0059.017 - Purewater110 - done GD

24/11/15
0059.017 - Purewater110 - done GD
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:
    :rose::rose::rose:

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng, sai Hoàng trưởng tử tế thay.
    Ngày Nhâm ngọ, ngự giá đến hành cung Thanh Hoa. Mấy trăm kỳ lão đến chiêm bái. Vua triệu hỏi. Mọi người đều lấy việc tật dịch và mất mùa mà đáp.
    Vua nói rằng : “Trẫm vâng nối cơ nghiệp gian lao to lớn của tiên đế, dậy sớm ăn trưa, rất lo nghĩ đến dân nghèo, mỗi lần gặp thiên tai trẫm càng thêm tu tỉnh, nghĩ sao cứu giúp nuôi nấng được dân. Ngày đêm mỏi mệt, chẳng dám nghỉ ngơi, há phải là tự mình hưởng giàu sang mà không thương dân đâu ! Nay thăm địa phương, xem phong tục, mắt thấy dân đau khổ, lòng rất xót thương, sắp bàn việc tha thuế ruộng thuế thân cho dân được ơn trạch. Thuế ruộng thuế thân là phép đã định không đổi của đế vương, nhân dân các ngươi nên chăm việc cày cấy để cung nộp cho nhà vua, đừng thấy nhiều lần xá miễn mà sinh lười biếng. Trong nước nay dẫu chẳng dám vội bảo là thái bình, nhưng cũng gọi là thịnh. Các kỳ lão nên răn dạy con em, học trò thì để tâm vào sách vở, làm nông thì gắng sức cày ruộng trồng dâu. Nếu có con em khó dạy mà sinh ra trộm cướp thì lập tức đưa lên quan xét cho rõ tội. Nếu biết mà dung túng, thì lũ vô lại ấy, tích nhỏ thành lớn, không những chỉ nhọc sức quân ta, mà dân ta đã bị hại trước”.
    Các kỳ lão đều lạy tạ và nói : “Bọn thần già yếu sống thừa, nay được thấy thiên nhan và được hỏi đến thì hạnh phước nào bằng”.
    Vua khen là thành thực, thưởng cho 300 lạng bạc. Tha nửa thuế ruộng thuế thân vụ đông năm nay cho Thanh Hoa.
    Dụ quan lại sở tại rằng : “Thanh Hoa là nơi dấu vết dựng nghiệp vương. Loan giá đến đây, biết rõ nỗi dân vất vả, vì liền mấy năm nay mưa gió tai hoạ, mùa màng mất nhiều, nên xuống lệnh tha thuế để thư nỗi khổ lâu ngày của dân. Đoái nghĩ việc yêu dân căn bản là ở quan lại. Bọn ngươi nên thể tất ý tốt của trẫm mà thương xót dân ta, đừng để việc hình án kiện tụng bê trệ, kẻ gian tung hoành, để cho trong cõi được yên ổn, thế mới là không sơ khoáng chức vụ”.
    Lại thấy các hành cung hạt ấy đơn giản mộc mạc, vua rất khen, thưởng cho quân dân 4.200 quan tiền.
    Lấy trâu rượu cho các quan hỗ giá ăn uống.
    Con cháu nhà Lê là Lê Duy Cáo, con cháu họ Trịnh là Trịnh Trụ vào yết kiến, ban cho mỗi người một bộ y phục. Lại thưởng con cháu nhà Lê 100 lạng bạc, con cháu họ Trịnh 50 lạng bạc.
    Quản lĩnh thượng đạo là Hà Công Thái dẫn các thổ tù đến chiêm bái. Vua thấy Thái tuổi già, sai người nâng dìu lên điện. Thái sợ hãi. Vua dụ rằng : “Ngươi hiến thân làm tôi, không phải một ngày, còn hiềm ngờ gì mà có ý sợ”. Sai cùng với con là Quỳnh theo hầu, thưởng cho các thổ tù mà cho về.
    Cho Phó vệ uý vệ Thần sách theo trấn Thanh Hoa là bọn Phạm Văn Xuân 8 người, mỗi người một thanh kiếm Tây mạ bạc và một khẩu súng Tây chữ vàng.
    Lưu Vệ uý vệ Trung bảo nhị là Nguyễn Văn Ưng lấy vệ binh mà theo trấn đóng giữ.
    Dời công thự của Hiệp trấn và Tham hiệp Thanh Hoa đi chỗ khác. Trước một mình Đốc trấn ở trong thành, Hiệp trấn và Tham hiệp ở riêng ngoài thành. Vua hiềm là cách trở, nên sai dời vào cùng ở trong thành.
    Ngày Mậu tý, vua thân đến yết Nguyên miếu, đến núi Triệu Tường bái vọng lăng Trường Nguyên. Lễ xong, dụ bầy tôi rằng : “Trẫm trông núi Kiều((1) Một ngọn núi ở Thiểm Tây ( Trung Quốc ) truyền rằng trên có một Hoàng đế. Minh Mệnh ý muốn ví Nguyễn Kim với vua Hoàng đế.1), nhớ đến công đức tổ tiên. Sau khi hồi loan, sẽ soạn văn dựng bia để tỏ rõ từ đâu gây nên nghiệp lớn, truyền lâu dài hàng ức vạn năm”.
    Nhân sắc cho trấn thần Thanh Hoa tìm kiếm trong quý hương((2) Làng nguyên quán của nhà vua, tức làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn.2) các bia kệ tàn gãy có liên quan đến sự tích bản triều thì thu cất đi.
    Thưởng cho quý huyện, quý hương và công tính bạc lụa, trâu, rượu theo bậc khác nhau (Quý huyện 300 lạng bạc, 100 tấm lụa, 10 con trâu, 10 chum rượu ; quý hương 200 lạng bạc ; công tính 300 lạng bạc). Từ tế sứ Từ tế ty là Nguyễn Hựu Tuyên, Từ tế phó sứ là Nguyễn Hựu Sĩ và bọn bảy người trưởng phái lĩnh bảy chi công tính thì được ban cho y phục.
    Thưởng cho xã Bùi Xá 100 quan tiền.
    Ngày Canh dần, ngự giá đến hành cung Thanh Bình. Tha cho dân nửa số thuế tô vụ đông năm nay. Thuế trốn thiếu đều được miễn cả. Lúa mùa bị bão, sai đạo thần khám xét để tha thuế.
    Thưởng cho Thanh Bình 700 quan tiền về việc xây dựng hành cung.
    Cho Quản đạo Nguyễn Văn Tạo một thanh kiếm Tây mạ bạc, một khẩu súng Tây chữ vàng.
    Các thổ tù đạo Thanh Bình vào yết kiến, đều thưởng hậu mà cho về. Cho Quách Tất Thúc làm Phòng ngự sứ.
    Ngày ất mùi, ngự giá đến hành cung Bắc Thành. Hôm ấy trời tạnh ráo, nhân dân hạt thành dắt già bế trẻ hoan nghênh rợp đường. Họ đều nói : “Nghi vệ đời thái bình xưa nay chưa từng thấy”.
    Cho kỳ lão Bắc Thành 3.000 quan tiền. Ai 90 tuổi trở lên, cho thêm 1 tấm lụa.
    Tha thuế thân cho các trấn Bắc Thành.
    Dụ rằng : “Trẫm nhân có việc đi tuần Bắc Thành, thăm tục dân, xét quan lại. Cờ thuý hoá(() Cờ vua đi tuần hành, trang sức bằng lông xanh.) mới đến hạt, cụ già, con đỏ, đón kiệu vui mừng. Từ khi trẫm lên ngôi đến nay, vẫn nghĩ đến đời sống của dân, đã nhiều lần ra ơn lớn. Huống nay loan giá mới tới, há lại không có gì để thoả lòng mong mỏi của dân ta sao ? Nhưng thuế đinh thuế điền năm nay đã nộp một nửa, lý trưởng hương hào đã thu trước ở dân rồi, nay nếu vội vã tha cho thì kẻ giảo quyệt sẽ dễ quấy rối, quan lại nhân đấy vơ vét, thì ơn huệ ban ra, khó xuống đến dưới. Vậy đặc biệt gia ân dự tha cho 5 phần 10 thuế thân, tiền đầu quan và tiền cước của 11 trấn Bắc Thành và phủ Hoài Đức về năm Nhâm ngọ, Minh Mệnh thứ 3. Duy có Yên Quảng vụ mùa này bị bão lụt thì tha cho cả thuế ruộng vụ đông năm nay nữa”.
    Thưởng cho Bắc Thành 9.400 quan tiền về việc xây dựng hành cung và sứ quán.
    Lấy sản vật địa phương Bắc Thành sai trung sứ đem dâng cung Từ Thọ. Vua tự viết biểu thỉnh an, đại lược rằng : “Thần từ ra đi đến nay, qua các địa phương đều cho ơn huệ. Từ Quảng Trị, Quảng Bình, đến Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, cho đến 11 trấn Bắc Thành, không chỗ nào không cho tha thuế thân thuế điền. Quan lại, binh đinh ở Kinh ở ngoài thì thường thưởng cho bạc, lụa, lương, tiền, không dưới mấy chục vạn. Muốn góp vui của thiên hạ làm vui, thu phước trong thiên hạ làm phước để dâng cho thánh mẫu được sống lâu vô cùng, gọi là tỏ nguyện vọng lớn trong lòng thần vậy”.
    Hoàng thái hậu ban cho đồ ăn quý, vua tự tay viết biểu tạ ơn. Từ đấy, Từ cung có gì cho, vua thường tự mình làm biểu tạ ơn dâng lên.
    Vua nghĩ trong Kinh khí trời hơi lạnh, dụ hỏi tình trạng gần đây của Hoàng trưởng tử. Hoàng trưởng tử làm biểu nói : “Thần kính nhờ phước lớn, may được yên lành. Cúi mong mau việc lớn, để sớm hồi loan”.
    Vua phê rằng : “Xem biểu xong rất mừng. Trẫm chính muốn sớm trở về chầu hầu cung Từ Thọ để yên lòng mong nhớ lâu ngày”.
    Cho các hoàng tử thân công hỗ giá, mỗi người 100 lạng bạc, 100 phương gạo.
    Cho Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất một thanh gươm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây dát vàng, cho Phó tổng trấn Lê Văn Phong một thanh gươm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây dát bạc ; các liêu thuộc ở thành tất cả 125 người, từ Tòng nhị phẩm đến Tứ phẩm, mỗi người đều thưởng gươm mạ bạc và súng chữ vàng theo thứ bậc khác nhau.
    Các thổ tù dọc biên giới Bắc Thành vào lạy chầu. Cho Tuyên uý đồng tri Tuyên Quang là Nguyễn Thế Nga, Phòng ngự sứ Sơn Tây là Đinh Công Lương, Phòng ngự sứ Hưng Hoá là Điêu Quốc Thuyên và Chiêu thảo sứ Đinh Công Kiêm làm Tuyên uý sứ, cùng với Quản cơ cơ Hùng dũng trấn Cao Bằng là Nguyễn Hựu Bằng, Tuyên uý sứ châu Vạn Ninh trấn Yên Quảng là Phan Phương Khách và Tuyên uý sứ Hưng Hoá là Đinh Công Vượng tất cả 7 người, đều được cấp triều phục. Còn những người khác thì đều cho bạc và y phục theo thứ bậc khác nhau. Nhân đấy, sai họ vẽ đồ bản cương giới và kê rõ thế hệ truyền nối tâu lên. Rồi bổ bọn Thổ ty Tuyên Quang là Nguyễn Quảng Khải, Nông Văn Vân, Thổ ty Hưng Hoá là Điêu Chính Hâm, Cầm Nhân Trân, Thổ ty Thái Nguyên là Hoàng Đình Đạt, Trần Hữu Quyền, Thổ ty Yên Quảng là Phan Đình Sự, Phan Thiên Thạch làm thổ Tri châu và thổ Tri huyện (đều trật Chánh cửu phẩm), thổ Lại mục (trật Tòng cửu phẩm), tất cả 53 người, khiến cai quản để nộp thuế nhà nước.
    Sai xây dựng ở phía bắc hậu điện hành cung Bắc Thành một cái lầu cao gọi là lầu Tĩnh Bắc (Đều dùng gạch ngói làm cả. Trên chia ba nóc, giữa đặt cùng mái liền tường, mỗi tầng có thang bậc vòng quanh mà lên. Cửa sổ, bao lơn, long lanh, thông suốt bốn phương tám hướng. Tầng trên thờ tượng Tam tôn((1) Tam tôn : tức là Thích Ca, Văn Thù và Phổ Hiền.1), để cầu phước cho dân. Phía dưới lầu thì trồng vải và các cây có tiếng).
    ở Bình Hoà có bão, thuyền của dân bị đắm mất nhiều. Trấn thần tâu lên, sai xuất tiền kho cấp cho.
    chính biên
    Đệ nhị kỷ - quyển xii
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa đông, tháng 11, vua ở hành cung Bắc Thành, thấy sứ Thanh chậm đến nên gửi thư hỏi. Lại sai người dò hỏi, cũng chưa về báo. Vua từng cùng bầy tôi bàn về việc ấy, bảo rằng : “Các triều Lý Trần Lê dựng đô ở đây, sứ Bắc có tới chậm hay chóng, không đến nỗi mong mỏi. Nay ra đóng đô ở Phú Xuân, cách xa mấy nghìn dặm, nhờ uy ân của Tiên đế để lại, được các nguyên lão đại thần một lòng giúp đỡ, xa giá có đi xa cũng không lo đến việc trong Kinh. Nếu nghìn trăm năm sau, sự thế có khác đi thì làm thế nào ? Bắc Thành không phải nơi hiểm đủ trông cậy được, quyết không thể dời đô đến được. Trẫm muốn dựng kế lâu dài cho con cháu, đêm ngày nghĩ ngợi, chưa từng chốc lát lãng quên”.
    Dụ các quan Bắc Thành rằng : “Trẫm luôn luôn nghĩ đến dân, nhưng không thể đến từng nhà mà bảo từng hộ được. Có các khanh làm tai mắt, các khanh thấy nghe gì tức là trẫm thấy nghe đấy. Những việc lợi đáng chấn hưng, việc hại đáng trừ bỏ thì đừng tiếc lời, cứ nói hết”.
    Lại sai vẽ bản đồ thành trì đồn bảo ở các trấn dâng xem để biết rõ địa hình.
    Vua thấy Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Lê Duy Thanh già yếu, chuẩn cho lấy hàm thự Tham tri Lễ bộ về hưu. Gặp có người tố cáo Thanh trái phép ăn hối lộ, thành thần đem việc tâu lên. Vua sai thự Hữu Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi tra xét.
    Thanh vào yết kiến nói với vua rằng : “Trước kia thần giữ chức bị vị ở Kinh, được mệnh đi trấn đã cố từ chối không được. Từ đó sớm hôm nơm nớp sợ mắc tội. Nay bị có người vu cáo, xin sai quan Kinh tra xét. Nếu uỷ cho Nguyễn Hựu Nghi thì thà cho thần được chết”.
    Vua nói : “Nghi cũng là quan Kinh. Như ngươi nói thì chọn ai được”.
    Thanh lại cố xin mãi. Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên to tiếng mắng rằng : “Thế là thế nào ? ! Tội hay không, tự có công nghị, sao lại khinh nhờn như thế thì đối với lễ phép triều đình như thế nào ?”.
    Tổng trấn Lê Chất cũng nói Thanh ngạo mạn vô lễ, xin bắt tội.
    Vua yên lặng hồi lâu, nói rằng : “Thanh trước kia không công lao gì, trẫm nghĩ là theo làm việc lâu ngày mà dùng. Há hắn chẳng biết pháp luật là của chung thiên hạ sao mà lại ngu xuẩn ngang chướng quá thế ?”
    Liền sai trói ở trại quân Tả vệ rồi giải về Kinh.
    Lấy Hương cống triều Lê là Hoàng Phạm Lãng làm Đốc học Cao Bằng, Hồ Trọng Điển làm Đốc học Nghệ An.
    Hiệp trấn Hà Tiên là Phạm Nhữ Đăng chết ; lấy Thiêm sự Binh bộ là Trịnh Xuân Trạm làm Hiệp trấn Hà Tiên.
    Bàn dựng miếu Lịch đại đế vương.
    Vua dụ Hộ bộ rằng : “Trẫm tham xét điển lễ, thấy từ xưa các đế vương đều có miếu thờ. Nay nhân có việc đi Bắc tuần, những nơi có thờ đế vương đời trước, không nơi nào không sai quan đến tế. Nhưng từ triều Lê trở về trước thì đều là thờ cúng trong dân gian, miếu vũ do Nhà nước tế thì chưa từng xây dựng. Nghĩ rằng vua các triều trước thay nhau làm việc đều có công đức với dân, lòng trẫm rất kính mộ, việc làm miếu thờ nên theo nghĩa mà làm. Vậy bàn sai chọn đất dựng miếu để làm nơi cúng tế”.
    Thị trung Học sĩ Phạm Thích bệnh nặng không đến yết kiến được, quan Bắc Thành tâu lên. Vua sai Hữu tham tri Hộ bộ Nguyễn Công Tiếp đến tận nhà thăm hỏi. Thích dâng biểu tạ ơn.
    Thị trung Trực học sĩ thự Binh bộ Tham tri là Trịnh Hiến chết. Tặng Binh bộ Tham tri, cho 200 quan tiền.
    Lấy Sinh đồ ở Hải Dương là Phạm Đình Hổ sung chức Hành tẩu ở Hàn lâm viện. Trước Hổ bị bệnh, triệu chưa đến. Bây giờ đến bái yết, xin theo nghiệp học để thi cho đỗ, để trọn chí của cha.
    Vua sai sung Hàn lâm viện để phòng cố vấn, Hổ nhân dâng một quyển Tiền Lê hội điển, một quyển Bang giao điển lệ, và một quyển thơ thù phụng. Xong lại từ không đến Kinh.
    Giải những tù phạm bị sung quân và bị lưu (trên 130 người) ở Bắc Thành đi Gia Định. Chuẩn cho ngày đến thành thì được bỏ xiềng khoá rồi phát đi bảo Châu Đốc cho theo bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ sai phái tạp dịch, hằng tháng cấp cho tiền gạo để nuôi.
    Nước Chân Lạp đói, xin thành Gia Định bán thóc cho. Sai thành thần cho 300 phương gạo. Vua phiên tâu rằng : các sở thuỷ lợi từ trước của nước ấy, mấy năm gần đây cấm người Hán (Việt) không cho trưng nên ngạch thuế bãi bỏ. Nay khẩn xin chiêu mộ dân chài để phát mãi lấy tiền dùng việc nước”. Vua y cho.
    Ban quần áo cho thú binh hai vệ ở Thanh Nghệ (vệ Long võ hậu và vệ Hổ oai hậu). Sắc cho quan hai trấn từ nay phàm binh khí thú binh có thiếu hay hỏng, phải lấy tiền công tu bổ, không được thu góp ở lính.
    Điều trên 2.600 người Thần sách ở Thanh Nghệ đến Bắc Thành để đổi phiên đóng thú.
    Học trò Hải Dương là Mai Bách Tòng, vũ Đức Quang và học trò Sơn Nam hạ là Phạm Xuân Đệ dâng phong thư nói rằng các quan chưa hết (quốc) tang ba năm mà mặc gấm vóc thậm chí tìm con hát, mua nàng hầu, phóng túng không chán để cầu vui, sợ có hại đạo hiếu. Lời nói rất thiết tha. Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức đem tâu lên.
    Vua nói : “Việc bang giao là lễ lớn, theo lễ phải vui mừng. Bọn Tòng quê mùa không biết gì, cho nên nói ngu như vậy, nên dụ mà bảo về”.
    Vua ngự lầu Ngũ Môn duyệt binh Bắc Thành (số binh trên 14.000 người).
    Ban áo rét cho Hoàng trưởng tử và bọn đại thần lưu Kinh Nguyễn Văn Nhân.
    Thưởng cho năm dinh quân Thần sách 5.000 quan tiền và các quân ở Bắc Thành 1 vạn quan.
    Đắp đê mới ở Phước Lộc, Sơn Tây. Ruộng dân chỗ nào bị đắp mất thì miễn thuế ; chỗ nào lấy đất thành sâu trũng thì sau ba năm mới thu thuế theo ngạch thuế đầm phá. Từ nay có việc đắp đất đai mà lấn vào ruộng đất của dân thì theo đây làm lệ. Chuẩn định Bắc Thành từ nay chở gạo về Kinh thì lấy Sơn Nam hạ và ở kho Xích Đằng mà chở, kho Thăng Long không phải chở nữa.
    Vua đến phường Nghi Tàm (thuộc huyện Vĩnh Thuận) xem diễn trận voi.
    Lấy Cai bạ Quảng Đức là Ngô Bá Nhân làm Hiệp trấn Nghệ An.
    Trước vua ngự đến Nghệ An, thự lý Hiệp trấn Nguyễn Khoa Hào làm nhiều việc không vừa ý, liền sai đi theo giá. Đến nay cho Nhân thay. Rồi bổ Hào làm Thiêm sự Lại bộ.
    Lấy Vệ uý vệ Hữu bảo nhất Hữu quân là Khâm sai chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên làm Trấn thủ Biên Hoà, Quản phủ Bắc Hà là Lê Văn Hợp làm Trấn thủ Cao Bằng, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Đình Thịnh làm Cai bạ Định Tường, Thiêm sự Hình bộ là Phạm Đình Tích làm Ký lục Phiên An, Ký lục Quảng Trị là Vũ Xuân Cẩn làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng.
    Cai bạ Phiên An là Trần Đình Trưng có bệnh phải miễn chức ; lấy Thiêm sự Lại bộ là Lê Đăng Doanh thay.
    Hữu tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Trần Quang Vĩnh dâng sớ điều trần mười việc :
    1.Việc Nam tuần (Gia Định là nền móng dấy nghiệp phục quốc, là đất căn bản, cũng như Quan Trung, Hà Nội của nhà Hán. Huống chi phía nam giữ yên Chân Lạp , phía tây khống chế Tiêm La, là phên che lớn của nước nhà. Nay ngự giá Bắc tuần, dân địa phương đã được nhờ ơn, xin lại cử hành việc Nam tuần để hỏi thăm kỳ lão, yên ủi nhân dân, cho Bắc Nam đều được nhờ ơn mưa móc).
    2. Hoà hiếu với láng giềng (Xưa Tiên đế ngự sang Xiêm trong ba bốn năm, tuy nước ấy không giúp được binh lương, nhưng là nơi rồng hổ ẩn náu, gió mây do đấy nổi lại. Tiên đế lượng to như trời đất, kết thân láng giềng, trên 20 năm biên giới không lo gì. Nay xin xem mọi người cùng một lòng nhân, không lấy lễ văn nước ta mà trách thói man di hung hãn, đấy cũng như sách Trung dung nói “khéo noi theo người trước, yên vỗ người xa”).
    3. Định lại binh chính (Khoảng năm Gia Long, ở Bắc Thành năm nội trấn thì kén tinh binh, sáu ngoại trấn thì kén thổ binh, dùng binh đất ấy để giữ dân đất ấy, đó cũng là phép phủ binh đời Đường. Nhưng dân gian cứ quen thói cũ là định khoá thay nhau, lấy tiền phụ dưỡng, dân thì có cái phiền phải mang đưa, binh thì sinh tính lười nhác, đến khi có việc sai khiến thì co rút không đi, muốn cho đắc lực khó lắm. Vậy xin tăng cấp lương binh mà phí nuôi quân không để phiền dân, 50 tuổi thải về, niên hạn phải cho nhất định, cấm sự giao ước hẹn riêng. Lại đặt phép đổi thú, hoặc đi thú ở Kinh, hoặc đi thú ở Gia Định, chỉ để lại Bắc Thành không quá 3, 4 phần 10, vào ra nên lần lượt để san sẻ sự khó nhọc và nhàn rỗi cho đều. Như thế thì dân yên nghiệp làm ruộng chăn tằm, không khổ về đóng góp ; binh đóng ở đất khách cũng khó trốn được. Duy thổ binh thì vẫn để đóng giữ như cũ, khỏi thay đổi).
    4. Nghiêm quân luật (Binh pháp nói rằng : “Quân lữ cốt ở uy”, cho nên tiên vương xưa đặt ra pháp độ trước, trọng uy hình sau. Hình trọng thì bề trong sợ, bề trong sợ thì bề ngoài bền vững. Nay theo binh luật, trốn lần đầu thì xử 80 trượng, bắt về ngũ ; trốn lần thứ hai, thì xử 100 trượng, phát đi sung quân ở biên giới xa ; trốn lần thứ ba thì xử giảo giam hậu. Gần đây, người ta coi thường, khi ở ngũ khi trốn đi, hình phạt ấy không công hiệu gì. Xin từ nay, trốn lần đầu xử 100 trượng bắt về ngũ, trốn lần thứ hai xử tột bậc tội lưu cho đồ 6 năm rưỡi, trốn lần thứ ba xử chém ngay, để cho quân biết sợ mà tránh tội, như thế thì số quân thường đủ mà không lọt ngoài hiệu lệnh.
    5. Đặt kho thường bình (Phép kho thường bình. Thóc rẻ thì tăng giá mà mua vào, thóc đắt thì giảm giá mà bán ra, các đời đã làm, ai cũng lấy làm tiện lợi. Xin từ Thanh Bình trở vào thì đặt kho ở các dinh trấn đạo, ở Bắc Thành thì năm trấn trong đều đặt kho ở phủ, sáu trấn ngoài thì đặt ở trấn, do quan sở tại giữ, lượng xuất tiền kho tuỳ tiện mà mua vào bán ra, như thế thì được mùa hay mất mùa không hại, mà dân thường như được mùa).
    6. Thêm lương lính thú (Đời xưa sai đi thú, có xét đến tình cảnh mà thương người khó nhọc. Nay cho người đi đóng đồn ở biên giới xa xôi, bắt cướp yên dân, mà lương lộc so với người an nhàn không có khác gì thì sao sai họ vào nơi nguy hiểm được. Vậy xin tuỳ chỗ nguy hiểm chỗ bình thường mà bàn thêm lương bổng, thì mọi người lo cố gắng hết sức làm việc.
    7. Rộng với thuyền hộ (Buổi mới dựng nước thuyền chở chưa đủ, phàm thuyền riêng mà đủ thước tấc thì cấp cho bài chỉ, một năm chở việc công thì một năm đi buôn bán, đấy cũng là chế độ tạm thời. Nay thuyền công không phải không đủ, vả lại việc chuyển vận đã có Trường đà. Vậy xin rộng lệnh dùng thuyền tư chở việc công).
    8. Bớt số nha lại (Lại viên liêm hay tham có quan hệ đến nỗi vui lo của dân. Nay lại điển phức tạp, xin cho trưởng quan sở tại xét hạch, nêu rõ người tốt, người xấu, bớt số người mà cấp thêm lương, cất dùng người liêm người tài, trừng trị kẻ bóc lột dân, thì lại viên biết khuyên răn, mà dân được yên nghiệp khiến hình luật công bằng).
    9. Công bằng hình luật (Từ xưa đế vương không những chỉ lấy hình buộc dân, mà tất lấy đức làm gốc. Từ năm Gia Long thứ 14 [1815] về trước, án trộm cướp chỉ giết kẻ đầu sỏ, còn kẻ khác đều bắt tội đồ, vì thế được toàn tính mệnh rất nhiều. Đến khi chế điều luật, kẻ cướp lấy được của thì không phân thủ phạm hay tòng phạm, đều xử chém cả. Xin từ nay kẻ cướp thì nên xét xem lấy của nhiều hay ít, hại người hay không hại người, kẻ đầu sỏ cứ luật mà xử, còn kẻ đi theo nên khoan giảm, như thế thì đức hiếu sinh thấm thía lòng dân, mà không có kẻ phạm pháp nữa).
    10. Miễn thu đền (Theo sổ ngày nay, trong năm dân chết vào khoảng từ tháng giêng đến tháng sáu mà có báo quan thì miễn thuế thân năm ấy, từ tháng bảy đến tháng chạp mà báo thì phải thu đền. Vả lại cái tiếng “thu đền” đã không nhã, mà việc thu đền lại bắt ở thân thuộc người chết, nếu không có thân thuộc thì hương lý không tránh khỏi sự đền thay. Xin từ nay miễn cả).
    Vua xem sớ nói : “Đặt kho thường bình là phép hay đời xưa, nhưng thực hành rất khó. Không được người tốt thì dân không được nhờ ơn. Còn trong luật nói “kẻ cướp thủ phạm tòng phạm đều chém”, như thế để dân đỡ phạm tội, là ý đặt hình luật để mong không phải dùng hình. Nay muốn xử nhẹ thì phải nên lúc xét hỏi tuỳ tình hình định tội để tỏ lòng thương dân. Còn như pháp luật đã định rồi, có thể lại sửa đổi ư ? Đại khái lời tâu nửa được nửa hỏng, nhưng nay mở rộng đường cho nói mà biết vâng chiếu dâng thư thì cũng đáng khen ngợi. Trẫm cũng chọn điều hay cho thi hành”.
    Cho tế núi sông toàn hạt Quảng Đức, thần núi Triệu Tường ở Thanh Hoa, Văn Miếu, đền Chân Võ, thần núi Tản Viên và Xung thiên Đổng thần vương ở Bắc Thành, mỗi sở một đàn.
    Đổi phủ Thanh Đô trấn Thanh Hoa làm phủ Thọ Xuân, phủ Trà Lân trấn Nghệ An làm phủ Tương Dương, phủ Trường Yên đạo Thanh Bình làm phủ Yên Khánh, phủ Bắc Hà trấn Kinh Bắc làm phủ Thiên Phước, phủ Tam Đới trấn Sơn Tây làm phủ Tam Đa, huyện Phong Lộc trấn Thanh Hoa làm huyện Hậu Lộc, huyện Quảng Bình làm huyện Quảng Địa, huyện Đông Quan trấn Sơn Tây làm huyện Hùng Quan.
    Cấp lương bổng cho biền binh ba tượng cơ Tiền hùng, Tả hùng, Hữu hùng ở Bắc Thành (Một cai đội mỗi tháng 2 quan tiền 2 phương gạo, 2 đội trưởng thì theo phẩm mà chi lương, 138 kỵ binh phụ thì mỗi người mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo, 2 lính tiểu mục, mỗi người 1 phương gạo). Vua nghĩ lâu ngày đóng thú xa xôi nên đặc cách cho.
    Triệu Chưởng cơ thự Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách hành Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thuý đến hành tại, ban cho áo triều.
    Lại cho tìm sách xưa còn lại.
    Dụ rằng : “Khi trẫm được rảnh việc một chút, lại tìm tòi sách vở. Phàm từ xưa đến nay, những dấu vết phế hưng của các đời, những việc đổi thay của chế độ, cả đến nhân vật tốt xấu, phong thổ khác nhau giống nhau, vẫn muốn góp nhặt chuyện cũ để tham khảo. Trước kia có hỏi tìm sách cũ, cũng đã có người dâng lên, nhưng còn thiếu sót nhiều. Nay nhân có việc Bắc tuần, xem rộng địa dư, nghĩ rằng Bắc Thành là đất văn hiến, tất có thể tìm tòi được. Vậy tất cả những văn tự còn sót lại của đời trước hoặc những sách vặt của các tư gia, cho cả đến những sách kín của nước ngoài, phàm là ghi chép sự thực, có thể giúp ích cho đời, thì không câu nệ văn chương quê mùa, lời lẽ kiêng dấu, đều do sở tại chuyển dâng, trẫm sẽ thu xem và hậu thưởng”.
    Tìm những người hiền tài còn sót ở Bắc Thành và Thanh Nghệ.
    Dụ rằng : “Trẫm nghe nói trong một ấp mười nhà tất có người trung tín. Huống chi bấy nhiêu địa hạt, đất rộng người đông, vốn có tiếng văn học. Năm trước từng đã từng xuống chiếu tìm người tài giỏi giúp việc, đến nay chưa thấy ai hưởng ứng. Hoặc giả người có thực tài thực học không cần người biết, cho nên các quan lại không được biết tên mà tiến chăng ? Hoặc giả là kẻ sĩ tài giỏi cho rằng lòng cầu hiền của trẫm chưa được thiết tha chăng ? Hoặc giả vì ở nơi cỏ hoang rừng rậm, muốn được đề đạt mà không ai tiến cử chăng ? Nay trẫm dừng chân ở Bắc Thành đã
  • Chia sẻ trang này