0059.024

31/5/16
0059.024
  • PDF

    Lưu ý cho Hà: sau khi soát xong thì nên copy ra MS WORD rồi mới bấm SAVE PAGE, kẻo wiki bị lỗi không lưu được trang thì mất hết phần soát lỗi của Hà đó nghen.

    :rose::rose::rose:

    chính biên
    Đệ nhị Kỷ - Quyển XVII
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa thu, tháng 9. Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức dâng một bộ Lịch đại kỷ nguyên và một bộ Khang tế lục.
    Nước Xiêm La sai bọn Sá Chiết Sa Nê đem quốc thư và phẩm vật đến cáo tang vua thứ ba nước ấy. Đình thần bàn, đều nói : “Vua thứ ba nước Xiêm khi lập lên chưa từng thấy báo, nay gửi thư cáo phó, thật không ra sao. Duy nước ta cùng nước Xiêm tình láng giềng giao hiếu đã lâu, họ đã có lời báo, nghĩa không nên cự. Xin theo việc cũ năm Gia Long thứ 6, sai sứ đi phúng”.
    Vua đặc biệt hạ lệnh nhân có sứ giả họ đến đưa cho đồ tặng phúng và bảo về (tặng Phật vương Xiêm 20 cân quế, 10 cân trầm hương, lụa vải đều 200 tấm ; phúng vua thứ ba 50 tấm lụa đỏ, 100 tấm vải vàng, 100 cân sáp ong, 1.200 cân đường cát).
    Tư nghiệp Quốc tử giám là Phan Bảo Đĩnh già yếu xin nghỉ việc. Cho 30 lạng bạc.
    Lấy Khâm sai cai cơ Nguyễn Đức Triệu làm Quản đạo đạo Quang Hoá kiêm quản hai phủ Thuận Thành và Quang Phong.
    Đổi danh hiệu đồn điền ở bốn phủ thành Gia Định. Tân Bình đổi là Gia Bình hiệu (3 hiệu, 22 trại, nhân số 750 người) ; Phước Long đổi là Gia Phước hiệu (1 hiệu, 4 trại, nhân số 138 người) ; Định Viễn đổi là Gia Viễn hiệu (14 hiệu, 142 trại, nhân số 6.174 người) ; Kiên An đổi là Gia An hiệu (8 hiệu, 79 trại, nhân số 2.641 người). Đầu đời Gia Long, các trại đồn điền biệt nạp lấy tên huyện hay tên tổng sở tại để gọi, số đinh chỉ ghi vào sổ thuế. Đến nay thành thần biên chế thành từng hiệu, xin đặt lại tên, ghi theo ngạch binh. Vua y cho. Chánh phó đốc suất 48 người đều được miễn thuế thân, tiền đầu quan cùng thóc sưu.
    Cho các Tiến sĩ Nguyễn ý làm Hàn lâm viện Tu soạn, Lê Quang, Phan Hữu Tính, Hà Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khê, Phan Bá Đạt, Trần Lê Hiệu làm Biên tu. Sau thành lệ. Hiệu cáo có mẹ già, xin ở nhà trọn việc nuôi mẹ. Vua y cho. ý không bao lâu thì chết.
    Đặt cơ Định man ở Quảng Trị, cơ có 10 đội, lấy xã dân phụ cận ở đạo Cam Lộ và 370 người viên binh thuộc đạo ấy cùng bảo Ai Lao để sung bổ. Binh chia làm ba ban, 1 ban đóng giữ, 2 ban nghỉ ngơi. Đương ban thì mỗi người được cấp lương gạo 1 phương. Mỗi tháng một lần thay đổi. Gọi lính thú các đội Chấn uy và Cường nhất về.
    Trấn thần Nghệ An tâu nói rằng hơn 500 người đinh xã Phước Lộc huyện Hương Sơn thuộc hạt biệt nạp gỗ lim, gần đây vì điêu tàn, xin đổi cho chịu binh dao mà tha cho thuế thiếu. Vua hạ lệnh theo sổ đinh mà kén binh như lệ, tha cho một nửa thuế thiếu.
    Trịnh Hoài Đức dâng sớ cho rằng là nước nhà dẫu yên, nhưng không thể quên việc chiến trận : “Thế tổ Cao hoàng đế ta khi mới đánh dẹp, từ thị vệ cấm binh đến các quân dinh đã có chưởng lĩnh, phó tướng lại có chánh dinh phó dinh, chánh vệ phó vệ, chánh cơ phó cơ. Khi thường thì phó viên thay công việc khó nhọc của chánh viên, khi có việc thì phó viên chia trách nhiệm ngự địch với chánh viên, cho nên giữ tất vững, đánh tất được, mới có thể được công to, giúp nên đại định. Từ khi yên tĩnh về sau, các cựu thần công lao và túc tướng tài giỏi, có người già yếu hay hưu trí ; có người tật bệnh hay chết mất, đến nỗi các chức chánh phó ở cửa quân thường khuyết. Nay tuy là thủ thành thì dùng văn, cố nhiên không cần đến quân lữ, song có văn sự tất có võ bị, xin ở trong đám coi binh chăn dân chọn lấy người tướng cũ cần lao, chuyển đổi cất lên làm chánh viên, hoặc châm chước bỏ bớt, hoặc ghi sổ thuyên bổ, quyết đoán ở tự lòng thánh, lần lượt cử hành, để bổ sung vào quân túc vệ, khiến cho danh vị định sẵn, quân lính tập rèn, thì trên dưới cùng yên, mà binh là binh có quy chế, tướng là tướng có tài năng. Nếu đợi có công lao chứa chất mà sau mới cất nhắc, sợ vạn nhất có việc, vội vàng sung bổ, đã vị tất được người mà chậm không kịp việc”.
    Vua phê bảo rằng : “Sự lý trình bày, xưa nay dẫu khác, song điều phải cũng có thể lựa chọn mà thi hành được”.
    Cấp tiền vốn công cho các hộ làm đường ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Gặp Quảng Ngãi giá gạo hơi cao, các đường hộ đều xin lĩnh thóc. Dinh thần tâu xin cho họ. Lại nói rằng trong dân gian gạo đắt là vì nhà giàu tích trữ để cầu giá cao nên đến nỗi thế. Nay đem thóc nhà nước chia phát cho dân thì thóc tích trữ ấy không có thể do đâu mà nắm lợi ở chợ được, ngõ hầu giá gạo có thể hơi bình ổn. Tưởng đó cũng là một thuật nhân quyền nghi đấy. Vua y cho. Sai phát 15.000 hộc thóc (mỗi hộc thóc trị giá 1 quan tiền).
    Kinh sư lụt to, nhiều nhà dân đổ lụi. Vua sai dinh thần Quảng Đức chẩn cấp. Binh lính chết đuối được cấp thêm 3 quan tiền tuất. Nhân sắc rằng phàm trong dinh vệ cơ đội các quan ở Kinh, nhân có việc công sai mà gặp thuỷ hỏa tai thương mà chết thì ở trong Kinh thành do giám thành sứ, ở ngoài do dinh thần Quảng Đức đem việc tâu lên để gia cấp tiền tuất. Định làm lệ mãi mãi.
    Quảng Bình, Quảng Trị cũng mưa lụt, dân chết đuối và nhà cửa trâu cày trôi mất, đều được cấp tuất.
    Thổ dân Hưng Hoá là Lý Khai Ba nổi loạn. Khai Ba người động Cam Đường, châu Thuỷ Vĩ, trước lấy tà thuật mê hoặc lòng người, dân Man theo nhiều, mới ngầm mưu làm phản, nguỵ xưng là Lý hoàng, cùng với bọn người nước Thanh là Mã Triều Châu, người Man là Vương Vĩnh Phát, rủ nhau họp đồ đảng đến vài nghìn người, cướp động Vũ Lao, giết Cai đội Đặng Văn Ba mà chiếm giữ bảo Trấn Hà((1) Trấn Hà : nay là Bảo Hà.1).
    Trấn thủ Hưng Hoá là Nguyễn Đức Niên nghe báo đem binh đánh. Giặc bỏ bảo chạy. Lại họp hơn nghìn người đốt phá phố Bảo Thắng((2) Bảo Thắng : nay là Phố Lu.2) và vây bảo. Viên Chiêu thảo đồng tri là Điêu Quốc Thể cáo cấp với thành. Thành thần lập tức sai Chưởng cơ thống quản thập cơ Chấn định là Nguyễn Khắc Tuân lĩnh 1.000 binh theo bờ phía bắc sông Thao, cùng Nguyễn Đức Niên lĩnh 1.000 binh theo bờ phía nam đều tiến và gửi hịch cho Trấn thủ Tuyên Quang là Đào Văn Thành đem 1.000 binh đến động Cáo Niên sách ứng. Lại sai Tuyên uý sứ châu Chiêu Tấn là Điêu Quốc Thuyên, Phòng ngự đồng tri là Cầm Nhân Nguyên, Tuyên uý sứ châu Vị Xuyên là Nguyễn Thế Nga đều đem binh của châu chia đường ngăn đánh. Việc tâu lên. Vua sai đình thần truyền dụ rằng : “Giặc ấy rủ rê dân Man, đã thành đám lớn. Bọn lãnh binh Nguyễn Khắc Tuân phải tuỳ cơ hội tiễu, sao cho một trận quét sạch sào huyệt, bắt được cừ khôi, không nên chia ra nhiều ngả mà chia nhỏ sức quân đi. Thổ tù như Điêu Quốc Thuyên, Nguyễn Thế Nga, và các tù trưởng có tiếng trong các tổng sách các châu Văn Bàn, Thuỷ Vĩ thì đều sai đem thổ binh theo quân đánh dẹp. Người nào có công thì khen thưởng ; nếu trông ngóng chần chờ thì lấy quân pháp mà xử. Những dân ngu Mán, Thổ bị chúng lừa dối mà theo, nếu biết hối cải sửa mình về với triều đình thì cũng gia ân không trị tội. Những binh dân Mán, Thổ mà bắt sống được chính yếu phạm là Lý Khai Ba thì cho quan hàm Chánh ngũ phẩm và thưởng 400 lạng bạc, giết chết được thì cho quan hàm Lục phẩm và thưởng 300 lạng bạc, bắt được thứ yếu phạm cũng đều lượng thưởng hậu. Kế hoạch biên sự và tình hình quân sự thì Lê Chất, ngươi vốn là quen thạo, trẫm bất quá dặn bảo một hai điều mà thôi, phải cẩn thận vào”. Chất nhân xin tha tù quân lưu hơn 200 người quê ở Gia Định cho đi trước ra sức chuộc tội. Vua y cho. Sai cấp quần áo tiền gạo và dụ rằng sau khi yên việc sẽ bổ cho vào quân ngũ (động Vũ Lao, động Cáo Niên, bảo Bảo Thắng đều thuộc châu Thuỷ Vĩ, bảo Trấn Hà thuộc châu Văn Bàn).
    Dựng thêm kho tạm ở bốn trấn Sơn Nam thượng hạ, Hải Dương, Kinh Bắc, chi tiền hơn 9.000 quan. Thành thần xin chiếu số ruộng của dân mà thu. Vua không cho góp, sai phát tiền kho để làm.
    Chuẩn cho viên biền các vệ đội mộ binh ở Gia Định và các quản cơ suất đội các cơ đội ở năm trấn thuộc thành hạt đều được chiểu phẩm chi bổng.
    Huyện Nông Cống, trấn Thanh Hoa nhiều trộm cướp. Trấn thần xin đặt hai bảo ở miền rừng núi xã An Nẫm, phái binh đóng giữ. Vua y cho.
    Cho vợ con Nguyễn Văn Phú là Phó vệ uý công thần Vọng Các được lương tiền hằng tháng.
    Bắt đầu đặt ở trạm Kinh 1 cai trạm và 20 phu trạm, lấy dân xã An Cựu bổ vào để ứng trực công đường bộ Binh. Có công văn công hoá thì đệ đi, tự Kinh thành vào trong đến trạm An Nông, ra ngoài đến trạm Thượng An, hằng tháng trạm cấp tiền 1 quan gạo 1 phương, phu trạm chia hai ban, đương ban mỗi người cấp 1 phương gạo.
    Đổi định tên các trạm từ Quảng Đức trở vào đến Hà Tiên trở ra đến Sơn Nam. (Quảng Đức 6 trạm : Đức Phước, Đức Thọ, Đức Cao, Đức Nông, Đức An, Đức Mỹ. Quảng Trị 4 trạm : Trị Xá, Trị An, Trị Cao, Trị Lập. Quảng Bình 6 trạm : Quảng Lộc, Quảng Xá, Quảng Ninh, Quảng Cao, Quảng Khê, Quảng An. Nghệ An 11 trạm : An Thần, An Sa, An Lạc, An Khê, An Đan, An Liêu, An Dưỡng, An Kim, An Hương, An Luỹ, An Quỳnh. Thanh Hoa 5 trạm : Thanh Khoa, Thanh Xá, Thanh Thái, Thanh Sơn, Thanh Cao. Ninh Bình 2 trạm : Ninh Du, Ninh Đa. Sơn Nam 5 trạm : Sơn Phú, Sơn Cầu, Sơn Khoái, Sơn Hồi, Sơn Mai. Quảng Nam 7 trạm : Nam Chân, Nam Hoa, Nam Giản, Nam Phước, Nam Ngọc, Nam Kỳ, Nam Vân. Quảng Ngãi 5 trạm : Ngãi Bình, Ngãi Lộc, Ngãi Mỹ, Ngãi Sơn, Ngãi Quán. Bình Định 6 trạm : Bình Đê, Bình Trung, Bình Dương, Bình Sơn, Bình An, Bình Điền. Phú Yên 6 trạm : Phú Bình, Phú Khê, Phú Đường, Phú Tân, Phú Vinh, Phú Đê. Bình Hoà 11 trạm : Hoà Phú, Hòa Mã, Hoà Lãng, Hoà Hoàng, Hoà Mỹ, Hoà Cát, Hoà Thịnh, Hoà Tấn, Hoà Du, Hoà Duân, Hòa Thuận. Bình Thuận 16 trạm : Thuận Lai, Thuận Mai, Thuận Trinh, Thuận Lãng, Thuận Hảo, Thuận Võng, Thuận Phú, Thuận Động, Thuận Sơn, Thuận Tỉnh, Thuận Phan, Thuận Nguyên, Thuận Lâm, Thuận Trình, Thuận Dung, Thuận Phương. Biên Hoà 5 trạm : Biên Thuận, Biên Thịnh,
    Biên Long, Biên Phước, Biên Lễ. Phiên An 4 trạm : Phiên Cẩm, Phiên Nhân, Phiên Tân, Phiên Lộc. Định Tường 3 trạm : Định Tân, Định Hoà, Định An. Vĩnh Thanh 3 trạm : Vĩnh Định, Vĩnh Phước, Vĩnh Giai. Hà Tiên 2 trạm : Kiên Giang, Hà Tiên. Nam Hoa sau đổi là Nam ổ. Thuận Dung sau đổi là Thuận Phước).
    Bình Định và Quảng Nam gạo đắt. Sai bọn Thiêm sự Nguyễn Công Đàm, Hoàng Nghĩa Thao đi hội đồng với quan dinh trấn phát thóc kho, Bình Định 1.000 hộc, Quảng Nam 12.000 hộc, giảm giá bán ra (1 hộc thóc giá 1 quan tiền), cho mỗi người 21 lạng bạc. Sắc rằng từ sau quan Kinh có sai đi việc công thì lượng cho lộ phí, để nuôi đức thanh liêm.
    Chuẩn định từ nay có phái bộ ty đem ban cấp chiếu dụ sắc mệnh cho các địa phương thì đều tuỳ đường sá xa gần mà thưởng tiền theo thứ bậc khác nhau (thành Gia Định 10 quan ; Bình Thuận 8 quan ; Bình Hoà 7 quan ; Bắc Thành, Phú Yên 6 quan ; Bình Định, Thanh Hoa, Ninh Bình 5 quan ; Quảng Ngãi, Nghệ An 4 quan ; Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình 3 quan. Sau đổi định : Gia Định, Bắc Thành 5 quan ; Thanh Hoa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Ninh Bình 4 quan ; Quảng Trị 2 quan). Hoặc có thị vệ cùng với bộ ty mang đi thì cũng theo lệ ấy.
    Sai bộ Hình xét tội trạng những tù phạm về kỳ thu thẩm, chia làm hai sách, tình chân và hoãn quyết((1) Tình chân : tình thực đáng tội.
    Hoãn quyết : hoãn hành hình.1) mà tâu lên. Vua duyệt xem, phê bảo : Tù phạm đáng xử quyết thì bắt giam. Có tên trọng phạm là Trần Hung kỳ thu năm ngoái kêu oan, giao tra xét án chưa tâu lên, bộ Hình nhân thế ghi lầm vào sách tình chân. Lại có tù hoãn quyết là Lê Nhị bỏ sót không đăng để xét, Lê Bá Phẩm và Nguyễn Huy Trinh tự giác nêu ra xin chịu tội. Giao xuống đình thần bàn xử. Xin đều giáng bốn cấp đổi đi nơi khác.
    Vua dụ rằng : “Nhà nước minh việc hình để giúp giáo Hoá, cho nên đặt ra bộ Hình, thì tất cả các án phải nghiên cứu rõ ràng cẩn thận, phân biệt tội trạng, đình nghị tâu lên, trẫm mới có thể nắm mức chung mà xét đoán. Nếu có việc chưa xác đáng, tình có thể tha, không khai vào sách tâu thì trẫm biết đâu mà rửa oan được. Phỏng có một kẻ nào không được ơn, phải ngậm oan trong ngục, đến nỗi phạm hoà khí của trời, thì ai chịu lỗi ấy. Trẫm mới nghĩ đến đấy đã thấy rùng mình rồi. án Trần Hung và Lê Nhị, may mà biết sớm, không thế thì kẻ vô tội đã bị chết oan, kẻ có tội lại được may sống. Kẻ có tội giả sử được chậm giết cũng không hại lắm, mà kẻ vô tội trót đã bị hình mà chết thì có sống lại được đâu ! Tội của bộ Hình đã bất tất nói, mà trẫm cũng chẳng khỏi lỗi bất minh. Làm tôi con mà để lo cho vua cha thì tội còn nói sao đây ? Lời bàn của đình thần thực là xác đáng, không phải nghiêm khắc đâu. Nhưng nghĩ còn biết phát giác ra sớm cũng đáng thương tình. Vậy gia ân đổi làm giáng một cấp lưu để bắt gắng sức sau này. Đều phải đập ngực ghi nhớ, biết đau đớn mà tỉnh ngộ lỗi trước. Nếu quen nhờn với ơn mà điềm nhiên không xấu hổ, không cố gắng, thì trẫm cũng không thể che chở mãi bọn ngươi được”.
    Chuẩn định từ nay ngày đình nghị thì đơn trạng của dân kiện cáo, việc nên tâu hay nên bác, theo từng khoản biên lược ra, một bản giao Văn thư phòng để có hỏi đến, một bản để ở bộ Lại để chấp chiếu. Việc đã bác mà kêu lại thì đem sự trạng tâu lên. Lại sắc rằng từ nay có ai đón xa giá tâu bày thì người ấy giữ lại ở tả vệ để có hỏi đến, lời nói có thể dùng thì ghi mà dùng, nói bậy không thực thì trừng trị.
    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng công việc ở trấn bề bộn, nên đã họp hết biền binh quân Thần sách để phân phái, xin cấp cho lương tháng. Vua nói : “Binh có phiên thứ thay nhau cho đều sự khó nhọc. Nay lại thiện tiện đòi ra toàn số, đó có phải là ý nuôi binh của triều đình đâu ?” Dụ sai theo thực số chia làm ba ban mà chi lương, bắt đầu từ mồng 1 tháng 10.
    Phía ngoài thành Thanh Hoa thất hoả, cháy lan hơn 90 nhà. Trấn thần phát thóc kho hơn 100 hộc viện lệ năm Gia Long (năm Gia Long thứ 10, chuẩn định các địa phương gặp có tai thương, dân cư đói túng, đáng khẩn cấp phát chẩn thì một mặt tâu lên, một mặt lượng phát gạo kho chuẩn cấp), phát chẩn trước rồi sau tâu.
    Vua nói : “Lệ ấy là nói những tai thương cấp bách. Hạt ngươi chỉ là việc nhà dân thất hoả, sao lại nhận lầm mà viện lệ tự tiện cấp tứ. Song việc làm là do săn sóc dân tạm miễn nghị”.
    Trước đây nhân dân ở bốn thôn phường ấp, ấp Động Hải, Cảnh Dương, Hữu Hùng, Trung Hùng thuộc Quảng Bình thất hoả, cháy lan hơn 280 nhà, có 2 người chết, dinh thần đem việc tâu lên, chuẩn cấp tiền tuất mỗi người 3 quan. Đến nay nhân trấn Thanh Hoa báo việc phát chẩn, vua hỏi đến việc trước, bộ Hộ tâu rằng : “Khoảng năm Gia Long, dân hạt ấy cũng có thất hoả hơn 500 nhà, đã nhờ ơn Thế tổ Cao hoàng đế ta cấp cho 500 quan tiền và 500 phương gạo”. Vua nói : “Chính hay ơn hậu như thế, phải nên giữ làm gia pháp, nhưng trẫm hồi ấy chỉ giữ lễ hầu cơm, không dự chính sự, nên không biết rõ. Ngày nọ Quảng Bình báo tai mà đình thần và bộ Hộ không đem việc ấy tâu bày, đến nỗi dân kỳ phụ mà không được ơn ban xuống”. Lập tức sai dinh thần phát 1.000 quan tiền và 300 phương gạo để truy cấp.
    Dụ rằng : “Từ sau gặp việc ấy, bất luận là đặc chỉ cách ngoại, dù án đã xong rồi mà thấy có ích lợi cho quan lại binh dân thì các nha môn cứ tâu lên, không được làm thinh”. Xã Cổ Thành ở Quảng Trị hồi đầu mùa hạ cũng có hoả hoạn, cháy lan hơn 90 hộ, sai truy cấp 300 quan tiền.
    Mùa đông, tháng 10, mồng 1, tế đông hưởng.
    Chuẩn định từ nay phàm phủ huyện thuộc hạt các thành dinh trấn có khuyết mà không có người đồng sự kiêm lý thì chọn viên nào giỏi việc cho quyền nhiếp ấn vụ. Làm lệnh mãi mãi.
    Định Viễn công là Bính gọi thợ mũ để chế mũ con hát. Người thợ vì mưa lụt không đến, công giận bắt đánh. Thiêm sự Nội vụ là Hồ Hữu Thẩm đem việc tâu lên. Vua gọi quở rằng : “Em nay 26 tuổi không còn nhỏ bé nữa, sao không bỏ cái tính trẻ con để đến đức thành nhân, cứ cam tự xử ngu dại hết sức như thế. Em còn nhớ năm trước bắt con người ta làm con hát bị Hoàng khảo quở không ? Ngày ấy anh van khóc hết sức xin cho, Hoàng khảo vẫn không vì tình riêng mà bỏ phép công, rốt cuộc em bị đánh roi. Nay em có tội, trong anh em có ai xin cho đâu. Ví thử có người xin, anh thương mà tha thì phép công làm sao ? Há chẳng là làm nặng thêm tội cho anh ư ? Nếu theo luật mà trị thì tình xương thịt làm sao ? Há chẳng làm đau lòng cho anh ư ? ấy đều là anh chẳng dạy được em, trên đã đắc tội với Liệt thánh cùng Hoàng khảo, dưới lại đắc tội với thần dân, lưu trong sử sách, nghìn đời về sau sẽ cho anh là người thế nào ? Vả anh có ngày nay là Hoàng khảo để lại nghiệp rất lớn, giao cho việc rất khó, cho nên sợ lo nơm nớp, không dám khinh thường chút nào, là vì nghĩ rằng làm vua, ngôi càng cao thì thân càng nguy vậy. Em thử nghĩ xem. Phàm hoàng thân quốc thích, đã không khó nhọc về chính sự, chỉ lấy thi thư làm vui, thì càng phải kính giữ phép tắc, chớ để mất tiếng hay. Nếu lại kiêu ngạo phóng túng, lấy thế lấn người, thì trăm họ hỏng hết, còn phú quý với ai ? Huống chi em làm mũ con hát là việc vô ích mà bách người ta giữa lúc mưa lụt thì có nên không ? Lỗi lần này anh tạm tha cho, nếu lại còn như thế thì tự có phép công, cuối cùng không thể lấy tình riêng anh em mà bỏ phép công của nước. Em nay huyết khí chưa định, nên chưa biết nghĩ thôi. Sau nên biết tự ức chế thì sẽ khỏi tội lỗi mà giữ được phú quý. Đến khi bốn năm mươi tuổi, nghĩ lại lời nói của anh, mới biết là thương nhau đến thế nào”.
    Công cúi đầu tạ tội. Bèn sai Thống chế Vũ Viết Bảo đánh mắng cai đội thuộc phủ để răn cái tội không biết căn ngăn. Nhân sắc cho bộ Lại chọn người cai đội lâu năm có hạnh kiểm làm phó trưởng sử để giúp đỡ.
    Vua lại bảo Hàn lâm Thừa chỉ Hoàng Quýnh rằng : “Các hoàng tử sang năm sẽ ra Các đọc sách, nên truyền chỉ cho Trịnh Hoài Đức chọn cử 8 người làm bạn độc. Tuy không được người đại hiền để đương chức sư phó, cũng phải lấy người lòng ngay thẳng nết đứng đắn mới được”. Quýnh tâu rằng trước sung chức trực học chỉ chuyên việc văn học mà thôi, xin cho được trông coi phủ thuộc, ai có lỗi thì trừng trị, như thế bọn tiểu nhân không dám rủ rê làm điều trái nữa. Vua cho là phải.
    Trích bổ dân huyện Nga Sơn, trấn Thanh Hoa làm thuộc lệ để phục sự ở Nguyên miếu. Trước là dân Quý hương 84 người sung bổ thuộc lệ, gần đây vì tai dịch ngày điêu hao dần, họ tâu xin bắt thêm dân phụ cận cùng phục dịch. Vua sai trấn thần bàn cho ổn đáng tâu lên. Bàn rằng Quý hương là căn bản xây nền, nên có phân biệt với dân thường để tỏ rõ quý tiện, xin lấy đinh số 82 người ở 9 xã thôn 2 tổng Phi Lai, Cao Vịnh thuộc huyện Nga Sơn tiếp giáp Quý huyện (đều là dân bất mãn((1) Dân bất mãn : dân chưa đủ số ngạch để thành suất.1) và dân mới về) bổ làm thuộc lệ, tha cho tạp dịch, do Đội trưởng Quý hương là Nguyễn Đình Chức cai quản. Khi gặp các tiết lễ miếu hưởng, cùng các tạp dịch cắt cỏ, dọn dẹp sửa sang nơi miếu vũ, thì bắt đến phục dịch, xong việc thả về. Dân Quý hương thì sai theo ty Từ tế phụng giữ việc thờ cúng. Vua y theo.
    Trấn Nghệ An gạo đắt. Sai bọn Thiêm sự Nguyễn Công Đàm, Lưu Đình Luyện, Lang trung Lê Vạn Công, hội đồng với trấn thần chia đi các kho Kỳ Lân, Hà Trung, Tiên Lý, phát 30.000 hộc thóc bán cho dân.
    Định lệ ngày Đông chí đình việc hành hình.
    Dụ rằng : “Trẫm yêu nuôi dân, trong việc ngục tụng hình danh thường vẫn có ý kính mệnh thương dân, giữ phép cẩn thận. Gián hoặc có bọn hung ác làm bậy phạm tội mà phép nước khó lòng dung thứ, bất đắc dĩ, phải dùng hình thì chỉ mong dùng hình để khỏi phải dùng binh. Nhưng nghĩ tiết Đông chí khí nhất dương mới sinh, chính là lúc trời đất phát dục, muôn vật bắt đầu, cùng với tháng trọng xuân tế
    Nam Giao là điển lớn kính trời tôn tổ, nên phải vâng theo đạo trời mà rộng mở lòng nhân. Vậy hạ lệnh cho các nha môn coi việc hình, có văn án tội chém hay giảo đáng xử quyết thì trước Đông chí 3 ngày và sau tế Giao 10 ngày đều đình hành hình, để thể đức hiếu sinh của trời. Nếu tình tiết nặng hơn phải quyết hình ngay thì không theo lệ ấy”. Lại thấy từ trước đến nay các địa phương sau khi quyết tình thì tâu lên vua hay tư về bộ không nhất trí, sai bộ Hình thông sức đều phải tâu lên.
    Nguyễn Bá Xuyến có tội bị cách chức. Bá Xuyến trước làm Trấn thủ Cao Bằng, cùng Hiệp trấn Trần Văn Thái phạm tội tham tang. Đến nay án của thành nghị tội đồ. Vua nói : “Bá Xuyến là người Bắc, đầu đời trung hưng, đường xa nghìn dặm, mà tìm đến Gia Định để dâng lòng thành lại gắng sức đi trận, mình mang thương nặng chặt tay, vì công trước ấy có thể giảm tội”. Bá Xuyến bèn được cách chức. Thái thì đã chết, truy thu bằng sắc.
    Bàn việc xây đắp thành Quảng Bình.
    Vua từng bảo thị thần rằng : “Khoảng năm Gia Long, thành ấy đã từng sửa đắp, mà buổi đầu làm tạm, chưa dùng gạch đá. Trẫm nghĩ Quảng Bình phía nam gần kinh kỳ, phía bắc có Hoành Sơn, là nơi rất xung yếu, thành trì không thể không làm cho kiên cố. Vậy bàn sang năm làm”. Bèn sắc cho các đình thần thuê dân lấy đá núi, một đống đá (vuông 1 trượng, cao 2 thước 5 tấc) cấp cho 15 quan tiền.
    Định lệ cấm ra vào Văn thư phòng. Phàm quan viên Chánh nhị phẩm trở lên và người có chỉ mới được cho ra vào. Ngoài ra, vô cố thiện tiện ra vào, Tứ phẩm trở lên phạt bổng 3 tháng, Ngũ phẩm trở xuống đánh 30 roi, chức nhàn tản thì đánh 50 roi ; nhân thế mà tiết lậu việc quan trọng cơ mật thì trị tội nặng hơn.
    Đổi bổ nguyên Khâm sai chưởng cơ vệ uý vệ Hữu bảo nhị là Phạm Văn Lý làm Chưởng cơ hành chức vệ uý vệ Tiền bảo nhị. Đầu đời Gia Long đổi Hữu quân làm Tiền quân, các vệ đội Tiền bảo Tiền sai sở thuộc gián hoặc có bọn quản suất được chiếu ban hay giấy phó của công đồng hãy còn mang hiệu cũ Hữu quân. Đến nay thự Tiền quân Trần Văn Năng trình bày, bèn đổi bổ như thế.
    Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn đưa thư đến Gia Định, xin đem binh dân nước ấy để hợp sức tiếp tục đào đường sông Vĩnh Tế. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua xuống dụ khen ngợi. Sai Duyệt làm quy hoạch trước. Duyệt tâu xin phát hơn 39.000 người binh dân ở thành và các trấn Vĩnh Thanh, Định Tường cùng đồn Uy viễn, với hơn 16.000 người binh dân nước Chân Lạp, chia làm ba phiên, để mùa xuân sang năm khởi công, đầu hạ thì xong. Vua y cho.
    Dụ rằng : “Đường sông Vĩnh Tế liền với một lộ tân cương, xe thuyền được lợi rất nhiều. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta mưu sâu tính kỹ, để ý đến việc biên cương, buổi đầu đã một lần đào, công việc chưa xong. Trẫm noi theo chí trước, dốc lo làm sao một lần khó nhọc để thong thả lâu dài, khanh nên tính toán thế nào, hẹn ngày tâu công, để xứng ý trẫm. Vả chăng sông ấy không phải lợi cho Chân Lạp, vua Phiên xin thế vị tất là do thực tình. Ngày nào dụ đến nơi, họ tất sẽ có lời ngăn trở. Song việc làm quả quyết thì nên, dùng dằng thì hỏng. Trẫm đã định trước, họ không đáng kể”.
    Thống chế dinh Thần cơ quân Thị nội là Vũ Viết Bảo tâu rằng : “Ba đội nhất nhị tam của vệ Chấn uy đóng thú ở Bình Hoà, đội tứ đóng thú ở Bình Thuận, đội thập nhất đóng thú ở Phú Yên, xin hạ lệnh cho đóng thú lâu và mộ những người lậu tịch ở bốn dinh trực lệ để điền bổ vào ngạch cũ của các đội”. Vua y cho.
    Chuẩn định từ nay các chức văn võ ở các dinh vệ cơ đội của các quân trong ngoài và ty phòng của bộ viện đã được thực thụ mà thiện tiện bỏ trốn, thì thống quản và thượng ty tâu lên để tước ngạch đi. Nếu biết ra thú, xin ra sức làm việc, thì cho phép trình bày duyên cớ bỏ trốn và ngày tháng lâu chóng, đợi chỉ định đoạt.
    Cấp thêm triện ngà cho Nội vụ phủ, Vũ Khố, Tào chính, Thương bạc, các tào Hộ, Binh, Hình, Công ở Gia Định, các tào Hộ, Binh, Hình ở Bắc Thành và quốc vương Chân Lạp.
    Bộ Lễ tâu rằng : “ấn tín của các nha môn trong ngoài hết thảy là do quan cấp, duy có ấn chương dấu mực của quản binh chức võ vẫn còn khắc riêng. Nay xin xét cấp cho ấn quan phòng và đồ ký, phàm các chương tấu văn thư và việc chi lĩnh lương tiền, nhất thiết việc công, đều cho dùng ấn ấy, việc tư thì đều cấm”. Vua y theo.
    Lấy Phó vệ uý quân Thần sách là Nguyễn Văn Hưng hành chức Quản cơ cơ Định man kiêm quản đạo Cam Lộ.
    Thổ phỉ trấn Hưng Hoá là Lý Khai Ba nghe tin quan quân đuổi bắt, sai đồ đảng chiếm giữ chỗ hiểm yếu để chống cự. Trấn thủ Nguyễn Đức Niên sai thổ Tri huyện Văn Chấn là Cầm Nhân Bình đem 200 binh làm tiền đạo. Giặc dựa chỗ hiểm, đặt phục binh. Nhân Bình bị chúng bắn chết. Đức Niên lại phái Phó quản cơ cơ Tả chấn là Nguyễn Văn Đạo dẫn binh đánh tiếp, chém được vài đầu. Giặc lui chạy. Vừa Đức Niên bị bệnh, lại đóng quân ở bảo Trấn Hà, Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuấn tiếp đến Trấn Hà, chia quân đi nã. Thành thần nghe tin, phái thêm Quản phủ phủ Quốc Oai là Phạm Bá Hùng, Phó vệ uý vệ Phấn võ là Lê Văn Túc đem 1.000 binh án giữ đất ấy mà giục Nguyễn Khắc Tuấn tiến đánh động Cam Đường.
    Định thêm điển lệ tế Giao tế Miếu và Triều hạ.
    Bộ Lễ tâu rằng : “Cái đạo thanh âm cùng thông với chính sự. Chuông trống là đồ nhạc, dùng ở Giao Miếu và Triều đình là để phát động các âm mà hoà các nhịp điệu. Xét xem lễ điển nước Thanh, các đại lễ hưởng tự, khánh hạ, khi xa giá vua ra vào đều có đánh chuông, đánh trống, nay xin châm chước mà bổ thêm vào”. Vua y lời tâu. (Tế lớn Nam Giao : Trước 1 ngày, hữu ty chuẩn bị lỗ bộ đại giá. Đến giờ, vua lên kiệu ra cửa Hữu Túc, điện Càn Nguyên nổi chuông nổi trống. Kiệu đi, nghiêm đường. Đến cửa Hữu Đoan phát chín tiếng ống lệnh. Quan thủ thành, mặc phẩm phục quỳ đưa. Khi kiệu qua sông đến bờ nam, chuông trống ngừng. Đến cửa bắc của đàn, quan bồi tế mặc phẩm phục quỳ đón. ở Trai cung nổi chuông. Giá đến Trai cung thì chuông ngừng. Đến ngày tế, trước khi mặt trời mọc 7 khắc, Khâm thiên giám báo giờ. ở Trai cung nổi chuông. Khi kiệu đến cửa tây của đàn, chuông ngừng. Vua lên đàn làm lễ. Lễ xong, về Trai cung. Các quan làm lễ khánh thành. Khi kiệu trở về, ở Trai cung nổi chuông. Đến cửa bắc của đàn, các quan quỳ đưa. Chuông ngừng. Đến cửa Thể Nguyên, phát chín tiếng ống lệnh. ở điện Càn Nguyên nổi chuông nổi trống. Đến cửa Tả Đoan, quan thủ thành quỳ đón. Đến cửa
    Túc Môn, chuông trống ngừng. Tế hưởng các miếu : Canh năm ngày hôm ấy, sau khi nổi ba hồi trống và ống lệnh, hữu ty sắp sẵn lỗ bộ pháp giá. Gửi lời tâu lên :
  • Chia sẻ trang này