá nó một cách rầm rộ với các đoạn quảng cáo cứ 15 phút được phát một lần trên mọi kênh truyền hình trên cả nước. Quân đội có lẽ đã mua cả tấn thuốc này. Vì thế sự thật không thể chối cãi rằng anh chưa bao giờ nghe về Reskin đang ủng hộ cô một cách khá chắc chắn.

    Nhưng anh là một cảnh sát, và một cách tự nhiên, cảnh sát không bao giờ tin những gì họ được kể trừ khi có những bằng chứng vô cùng xác thưc chứng minh rằng điều đó đúng.

    Anh gọi một người cảnh sát lại và đưa cho anh ta chùm chìa khoá của anh với yêu cầu đưa xe của anh đến khu vực an toàn để vận chuyển tù nhân; sau đó anh gõ cửa phòng Cảnh sát trưởng Cutler và ló đầu anh vào.

    “Có chuyện gì với nhân viên cục điều tra liên bang chúng ta có ở đây thế?” Calvin hỏi, tia sáng hiếu kỳ loé lên trong mắt anh. “Cậu đã ngồi trong văn phòng với cô ấy được một lúc khá lâu rồi đấy.”

    “Tôi nghi ngờ những gì mà cô ấy cung cấp cho chúng ta.” Knox nói “Và cô ấy biết về chuyện ngọn giáo, điều đó làm tôi khó chịu. Hoặc chúng ta có nội gián, hoặc cô ấy đã có thông tin từ trước.”

    “Chẳng hạn như từ tên sát nhân? À, xem nào,” Calvin ngả người ra sau. “Cậu đang cho tôi biết là cô Stover có mối liên hệ với tên sát nhân này, hoặc chính cô ta là người đã sử dụng ngọn giáo đó?”

    “Tôi không biết. Tôi không nghĩ vậy, nhưng có thể cô ấy biết kẻ đó là ai, và có thể đó là kẻ đã bắn cô ấy sáng nay. Dù với lý do gì đi nữa, cô ấy chắc chắn là mục tiêu tấn công sáng nay. Tôi sẽ đi điều tra một chút. Bất cứ ai đã bắn cô ấy cũng biết về chiếc xe thuê của cô ấy và đi theo cô ấy sáng nay. Có một số thứ tôi muốn kiểm tra và muốn đưa cô ấy đi cùng.”

    Cảnh sát trưởng gật đầu. “Được rồi, nhưng cẩn thận đấy.”

    Knox cảm thấy không thoải mái khi không nói toàn bộ sự thật cho cảnh sát trưởng, nhưng nếu anh kể cho ông nghe toàn bộ, Calvin có thể sẽ yêu cầu giam giữ Cô Đặc Vụ Giả Mạo vì tội đã mạo danh đặc vụ của Cục điều tra Liên bang, ít nhất là thế. Knox vẫn chưa quyết định về việc này, nhưng đầu tiên anh muốn có một vài câu trả lời thuyết phục. Anh không chấp nhận việc cô là người đến từ 200 năm sau, nó quá phi thực tế. Nhưng có điều gì đó kỳ lạ đang diễn ra, và anh muốn biết nó là gì.

    Cô đang kiên nhẫn đợi anh trong văn phòng, nguyên vị trí cô ngồi lúc anh thử chiếc máy quét ADN. Anh không biết phải nghĩ gì về điều đó, tất cả những người có tội đều tìm cách tận dụng cơ hội này và trốn, nhưng cô thì không. Không phải anh nói là cô sẽ thành công trong nỗ lực đó, vì anh đã lường trước mọi hành động của cô, và có khả năng là cô đủ thông minh để nhận ra điều đó.

    Nếu cô muốn bỏ trốn, thì cơ hội thành công cao nhất là khi cô và anh ở một mình. Anh có thể thấy là cô đã có cơ hội đó.

    “Đi nào.” Anh nói, và cô đứng lên, nhét mọi thứ trở lại trong túi. Anh vẫn giữ vũ khí của cô, và anh có ý định giữ nguyên tình trạng đó. Anh phải phát điên rồi mới trả lại vũ khí cho cô. Cô liếc mắt về phía nó, nhướng mày trong một câu hỏi thầm lặng, và anh mỉm cười và lắc lắc đầu “Không đời nào.”

    Cô chấp nhận mà không phàn nàn gì. Anh lùi lại và để cô bước ra cửa trước anh. Cô nghiêng người để lách qua anh, nhưng cô vẫn bước gần đủ để anh có thể cảm nhận được hơi ấm của cô, ngửi được hương thơm thoang thoảng ngọt ngào của làn da phụ nữ. Cô còn chẳng hề liếc anh lấy một cái, nhưng anh biết cô cũng đang có cảm nhận về anh như anh cảm nhận về cô.

    Đã lâu rồi chưa có người phụ nữ nào làm anh hưng phấn như vậy. Nỗi khát khao tình dục không giống việc trở nên hưng phấn như thế này, và phải, anh có muốn tình dục. Anh là một người đàn ông 35 tuổi bình thường, và anh không chết theo Rebecca. Nhưng khát khao một người phụ nữ cụ thể thì chưa bao giờ, chưa bao giờ xảy ra cho đến khi một người phụ nữ, Nikita Stover xuất hiện, với đôi mắt nâu to tròn và nụ cười thân thiện của cô. Anh phải cẩn thận không để sự hấp dẫn về mặt thân thể giữa họ khiến anh mù quáng trong việc xem xét sự phạm tội của cô, nếu có.

    Chiếc xe của anh đang đợi họ, và cô ngồi vào ghế phụ lái bên cạnh anh, và nghiêng người qua khiến người cô gần như nằm lên lòng anh và cô không bị nhìn thấy qua cửa sổ xe. Anh liếc xuống cô, đầu cô gần chạm vào đùi anh. Trời đất, cô phải biết điều đó gợi lên ý tưởng về cái gì chứ. Tay anh siết lại trên tay lái khi anh tưởng tượng đầu cô chuyển động lên xuống trên lòng anh. “Cậu bé” của anh lập tức ngóc lên để thu hút sự chú ý. Chết tiệt thật.

    “Chúng ta đi đâu đây?” anh hỏi, giọng của anh vẫn bình thường. Kể cả cho nó có giết anh đi nữa, anh vẫn sẽ giữ việc này trong tầm kiểm soát.

    “Hãy đi theo đường số 73,” cô hướng dẫn “Và cho tôi biết khi nào đủ an toàn để tôi có thể ngồi lên.”

    Họ đã đi một quãng xa khỏi toà nhà của toà án hạt trước khi anh nói “Được rồi, cô có thể ngồi thẳng dậy rồi.” Cô lập tức làm vậy, trong lúc hất tóc khỏi mặt cô. Anh cảm thấy dễ thở hơn ngay khi cô cài dây an toàn và ngồi vào phía ghế của cô.

    Đường số 73 hướng về phía trang trại cảu Jesse Bingham. Không thể có sự trùng hợp như thế được, anh tự nhắc bản thân mình. Chuyện gì xảy ra với cô cũng có liên quan trực tiếp đến những tia sáng mà Jesse nhìn thấy 3 đêm trước. Jesse có thể nói rằng cô đã giết gà của ông ta, nhưng không hiểu tại sao anh không thể liên tưởng Nikita như một kẻ ám sát những con gà.

    Nikita mở một thiết bị giống như gương phản chiếu ra, khiến tấm gương nâng lên bằng cách nhấn vào một cái chốt nhỏ, và để lộ ra một thiết bị GPS (hệ thống định vị toàn cầu). “Đi thêm khoảng hai dặm nữa.” Cô nói.

    Knox nhìn thiết bị định vị với vẻ quan tâm rõ rệt. Thiết bị định vị của quân đội thì chính xác hơn nhiều so với những thiết bị của các xe ô tô và tàu thuyền, và từ những gì mà anh nhìn thấy thì thiết bị này phải có tầm cỡ của một thiết bị chuyên dùng cho quân đội. Anh tự hỏi không biết cô lấy nó ở đâu, liệu có phải nó đã bị đánh cắp từ một căn cứ quân sự ở đâu đó.

    Cô quan sát thiểt bị định vị một cách cẩn thận, và ngay trước khi họ đi đến chỗ rẽ vào chỗ ở của Jesse, cô đột nhiên nói. “Ở đây. Đỗ vào đây đi.”

    Một cách ngoan ngoãn, anh phanh xe lại và rẽ hoàn toàn khỏi con đường, giấu nó vào sau những bụi cây. Cô đã bước ra khỏi xe, bước từ từ về phía một mảng rừng rậm rạp.

    Knox đi theo sau cô, quan sát cô, quan sát cách cô di chuyển và những lọn tóc tối màu bong mượt của cô đung đưa với mỗi bước chân. Sau đó họ đã hoàn toàn chìm vào bóng râm của khu rừng và những âm thanh của xe cộ thỉnh thoảng đi ngang qua đã mờ dần, được thay thế bởi âm thanh của tự nhiên: tiếng chim hót, những con côn trùng bay hối hả, lá cây nhẹ nhàng xào xạc trong những ngọn gió dịu dàng. Cô bước qua những cành cây gãy, vòng quanh những bụi cây thấm, nhưng không do dự hay đổi hướng mà cô đã chọn lúc ban đầu.

    Sau đó cô dừng lại và chỉ vào một khoảnh đất. “Ở kia.”

    Anh kiểm tra mặt đất. Nếu cô đã chôn cái gì ở đó, cô đã che dấu rất tốt. “Tôi đoán là tôi phải tìm một cái xẻng.”

    “Không cần đâu. Tôi có cái này rồi.” Cô lấy một ống nhỏ từ ví của mình ra, cái này màu đen, và nhấn vào đầu của nó. Anh đã nghĩ nó là một cái bút, hoặc một cái bút chỉ la ze. Anh đã đúng một nửa. Một ánh sáng xanh mỏng manh bắn ra từ chiếc ống và bắt đầu ăn sâu vào lòng đất. Cô di chuyển tia sáng đó theo những vòng tròn lớn dần, và dần đào sâu xuống dưới.

    Và sau đó cô tắt nó đi, quỳ xuống, đặt thiết bị định vị sang một bên; anh có thể nhìn thấy một loạt những vòng tròn đồng tâm đang toả ra từ trung tâm màn hình của nó, rộng dần và biến mất, chỉ để lại lăp lại. Điểm không, anh nghĩ. Nikita bắt đầu hất lớp đất xốp sang hai bên bằng tay không.

    Knox di chuyển đến đứng trước cô sao cho anh có thể để mắt đến cả cô và thứ gì đó cô đang đào ra, nhưng không quá gần để cô có thể tóm lấy mắt cá chân anh và hất anh ngã ngửa ra, hoặc ném đất vào mắt anh.

    “Lạ thật,” cô lẩm bẩm, “Tôi không nhớ là đã đào sâu như thế này trước đây.”

    “Cô có chắc đây là địa điểm chính xác không?”

    “Tôi đã đánh dấu trên thiết bị định vị mà. Tôi chắc chắn.” Một lúc sau cô kêu lên một tiếng thoả mãn và chộp lấy một góc của một cái túi nhựa trong, kéo nó ra khỏi đất.

    Không có cái gì trong túi cả.

    Knox quắc mắt nhìn vào cô. Cô vẫn đang quỳ trên đất, khuôn mặt cô trắng bệch ra như giấy khi cô nhìn voà chiếc túi trống rỗng.

    “Chúng biến mất rồi,”cô nói với tông giọng sít lại, kéo dài mệt mỏi. “Những chiếc vòng của tôi biến mất rồi, tôi đã bị kẹt ở đây.”
     
  19. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 10

    Nikita vẫn quỳ trên nền đất, gần như không có khả năng cất nên lời. Cô cảm thấy tê liệt vì sự sợ hãi và choáng váng. Ai có thể lấy đi những chiếc vòng kết nối của cô chứ? Ai có khả năng biết được chúng đã nằm ở đây? Cô đã nghĩ là chỉ có mình cô trong khi cô dịch chuyển, nhưng ai đó đã ở gần đây và quan sát cô chôn những chiếc vòng.

    Theo một cách hợp lý, đó không teher là người đã bắn vào cô, vì không có cơ hội nào tốt hơn để sát hại cô là khi cô ở một mình tại địa điểm cách biệt này.

    Theo một cách hợp lý hơn nữa, nếu một kẻ thù vô danh nào đó đã biết được cô đang dịch chuyển, tại sao hắn không chờ cô ở đây, để giết cô theo cách mà hắn đã giết Houseman? Chỉ có một giải pháp nảy ra trong đầu cô giải thích được cả hai thắc mắc đó.

    Trong khi vẫn cầm chiếc túi không thấm nước trong tay, cô vươn ra để lấy chiếc máy quét ADN, nhưng không thể mở nó ra chỉ với một tay. Cô chìa nó ra cho Knoz. “Anh có thể mở cái này ra giúp tôi được không?” cô hỏi. Giọng của cô nghe vẫn đầy căng thẳng, kể cả với chính bản thân cô, nhưng nó đã bình tĩnh hơn một chút.

    Một cách im lặng, anh cầm lấy chiếc máy quét và trượt nó mở ra, sau đó đưa nó lại cho cô.

    Cô nhắm nó vào chiếc túi và nhấn chiếc nút. Bất kỳ mẫu thử nào tồn tại đều có khả năng bị phá huỷ bởi đất, nhưng những chiếc máy quét hiện địa nhất đã có những chức năng tốt hơn các máy đời cũ hơn, có khả năng khôi phục lại những phần bị phá huỷ. Nếu may mắn, cô có thể đọc được các mẫu có trên chiếc túi này.

    Ánh sáng nhá lên, chỉ ra những chỗ có tồn tại AND trên chiếc túi. Cô nhấn chiếc máy quét vào một trong những điểm đó và kết quả hiện ra trên màn hình: Nikita Stover – “Được rồi, những mẫu này đủ rõ để máy quét có thể đọc được,” cô tự lẩm bẩm khi cô mở nắp chiếc túi. Cô liếc lên Knox, “Kết quả đầu tiên là của tôi. Hãy xem chiếc máy sẽ cho ra kết quả gì với những mẫu còn lại.”

    Mẫu tiếp theo cũng vẫn là của cô. Và cả mẫu thứ ba. Tuy nhiên với mẫu thứ tư, chiếc máy cho ra kết quả khác. Cô đọc to nó lên. “Chủ thể không xác định. Cấu trúc gene giống với thổ dân vùng Bắc Âu, đặc biệt là những tộc người Celtic. – Trời đất ơi, Knox, đó là anh.”

    “Ha ha ha” anh trả lời. “Tôi đoán tôi không phải thông báo cho cô biết là hầu hết người vùng này đều có nguồn gốc gene giống nhau. Đừng có nói với tôi là trong đó cũng có dấu tích gene của người Cherokee đấy nhé?”

    “Không, anh trong sạch. Phần còn lại của nó là: và có mức độ thấp hơn dấu vết của người dân vùng Nam Địa Trung Hải. Chủ thể có mắt xanh và màu tóc nâu. Cần thêm dữ liệu để có thông tin rõ hơn.”

    “Bản miêu tả đó khoanh vùng khu vực điều tra xuống còn vài ngàn người trong khu vực này.”

    Nikita ngồi bệt xuống đây, nhìn chăm chăm vào màn hình của chiếc máy. Làm thế nào mà việc này còn có thể trở nên tệ hơn được chứ? Nhưng cô đã ở giữa một thực tế phũ phàng và lạnh lẽo – đúng là mọi việc đã trở nên tệ hơn. “Anh biết điều này có nghĩa gì, đúng không?”

    “Nghĩa là cô không có cách nào để miêu tả rõ cho tôi thấy rằng cô thực sự có khả năng dịch chuyển xuyên thời gian đúng không?” anh trả lời với vẻ khắc nghiệt.

    “Có nghĩa là đây không phải người nào từ thời đại của tôi.” Cô giải thích một cách kiên nhẫn.

    Anh ngồi xổm xuống trên gót chân ngay trước mặt cô, đôi mắt nheo lại, “Làm thế nào cô biết điều đó?”

    “Chủ thể không xác định. Nếu bất kỳ ai đó đến từ thời đại của tôi đánh cắp những chiếc vòng này, chắc chắn phải có số liệu của hắn ta trong dữ liệu của máy.”

    “Các cô có dữ liệu của hầu hết dân số thế giới trong ngân hàng dữ liệu sao?” Anh hỏi với vẻ tò mò.

    “Không phải tất cả mọi người, kể cả gần với con số đó cũng không. Nhưng mọi nhân viên của FBI đều có dữ liệu trong ngân hàng dữ liệu, và cả những thành viên của Hội đồng và tất cả các nhân viên trong phòng Thí nghiệm Du hành thời gian. Thông tin của những ai có tiền án tiền sự cũng bị đưa vào. Và nếu tính đến việc hầu hết những thành viên của tổ chức phản đối Du hành thời gian đều đã từng phạm tôi, nhẹ nhất là gây rắc rối nơi công cộng, họ cũng nằm trong cơ sở dữ liệu.”

    Cô quẹt ngang trán, để lại một vệt đất mờ trên da. “Không, những chiếc vòng đã bị lấy đi bởi người từ thời đại của anh. Tôi không biết nên cảm thấy nhẹ nhõm hay không nữa. Một công dân ngây thơ – à, có lẽ là không ngây thơ đến thế, nhưng vẫn là một công dân – đã lấy những chiếc vòng đó và không thể ngờ đến chuyện gì sẽ xảy ra nếy anh ta đeo nó vào và vô tình khởi động nó.”

    Liếc lên, cô nhìn thấy một thoáng sự kiên nhẫn và một chút tin tưởng xuất hiện trên mặt anh, và cô thở dài. “Anh không tin tôi. Ngay cả với chiếc máy quét DNA đã thuyết phục anh, và cả tuýp Reskin nữa.”

    “Tuýp Reskin đã gần thuyết phục được tôi,” anh thừa nhận, đứng thẳng người lên và chìa tay về phía cô. “Nhưng cô cũng nên thực tế một chút đi, làm thế nào mà tôi có thể tiêu hoá được chuyện này chứ?” (But get real; how can I swallow this, hook, line and sinker?)

    “Tôi không yêu cầu anh phải nuốt bất kỳ cái móc câu nào cả.” cô lẩm bẩm một cách giận dữ khi anh kéo cô đứng thẳng lên.

    (Trong trường hợp này chị đang hiểu lầm ý anh. Thành ngữ “hook, line and sinker” có nghĩa là “một cách hoàn toàn” – giống khi câu cá, cá nuốt hết cả móc câu, dây và phao khi câu)

    Ánh sáng dưới các tán cây dường như sáng hơn, và một tiếng ì ầm trầm thấp, gần như không nghe thấy được ngập tràn trong không trung. Cứng người lại, Knox thả tay cô ra và ấn một ngón tay vào tai. “Âm thanh gì vậy? Cô có nghe thấy nó không?”

    Nikita giơ một tay lên ra dấu cho anh im lặng, quay người một vòng khi cô cố xác định địa điểm khởi nguồn của tiếng động đó. “Nằm xuống,” cô nói một cách khẩn cấp khi cô chộp lấy chiếc bút la ze của mình. Cô nằm nhào sấp xuống mặt đấy. “Nằm xuống ngay!” cô gào lên với anh khi anh chậm chạp không làm theo lời cô nói. Cô chộp lấy chiếc giầy ống gần với cô nhất và kéo nó ngược về phía sau làm anh ngã nhào; anh có thể đã ngã đâp mặt xuống đất nếu anh không xoay người theo kiểu một con mèo và ngã ngửa ra.

    “Úp mặt xuống!” cô ấn tay trái lên phía sau đầu anh và ấn mặt anh xuống đất, nhào lên và nằm một nửa trên người anh khi cô chúi đầu xuống và che tay ngang mắt.

    Cô nhìn thấy ánh sáng trắng loá đó một lần nữa qua làn mi nhắm chặt, ngay cả khi đầu cô đã chúi xuống, cảm thấy mọi tế bào trong cô thể cô run rẩy khi năng lượng quét qua người cô. Tĩnh điện ào chảy tràn qua da cô, tóc cô. Cô cảm thấy như bị đông cứng lại một thời gian ngắn; và khi ảnh hưởng của nó mất dần đi, cô ép bản thân mình đứng ngẩng đầu lên, điều khiến cô cảm giác như đầu mình phải nặng gấp 3 lần bình thường. Mọi thứ dường như đang trong một thước phim quay chậm, mọi cử động đều cần đến một nghị lực phi thường. Dưới cô, Knox đang cựa quậy, cố để ngồi dậy, đầu anh đang ngóc lên.

    Mờ ảo trước mắt họ, đang rõ dần, là hình ảnh một người đàn ông.

    Một cách may mắn, anh ta đã xuất hiện quay lưng về phía họ. Nikita có một phần của giây để nhận ra thứ vũ khí anh ta đang cầm trên tay. “FBI đây!” cô hét lên “Bỏ vũ khí xuống.”

    Một cách chậm rãi, anh ta giơ cả hai tay lên, và cũng với cử động chậm rãi như vậy, anh ta quay đầu lại để nhìn cô qua vai. “Đặc vụ Stover,” anh ta nói “Tôi là đặc vụ Luttrel.”

    “Có thể đúng, có thể đó là lời nói dối. Buông vũ khí xuống, quay nửa vòng sang trái, và sử dụng tay trái để lấy thẻ của anh ra.” Cô không nhận ra anh ta, điều đó có lẽ chả có nghĩa lý gì, nhưng sau khi mọi thứ đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát với nhiệm vụ này, cô không dám mạo hiểm chút nào.

    Knox hơi nhấc người lên phía dưới cô, cánh tay phải của anh di chuyển, và cô nhận ra anh đã rút sung của mình ra, nhưng vì có cô nằm đè lên nửa người bên phải của anh, anh không thể ngắm một cách chính xác. Nếu anh di chuyển quá nhanh hoặc với biên độ quá rộng, anh có thể khiến cô mất thăng bằng, và từ cách người anh di chuyển một cách từ tốn và bình tĩnh, cô biết rằng anh cũng nhận ra điều đó. Anh di chuyển một lần nữa, và khi anh rút tay trái của mình ra, cô nhận ra anh đã chuyển vũ khí sang tay không thuận.

    “Từ từ thôi,” người đàn ông nói, từ từ cúi xuống để đặt vũ khí của anh ta lên mặt đất. Anh ta bắt đầu quay lại, trọng tâm của anh ta chuyển sang chân trái. Những bắp cơ đùi đầy sức mạnh của anh ta cứng lại…có một giây cô không thể nhìn thấy tay phải của anh ta….và sau đó là một loạt các chuyển động nhanh chóng khi anh ta xoay người lại, một ánh sáng xanh mỏng manh bắn ra từ tay phải của anh ta.

    Cô bắn một tích tắc trước khi anh ta kịp bắn. Tia la de trúng ngay bụng anh ta và kéo dài lên phía trên, mùi thịt khét tràn trong không khí. Cú bắn của anh ta in xuống đất vài inch từ chỗ cánh tay vươn ra của Knox. Người đàn ông gục xuống ngay chỗ anh ta đứng, chân của anh ta giật giật vài cái trước khi anh ta bất động hoàn toàn.

    Trong sự im lặng âm trầm sau đó, Nikita cảm thấy hơi thở ra vào nhanh chóng của Knox, cảm thấy tiếng tim đập của bản thân mình, mạch của cô đập liên hồi trên cổ tay và cổ.

    “Chết tiệt thật,” Knox nói, đẩy cô sang một bên và đứng bật dậy trong một cử động gọn gàng. Anh tiếp cận với người đàn ông đã chết một cách cẩn trọng, giữ vũ khí của anh trong cả hai tay và sát với người, từ từ tiến về phía trước cho đến khi anh có thể đá khẩu súng la de xa khỏi người đàn ông.

    “Anh ta còn có khả năng có những vũ khí gì nữa?” Anh hỏi Nikita mà không nhìn vào cô.

    “Tôi không biết,” cô nói một cách đờ đẫn. Cơn buồn nôn cuộn lên trong dạ dày cô, nóng và kinh tởm. Cô cảm thấy bản thân mình túa ra những giọt mồ hôi lạnh. Cô chưa từng giết ai trước đây, chưa bao giờ phải sử dụng đến súng của cô, trừ trong những buổi huấn luyện và thực hành. Cô nhìn chăm chăm vào người đàn ông đang nằm sõng soài trên đất, đầu anh ta hơi nghiêng sang bên và mắt mở to như đang nhìn trừng trừng vào cô.

    Anh ta không thể nào đang quan sát cô được. Cô biết điều đó, biết rằng anh ta đã chết. Anh ta đã có thể giết chết cô và Knox nếu cô không nhanh tay hơn, nếu cô không được cảnh báo trước. Cô cũng biết điều đó. Nhưng biết là một chuyện, nhưng cảm thấy nó lại là một chuyện khác, và cô cảm thấy phát bệnh về những gì cô đã phải làm.

    Knox quỳ xuống bên cạnh cái xác và chạm hai ngón tay vào cổ anh ta, để xem còn mạch đập không. Sau đó anh bắt đầu kiểm tra các túi của người đàn ông một cách từ từ nhưng hiệu quả.

    “Cô có muốn giúp tôi một tay không?” Anh hỏi Nikita.

    (Trong nguyên tác, Knox hỏi Nikita “Do you want to give me a hand?”)

    Tay nào? Cô băn khoăn, run lên trước yêu cầu đó.

    (Nikita hiểu theo nghĩa đen của Knox nên đã phải tự hỏi không biết phải đưa cho anh ta tay nào)

    “Thôi nào, đừng chỉ ngồi đó..” anh quay lại nhìn vào cô qua vai anh trong khi nói, và anh khựng lại, “Cô xanh như ếch ấy,” anh nhận xét “Đây là xác chết đầu tiên của cô à?”

    Một cách chậm rãi, cô lắc lắc đầu “Dù vậy, đây cũng là người đầu tiên chết do lỗi của tôi.”

    “Đó là lỗi của anh ta, không phải của cô. Tôi sẽ không khẳng định rằng cô sẽ vượt qua được chuyện này, nhưng giờ hãy đặt nó sang bên nếu cô có thể. Tôi cần mọi vật kỳ lạ không thể giải thích được được lấy ra khỏi người anh ta.”

    Cô đứng một cách run rẩy. Tiếp cận với xác chết đó là một trong những việc khó khăn nhất mà cô từng làm, nhưng cô bắt bản thân đặt chân này trước chân kia cho đến khi cô có thể quỳ trên một chân bên cạnh Knox. “Anh định giải thích vết thương này thế nào?” cô hỏi. Cô đang run rẩy đến tận xương, lẩy ba lẩy bẩy từ chân lên đến tận đỉnh đẩu.

    “Tôi sẽ không,” anh nói, “chúng ta sẽ để anh ta lại đây. Rồi ai đó cũng sẽ tìm thấy anh ta.”

    “Điều này đi ngược lại luật pháp,” cô cảm thấy có nghĩa vụ phải chỉ ra. Cô nuốt nước bọt hai lần một cách khó khăn để ngăn bản thân mình khỏi nôn ra.

    “Chết tiệt, cô nghĩ là tôi không biết à?” anh ngắt lời. “Tôi đang mạo hiểm bản thân với án tù đấy, nhưng cô cho tôi biết xem điều gì sẽ xảy ra khi tôi báo cáo về vụ việc này? Làm thế nào chúng ta giải thích được việc lang thang trên đồi vào lúc này và vô tình gặp phải một xác chết mà , à phải rồi, vô tình lại trở thành xác chết vào đúng thời điểm mà chúng ta gặp nó? Dù không có thời điểm tử vong để chỉ ra, thì cũng có khá nhiều người sẽ thắc mắc vai trò của chúng ta trong vụ này, và người đầu tiên sẽ là cảnh sát trưởng.”

    “Có lẽ nên thực hiện một cuộc gọi nặc danh, sau này ấy.” cô nói.

    “Rất khó để gọi một cuộc gọi nặc danh mà không có các dụng cụ đổi nguồn, hoặc một chiếc điện thoại an toàn. Tôi không có điều thứ hai và cũng chả có tí manh mối nào để làm được cái đầu tiên cả.”

    Anh đang giận dữ, điều mà không phải không có nguyên nhân. Cô đã đặt anh vào một vị thế không thể tự bảo vệ mình, và dù cô không thể biết được việc có người sẽ dịch chuyển đến vị trí gần như là ngay trên đều họ, cô vẫn là nguyên nhân gây ra cái chết của Luttrell, và giờ thì họ phải che giấu điều này đi. Họ đều là các sỹ quan cảnh sát, và giờ thì họ đang phải phá những điều luật mà họ đã thề sẽ tuân theo. Ít nhất thì đó là những gì cô làm, trong khi Knox phải cảm thấy như thể anh đang mắc kẹt trong một cái bẫy.

    “Tôi xin lỗi,” cô nói cố gắng bình tĩnh hết sức có thể. “Cách duy nhất để khiến điều này trở nên đúng đắn là bắt giữ tôi. Tôi là người đã giết anh ta, không phải anh. Anh không nên bị dính vào chuyện này.”

    “Không, chết tiệt nó đi, tôi không nên, nhưng tôi đã liên quan rồi.” giọng anh nghe hung dữ, ánh nhìn màu xanh của anh sắt lại. “Tôi có thể bắt giữ cô, nhưng cô giết anh ta bằng cách nào? Vũ khí của cả tôi và cô đều không được khai hoả. Có lẽ cô có thể kể với họ là cô nướng anh ta với một cái bút khi anh ta hiện ra trước mắt cô, rằng anh ta là một người xấu đến từ tương lai, và những thứ đáng tin khác mà cô đang kể tôi nghe? Cô sẽ ở trong một trại tâm thần nhanh hơn cô tưởng đấy. Hoặc cô có thể miêu tả tia la ze mỏng manh đó, và cô sẽ nghe những câu hỏi mà tôi chắc chắn như quỷ là không muốn trả lời. Cô thì sao? – Không, tôi không tôi nghĩ vậy. Đây là thời của tôi, hạt do tôi phụ trách, hãy làm những gì mà tôi bảo đi. Giờ thì có gì khác không thể giải thích được và cần phải tháo ra không?”

    ”Những chiếc vòng kết nối của anh ta,” cô nói như hụt hơi. Ép bản thân mình phải chạm vào người đàn ông đã chết kia, cô xắn cổ tay áo của anh ta lên và tháo dải băng quấn xung quanh cổ tay anh ta xuống, và kéo ống quần anh ta lên rồi làm tương tự với những dải băng xung quanh cổ chân anh ta.

    “Giờ thì cô đã có những chiếc vòng kết nối rồi,” Knox chỉ ra.

    Cô đã nhận ra điều đó và đang kiểm tra chúng xem có bị hư hại gì không. Một cú tấn công bằng la ze có thể làm hại đường truyền và gây đoản mạch. Cô xoay tròn mỗi chiếc vòng, tìm kiếm những vết cháy. Cô đã bắt đầu cảm thấy lạc quan leen cho đến khi cô nhặt chiếc vòng đã từng nằm trên cổ chân trái của anh ta lên. Cạnh bên ngoài của khớp nối đã bị đen lại, có nghĩa là nó đã bị tác động bởi laze. Thời gian và ánh sáng đã xoắn vào nhau như vặn thừng, và họ phát hiện ra rằng, trong khi tia sáng trắng không làm hỏng những chiếc vòng thì những quang phổ khác đã có thể làm vậy nếu nó đủ mạnh. Và một tia sáng laze thì chắc chắn là đủ mạnh để làm vậy.

    “Một trong số chúng đã bị hư hại.” Cô cố giữ sự thất vọng không thể hiện ra trong giọng nói. Và thất bại thê thảm trong việc đó, nhưng ít nhất thì cô cũng đã cố gắng.

    “Nhưng ba trong số chúng còn hoạt động đúng không? Chuyện gì có thể xảy ra nếu thiếu cái kia?”.

    “Tôi sẽ không thể chuyển đổi thành hình dạng cụ thể trong thời không của mình. Tôi vẫn có thể tồn tại, tôi đoán vậy, nhưng sẽ chỉ là một đám mây phân từ ở đâu đó.”

    “Thật đáng tiếc. Vậy thì chúng ta sẽ không tiến hành theo cách đó được rồi.” Anh đang vỗ nhẹ dọc theo thân người của gã đặc vụ; tìm thấy tấm thẻ phù hiệu và cho nó vào trong túi quần, cùng với súng la ze, và sau đó nhặt những vũ khí khác lên và bắt đầu kiểm tra chúng. “Anh ta có phải một FBI thật không? Anh ta có một tấm thẻ y hệt như của cô.”

    “Vậy có lẽ đúng,” cô nói nhẹ nhàng,”những tấm thẻ này không thể bị làm giả được.” Đứng thẳng dậy, cô cầm lấy chiếc máy quét DNA của mình và ấn vào bàn tay của người đàn ông.

    “Lutrell, Jon Carl,” cô đọc to, bỏ qua đoạn miêu tả hình thể. “Đối tượng quét đã làm việc cho Bộ tư pháp Mỹ, cục điều tra. Vậy hắn ta quả thật là một FBI.”

    “Vậy thì việc quay lại với cô không an toàn, kể cả khi cô đã có trong tay cả 4 chiếc vòng còn trong trạng thái hoạt động tốt. Có ai đó trong trụ sở của cô đã gửi anh ta đến để săn lùng cô. Chiếc đồng hồ thì sao?”.

    “Cứ để nó lại đó đi, về cơ bản thì bề ngoài và cách làm việc của chúng vẫn không thay đổi theo thời gian mà.”

    “Rõ ràng có ai đó không muốn cô quay lại,” anh chỉ ra. “Quần áo này được làm ra từ chất liêu bình thường, hay nó là loại không thể phá huỷ được?”

    “Quần áo này làm bằng chất liệu tổng hợp. Trừ khi nó được giao cho môt nhà hoá học để phân tích cấu trúc phân tử, không ai biết sự khác biệt đâu.” Cô không cần anh nói mới nhận ra rằng cô không thể quay lại bây giờ. Cô đã nhận thức được một cách rõ ràng rằng cô đã bị bỏ lại đây hoàn toàn.

    “Làm thế nào mà một cách tình cờ, anh ta lại xuất hiện ngay trên đầu chúng ta chứ? Tỉ lệ xảy ra của việc đó là bao nhiêu?”

    “Nó khá dễ hiểu. Tại sao ai đó lại nghĩ rằng tôi sẽ xuất hiện ở đây chứ? Toạ độ vật lý chắc chắn vẫn còn được lưu trong máy trừ khi ai đó đi xuyên thời không sau thời điểm tôi dịch chuyển. Thay đổi thời gian lùi lại 24h và việc xuất hiện tại đúng nơi này không có gì khó khăn cả.”


    “Ngoại trừ việc vô tình chúng ta lại có mặt ở đây.”

    “Vì có ai đó đã bắn vào tôi. Ai đó từ thời không của anh. Đó là việc mà họ không thể biết, vì thế họ sẽ không hi vọng là tôi sẽ quay lại sớm như vậy.”


    “Thời không của tôi? Ở đây á? Ý tôi là, bây giờ?” Anh ngồi thẳng dậy, tựa trên gót chân, nhìn thẳng vào cô với ánh nhìn nghi ngờ như thể trong đầu anh đang lướt qua toàn bộ các bằng chứng. “Uhm, tôi hiểu ý cô. Nếu là ai đó từ thời không của cô, sự lựa chọn vũ khí phải là laze chứ không phải là súng săn.”

    Và cô có thể đã chết rồi, cô nghĩ. Những tia laze rất yên lặng, như những tia nắng. Nếu không có tiếng súng vang lên, có thể cảhai người họ sẽ chẳng để ý đến tia sáng mỏng manh đó cho đến khi nó ghim vào người cô. Lúc đó họ vẫn còn đang tranh cãi kịch liệt với nhau.

    “Nhân tiện đang bàn về vũ khí, đó là cái gì thế?”. Anh chỉ về chỗ mà Lutrell đã đặt vũ khí xuống khi Nikita yêu cầu.

    “Cái đó cũng là vũ khí laze, nhưng hoạt động ở tầm xa hơn cái này rất nhiều,” cô nói, chỉ về chiếc bút laze.

    “Một súng laze bắn tỉa.”

    “Đúng vậy.” Cô đi về phía loại vũ khí đó và nhặt nó lên và kiểm tra. Đó là loại XT37, loại hiện đại nhất; chỉ những đội chống khủng bố mới có chúng. Chắc hẳn ai đó với quyền lực cấp cao đã cho phép Lutrell dịch chuyển.

    Bản thân Lutrell có thể là một người tốt, đã được thông báo là cô đã trở thành một kẻ phản động và phải bị tiêu diệt. Nếu cô có nhiều thời gian để cân nhắc tất cả mọi khía cạnh, cô có thể đã chỉ làm anh ta bị thương thay vì giết anh ta, mặc dù laze có thể khiến người ta tàn tật nặng nề đến nỗi nhiều người nghĩ rằng bị thương bởi nó nhiều khi còn tệ hơn đã chết. Tia sáng nhỏ bé đó có thể làm bốc hơi cả một bàn tay với tốc độ như khi người ta bóp cò súng và thả ra, thậm chí còn nhanh hơn, vì tốc độ của bản thân tia sáng đã vượt xa cả sự khống chế của máy tính.

    Một cú cắt ngang được coi như là một cú tấn công gọn gàng khi dính dáng đến laze, nhưng nếu nó chạm đến bất kỳ nơi nào trên thân người thì thỉnh thoảng nạn nhân cũng có thể sống sót được, nhưng hậu quả rất khủng khiếp, dẫn tới rất nhiều cuộc phẫu thuật thay nội tạng, và sự tăng vọt của năng lượng thường ảnh hưởng đến thần kinh nạn nhân. Một cú tấn công vào đầu bằng laze đồng nghĩa với cái chêt tức thì.

    XT37 là một vũ khí hàng đầu, dài khoảng 3 feet, và nặng 15 pound. Vứt bỏ hay tìm cách giấu nó đi đều không dễ dàng. Mặt khác, bây giờ họ chính là những người kiểm soát nó, mang lại cho họ một lợi thế.

    “Còn gì nữa không?”. Anh hỏi trong khi lục soát giầy của Lutrell.

    Cô quay lại ngồi xuống trước mặt anh, đặt khẩu súng XT37 cạnh chân. “Trên người anh ta có lẽ có một con chip đấy.”

    “Một con chip máy tinh à?”

    Cô gật đầu. “Như một biện pháp phòng ngừa. Dùng để theo dấu anh ta.”

    “Cô có không?”

    “Không.” Cô đã được yêu cầu giữ một con chíp, nhưng cô từ chối, và bởi vì trên toà án vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau về việc sử dụng chip, hiện tại các đặc vụ vẫn được quyền từ chối cài chúng vào người. Cô chưa bao giờ thích ý tưởng thượng cấp của cô có thể theo dõi bất kỳ hành động nào mà cô và các đồng nghiệp thực hiện.

    “Nếu anh ta có một con chip trong người, nó có thể ở đâu?”

    “Thông thường nó được gắn vào một loại trang sức. Ban đầu nó được thiết kế để cấy vào dưới da, nhưng tất cả mọi người đã sẵn sàng từ chức tập thể để phản đối, vì thế nó đã được thay đổi.” Cô thay đổi vị trí để trượt tay vào cổ áo của người đàn ông tìm kiếm một chuỗi dây. Cô tìm thấy và lôi nó ra; đó là một chiếc mề đay hình thánh Christpher, nhưng khi nhìn kỹ thì cô không tìm thấy gì cả, chỉ là một chiếc mề đay bình thường. Không có con chip nào được gắn vào.

    “Hãy thử tìm ở khoá thắt lưng anh ta xem.” Cô chỉ dẫn trong khi nhấc tay trái của Lutrell lên và tháo chiếc nhẫn anh ta đang đeo ra. Kể cả nó cũng không có gì.

    Knox đã tháo thắt lưng của Lutrell ra và xem xét chiếc khoá thắt lưng, kể cả mặt trước và sau. “Con chip to cỡ nào?”

    “Vô cùng nhỏ.”

    “Nó sẽ như một điểm nổi lên trên bề mặt kim loại đúng không?”


    Cô vươn tay ra để lướt ngón tay trên bề mặt của chiếc khoá thắt lưng mà anh đã chỉ ra, và đầu ngón tay nhạy cảm của cô cảm thấy một điểm hơi nhám hơn, như thể có một chút kim loại thừa đã bám vào bề mặt của chiếc khoá trong quá trình sản xuất. Ánh sáng dưới tàng cây quá yếu, và cô không thể nhìn rõ để khẳng định rằng đó là con chip.

    “Anh có cái nam châm nào không?”, cô hỏi.

    “Vô tình là tôi lại có.” Anh duỗi thẳng chân phải ra và đưa tay vào túi quần jean để lôi con dao của anh ra. Anh mở một trong những vật được gắn với con dao ra, để lộ ra một chiếc nam châm nhỏ, tròn.

    Nokita cầm lấy con dao và quay lại xem xét điểm nổi lên trên khoá thắt lưng. Chiếc nam châm không mạnh, nhưng nó đủ để cô lôi ra những cạnh của “điểm” đó.

    “Đúng là nó rồi,” cô nói, cất chiếc nam châm đi và trả con dao cho anh.

    “Làm thế nào chúng ta vô hiệu hoá nó? Đập nát nó à?”

    Cô lấy chiếc bút laze, đặt chiếc khoá thắt lưng lên mặt đất, lệch sang một bên. Sau đó nhắm chiếc bút laze vào nó, cô nhấn nút và chiếc khoá tan chảy lập tức.

    “Cái đó sẽ có hiệu quả đấy.” Knox nói móc.

    Giờ thì cô thấy nắm lại được phần nào quyền kiểm soát. Cô sẽ không để mình sụp đổ, ít nhất là không phải bây giờ. Có lẽ sau này, nhưng giờ thì cô chỉ có thể suy nghĩ, và hành động. Cùng nhau, họ kết thúc việc lục soát người Lutrell , và tìm thấy một lương tiền mặt được gấp lại và khâu vào mặt sau chiếc áo khoác của Lutrell. Anh ta đã đến với sự chuẩn bị trước rất tốt, cô nghĩ trong khi đếm chúng. Cô đưa số tiền cho Knox. Họ còn tìm thấy một thẻ tín dụng, giống hệt như những chiêc thẻ tín dụng khác, và họ bỏ lại nó.

    “Nó là giả đấy.” Cô nói với Knox.

    “Làm thế nào cô biết?”

    “Anh có nghĩ là một chiếc thẻ tín dụng nguyên bản từ thời đại này có thể tồn tại được đến thời đại của tôi không? Nó được làm giả tương tự như cái của tôi.”


    “Cô đã bao giờ sử dụng nó chưa?”

    “Tôi phải dung, để thuê một chiếc xe và một phòng nghỉ. Chúng tôi đến với sự chuẩn bị kỹ mà.”

    “Vậy là các người đang ăn trộm.”


    “Về mặt cơ bản, đúng vậy. Chúng tôi biết mình phải đối mặt với chuyện gì ở đây, và chúng tôi cần có phương tiện để chứng minh thân nhân cụ thể.”

    Knox xoa mắt, nhìn như thể anh không muốn nghe thêm gì nữa. “Đây không phải quy trình tiêu chuẩn,” cô an ủi anh. “Đây chỉ là những biện pháp dùng trong trường hợp khẩn cấp thôi.”

    “Vậy cô đã phá vỡ những luật nào rồi?”

    “Giờ thì anh biết hết rồi đấy.”

    “Vì chúa, tôi hi vọng là vậy.”
    Anh nhìn xung quanh. “Hãy thu thập tất cả các thứ này, sau đó xoá sạch dấu chân của chúng ta và để lại hiện trường sạch sẽ nhất có thể.”

    Cô nhặt chiếc túi chống thấm đã từng dùng để đựng những chiếc vòng của cô lên, và cho nó vào trong ví. Không cần thiết phải lấp chiếc hố cô đã đào, một chiếc hố rỗng chẳng nói lên điều gì ả. Cô lấy lại toàn bộ những thiết bị còn lại, và cất chúng đi, sau đó nhìn xung quanh. Cô đã cầm mọi thứ rồi.

    Knox đã cầm mọi thứ họ lấy được từ người Lutrell và cho vào trong túi của anh, sau đó anh nghiêng người xuống để lấy khẩu XT37. “Xong rồi. Giờ thì tất cả những gì chúng ta phải làm là đi đễn xe của tôi mà không bị phát hiện hoặc nhân mặt, và hi vọng rằng không ai nhìn thấy chiếc xe và gọi điện báo lại biển số. Và cái xác này sẽ không bị tìm thấy trong vài năm tới.”

    Họ đã gặp may. Đường cao tốc thường hay có xe đi lại, nhưng vào giờ này trong ngày thì mọi người vẫn chưa đi làm về, và trường học thì đang nghỉ hè. Một chiếc xe tải có thùng đi ngang qua, và họ nghe thấy tiêng chiếc xe đúng lúc để ẩn mình vào đám cỏ cao cho đến khi nó đi qua.

    Knox cho khẩu XT37 vào tronng thùng xe, đóng lại, và cả hai người đều chui vào trong xe.

    “Giờ sao đây?” cô hỏi, thắc mắc không biết ngày hôm nay có thể trở nên tồi tệ hơn được nữa không.

    Anh nói, “Tôi sẽ đưa cô về nhà với tôi.”
     
    myuyen79, tuyaile, uyenki and 10 others like this.
  20. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 4

    Chapter 11

    Knox quá giận dữ đến nỗi gần như không thể kiểm soát mình, nhưng không điều gì trong hàng loạt sự kiện vừa xảy ra là lỗi của Nikita, vì vậy thật không công bằng khi anh trút cơn giận lên cô. Anh cảm thấy giận dữ vì bị đặt vào tình huống bắt buộc phải nói dối với những người mà anh làm việc cùng, những người đặt niềm tin vào anh; với cảnh sát trưởng Cutler, vị sếp tuyệt vời nhất mà Knox có thể tưởng tượng ra. Anh phát điên lên với việc phải phá luật, chính những luật lệ mà anh đã giành cả cuộc đời trưởng thành của mình để bảo vệ, nhưng anh thấy không còn cách nào khác nữa.

    Nếu anh nói lên sự thật, không những không ai tin anh và Nikita, mà thậm chí họ còn có thể bị bắt vì tội sát nhân, chưa nói đến việc cô có thể bị buộc tội giả mạo một nhân viên FBI mặc dù cô thực sự là một đặc vụ liên bang, chỉ là không phải của thời này thôi.

    Anh không muốn tin những gì anh đã nhìn thấy. Một truyện cười cũ lướt qua trong óc anh: một người chống lừa dối vợ, bị bắt quả tang đã nói “Em yêu, em sẽ tin ai, anh hay đôi mắt đang tự lừa dối của em?”. Và gần như trên tất cả, Knox muốn tin rằng mắt của anh đang nói dối anh. Gần như. Vì anh đã nhìn thấy tất cả, và sự tò mò đã phản bội lại anh. Dưới sự giận dữ của anh có một nhu cầu vô cùng mạnh mẽ; anh có thể cố gắng kìm chế mình để đưa Nikita về nhà và quẳng vào cô hàng đống câu hỏi.

    Họ đã về gần đến thị trấn khi anh liếc sang phía cô. Cô đã hoàn toàn im lặng kể từ khi ngồi vào xe, có thể đang chìm vào những suy nghĩ của riêng cô hay để mặc anh với những suy diễn của riêng mình mà không muốn đếm xỉa đến – có lẽ là cả hai. Giết chết người đặc vụ kia đã khiến cô suy sụp, một cách hoàn toàn, nhưng cô đã gượng lại và thực hiện những hành động cần thiết. Nếu cô đã không suy sụp đến vậy, anh đã có thể nhấn chìm cô với đống câu hỏi đang nung nấu anh, chỉ chực nhảy xổ ra khỏi miệng, nhưng anh nghĩ cô cần thời gian để hồi phục lại.


    Cô đang trong tình trạng nguy hiểm. Đây đã là cố gắng tấn công lần thứ hai chỉ trong một ngày. Anh đồng ý với kết luận của cô rằng bất kỳ ai đã bắn vào cô sáng nay có lẽ là đến từ thời của anh, ngay bây giờ và ngay ở đây – nhưng ai có thể biết được là cô đang đến, và cô có thể ở đâu? Điều hợp lý duy nhất để giải thích là đó là một cú tấn công ngẫu nhiên, một kẻ điên nào đó đã bắn vào một người lạ hoàn toàn với hắn ta........một điều có vẻ như không có khả năng xảy ra lắm. Pekesville không có nhiều những kẻ điên như thế lắm, và với văn phòng cảnh sát trưởng và đội ngũ cảnh sát ở Pekesville, thì tất cả những kẻ đó đều có thể bị điểm mặt. Những gì mang tính bạo lực duy nhất không có liên quan đến ma tuý và cồn là bạo hành gia đình, và những tham số đó chỉ là không phù hợp với giả thiết.

    Vì thế kẻ du hành thời gian đến để sát hại Taylor Allen vì một vài lý do nào đó đã phải trưng cầu vài sự trợ giúp từ ai đó sống trong khu vực này. Đúng những gì mà anh cần.

    “Cô có bất kỳ thứ gì phải lấy từ phòng trọ cô thuê không?” anh nói.

    Cô hơi giật mình khi nghe thấy tiếng anh. “Cái gì? Ồ, xin lỗi. Tôi đang mải nghĩ linh tinh. Anh vừa nói gì vậy?”

    “Cô có còn để lại gì ở phòng trọ không?”

    “Một chiếc va li nhỏ. Chúng ta có rẽ qua để lấy nó không?”


    “Không, tôi không muốn cô ở gần đó đề phòng kẻ nào đó bắn cô có thể đang lượn lờ quanh đó để tìm một cơ hội khác. Tôi sẽ nhờ một sỹ quan đến lấy nó. Có thứ gì đó cần được cho vào va li không?”

    “Tôi đã để mọi thứ vào chiếc va li sáng nay trước khi rời đi, và khoá nó lại.”

    “Những thứ khác từ tương lai, đúng không?”


    “Quần áo của tôi, một vài thứ khác nữa.”

    “Quần áo của cô trông như thế nào? Có phải tất cả mọi người đều đi lại loanh quanh trong bộ áo liền quần bằng kim loại màu bạc giống như trong phim không?”


    Cô hơi do dự. “Quần áo biết nhảy múa á? Các anh có quần áo biết nhảy múa à?”

    (Knox đã nhắc đến “jumpsuit” là những bộ áo liền quần, nhưng Nikita do không rõ ý nghĩa đã nghĩ rằng đó là những bộ quần áo biết nhảy múa – “jump suits”)

    Anh tắc lưỡi, “Tôi nghĩ từ này có nguồn gốc từ những bộ đồ một mảnh mà những người nhảy dù mặc khi nhảy từ trên máy bay xuống, nhưng về cơ bản nó dùng để nói về những bộ đồ một mảnh.”

    “Tôi hiểu rồi. Giờ thì nó có vẻ có lý. Nhưng không, chúng tôi không mặc những bộ đồ như vậy.”

    “Vậy các cô mặc gì?” Dù anh có những ý định tốt nhưng anh cũng vẫn đang làm điều này rồi, anh nhận ra, quẳng vào cô những câu hỏi một cách liên tiếp.

    “Quần áo bình thường thôi. Khi anh nghĩ về quần áo, có 2 loại cơ bản: váy hoặc không phải váy. Chiều dài của váy có thể ngắn hoặc dài, quần có thể có ống rộng hoặc ống hẹp, nhưng về cơ bản đó là tất cả rồi.”

    “Những chiếc khoá kéo thì sao?”


    Giờ thì đến lượt cô tắc lưỡi, “Những chiếc khoá kéo vẫn tồn tại, và cả những chiếc cúc cũng vậy. Hãy suy nghĩ về nó đi. Vào thời đại này, những chiếc cúc tồn tại được mấy trăm năm rồi? Tại sao chúng lại có thể hoàn toàn biến mất chỉ trong 2 trăm năm sau chứ? Những chiếc khoá kéo và cúc vẫn được sử dụng. Chúng rất có ích mà.”

    “Những chiếc xe vẫn như vậy chứ?”

    “Không, những động cơ đốt trong chỉ còn tồn tại ở một vài bảo tàng và một hoặc hai bộ sưu tập đồ cổ.”


    “Không xe hơi,” anh nói một cách nghiêm trọng. Anh không thể tưởng tượng ra một thế giới không có NASCAR (National Association for Stock Car Auto Racing – một uỷ ban quản trị và điều hành các giải đua xe của Mỹ). “Có phải họ dừng sản xuất ô tô vì hiện tượng ấm lên toàn cầu không?”

    “Uhm, không. Có phương tiện tốt hơn ra đời. Nhưng điều đó chưa xảy ra cho đến tận 100 năm sau thời điểm này.”

    “Có phương tiện gì còn tốt hơn ô tô sao?” anh rất muốn nhìn thấy điều đó.

    “Tôi không nói là không còn xe ô tô; tôi nói là không còn động cơ đốt trong nữa.”

    Được rồi, anh sẽ để chủ để này dừng lại ở đây; một cách ngập ngừng anh quay trở lại chủ đề quan trọng hơn vào lúc này. Anh liếc về phía cô. Khuôn mặt cô đã bớt căng thẳng đi một chút, vì vậy có thể cái mà cô cần lúc này là một sự xao lãng. “Cô mang theo bao nhiêu bộ quần áo để thay đổi? Cô có cần phải đi mua săm nữa không?”

    “Tôi có bộ mà tôi đã mặc ở đây, bộ tôi đang mặc, và một bộ khác. Tôi có tiền để mua quần áo; nhiệm vụ của tôi cho phép trường hợp ngoại lệ đó.”

    “Tiền có thật không?”
    Anh hỏi một cách châm biếm, “Hay nó cũng là giả giống như mọi thứ khác?”

    “Không, nó là thật. Vào cuối thế kỷ 21, tất cả các nước phát triển đã chuyển sang dùng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, vì thế tất cả tiền tệ lưu hành chủ yếu đã được đưa vào một hầm ngầm bảo an.”

    “Tại sao không chỉ đơn giản là đốt chúng đi?” Trong tưởng tượng, anh nhìn thấy hàng tỉ đô la biến thành khói bụi và cảm thấy cơ thể mình tự động cứng đờ lại trong sự phản đối. Điều đó chỉ đơn giản là không đúng, nhưng đây vẫn là một giải pháp hợp lý.

    “Chỉ vì một lý do thôi, nó có giá trị lịch sử rất to lớn. Và một lý do khác, kể cả trong thời đại của tôi vẫn có những quốc gia chưa phát triển không có nền tảng công nghệ cho một nền kinh tế số hoá hoàn toàn. Họ sử dụng tiền mặt, hoặc các phương tiện trao đổi, bất kỳ cách nào có thể.”

    Trong vòng 200 năm, anh nghĩ, và có một vài thứ không thay đổi nhiều lắm. Dù thế nào đi nữa, anh cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng tiền mặt vẫn chưa bị dừng sử dụng hoàn toàn. Anh có vẻ là loại khủng long tuyệt chủng đối với các hoạt động liên quan đến ngân hàng: anh vẫn thích viết séc hơn là dùng thẻ. Anh có sử dụng thẻ ATM để rút tiền mặt khi cần, nhưng có một phần hoài cổ trong anh cảm thấy khủng hoảng khi nghĩ đến việc thanh toán các hoá đơn của mình thông qua máy tính.

    Nikita có thể đã có một trận cười ra trò nếu biết chuyện này, nhưng dù cô có cần được làm vui lên đến bao nhiêu đi nữa, anh không nghĩ rằng anh sẽ kể cho cô nghe chuyện này. Anh không muốn cô nghĩ về anh như một người tiền sử mới tiến hoá không lâu.

    Năm phút sau, anh lái xe vào đường giành cho xe chạy trước nhà anh. Đó là một ngôi nhà nhỏ bé, với hai phòng ngủ theo kiểu Craftsman*, với một hàng hiên kéo dài về phía trước và một hàng hiên nhỏ ở phía sau. Anh đỗ xe ở sau nhà, gần cửa sau. Hàng rào cao và vững chắc đã ngăn cách khoảng sân sau nhà anh với sân sau của các nhà hàng xóm, trong khi những cây sồi cao khổng lồ được trồng đủ gần để bao phủ gần như toàn bộ sân và nửa ngôi nhà trong bóng râm mát mẻ.

    Ngôi nhà của anh đã hơn 60 năm tuổi nhưng được duy trì trong tình trạng tốt và đã được làm mới lại vài lần trong các năm, vì thế nó rất phù hợp để sinh sống. Anh đã mua nó khi anh và Rebecca đính hôn và nghĩ rằng nó có thể phù hợp để bắt đầu một gia đình cho đến khi nào em bé thứ hai ra đời và họ có thể cần nhiều không gian hơn. Rebecca thậm chí đã chọn các dụng cụ làm bếp. Nhưng sau đó cô qua đời, và không hề có em bé nào ra đời và anh chẳng bao giờ cần thêm không gian. Cuộc đời anh đã không ngừng lại khi Rebecca qua đời, nhưng nó đã bị đình trệ.

    Khi anh bước ra khỏi xe anh nhận ra rằng giờ đây anh không phải đang lo lắng về sự đình trệ nào cả mà chỉ suy nghĩ xem có quần áo lót bẩn nào nằm trên sàn nhà trong phòng tắm chính không. Thời điểm để một người phụ nữ nhìn thấy quần áo lót và tất bẩn của anh là sau khi họ làm tình chứ không phải trước đó.

    Điều đó như thể một cơn sốc điện dọc theo sống lưng anh và bùng ổ ở não. Lần đầu tiên sau 7 năm, anh đã muốn một người phụ nữ: không phải chỉ về mặt tình dục, mà là bản thân người phụ nữ đó. Và cụ thể hơn, anh muốn Nikita. Anh muốn giành thời gian với cô, tim hiểu về cô, tìm hiểu xem cô thích gì và không thích gì, liệu cô có sợ rắn và chuột không, liệu một con bọ nhỏ có làm cô la hét ầm ĩ như một cô bé con không. Anh muốn biết liệu khi ngủ cô hay nằm sấp hoặc nằm nghiêng, liệu cô có ngáy không, và cô thích tắm vòi sen hay tắm bồn,...

    Một điều đơn giản và dễ hiểu, anh muốn cô.

    Đó là một phát hiện mới. Anh đã quên mất phản ứng hoá học đó ngập tràn năng lượng đến mức nào, như thể là anh đã nuốt xuống cả một bình cà phê, đã quên mất cảm giác ra sao khi hoàn toàn tập trung vào một người. Hình dáng của bàn tay cô khi cô đóng cánh cửa xe, cách cô nhẹ nhàng gạt vài sợi tóc khi chúng làm cản trở tầm nhìn của cô, cái nhìn nhanh chóng đầy thắc mắc khi cô liếc về phía anh – anh chú ý tất cả những điều đó, với sự rõ ràng đã khắc ghi những chi tiết nhỏ nhặt đó trong trí nhớ của anh.

    Câu hỏi lớn lúc này là cô có sẵn sàng chấp nhận mối quan hệ dài lâu vượt trên cả tình dục thông thường. Cứ cho rằng cô có hứng thú, bất kỳ mối quan hệ nào cũng bị giới hạn bởi thời gian cô ở lại đây. Cô có thể ở lại đây hai tuần, cũng có thể là chỉ hai ngày. Họ không đời nào có thể biết được chuyện gì đang diễn ra ở thời đại của cô, liệu có ai đó đã hiểu ra rằng có người trong đội đã phản bội và gửi quân cứu viện hoặc đội Tìm kiếm và Giải cứu.

    Cô đang đứng đợi anh trên hàng hiên, nhìn anh đầy khó hiểu, như thể đang băn khoăn tại sao anh cứ đứng bên chiếc xe thay vì mở cửa để họ có thể vào nhà. Nghĩ về việc cô sẽ ở đây trong bao lâu khiến anh nhìn vào sự hiện diện của cô với góc nhìn hoàn toàn khác, và anh hỏi: “Cô sẽ có bao nhiêu thời gian trước khi họ tìm kiếm cô? Chắc là phải có giới hạn thời gian chứ, nếu khôg họ sẽ chửng bao giờ biết được là có đặc vụ nào đó đã chết, bị thương hay những chiếc vòng của họ đã bị cháy thành tro, và thậm chí là bị tống vào tù hay không. Chắc chắn là các cô phải có một quy trình giải cứu chứ.”

    “Chúng tôi không có thời gian xác định chính xác cho việc hoàn thành nhiệm vụ lần này”, cô nói, “vì thế một giới hạn thời gian rất dài đã được đặt cho nhiệm vụ lần này.”

    “Bao lâu là “rất dài”?”

    “Một tháng.”

    “Nó khá là dài đấy,"
    dài hơn là anh đã nghĩ. Hầu hết các vụ giết người đều được giải quyết trong vòng 1 tuần và thỉnh thoảng biến thành những vụ án không phá được; nếu có những manh mối thì chúng ở đó, còn không có kiểu nửa mùa. Có lẽ có điều gì đó đang diễn ra mà anh không biết. Và anh không thích suy nghĩ đó chút nào; những gì mà cô quăng vào anh hôm nay có lẽ đã đủ để gây ra cho anh những cơn ác mộng rồi.

    Anh mở cánh cửa kính ra, và họ bước lên hàng hiên sau nhà; sau đó anh mở khoá cánh cửa dẫn vào nhà và đưa họ vào phòng bếp. Nikita dừng lại và nhìn xung quanh khi Knox cũng làm vậy, cố gắng nhìn nó qua góc nhìn của cô.

    Phía bên trái là căn phòng giặt ủi đồ tí hon của anh, chỉ đủ rộng để đặt một máy giặt và một máy sấy quần áo. Căn bếp được thiết kế bao gồm phòng ăn, với những chiếc tủ cũ mà anh đã đánh sạch lớp sơn bên ngoài để lộ ra lớp gỗ thô nguyên bản và sau đó đánh véc ni. Gạch lát sàn trông như thể những viên đá nạm vàng, và anh đã đầu tư tiền vào quầy bar trong phòng bếp, lát bề mặt vững chắc hơn trên nó vì đó là những gì Rebecca muốn. Cô chưa bao giờ nấu một bữa ăn nào ở đây, chưa bao giờ ngủ ở nơi này. Bất kỳ khi nào họ trải qua một đêm bên nhau thì đều là ở chỗ của cô vì như thế sẽ dễ dàng hơn, anh không phải chạy loanh quanh với một đống sản phẩm và dụng cụ phức tạp mà phụ nữ cần để có thể sẵn sàng đi làm vào mỗi buổi sáng, tất cả những thứ dùng cho tóc tai và mặt mũi đó. Rất nhiều thứ anh đã làm trong căn nhà này là vì Rebecca, nhưng khi cô vắng mặt thì căn nhà hoàn toàn là của anh.

    Nikita bước một cách chậm rãi đến gần cái bếp ga lớn và thậm chí còn lần ngón tay dọc theo đường nét của chiếc bếp ga một cách nhẹ nhàng, giống cái cách mà cô đã làm trong văn phòng của anh. Đối với cô, anh nhận ra một điều, tất cả mọi thứ ở đây hay ở văn phòng anh đều là những đồ cổ vô giá. Có một vài thứ có lẽ cô đã đọc ở đâu đó những chưa bao giờ được nhìn thấy trước đây.

    “Cái này dùng để làm gì?” cô hỏi, chỉ tay vào chiếc máy mở nắp hộp.

    “Nó mở những cái hộp ra.”

    Cô thực sự nghiêng người xuống và nghiên cứu cách chiếc máy làm việc, kéo chiếc cần xuống và cau mày thất vọng khi thấy không có gì xảy ra.

    “Như thế này này.” Anh chộp lấy một hộp súp mì gà từ tủ đựng đồ ăn của anh, chỉ cho cô cách chiếc nam châm giữ chiếc hộp ở đúng vị trí, và để cô gạt chiếc cần xuống. Chiếc hộp quay xung quanh và khuôn mặt cô sáng bừng lên như một đứa trẻ.

    “Đã có quá nhiều những chi tiết của cuộc sống hàng ngày mà chúng tôi đã đánh mất.” Cô lẩm bẩm.

    Anh nghiêng người dựa vào chiếc tủ và bắt chéo chân vào nhau. “Làm thế nào mà các cô mở những chiếc hộp sắt ra?”

    “Chúng tôi không có những chiếc hộp sắt.”


    “Vậy thức ăn được cho vào đâu?”

    “Hầu hết các loại thức ăn được đựng trong những chiếc túi trong có thể ăn được, và sẽ tan chảy khi bị hâm nóng lên. Chúng chứa rất nhiều dinh dưỡng.”

    Anh nhăn mặt lại với cái ý nghĩ phải ăn cả những thứ dùng để đóng gói. “Hiểu, nhưng vị của chúng ra sao?”

    “Tất nhiên là giống hệt loại thức ăn mà chúng chứa rồi.”


    “Vậy còn với những loại thức ăn mà không thể bị đun nóng, ví dụ như kem chẳng hạn?”

    Cô nhìn có vẻ thích thú “Có cả những thứ khác nữa, như là những hộp các tông nhưng bằng nhựa. Những gì mới sản xuất sẽ luôn được duy trì tình trạng tươi ngon. Tôi không nghĩ là bản thân thức ăn thì có gì khác cả, chỉ những dụng cụ dùng để đựng chúng và có thể là cách chuẩn bị các món ăn thì khác đi thôi.” Cô lấy hộp súp mì gà ra và ngửi thử. “Chúng ta sẽ làm gì với nó đây?”

    Anh lấy một chiếc nồi nhỏ ra khỏi tủ và đặt nó lên một bên bếp, bật lửa, và đổ hộp súp vào. “Chúng ta ăn nó thôi.”

    Cô nghịch với các núm vặn, bật đi bật lại bộ phận đánh lửa và quan sát khi ngọn lửa xanh nhạt bùng lên. Vì có vẻ như cô chưa bao giờ nhìn thấy một cái bếp ga, anh hỏi,

    “Người ở thời gian của cô làm nóng thức ăn bằng cách nào?”

    “Làm các phân tử hoạt động”


    Anh cười lớn, nghĩ đến các phân tử mới bị kích thích của riêng anh. “Nghe có vẻ giống một chiếc lò vi sóng.”

    “Chỉ là hơi khác đi một chút. Có rất nhiều thứ chúng tôi đang có được phát mình ra vào thời kỳ này.” Cô nói với vẻ hạnh phúc ngấm ngầm, và đột nhiên anh nhận ra cô yêu thích phần này của chuyến công tác này đến mức nào. Cho đến lúc này thì các phần khác đều vô cùng tồi tệ, nhưng mặt công nghệ, chúng khiến cô thích thú.

    “Như là cái gì?”

    “À, du hành không gian, máy tính, tia laze, những thứ như vậy.”


    “Du hành không gian” khiến anh chú ý, và anh nhận ra anh có thể đứng đây nói chuyện với cô cho đến khi cô gục xuống vì kiệt sức. Họ có việc phải làm – hay ít nhất là anh có – nhưng anh chẳng muốn làm bất kỳ việc gì trong số đó vào lúc này.

    “Đó chính là lý do thực sự khiến tôi đến đây,” cô nói một cách cay đắng, “Thời không này cuốn hút tôi, và tôi đã nghiên cứu rất sâu về nó. Tôi đã cầu xin để được nhận nhiệm vụ lần này.”

    “Hãy cẩn thận với những gì cô yêu cầu đấy.” Anh nói một cách mỉa mai.

    Cô bật cười, đôi mắt nâu của cô sáng lấp lánh. “Chính xác!” và sau đó cô lại chìm vào im lặng khi cô suy nghĩ về những người đã qua đời, và tính phức tạp của vấn đề. Như thể đọc được suy nghĩ của cô, Knox chạm tay vào cánh tay cô một cách thông cảm.

    “Thôi nào, tôi sẽ đưa cô đến nơi mà cô sẽ ngủ.” Mà không may là không phải giường của anh – ít nhất là chưa phải. Anh vặn lửa nhỏ đi và dẫn cô đi xuyên qua ngôi nhà.

    Ngôi nhà khá nhỏ, với phòng ăn và phòng khách thông nhau, trừ việc anh đã sử dụng phòng ăn để làm thành văn phòng ở nhà của anh và nếu anh có ăn vài bữa ở nhà thì anh cũng ăn trong bếp. Hai căn phòng ngủ nằm ở cuối hành lang, một cái bên trái và một bên phải, với phòng tắm ở giữa chúng. Phòng ngủ ở phía trước, căn phòng rộng hơn là phòng ngủ của anh; phòng ngủ ở phía sau không phải căn phòng nào đặc biệt, chỉ là một phòng ngủ đơn giản với những trang bị thiết yếu. Anh chỉ cho cô chỗ của tủ âm tường, để cô có thể lấy khăn sạch khi tắm, và sau đó để cô lại để cô có thể tự nhiên làm những việc cần thiết trong khi anh đi vào phòng khách.

    Thay vì sử dụng điện thoại cố định ở nhà, vì anh không muốn ai biết nơi anh ở, anh lấy bộ đàm của mình ta và gọi, đưa ra yêu cầu cho việc ai đó sẽ lấy va li của Nikita ở nhà nghỉ và đưa nó đến văn phòng anh. Anh sẽ đi lấy vào tối muộn hôm nay, khi chỉ những người gác mới làm việc. Anh cũng phải làm gì đó với chiếc xe mà cô đã thuê nữa.

    Một ý tưởng này ra và anh lấy điện thoại nhà ra để gọi bố mình. Kelvin trả lời điện thoại ngay từ hồi chuông đầu tiên. “Cửa hàng dụng cụ đây”

    “Bố, liệu bố có ổn không nếu con giấu một chiếc xe trong căn nhà chứa cỏ khô của bố một thời gian?”

    “Chắc chắn rồi. Đó là xe của ai vậy?


    “Một chiếc xe thuê. Con không biết nó bị phát hiện ra.”

    “Bố có thể mang chiếc lều của bố về nhà tối nay nếu con muốn có gì đó phủ nó lại, chỉ để cho an toàn thôi.”

    “Ý kiến hay đấy bố ạ. Cảm ơn bố.”

    “Khi nào con sẽ mang nó đến?”


    “Lúc nào đó khi trời đã tối hẳn. Con sẽ gọi điện cho bố.”

    “Được rồi. Hẹn gặp con.”


    Vậy là đã có một vấn đề được giải quyết, Knox nghĩ, nhưng giá như anh có thể di chuyển xe cô mà không bị theo dõi. Đương nhiên là anh sẽ phải lái nó, trong tầm bảo vệ của anh, anh sẽ không bao giờ để cô bị bắn.

    Anh ra khỏi phòng tắm, và ngay lập tức chú ý đến nhìn cô mệt mỏi như thế nào. Hôm nay đã là một ngày vô cùng dài với cả hai người, và nó vẫn còn chưa kết thúc.

    “Hãy ăn một ít súp thôi,” anh nói, cầm lấy cánh tay cô và đẩy cô về phía bếp. “Súp gà sẽ khiến mọi việc khá hơn.”

    “Trong trường hợp đó,” cô nói, “anh nên mở một hộp nữa.”
     

Chia sẻ trang này