0059.020 - @Suongdem(done-GD)

21/11/15
0059.020 - @Suongdem(done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:

    quan quân trong mười mấy năm nay, dân bị hại không kể xiết. Vừa quản phủ ứng Hoà là Nguyễn Văn Quý đem quân đi tuần bắt, gặp Thế Chung ở Chương Đức, binh của giặc hơn 200 mà binh của Quý chỉ có 80, ít chẳng địch được nhiều, Quý hết sức đánh, tay đâm được mấy tên giặc rồi chết ở trận. Thành thần được tin báo, chia quân đi đuổi bắt. Thế Chung trốn về vùng Thiên Bản, hội với Đình Lục. Thành thần mật sai thổ hào ở Nam Chân là Đỗ Hữu Lực dùng kế dụ đến nhà bắt được. Lại sai Chưởng cơ Ngô Văn Vĩnh đem binh và voi đi bắt đảng giặc ở Từ Sơn, bắt và chém được rất nhiều. Việc tâu lên, vua cho Lê Chất làm việc trúng thời cơ, xuống dụ ngợi khen, cho Đỗ Hữu Lực làm Cai cơ, ban cho áo mũ Chánh ngũ phẩm, 2.000 quan tiền và 100 lạng bạc. Ba người con và cháu gọi bằng chú bác của Hữu Lực đều được bổ Chánh đội trưởng, theo trấn sai phái. Ngô Văn Vĩnh được thưởng 1 cấp quân công. Biền binh được thưởng 200 quan tiền. Quản phủ Nguyễn Văn Quý được truy tặng Vệ uý vệ Thái võ Tả quân, được cho 1 cây gấm Tống cẩm và 20 lạng bạc tuất. Đình Lục và Thế Chung bị giết, đem đầu đi bêu ở các trấn. Cha Thế Chung là Nguyễn Gia Phan (tiến sĩ triều Lê) vì không tri tình được khỏi tội.
    chính biên
    Đệ nhị kỷ - Quyển XIV
    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế
    Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa xuân, tháng 3, vua đi săn ở núi Thế Giới. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Trẫm đi lần này, sớm đi tối về, người trên không có mối lo liên miên hằng tuần, người dưới thì có lòng trông hoan nghênh giúp đỡ, trẫm rất vui lòng. Những dân xã trẫm đi qua đều cho miễn 2 phần 10 thuế điền năm nay. Một đoạn điền thổ giáp đường quan La Chử mới bị nước lụt xói lở thì cho miễn thuế, sai dân bồi đắp và cho 1.500 quan tiền”.
    Định lệ thuộc binh của các viên quản suất ở quân Thị trung Thị nội (Quân Thị trung : Vệ uý được 7 người, Phó vệ uý 5 người, Cai đội 3 người, Phó đội 2 người ; Quân Thị nội : Vệ uý được 6 người, Phó vệ uý 4 người, Cai đội 2 người, Phó đội, Chánh đội trưởng, Đội trưởng, Suất đội, đều 1 người), sai lấy phu thường ở các vệ đội mà bổ, sau có khuyết thì mộ ngoài sung vào. Những binh lính lệ tòng cấp trước thì đều cho về ngũ, không được sai việc riêng. Lại sắc rằng các quan ngoài khi ở lỵ sở có mộ thuộc binh thì khi đổi nơi khác phải lưu thuộc binh ấy lại cho thượng ty trong hạt, duy quan Kinh mang theo thuộc binh đi thú, thì khi về Kinh hoặc đổi đi nơi khác được mang theo đi.
    Dựng viện Thuỵ tường.
    Lấy Cai đội Thị nội là Lê Văn Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách, Cai đội Đặng Văn Đạt làm Phó vệ uý vệ Uy võ.
    án phủ sứ Hoài Đức là Hoàng Văn Nhị chết. Cho một cây gấm Tống. Lấy Vệ uý vệ Trung bảo là Nguyễn Văn Phượng làm án phủ sứ Hoài Đức.
    Chuẩn định từ nay các chương tấu về đình nghị đều xưng là bọn đình thần (trước xưng là bọn văn võ thần), những văn bằng truyền thị cũng xưng là đình thần (trước xưng là công đồng), đều đóng ấn công đồng (lệ trước, sớ sách về đình nghị chỉ đóng ấn quan phòng ở chỗ ký tên cuối giấy).
    Thuyền bị nạn của nước Xiêm đậu vào hải phận An Hải (tên phường) thuộc Quảng Ngãi. Cấp cho tiền gạo rồi cho đi. Bọn trấn thần là Nguyễn Văn Soạn, Lê Đường Anh, vì trái lệ bắt dân lặn vớt của cho họ, bị phạt 6 tháng bổng.
    Mỏ đồng Tụ Long ở Tuyên Quang sản nhiều đồng, hoá phu tập hợp đông. Người lĩnh trưng xin lĩnh 15.000 quan tiền công chiết trả bằng khối đồng đỏ 25.000 cân. Quan Bắc Thành tâu xin cho. Vua y cho.
    Chưởng Hữu quân quận công Nguyễn Văn Nhân chết. Tặng Thái bảo, thuỵ là Trung Cẩn. Cho 1.000 quan tiền, 300 lạng bạc, 2 cây gấm chân kim((1) Chân kim : thứ gấm thêu bằng kim tuyến.1), 3 cây gấm Tống, 30 tấm lụa. Nghỉ chầu 3 ngày, sai quan đến dụ tế.
    Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Nguyễn Văn Nhân là bậc đại thần huân cựu, là người trung thành cẩn hậu. Khi trẫm được tin ốm nặng, muốn thân tới thăm, nhưng nghĩ lễ vua tôi rất nghiêm, nếu cho phép nằm thì không dám yên tâm, mà gượng dậy thì lại mỏi mệt, cho nên trẫm thường sai hoàng tử đến thăm. Nay không may qua đời, thương tiếc vô cùng”. Lại nói : “Nhân bình nhật ăn mặc rất tiết kiệm, nay lễ tế điện trẫm muốn làm hậu”. Rồi đặc biệt sai xuất tiền kho, uỷ cho đội Thị thiện hằng ngày làm cỗ nấu để cúng. Đến hôm đám đưa về Gia Định, vua ngự giá đến nhà, thân rót rượu cúng. Cho 100 binh đội hữu sai đưa đi. Đến ngày an táng, lại nghỉ chầu một ngày. Cấp cho 10 người mộ phu.
    Giặc trốn ở Kinh Bắc là Nguỵ tổng quản Thái họp đảng ở xã Cổ Biện, huyện Gia Lâm. Quan thành sai Phó vệ uý vệ Uy võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Lễ đem quân vây bắt. Giặc trổ ra. Lễ xông lên trận trước, bị trúng đạn chết. Cai đội Lê Văn Thi và Ngô Ngọc Kim cố sức đánh, chém được mấy đầu giặc, cướp được khí giới. Thái bèn chạy sang Sơn Tây, hợp đảng với nguỵ Thống lĩnh là Phan Hố. Quản phủ Vĩnh Tường là Trần Đình Dy, Vệ uý vệ Trung võ là Nguyễn Đức Niên, Phó vệ uý vệ Hùng võ là Phạm Văn Lượng, Quản cơ cơ Tả định là Hoàng Văn Truyền đều đem binh và voi đuổi đến xã Bồng Mạc, huyện An Lạc, đánh chém được tên Thái, bắt sống được tên Hố cùng bè đảng hơn 50 người. Việc tâu lên. Truy tặng Nguyễn Văn Lễ làm Vệ uý, cho 1 cây gấm Tống, lụa vải mỗi thứ đều 5 tấm và 30 lạng bạc, thưởng bọn Trần Đình Dy 6 người mỗi người 10 lạng bạc và quân công cấp kỷ theo thứ bậc khác nhau. Lại thưởng cho biền binh 300 quan tiền.
    Triệu Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thuý, Trấn thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Soạn, Ký lục Quảng Nam là Trần Lợi Trinh, Cai bạ Quảng Trị là Nguyễn Cửu Khánh, Cai bạ Quảng Bình là Lương Tiến Tường vào yết kiến. Nhân sắc rằng từ nay đại quan các thành dinh trấn về Kinh chầu hầu, thì từ chức Tham hiệp trở lên cho dự những phiên đình nghị. Gặp khi làm việc thuộc về hạt mình mà cần phải lánh mặt thì cho phép lánh mặt.
    Vua từng bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Bộ Lễ thì có điển lễ, bộ Hình thì có luật lệ, cần phải được người có học thức mới xứng đáng chức vụ. Nguyễn Khoa Minh viết chữ thì tốt nhưng ít học cho nên lâm sự nhiều việc không thông. Giá như những lúc việc công nhàn rỗi, chịu khó xem sách thì cũng tiến bộ, nhưng mà lười biếng đã quen”. Lại vời Lang trung Hình bộ là Nguyễn Công Duy bảo rằng : “Ngươi làm việc bên cạnh, trẫm đã biết qua. Bộ trưởng cho ngươi là cần cán, nên đề cử ngươi làm Tham hiệp. Vả Lê Bá Phẩm tuổi già hay quên, cần có ngươi giúp đỡ. Phàm bề tôi chỉ lo là vua không biết đến mình, nếu đã được biết thì nhất định sẽ được thăng tiến hiển vinh, sao lại chìm mãi ở chức Lang trung Thiêm sự !”.
    Lấy cẩm thạch ở Quảng Nam.
    Dời dựng Văn miếu trấn Phú Yên đến Xuân Sơn. Trấn thần thấy miếu cũ địa thế chật hẹp, gỗ ván đã mọt nát, xin dời về đây. Vua theo lời.
    Định lệ đóng ấn của các nha. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Phàm dùng ấn tín là để đề phòng gian dối, ngăn cấm sự thay đổi. Xưa nay, bất luận quốc bảo hay ấn tín, phần nhiều đều đóng lên chữ năm nào. Nhưng theo lệ cũ của bản triều, ấn tín các nha môn đóng ra bên cạnh là ngụ ý tôn quân. Trẫm nghĩ quốc bảo đã đóng ở chữ năm nào thì ấn tín các nha môn lớn nhỏ cho phép được đóng lên chữ tháng nào, thế cũng đủ phân biệt tôn ty mà có thể phòng được cái tệ tẩy xoá”. Bèn sai đình thần bàn định điều lệ để ban hành (phàm ấn chương quan phòng và đồ ký do quan cấp thì đóng lên chữ tháng nào của niên hiệu. Như việc do hai ba nha hội bàn làm tập tâu thì cũng theo thứ bậc trên dưới của các nha mà đóng ở bên tả và bên hữu chữ tháng nào. Việc riêng văn ban hay riêng võ ban nghị tâu thì đóng ấn quan phòng và nơi ký tên ở cuối giấy, rồi dùng ấn công đồng mà đóng lên chữ tháng nào của niên hiệu, theo như lệ đình nghị.
    Ngày Canh thân, ban đại yến cho hoàng tử, hoàng thân và văn võ từ Tam phẩm trở lên ở điện Cần Chính.
    Trước là vua thấy lễ Thăng phối đã xong, muốn ban yến cho bầy tôi, bèn sai bộ Lễ đặt bài ca Bát dật, dạy nhạc công diễn tập. Đến ngày, vua ngự điện Cần Chính, hoàng thân Kiến An công Đài, hoàng trưởng tử và đại thần Nguyễn Đức Xuyên lần lượt dâng thọ. Múa bài Bát dật((1) Một điệu vũ nhạc thời phong kiến có tám hàng, mỗi hàng tám người, chỉ vua mới được dùng.1) ở sân (khi vua lên ngai, tấu bài nhạc Bảo thành, vũ sinh múa mộc và giáo. Dâng thọ lần thứ nhất, tấu bài Binh thành, múa bài Thanh hoa chi (cành hoa xanh). Dâng thọ lần thứ hai, tấu bài Doãn thành, múa bài Hồng hoa chi (cành hoa đỏ). Dâng thọ lần thứ ba, tấu bài Gia thành, múa bài Hoàng hoa chi (cành hoa vàng). Khi lễ xong thì tấu bài Khánh thành, múa bài Vũ thược (cầm lông chim và ống sáo). Lễ xong thưởng cho mọi người theo thứ bậc khác nhau (thưởng theo lệ, hoàng tử, hoàng thân 30 lạng bạc, quan Nhất phẩm 20 lạng, Tòng nhất phẩm 15 lạng, Nhị phẩm 10 lạng, Tòng nhị phẩm 8 lạng, Tam phẩm 7 lạng, Tòng tam phẩm 6 lạng. Thưởng thêm cho các hoàng tử, hoàng thân dự yến mỗi người 1 lạng vàng, các hoàng tử, hoàng thân đã dâng thọ 1 tấm nhiễu đỏ, 3 tấm sa màu và đại thần 1 tấm nhiễu đỏ, 2 tấm sa màu).
    Ngày sau, ban yến cho quan tứ ngũ phẩm ở lầu Phú Văn (đặt phòng yến ở trong lầu ; thưởng quan Tứ phẩm 5 lạng bạc, Tòng tứ phẩm 4 lạng, Ngũ phẩm 3 lạng, Tòng ngũ phẩm 2 lạng). Diễn tuồng ở trước cửa lầu bảy ngày để thần dân cùng xem.
    Ngày Nhâm tuất, vua ngự điện Thái Hoà, bầy tôi dâng biểu tạ.
    Cải bổ hai đội Nội cần nhị và tam làm hai đội Tráng ngũ, Tráng lục trấn Bình Định (Binh số 2 đội cộng 87 người, mỗi người mỗi năm nộp 10 quan tiền miễn dịch, đến nay mới cải bổ cho lệ theo quân ngũ).
    Truy xét công dẹp giặc ở nước Chân Lạp. Dụ rằng : “Trước đây tội thần((1) Người bề tôi có tội.1) Hoàng Công Lý phụng mệnh trấn thủ Gia Định, làm việc ngang trái để đến nỗi bọn nghịch nước Chân Lạp mưu nhòm ngó, giết chóc dân buôn và cất quân chống cự. Đến khi trẫm sai Lê Văn Duyệt vào trấn thủ, tuỳ cơ phân phái biền binh đi đánh bắt, không bao lâu mà bình định xong, báo tin thắng về triều. Tuy đã thi ân ban thưởng cho quân sĩ, nhưng nghĩ việc điều khiển chỉ huy là do mưu của người, triều đình nghị công thù lao há nên để sót. Vậy thưởng cho Lê Văn Duyệt gia một cấp quân công, những văn võ tòng chinh ai thực là có công lao thì cũng phải xét rõ đệ sách tâu lên để giao bộ nghị công”.
    Sai bộ Lại tra xét Tri phủ tại chức lâu năm lấy 10 người đệ danh sách tâu lên để tuyên triệu về Kinh dẫn vào yết kiến.
    Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tâu rằng : “Lính ở các vệ cơ thuộc Tượng quân đều là lính mộ, có khi cha già con trẻ đồng thời ở trong hàng ngũ. Nay xin cho những người chưa đến 60 tuổi mà có thương tật hay đã 60 tuổi mà suy yếu thì ở Kinh do bộ Binh, ở ngoài do thượng ty xét thực thải ra, tạm miễn cho thuế thân và tạp dịch. Người nào 60 tuổi mà còn mạnh khoẻ thì vẫn cho lưu lại ngạch quân. Ghi làm lệ mãi mãi”. Vua theo lời.
    Sửa miếu Triệu tổ((1) Miếu Nguyễn Kim.1).
    Bắt đầu mở ân khoa thi Hội và định phép thi (trước hết đúc ấn Hội thí và dựng trường thi ở phía Nam trong kinh thành, chia làm nội trường, ngoại trường và hai vi giáp ất. Chiếu theo số người ứng thí mà dựng các nhà ở trong vi, có đánh số hiệu và treo thẻ tên. Những Hương cống các khoa trước và Hương cống triều Lê chưa ra làm quan đều cho được vào thi, do bộ Lễ làm danh sách đệ tâu. Các giám sinh đã sát hạch được dự thi thì do quan Quốc tử giám làm danh sách đệ tâu. Quan trường thì một Chánh chủ khảo, một Phó chủ khảo, tới khi sắp thi thì chọn không câu nệ phẩm trật cao thấp ; Tri cống cử 2 viên, dùng Tham tri sáu bộ, Đề điệu một chánh một phó, dùng Thiêm sự sáu bộ, đồng khảo 6 viên, dùng Hàn lâm tứ ngũ phẩm, giám di phong soạn hiệu((2) Coi việc rọc phách và biên số hiệu.2), giám đằng lục((3) Coi việc chép lại quyển thi.3), giám đốc học((4) Coi việc đọc soát lại quyển chép.4), mỗi chức đều một người, dùng Lang trung, Chủ sự sáu bộ ; chép quyển và viết bảng có 24 người, dùng Thư lại bát cửu phẩm ; Giám thí, Tuần sát 2 người, dùng Thị vệ nhị tam phẩm ; Giám thí nội liêm((5) Nội liêm : trường trong, nơi các đồng khảo chấm bài thi.5) và Tuần sát ngoại trường((6) Ngoại trường : trường ngoài, nơi các quan trường hội họp quyết định việc lấy đỗ.6) mỗi chức 4 người, dùng Phó vệ uý quân Thị trung và Thị nội. Đề thi kỳ thứ nhất năm đề kinh nghĩa, một đề truyện nghĩa ; kỳ thứ hai, chiếu chế biểu mỗi thứ đều một đề ; kỳ thứ ba một đề thơ ngũ ngôn cổ thể, một đề phú 8 vần ; kỳ thứ tư, một đề văn sách, về cổ văn hoặc 10 đoạn, về kim văn hoặc 3, 4 đoạn. Trong nhà thí viện đặt một cái án đỏ để những đầu bài vua ra. Những quyển văn viết mực của các cống sinh, giám sinh và những quyển son do thư lại chép ra, đều dùng giấy quan lệnh và in hồng cách((7) Hồng cách : đường kẻ đỏ ở trang giấy để viết chữ cho đều.7). Ngày vào trường, phía ngoài mỗi nhà thi có một võ sĩ đeo gươm đứng kiểm soát suốt ngày. Các cống sinh, giám sinh làm bài thi phải viết chân phương, không được viết thảo. Thu quyển thì cứ tối ngày là hết hạn. Các quan ngoại trường sau mỗi kỳ thu quyển thì lần lượt giao quyển thi cho các chức di phong soạn hiệu, đằng lục đối đọc. Xong rồi, quyển mực lưu lại ở thí viện, quyển son giao cho đồng khảo chấm. Mỗi quyển hai người hội chấm, chia làm bốn hạng ưu bình thứ liệt. Quan ngoại trường duyệt lại và định lấy hay dở. Số trúng trong ba kỳ đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đều đem tâu rồi yết bảng ở bên ngoài cửa Thể Nguyên. Đến kỳ đệ tứ thì dâng những quyển trúng để kính lấy số trúng cách, sau đó, làm danh sách đệ tâu và yết bảng ở lầu Phu Văn. Phàm sau khi yết bảng kỳ đệ tam, quan trường nào có anh em ruột hay con đẻ được trúng thì cho phép được lánh mặt [ở trường đệ tứ]. Quan trường và cống sinh, giám sinh nếu bị phát giác có sự tư thông hay nhờ cậy thì quan trường bị xử biếm chức hay bãi chức, cống giám sinh thì xử tội đồ. Những thư lại đằng lục đối đọc mà dụng tình thêm bớt hay thay đổi chữ hay câu cùng những người viết bảng, di phong soạn hiệu mà làm bậy, thì đều xử tội đồ. Những viên giám đằng lục đối đọc, giám di phong soạn hiệu, tuần sát ngoại trường, giám thí nội liêm mà làm bậy thì đều tuỳ nặng nhẹ mà luận tội.
    Sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức sung Chủ khảo trường thi Hội, Hữu Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới sung Phó chủ khảo, Thị trung Trực học sĩ Đinh Phiên và Tế tửu Quốc tử giám Vũ Xuân Biền sung Tri cống cử. Dụ rằng : “Khoa thi Hội này là khoa đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các ngươi nên rất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên bảo của trẫm”.
    Khoa này, Hương cống, Giám sinh dự thí là 164 người. Các kỳ đệ nhất, đệ nhị, đệ tam đều do vua ra đề (khi ngự đề ban ra thì kỳ đài kéo cờ đỏ và bắn ra tiếng ống lệnh), kỳ đệ tứ thì vua sai quan trường ra đề. Kết quả lấy 5 quyển trúng cách dâng lên. Vua hiềm là ít, bảo rằng : “Hoàng khảo xưa chưa mở thi Hội, thực là vì trải qua loạn ly, học trò thất học, phải chờ khi giáo dục thành tài. Nay nước nhà đào tạo nhân tài đã lâu mà khoa thi chỉ trăm người lấy trúng được mười, mười người lấy trúng được một, dự tuyển chỉ được có thế thì sao xứng với ý tốt của trẫm kén chọn nhân tài”. Bèn sai lấy thêm. Thế rồi lấy trúng cách 8 người là : Hà Quyền, Trần Lê Hiệu, Nguyễn ý, Lê Quang, Phan Hữu Tính, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt.
    Giáng bổ Nguyễn Văn Hưng làm Phó vệ uý quân Thần sách. Hưng trước lấy chức Thống chế lĩnh Trấn thủ Quảng Ngãi, hai lần bọn ác man tràn xuống các bảo ở biên giới bắt phụ nữ, giết quân lính, mà Hưng không kịp tâu ngay. Bộ Hình nghị xin giáng Hưng chức hàm Tam phẩm, nên bổ chức này. Viên đồng sự là Ký lục Nguyễn Viết Cơ bị xử phạt, lưu lại Kinh chờ bổ.
    Lê Duy Thanh có tội bị cách chức. Thanh trước làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng, vì tham nhũng, việc phát giác, giao cho tào Hình ở thành xét hỏi. Người nhà Thanh cùng ty thuộc ở trấn đều đã thú nhận, mà Thanh thì đã phải giải về Kinh trước. Lê Chất đem tội trạng tâu lên. Vua hạ lệnh cất chức, giao xuống bộ Hình xét trị. Khi thành án, phát phối đi Quảng Bình làm việc chuộc tội.
    Vua từng nói chuyện với Nguyễn Hữu Thận về vấn đề bằng đảng ở nước Đại Thanh, nhân nói rằng : “Khi trẫm còn ở Tiềm để, triều thần ít người được yết kiến, duy có Lê Duy Thanh vì phụng mệnh đi xem đất sơn lăng, nên trẫm thường vời đến. Hoặc có kẻ cho là trẫm hậu với hắn thì chắc hắn cũng có tài gì nên mới được trẫm để ý. Khi trẫm mới nối ngôi thì bổ hắn ra làm quan ngoài là muốn thử xem có trị dân được không, chứ không phải là coi rẻ, kẻ không biết lại cho là trẫm dùng người có ý phân biệt kẻ Nam, người Bắc. Nhưng Nam - Bắc vốn là một nhà, ai chẳng là tôi con, trẫm đâu có kỳ thị. Kìa như nhà Đại Thanh dùng người không có phân biệt người Hán, người Mãn, huống Nam hà với Bắc hà, cùng ngôn ngữ, cùng văn tự, không ví như người Hán, người Mãn được”.
    Đặt năm vệ Hộ vệ ở phủ các hoàng tử, tước công mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 50 người. Vệ đặt một Phó vệ uý (trật Tòng tam phẩm) để coi công việc vệ, không thuộc quyền quản thúc của hoàng tử ; đội đặt một Cai đội hoặc Phó đội hoặc Chánh đội trưởng suất đội (phẩm trật cũng như các quân khác), lệ theo hoàng tử sai khiến. Lại hoàng tử đã ra Các đọc sách thì cho phép lập 15 người văn hàn để hầu bút nghiên.
    Dồn các vệ đội Trinh võ, Thị trà, Bả cái và số văn hàn thừa làm hai vệ Trung hộ và Tiền hộ, nếu thiếu thì mộ thêm.
    Chuẩn định từ nay những hồ sơ các vụ án ở Kinh và ở ngoài đều do bộ Hình xét nghĩ rồi tâu, duy có những án quan trọng giao xuống đình nghị thì do đình thần (lệ trước, bộ Hình xét nghị xong lại đệ cho đình thần) bàn lại. án nào nên bác phải xét rõ tình lý, đề tâu rành mạch để chờ chỉ.
    Giảm một nửa thuế năm nay cho các dân Nùng, Mán ở các trấn Bắc Thành.
    Dụ rằng : “Trẫm thương nuôi nhân dân, chỉ sợ có người còn sót. Dịp ban ơn trong cuộc Bắc tuần mùa đông năm ngoái, đã xuống chỉ tha trước 5 phần 10 thuế thân năm nay cho 11 trấn Bắc Thành. Song nghĩ những người Nùng, người Mán, người Hoa kiều, những phụ đạo [người Tày] và những người Nùng Lục Khu Lũng làm thuê, nguyên không có thuế thân để giảm, thì những người dân mọn ở nơi biên giới ấy còn tủi thân chưa được thấm nhuần ơn trạch. Vậy số bạc thuế tiền thuế đánh theo số người số bếp, số nhà năm nay đều cho giảm 5 phần 10, khiến những kẻ cùng dân hẻo lánh cũng đều được thấm ơn, để xứng với ý nhất thị đồng nhân của trẫm”.
    Thành thần nhân tâu xin truy xá cả số thuế năm đầu [Minh Mệnh]. Vua nói : “Ân chiếu năm đầu đã nói rõ là xá thuế thân cho dân thực nạp((1) Thực nạp : thuế thân của dân nội tịch.1). Bọn nó quanh năm không phải sai dịch gì, chỉ phải nộp bạc tiền không thể ví với thuế thân, tiền đầu quan và tiền cước được, sao lại viện lệ xin miễn !” Không cho.
    Bọn Cai đội Trần Hưng Chính, Trần Hưng Mỹ tâu xin mũ áo. Vua phê bảo rằng : “Bọn ngươi nếu hay kiềm chế thân tâm, không phạm lầm lỗi, thì chậm vài năm nữa sẽ ban cho phẩm cao lộc hậu, chẳng những một việc này”. Khiến chiếu theo phẩm trật mà sắm lấy.
    Sai Bình Định mộ thêm đội Thái Hương [lấy hương], (mỗi đội 50 người).
    Đặt thêm hai bảo của sáu cơ Kiên ở Quảng Ngãi (bảo cũ 115 người, mỗi bảo có 10 người lính thú). Đổi bổ chức Cai lân của 27 lân làm Chánh bát phẩm bách bộ, Phó lân làm Chánh cửu phẩm bách bộ, mỗi năm 4 kỳ bắt một nửa dân đi thao diễn.
    Đổi ty Phương the ở thành Gia Định làm hộ Nam trừu (mỗi người mỗi năm nộp 15 thước trừu hoa nam khổ 7 tấc). Lai sai Bình Hoà mộ người lập hộ Nam trừu (mỗi người mỗi năm nộp 30 thước trừu hoa nam khổ 7 tấc), miễn cho thuế thân. Chuẩn định từ nay chức võ quan ở Kinh và ở ngoài có khuyết mà đề xin thăng bổ và những việc thuộc về binh chính thì những biểu văn đều do bộ Binh tâu lên. Ghi làm lệnh mãi mãi.
    Định cách thưởng về việc sai phái giám thành (chia ra hai hạng khó và dễ : Sai đi nơi xa hoặc miền rừng núi, công việc hơi khó khăn là hạng nhất ; đi địa phương cận tiện, vùng đồng ruộng bằng phẳng, công việc hơi dễ là hạng nhì. Giám thành phó sứ được phái vào công việc hạng nhất thì mỗi tháng được cấp 10 quan tiền 10 phương gạo, vào hạng nhì thì cấp 8 quan tiền 8 phương gạo. Nhân viên am hiểu việc đo đạc, hoạ đồ và chỉ vạch quy thức thì hạng nhất được cấp 7 quan tiền 7 phương gạo, hạng nhì được cấp 6 quan tiền 6 phương gạo. Người theo đi giúp việc đo đạc thì hạng nhất 5 quan tiền 5 phương gạo, hạng nhì 4 quan tiền 4 phương gạo. Đều chiếu bổng hằng tháng mà cấp thêm như số).
    Thự Tiền quân Trần Văn Năng dâng sớ cử Thư ký Lê Văn Liêm làm Tri phủ Ninh Giang. Khi dẫn vào bệ kiến, vua xét hỏi, Liêm đáp là ít học. Vua nói : “Chức Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ khi xử đoán sai lầm thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu”. Không cho. Nhân bảo các quan rằng : “Trong việc thăng bổ, trẫm muốn biết người thế nào nên sai dẫn yết kiến, nhưng như thế cũng chỉ là biết được một đôi phần mà thôi, còn suốt đời hay hay dở cũng chưa thể biết đúng được. Vả lại việc tiến dẫn nhân tài trẫm đã lấy triều đình làm tai mắt, há lại không tin sao ! Nếu việc gì trẫm cũng tự xét lấy mới là rõ ràng thì bề bộn lắm”.
    Hạ lệnh từ dinh trực lệ Quảng Bình cho đến thành Gia Định từ nay có bổ Tri huyện thì chiếu văn phải thêm những chữ “Thôi đốc các việc lương tiền”. Ghi làm lệ mãi mãi. Còn những Tri huyện hiện tại chức thì cho cấp văn bằng công đồng để tuân theo mà phụng hành.
    Định giá nhà nước mua diêm tiêu ở Bắc Thành (mỗi 100 cân diêm tiêu trị giá 29 quan, mỗi năm hạn mua 40.000 cân).
    Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái bị kẻ cướp bắn chết. Vua được tin lấy làm thương, cho tuất 100 lạng bạc và 20 tấm lụa.
    Chuẩn định từ nay, phàm các quan viên văn võ có tội bị giáng cấp, nếu có cấp thì giáng trừ đi, nếu không có cấp thì chiếu phẩm mà giáng trừ (như Chánh nhất phẩm gặp giáng một cấp mà không có cấp để trừ thì giáng làm Tòng nhất phẩm để trừ đi một cấp. Ngoài ra lấy đó mà suy). Những viên văn võ vị nhập lưu chưa có phẩm cấp mà gặp việc phải xử phân thì cứ chiếu luật xét nghĩ. Ghi làm lệnh.
    Tháng 3 nhuận, sắc rằng từ nay gặp tháng nhuận thì những kỳ đại triều thường triều đều miễn. Ghi làm lệ mãi mãi.
    Sai thuỷ quân chở 80.000 quan tiền ở kho Kinh đến Bình Định.
    Trấn Bình Định, đầu mùa xuân lâu không mưa, lúa ruộng thiệt hại nhiều, đến nay trấn thần mới tâu báo thiên tai. Vua dụ rằng : “Thiên tai như lụt, hạn phải tâu báo trước, sao lại coi thường như vậy. Trẫm ngày đêm lo lắng, mong cho nhân dân khỏi khổ, há lại vì kẻ chăn dân hèn kém làm việc chậm trễ sai lầm mà thiếu ơn săn sóc thương xót của trẫm sao” ! Bèn hạ lệnh cho bộ Hộ xét tai nặng thì giảm cho 6 phần 10 thuế ruộng năm nay, tai nhẹ thì giảm 5 phần 10. Trấn thần Trương Phước Đặng và Nguyễn Văn Thục đều giáng 2 cấp lưu dùng. Thục không có cấp để trừ, nên giáng làm Công bộ Thiêm sự, hàm Chánh tứ phẩm, vẫn lưu làm việc trấn.
    Nguyễn Cư Tuấn trước làm Cai bạ Quảng Trị, nhân có việc sách nhiễu hối lộ đến hơn 900 quan tiền, đến nay thành án, đáng xử tử. Vua cho là phạm tội trước khi có lệnh ân xá, gia ân miễn cho tội chết, xử tội lưu và chuẩn đổi làm đồ 6 năm, truy một nửa tang trả cho dân. Con Cư Tuấn là Cư Sĩ 14 tuổi xin thay hành dịch cho cha. Vua ngờ là có sự xúi bảo, sai nó đọc trầm tờ trạng, nó đọc không sai chữ nào. Bèn cho thay. Thế rồi lại cho người dò xét mấy lần, đều thấy Cư Sĩ đeo xiềng xích, không có vẻ hối hận gì cả. Vua khen, xuống chiếu dụ rằng : “Cư Tuấn là con công thần Nguyễn Cư Trinh, tuy Tuấn làm mất thanh danh gia đình, nhưng Cư Trinh thực có cháu xứng đáng. Trẫm nghĩ đến kẻ công thần và thương người con hiếu, vậy tha tội cho”.
    Bỏ bớt viên chức thừa ở các phủ từ Quảng Bình về Nam. Dụ rằng : “Tri châu tri huyện là những chức như thú lệnh đời xưa, giữ quyền cai trị hàng trăm dặm, các việc dân chính đều là công việc chức phận. Gần đây, những viên châu huyện từ Quảng Bình về Nam chỉ chuyên việc xét xử kiện tụng, còn các việc lương tiền tổ chức và nhất thiết các việc sai dịch thì lệ vào các phân ty của bản phủ, như thế thì lệnh ra lắm cửa, không phân biệt kẻ trên người dưới, làm cho dân không biết mà theo. Trẫm từ khi lên ngôi, lo tìm phương pháp tốt chính sách hay về việc trị dân để lần lượt cử hành, nên đã xuống dụ sai các viên châu huyện phải đôn đốc việc lương tiền, trông coi việc sai dịch, để cho công việc nuôi dân đốc thuế quy về một nơi. Vậy các chức bản phủ cai huyện, ký huyện, cai thuộc, ký thuộc, phó tổng đều bãi hết ; các tổng thuộc chỉ đặt mỗi tổng một viên cai tổng để theo châu huyện sai phái. Làm lệ mãi mãi”.
  • Chia sẻ trang này