002. Trang [0015-0028] - @garu (done)

13/8/15
002. Trang [0015-0028] - @garu (done)
  • Lễ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, kiêm quản Hàn lâm viện. Thần Nguyễn Trung Mậu

    Nguyên thự Hình bộ thượng thư, nay bổ thụ Định Yên tổng đốc. Thần Phan Bá Đạt

    Toản tu Hàn Lâm viện trực học sĩ. Thần Đỗ Quang

    Thái bộc tự khanh. Thần Tô Trân

    Quang lộc tự khanh. Thần Phạm Hồng Nghi

    Nguyên Hồng lô tự khanh, nay cải thụ Hàn lâm viện thị độc học sĩ tham biện Nội các sự vụ. Thần Vũ Phạm Khải

    Hồng lô tự khanh. Thần Nguyễn Tường Vĩnh

    Tên chức, tên các quan ...

    Biên tu

    Hàn lâm viện thị độc học sĩ. Thần Phạm Chi Hương

    Hàn lâm viện thị giảng học sĩ . Thần Nguyễn Thu

    Hàn lâm viện thị độc. Thần Phạm Văn Nghị

    Hàn lâm viện thị độc. Thần Hoàng Trọng Từ

    Hàn lâm viện thị độc. Thần Dương Duy Thanh.

    Khảo hiệu

    Hàn lâm viện biên tu. Thần Đỗ Huy Diễm

    Hàn lâm viện biên tu. Thần Nguyễn Huy Phan

    Hàn lâm viện biên tu. Thần Phạm Lân

    Hàn lâm viện kiểm thảo. Thần Tống Văn Vạn

    Đằng lục

    Hàn lâm viện kiểm thảo. Thần Lê Văn Huy

    Hàn lâm viện kiểm thảo. Thần Nguyễn Công Thụy

    Hàn lâm viện điển bạ. Thần Nguyễn Huy Hoàng

    Hàn lâm viện điển bạ. Thần Hoàng Văn Xán

    Hàn lâm viện đãi chiếu. Thần Bùi Văn Long

    Hàn lâm viện đãi chiếu. Thần Nguyễn Văn Cẩn

    Hàn lâm viện cung phụng. Thần Nguyễn Đức Hiệu

    Hàn lâm viện cung phụng. Thần Lưu Đình Tăng

    Thu chưởng

    Hàn lâm viện điển bạ. Thần Lê Quang Linh

    Hàn lâm viện cung phụng. Thần Hoàng Đức Trị

    Hàn lâm viện cung phụng. Thần Nguyễn Đình Nhiễu.

    Tiền biên

    Tổng Mục

    Quyển I

    Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế

    [Nguyễn Hoàng]

    (ở ngôi 56 năm)

    Mậu Ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê ? Đối với nhà Lê niên hiệu là Chính Trị năm 1, đối với nhà Minh, niên hiệu là Gia Tĩnh năm 39) ? Kỷ Mùi ? Canh Thân ? Tân Dậu ? Nhâm Tuất ? Quý Hợi ? Giáp Tý ? Ất Sửu ? Bính Dần ? Đinh Mão (Minh ? Long Khánh năm 1) [1567] ? Mậu Thìn ? Kỷ Tỵ ? Canh Ngọ ? Tân Mùi ? Nhâm Thân (Nhà Lê đổi niên hiệu là Hồng Phước) [1572] ? Quý Dậu (Lê ? Gia Thái năm thứ 1, Minh ? Vạn Lịch năm 1) [1573] ? Giáp Tuất ? Ất Hợi ? Bính Tý ? Đinh Sửu ? Mậu Dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Quang Hưng) [1578] ? Kỷ Mão ? Canh Thìn ? Tân Tỵ ? Nhâm Ngọ ? Quý Mùi ? Giáp Thân ? Ất Dậu ? Bính Tuất ? Đinh Hợi ? Mậu Tý ? Kỷ Sửu ? Canh Dần ? Tân Mão ? Nhâm Thìn ? Quý Tỵ ? Giáp Ngọ ? Ất Mùi ? Bính Thân ? Đinh Dậu ? Mậu Tuất ? Kỷ Hợi ? Canh Tý (Lê ? Thuận Đức năm 1, tháng 10 mùa đông đổi niên hiệu là Hoằng Định) [1600] ? Tân Sửu ? Nhâm Dần ? Quý Mão ? Giáp Thìn ? Ất Tỵ ? Bính Ngọ ? Đinh Mùi ? Mậu Thân ? Kỷ Dậu ? Canh Tuất ? Tân Hợi ? Nhâm Tý ? Quý Sửu.

    Quyển II

    Hy Tông Hiếu Văn Hoàng đế

    [Phước nguyên]

    (ở ngôi 22 năm)

    Giáp Dần, năm thứ 1 [1614] ? Ất Mão ? Bính Thìn ? Đinh Tỵ ? Mậu Ngọ ? Kỷ Mùi ( Lê ? Vĩnh Tộ năm 1) [1619] ? Canh Thân (Minh ? Thái Xương năm 1) [1620] ? Tân Dậu (Minh ? Thiên Khải năm 1) [1621] ? Nhâm Tuất ? Quý Hợi ? Giáp Tý ? Ất Sửu ? Bính Dần ? Đinh Mão ? Mậu Thìn

    (Minh ? Sùng Trinh năm thứ 1) [1628] ? Kỷ Tỵ (nhà Lê đổi niên hiệu là Đức Long) [1629] ? Canh Ngọ ? Tân Mùi ? Nhâm Thân ? Quý Dậu ? Giáp Tuất ? Ất Hợi (Nhà Lê đổi niên hiệu là Dương Hòa) [1635].

    Quyển III

    Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng đế

    [Phước lan]

    (ở ngôi 13 năm)

    Bính Tý, năm thứ 1 [1636] ? Đinh Sửu ? Mậu Dần ? Kỷ Mão ? Canh Thìn ? Tân Tỵ ? Nhâm Ngọ ? Quý Mùi (Lê ? Phước Thái năm 1) [1643] ? Giáp Thân (Thanh ? Thuận Trị năm 1) [1644] ? Ất Dậu ? Bính Tuất ? Đinh Hợi ? Mậu Tý.

    Quyển IV

    Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế

    [Phước tần]

    (ở ngôi 39 năm)

    Kỷ Sửu, năm thứ 1 [1649] (Nhà Lê niên hiệu là Khánh Đức) ? Canh Dần ? Tân Mão ? Nhâm Thìn ? Quý Tỵ (Nhà Lê đổi niên hiệu là Thịnh Đức) [1653] ? Giáp Ngọ ? Ất Mùi ? Bính Thân ? Đinh Dậu ? Mậu Tuất (Nhà Lê đổi niên hiệu là Vĩnh Thọ) [1658] ? Kỷ Hợi ? Canh Tý ? Tân Sửu ? Nhâm Dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Vạn Khánh, Thanh ??Khang Hy năm 1) [1662]

    Quyển V

    Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế

    Quý Mão (Lê ? Cảnh Trị năm 1) [1663] ? Giáp Thìn ? Ất Tỵ ? Bính Ngọ ? Đinh Mùi ? Mậu Thân ? Kỷ Dậu ? Canh Tuất ? Tân Hợi ? Nhâm Tý

    (Lê ? Dương Đức năm 1) [1672] ? Quý Sửu ? Giáp Dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Đức Nguyên) [1674] ? Ất Mão ? Bính Thìn (Lê ? Vĩnh Trị năm 1) [1676] ? Đinh Tỵ ? Mậu Ngọ ? Kỷ Mùi ? Canh Thân (Nhà Lê đổi niên hiệu là Chính Hòa) [1680] ? Tân Dậu ? Nhâm Tuất ? Quý Hợi ? Giáp Tý ? Ất Sửu ? Bính Dần ? Đinh Mão.

    Quyển VI

    Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng đế

    (Phước trăn)

    (ở ngôi 4 năm)

    Mậu Thìn, năm thứ 1 [1688] ? Kỷ Tỵ ? Canh Ngọ ? Tân Mùi.

    Quyển VII

    Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế

    [Phước chu]

    (ở ngôi 34 năm)

    Nhâm Thân, năm thứ 1 [1692] ? Quý Dậu ? Giáp Tuất ? Ất Hợi ? Bính Tý ? Đinh Sửu ? Mậu Dần ? Kỷ Mão ? Canh Thìn ? Tân Tỵ ? Nhâm Ngọ ? Quý Mùi ? Giáp Thân ? Ất Dậu (Lê ? Vĩnh Thịnh năm 1) [1705] ? Bính Tuất.

    Quyển VIII

    Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế

    Đinh Hợi [1707] ? Mậu Tý ? Kỷ Sửu ? Canh Dần ? Tân Mão ? Nhâm Thìn ? Quý Tỵ ? Giáp Ngọ ? Ất Mùi ? Bính Thân ? Đinh Dậu ? Mậu Tuất ? Kỷ Hợi ? Canh Tý (Nhà Lê đổi niên hiệu là Bảo Thái) [1720] ? Tân Sửu ? Nhâm Dần ? Quý Mão (Thanh ? Ung Chính năm 1) [1723] ? Giáp Thìn ? Ất Tỵ.

    Quyển IX

    Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế

    [Phước chú]

    (ở ngôi 13 năm)

    Bính Ngọ, năm thứ 1 [1726] ? Đinh Mùi ? Mậu Thân ? Kỷ Dậu (Lê ? Vĩnh Khánh năm 1) [1729] ? Canh Tuất ? Tân Hợi ? Nhâm Tý (Lê ?Long Đức năm 1) [1732] ? Quý Sửu ? Giáp Dần ? Ất Mão (Lê ? Vĩnh Hựu năm 1) [1735] ? Bính Thìn (Thanh ? Càn Long năm 1) [1736] ? Đinh Tỵ ?

    Mậu Ngọ.

    Quyển X

    Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế

    [Phước khoát]

    (ở ngôi 27 năm)

    Kỷ Mùi, năm thứ 1 [1739] ? Canh Thân (Lê ? Cảnh Hưng năm 1) [1740] ? Tân Dậu ? Nhâm Tuất ? Quý Hợi ? Giáp Tý ? Ất Sửu ? Bính Dần ? Đinh Mão ? Mậu Thìn ? Kỷ Tỵ ? Canh Ngọ ? Tân Mùi ? Nhâm Thân ? Quý Dậu ? Giáp Tuất ? Ất Hợi ? Bính Tý ? Đinh Sửu ? Mậu Dần ? Kỷ Mão ? Canh Thìn ? Tân Tỵ ? Nhâm Ngọ ? Quý Mùi ? Giáp Thân ? Ất Dậu.

    Quyển XI

    Duệ Tông Hiếu Định Hoàng đế

    [Phước thuần]

    (ở ngôi 12 năm)

    Bính Tuất, năm thứ 1 [1766] ? Đinh Hợi ? Mậu Tý ? Kỷ Sửu ? Canh Dần ? Tân Mão ? Nhâm Thìn ? Quý Tỵ ? Giáp Ngọ.

    Quyển XII

    Duệ Tông Hiếu Định Hoàng đế

    Ất Mùi [1775] ? Bính Thân ? Đinh Dậu.

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ

    Thực lục về Thế Tổ Cao Hoàng đế

    Quyển I Mậu Tuất năm thứ [1778] đến Nhâm Dần năm thứ 3 [1782].

    Quyển II Quý Mão năm thứ 4 [1783] đến Bính Ngọ năm thứ 7 [1786].

    Quyển III Đinh Mùi năm thứ 8 [1787] đến Mậu Thân năm thứ 9 [1788].

    Quyển IV Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ Dậu thứ 10 [1789], đến tháng 6 mùa hạ năm Canh Tuất thứ 11 [1790].

    Quyển V Tháng 7 mùa thu năm Canh Tuất [1790] đến tháng 12 mùa đông năm Tân Hợi thứ 12 [1791].

    Quyển VI Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm Tý thứ 13 [1792] đến tháng 12 mùa đông năm Quý Sửu thứ 14 [1793].

    Quyển VII Tháng giêng mùa xuân năm Giáp Dần thứ 15 [1794] đến tháng 6 mùa hạ năm Ất Mão thứ 16 [1795].

    Quyển VIII Tháng 7, mùa thu năm Ất Mão thứ 16 [1795] đến tháng 9 mùa thu năm Bính Thìn thứ 17 [1796].

    Quyển IX Tháng 10 mùa đông năm Bính Thìn thứ 17 [1796] đến tháng chạp (12) năm Đinh Tỵ thứ 18 [1797].

    Quyển X Tháng giêng mùa xuân năm Mậu Ngọ thứ 19 [1798] đến tháng 6 mùa hạ năm Kỷ Mùi thứ 20 [1799].

    Quyển XI Tháng 7 mùa thu năm Kỷ Mùi thứ 20 [1799] đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XII Tháng giêng mùa xuân năm Canh Thân thứ 21 [1800] đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XIII Tháng giêng mùa xuân năm Tân Dậu thứ 22 [1801] đến tháng 4 mùa hạ .

    Quyển XIV Tháng 5 mùa hạ năm Tân Dậu thứ 22 [1801] đến tháng 7 mùa thu.

    Quyển XV Tháng 8 mùa thu năm Tân Dậu thứ 22 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XVI Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm Tuất thứ 23 [1802] đến tháng 4 mùa hạ.

    Quyển XVII Tháng năm mùa hạ năm Nhâm Tuất Gia Long thứ 1 [1802] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển XVIII Tháng 7 mùa thu năm Nhâm Tuất Gia Long thứ 1 đến tháng 9.

    Quyển XIX Tháng 10 mùa đông năm Nhâm Tuất Gia Long thứ 1 đến tháng 12.

    Quyển XX Tháng giêng mùa xuân năm Quý Hợi Gia Long thứ 2 [1803] đến tháng 3.

    Quyển XXI Tháng 4 mùa hạ năm Quý Hợi Gia Long thứ 2 đến tháng 6.

    Quyển XXII Tháng 7 mùa thu năm Quý Hợi Gia Long thứ 2 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XXIII Tháng giêng mùa xuân năm Giáp Tý Gia Long thứ 3 [1804] đến tháng 3.

    Quyển XXIV Tháng 4 mùa hạ năm Giáp Tý Gia Long thứ 3 đến tháng 6.

    Quyển XXV Tháng 7 mùa thu năm Giáp Tý Gia Long thứ 3 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XXVI Tháng giêng mùa xuân năm Ất Sửu Gia Long thứ 4 [1805] đến tháng 6 mùa hạ .

    Quyển XXVII Tháng 7 mùa thu năm Ất Sửu Gia Long thứ 4 [1805] đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XXVIII Tháng giêng mùa xuân năm Bính Dần Gia Long thứ 5 [1806] đến tháng tư mùa hạ.

    Quyển XXIX Tháng 5 mùa hạ năm Bính Dần Gia Long thứ 5 đến tháng 6.

    Quyển XXX Tháng 7 mùa thu năm Bính Dần Gia Long thứ 5 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XXXI Tháng giêng mùa xuân năm Đinh Mão Gia Long thứ 6 [1807] đến tháng 4.

    Quyển XXXII Tháng 4 mùa hạ năm Đinh Mão Gia Long thứ 6 đến tháng 6.

    Quyển XXXIII Tháng 7 mùa thu năm Đinh Mão Gia Long thứ 6 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XXXIV Tháng giêng mùa xuân năm Mậu Thìn Gia Long thứ 7 [1808] đến tháng 3.

    Quyển XXXV Tháng 4 mùa hạ năm Mậu Thìn Gia Long thứ 7 đến tháng 6 nhuận.

    Quyển XXXVI Tháng 7 mùa thu năm Mậu Thìn Gia Long thứ 7 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XXXVII Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ Tỵ Gia Long thứ 8 [1809] đến tháng 3.

    Quyển XXXVIII Tháng 4 mùa hạ năm Kỷ Tỵ Gia Long thứ 8 [1809] đến tháng 6.

    Quyển XXXIX Tháng 7 mùa thu năm Kỷ Tỵ Gia Long thứ 8 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XL Tháng giêng mùa xuân năm Canh Ngọ Gia Long thứ 9 [1810] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển XLI Tháng 7 mùa thu năm Canh Ngọ Gia Long thứ 9 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XLII Tháng giêng mùa xuân năm Tân Mùi Gia Long thứ 10 [1811] đến tháng 6.

    Quyển XLIII Tháng 7 mùa thu năm Tân Mùi Gia Long thứ 10 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XLIV Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm Thân Gia Long thứ 11 [1812] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển XLV Tháng 7 mùa thu năm Nhâm Thân Gia Long thứ 11 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XLVI Tháng giêng mùa xuân năm Quý Dậu Gia Long thứ 12 [1813] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển XLVII Tháng 7 mùa thu năm Quý Dậu Gia Long thứ 12 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển XLVIII Tháng giêng mùa xuân năm Giáp Tuất Gia Long thứ 13 [1814] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển XLIX Tháng 7 mùa thu năm Giáp Tuất Gia Long thứ 13 [1814] đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển L Tháng giêng mùa xuân năm Ất Hợi Gia Long thứ 14 [1815] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển LI Tháng 7 mùa thu năm Ất Hợi Gia Long thứ 14 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển LII Tháng giêng mùa xuân năm Bính Tý Gia Long thứ 15 [1816] đến tháng 3.

    Quyển LIII Tháng 4 mùa hạ năm Bính Tý Gia Long thứ 15 đến tháng 6 nhuận.

    Quyển LIV Tháng 7 mùa thu năm Bính Tý Gia Long thứ 15 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển LV Tháng giêng mùa xuân năm Đinh Sửu Gia Long thứ 16 [1817] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển LVI Tháng 7 mùa thu năm Đinh Sửu Gia Long thứ 16 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển LVII Tháng giêng mùa xuân năm Mậu Dần Gia Long thứ 17 [1818] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển LVIII Tháng 7 mùa thu năm Mậu Dần Gia Long thứ 17 đến tháng 12 mùa đông.

    Quyển LIX Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ Mão Gia Long thứ 18 [1819] đến tháng 6 mùa hạ.

    Quyển LX Tháng 7 mùa thu năm Kỷ Mão Gia Long thứ 18 [1819] đến tháng 12 mùa đông.

    Tiền biên

    Quyển I

    Tiền biên - Quyển I

    Thực lục về Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế

    Thái Tổ Triệu Cơ Thùy thống Khâm Minh Cung ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ung Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Hoàng đế, họ Nguyễn, húy Hoàng, người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa.

    Sinh ngày Bính Dần, tháng 8, mùa thu, năm Ất Dậu [1525] (Lê ? Thống Nguyên năm thứ 4, Minh ? Gia Tĩnh năm thứ 4), là con trai thứ hai của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế ; mẹ là Tĩnh Hoàng hậu Nguyễn Thị (con gáiNguyễn Minh Biện, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thự vệ sự ở triều Lê).

    Tổ tiên trước là một họ có danh vọng ở Thanh Hoa.

    Ông nội là Trừng quốc công, húy là [Dụ](1. Có thuyết cho rằng An Hòa bá Nguyễn Hoằng Dụ sinh ra Nguyễn Kim (Đại Việt sử ký toàn thư).1), lên 8 tuổi đã biết làm văn, 15 tuổi thông thuộc võ nghệ. Triều Hiến tông nhà Lê, làm kinh lược sứĐà Giang, đến khi Uy Mục đế vô đạo, về Tây Kinh giúp Lê Oanh khởi binh ở Thanh Hoa, mưu việc giữ yên xã tắc. Khi Oanh lên làm vua (tức Tương Dực đế), được phong làm thái phó Trừng quốc công.

    Cha là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế, húy [Kim], con trưởng Trừng quốc công, đầu làm quan triều Lê, chức Hữu vệ điện tiền tướng quân, [tước] An Thanh hầu. Năm Đinh Hợi [1527], Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Lê mất. Triệu Tổ giận họ Mạc tiếm nghịch, chí muốn khôi phục nhà Lê, nên dẫn con em tránh sang Ai Lao. Vua nước ấy là Sạ Đẩu cho ởSầm Châu. Bấy giờ thu nạp hào kiệt, quân chúng có hàng mấy nghìn người, voi có ba chục thớt, bàn mưu tìm con cháu nhà Lê để lập làm vua.

    Năm Canh Dần [1530], ông đem quân ra Thanh Hoa. Mạc Đăng Doanh (con trưởng Mạc Đăng Dung) sai tướng là Ngọc Trục (không rõ họ) chống cự, đánh nhau ở huyện Lôi Dương (nay là Thọ Xuân Thanh Hóa), Ngọc Trục thua chạy. Năm Tân Mão [1531], ông đánh phá được tướng Mạc là Nguyễn Kính ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), chém hơn một nghìn đầu. Khi tiến đến đò Điềm Thủy huyện Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình), lại đánh luôn mấy trận với tướng Mạc là Lê Bá Ly được to. Gặp trời mưa dầm, nước lụt lai láng, quân Mạc cho nhiều chiến thuyền tiếp nhau tiến đến, ông bèn rút quân về sách Sầm Hạ ở Ai Lao. Năm Quý Tỵ [1533] ông đón con trai nhỏ của Lê Chiêu Tông là Ninh lập làm vua, lấy niên hiệu là Nguyên Hòa, tức là Trang Tông. (Khi nhà Lê mới mất, Trang Tông còn thơ ấu, bầy tôi là bọn Trịnh Duy Tuấn và Lê Lan rước tránh sang Ai Lao, ở trà trộn với nhân dân, không ai biết. Đến bấy giờ, Triệu Tổ tìm khắp nơi mới được, bèn lập làm vua). Do công ấy, được phong Thượng phụ thái sư Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự. Bấy giờ có người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phước (huyện Vĩnh Lộc bây giờ) tên là Trịnh Kiểm đến yết kiến (Kiểm sau làm tổ họ Trịnh). Triệu Tổ thấy Kiểm có vẻ lạ, mới gả con gái lớn là Ngọc Bảo cho, sai coi mã quân và xin phong cho làm tướng quân. Năm Canh Tý [1540], ông đem quân đóng giữ Nghệ An, hào kiệt theo rất nhiều. Năm Nhâm Dần [1542] đi tuần hành trong đất Thanh Hoa, tiếng quân lừng lẫy, xa gần đều phục. Năm Quý Mão [1543] rước vua Lê tiến binh ra Tây Đô (tức là Thanh Hoa) để đánh Mạc Chính Trung (con thứ hai Mạc Đăng Dung, có tên nữa làĐăng Xương), được tấn phong Thái tể đô tướng tiết chế các dinh thủy bộ, chia đường đều tiến, đánh đâu được đấy.

    Ngày Tân Tỵ, tháng 5, mùa hạ, năm Ất Tỵ [1545] ông bị hàng tướng Mạc [tên Trung] đầu độc. Triệu Tổ băng, thọ 78 tuổi. (Trước là nhà Mạc thấy quân nhà vua hoạt động mạnh, rất lo, ngầm sai hoạn quan là Trung (không rõ họ) trá hàng, để đầu độc vua Lê; việc không thành, nó liền ngầm cho thuốc độc vào quả dưa hấu rồi đón dâng Triệu Tổ). Vua Lê thương tiếc mãi, tặng tước Chiêu huân tĩnh công, dùng lễ hậu đem táng ở núiThiên Tôn (thuộc huyện Tống Sơn). Tương truyền huyệt đào trúng hàm rồng, khi đặt quan tài xuống thì cửa huyệt ngậm lại, bỗng trời đổ mưa, gió sấm sét, mọi người sợ chạy. Đến lúc tạnh trở lại tìm thì đá núi liên tiếp, cỏ cây xanh tốt, không nhận được là táng nơi nào nữa. Đến nay có việc [cúng tế] thì chỉ trông núi tế vọng thôi. Năm Minh Mệnh thứ 2, phong núi ấy là núi Triệu Tường). Thời quốc sơ chúa(1. Chữ Hán là thượng, chỉ Nguyễn Hoàng 1) tôn thụy hiệu(2. Thụy : tên đặt để thờ cúng.2) là Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương. Thế Tôn Hiếu Vũ Hoàng Đế(1. Tức là Phước Khoát (1739 – 1756) 1) lại truy tôn [Nguyễn Kim] làm Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu ý Đức phi. Gia Long năm thứ 5 lại truy tôn là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế, miếu hiệu(2. Hiệu đặt cho các vua đã chết để thờ ở tôn miếu. 2) là Triệu Tổ, lăng gọi là Trường Nguyên, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh hoàng hậu. (Tương truyền phi hợp táng với Triệu Tổ). Chúa(3. Chúa, chỉ Nguyễn Hoàng. 3) tướng vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, người thức giả đều biết là bực phi thường.

    Khi Triệu Tổ tránh họ Mạc, chạy sang Ai Lao thì chúa mới lên 2 tuổi, gửi nuôi ở nhà thái phó Nguyễn Ư Dĩ (tên tự là Vô Sự, bấy giờ gọi là Uy quốc công, anh ruột của Tĩnh hoàng hậu), Ư Dĩ hết lòng bảo hộ, khi đã lớn, thường đem chuyện xây dựng công nghiệp để khuyến khích. Đầu làm quan ở triều Lê, được phong là Hạ Khê hầu. Đem quân đánh Mạc Phước Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, khi khải hoàn vua yên ủy khen rằng : “thực là cha hổ sinh con hổ”.

    Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ.

    Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng : “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [nghĩa là : Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được]. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý. Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng. Kiểm đương lấy làm lo. Chúa mới nhờ chị là Ngọc Bảo nói với Kiểm để xin vào trấn đất Thuận Hóa. Kiểm thấy đất ấy hiểm nghèo xa xôi cho ngay. Anh Tông lên ngôi, Kiểm dâng biểu nói :
    “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam”. Vua Lê nghe theo và trao cho chúa trấn tiết(1. Trấn tiết : Cờ tiết vua giao cho làm huy hiệu của quyền trấn thủ1), phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi.

    Mậu Ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê ? Chính Trị năm 1, Minh ? Gia Tĩnh năm 37), mùa đông, tháng 10, chúa bắt đầu vào trấn Thuận Hóa, 34 tuổi. Những người bộ khúc đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng xứ Thanh Hoa đều vui lòng theo đi. Dựng dinh ở xã Ái Tử (thuộc huyệnVũ Xương, tức nay là Đăng Xương)(2. Nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị2). Phàm quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa.

    Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường xưng là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy.

    Kỷ Mùi, năm thứ 2 [1559], mùa thu tháng 8, Thanh Hoa và Nghệ An bị lụt, dân lưu tán nhiều vào miền Nam.

    Bấy giờ mọi việc bắt đầu. Chúa khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản. Nguyễn Ư Dĩ cùng bọn Tống Phước Trị (bấy giờ gọi là Luân quận công), Mạc Cảnh Huống cùng lòng hợp sức, quy hoạch nhiều phương, chúa đều thành thực tin dùng.:rose: