0059.016 - Gà xào gừng (Done) (GD)

5/12/15
0059.016 - Gà xào gừng (Done) (GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    khi mọi người yên nghỉ, nếu biền binh có việc ra vào thì lấy khẩu hiệu và hoả mai làm tin, nếu không có, bắt xét trị. Nếu có việc quân cơ khẩn yếu, lập tức chạy báo cho thị vệ ở ngự doanh để tâu lên, nếu chậm trễ lỡ việc thì xử theo quân pháp. Đêm có ai nằm mộng nói mê, người canh gác phải đánh thức ; nếu điềm nhiên để người nói mê kêu to, trong quân đêm khuya hoảng sợ thì cũng xử theo quân pháp).

    Gọi hơn 2.800 người mới điền ở dinh vệ đội các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách đến cả hàng ngũ ở Kinh. Đầu là số binh ở Kinh thiếu, nhân gặp nạn dịch nên đình bổ sung. Đến khi nạn dịch lui, chuẩn y lời đình nghị, hạ lệnh cho sở tại điền cho đủ số, nhưng vẫn để ở bản quán đến nay mới gọi ra để chuẩn bị theo giá.

    Dụ rằng : “Tôn người trên mà hầu hạ là công việc phận sự của bọn ngươi, đều phải cố gắng, không được quen thói bỏ trốn. Làm trái thì xử theo quân pháp”.

    Khi lính đến rồi, sai cùng các quân diễn tập ở trước Kinh thành.

    Vua từng ngự giá đến xem và chỉ bảo, tự mình đánh trống ra lệnh, đi đứng đều đúng kỷ luật.

    Sai trấn Quảng Ngãi bắt hết lính ở sáu cơ Kiên chia đi phòng giữ các đồn núi và điều động 500 lính ở cơ Hoà Thắng trấn Bình Hoà, cơ Thuận Nghĩa trấn Bình Thuận, đi đóng thú ở Bình Định. Lại sai trấn Nghệ An bắt hơn 3.000 biền binh hạ ban((1) Hạ ban : ban đương nghỉ ở nhà.1) của quân Thần sách, chiếu cấp cho lương hằng tháng để chờ lệnh điều độ.

    Vét kênh Tiểu Khê ở Quảng Bình để đường thuỷ được thông (Từ cầu Tiểu Khê ở địa đầu đến cửa sông Tam Kỳ về xã Thổ Ngoã, dài trên 4.880 trượng). Sai quan giám thành đến chỉ bảo. Những người ứng dịch được hậu cấp tiền gạo. Ruộng đất chỗ nào bị đào mất thì được đền tiền.

    Dụ rằng : “Việc này là bất đắc dĩ chứ không phải là thích chơi xem để làm nhọc sức dân đâu !”.

    Sai Chưởng Thuỷ quân Tống Phước Lương quản lĩnh binh thuyền đi trước.

    Dụ rằng : “Quân đi có kỷ luật, ngươi nên răn cấm quân lính không được nhiễu dân ; nếu coi giữ không nghiêm là tội ngươi đấy”. Cho quân sĩ hơn 2.000 quan tiền.

    Sai Thanh Nghệ và Bắc Thành dự bị binh thuyền để đón ngự giá, và liệu bắt biền binh đi tuần xét các chỗ quan yếu ở dọc đường.

    Cấp gạo lương cho các dịch trạm từ Quảng Đức trở ra Bắc. (Quảng Đức 2 trạm, mỗi trạm 48 phương gạo, Quảng Trị 4 trạm, Quảng Bình 6 trạm, mỗi trạm 60 phương ; Nghệ An 11 trạm, Thanh Hoa 5 trạm, mỗi trạm 80 phương ; Thanh Bình 2 trạm, Sơn Nam thượng 5 trạm, mỗi trạm 60 phương). Lại hạ lệnh cho sở tại thuê thêm dân đinh phụ vào.

    Chế bài trạm bộ Binh, phàm người theo ngự giá đáng được cấp trạm thì dùng. Lại sai các Cai đội và Phó đội các quân Thị trung, Thị nội chia đi xét nghiệm ở các trạm, cấp cho mỗi người 10 lạng bạc.

    Bộ Lễ tâu rằng các miếu đế vương lịch đại thì xin sai quan đến tế ở nơi phát tích hoặc ở nơi tiếp cận dọc đường, còn các danh sơn đại xuyên thì mỗi nơi do địa phương hợp tế một đàn.

    Vua y lời tâu. (Miếu Kinh Dương vương ở xã á Lữ trấn Kinh Bắc, miếu Hùng vương ở xã Nghĩa Cương((1) Đúng là Hy Cương.1) trấn Sơn Tây, miếu Thục An Dương vương ở xã Hương ái trấn Nghệ An, miếu Triệu Vũ đế ở xã Xuân Quan trấn Kinh Bắc, miếu Trưng vương ở xã Nhân Châu trấn Sơn Nam thượng, miếu Lý Nam đế ở xã Tử Đường trấn Sơn Nam hạ, miếu Triệu Việt vương ở xã Trinh Hà trấn Thanh Hoa, miếu Mai Hắc đế ở xã Hương Lãm trấn Nghệ An, miếu Bố Cái đại vương ở xã Cam Lâm trấn Sơn Tây, miếu Đinh Tiên hoàng ở xã Trường Yên thượng đạo Thanh Bình, miếu Lê Đại hành đế ở xã Ninh Thái trấn Sơn Nam thượng, miếu các vua triều Lý ở xã Đình Bảng trấn Kinh Bắc, miếu các vua triều Trần ở xã Tức Mặc trấn Sơn Nam hạ, miếu các vua triều Lê ở xã Bố Vệ trấn Vệ Thanh Hoa. Tất cả 15 nơi. Thần các danh sơn đại xuyên từ Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Bắc Thành, tất cả 8 đàn).

    Đặt trường đại duyệt binh ở phía nam sông Hương.

    Vua đến xem. Nhân lên núi nhìn xem cửa biển của Kinh thành, đặt tên núi bên tả là núi Tả Phụ, núi bên hữu là núi Hữu Dực, phá Tam Giang là Tam Giang hải nhi, phá Hà Trung là Hà Trung hải nhi.

    Sai trung sứ ra Bắc Thành hỏi thăm tin tức sứ nhà Thanh.

    Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tế cờ xong rồi duyệt binh tượng. Vua ngự điện Càn Nguyên xem (số binh trên 21.100 người).

    chính biên

    Đệ nhị kỷ - quyển xi

    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

    Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa thu, tháng 9, thi Hương ân khoa ở các trường Gia Định, Thanh Hoa, Thăng Long, Sơn Nam.

    Sai Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào thành Gia Định là Nguyễn Xuân Thục làm Đề điệu trường Gia Định, Ký lục Quảng Ngãi là Vũ Huy Đạt làm Giám thí, Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán làm Đề điệu trường Thanh Hoa, Cai bạ Bình Định là Hoàng Văn Quyền làm Giám thí, Tả Tham tri Lễ bộ hành Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Bùi Đức Mân làm Đề điệu trường Thăng Long, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ là Nguyễn Tuần Lý làm Giám thí, Hữu Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông làm Đề điệu trường Sơn Nam, Thị trung Trực học sĩ tham bồi Lại bộ Đinh Phiên làm Giám thí.

    Khi danh sách đệ lên, lấy đỗ tất cả 92 Hương cống. (Trường Gia Định 16 người : Nguyễn Văn Kỳ, Bùi Nguyên Thọ, Vũ Công Nhàn, Nguyễn Khắc Hài, Trương Phác, Tôn Thọ Đức, Đoàn Khiêm Quang, Tống Đức Hưng, Trịnh Quang Khanh, Nguyễn Vĩnh Trinh, Phạm Tuấn, Trương Văn Uyển, Lê Bá Đằng, Hồ Văn Nghĩa, Phạm Ngọc Oánh, Lê Đức Ngạn - Trường Thanh Hoa 19 người : Hoàng Sĩ Quang, Phạm Xuân Bích, Nhữ Bá Sĩ, Nguyễn Xuân Thiều, Bùi Trần Đản, Nguyễn Thu, Phạm Phổ, Thiều Nguyên Diệu, Vũ Đức Dụng, Phạm Viết Cao, Đặng Kim Giám, Lê Bảo, Hoàng Sĩ Cơ, Bùi Danh Kỳ, Nguyễn Trọng Ôn, Bùi Lê Nghệ, Lê Huy Điện, Bùi Quốc Trinh, Nguyễn Trị - Trường Thăng Long 23 người : Lê Duy Trinh, Lê Hựu, Nguyễn Huy Vĩ, Nguyễn Đăng Chu, Hoàng Dũ Quang, Phạm Thế Phổ, Đỗ Cao Mai, Vũ Vĩnh, Ngô Huy Tuấn, Nguyễn Quốc Cẩm, Nguyễn Huy Chiểu, Nguyễn Quốc Thanh, Lý Văn Loát, Vũ Đình Hoán, Đoàn Thế Trạch, Phạm Quang Vy, Phùng Văn Bằng, Phạm Gia Lâm, Nguyễn Văn Bính, Đào Đình Nghiễm, Dương Đức Hoành, Dương Xuân Triêm, Ngô Hiến -Trường Sơn Nam 34 người : Nguyễn Văn Diễn, Hà Quyền, Trương Mãn, Phạm Đình Trạc, Dương Bá Cung, Lưu Diệu, Lưu Hân, Lê Quang, Vũ Đức Khuê, Đặng Văn Đồng, Nguyễn Đình Dao, Lê Đan Quế, Lê Lễ, Hoàng Quý Đức, Nguyễn Huy Chiếu, Phạm Xuân Kiểm, Nguyễn ý, Nguyễn Xuân Xưởng, Mai Khắc Mẫn, Vũ Quý Đức, Lê Khản, Phạm Đình Tương, Phạm Nhưng, Trần Văn Yêm, Vũ Tuấn, Lê Duy Thị, Nguyễn Bá Huống, Vũ Đăng Dương, Nguyễn Thế Tự, Vũ Công Nho, Trương Chân, Ngô Vi Dực, Trần Lê Hoán, Vũ Đức Tuế).

    Hiệp trấn Kinh Bắc là Lê Quang Thực ốm phải miễn chức ; lại lấy Phùng Huy Giảng thay (Giảng trước mắc bệnh về nghỉ, đến nay khỏi, bổ lại chức ấy).

    Triệu Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Đăng Tuân về Kinh, sai lấy nguyên hàm sung chức Quang lộc Tự khanh tham bồi công việc bộ Lễ.

    Ký lục Phiên An là Đoàn Văn Chất chết.

    Đổi Nhà đồ Gia Định và Bắc Thành làm cục Tạo tác, và chế dấu đồ ký bằng ngà cấp cho.

    Lấy Vệ uý vệ Củng võ là Nguyễn Văn Ngoạn làm Vệ uý vệ Ban trực Hữu dinh quân Thần sách.

    Định điều lệ (gia) cấp và kỷ (lục).

    Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức nghị tâu rằng : “Xét phép nhà Thanh, lệ cấp kỷ có ba : một là quân công, hai là nghị tự, ba là ân thưởng. Nghị tự là do xét công mà được. Cứ bốn lần được kỷ lục thì bằng một cấp. Một cấp quân công bằng hai cấp nghị tự hay ân thưởng ; kỷ lục cũng thế. Ai được cấp kỷ đều do bộ cấp bằng. Đến kỳ mãn lệ được thăng, ai có nhiều cấp và kỷ thì ở trên, ít thì ở dưới, tính mỗi cấp quân công bằng tám lần kỷ lục của ân thưởng hay nghị tự, một cấp ân thưởng nghị tự thì bằng hai lần kỷ lục của quân công. Người được thăng bổ theo gia cấp quân công nếu có cả ân thưởng, nghị tự thì cứ mỗi một cấp của ân thưởng nghị tự được tính bằng một lần kỷ lục (quân công). Làm việc công phải tội giáng phạt thì cứ một cấp của ân thưởng, nghị tự được trừ phạt 6 tháng bổng ; nếu là quân công thì được trừ gấp hai. Nếu tội phạt không đáng thì trừ một lần kỷ lục thì ghi vào sách để giáng hoặc đổi, nếu là kỷ lục quân công thì được miễn, nhưng nếu phạm tội về quân chính thì lại không được miễn. Người có nhiều kỷ lục mà bị giáng thì được hợp kỷ lục lại thành cấp mà chiết trừ ; nếu chỉ có cấp mà bị phạt thì chia cấp ra thành nhiều kỷ lục để trừ. Một người mà có vài ba cấp, phải xét năm tháng trước sau mà trừ theo thứ tự. Nếu phạm tội về việc riêng thì xét nguyên do về việc đã được gia cấp và kỷ lục và xét cả cái cớ không được chuẩn cho trừ, tâu rõ lên để đợi chỉ mà tuân làm”.

    Lời bàn dâng lên, vua theo.

    Định lại lệ mộ thuộc binh cho Võ nha theo thành Gia Định.

    Thành thần tâu rằng : “Dân trong hạt ẩn lậu nhiều, buộc theo pháp luật thì sao xiết tội, mà xử trị khoan hồng thì chúng cứ giữ thói cũ, muốn biết số hộ khẩu tăng, giảm thực cũng khó vậy. Vả lại, năm trước việc các quản quân ở Võ nha theo thành mộ đặt thuộc binh đã có định lệ (Vệ uý, Chánh quản cơ thì 7 người, Phó vệ uý, Phó quản cơ thì 5 người, Cai đội, Suất đội thì 3 người). Nay xin cho những Vệ uý, Quản cơ, Cai đội không quản quân cũng được mộ lập thuộc binh. (Vệ uý, Chánh quản cơ thì 6 người, Phó vệ uý, Phó quản cơ thì 4 người, Cai đội thì 2 người). Lúc thường thì dùng sai vặt, khi có việc dùng làm thân binh, để cho dân du đãng có nơi sở cứ, mà cái tệ ẩn lậu dần dần bỏ được”.

    Vua y lời tâu.

    Yên Quảng có bão.

    Cai bạ Định Tường là Phan Văn Thịnh mượn riêng tiền công và nhận của hối lộ. Việc phát giác, trước cách chức rồi hạ lệnh cho thành thần Gia Định tra hỏi. Khi án dâng lên thì xử chém, vua chuẩn cho đồ 5 năm.

    Ngày Canh tuất, đại duyệt binh.

    Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và thự Tiền quân Trần Văn Năng làm phù liễn. Lại sai Thống chế Tôn Thất Dịch thống lĩnh Trung dinh, Đô thống chế Nguyễn Văn Vân, Phó đô thống chế Nguyễn Văn Trí thống lĩnh Tả dinh, Thống chế Vũ Viết Bảo thống lĩnh Hữu dinh, đều chỉnh đốn trước biền binh để đợi hiệu lệnh. Ngày ấy, vua mặc binh phục đeo gươm cưỡi ngựa đến ngự doanh, lên lầu Duyệt thị. Hạ lệnh cho các quân bày trận pháp đều y theo quân lệnh mà tiến dừng. Rồi lấy trâu rượu thưởng và uỷ lạo.

    Cho những người hỗ tòng, các hoàng tử tước công và quan văn từ Chánh ngũ phẩm, quan võ từ Suất đội trở lên, mỗi người 1 chiếc hào bao gấm ; văn Tòng ngũ phẩm trở xuống thì xét phẩm trật cấp tiền ; võ từ Suất thập cho đến binh lính thì đều cho quần áo. Lại thưởng cho quan quân 1 tháng tiền lương bổng. Kỵ tốt theo hầu cũng được cấp tiền gạo. Quan viên nào trước nhân việc công có lỗi mà bị phạt đều được miễn.

    Ngày Quý sửu, vua thân đến Thái Miếu cáo về việc Bắc tuần.

    Ngày Giáp dần, cáo ở điện Hoàng Nhân. Để tang phục ở tả vu. Từ đấy, vua ngự điện thính chính đều mặc cát phục.

    Trước bộ Lễ viết văn cáo có chữ sót lầm. Vua triệu Phạm Đăng Hưng và Lê Đồng Lý quở rằng : “Xem việc thì tội nhỏ mà xét lòng thì tội to. Nhưng nay sắp đi Bắc tuần, ai có lỗi đều khoan miễn. Tội bọn ngươi cũng tạm tha, đừng có bảo là trẫm nhu nhơ”.

    Vua cùng bầy tôi bàn lễ ngoại giao, hỏi Phạm Đăng Hưng rằng : “Lễ dụ tế thì nên mặc y phục gì ?” Thưa rằng : “Lệ cũ triều Lê dùng áo bào đen và đai sừng”. Vua không vui, bảo Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận rằng : “Ngày giỗ liệt thánh, Hoàng khảo ta đội mũ xuân thu, mặc áo tràng vạt, đã có điển lễ, thì trẫm theo lễ Hoàng khảo thờ liệt thánh để thờ Hoàng khảo, hà tất phải theo lễ đời Lê. Đến như lễ nhà Thanh thì 3 lạy 9 vái, nếu họ đòi ta như thế, há bọn khanh cứ yên lặng không nói gì sao ? Tóm lại, lễ phải tuỳ tục nước, ta tự theo lễ nước ta, có gì là không được ?” Liền định khi dụ tế mặc áo như ngày kỵ.

    Ngày ất mão, vua đem bầy tôi đến cung Từ Thọ mừng sức khoẻ, rồi ban cho ăn ở tả vu và hữu vu.

    Sai Hoàng trưởng tử lưu Kinh trông coi việc quân quốc ; Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân, Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách Tôn Thất Bính, Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm đều sung chức lưu Kinh đại thần ; Quang lộc Tự khanh Nguyễn Đăng Tuân, Thiêm sự Hộ bộ Hồ Hữu Thẩm, Thiêm sự Binh bộ Vũ Hàm Chương đều hộ vệ ấn lưu Kinh.

    Vua bảo Nguyễn Văn Nhân rằng : “Hoàng tử tuổi còn trẻ, khanh cùng bọn Tôn Thất Bính, Lê Bá Phẩm việc gì cũng họp bàn thoả đáng, rồi mới trình bày cho biết. Việc nên tâu thì dùng ấn lưu Kinh và đều ký tên ở cuối giấy. Khi trước khanh ở Gia Định đương lúc chiến tranh mà còn giúp đỡ được giỏi giang, huống nay là lúc thái bình vô sự. Khanh nên hết lòng cẩn thận cho trọn trách nhiệm”.

    Lại bảo Hữu tham tri Hình bộ sung giáo đạo là Ngô Đình Giới rằng : “Các hoàng tử hoàng đệ ở lại Kinh, không phải chỉ dạy văn học mà thôi, phàm sự tiến lui ra vào càng nên chỉ bảo cho biết đúng đắn, đó là trách nhiệm của ngươi. Còn như việc lớn quân quốc thì cho cùng bàn bạc với các đại thần lưu Kinh”.

    Sai Tôn Thất Bính quyền lĩnh biền binh Thị trung Thị nội lưu Kinh để canh giữ Kinh thành, Lê Bá Phẩm thay giữ ấn triện Hộ bộ.

    Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên, thự Tiền quân Trần Văn Năng, Thống chế Tôn Thất Dịch, Vũ Viết Bảo sung làm thị vệ đại thần tuỳ giá.

    Ngày Kỷ mùi, đặt đại triều nghi ở điện Thái Hoà. Dụ rằng : “Trẫm kính theo lời di huấn, nay phải đi việc bang giao, mà lễ đại tường trừ phục 27 tháng chưa trọn, lòng trẫm thực bất đắc dĩ. Bèn sắc cho hữu ty xét rõ điển lễ để trong khi đi tuần Bắc Thành nhân tiện thăm các địa phương và hỏi về phong tục. Đã chọn được ngày lành, đến mồng 6 tháng này kính cáo Thái Miếu, mồng 7 kính cáo điện Hoàng Nhân, mồng 8 khánh an ở cung Từ Thọ, ngày 12 chọn sai hoàng tử và đại thần là Khâm sai chưởng Hữu quân quận công Nguyễn Văn Nhân, Hữu dinh Phó đô thống chế Tôn Thất Bính, Hình bộ Thượng thư Lê Bá Phẩm lưu Kinh để trông coi mọi việc quân quốc, ngày 15 thì đại giá khởi hành. Tất cả các hoàng tử tước công, các đại thần, thị vệ, văn võ tuỳ giá, đều phải hộ vệ xa giá, giữ trật tự nghiêm chỉnh, cùng là nghiêm nhặt giữ cho quân lính tuân theo quân luật, đừng để quấy dân địa phương. Còn các hoàng tử tước công, các đại thần, thị vệ, văn võ không tuỳ giá, thì người nào nhận chức người ấy, đều phải công bằng giữ phép, theo lệnh các quan lưu Kinh điều độ”.

    Xong rồi vua ngự điện Cần Chính, Hoàng trưởng tử và các đại thần lưu Kinh bái mạng. Sắc dụ Hoàng trưởng tử rằng : “Kinh sư là đất căn bản, nay đặc biệt sai ngươi và bọn đại thần Nguyễn Văn Nhân ở lại coi giữ. Phàm gặp lễ hưởng tiến Tôn Miếu, ngươi phải kính cẩn tế thay và ngày thường thân đến cung Từ Thọ thay trẫm thỉnh an. Các chương sớ từ Quảng Nam trở về Nam và của các nha ở Kinh thì đều phát trạm đệ đến hành tại. Các bản sao đều cho mở xem rồi để lại Văn thư phòng. Nếu là việc thường thì cho cùng các đại thần xử trí. Nguyễn Văn Nhân vốn là người có công lao năng lực, trước tuổi đều hơn ngươi, nên lấy lễ sư bảo mà thờ, không được nghe kẻ bất chính tòng trung phá rối. Vả lại nay uỷ ngươi giữ Kinh là muốn cho quen hiểu chính trị, khi rảnh việc công, cũng nên học tập kinh sử, cố gắng tiến đức tu nghiệp, không nên chút ham vui chơi mà phụ lời trẫm. Nên ba lần nghĩ đi nghĩ lại và ghi vào lòng chớ sai”. Nhân ban cho một dấu đồ ký bằng ngà để khi có chỉ của cung Từ Thọ và có việc ở nội cung thì dùng. Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Bính và Lê Bá Phẩm thì cũng đều ban sắc dụ khuyên cố gắng cùng lòng hiệp sức làm việc nước.

    Đem việc Bắc tuần bố cáo trong ngoài.

    Ngày Nhâm tuất, xa giá từ kinh sư xuất phát. Thuyền ngự đi theo dòng Hương giang. Ngày ấy trời mưa, đến chiều tạnh. Đi qua đâu kỳ lão các địa phương đều bày hương án vui mừng đón rước. Ngày Giáp tý thuyền ngự đến kênh Mới ở Quảng Trị. Dinh thần đem dân khơi thông dòng sông. Thưởng cho 100 lạng bạc, 500 quan tiền.

    Ngày Bính dần, đến kênh Tiểu Khê ở Quảng Bình. Nước cạn, thuyền ngự không đi được, biền binh đi theo cùng với dân sở tại đóng cọc giữ nước rồi kéo thuyền qua, đến cửa ngã ba sông, thưởng cho biền binh 2.000 quan tiền. Lại dụ bộ Hộ rằng : “Đường kênh cạn hẹp, là lỗi ở người hướng đạo không biết chỉ bảo. Nay dân ta chăm lo việc công, ra sức chỉ vài ngày là thuyền đến được sông cái, trẫm há lại vì cớ quan tồi mà chẳng thương đến dân sao ?” Cũng thưởng dân 1.000 quan tiền.

    Hoàng trưởng tử và đại thần lưu Kinh đem việc trong Kinh yên vui tâu lên. Vua cả mừng, tự tay viết biểu dâng cung Từ Thọ để thỉnh an. Lại thân làm dụ yên ủi thăm hỏi Hoàng trưởng tử và các đại thần. Từ đấy, tin yên vui trong Kinh cứ ngày một lần báo.

    Vua ở hành tại, biểu thỉnh an cung Từ Thọ và dụ gửi cho Hoàng trưởng tử đều tự làm lấy cả.

    Ngày Mậu thìn, xa giá đến hành cung Quảng Bình. Vua lên thành xem luỹ cổ, cùng với thị thần bàn về việc Nam Bắc phân tranh thời quốc sơ. Lại đến cửa biển Nhật Lệ ngắm xem hồi lâu.

    Cho tế tướng sĩ trận vong Nam Bắc (đàn nam tế tướng sĩ thời quốc sơ ; đàn bắc tế tướng sĩ quân miền Bắc). Dụ rằng : “Khi các thánh mới bắt đầu mở nghiệp, chỗ này là chiến địa, là chỗ vùi ngọc của các tướng sĩ vì nước bỏ mình. Người Bắc chống nhau với ta, không khỏi không bị đâm chém, nhưng đều vì chúa mà bỏ mình thôi. Nhìn lại dấu cũ, bỗng lòng cảm thương. Vậy sai dinh thần đặt hai đàn tế Nam Bắc, mà đàn Nam lễ thì phẩm hậu hơn để tỏ hơn kém”. Rồi đặc sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức khâm mạng đến tế.

    Đem phẩm vật địa phương dâng cung Từ Thọ. Đến địa phương nào có của quý, vua đều tự viết biểu sai trung sứ đệ dâng.

    Cho quân sĩ hỗ giá 1.000 quan tiền. Dụ rằng : “Trong khi đi đường, ai có bị bệnh thì quan sở tại cấp thuốc, nếu chết thì cấp cho tiền vải liệm chôn và đánh dấu mộ rồi báo lên bộ tư về quê quán”.

    Thưởng cho Quảng Bình 500 quan tiền về việc mới dựng nhà quan và trại binh.

    Ngày Canh ngọ, ngự giá qua sông Gianh, thưởng cho phu đò 20 lạng bạc và miễn thuế thân cho dân Thanh Hà (tên thôn, dân đều làm phu đò).

    Ngày Tân mùi, ngự giá vượt núi Hoành Sơn, thưởng cho lính loan nghi [lính kiệu] 500 quan tiền.

    Ngày Nhâm thân, trú chân ở hành cung Suối Sa ở Nghệ An, bỗng gặp bão, mưa to như trút. Đêm, vua dậy thấy thị thần đều ướt át rét mướt, tự mình rót rượu và lấy thuốc viên đem cho. Lại sai sở tại lấy củi than cấp cho các quân đốt sưởi chống rét. Thưởng bạc tiền cho quan quân trực đêm theo bậc khác nhau.

    Các hành cung ở Nghệ An nhà cửa tường dậu xiêu đổ nhiều. Vua dụ trấn thần rằng : “Hành cung là nơi tạm nghỉ, cứ để như cũ, không làm lại. Ngày hồi loan sẽ che lợp sơ sài cho tạm xong việc, không cần tô điểm làm gì”.

    Quảng Bình ngày ấy cũng có bão lụt. Tin báo đến, vua dụ cho dinh thần xét dân có ai chết bẹp chết đuối thì cấp cho tiền tuất. Còn nhà cửa nơi hành cung đáng lợp sửa thì lấy của công mà làm, chớ để phiền phí cho dân.

    Ngày Giáp tuất, đến hành cung Thạch Khê, triệu kỳ lão sở tại đến hỏi về việc làm ruộng. Đáp rằng : gần đây bị hạn hán, nay lại bị gió bão, sợ dân gian khó tránh khỏi mất mùa đói kém. Vua yên ủi rằng : “Trẫm sắp tha tô thuế để dân được hồi lại. Các kỳ lão nên khuyên răn con em cố sức làm ăn, chăm nghề căn bản, sống yên nơi đồng ruộng, đừng nên vin cớ mất mùa đói kém rủ nhau trộm cướp mà tự hãm mình vào pháp luật”.

    Ngày Bính tý, ngự giá đến hành cung Nghệ An. Tha thuế mùa đông năm nay cho dân.

    Dụ rằng : “Hạt các ngươi bỗng gặp nạn bão, tuy lúa ruộng nhà cửa không hại lắm, nhưng trẫm nghĩ rằng trời đã vì dân mà đặt ra vua, thì kẻ làm vua phải coi dân như con, để lòng thương nuôi như cha hiền đối với con trẻ, chưa rét đã lo cho mặc, chưa đói đã lo cho ăn, há lại đợi khóc oe oe đòi bú mới cho ăn ư ? Trẫm từ khi lên ngôi, không ngày nào không lo cho dân cư đông đúc được mùa. Hạt ngươi đất xấu dân nghèo, thường bị mất mùa. Nay cảnh ấy đã mục kích, nếu lại theo lệ thường mà chờ đến nơi xem xét thì tình dân mắc nạn đương mong mỏi đấy, gặp phải quan lại tham nhũng tòng trung sinh tệ, thì há lại chẳng thêm nỗi phiền nhiễu cho làng xóm phải cung ứng hay sao ! Vậy tha cho thóc thuế về vụ đông”.

    Lại sai Hàn lâm viện Thừa chỉ là Hoàng Quýnh đi xem xét dân tình. Quýnh về nói : trong dân gian, thuế vụ đông đã có nhiều người nộp trước từ vụ hạ rồi. Nay nhất thiết tha thuế thì của ấy trên chẳng vào được kho, dưới chẳng hề đến dân, mà chỉ là một dịp đầy túi cho bọn quan lại tham nhũng thôi.

    Vua nói : “Nếu quả như lời ngươi nói thì kẻ chăm lo việc công, cung phụng bề trên, lại không được thấm ơn gì !”. Lập tức truyền dụ : Phàm ai đã nộp thuế rồi thì lưu trừ vào thuế chính cung năm sau.

    Vua thấy các hành cung Nghệ An làm to rộng quá, quở rằng : “Trấn thần các ngươi chưa thể tất được lòng trẫm, đến nỗi dân ta lại thêm một phen tổn phí như thế”. Lập tức hạ lệnh thưởng cho nhân dân 6.000 quan tiền. Lại dụ quan lại sở tại rằng : “Hạt các ngươi mấy năm nay nhiều trộm cướp, lại gặp nạn bão, xa giá đi qua đã thấu rõ tình trạng đau khổ của dân. Phàm chính sách yêu nuôi không gì không làm. Các ngươi là quan lại, phải công bằng giữ phép dẹp trộm cướp để yên dân, thì mới không phụ ý trẫm thương yêu nhân dân”.

    Dân gian nghe ngự giá đi qua, đón dâng sớ tấu, ngày kể hàng trăm.

    Vua dụ bộ Lại rằng : “Trẫm có việc Bắc tuần, nhân xem xét địa phương, hỏi han phong tục, nay dân đem nỗi đau khổ mà kêu, sao nỡ làm lơ. Nhưng trong lúc đi qua dọc đường, có thể làm rõ lẽ ngay sao được ? Vậy nên chấp đơn, đợi sau khi hồi loan sẽ quyết định. Duy những sự tình cấp thiết và việc quan lại tham nhũng thì tâu ngay”.

    Cho quân sĩ hỗ giá trâu và gạo.

    Vua bảo Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức rằng : “Các quan theo hầu khi đi đường tiêu pha tốn nhiều, trẫm đã rõ cả. Nếu chẳng đủ tiêu thì nên cho trẫm biết, không nên vay mượn của ai. Các quan địa phương phỏng có biếu xén, chẳng qua cũng là lấy mồ hôi nước mắt của dân để lấy lòng nhau đó thôi, nên từ chối là tốt. Bọn khanh nên bảo khắp cho các quan lớn nhỏ đều thể tất ý ấy”.

    Vua dụ Hoàng trưởng tử và các đại thần lưu Kinh rằng : “Trẫm lần này đi Bắc tuần là kính theo lời di huấn, thực là việc khổ tâm không đừng được. Từ ngày tạm xa bàn thờ, trong lòng thương xót. Vậy phải truyền chỉ cho các hoàng tử tước công, các trưởng công chúa, đều thể lòng trẫm, thân đến điện Hoàng Nhân thay trẫm chầu hầu. Các quan ở Kinh cũng thay ban nhau mà chầu hầu. Nguyễn Văn Nhân và Lê Bá Phẩm, xong việc rỗi rãi, cũng phải thường đi tuần xét, truyền chỉ cho bọn nội giám, thị nữ phàm việc thờ cúng cần phải kính cẩn, đồ thờ phải cho thơm tho, nếu hơi lười nhác, ngày trẫm hồi loan, tra xét ra thì sẽ trị tội nặng không tha. Tôn Thất Bính đã kiêm lĩnh thị vệ thì phải ngày thường thân đi sức rõ cho viên biền tuần phòng nghiêm chỉnh. Bọn khanh phải kính lời dạy để xứng đáng sự uỷ thác”.

    Cho Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Xuân một thanh kiếm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây chữ vàng và cho 19 người Vệ uý, Phó vệ uý Thần sách ở trấn, mỗi người một thanh kiếm Tây mạ bạc, một khẩu súng Tây chữ vàng. Nhân bảo Nguyễn Văn Xuân rằng : “Ngươi nên cấm bọn thuộc hạ, kẻ nào nhũng tệ, phải xử tử ngay để răn kẻ khác. Nếu răn cấm không nghiêm, ngươi không thể chối lỗi được. Ngươi nay đã tuổi già, nếu có lỗi lầm phạm pháp, thì trẫm rất thương. Nên cố gắng làm việc một hai năm nữa, cũng sẽ được triệu về Kinh”.

    Lại bảo Vệ uý Lê Mậu Cúc, Nguyễn Cửu Lợi rằng : “Trẫm nghe Nghệ An sai binh đi bắt cướp lại rút lấy ở các đội, mỗi đội hơn chục người. Binh ô hợp, ngày thường không biết có tướng, nhất đán gặp giặc, liệu có giữ cho khỏi lỡ việc được không ? Từ nay điều khiển nên dùng cả vệ cả đội, lâu ngày thì đổi, san sẻ công việc cho đều. Vả lại đạo dùng binh, uy phải hơn yêu mới được việc. Các tỳ tướng trở xuống, ai không theo lệnh phải xử theo quân pháp, thì người ta biết sợ, mà khi lâm trận dễ sai khiến”.

    Lại sắc cho văn võ ở trấn mộ thuộc binh để sai khiến không được dùng lính các vệ cơ làm việc riêng. (Trấn thủ được 20 thuộc binh, Hiệp trấn 15, Tham hiệp 10, Quản phủ 10, Vệ uý 4, Phó vệ uý, Chánh, Phó quản cơ đều 3. Các Cai cơ, Cai đội quân Thần sách đều 2. Các Cai cơ, Cai đội, Phó đội, Chánh đội trưởng, Suất đội, đều 1 người).

    Đổi sông Tam Chế làm sông Tam Đa (sau đổi là sông Tam Đăng).

    Sai thự lý Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào hỗ giá ; Lưu thủ phó vệ uý Tiền bảo nhất thuộc Tiền quân là Nguyễn Văn Long đem vệ binh đóng giữ ở trấn.
  • Chia sẻ trang này