0059.027

31/5/16
0059.027
  • PDF

    :rose::rose:

    Giặc trốn ở Nghệ An là Lê Quang Chấn họp đảng quấy phá cướp bóc địa hạt Nam Đường, Hương Sơn, làm hại dân đã lâu, trấn thần sai Vệ uý Thần sách là Cao Khả Cận, Phó vệ uý là Đỗ Văn Thịnh coi đem binh voi đi tuần bắt Chấn ở xã Phước Lộc, đảng chúng hơn 400 người. Đỗ Văn Thịnh dẫn binh đến trước, cùng chúng đánh nhau, chém được vài đầu, bắt sống Chấn ở trận. Cao Khả Cận đến tiếp. Giặc tan chạy, đuổi bắt được vài mươi người, thu hết súng và khí giới.
    Trấn thần đem việc tâu lên. Vua nói : “Trước nay bổ biền ở Nghệ An chỉ việc này là xuất sắc, rất đáng khen”. Thưởng cho bọn Thịnh kỷ lục quân công và súng tay áo đoạn ; binh đinh thì thưởng tiền bạc theo thứ bậc.
    ở Tương Dương cũng có giặc đánh vây phủ lỵ, binh phủ đánh chạy, thưởng hơn mười lạng bạc. Quản phủ Hồ Văn Hưu vì ngày rằm đến hành cung ở trấn làm lễ bái vọng, không dự việc ấy. Vua nhân dụ rằng : “Từ trước đến nay các viên quản phủ, tri phủ trú phòng đóng giữ, phần nhiều cứ thác lệ thường về trấn ở liền hàng tuần, không nghĩ rằng họ đều có trách nhiệm bắt giặc thân dân, ví thử phủ lỵ bỏ vắng, bọn giặc nhân thế nổi lên thì tội về ai ? Từ sau phàm vệ uý, phó vệ uý đóng giữ các thành bảo và quản phủ, tri phủ, tri huyện, như ngày mồng một ngày rằm thường thì đều cứ phải ở nơi đóng giữ, không được thiện tiện tới trấn. Làm trái thì chiếu luật trị tội”.
    Sai bộ Binh truyền dụ cho trấn thần Nghệ An rằng phàm binh các vệ đội quân Thần sách, có ai trốn đi, đã thành án thì lấy lính ở vệ Võ thành điền bổ, chưa thành án thì bắt đòi cho đủ số, không được thiếu ngạch.
    Ngày Giáp thìn, đúc ấn “Hoàng đế chi bảo” (nuốm làm rồng cuốn hai tầng, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân, bằng vàng mười tuổi, nặng 180 lạng 9 đồng 2 phân). Phàm chiếu như sắc dụ đều đóng ấn ấy (câu cuối cùng tờ chiếu sắc, trước dùng những chữ “Đặc chiếu cố sắc”((1) Đặc chiếu cố sắc : đặc cách xuống chiếu, nên có sắc này.1), đến nay đều bỏ).
    Phó đô thống chế Thuỷ quân Phạm Văn Tường chết, cho 50 lạng bạc, 1 cây gấm Tống.
    Sai bọn Cai cơ Ngô Văn Trung và Tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng chia ngồi thuyền hai hiệu Bình Ba, Định Lãng đi Hạ Châu.
    Dụ rằng : “Chuyến đi này không phải để mua hàng hoá, chính là muốn biết núi sông phong tục nhân vật của nước ngoài. Bọn ngươi đến nơi phải xem kỹ la bàn, ghi chép rõ ràng cho biết phương hướng”. Đến khi về, Trung vì xén bớt của công, bị Trung Đồng tố giác, bị phát lưu đi Cam Lộ. Vua nghĩ có công Vọng Các, lại tha, phát đi Bắc Thành để ra sức. Thưởng cho Trung Đồng 100 quan tiền.
    Lấy Lang trung Công bộ là Nguyễn Hữu Tín làm Thiêm sự Binh bộ, sung biện Binh tào thành Gia Định. (Tín trước là Thiêm sự Lễ bộ, vì khi Bắc tuần theo giá chậm trễ bị giáng Lang trung, đến nay phục chức ấy).
    Dựng bốn phủ hoàng tử (ở phía tả trong Kinh thành).
    Ngày ất mão, tế trời đất ở đàn Nam Giao. Trước 1 ngày vua ngự đến Trai cung, sai Thống chế Tôn Thất Dịch và Võ Viết Bảo sung chức Phù liễn sứ, Trần Văn Cường thủ hộ Kinh thành. Bèn thành lệ.
    Lấy Ký lục Biên Hoà là Trương Quang Hải làm Ký lục Phiên An, Tham hiệp Lạng Sơn là Nguyễn Viết Kỵ làm Tham hiệp Nam Định, Thiêm sự Binh bộ sung biện Binh tào Bắc Thành là Nguyễn Đăng Sĩ làm Tham hiệp Cao Bằng.
    Tham hiệp Thái Nguyên là Dương Công Tráng về đinh ưu ; lấy Thiêm sự Hình bộ sung biện Hình tào Bắc Thành là Nguyễn Hữu Cáo làm Tham hiệp Thái Nguyên.
    Đốc học Quảng Nam là Nguyễn Tiêm cho vay lãi. Việc phát ra. Vua nói : “Tiêm giữ chức dạy học mà không biết giữ mình cho trong sạch thì sao có thể làm thầy dạy người ta được ?”. Bắt giáng một cấp, đổi đi chức khác. Lấy Tri huyện Văn Giang là Hoàng Văn Vận làm Đốc học Quảng Nam.
    Đốc học Quảng Ngãi là Lê Trị bị bệnh ; lấy Tri huyện Hữu Lũng là Lê Huy Côn làm Đốc học Quảng Ngãi.
    Rút biền binh các vệ Tiền phong, Hổ oai, Hữu bảo, Hùng cự đi thú ở Bắc Thành về Kinh để thao diễn.
    Đình thần tâu lên án đường quan và ty thuộc bộ Lễ can vụ phong tặng, nghị xử Lê Đồng Lý mãn lưu, Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Đăng Tuân, Đặng Đình Dương, Lưu Đình Luyện đều trượng 100, giáng 4 cấp đổi đi. Đinh Phiên còn can án thần sắc ở Nghệ An, xin lưu đợi xét. Vua dụ rằng : “Lý dối công mưu tư, người trong bộ còn làm mánh khóe thì người khác nói sao được ? Về Lý y lời nghị mãn lưu, cho đồ 6 năm rưỡi. Đăng Hưng, Đăng Tuân, Đình Luyện bán thóc ra ở Quảng Nam, Đình Dương bán thóc ra ở Nghệ An, đều biết giữ phép công bằng, phát giác việc gian để trừ thói nhũng, thì gia ân đều đổi giáng 2 cấp đổi đi. Đến như việc phong tặng bách thần, khoảng năm Gia Long bọn Võ Quý Dĩnh từng phạm án đã xử đến cực hình, gương trước chẳng xa mà nay lại dám coi thường luật pháp, cùng theo lối cũ, thì tội lại còn hơn Quý Dĩnh nữa. Bọn khanh phải giữ công bằng, xét hỏi đến nơi đến chốn, định nghĩ tâu lên”. Rồi Lý bị phát đi Châu Đốc tân cương làm việc khổ sai.
    Đổi bổ Phạm Đăng Hưng làm Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ, Nguyễn Đăng Tuân làm Cần Chính điện học sĩ (Đăng Tuân được lấy 1 cấp đồng quân công trừ vào 2 cấp giáng điệu, vẫn điệu bổ hàm (Chánh tam). Dụ rằng : “Bọn ngươi nên nghĩ cảm kích mà chăm chỉ cẩn thận thêm, trẫm sẽ đặc cách đề bạt. Cố gắng lên”.
    Đặt đội Tín nhất kho Nội tàng, chọn 50 người dân thực nạp ở 8 xã trực lệ sung vào. Lính kho thuộc các dinh trấn đều cho về ngũ.
    Sai Thống chế Vũ Viết Bảo mộ lính sung các đội Thị nội (hai đội Tiểu sai nhất và nhị hạn lấy hơn 300 người ; các đội khác đều 60 người).
    Lê Văn Duyệt tâu rằng cai đội, đội trưởng các chi hiệu ở đồn Uy viễn đều là người Man, xin cho họ tên để biến đổi phong tục man di. Vua y cho, lại sai cho phẩm phục. Dụ rằng : “Bọn ngươi tuy là Man Lão mà buổi đầu trung hưng sớm biết gắng sức theo việc quân ; sau khi bình định lại biết mộ theo phong hoá người Hán [Việt], đổi bỏ thói man di. Vậy đặc cách cấp cho áo mũ để nêu tiếng tốt”.
    Sai Thừa Thiên sửa chữa cầu cống đường sá. (Đường quan từ Vân Quan, Thạch Bàn đến Lương Phước bị nước lụt sạt lở dài tới 1.979 trượng).
    Chở 30.000 hộc thóc và hơn 59.200 quan tiền đồng nguỵ hiệu cổ ở Bình Định, hơn 10.300 hộc thóc và hơn 17.500 quan tiền đồng nguỵ hiệu ở Phú Yên và Kinh. Lại chở hơn 63.800 hộc thóc ở Thanh Hoá chứa vào kho Kỳ Lân ở Nghệ An.
    Đặt ở kho nội tàng và ở kho Kinh các chức chủ thủ, chủ sự, tư vụ, bát phẩm thư lại đều 1 viên, cửu phẩm thư lại đều 2 viên. Sai lấy người ở ty bộ Hộ sung vào.
    Thống chế Thị nội là Vũ Viết Bảo chết ; cho 500 quan tiền và 2 cây gấm Tống, cấp 3 người mộ phu.
    Biên đội Nội cần cùng các đội thuộc binh Tiệp sai, Tân nhất ở Thừa Thiên làm 7 đội vệ Tiền hộ, đội Thường ban làm đội thứ 9 vệ Tiền hộ, còn đội thứ 8 và đội thứ 10 thì cho mộ dân lậu tịch ở Thừa Thiên và Tam trực((1) Tam trực : ba dinh trực lệ là Quảng Trị, Quảng Bình và Quảng Nam.1).
    Đặt các cơ Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Hoà, Bình Định. Sai biên hai hiệu công xa cùng viên biền ngoại ngạch ở Quảng Bình làm cơ Quảng Bình ; đội Nội cần cùng đội Cường nhất và hiệu Công xa nhất ở Quảng Trị làm cơ Quảng Trị ; đội Nội cần cùng các đội Hữu nghi thuộc binh ở Quảng Nam làm cơ Quảng Nam ; đội Nội cần cùng các đội thuộc binh và các viên thừa ngoại ngạch ở Quảng Ngãi làm cơ Quảng Ngãi ; đội Nội cần cùng các viên biền theo trấn và viên biền các cơ đội thuyền chi Trung bộ, Tả bộ, Hùng bộ, Thắng thuỷ, Tuy võ ở Bình Hoà làm cơ Bình Hoà ; biền binh các đội Tráng ngũ, Tráng lục, Toàn dũng, Nghiêm dũng, Kiêm sai ; biền binh các vệ đội thuộc binh Hùng diêm, Mỹ thuận, Thanh châu, Hắc lăng cùng viên biền ngoại ngạch ở Bình Định, làm cơ Bình Định. Mỗi cơ đều 5 đội, mỗi đội 50 người, nếu thiếu thì mộ cho đủ.
    Dời đài Điện Hải ở Quảng Nam, bắt 5.000 người dân làm việc, hằng tháng cấp tiền gạo (mỗi người mỗi tháng cấp 3 quan tiền 1 phương gạo. Mỗi 50 người đặt 1 người đầu mục, mỗi tháng cấp 3 quan 5 tiền, 1 phương gạo ; mỗi 500 người, đặt 1 quản lĩnh, mỗi tháng cấp 5 quan tiền, 1 phương gạo). Sai Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí và Tham tri Binh bộ là Nguyễn Khoa Minh trông coi công việc.
    Dụ rằng : “Đầu đời Gia Long xây đắp đài này, công việc buổi đầu, người trông coi lại không được giỏi, cho nên không được kiên cố. Lại thêm gần sát bờ biển, nước biển xói mòn, ngày càng sụt lở, từng đã đóng cọc xây đá, mà sóng nước mạnh dữ, sức người khó chống. Trẫm thấy đặt đài này là để củng cố bờ biển, giữ mạnh thế nước, há có thể sợ khó nhọc ngại tốn phí mà để đấy không hỏi đến sao ? Nay sai người ngắm đo hình thế, nên dời về phía nam hơn 50 trượng là chỗ đất cao rộng mà xây. Lại đặt một pháo đài ở núi nhỏ phía đông trạm Nam Chân((1) Nay là Nam ổ.1) gọi là pháo đài Định Hải, núi ấy cũng gọi là núi Định Hải”. Kịp khi hai đài làm xong (đài Điện Hải cao 12 thước, ngoài quách cao 7 thước ; pháo đài Định Hải cao 5 thước 8 tấc. Trong đài đều dựng nhà quân trú phòng và kho thuốc đạn). Thưởng Văn Trí 50 lạng bạc, 2 tấm sa, 1 tấm đoạn và 2 lần kỷ lục ; Khoa Minh 30 lạng bạc, 2 tấm sa, 1 lần kỷ lục. Sai binh vệ Tín trực đóng giữ đài Điện Hải, binh đội nhất cơ Quảng Nam đóng giữ pháo đài Định Hải.
    Lấy Thiêm sự Binh bộ là Võ Hàm Chương làm Thiêm sự Lễ bộ.
    Lấy Hàn lâm viện Tu soạn Đặng Đức Thiệm làm Lang trung bộ Lễ. Thiệm là con Đặng Đức Siêu. Lúc vào bái yết, vua dụ rằng : “Tiên sinh xưa học hạnh tiết tháo thực là nhân vật nước Nam, ngươi nay phải hết lòng làm việc, cố nối thanh danh của nhà, chớ phụ lòng quyến chú của trẫm”.
    Chuẩn định từ nay mộ binh các dinh vệ có người trốn mất thì phải ghi mãi ở sổ ngạch để đợi tìm bắt. Dẫu đã chuyển đầu sang dinh khác hay lui về hộ tịch cũng cho tra bắt giải giao về hàng ngũ cũ. Làm lệ mãi mãi.
    Thanh Hoa nhiều giặc cướp. Trấn thần xin phái thêm biền binh đi tuần xét, cấp cho lương hướng. Vua y cho. Chợt có bọn giặc 30 người cướp xã Bái Hạ (thuộc huyện Nông Cống). Cai bộ bảo La Miệt là Nguyễn Huy Dao đem binh đi bắt, bị chúng bắn chết. Việc đến tai vua. Vua nói : “Thanh Hoa đã phái quan quân chia nhau đi tuần trong địa hạt, mỗi đường nhiều đến vài trăm người. Gần nay bọn giặc nổi lên, hoặc hơn trăm người, hoặc vài mươi người mà thôi, thế mà không bắt được một người nào, hèn nhát như thế còn nói được sao ? Đều là bởi trấn thần điều độ không đúng mà người quản binh không biết cố gắng nên đến nỗi thế. Bọn trấn thần và quản binh là Nguyễn Khắc Tiệp, Nguyễn Tiến Nghĩa, Phạm Văn Xuân đều phải cất bổng”. Sai đình thần truyền dụ nghiêm răn.
    Đổi bảo Thổ Sơn ở Thanh Hoa làm thành phủ Tĩnh Gia.
    Ngày Giáp tý, tiết Thanh minh. Vua rước Hoàng thái hậu đi yết lăng Thiên Thụ. Lệ trước hằng năm cứ tháng chạp thì yết. Tháng chạp năm ngoái thuyền Từ cung đã khởi hành thì gió mưa bỗng nổi, vua vội đem bầy tôi theo hầu. Đến khi lễ xong, hồi loan, vua bảo bộ Lễ rằng : “Lễ yết lăng đời trước phần nhiều theo tiết Thanh minh. Nay lấy kỳ tháng chạp rét mướt, không những quan viên theo ngự giá phải xông pha lạnh lẽo, mà quân lính hầu ở dọc đường đứng giữa mưa gió lại càng đáng thương. Huống chi nếu thời tiết không tạnh mà trẫm thân rước Từ cung đi thì lại cũng không phải là ý thận trọng. Từ sau, yết lăng lấy tiết Thanh minh làm lệ”.
    Lại sai bộ Lễ bàn về lễ yết lăng, Bộ thần tâu rằng : “Kính xét lễ yết lăng bắt đầu từ đời Hán. Buổi đầu chỉ cúng bốn mùa bằng lễ đặc sinh((1) Đặc sinh : một con trâu, bò hay dê, lợn.1), sau mới dùng lễ thái lao và tế ở những ngày hối vọng, 24 ngày tiết khí, tiết tam phục khí((2) Hối là ngày 30 ; vọng là ngày 15 ; 24 tiết khí là Lập xuân, Vũ thuỷ, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ, Lập hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử, Lập thu, Sử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng, Lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Đại hàn, Tiểu hàn.2) tiết tháng chạp. Đời Đường, đời Tống nhân theo, mới có lệ ngày Thanh minh đặt tế cùng những ngày Nguyên đán, Trung nguyên((3) Trung nguyên : ngày rằm tháng bảy3) và Đông chí thì hữu ty làm cỗ tiến dâng thượng cung ở các lăng. Lại xét điển nhà Thanh, lễ chế yết lăng tẩm thì hằng năm cứ đến ngày Kỵ, ngày Thanh minh, ngày rằm tháng bảy, ngày Đông chí, thì ngày cuối năm và khi nhà nước có lễ mừng, đều làm lễ đại hưởng((4) Đại hưởng : tế tất cả các tổ tiên.4) ở điện Long Ân, bày đặt trâu dê nem rượu và quả phẩm. ấy là lễ lăng các đời, lễ số phiền phức, chưa đủ làm chuẩn, mà nghi thức tiến hưởng thì đều dùng sinh và cỗ. Điển lệ quốc triều ta thì sau khi yết tảo cuối năm là đến tế chạp, cho nên lễ phẩm yết tảo chỉ dùng hương đèn trầu rượu. Nay đã định lại lấy tiết Thanh minh thì xin dùng sinh và cỗ dâng cúng. Ngày ấy Hoàng thượng thân yết lăng Thiên Thụ, khâm sai các hoàng tử tước công chia đi các lăng làm lễ”. Vua theo lời bàn.
    Giặc Man Cam Khoái ở Thuận Thành là Tà La Mân, họp quân đốt phá bảo Thị Linh (bảo này là chỗ quan yếu ở Thuận Thành). Trấn thần Bình Thuận sai Phó quản cơ Thuận nghĩa là Thái Văn Thận lĩnh 100 binh hợp với Trấn thủ Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh đuổi bắt. Binh đến bảo Thị Linh, giặc trốn xa. Vĩnh bèn sửa lại đồn bảo, đặt phòng thủ nghiêm cẩn rồi về. Thành thần Gia Định thấy xứ Man ấy tiếp với địa đầu đạo Hưng Phước, trấn Biên Hoà, sai Quản đạo Nguyễn Văn Châu dụ được Tà La Mân đem hơn 400 người bộ lạc quy thuận. Thành thần xin cấp cho áo quần tiền gạo khiến họ tụ họp làm ăn. Vua y cho.
    Đổi hai đội Thị trà nhất nhị làm viện Thượng trà, đặt viện sứ (trật Tòng tam phẩm), lấy Cai đội Nguyễn Văn Lộc thăng bổ chức ấy.
    Lấy Phó vệ uý vệ Dương võ Trung dinh quân Thần sách là Vũ Văn Từ làm Phó vệ uý Tả vệ dinh Tiền phong quân Thị nội, Phó vệ uý vệ Trung bảo nhất là Vũ Văn Chi làm Phó vệ uý vệ Dương võ.
    Lấy Cai đội Cẩm y là Trần Văn Cơ làm Phó vệ uý vệ Tiền nhị Tả nhị quân Thị trung, Cai đội là Hoàng Đăng Thận làm Phó vệ uý vệ Thần uy dinh Thần cơ quân Thị nội.
    Chưởng cơ Trung quân thống quản thập cơ Chấn định là Nguyễn Khắc Tuấn chết. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Khắc Tuấn mùa thu năm ngoái lĩnh binh đi dẹp giặc, lúc đầu tuy đóng quân tốn lương, lâu chưa tâu công trạng, từng giáng chỉ răn quở, đã biết hăng hái tiến lên, báo thắng trận liên tiếp dần dẹp yên giặc mà lập công to. Ta đương chờ sách công trạng tâu lên để ban ân rộng, ngờ đâu vì mệt nhọc mà chết, thực rất thương xót”. Bèn truy tặng Thống chế, cấp thêm hàng tơ, thưởng 200 lạng bạc, sai quan dụ tế, lại cho gia quyến 200 quan tiền. Nhân sắc cho bộ Lễ rằng từ sau quan viên nào chết, văn từ Chánh nhị phẩm, võ từ Tòng nhất phẩm trở lên, cùng là bề tôi huân cựu có công lao rõ rệt, thì mới cho tâu xin tên thuỵ, ngoài ra đều chiếu chức hàm mà cấp cho.
    Xét chiến công ở Hưng Hoá, Bắc Thành tâu dâng sách công trạng dẹp giặc, chia làm ba bậc nhất nhị tam. Vua chuẩn lời đình nghị thưởng cho bọn Vệ uý Phạm Đình Bảo, Trấn thủ Đào Văn Thành, Tuyên uý sứ Nguyễn Thế Nga, tất cả 106 người cấp kỷ quân công, mũ áo, bạc, đoạn và cho thăng thụ thực thụ theo thứ bậc khác nhau. Những người chết trận là Quản cơ Hoàng Văn Liễu tặng Vệ uý Tả quân, Trưởng hiệu Lê Văn Xuân, Cai đội Nguyễn Văn Bi tặng Phó quản cơ, binh dân đi trận thì thưởng 12.000 quan tiền ; ai chết, hay bị thương thì cấp tuất cho gia đình. Hơn 200 người tù quân lưu đi hiệu lực thì biên làm bốn đội Tùng thiện nhất nhị tam tứ, chọn cai đội và chánh đội trưởng tinh binh cho cai quản.
    Sai Thống chế Thị trung là Tôn Thất Dịch kiêm quản các đội Trung hầu nhất, Tả hầu, Hữu hầu ; Viện sứ viện Thượng trà là Nguyễn Văn Lộc kiêm quản các đội Tiểu sai, Nội tả, Hữu mã ; Phó vệ uý Hậu vệ dinh Thần cơ quân Thị nội là Nguyễn Văn Tự kiêm quản đội Thị nghi, bộ Hình kiêm quản các đội Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm ; bộ Lễ kiêm quản các đội Tiểu hầu ; bộ Binh kiêm quản tả hữu thuộc viên ; Vệ uý vệ Cẩm y kiêm quản đội Bả lệnh ; Vệ uý Hậu vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Nguyễn Văn Nghi kiêm quản vệ Trung hộ ; Vệ uý vệ Tả nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Trọng kiêm quản vệ Tiền hộ ; Phó vệ uý Trung vệ dinh Thần cơ quân Thị nội là Trương Công Tuyên kiêm quản công việc hai kho súng ống và thuốc đạn. Nhân sắc rằng từ nay quan viên kiêm quản chức khác, chỉ đại thần văn võ kiêm quản các quân, các bộ và những việc quan trọng thì vẫn cấp chiếu văn, ngoài ra thì do bộ cấp lục chỉ.
    Trấn thần Bình Hoà tâu rằng phía Bắc thành trấn quay ra sông Cái thường bị nước lụt chảy xói, xin đắp đê chắn ngang sông ấy mà đào lạch khác ở phía bắc sông để dẫn đường nước. Vua y cho. Sai phát 900 người binh dân và cấp cho lương tiền 1 tháng để làm việc.
    Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Nguyễn Đức Thành chết, cho 100 quan tiền và cấp 2 người mộ phu.
    Định lệ thuộc binh cho Văn thư phòng (Thượng bảo khanh 10 người, Thượng bảo Thiếu khanh 5 người, Hàn lâm viện Thừa chỉ 3 người, bản phòng 30 người).
    Vua thấy từ trước đến nay tiền thóc đinh điền các địa phương hằng năm đến tháng 7 thì thu xong cả, đến tháng 10 thì phê giao sổ bằng, như năm nào hai tháng 11, 12 có làm sổ tục còn bắt nộp thêm về phần năm ấy thì không tiện cho dân, bèn chuẩn định từ năm nay năm nào từ mồng 1 tháng 11 đến cuối năm có đinh điền tăng tục thì miễn thuế, đợi năm sau mới biên vào sổ để trưng thu như lệ. Hạn tâu sổ thì đến tháng 5 năm sau phải tới bộ. Làm trái thì giao bàn xử.
    chính biên
    Đệ nhị Kỷ - Quyển XX
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Minh Mệnh, năm thứ 4, Quý mùi [1823], mùa xuân tháng 3. Định điển thờ miếu Lịch đại đế vương. Bộ Lễ tâu rằng : “Theo Hội điển Minh Thanh thì ở Kinh sư đều có miếu đế vương. Phép nhà Minh thì một đường năm thất để thờ ngũ đế tam vương((1) Ngũ đế : Phục hy, Thần nông, Hoàng đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.
    Tam vương : Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn vương, Vũ vương.1) và 15 vị vua dựng nghiệp các đời Hán, Đường, Tống, rất đơn giản, nghiêm trang. Đến như phép nhà Thanh thì đế vương các đời, trừ các vua vô đạo bị giết, còn thì đều thờ cả, thậm chí nhà Liêu nhà Kim là rợ mọi làm loạn Trung Hoa mà cũng được cùng hàng với các vua chính thống, như thế thì phiền tạp quá. Trộm nghĩ đất Nam Giao ta xưa gọi là Kinh đô, kể từ khi mở mang đến nay, thanh danh văn vật, cũng thịnh có vẻ như phong hoá Trung Quốc, không cái gì là không do đạo thống các đời ngũ đế tam vương truyền lại. Tức như lễ nghi thờ cúng phải nên suy từ gốc nguồn, vốn không tự hạn chế trong non sông nước Nam. Xét sách Việt sử ngoại kỷ biên niên thì Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương thực là Thuỷ tổ của nước Việt ta. Sau từ việc nảy nỏ móng rùa thất lợi và việc cột đồng chia cương giới, cho đến những cuộc Nam - Bắc phân tranh((2) Chỉ những cuộc khởi nghĩa chống quyền thống trị ngoại tộc trong thời Bắc thuộc.2) thì đều không phải là chính thống của nước Việt ta. Trong khoảng đó có Mai Hắc Đế và Bố Cái Vương nhất sơ nổi dậy mà công nghiệp chưa thành. Thế thì từ ngoại kỷ về trước phải lấy các vị sáng thuỷ mà thờ. Từ Đinh về sau thì mối giềng mới rõ. Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tổ, thừa vận lần lượt nổi lên, đều là vua dựng nghiệp một đời. Trong khoảng ấy, anh chúa trung hưng như Trần Nhân Tông ba lần đánh bại quân Nguyên, hai lần khôi phục xã tắc, Lê Thánh Tông lập ra chế độ, mở rộng bờ cõi, công nghiệp rạng rỡ vang ở bên tai, đều nên liệt vào điển thờ. Ngoài ra các vua đều có miếu riêng, tưởng không nên thờ cả vào đấy”.
    Đình thần bàn lại, cho rằng nước ta thông thi thư, quen lễ nhạc, làm nước văn hiến là bắt đầu từ Sĩ Vương. Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành bắt Chế Củ mới có đất toàn phủ Quảng Bình ; Nhân Tông phía Bắc đánh lui quân Tống lấy lại hết sáu động Quảng Nguyên ; Trần Anh Tông phía Nam bình giặc Chiêm, mà bèn có hai châu Thuận Hoá ; Lê Trang Tông do Triệu Tổ ta tôn lập, dựng lại cơ đồ nhà Lê ; Anh Tông trao cờ trấn tiết cho Thái Tổ ta vỗ về miền Nam, cũng nên cùng thờ ở miếu. Đến như hai nhà Đông vu Tây vu, đời xưa thờ phụ các công thần các đời là những người có phép hoá dân, có công với nước, như Phong Hậu, Lực Mục, Cao Dao, Quỳ Long, Bá Di, Bá ích, Y Doãn, Phó Duyệt, Chu công Đán, Thái công Vọng, Thiệu công Thích, Thiệu Mục công Hổ, Phương Thúc, cùng là công thần các đời Đinh, Lý, Trần, Lê, công nghiệp rỡ ràng như Nguyễn Bặc, Hồng Hiến, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Đinh Liệt, Lê Xí, Lê Khôi, Lê Niệm, Trịnh Duy Tuấn, Hoàng Đình ái, Phùng Khắc Khoan, cũng nên liệt vào điển thờ phụ để tỏ rõ tấm lòng nhân hậu của thánh triều. Vua theo lời bàn. (Quy chế miếu thờ : năm thất [gian] : chính giữa gian giữa thờ Thái hiệu Phục hy thị, vị thứ nhất phía tả thờ Viêm đế Thần Nông, vị thứ nhất phía hữu thờ Hoàng đế Hiên Viên thị, vị thứ hai phía tả thờ Đế Nghiêu Đào Đường thị, vị thứ hai phía hữu thờ Đế Thuấn Hữu Ngu thị, vị thứ ba phía tả thờ Hạ Vũ, vị thứ ba phía hữu thờ Thương Thang, vị thứ tư phía tả thờ Chu Văn vương, vị thứ tư phía hữu thờ Chu Vũ vương. Gian tả nhất thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Sĩ Vương và Đinh Tiên Hoàng đế ; gian hữu nhất thờ Lê Đại Hành hoàng đế, Lý Thái Tổ hoàng đế, Thánh Tông hoàng đế, Nhân Tông hoàng đế ; gian tả nhị thờ Trần Thái Tông hoàng đế, Nhân Tông hoàng đế, Anh Tông hoàng đế ; gian hữu nhị thờ Lê Thái Tổ hoàng đế, Thánh Tông Thuần hoàng đế, Trang Tông Dụ hoàng đế, Anh Tông Tuấn hoàng đế. Nhà Đông vu thờ tướng của Hiên Viên thị là Phong Hậu, sĩ sư nhà Ngu là Cao Dao, Nạp ngôn là Long, quan nhà Ngu là Bá ích, tướng nhà Ân là Phó Duyệt, Thượng phụ Thái công Vọng nhà Chu và Thiệu Mục công Hổ, Định quốc công Nguyễn Bặc nhà Đinh, Phá lỗ tướng quân Lê Phụng Hiểu nhà Lý, Thái uý Tô Hiến Thành, Thái uý quốc công Trần Nhật Duật nhà Trần, Thiếu bảo Trương Hán Siêu, Thái phó Cương quốc công Lê Xí nhà Lê, Thiếu phó Tĩnh quốc công Lê Niệm, Hữu tướng Vinh quốc công Hoàng Đình ái ; nhà Tây vu thờ tướng Hiên Viên thị là Lực Mục, điển nhạc nhà Ngu là Hậu Quỳ, điển lễ là Bá Di, hành Y Doãn nhà Thương, Trung tể Chu công Đán nhà Chu, Triệu công Thích, nguyên lão Phương Thúc, Thái sư Hồng Hiến nhà Lê, Thái sư Việt quốc công Lý Thường Kiệt nhà Lý, Thái sư Thượng quốc công Trần Quốc Tuấn nhà Trần, Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, Thái sư Đinh Liệt nhà Lê, Tư mã công Lê Khôi, tướng quân Trịnh Duy Tuấn, Thái phó Phùng Khắc Khoan). Sai chế bài vị và đồ thờ, lấy 20 người dân làng Phú Xuân sung làm thuộc lệ. Hằng năm cứ hai tháng trọng xuân trọng thu sai hoàng tử đến tế.
    Định lại lệ cấm cửa cung thành. Thị vệ có người trực ban đêm chợt bị bệnh gấp, Vệ uý là Nguyễn Văn Quyền và Hoàng Đức Tòng không kịp chờ tâu mà hạ lệnh cho người canh cửa Tả Túc và cửa Tả Đoan mở cửa cho ra chạy chữa. Việc phát giác, vua nói : “Đấy tuy là đêm khuya, việc xảy ra không làm sao được, vội vàng theo quyền nghi thì cũng có thể xét tình giảm nhẹ tội được. Song lệ cấm cửa thành cửa cung nghiêm nhặt cũng khó chút tha thứ được. Vậy bọn Quyền và cai đội canh cửa đều phải cất lương”. Bèn phát long bài hiệu cho hai cửa Tả Túc Tả Đoan, giao cho đại thần thị vệ đương trực cầm giữ. Như ban đêm gặp có việc gì cần mở cửa cho ra vào thì phải uỷ người đem bài hiệu cửa ấy đến cửa mà đối chiếu truyền bảo rồi sau mới mở cho đi. Nếu đại thần đương trực mà tự tiện truyền bảo, và quan lại canh cửa không xét nghiệm đích có long bài mà thiện tiện mở cửa, thì luật bất ứng vi((1) Bất ứng vi : việc không nên làm mà làm, xem Hoàng Việt luật lệ, quyển XVIII, tr. 32.1) nặng mà xử. Như có tình tệ khác nữa thì xử nặng. Mở cửa cho ra thì chiếu theo bản luật mở cửa cho vào thì xử nặng hơn một bậc.
    Gọi Trấn thủ Bình Hoà là Đỗ Quý về Kinh. Lấy Vệ uý Hữu vệ dinh Hổ oai là Nguyễn Văn Lượng làm Trấn thủ Bình Hoà.
    Lấy Vệ uý vệ Diệu võ Tả dinh quân Thần sách là Lê Văn Sách làm Thống quản thập cơ Chấn định của Trung quân.
    Lại sai Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ Phạm Đăng Hưng sung Phó tổng tài Quốc sử quán, Cần Chính điện học sĩ Nguyễn Đăng Tuân biện lý công việc bộ Binh.
    Lấy Thượng bảo Thiếu khanh Trần Công Tuân thự chức Ký lục Quảng Trị, Thiêm sự Hình bộ Trần Bá Kiên thự chức Cai bạ, Tri huyện Trần Duy Trác làm Đốc học Gia Định.
    Chuẩn cho Quảng Bình và Quảng Trị thuế điền năm nay được nộp thay tiền 5 phần 10. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Hai hạt ấy mùa năm nay chưa được dồi dào, mà thuế vụ hạ gần tới, tưởng dân ta thu nộp hơi khó, nên lượng cho nộp thay là muốn trong việc bắt thuế thi hành cả sự vỗ về. Phải truyền dụ cho các dinh thần nghiêm cấm lại viên và lính kho không được sinh tệ”.
    Đặt thêm ở trạm Kinh 1 viên thứ đội trưởng và 10 người phu trạm (trước đặt 1 cai trạm, 20 phu trạm).
  • Chia sẻ trang này