0059.028

31/5/16
0059.028
  • PDF


    :rose::rose::rose:

    Định lệ thăng bổ cho các vệ Thị tượng và các Tượng cơ. Phàm thập đội trưởng có khuyết, thì viên đại thần quản lĩnh lựa chọn trong binh lính có ai kham nổi công việc ấy, tâu xin cho làm đội trưởng suất thập thí sai, mãn hạn thì thực thụ, đợi mãn 6 năm thì cho làm chánh đội trưởng thí sai, mãn hạn thì được thực thụ. Cai đội, chánh đội trưởng, suất đội có khuyết thì cho lấy chánh đội trưởng, đội trưởng suất thập tâu xin làm thí sai, mãn hạn thì thực thụ. Quản vệ, quản cơ có khuyết thì hoặc có viên nào tài giỏi có thể cất nhắc bổ dụng thì cũng cho chỉ tên tâu xin bổ thụ. Ngoài ra, vẫn chiếu lệ xin chỉ chọn bổ.
    Chở 50.000 lạng bạc ở thành Gia Định về Kinh.
    Tướng giặc ở Bắc Thành là Nguyễn Đức Khoa họp đảng xưng tên là mục Khoa, tự xưng Chánh tướng Trung quân, đồ đảng là Hoàng Đình Thạnh xưng Chánh tướng Tiền quân, Vũ Tiêm xưng Chánh tướng Hậu quân, cướp phá miền Hải Dương, Bắc Ninh. Thành thần sai Chưởng cơ Tiền quân là Vũ Văn Lương quản
    lĩnh binh và voi đi tuần để bắt. Khoa đem hơn 700 người đồ đảng mưu đến huyện Thanh Lâm. Khi đến xã Trung Trinh (thuộc huyện Lang Tài) thì Lương bắt gặp, chia binh chặn đánh, bắt sống được Khoa, Tiêm và đồ đảng hơn 60 người, chém được hơn 120 đầu, bắt được cờ trống khí giới rất nhiều. Thạnh chạy thoát. Thành thần đem sự trạng tâu lên. Vua dụ khen, thưởng cho Vũ Văn Lương quân công gia một cấp, một tấm sa mãng lan((1) Sa mãng lan : một thứ sa thêu rồng bốn móng.1), một súng tay Tây dương nạm vàng, một kính thiên lý mạ bạc. Biền binh đi trận thì thưởng kỷ lục, bạc, lụa, tiền, và bổ thụ theo thứ bậc khác nhau. Khoa và Tiêm đều bị lăng trì xử tử. Bọn đồ đảng bị bắt 51 người thì thành thần xin giảm tội tử mà xử lưu. Vua không cho, dụ sai tra tấn nghiêm nhặt, xét những người thuỷ chung theo giặc và đã phạm tội cường đạo hoặc phạm tử tội mà trốn, hoặc đương trận chống cự mà bị bắt thì làm một hạng, những người mới lần đầu theo giặc, thực không có tình trạng nặng như trên thì làm một hạng, đợi chỉ cho phát lạc. Nếu dân lương thiện vì giặc bắt hiếp mà theo, giữa đường gặp quan quân bỏ khí giới trước chạy trốn thì mới cho chước lượng giảm nhẹ tội. Đến khi án tâu lên, hơn 10 người phát sung quân, còn đều bị xử tử. Thạnh sau bị quan quân bắt được, đem giết.
    Cho con các võ chức từ Tam phẩm trở lên được đăng tên vào sổ Hoa danh (sau là Anh danh), sai Tôn Thất Dịch cai quản, khiến học tập võ nghệ.
    Chế cấp ấn đồ ký bằng đồng cho viện Thượng trà, và cho năm thuỷ cơ vệ Phấn dực của thuỷ quân.
    Lấy Cai đội vệ Cẩm y là Vũ Đức Hựu làm Phó vệ uý Tả vệ dinh Hổ oai quân Thị nội.
    Sửa lại ba mặt tiền, hữu, hậu của Kinh thành. Mùa đông năm ngoái mưa dầm, thành lở hết 2.057 trượng. Bèn sai bọn Trần Văn Năng, Nguyễn Văn Vân trông coi các quân xây đắp, mỗi trượng cấp tiền 10 quan. Vua nhiều lần đến xem, bảo bộ Hộ rằng : “Trẫm xem công việc đắp thành, sửa đắp chỗ sụt lở so với sửa đắp đóa khẩu và nữ tường((1) Đóa khẩu : ụ đắp ở trước hay bên cửa thành để che chở.
    Nữ tường : tường nhỏ đắp ở trên ngọn thành.1) còn phí tổn nhiều hơn. Tuy bởi năm trước cẩu thả nên có lần sửa chữa này, thực vẫn là công việc bổn phận của biền binh, song trẫm thấy lo việc công mà gắng sức thì cũng đáng khen. Vậy cấp thêm cho mỗi trượng 10 quan tiền nữa. Lại hạ lệnh cho bộ Binh xét các viên tử trong sổ Hoa danh, bất kể đã có quan chức hay chưa, phàm là nhàn tản thì phái hết đến công trường theo viên chuyên biện mà trông coi. Dụ rằng : “Bọn ngươi đều là con em quý phái, không quen rét nắng. Trẫm muốn cho học tập cần khổ. Vả để xem xét người nào có thể sử dụng thì tuỳ tài bổ thụ. Nên cố gắng lên, chớ phụ ý tốt của trẫm luyến nhớ công ông cha các ngươi mà muốn gây dựng cho các ngươi”.
    Bộ Binh tâu rằng : “Năm Gia Long thứ 6 được cấp cho một cái ấn “Bộ đường” và một cái triện “Khâm ty binh chính”, phàm các chương tấu, tờ tư và đơn bằng thì dùng. Duy từ trước vẫn cấp cho một cái triện ngà vuông “Binh ty khu mật”, một cái triện ngà vuông nhỏ “Cẩn tín”, hai cái triện ngà tròn nhỏ “Mật tích” nguyên cấp từ trước còn để cho bộ giữ, nay xin vẫn để lại một cái triện ngà “Mật tích” để dùng làm dấu kiềm (triện “Khâm ty binh chính” để đóng kiềm vào chỗ hai tờ giáp nhau và chỗ chữ số, triện “Mật tích” đóng kiềm vào chỗ tẩy và chỗ thêm), còn ấn khác đều nộp trả”. Vua nghe theo.
    Người thôn Diêm Điền (thuộc huyện Đồng Xuân), trấn Phú Yên là Nguyễn Văn Tựu có hiếu hạnh, để tang cha mẹ, làm nhà ở mộ 3 năm, làng mạc đều khen. Trấn thần hỏi được sự trạng tâu lên. Vua nói : “Có người con hiếu như thế chính phải nêu thưởng để khuyến khích phong hoá. Chuẩn cho bộ Lễ bàn cấp biển ngạch (khắc bốn chữ “Hiếu thuận khả phong”((2) Hiếu thuận khả phong : nết hiếu thuận có thể làm phong thanh để giáo hoá.2), cho 30 lạng bạc và 2 tấm đoạn).
    Trấn thần Phú Yên tâu báo rằng huyện Đồng Xuân trong hạt ít mưa, lúa tổn hại từ 3 phần đến 6 phần 10, không đều. Vua dụ rằng : “Mùa đông năm ngoái, ruộng mùa ở huyện Tuy Hoà trong hạt ngươi báo có tổn thương mà không được dự lệ khám để giảm thuế. Nay ruộng chiêm ở Đồng Xuân tổn 3 phần lại cũng thuộc lệ không nên cho. Duy nghĩ dân hạt này vốn tính thực thà, từ trước đến nay chưa từng báo nhảm tai thương, cũng chưa từng cầu ơn khoan giảm, trẫm rất yêu phong tục trung hậu ấy. Hai huyện đã gặp tai nạn riêng đó thì thuế ruộng năm nay có thể đặc cách tha cho một nửa, còn một nửa thì chia làm 10 phần, 2 phần hoãn thu, 8 phần nộp bằng tiền”.
    Xây cầu đá cửa tả hữu thành Quảng Bình. Trước kia sai Thiêm sự Công bộ là Trần Đăng Nghi hiệp đồng với dinh thần trù tính vật liệu về công việc xây thành, thêm giá mà đặt mua (một đống đá núi cấp 25 hộc thóc ; một đống vôi cấp 20 hộc thóc). Đến nay vua nghĩ công việc thành nặng hơn, nếu hưng công xây đắp ngay thì sức dân sợ không làm nổi, bèn phát thợ ở Kinh và binh vệ Tuần thành, hằng tháng cấp cho tiền gạo (mỗi người một tháng 2 quan tiền 1 phương gạo), làm hai nơi cầu cửa tả cửa hữu trước.
    Miễn dao dịch cho binh dân hai xã Diên Sinh, Đan Quế dinh Quảng Trị, sai vét đào đường kênh để lợi cho việc làm ruộng. (Diên Sinh thuộc huyện Hải Lăng, Đan Quế thuộc huyện Đăng Xương).
    Cho con cháu Khai quốc công thần Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính là Đội trưởng đội Trung hầu Nguyễn Hữu Thiết trừ khỏi binh tịch mà vẫn làm Đội trưởng để coi giữ việc thờ Hữu Kính.
    Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tâu rằng : “Các vệ cơ Tượng quân hiện không có lệ kén điểm. Chánh đội trưởng và đội trưởng tuổi đã 60 mà suy yếu, hay chưa đến 60 mà tàn tật thì xin ở Kinh cho quản lĩnh, ở ngoài do thượng ty xét nghiệm thải về, làm sách tâu lên”. Vua nghe theo.
    Quốc trưởng nước Nam Chưởng (tên riêng là Lao Lung) là phìa La Xà, át Nha sai sứ là đạo Tự và đạo Hiệu Xà đến xin quy thuận, qua châu Ninh Biên trấn Hưng Hoá, đến huyện Thuỵ Nguyên, nhờ Phạm Thúc Nho đề đạt đến trấn Thanh Hoa, thư nói rằng nước ấy 20 năm nay nghe thấy uy đức của triều đình, bốn lần tìm đường sang cống mà không được tới, nay lại sai sứ dâng thư xin làm thần thuộc. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua bảo bầy tôi rằng : “Nước Nam Chưởng ở phía Tây Nam, bờ cõi cách xa, từ trước chưa thông chức cống, nay đã khẩn xin quy thuận, hướng theo giáo hoá, lòng thành thực đáng khen. Vậy sai trạm đưa tới Kinh”.
    Đến Kinh, cho vào chiêm bái. Sai bộ Lễ bàn định kỳ cống và phẩm vật cống. Ban thưởng cho quốc trưởng và sứ giả, rồi bảo về. (Kỳ cống lấy các năm sửu, thìn, mùi, tuất làm chuẩn, 3 năm một lần sai sứ đến chầu, đều cứ tháng 11 thì đến Thanh Hoa, tháng 12 đến Kinh để chầu mừng lễ Nguyên đán, lấy năm nay bắt đầu. Phẩm vật cống thì 2 thớt voi đực, 4 toà sừng tê, 2 cây ngà voi. Sứ bộ thì chánh phó sứ đều 1 viên, tù trưởng 3 viên, thông ngôn 2 viên, quân đi theo 22 người, chăn voi 6 người, tất cả 35 người. Thưởng cho quốc trưởng thì gấm đoạn và the hồng đều 2 tấm, lụa, sa, the đều 20 tấm, vải hồng và vải đen đều 30 tấm, đồ trà bịt vàng 1 bộ. Cho chánh phó sứ thì đều 20 lạng bạc, 1 tấm sô sa, 1 khẩu súng Tây chữ vàng, một thanh gươm bịt bạc, đồ trà bịt bạc 1 bộ, cho 3 người bộ lạc đều 5 lạng bạc và 1 tấm đũi tơ gốc màu cánh kiến). Nhưng rồi nước ấy có việc, không đến cống được.
    Người Man ba động Lạc Hoàn sai sứ đến cống.
    Người Man cống ở 7 sách đạo Cam Lộ và người Man thuế ở 2 sách A Nghê
    và La Miệt đến dâng sản vật địa phương. Vua thấy tên các sách man cống phần nhiều quê kệch, sai đổi đi : Trầm Bồn làm Tầm Bồn, Phá Băng làm Tá Băng, Xương Cụm làm Xương Thịnh, Cha Bon làm Na Bôn. Các tên Mường Vanh, Thượng Kế, Làng Thìn thì đọc theo âm chính. Rồi cho người man cống là Chiêu Nội làm Sai trưởng man Tầm Bồn (Chiêu Nội là con Sai trưởng trước là Xú La Giả), người Man thuế tên là Viêm làm Tổng trưởng sách A Nghê, tên là Hoàng làm Tổng trưởng sách La Miệt (A Nghê, La Miệt đều thuộc châu Hướng Hoá). Sai trưởng Mường Vanh là A Điền Cáo nhân tâu rằng người Man Ba Xắc (thuộc nước Vạn Tượng) năm trước dời đến ở Na Sâm (tên đất ở Mường Vanh), cho họ đất để ở, đến nay đã 3 năm, không chịu đóng thuế, ngày càng lấn chiếm thêm đất. Đình thần bàn, xin sai quan đến tận nơi, bắt phải trả đất lấn chiếm và cứ đất đã được cho mà ở, nộp thuế để yên lòng dân man. Vua nghe lời tâu. Bèn sai Cai đội Tống Văn Uyển hiệp với Quản cơ Định man Nguyễn Văn Hưng đem 200 cơ binh đi. Hưng đến nơi, bị bệnh chết, Uyển sai họp dân Man Ba Xắc để trách quở. Người Man vâng mệnh, Uyển về đem việc tâu lên. Vua cho Uyển làm Quản cơ Định man, kiêm quản đạo Cam Lộ ; cho Hưng 100 quan tiền tuất và 1 cây gấm Tống.
    Gia Định được mùa lớn (gạo 1 phương giá 6 tiền).
    Đổi đội Họa tượng (thợ vẽ) ở Nội tạo làm cục Họa tượng.
    Sai Quản vệ Phấn dực quân Nội thuỷ là Nguyễn Tài Năng, coi đóng 3 chiếc thuyền cong mũi.
    Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.
    Vệ uý Thị nội quyền lý năm vệ dinh Long võ là Mai Văn Thành sai binh lính làm nhà cửa riêng. Vua sai cất chức, giao cho bộ Binh sai phái để ra sức chuộc tội ; đòi 100 lạng bạc cấp cho quân.
    Thư lại Nội vụ phủ là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn 1 lạng vàng. Bộ Hình nghĩ xử tội chém chuẩn làm tội đồ. án tâu lên. Vua dụ rằng : “ Khoảng năm Gia Long, bọn Nguyễn Đăng Dược thông đồng với thợ bạc là bọn Nguyễn Khoa Nguyên đúc trộm ấn giả, để trộm đổi ấn nguỵ cất ở kho, đều xử chém ngay. Nay Hữu Diệm ở đấy cân vàng mà còn dám công nhiên lấy trộm, huống chi của kho thì sao ? Thế là trong mắt hắn đã không có pháp luật. Chi bằng theo đúng tội danh mà định tội để răn người sau. Lý Hữu Diệm phải giải ngay đến chợ Đông, chém đầu cho mọi người biết. Hồ Hữu Thẩm phải truyền cho bọn viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem,
    hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn ngươi sao ?”.
    Lấy Thiêm sự Binh bộ chuyên biện việc từ chương ở Bắc Thành là Lê Đại Cương làm Cai bạ Quảng Nam.
    Dinh thần Quảng Nam tâu rằng trong hạt mùa đông năm ngoái có sâu cắn lúa, mùa xuân này lại gặp gió bắc, lúa ruộng tổn hại từ 4 phần đến 8 phần không đều, xin lượng giảm thuế ruộng. Vua dụ sai xét số mà giảm, tổn 4 phần thì giảm cho 2 phần 10, tổn 5 phần thì giảm 3, tổn 6 phần thì giảm 4, tổn 7 phần thì giảm 5, tổn 8 phần thì giảm 6.
    Gọi Hiệp trấn Sơn Nam là Vũ Xuân Cẩn về Kinh. Lấy Hiệp trấn Lạng Sơn là Ngô Huy Viên làm Hiệp trấn Sơn Nam, Tham hiệp Sơn Tây là Lưu Chuyên thự Hiệp trấn Lạng Sơn, Thiêm sự Công bộ là Hoàng Nghĩa Thao làm Tham hiệp Sơn Tây.
    Lấy Trấn thủ Bình Hoà là Đỗ Quý làm Lưu thủ Quảng Bình.
    Phát chẩn cho dân bị hoả tai ở Thừa Thiên. (Bốn ấp Xuân Hội, Tân Hội, An Hội, Đặng Thị Trung bị cháy 136 hộ, cấp 500 quan tiền và 135 phương gạo).
    Sách vàng ngự chế về đế hệ và sách bạc ngự chế về phiên hệ làm xong((1) Đế hệ : dòng chính của vua.
    Phiên hệ : dòng của các vương công.1). Trước là ngày Nguyên đán tháng giêng, vua tự định ra 20 chữ bộ nhật (Dong, Thời, Thăng, Hiệu, Minh, Biền, Chiêu, Hoảng, Tuấn, Điển, Trí, Huyên, Lan, Huyến, Lịch, Chí, Tích, Yến, Hy, Di). Dòng đế và dòng thân phiên đều 20 chữ.
    Dòng đế là : Miên (bộ miên ), Hồng (bộ nhân ), Ưng (bộ kỳ ), Bửu (bộ miên ), Vĩnh (bộ ngọc ), Bảo (bộ phụ ), Quý (bộ nhân ), Đinh (bộ ngôn ), Long (bộ tài ), Trường (bộ hoà ), Hiền (bộ bối ), Năng (bộ lực ), Kham (bộ tài ), Kế (bộ ngôn ), Thuật (bộ tâm ), Thế (bộ ngọc ), Thuỵ (bộ thạch ), Quốc (bộ đại ), Gia (bộ hoà ), Xương (bộ tiểu ).
    Thân phiên dòng Anh duệ thái tử là : Mỹ Lệ Anh Cường Tráng ; Liên Huy Phát Bội Hương, Lệnh Nghi Hàm (trước là Sùng) Tốn Thuận ; Vĩ Vọng Biểu Khiêm Quang.
    Dòng Kiến An công là :
    Lương Cẩn An Hoà (trước là Nhân) Thuật, Du Hành Suất Nghĩa Phương ; Dưỡng (trước là Dung) Di Tương Thức Hảo ; Cao Tú Thái Vi Tường.
    Dòng Định Viễn công là :
    Diên Hội Phong Hanh Hợp ; Nguyên Phùng Thái Lãng Nghi ; Hậu Lưu Thành Tú Điệu ; Diễn Khánh Thích Phương Huy.
    Dòng Điện Bàn công là :
    Tín Điện Tư Duy Chính, Thành Tồn Lợi Kiến Trinh ; Túc Cung Thừa (trước là Toản) Hữu Nghị ; Vinh Hiển Tập Khanh Danh.
    Dòng Thiệu Hoá công là :
    Thiện Thiệu Thuần Tuần Lý ; Văn Tri Tại Mẫn Cầu ; Ngưng Lân Tài Chí Lạc ; Địch Đạo Đoãn Phu Hưu.
    Dòng Quảng Oai công là :
    Phượng Phù Trưng Khải Quảng ; Kim Ngọc Trác Tiều Kỳ ; Điển Học Kỳ Gia Chí ; Đôn Di Khắc Tự Trì.
    Dòng Thường Tín công là :
    Thường Hựu Tuân Gia Huấn ; Lâm Trang Tuý Thịnh Cung (trước là Dung) ; Thận Tu Gi Tiến Đức ; Thụ ích Mậu Tân Công.
    Dòng Yên Khánh công là :
    Khâm Tùng (trước là Ba) Xưng ý Phạm ; Nhã Chính Thuỷ Hoằng Quy ; Khải Để Đằng Cần Dự ; Quyền Ninh Cộng Tập Hy.
    Dòng Từ Sơn công là :
    Từ Thái Dương Quỳnh Cẩm ; Phu Văn ái Diệu Hoàng (trước là Chương) ; Bách Chi Giai Phụ Đức ; Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương.
    Làm bài tựa rằng : “Nhà nước ta họ Nguyễn, khởi tự Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa. Buổi đầu đời trước đã là họ lớn, đời đời làm quan đến hơn vài trăm năm, tích luỹ nhân đức, nên có ngày nay, thực có thể sánh với nhà Chu được. Do đó trời cho mệnh tốt, sinh ra Triệu tổ Tĩnh hoàng đế ta((1) Triệu tổ Tĩnh hoàng đế : Nguyễn Kim.1), gây dựng cơ đồ lớn, kế sinh Thái tổ Gia dụ hoàng đế ta((2) Thái tổ Gia dụ hoàng đế : Nguyễn Hoàng.2), dựng nền ở cõi Nam. Bèn lấy chữ Phước nối theo chữ Nguyên, gọi quốc tính là Nguyễn Phước. Các vua thánh nối nhau, thánh này nối thánh khác, rồi đến Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta((3) Thế tổ Cao hoàng đế : Gia Long.3), dẹp yên họa loạn mà có cả nước Việt, sắc định Ngọc phả, lấy con cháu Thái tổ vào Nam và dòng các vua thánh làm tôn thất họ Nguyễn Phước, con cháu Thái tổ ở Bắc và các phái trước làm công tính họ Nguyễn Hựu. Đến như tên huý các thánh thì phần nhiều theo bộ Thuỷ ; sau đến Thế tông Hiếu võ hoàng đế ta thì tên ngự và tên tôn thất cũng có khi dùng bộ Nhật .Truyền đến Hoàng khảo ta thì chuyên dùng bộ Nhật. Từ trăm năm gần đây, tôn thất sinh thêm nhiều, đặt tên phần nhiều trùng điệp, Hoàng khảo ở ngôi, ý muốn đổi lại chữ đặt tên để truyền cho con cháu dùng mãi lâu dài về sau, tiếc rằng việc chưa làm được. Trẫm nghĩ nối theo ý tốt tiền nhân để thành được chí của tiên thế, tự soạn ra 20 chữ bộ Nhật, dùng để cho người nối nghiệp về sau đến ngày nối ngôi có thể lấy một chữ làm tên, lấy theo nghĩa nhật là tượng trưng ngôi vua, mà chữ tên đặt khi tuổi nhỏ làm tên tự. Còn những con cháu và con cháu của anh em thì lại soạn những mỹ tự, chia làm dòng (hệ) đế và các dòng của anh trẫm là Anh duệ thái tử, cùng em trẫm là Kiến An công, Định Viễn công, Diên Khánh công, Điện Bàn công, Thiệu Hoá công, Quảng Oai công, Thường Tín công, Yên Khánh công, Từ Sơn công, cả thảy 10 hệ. Khi mới sinh xin đặt tên, thì tên hoàng tử chữ trên lần lượt lấy từng chữ ở bài thơ đế hệ, chữ dưới lấy chữ bộ nào về đời thứ mấy. Tên các công tử thì lần lượt lấy các chữ ở bài thơ về công hệ nào chữ dưới thì lấy ngũ hành tương sinh((1) Ngũ hành tương sinh : đất sinh ra vàng ; vàng sinh ra nước ; nước sinh ra cây ; cây sinh ra lửa ; lửa sinh ra đất.1) mà dùng bộ Thổ làm đầu. Ví như dòng đế, thì Miên Tông, Miên Định ; dòng Anh duệ thì Mỹ Đường, Mỹ Thuỳ ; dòng Kiến An thì Lương Kỳ, Lương Viên ; dòng Định Viễn thì Tĩnh Cơ, Tĩnh Cận ; dòng Diên Khánh thì Diên Vực, Diên Đề ; dòng Điện Bàn thì Tín Kiên, Tín Phác ; dòng Thiệu Hoá thì Thiện Khuê, Thiện Chỉ ; dòng Quảng Oai thì Phượng Tại, Phượng Vu ; dòng Thường Tín thì Thường Nhâm, Thường Dung ; dòng Yên Khánh thì Khâm Thịnh, Khâm Bích ; dòng Từ Sơn thì Từ Đàn, Từ Cương. Như thế thì thế thứ rõ ràng mà không lẫn, thân sơ phân biệt mà có thể biết rõ được. Cái đạo giữ luân lý hoà họ hàng từ đấy thịnh lên, mà chi phái ngọc diệp thiên hoàng((2) Ngọc diệp : phổ hệ họ vua.
    Thiên hoàng : sông ở trời, tượng trưng chi phái nhà vua như dòng sông ấy.2) từ đấy rõ rệt. Con cháu ta nên theo giữ phép hay, khiến cho gốc cành trăm đời truyền ức muôn năm, để mong người báo đáp trời và tổ tiên cho mệnh tốt”. Bèn sai hữu ty đúc sách vàng và sách bạc. Đến nay hoàn thành, vua đem việc ấy kính cáo ở đàn Giao và các miếu. Sắc cho bộ Lễ bàn định nghi tiết.
    Bộ thần tâu rằng : “Cẩn xét sách Nghi lễ thông giải có nói : Chọn ngày tế Giao thì nhận mệnh ở miếu thờ tổ ; bói rùa thì ở Nễ cung (miếu thờ cha). Lời sớ của họ Khổng nói : Trước hết cáo tổ, mới bói ngày tế Giao, như đã nhận mệnh lệnh của tổ vậy. Lại nói : Người nước Lỗ sắp có việc tế trời, tất trước phải tế Phán cung((3) Phán cung : chỗ thờ Chu Công.3). Lời sớ của họ Khổng nói : Sắp tế trời, tất trước phải cáo Hậu Tắc. Thế là trước cáo vị thấp rồi sau tế vị cao. Cứ lời kinh văn như thế, tuy là chuyên nói việc tế Giao, song cũng có thể tìm ở đấy cái ý tinh vi của thánh nhân đặt lễ. Phàm lễ nào phải cáo trời mà việc có liên quan đến tôn thống, thì tất trước phải nhận mệnh ở Tổ Nễ (miếu tổ miếu cha). Suy thế thì việc phả điệp làm xong, lễ cũng nên thế. Xin trước cáo các miếu, rồi sau cáo Trời Đất, ngõ hầu mới hợp với lễ”, Vua theo lời tâu.
    Ngày Bính ngọ, vua cáo Thế miếu((1) Thế miếu : miếu thờ Gia Long.1).
    Ngày Đinh mùi, cáo Thái miếu((2) Thái miếu : miếu thờ Nguyễn Hoàng.2).
    Sai hoàng trưởng tử cáo Triệu miếu((3) Triệu miếu : miếu thờ Nguyễn Kim.3), hoàng tử Yến cáo Hưng miếu((4) Hưng miếu : miếu thờ người sinh Gia Long.4).
    Ngày Mậu thân, sai Chưởng Tượng cơ Nguyễn Đức Xuyên cáo Nam Giao.
    Ngày Kỷ dậu, đặt đại triều nghi ở điện Thái Hoà để tuyên đọc sách vàng. Lễ xong, ban sách bạc chép thế hệ cho các phiên thân công, tất cả mười quyển. Dụ các hoàng tử rằng : “Trẫm nghĩ tôn thống là quan trọng, muốn thực hiện chí của tiên hoàng, bèn soạn 20 chữ hay, lưu để cho người nối ngôi về sau, chia ra dòng đế, dòng phiên đế phân biệt thân sơ. Ngày mồng 7 tháng này đã thân hành yết Thế miếu ; ngày mồng 8 thân hành yết Thái miếu ; ngày mồng 9 cáo Nam Giao ; ngày mồng 10 tuyên đọc sách vàng ở bệ. Điển lễ cử hành lần này, tưởng mong trời đất ông cha soi thấu, tất sẽ cho phước lớn, thì phước đời của nước nhà ta sẽ được lâu dài rộng lớn, gốc ngành muôn đời. Xưa nhà Chu bói năm được 700 năm, bói đời được 30 đời, mà hưởng quá số bói ấy. Trẫm tuy không dám bì với đời thịnh ấy, nhưng các đời trước của ta tích luỹ nhân đức, chính trị hay ơn huệ tốt của các vua thánh tất vun trồng cho họ Nguyễn Phước ta được cỗi gốc sâu bền, nghiệp lớn tốt thịnh. Trẫm chỉ giơ tay lên trán cầu trời cho từ nay về sau con cháu ta nhận nối cơ đồ lớn sẽ được hưởng năm 500 năm, hưởng đời hơn 20 đời. Cũng không dám mong nhiều đâu. Nay dòng đế đã định, bèn cho hoàng tử bọn ngươi tên hiệu tốt như sau : Hoàng tử Dong cho tên Miên Tông, hoàng tử Yến cho tên Miên Định, hoàng tử Dục cho tên Miên Nghi, hoàng tử Thự cho tên Miên Hoành, hoàng tử thứ sáu cho tên Miên An, hoàng tử thứ bảy cho tên Miên Thần, hoàng tử thứ tám cho tên Miên Phú, hoàng tử thứ 9 cho tên Miên Thủ, hoàng tử thứ mười cho tên Miên Thẩm, hoàng tử thứ mười một cho tên Miên Trinh, hoàng tử thứ mười hai cho tên Miên Bảo, hoàng tử thứ mười ba cho tên Miên Chữ, hoàng tử thứ mười bốn cho tên Miên Hựu, hoàng tử thứ mười lăm cho tên Miên Vũ, hoàng tử thứ mười sáu cho tên Miên Tống, hoàng tử thứ mười bảy cho tên Miên Thành, hoàng tử thứ mười tám cho tên Miên Tể, hoàng tử thứ hăm mốt cho tên Miên Tuyên, hoàng tử thứ hăm hai cho tên
    Miên Long, hoàng tử thứ hăm ba cho tên Miên Thực. Từ sau đó sinh hoàng tử, đầy 100 ngày làm lễ bảo kiến [ẵm đến ra mắt vua] thì chiếu theo đế hệ mà cho tên. Khi đã cho tên mới thì tên cũ thôi hẳn, không dùng nữa. Bọn hoàng tử các ngươi đều phải biết tự mình ra sức, tuổi và đức đều tiến, việc học siêng năng, gắng thêm tấm lòng trung hiếu, dốc thêm lòng hữu ái, mà nhận lấy tên tốt ấy và hưởng phước lâu dài”.
    Định lệ các địa phương tâu báo tình hình động tĩnh. Thừa Thiên, Quảng Trị mỗi tháng một lần báo ; Quảng Nam, Quảng Bình 2 tháng một lần báo ; Quảng Ngãi trở vào Nam, Nghệ An trở ra Bắc mỗi quý một lần báo.
    Thuộc viên ở phủ Kiến An công là Trần Văn Nghị và thuộc viên ở phủ Diên Khánh công là Lê Văn Khoáng giả thác giáo từ của 2 công xin trưng đầm Ô Loan ở Phú Yên. Trấn thần đều nhận cho. Đến khi đấu giá thì cho Khoáng lĩnh trưng. Nghị đem việc ấy đi kiện. Vua cho là các hoàng tử tước công lệ không được gửi tờ ra ngoài mà trấn thần Nguyễn Văn Tài và Lê Văn Quảng không nên nhận riêng, phạt bổng 3 tháng. Bọn Khoáng và Nghị cậy thế cửa quyền ép buộc trưởng quan, đều phải 80 trượng. Thuế đầm cho người khác trưng. Dụ rằng từ nay các hoàng tử tước công không được can dự việc ngoài. Các nha trong ngoài nếu không phải việc công cũng không được thiện tiện nhận tờ gửi đến, làm trái thì xử theo luật vi chế.
    Tha thuế thân cho các lạp hộ ở Quảng Ngãi (lạp hộ, 12 người, mỗi năm nộp 15 cân ngà voi).
    Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất dâng biểu xin vào yết kiến. Vua y cho. Chuẩn cho đem theo binh các vệ đội bộ hạ là Hậu bảo, Hậu sai, Hậu thuận, Hùng dũng, Định uy, Cự uy. Sai Phó tổng trấn Lê Văn Phong thay giữ việc ấn Tổng trấn. Chất ở thành tiêu riêng 3.800 quan tiền và 800 hộc thóc, đặc ân tha cho.
    Lấy Cai đội Thị trung là Trần Văn Hiên làm Phó vệ uý Hữu vệ dinh Hổ oai, Cai đội Thần sách là Nguyễn Văn Linh làm Phó vệ uý vệ Trung bảo nhất.
    Chuẩn định từ nay chương sớ và án tâu sách tâu của các địa phương hễ đến bộ thì phải tâu ngay lên đợi chỉ. Như có chỉ giao bộ thì bộ theo lệ mà xét lại tâu lên.
    Xây đắp thành phủ Hà Hoa, trấn Nghệ An, phát 3.000 người quân Thần sách đến làm (mỗi người tháng cấp 7 quan tiền 2 phương gạo). Thành xây xong, thưởng từ Giám tu trở xuống Ký lục, bạc, lụa và tiền theo thứ bậc. Sai Vệ uý vệ Uy võ là Lê Mậu Cúc đem quân đóng giữ.
    Vua đến cửa biển Thuận An xem đài Trấn Hải.
    Đạo thần Ninh Bình là Nguyễn Văn Tạo và Lương Vân tâu rằng trời nắng hạn, dân đói, xin phát thóc bán. Vua quở rằng : “Trẫm đã giao cho bọn ngươi chức vụ chăn nuôi dân thì việc đau khổ của dân phải nhận làm điều lo của mình. Gần đây mưa không đúng tiết, bọn ngươi đã thành tâm cầu đảo hay chưa, trong tờ tâu không thấy nói đến. Rồi bỗng chốc kêu đói, bỗng chốc xin bán thóc, sao lại khinh suất đến thế ? Như quả có tình hình ấy thì sao vài tháng nay im lặng không tâu báo ? Gần như giấu giếm tai nạn đấy. Vậy phải tâu lại rõ ràng ngay”. Khi tờ tâu lên, phần nhiều là nói hàm hồ. Giao xuống bộ bàn. Giáng bọn Tạo 2 cấp. Cho dân hạt ấy thuế thóc vụ hạ được giảm giá nộp thay bằng tiền 6 phần 10.
    Thanh Nghệ và năm nội trấn Bắc Thành giá gạo lên cao. Vua nghe tin, bảo Hộ bộ rằng : “Trẫm thiết tha lo trước, phàm có thể nào giúp được dân ta thì quyền nghi cứu tế, chứ có tiếc gì ! Thuế ruộng vụ hạ của các hạt cho đều nộp thay bằng tiền như lệ Ninh Bình”.
    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng 564 người Quý huyện Tống Sơn bổ làm Trung vệ dinh Hổ oai, lệ định mỗi năm cấp thóc lương cho mỗi người 12 phương, cứ 2 tháng trọng xuân trọng thu thì lĩnh. Nay nhân giá gạo đắt, họ xin lĩnh trước số thóc lương kỳ trọng thu để nhờ được nuôi vợ con. Vua y cho.
    Đổi dựng miếu công thần ở Phú Yên. Trấn thần là bọn Nguyễn Văn Tài bắt dân đi lấy gỗ, phải phạt bổng 6 tháng.
    Tiết Vạn thọ. Vua ngự điện Thái Hoà nhận lễ mừng. Trước một ngày, cho văn võ từ Tòng ngũ phẩm trở lên và uỷ viên các địa phương ăn yến ở điện Cần Chính và ở công thự văn võ hai bên tả hữu vu. Đến ngày, lễ khánh hạ xong, lại ban yến cho văn võ từ Tam phẩm trở lên ở điện Cần Chính. Từ đây hằng năm lấy làm thường lệ.
    Thưởng cho nhạc vũ sinh 300 quan tiền và thợ các cục thuộc Nội tạo và Vũ Khố 100 quan tiền.
    Giảm thuế thân năm nay cho Thừa Thiên 4 phần 10.
    Chuẩn cho quan viên ở Kinh và ngoài từ năm Minh Mệnh thứ 3 trở về trước mà nhân việc công phải giáng lưu thì được khai phục 1 cấp ; bị phạt bổng ghi sổ thì đều được miễn.
    Sửa cầu Lý Hoà ở Quảng Bình (49 gian dài 62 trượng 6 thước 5 tấc, rộng 6 thước). Sai bọn Tống Phước Thảo là Quản cơ Thuỷ quân trông coi công việc, cấp tiền mua gỗ và vật liệu hơn 2.600 quan.
    Hoãn công việc sông Vĩnh Tế. Vua cho là thời tiết tới mùa hạ, công việc đào sông chỉ còn hơn 1.700 trượng (dòng sông hiện đã thành hơn 10.500 trượng, chi tiền hơn 515.200 quan, gạo hơn 99.400 phương), sai đình việc, cho binh dân về. Thưởng cho Lê Văn Duyệt gia 1 cấp và đoạn mãng đoạn hoa đều 1 tấm ; Trương Tiến Bửu và bọn giám tu chuyên biện được thưởng kỷ lục và bạc lụa theo thứ bậc ; thưởng vóc lụa cho quốc vương Chân Lạp ; các quan Phiên đốc biện cũng cho áo quần. Lại cho Lê Văn Duyệt đai ngọc. Dụ rằng : “Trẫm nghĩ khanh khi xưa theo vua đã có công lao, giữ hết lòng trung, cho nên Hoàng khảo ta dặn lại giúp trẫm.
  • Chia sẻ trang này