0059.004 - @ nhani78 (Done WIKI)

19/11/15
0059.004 - @ nhani78 (Done WIKI)
  • PDF
    GoogleDocs

    tôi, nối công việc, nhận cơ đồ, lên giữ ngôi vua, noi theo phép lớn, điều hoà thiên hạ, để cho dài nghiệp lớn muôn đời không cùng).

    Ngày Ất mão, đem việc lên ngôi kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc.

    Ngày Bính thìn, đến điện Hoàng Nhân, lạy chịu ấn vàng truyền quốc và áo bào “Muôn năm nối ngôi”.

    Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất [1820], (Thanh Gia Khánh năm thứ 25), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1 Mậu ngọ, vua lên ngôi Hoàng đế ở điện Thái Hoà, đặt niên hiệu và đại xá, ban chiếu cho trong ngoài.

    Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ, con hiếu thờ hai thân, chủ tế tự để phụng thừa Tôn Miếu ; thánh nhân đầu muôn vật, rủ áo xiêm để theo nghĩa Kiền Khôn. Cho nên, trị nước quan hệ ở một người ; truyền ngôi vốn gốc từ tam đại. Mệnh trời ở đâu, ngôi thần về đấy.

    Nghĩ Thánh tổ Thần tông, mở nền Nam phục, dựng nghiệp kim âu. Mưu sáng công to, rực rỡ cho đời trước ; nhân sâu ơn hậu, rạng tỏ để đời sau. Hoàng khảo ta, vâng nhận mệnh lớn, lại dựng nghiệp to. Chống phủ việt đánh kẻ bạo tàn, thắt dải mũ giữ gìn trị hoá. Nhớ việc khai thác hơn 200 năm, võ công hơn đời trước ; tự mình chăm lo trong 18 năm, đế đức to tầy trời. Vạc Hiên Viên mới đúc xong, mà núi hồ không kéo lại được ; hoa Đường Nghiêu chợt thấy rụng, đến hang sâu cũng thấy đau thương. Thực trời kia xuống tai vạ cho nước ta ; nên hoàng khảo để gánh nặng cho đức mọn. Trẫm tự hổ, là người hèn kém, mà giữ ngôi này. Nghỉ gốc cây, cưỡi trên thuyền((1) Nghỉ gốc cây cưỡi trên thuyền : vua Đường Thái tông thấy thái tử đứng ở gốc cây thì bảo rằng : Cây gỗ theo dây mực thì thẳng, vua nghe lời can là thánh ; thấy thái tử cưỡi thuyền thì bảo rằng : Nước hay chở được thuyền, mà cũng hay lật được thuyền.1), việc dạy bảo theo như khuôn phép ; vỡ ruộng hoang, làm nhà cửa((2) Vỡ ruộng hoang làm nhà cửa : vua Vũ Vương nhà Chu bảo em là Khang Thúc rằng : “Như làm ruộng, đã vỡ hoang rồi thì phải sửa sang bờ cõi ; như làm nhà, đã làm tường luỹ rồi thì phải tô nề và lợp”.2), việc dành cho nhờ ở mưu mô. Nghĩ gánh vác chỉ thấy khó khăn ; càng đau thương biết bao cho hết. Vui không cùng, thương cũng không cùng, lòng hiếu nghĩ sợ thêm về đường nối dõi ; vị tất được, danh cũng tất được, lời dặn dò há dám trễ việc phó giao. Nay các tước công, các đại thần, các quan văn võ trong ngoài, đều khuyên trẫm tuân theo di chiếu, sớm lên ngôi vua, để theo lòng mong đợi của mọi người. Vì thế châm chước lễ văn, bớt thương thuận biến, lấy ngày 27 tháng 12 năm Gia Long thứ 18 [1819] kính cáo Giao Miếu, ngày 28 kính yết bàn thờ, ngày 1 tháng 1 năm nay, lên ngôi ở điện Thái Hoà. Trẫm vâng “mệnh sáng” ở trời, chịu “mệnh sáng” ở hoàng khảo, vậy lấy năm nay là năm Canh thìn, làm năm Minh Mệnh thứ 1, để chính tên hay, để rõ mối lớn. Đặc cách xuống ân điển gồm 16 điều : 1) Những tiền thóc sản vật mà dân còn thiếu từ năm Gia Long thứ 18 trở về trước đều tha miễn cả. 2) Thuế lệ tiền thóc sản vật về nhân đinh điền thổ, trong năm Minh Mệnh thứ 1 đều rộng miễn cả. 3) Em vua và cháu họ vua, ai đã được phong tước công thì cấp thêm lộc hằng năm là 500 quan tiền, 500 phương gạo. 4) Em bé của vua chưa được phong tước công thì đợi 3 năm sau bộ Lễ bàn tâu sẽ sách phong. 5) Người tôn thất chưa làm quan thì cấp thêm lương tiền. 6) Các quan văn võ, ở trong từ tứ phẩm, ở ngoài từ tam phẩm trở lên, đều gia một bậc cấp. 7) Các quan văn võ, ở trong từ ngũ phẩm, ở ngoài từ tứ phẩm trở xuống, đã thục thụ thì chu cấp cho lương tiền 2 tháng. 8) Cha mẹ các quan trong ngoài, từ tam phẩm trở lên, đều chiếu phẩm phong tặng. 9) Từ tam phẩm trở lên đều cho tập ấm một người con cho vào học ở nhà Quốc tử giám ; khi tuổi đã trưởng thành, có thể lục dụng được thì sai đại thần đề cử người mình biết lên rồi thứ tự dẫn lên yết kiến, sẽ tuỳ tài bổ dụng .10) Các công thần Vọng Các, hoặc không có con cháu ngành trưởng mà có con thứ hay cháu thứ thì lượng cho quan tước lương tiền. 11) Công thần đã chết rồi, hoặc không con cháu mà có vợ còn giữ tiết, thì cấp cho tiền gạo để nuôi. 12) Tra xét rõ thần kỳ cả nước để phong tặng. 13) Đặt thêm nhà thêm phòng ở Quốc tử giám, và ưu cấp lương tiền. 14) Kỳ thi Hương khoa Kỷ mão, ai đỗ nhị trường thì miễn binh dao 3 năm ; đỗ nhất trường thì miễn 2 năm. 15) Từ mờ sáng ngày 1 tháng giêng năm nay trở về trước, phàm tội sung quân và tội lưu trở xuống đều buông thả, tội tử thì lượng cho khoan giảm. 16) Trộm cướp ra thú thì đều rộng tha.

    Ôi ! Nối chí noi việc là hiếu, mong biểu dương phước lớn các thánh được lâu dài ; ban phước ra ân về xuân, để cho khắp trong ngoài thứ dân được đầy đủ”.

    Vua đã lên ngôi. Lấy Quang Minh đường làm nhà Lương am((1) Lương am : nhà ở của vua khi có tang.1), màn trướng đều dùng vải trắng, lấy Tả Phương đường làm nơi tiện điện để nghe chính sự. Lỗ bộ đại giá, phàm tàn lọng cờ quạt đều dùng sắc vàng không thêu thùa trang sức. (Trong ba năm để tang thì ở tiện điện nghe chính sự, vua mang áo khăn vải trắng, các quan đều mang áo đen khăn vải trắng để chầu).

    Ngày Kỷ mùi, vua đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện lớn. Từ ngày ấy trở đi mỗi ngày ba lần làm lễ điện (lễ điện buổi sáng, lễ dâng đồ ăn, lễ điện buổi chiều, vua thân đến làm lễ, hoặc sai thân công làm lễ). Ngày mùng một và ngày rằm thì làm lễ điện lớn (Vua thân đem bầy tôi làm lễ. Như gặp ngày lễ Miếu hưởng, ngày Ban sóc và ngày tết Nguyên đán thì để hôm sau làm lễ). Các hoàng thân tước công thay phiên chầu chực ban đêm. Các bầy tôi văn võ chia làm ba ban chầu chực và phụ bái ban ngày. Không phải người đến bái và người chấp sự thì không được vào.

    Ngày Canh thân, yết các miếu. Trước đây vua sai bộ Lễ bàn về yết kiến các miếu. Bộ Lễ tâu : “Kính xét sách Thượng thư có nói “Kính yết tổ tiên” và chú thích rằng “Yết kiến tất cả các vua đời trước của nhà Thương”. Thơ “Mẫn dư tiểu tử” ở “Chu tụng” chú thích rằng “Tự vương((1) Tự vương là vua mới nối ngôi.1) đến chầu miếu”. Như thế là Tam đại đã có lễ kiến miếu. Từ Văn đế nhà Tây Hán về sau, phàm vua mới lên ngôi tất phải yết kiến miếu Cao tổ. Từ Quang Vũ đời Đông Hán về sau, vua mới lên ngôi thì yết kiến miếu Cao tổ và miếu Thế tổ. Khoảng đời Lục triều((2) Lục triều : sáu triều đại là Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần ở Trung Quốc.2), gián hoặc có đời làm. Tiêu Sâm đời Tề bàn rằng : Há có người đứng ngôi chính, ở nơi tôn, nối nghiệp trước, vâng mệnh trời, mà không đến nhà Thái miếu yết kiến tổ tông sao ? Đời Đường Tống trở về sau, đều câu nệ thuyết ba năm có tang thì không tế, rồi không làm lễ ấy nữa, như thế không phải tỏ lòng thành với chín miếu mà ảnh hưởng đến muôn nước. Lại xét Minh điển về nghi thức lễ lên ngôi, thì trước khi lên ngôi, sai quan kính cáo ở miếu ; đến ngày lên ngôi, vua thân hành đến cáo ở điện Phụng Tiên, sau khi lên ngôi không có lễ kiến miếu nữa. Như thế thì trước khi chưa lên ngôi có một việc mà hai lần cáo ở miếu, lễ như thế là phiền, sau khi lên ngôi không thân đến chầu tôn miếu, lễ như thế là thiếu. Nay xin theo lễ Tam đại và Lưỡng Hán, sau khi lên ngôi, chọn ngày tốt thân yết các miếu, mới là hợp lễ”.

    Vua nghe theo, liền dụ rằng từ nay trở đi, phàm có việc ở Thái miếu thì đại giá do cửa Tả Túc, ra cửa Tả Đoan, vào cửa Hiển Nhân, đến cửa Hiển Thừa dừng lại, đến miếu làm lễ.

    Vua để tang, lòng thương nhớ, hằng ngày đến bàn thờ lạy khóc, dẫu ngày rét ngày nắng, chưa từng ngày nào thiếu. Mỗi khi ra vào đô thành, tất đem việc cáo. Từng đối với bầy tôi khen thuật công đức tiên đế, nhỏ nước mắt khóc không thôi. Lại bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Thận và Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng thường nói xin bớt đau thương.

    Vua nói rằng : “Trẫm vẫn biết, thương mà huỷ hoại thân thể, vượt ra ngoài lễ, đến nỗi không thể để tang được nữa, lại là bất hiếu, nhưng tình thương nhớ không thể tự thôi được”. Từng bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng : “Hoàng khảo ta có để lại giáp chiến, nón chiến, đai lưng là các đồ khi dẹp loạn vẫn dùng, nay trẫm trông thấy phảng phất như trông thấy người, cũng do đó mà biết công nghiệp gian nan bởi đâu mà nên” (sau khi đã an táng thì đem để ở điện Minh Thành). Vua lại đưa ra một đĩnh vàng bảo rằng : “Đĩnh vàng này là của tin của Hoàng tỷ((3) Hoàng tỷ : mẹ vua chết rồi gọi là Hoàng tỷ.3) lúc còn xiêu dạt để lại cho ta khắc mà cất đi. (Trước kia khoảng năm Quý mão, Thế tổ Cao hoàng đế phải đổi chỗ ở luôn, mới lấy một nén vàng chia làm hai đĩnh, một đĩnh đưa cho hậu để làm của tin. Kịp khi thiên hạ đã yên, Thế tổ bảo hậu rằng : “Lúc gian nan cũng không quên được, nên lưu lại để bảo con cháu”. Đến nay vua ra lệnh khắc vào đĩnh vàng ấy rằng : “Thế tổ đế hậu Quý mão bá thiên thời tín vật - Vật tin của Hoàng hậu vua Thế tổ lúc xiêu dạt năm Quý mão”. Kính cất ở điện Hoàng Nhân).

    Cho các kỳ lão ở trong kinh kỳ bạc và cơm rượu theo thứ bậc.

    Thu chép các bề tôi cũ có quân công.

    Chiếu rằng : “Đến nơi công việc là bổn phận của tôi con ; cất nhắc thưởng khen là ơn điển của nhà nước. Nhớ xưa Hoàng khảo ta, một bộ nhung y, đánh dẹp giặc giã, trung thần chí sĩ, như mây họp, như bóng theo. Trong khoảng ấy, có những người vì nước khó nhọc, ra trận lập công, không thể kể hết được. Sau khi đại định, đã được khen thưởng, tước xứng với công, lớn nhỏ không sót. Từ đấy đến nay, hoặc có bệnh phải từ chức, hoặc vì tuổi già phải rút lui, hoặc về quê quán nghỉ ngơi, hoặc vì lầm lỗi mất chức, đấy đều là sự bất đắc dĩ cả, há lấy làm yên tâm ở đấy đâu. Trẫm nay mới nối ngôi, cần tìm người cũ, muốn nêu dùng thêm rộng để không ai bị nén chìm. Đặc chuẩn cho những người vì quân công được bổ quan vào khoảng từ năm Đinh mùi trở về sau, năm Gia Long thứ 18 trở về trước, ai dự có chỉ sai, chỉ truyền, châu sắc, châu thị và công đồng phó, đã tản cư về thôn quê, hoặc lệ thuộc vào các nha, có ai trước ốm mà nay khỏi, tuổi già mà sức khoẻ, tình nguyện xin khởi phục để làm việc, cùng là người có tội bỏ trốn đi mà biết ra trình thú tội, thì đều cho về kinh, do bộ Lại dẫn yết kiến, sẽ tuỳ tài bổ dụng”.

    Lại dụ cho các quan ở Kinh và ở ngoài ai bị xử phạt bổng từ năm Gia Long thứ 18 về trước thì đều được khoan miễn.

    Hạ lệnh cho các quan trong ngoài đều cử những người học trò có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học.

    Chiếu rằng : “Hiền tài là đồ dùng của nhà nước, cho nên ngoài khoa mục ra, phải nhờ có cử tri, mà chức phận của đại thần là phải đem người tài đức để thờ vua. Trẫm mới nối ngôi, mưu toan gắng gỏi, rất muốn trong triều có nhiều người giỏi, ngoài nội không sót người hiền, để tô điểm mưu to, vang lừng đức hoá. Vậy ra lệnh cho các quan ở trong Kinh, văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên, ở ngoài thì các quan ở thành dinh trấn, đều cử một hai người có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học, không kể là nhà sang hay nhà hèn, đều kê tên tâu lên”.

    Bắt đầu chế dấu quan phòng để cấp cho văn võ đại thần. (Giám Thần sách quân, Chưởng Tượng quân, Chưởng Hậu quân, Chưởng Hữu quân, Chưởng Trung quân, Chưởng Tiền quân, Chưởng Thuỷ quân và Thượng thư sáu bộ, mỗi chức một dấu quan phòng bằng bạc. Thuỷ quân Thống chế được một dấu quan phòng bằng đồng, Tả tham tri, Hữu tham tri sáu bộ, mỗi chức được một dấu quan phòng bằng ngà). Trước đây các quan văn võ tâu nghị thì dùng ấn công. Đến nay sai Hữu ty chế ấn quan phòng ban cấp, cho khi phụng lục dụ chỉ và khi tâu nghị thì dùng.

    Bắt đầu đặt Văn thư phòng. Sai Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân, Tri bạ Nội hàn là Trần Công Tuân, Cai hợp Hứa Đức Đệ, Lê Bá Tú, Hoàng Quýnh và Nguyễn Văn Thuận sung các chức Thị thư, Thị hàn, coi giữ đồ thượng bảo và văn thư, chương tấu, đồ bản, sổ sách ; sai Hàn lâm Thị giảng Nguyễn Cửu Khánh và Cống sĩ viện Nguyễn Trường Huy sung chức Khởi cư chú ; đều do bộ cấp bằng để làm việc ở Văn thư phòng. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng của Văn thư phòng giao cho các Thị thư, Thị hàn, Nội hàn cùng giữ.

    Chuẩn định từ nay phàm năm, tháng, ngày, gặp phải “cảnh mệnh” [là chữ ngọ], các văn thư của quan dân đưa lên, giao xuống thì cho viết thẳng tháng ấy ngày ấy, bất tất dùng chữ “kế” (như tháng 5 thì viết kế tứ nguyệt) cùng những chữ “nhật tiền nhật hậu” nữa.

    Lấy Vệ uý vệ Tả bảo nhất Tả quân là Nguyễn Văn Tính làm Khâm sai chưởng cơ vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung.

    Cho Lê Kim Nhượng làm Vệ uý vệ Minh nghĩa Tả quân, Trần Văn Hãnh làm Phó vệ uý.

    Triệu Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Tường Vân, Hữu tham tri Hình bộ hành Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Minh Nghĩa, Ký lục Bình Định là Trần Văn Tính về Kinh. Lấy Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Hoàng Văn Diễn làm Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành, Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Huy Trinh làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Tham hiệp là Nguyễn Khoa Hào làm Thự lý hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Văn Thục làm Ký lục Bình Định.

    Trấn thần Quảng Ngãi dâng sớ tâu xin lấy chức cai hợp bổ tri huyện, Thượng thư Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận đem việc ấy lên tâu. Vua nói : “Chức thần dân thì nên chọn người khoa mục để làm, tư lại không làm chức ấy được”. Hữu Thận xin cử Cống sỹ viện. Vua nói : “Chọn người dùng được thì dùng, chớ gây nên cái thói vội vàng cầu cạnh”.

    Bầy tôi bàn dâng tôn thuỵ Đại hành hoàng đế là Khai Thiên Hoàng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ.

    Vua nói : “Hoàng khảo ta trung hưng kiêm sáng nghiệp, công đức thịnh lắm, Cao tổ và Quang Vũ nhà Hán, không thể hơn được, tôn thuỵ như thế thì cũng hầu được chăng”.

    Vài ngày sau lại dụ các đại thần rằng : “Ta đêm nằm mơ thấy Hoàng khảo ở điện Trung Hoà bảo ta rằng : Đưa kim sách của ta lại đây. ý giả vong linh Hoàng khảo ở trên trời cũng ngầm nhận tôn thuỵ ấy”.

    Răn dụ thần dân trong ngoài :

    Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ hoàng cực dựng đạo trung, đối thời mà nuôi muôn vật ; vua nói làm phép tắc, ra mệnh để cáo bốn phương. Vì ban đức ra lệnh, làm phước thi ân, bắt đầu ở mùa xuân ; mà ban chầu trị quân, nhận chức làm phép, đều do ở việc lễ. Xét xưa, vua tôi khuyên răn, đều là theo lối người trước ; sửa sang mưu hay, trong ấy giáo hoá dựng làm. Để cho người lớn có đức, người nhỏ tạo nên. Đạo phải lâu thì hoá mới nên ; định lời nói để yên dân chúng. Theo lẽ trời đất giao thái ; chính ngày trên dưới đợi nhau. Giúp đỡ khuyên răn không bỏ thiếu, cùng lòng e sợ mà hợp lòng kính cung ; triều quận mục thú bắt chước nhau, xếp bằng phép tắc mà xét bằng tin thực. Còn như quân sĩ nanh vuốt ; từng trải chiến trận gian nan. Một mùa giảng võ ba mùa về cày, đều theo mệnh lệnh lui tới ; nghìn ngày chăm nuôi một ngày đem dùng đến chớ quên gan dạ trung thành. Đến như đông đúc cả đàn, đều dưới bao gồm che khắp. Cày dệt chớ bỏ nghề nghiệp, rèn nung lấy thói kiệm cần ; tài năng giữ ấy tính trời, hăng hái đua nhau nhân nhượng. Trẫm chịu ngôi báu lớn, nối phước tốt xưa. Vâng Tiên hoàng để cơ nghiệp nặng, giao việc khó khăn, vẫn sợ hãi như tới vực sâu, băng mỏng ; lúc sợ chính nhường bưng chậu đầy, ở cảnh mãn túc, càng giữ gìn như soi gương sáng nước trong. Nay nhân buổi ban cho ngọc thuỵ((1) Ngọc thuỵ : lễ chư hầu chầu vua, thì ban cho ngọc thuỵ.1) vậy đem lời dạy bảo đinh ninh. Ôi ! Uốn nắn không sót, phạm vi không qua, đã nhóm được phước làm chí đạo ; dạy bảo không cùng, dung dưỡng không hạn, để kéo lại cuộc thịnh đại đồng. Cố gắng đều lo ; thanh bình cùng hưởng”.

    Ban cho vua nước Chân Lạp sắc thư và gấm lụa. (Gấm Tống 10 cây, lụa vải đều 50 tấm, trừu lông 10 tấm).

    Dụ rằng : “Trẫm vâng trọng trách của Tiên đế phó thác cho, nghĩ tôn thống nước nhà quan hệ vào đấy, ngôi thần khí không thể vắng lâu. Vừa rồi, trên tuân di chiếu, dưới theo lòng người, ngày mồng 1 tháng giêng năm nay nối ngôi Hoàng đế, ban phước ra ơn, để tai mắt mọi người đều mới. Vương ở hàng chức cống đã lâu, nhờ Tiên hoàng đế ta dựng lại nước cho, đã suy lòng nhất thị đồng nhân, nên hưởng phước chung cùng thiên hạ. Vậy dụ cho biết và ban phẩm vật cho vương, để rõ ơn đặc biệt. Vương nên vâng theo lời dụ, kính giữ lễ phiên thần để khỏi phụ lòng ta, tức là không phụ ơn đức che chở của Tiên hoàng đế”

    Lại sai may áo trắng đưa đến nhà Nhu viễn để ban cấp cho. Vua dụ Tổng trấn Gia Định Nguyễn Văn Nhân rằng : “Bọn khanh trông coi việc ngoài khổn, canh phòng ở chỗ biên cương, càng không nên quên nước Chân Lạp là thần thuộc của bản triều ở giáp giới hai nước lớn. Nay Tiên đế vừa băng, chính giáo đổi mới, phải xét kỹ xem họ hướng lại quay đi thế nào, để mà yên ủi vỗ về, dù có chi phí cũng không nên tiếc. Vả nước Chân Lạp từ khi bản triều gây dựng cho đến nay, người nước Xiêm há không thắc mắc. Nay hoặc giả nhân lúc nước ta có việc đau thương, mưu toan úp lấy Nam Vang, cũng không thể không phòng bị được. Đại kế ở biên cương đó, khanh nên liệu kỹ sớm đi”.

    Sai Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt chọn các ấm tử có tài có hạnh, tâu lên để bổ dụng.

    Ngày Ất sửu, vua mặc áo trở đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện buổi sáng, lễ xong đổi mặc áo thường đến làm lễ ở trước bàn thờ Hoàng tỷ.

    Truy cấp cho Tham tri Hình bộ Nguyễn Duy Hoà 2 cây gấm Tống, 50 lạng bạc. (Mùa đông năm trước Duy Hoà sung chức Đề điệu trường thi Thăng Long, trở về ốm chết).

    Ban gươm đeo và súng tay cho các quan võ Kinh và ở ngoài (quan Kinh thì từ Vệ uý trở lên, quan ngoài thì các đại viên ở hai thành). Lê Văn Duyệt và Nguyễn Đức Xuyên đều được cho thêm sừng tê.

    Ở Kinh sư giá gạo cao. Sai Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng hỏi thăm dân gian, có ai muốn mua gạo thì giảm giá mà bán cho.

    Ban lịch Hiệp kỷ năm Minh Mệnh thứ 1.

    Sai biền binh các vệ Hữu bảo nhất, Hữu bảo nhị, Trung bảo nhất đi thú Nghệ An, Thanh Hoa và Bắc Thành ; cho áo quần và tiền lương bổng theo thứ bậc. Rồi lính thú không quen thuỷ thổ, nhiều người bị ốm. Vua nghe tin, sai trung sứ chạy theo đường trạm đến xét thăm. Dụ cho các quan địa phương vỗ về thương xót ; nếu có người chết thì cấp tiền theo như lệ và cấp thêm cho một tấm vải.

    Cho tế tướng sĩ chết trận ở Thi Nại. Vua nhớ lại buổi quốc sơ trong trận Thi Nại tướng sĩ nhiều người chết trận, sắc cho Hữu ty sắm sẵn sinh lễ và 300 quan tiền, sai Lê Văn Duyệt làm đàn để tế.

    Bàn đặt quan thuộc ở phủ Tôn nhân. Vua bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng : “Thế hệ của nhà nước từ vài trăm năm chi phái sinh ra nhiều lắm, không thể ghi hết được. Nay nên lấy thân thuộc hai ba đời làm một sổ riêng, sống thì đặt tên, chết thì cho thuỵ, các lễ quan hôn tang tế thì ân cấp theo thứ bậc. Đặc chức Tả, Hữu tôn chính và các phủ thuộc coi giữ phả hệ, để rõ nghĩa luân thường.”

    Ngày Ất hợi, đúc sách vàng tôn thụy. (Dùng 9 tờ vàng, mỗi tờ dài 6 tấc 3 phân 4 ly, ngang 3 tấc 5 phân 1 ly).

    Ngày Bính tý, xuất binh (trao cờ tiết mao cho đại thần võ ban như lệ trước). Trước một ngày, ra lệnh cho 1.000 biền binh Thị trung sắp hàng ở Công thự tả hữu, 1.000 biền binh Thị nội sắp hàng ở hai bên tả hữu trong cửa Đoan Môn. Đến ngày thì xuất binh. Xong thì thôi việc giới nghiêm. Ghi làm lệ.

    Cho Kiến An công là Đài 2.000 quan tiền.

    Dụ rằng : “Nghe thấy em không đủ tiền tiêu dùng, vậy cấp cho tiền. Em phải nghĩ đấy, những bổng lộc ấy là máu mỡ của dân. Phải cung kiệm để nối nghiệp nhà, đừng xa xỉ mà hại đức. Ta vì thiên hạ giữ của há có thể thường dùng của công làm ơn riêng mãi được sao ?”.

    Định lệ hậu thăng hậu điệu cho các quan ở Kinh và ở ngoài bổng mãn.

    Vua từng xem sổ các quan, dụ bầy tôi rằng : “Triều đình vì nước chọn người, hoặc lấy tư cách, hoặc lấy công lao tài năng, đều nên đem ra bàn chung, há nên kéo bè tư túi. Vậy định điều lệ để thi hành”. Bèn chuẩn định : Phàm những quan trong ngoài, văn từ Chánh tam phẩm, võ từ Tòng nhị phẩm trở xuống, hiện ăn lương bổng chức đương làm đã đầy sáu năm trở lên tức là bổng mãn. (Bàn lương bổng chỉ lấy chức thực thụ hiện nay mà bàn, còn người nào nguyên đã có chức từ trước, tuy ăn bổng nhiều năm, cũng không bàn đến. Lại như người nào ăn lương bổng đã đầy sáu năm, nhân có tang về nghỉ, lại được bổ nguyên chức cũ mà không được thăng, nay tính từ khi lại bổ nguyên chức đến giờ, dẫu chưa đầy sáu năm cũng cho liệt làm bổng mãn), Thượng ty quản lĩnh nên xét người ấy có thể làm được việc thì hằng năm cứ đến tháng xuân làm hai bản danh sách. Văn có việc làm, võ có coi quân, là sách hậu thăng (võ thì Trấn thủ, Lưu thủ lệ cũng thế), văn không làm việc, võ không coi quân, là sách hậu điệu, do hai bộ Lại Binh tâu lên, đợi chỉ thăng điệu (ở Kinh thì tháng 2, ở ngoài thì tháng 3, đều cứ trung tuần thì gửi cho bộ). Nếu do đặc chỉ và do chuẩn theo đình thần cử lên thì không kể niên hạn.

    Lại định lệ khai khuyết. Phàm quan chức có khuyết thì ngay tháng ấy làm sách gửi cho bộ, bộ thần lấy cả sách hậu thăng, hậu điệu tiến trình, đợi chỉ bổ khuyết.

    Bàn định ngày ninh lăng. Khâm thiên giám là Hoàng Công Dương cùng Thị trung Trực học sĩ là Lê Duy Thanh đều giữ ý kiến riêng. (Công Dương chọn ngày 16 tháng 4 là ngày Tân sửu, giờ Đinh dậu, Duy Thanh chọn ngày 29 tháng 3 là ngày ất dậu, giờ Đinh sửu). Vua phê bảo bầy tôi rằng : “Văn từ Thiêm sự, võ từ Thống chế trở lên, phải kính cẩn bàn kỹ. Việc ninh lăng là việc lớn, lâu dài muôn năm, nên phải hết tốt hết đẹp, mới xứng tấm lòng hiếu của trẫm. Nếu thấy đích xác có chỗ chưa hợp thì cho chỉ ra tâu lên. Nhược bằng trước thì theo hùa, sau lại phát lời nói quái để người nghi hoặc thì trị tội nặng”.

    Mọi người bàn cho ngày Tân sửu tháng 4 của Công Dương chọn là tốt nhất. Lại sai các tước công bàn lại, đều hợp cả. Lời bàn đã nhất định rồi. Bèn ra lệnh cho Hữu ty sắm sửa tang nghi, lấy các đại thần chia ra trông coi công việc.

    Dụ rằng : “Việc đưa đám là lễ lớn, nếu một việc gì chưa được hết tốt hết đẹp thì hối hận suốt đời. Bọn khanh phải hết lòng trù tính đấy”.

    Vua sáng suốt cẩn thận về chính thể. Những chương sớ trong ngoài tâu lên, nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra, hoặc châu phê. Có bản phê bắt đầu từ đấy.

    Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Trương Công Vĩ về đinh ưu. Lấy Thị trung Trực học sĩ Lê Duy Thanh thay.

    Lấy Thượng bảo khanh là Trần Đình Trưng làm Cai bạ Phiên An.

    Triệu Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất về Kinh. Sai Phó tổng trấn Lê Văn Phong quyền coi ấn vụ Bắc Thành.

    Trước đây Chất dâng sớ tâu xin vào viếng tang. Vua nghĩ rằng phương Bắc là nơi quan trọng, không thể tạm lìa được, không cho. Đến nay vua thấy lễ ninh lăng đã định ngày mới triệu vào. Sai lấy 1.500 người trong các vệ Ngũ kích thuộc ngũ quân đi theo.

    Gọi 2.000 người quân Thần sách ở Thanh Nghệ về Kinh (Thanh Hoa 600 người, Nghệ An 1.400).

    Đổi Nội đồ gia làm Nội vụ phủ, Ngoại đồ gia làm Vũ Khố. Sai Thiêm sự Hộ bộ quản Nội đồ gia là Nguyễn Công Vị vẫn quản Nội vụ phủ, Tri bạ Đồ gia là Hồ Hữu Thẩm và Nguyễn Công Khiêm làm Biện lý Nội vụ phủ. Hữu tham tri Công bộ quản Đồ gia là Nguyễn Khoa Minh vẫn quản Vũ Khố. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng để cấp cho.

    Lấy Cai đội Lê Văn ý làm Thủ ngự sở Phú Quốc. Sai mộ lính lập 10 đội ở thủ sở, mỗi đội 50 người, cho mỗi đội đều làm thuyền lớn thuyền nhỏ 3 chiếc, nhà nước cấp cho khí giới, tha cho thuế thân và tạp dịch để sai đi tuần biển.

    Lấy Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Tứ làm Phó vệ uý vệ Tín oai thự việc vệ uý.

    Lấy Vệ uý vệ Hiếu dũng là Tôn Thất Tình lĩnh Quản phủ Hà Trung và ban cho triều phục. Tình bệ từ, vua dụ rằng : “Ngươi là họ tôn thất, không ví như người khác ; Hà Trung là đất thang mộc, lại không ví như phủ khác. Ngươi nên siêng năng cố gắng thêm lên, để xứng đáng trách nhiệm giao cho. Nếu làm việc không kính cẩn thì không những phải tội với triều đình mà lại phải tội với thế phả nữa. Phàm người ta phải kính sợ mới làm nên việc. Làm thiên tử còn nơm nớp sợ trên kiêng dưới, không dám cho mình là tôn cao giàu sang mà xa xỉ. Ngươi nên thể tất ý trẫm, phải kính sợ, phải cẩn thận nhé”.

    Tình cúi đầu vâng mệnh.

    Lạc Hoàn sai sứ sang cống ; sứ giả đến Nghệ An, xin đến Kinh lạy chầu. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua y cho. Sứ giả đến, cho yết kiến ở Tiện điện, rồi cho hậu mà bảo về.

    Triệu Trấn thủ Bình Thuận là Trương Văn Chính về Kinh. Lấy Chưởng cơ Mai Gia Cương thay lĩnh chức Trấn thủ.

    Sai Lê Văn Duyệt bói ngày tế Giao. Từ đấy đầu mùa xuân sai quan bói ngày tế Giao, hằng năm lấy làm lệ thường.

    Trí sĩ là Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Hựu vào viếng tang. Đăng Hựu tuổi 69, vua vời vào yết kiến để uỷ lạo, rồi cho 100 quan tiền.

    Bãi việc các địa phương tiến dâng thú rừng.

    Theo việc cũ thì ngày lễ kỵ, các dinh trấn nhiều nơi dâng thú rừng. Vua bảo bầy tôi rằng : “Tế ở nhà Tôn Miếu, các món trân tu bày ở trở đậu((1) Trở đậu : đồ thờ để đựng thịt cúng.1) đều có phép thường. Nếu cứ để bốn phương cống hiến, một con chim một con muông, tuy là vật nhỏ mọn, mà quan lại trách lấy ở dân, không khỏi khó nhọc phiền phí. Vậy bãi đi”.

    Người Thanh Hoa là Trần Hữu Bảo đào được một cái ấn bằng đồng, có chữ “Sắc mệnh chi bảo” ((2) Sắc mệnh chi bảo : cái ấn đóng sắc mệnh của vua.2)(Sau lưng khắc “Nguyên Hoà ngũ niên tạo”. Nguyên Hoà là niên hiệu của Lê Trang Tông). Người Quảng Đức là Hồ Quang đào được một cái ấn ngọc, trong có chữ : “Trung hoà vị dục” ((3) Trung hoà vị dục : chữ sách Trung dung, nghĩa là : đạo được trung hoà thì trời đất yên ngôi (vị), muôn vật sinh nở (dục).3). Đều do quan địa phương dâng lên. Vua sai thưởng bạc theo bậc khác nhau (Trần Hữu Bảo bạc 20 lạng, Hồ Quang 5 lạng).

    Lấy Ký lục Ngô Đình Giới và Lê Đại Nghĩa làm Cần Chính điện học sĩ.

    Trấn thủ Cao Bằng là Nguyễn Bá Xuyến, Hiệp trấn là Trần Văn Thái, vì nhũng lạm bị tội miễn chức. Lấy cựu Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Công Đát làm Trấn thủ Cao Bằng, Tham hiệp Kinh Bắc là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn, Tri phủ ứng Hoà là Phùng Khắc Tuân làm Tham hiệp, Hàn lâm viện Nguyễn Bá Tuân làm Tham hiệp Kinh Bắc.

    Đem bạc, lụa, trâu, rượu cho cha Lê Văn Duyệt là Văn Toại và mẹ Lê Chất là Đào thị và cho thư để khen ngợi uỷ lạo.

    Cho dịch trạm các dinh trấn 3 tháng lương. (Từ Quảng Đức trở về Nam đến Biên Hoà, về Bắc đến Thanh Bình, cộng 91 trạm, gạo 4.995 phương).

    Ban kính đeo mắt của Tây dương và lọ dầu đinh hương cho bầy tôi.

    Vua dụ bầy tôi rằng : “Đạo trị nước chép ở sách vở, không xem rộng xét kỹ không thể biết hết được. Nay thư viện Thanh Hoà chứa nhiều sách lạ bốn phương, bọn khanh lúc rỗi việc mà có chí đọc sách thì mượn mà xem”.
  • Chia sẻ trang này