0059.002 - @ nhani78 (Done WIKI)

19/11/15
0059.002 - @ nhani78 (Done WIKI)
  • PDF
    GoogleDocs
    vang ; ba điều thiện tuân theo, mặt trời tỏ mặt trăng tròn, bể nhuần sao sáng. Thiện lớn chọn tự lòng trời ; sáng lớn mình nhận ngôi báu. Trù thứ năm dựng cao, có đức người thánh được thời người thánh ; nền muôn hoá rộng mở, lấy tâm vua thuần làm chính vua thuần. Đầu đặt Sử cục, thu về sách sót bốn phương ; chia mệnh nho thần, soạn chép bản triều thực lục. Dựng xây Thế miếu, lòng hiếu tưởng lên xuống ở sân ; thờ phụng Từ cung, ban ơn khắp trong ngoài dân thứ. Nhạc tám cung hoà hợp, chim muông lại múa như nhạc Ngu ; đỉnh chín chiếc đúc nên, quỷ quái sợ hãi như đỉnh Hạ. Kính đối chốn Giao đàn, vâng đức lớn để nuôi muôn vật ; mình cày ruộng đế tịch, theo thời tiết mà khuyên nhà nông. Các cửa mở rộng suốt, để thông tai mắt mọi nơi ; hiệu nước đổi mới ra, để tỏ đất nước nhất thống. Trang kính đối trong cung khổn, gây vương hoá theo thơ Quan thư((1) Quan thư : thơ Quan thư, thiên Quốc phong ở Kinh Thi, nói đức tốt của bà Hậu phi vợ Văn vương.1) ; thuận hoà xử với họ hàng, rõ trung tín như thơ Hàng vĩ((2) Hàng vĩ : thơ Hàng vĩ, thiên Tiểu nhã Kinh Thi, nói về đạo anh em hiếu hữu với nhau.2). Đặt chín khanh để đốc suất công việc, mà nghĩa thừa hành giúp đỡ phân minh ; chia các tỉnh để tuyên chính trị dân, mà tệ áp chế chuyên quyền đổi hết. Binh có chế độ 5 người lấy 2, việc võ không nhàm mà đều tinh ; dân chỉ cung cấp 10 phần lấy 1, thuế đã nhẹ mà thường được miễn. Nêu cao hiếu thuận, hậu đãi tuổi già, rèn luyện lấy thói nhân nghĩa đạo đức ; đặt nhà học hiệu, mở đường khoa cử, cổ động cho đạo lễ nhạc thi thư. Cân nhắc đo lường, trăm việc đều tốt ; khoa điều luật lệnh, năm hình có dùng. Đi tuần để giúp đỡ dân, mùa thu xem gặt, mùa xuân xem cày ; đắp đê để phòng nước lụt, như mắt trông thấy, như mình đến nơi. Triều chính không thiếu sót điều gì, mà hỏi han tới cả người cắt cỏ kiếm củi ; nhân dân bị tai hại một chút, mà đuốc sáng soi khắp chốn vách nát nhà tranh. Phàm việc biến thông giáo hoá, đều là quyền lớn sáng tạo xây dựng của thánh nhân ; và việc lo xa xét nhỏ, đều là đạo gốc chế trị giữ nước của người cổ. Kịp lúc hai kỳ có loạn, một giận yên dân. Chước lạ mưu sâu, đánh đâu hẳn được đấy ; núi lay biển động, bền mấy cũng phải tan. Dẹp giặc Xiêm La, hạ thành Phiên An, uy linh làm mạnh sông núi ; quét giặc Sơn Âm, bình giặc Để Định, thanh giáo thông cả Man Lào. Xa lại gần ưa, không đâu chẳng phục ; công nên trị định, sáng hơn đời xưa. Hằng năm thường thấy được mùa ; sông trong vẫn nêu điểm tốt. Trời đất yên lặng, có đức được hoà ; trăng sao sáng soi, tuổi thọ hưởng phúc. Sớm hôm lo sợ, kính mệnh trời ở lúc vui yên ; nhân nghĩa rõ ràng, vận thần công ở nơi sâu kín. Cầu đến trị an, lúc nào cũng lo vì trăm họ ; tôn thân cũng thế, phước lành chúc tụng một người.

    Tốt lắm thay ! Trời mở thịnh trị, thánh lại tài năng. Cứng mạnh thẳng ngay mà tinh tuý, thể kiền làm mãi không thôi ; rộng dày cao sáng mà dài lâu, lòng thành rất mực chứng rõ. Đạo đủ cả, kính trời bắt chước tổ ; chăm chính yêu nhân dân. Ngày mới thêm gọi là thịnh ; có tất cả gọi là to. Đức rộng về xét tính vật, biện tài người, mến chư hầu, yêu người xa. Có phạm vi mà không quá ; uốn nắn nên không sót ai. Rực rỡ một sách Chính yếu, làm lụng cuốn mở, như thế kỹ càng ; chói lọi các tập văn thơ, nhã tụng âu ca, nghe ra văng vẳng. Lối trị ngày càng đổi mới, bỏ hết thói gian lậu nhân tuần các đời gần ; thái hoà lại thấy ngày nay, thêm mở rộng văn vật thanh danh của đất nước. So với nhị đế tam vương, như cùng một đạo ; nên cùng tam phần((1) Tam phần : sách chép về đời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế.1) nhị điển((2) Là Nghiêu điển và Thuấn điển trong Kinh Thư.),truyền đến vô cùng

    Hiến tổ Chương hoàng đế ta, kính vâng mưu xưa, noi theo phép lớn. Đời trước đắp nền, đời sau dựng cột, thời thịnh thêm rộng sửa sang ; ăn thấy ở canh, đứng thấy ở tường, đạo hiếu thực kiêm kế thuật. Bên tả ghi lời nói, bên hữu ghi việc làm, công đức để ở lịch hằng ngày ; làm ra gọi là thánh, thuật lại gọi là minh, sự thực làm tỏ gương nghìn thủa. Nhờ thánh dụ nêu ra nghĩa lệ ; để sử thần hết sức xét tìm. Duy biên chép phải được kỹ càng, mà rạng mở còn xin chờ đợi.

    Hoàng thượng ta, theo chí đời trước, làm rạng mưu sâu. Truyền phép trị về nguy vi tinh nhất ((3) Nguy vi tinh nhất : thiên “Đại Vũ mô” trong Kinh Thư, Ngu Thuấn bảo Hạ Vũ rằng : “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung”). , nắm đạo trung của vua Nghiêu((4) Đạo trung của vua Nghiêu : Nghiêu bảo Thuấn chỉ có một câu “Doãn chấp quyết trung”, nên gọi là đạo trung của Nghiêu.4) để giữ gìn ; dựng nghiệp nước về kiến đốc cơ cần((5) Kiến, đốc, cơ, cần : thiên “Vũ thành” trong Kinh Thư, Vũ vương nhà Chu có nói “Duy tiên vương kiến bang khởi thổ, Công Lưu khắc đốc tiền liệt, Thái vương triệu cơ vương tích, Vương Quý kỳ cần vương gia : Tiên vương là Hậu Tắc mới được phong ở đất Thai nên nói là dựng nước mở đất ; Công Lưu là chắt Hậu Tắc hay dốc lòng vào công nghiệp của Hậu Tắc ; Thái vương là Cổ công Đản phủ ở nước Mân, người nước Mân đi theo, gây được nghiệp vương ở đấy ; Vương Quý hay siêng năng để nối cơ nghiệp.5), nhắm đức tốt của nhà Chu mà theo dõi. Bèn xét định mà hạn công ; để sửa chữa cho xong việc. Bắt đầu từ năm Canh thìn đến năm Canh tý, 21 năm để biên chép ; lại từ năm Tân sửu đến năm Canh thân, 20 năm mới thành sách. Đặt vào bao lụa vàng, đưa lên nhà để sử. Nối phương sách((6) Phương sách : ván gỗ vuông, khi trước chưa có giấy, ghi chép gì cứ viết vào gỗ vuông. 6)của các đời trước mà cùng truyền ; hơn sách vở của các đời xưa mà thịnh nhất. Xét không lầm, dựng không trái, rõ như phép bói để cho đời ; công cao vọi, văn sáng ngời, lớn như trời không thể hình trạng. Để tỏ phép hay dựng đắp từ trước ; để rộng mưu sâu mở giúp về sau.

    Bọn thần, may được liệt vào nho thần, lạm coi biên soạn. Thuật ba bộ sử((7) Tam sử : Sử ký, Hán thư, Đông quán Hán ký là ba bộ sử về nhà Hán.7) nhà Hán, tự hổ không phải tài sửa chữa ở Đông Quán((8) Đông Quán : chỗ tàng thư trong cung nhà Hán.8) ; làm một bộ kinh nhà Đường, trộm bắt chước lấy cách biên tập của Xương Lê((1) Xương Lê : Hàn Dũ ở đời Đường.1). Chỉ biết tìm hàng đếm nét, sưu cầu chẳng bổ gì cho truyện xưa ; may nhờ khởi lệ phát phàm((2) Khởi lệ phát phàm : đặt ra phàm lệ để noi theo.2), xét định thảy theo ở gương sáng. Thấy sách xong mà vui mừng ; nhờ mệnh tốt để bày tỏ. Cúi mong Hoàng thượng, dốc hiếu biểu dương ; đạo noi liệt thánh. Để mối giềng có thể nối lâu, đắp thêm cõi nền nhân hậu ; theo phép cũ mà không sao nhãng, điểm tô dựng đặt thái bình. Thịnh thay công vũ mưu văn, rỡ đức tốt vì thêm sáng ; yên như đá bàn núi Thái vững nghiệp lớn ở muôn đời. Bọn thần vui vẻ không biết chừng nào, xin đem sách Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ đã khắc in lần này là 220 quyển và 2 quyển mục lục, cộng 222 quyển tiến lên. Kính cẩn dâng biểu để tâu.

    Viết tại năm Tự Đức thứ 17 [1864] tháng 11 ngày 29.

    Ký tên :

    Thần Phan Thanh Giản

    Thần Phan Huy Vịnh

    Thần Phạm Huy

    Thần Trần Liên Huy

    [Vua phê] : Đã xem rồi


    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ PHÀM LỆ

    1. Trong Bản kỷ, từ năm thứ nhất trở về sau, năm nào ở dưới cũng đều chua niên hiệu nhà Thanh để mà kê cứu.

    2. Chép việc thì lấy tháng theo mùa, mùa theo năm. Việc thường thì không chép ngày, việc lớn thì cẩn thận mà chép ngày.

    3. Tế Giao, Miếu hưởng, Yết lăng là lễ rất trọng, thường năm vẫn chép. Còn như các lễ triều hạ, ban sóc, đều chép ở tiết đầu, hằng năm lấy làm thường, sau không chép nữa.

    4. Đầu mùa xuân duyệt binh để giảng việc võ ; giữa mùa hạ cày ruộng tịch điền để khuyến khích việc ruộng, hằng năm cùng đều chép cả.

    5. Các việc lớn như lễ nhạc, hình chính, tên quan, chế độ, từ mới dựng ra thì chép là sơ [mới, bắt đầu], khi đổi làm thì chép là cải [đổi], nhân cũ mà làm kỹ thêm thì chép là thân định [định rõ].

    6. Phàm việc gì đã được lời chỉ của vua, chép làm mệnh lệnh hay làm lệ thường, cùng là tâu lên được vua chuẩn cho, từ đấy về sau chiếu lệ mà làm, thì đều chép là chuẩn định.

    7. Những chương sớ ở trong ngoài tâu lên đã được chỉ chuẩn cho thì đều chép cả, duy việc nhỏ nhặt thì chép sơ lược thôi.

    8. Việc gì quan hệ đến điển lệ thì điều khoản số mục đều chép đủ cả, là để rõ sự thực.

    9. Việc gì hợp lại chép suốt từ đầu đến cuối thì việc trước dùng chữ sơ [đầu là], chữ tiên thị [trước là], chữ chí thị [đến đấy] ; việc sau thì dùng chữ tầm [rồi thì], chữ cập [kịp], để phân biệt.

    10. Em vua, con vua, cháu vua và trưởng công chúa được tấn phong tước hiệu đều chép cả.

    11. Văn từ tứ phẩm trở lên, võ từ tam phẩm trở lên được bổ thụ chức hàm đều chép cả. Ngũ phẩm thì chỉ có chức Đốc học là giữ việc học một tỉnh nên cũng chép. Ngoài ra thì tuỳ việc mà biên.

    12. Thân công, thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, công chúa từ trần thì đều chép là hoăng [mất].

    13. Văn tứ phẩm ấn quan, võ tam phẩm lĩnh binh trở lên mà qua đời thì đều chép là tốt [chết]. Văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở xuống, người nào rõ ràng có công lao, tài năng, tiết liệt, sau khi chết được cấp tuất và tặng phong, thì tuỳ việc mà chép, ngoài ra thì không chép.

    14. Sách văn, chiếu dụ, có gặp chữ tên huý thì hoặc bỏ thiếu một nét, hoặc chiếu theo nghĩa văn đổi dùng chữ khác. Đến như tên đất thì hoặc theo tên ngày nay, hoặc bỏ chiếu một nét, duy chữ hoa ( ) cùng nghĩa với chữ ba ( ) thì đổi làm chữ ba ( ) ; tên người thì đều đổi dùng chữ khác.

    15. Tên đất, tên người có đổi thì tên đất ở lúc chưa đổi, vẫn chép tên cũ, tên người ở chỗ bắt đầu thì viết ngay tên sau, trong khoảng ấy có một vài trở ngại chút ít thì tuỳ chỗ chua rõ, sau khi đã chua rồi cũng viết ngay tên sau. (Ví dụ tiến sĩ Phạm Thế Lịch sau đổi thành Phạm Thế Trung, Trần Mẫn sau đổi thành Trần Tiễn Thành).

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - TỔNG MỤC (1)

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Quyển I. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất [1820], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển II. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển III. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

    Quyển IV. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển V. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển VI. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển VII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển VIII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển IX. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

    Quyển X. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển XI. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển XII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển XIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển XIV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 3 nhuận.

    Quyển XV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

    Quyển XVI. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7 tháng 8.

    Quyển XVII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển XVIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển XIX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển XX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển XXI. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

    Quyển XXII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển XXIII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển XXIV. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển XXV. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 [1824], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển XXVI. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển XXVII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

    Quyển XXVIII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển XXIX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển XXX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển XXXI. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 [1825], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển XXXII. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển XXXIII. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

    Quyển XXXIV. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển XXXV. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển XXXVI. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển XXXVII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển XXXVIII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển XXXIX. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

    Quyển XL. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển XLI. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển XLII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển XLIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển XLIV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa xuân tháng 3.

    Quyển XLV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

    Quyển XLVI. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 5 nhuận đến tháng 6.

    Quyển XLVII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển XLVIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển XLIX. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển L. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 [1828], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển LI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển LII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

    Quyển LIII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển LIV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển LV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 11

    Quyển LVI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 12.

    Quyển LVII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển LVIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa xuân tháng 3.

    Quyển LIX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

    Quyển LX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.

    Quyển LXI. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.

    Quyển LXII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông tháng 10.

    Quyển LXIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển LXIV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển LXV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển LXVI. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 4 nhuận.

    Quyển LXVII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 5.

    Quyển LXVIII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.

    Quyển LXIX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa thu từ tháng 8 đến mùa đông tháng 10.

    Quyển LXX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển LXXI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12 [1831], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển LXXII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa xuân tháng 3.

    Quyển LXXIII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

    Quyển LXXIV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.

    Quyển LXXV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.

    Quyển LXXVI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông tháng 10.

    Quyển LXXVII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

    Quyển LXXVIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

    Quyển LXXIX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa xuân tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

    Quyển LXXX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 5.

    Quyển LXXXI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 6.

    Quyển LXXXII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

    Quyển LXXXIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9.

    Quyển LXXXIV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9 nhuận.

    Quyển LXXXV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 10.

    Quyển LXXXVI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 11.

    Quyển LXXXVII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 12.

    Quyển LXXXVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa xuân tháng 1.

    Quyển LXXXIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 2.

    Quyển XC. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 3.

    Quyển XCI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 3.

    Quyển XCII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.

    Quyển XCIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.

    Quyển XCIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.

    Quyển XCV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.

    Quyển XCVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.

    Quyển XCVII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.

    Quyển XCVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.

    Quyển XCIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.

    Quyển C. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.

    Quyển CI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.

    Quyển CII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.
  • Chia sẻ trang này