0059.029 - @ThanhVan (done)

30/11/15
0059.029 - @ThanhVan (done)
  • PDF
    GoogleDocs


    Trước nhân đất Gia Định ở giáp nước Phiên nên sai khanh làm Tổng trấn. Từ khi khanh giữ việc đến nay thì dẹp yên giặc Chân Lạp, tiếp đến tra xét đinh lậu, thêm lên hơn vạn hộ khẩu. Nay lại tự mình đốc suất việc đào sông để thành cái chí noi theo việc trước của trẫm. Làm tôi siêng năng duy khanh là hơn cả, cho nên hậu thưởng. Từ trước đến nay các hoàng tử tước công chưa từng cho đeo đai ngọc. Nay nghĩ khanh công trước vốn đã rạng rỡ, lại dựng được công mới, nên đặc cách ban cho. Khanh càng nên dốc lòng trung thành, cố gắng hơn nữa”.
    Cấm thị vệ được sai ra không được yêu sách quà cáp. Dụ rằng : “Thượng trà, Tiểu sai, Nội hầu, là người thị vệ tả hữu, gần đây nghe nói chúng phụng mệnh sai ra, nhiều kẻ nhân việc công mà yêu sách riêng, ai hối lộ nhiều thì cho là phải, hối lộ ít thì cho là trái. Tuy trẫm khi lâm sự tất phải xét lời nói, chắc là bọn tiểu nhân ấy cũng khó dối trá được, song bọn tập theo thói xấu ấy sao lại dung cho ở ngoài ăn hối lộ mưu lợi riêng ? Lại có một bọn xoay càn, công nhiên thu tiền bạc để làm lộ phí. Vả việc sai phái đã định cách thưởng, tư cấp đi về không đến nỗi thiếu. Từ nay thị vệ ra ngoài dám nhận quà cáp của người thì chiếu luật “bất uổng pháp” (1) tình trạng xử phạt nặng hơn thêm 1 bậc. Nếu cưỡng bách và dọa nạt thì chiếu luật “uổng pháp”(2) tính tang xử nặng hơn 1 bậc. Quan địa phương đút lót riêng thì giao bộ bàn xử”.
    Chuẩn định từ nay các địa phương giải phát tù quân lưu về Kinh để chuyển giao đi đày, thì Quảng Trị do đường bộ ; Quảng Nam trở về Nam, Quảng Bình trở ra Bắc, đều do đường thuỷ ; lại tù sung quân đến nơi phối dịch thì mỗi tháng cấp cho 1 phương gạo.

    (1) Bất uổng pháp : dẫu có ăn hối lộ của người, nhưng phân xử đúng đắn không trái phép.
    (2) Uổng pháp : ăn hối lộ mà xử đoán trái phép. (Xem : Hoàng Việt luật lệ, quyển XVII, tờ 2 và tờ 3).

    CHÍNH BIÊN


    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXI


    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ


    Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa hạ, tháng 5, lấy Vệ uý vệ Hiến dũng là Tôn Thất Tình làm Vệ uý vệ Hộ lăng (trật Chánh tam phẩm), quản lĩnh các vệ Hộ lăng. Sai chế ấn đồ ký vệ Hộ lăng bằng đồng cấp cho. Trước đây phía ngoài cột gạch mốc giới của sơn lăng thất hoả, cháy lan đến chân núi Ngọc Đường, vài trăm cây thông bị sém vàng. Chánh giám sơn lăng sứ là Tôn Thất Đạo vì phòng giữ không cẩn thận bị giáng 3 cấp, và đánh 40 roi ; bọn Chánh đội trưởng Tôn Thất Tại đều bị đóng gông, phạt trượng và cách chức lưu lại để gắng sức chuộc tội ; Thiêm sự Lê Đường Anh thì giáng một cấp. Tôn Thất Đạo sau đổi làm Phó vệ uý vệ Hộ lăng (trật Tòng tam phẩm). Vài tháng sau, cây thông lại xanh tốt, cho Tôn Thất Đạo làm Vệ uý vệ Hộ lăng trung. Bọn Tôn Thất Tại đều cho khai phục.

    Thưởng cho hoàng trưởng tử và các hoàng tử Miên Định, Miên Nghi, Miên Hoành và Miên An mỗi người 1 lạng vàng, 20 lạng bạc.

    Tết Đoan dương. Vua ngự điện Thái Hoà. Lễ khánh hạ xong, sắc cho bộ Lễ, từ sau các tiết Vạn thọ, Chính đán, Đoan dương, đều cho đặt tiệc ban yến theo thứ bậc.

    Bắt đầu đặt Giáo thụ các phủ và Huấn đạo các huyện.

    Bộ Lễ bàn rằng từ Quảng Bình trở vào Nam, hạt nào có một phủ đã đặt đốc học thì xin thôi chức giáo thụ ; từ Nghệ An trở ra Bắc thì các phủ huyện dọc biên giới nên đợi văn hoá thấm nhuần rộng khắp rồi sẽ đặt. Ngoài ra hạt nào nên đặt giáo thụ thì do đình thần chọn cử. Đến như huấn đạo, viên số nhiều quá, xin hạ lệnh cho ở Kinh thì các quan Tứ phẩm trở lên, ở ngoài thì các quan địa phương, đều cử người mình biết, hoặc hương cống các khoa, hoặc sĩ nhân còn sót, mà có học hành tuổi tác, chỉ rõ tên mà bảo cử.

    Vua theo lời bàn. Sai hữu ty chế cấp cho dấu đồ ký bằng gỗ. Giáo thụ thì cấp cho 4 người thuộc lệ (1) ở phủ, Huấn đạo cấp cho 3 người thuộc lệ ở huyện.

    (1) Thuộc lệ : tức là lính lệ.

    Lấy Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán làm Thái thường Tự khanh, Thiêm sự Lễ bộ là Phan Huy Thực làm Quang lộc Tự khanh, đều làm công việc bộ Lễ.

    Sai binh lính hai vệ Thần uy, Chấn uy, cơ Ngũ thuỷ, cơ Kiên chu, đi lấy gỗ đóng thuyền Thuỵ long. Sai Chưởng cơ là bọn Nguyễn Văn Chấn và Nguyễn Văn Thắng hiệp cùng với Vệ uý Nguyễn Tài Năng coi đóng theo kiểu thuyền lớn của Tây phương. Chấn, Thắng lấy cớ không hiểu việc đóng thuyền từ chối. Vua bảo bộ Công rằng : “Chấn, Thắng vốn là người Tây, Hoàng khảo ta nghĩ thương có một chút công lao, đặc cách cho họ tên, lại đề bạt đến chức hàm nhị phẩm. Sau khi đại định, chưa từng sai phái việc gì. Nay trẫm thấy chúng vốn có tiếng là giỏi về thuỷ, thông thạo binh thuyền, cho nên sai hiệp cùng Tài Năng coi đóng thuyền Tây. Chúng đã không muốn, trẫm cũng không bắt ép”. Sai Tài Năng đốc suất binh thợ mà làm. Thuyền đóng xong, thưởng cho 2.000 quan tiền.

    Đổi định lệ phái người giải chở vật hạng cho các địa phương từ Quảng Nam vào Nam. Lệ trước hằng năm thường chở vật hạng về Kinh, các dinh trấn thần từ Quảng Nam đến Gia Định chia lượt nhau đi trông coi. Vua bảo bộ Lại rằng : “Quan địa phương có trách nhiệm vỗ nuôi nhân dân. Các việc lớn nhỏ trong hạt tất phải cùng bàn bạc mới có thể xong xuôi, há nên vắng lâu hàng tuần hàng tháng được sao ? Vả lại từ trước đến nay những lễ tiết lớn mà các dinh trấn thần về Kinh chiêm bái thì tất phải được chuẩn lời tâu, huống chi giải chở là việc hàng năm. Từ nay đến kỳ vận tải các dinh trấn đều chọn một viên văn giữ sổ sách hoá hạng và lương tiền ; lại chọn một viên võ thông thuộc đường biển, đem binh đi hộ vận. Duy các trấn ở Gia Định thì chọn uỷ thuộc viên ở trấn theo phái viên ở thành mà đi trông coi”.

    Lấy Hàn lâm viện Thừa chỉ Hứa Đức Đệ và Hoàng Quýnh làm Thượng bảo Thiếu khanh, sung biện công việc Văn thư phòng.

    Ngày Giáp tuất, sửa chữa Thái miếu, Thế miếu. Sai Tống Phước Lương, Trần Văn Năng, Nguyễn Đức Huyên, Trần Văn Tính trông coi công việc. Rồi sai bộ Lễ đặt toà Thần ngư ở tầng trên và tầng giữa hai gác Mục thanh và Hiển lâm. Chế lỗ bộ của Thái miếu. (Phiệt [thếp] vàng 10 cái ; phướn truyền giáo, phướn cáo chỉ và phướn tín, mỗi thứ 2 cái ; cờ báo vĩ, cờ vũ bảo, giáo báo vĩ, búa nghi hoàng, kích ngù lông, qua ngù lông, đinh ba nằm có ngù lông, đinh ba thẳng, giáo chuôi dài bên văn, giáo chuôi dài bên võ, búa con [thếp] vàng, gậy kim ngô, mỗi thứ đều 4 cái).

    Chế thêm lỗ bộ của Thế miếu (đinh ba thẳng, đinh ba nằm, giáo chuôi dài bên văn, giáo chuôi dài bên võ, búa [thếp] vàng, mỗi thứ đều 4 cái).

    Hoãn công việc xây mặt sau Kinh thành. Dụ rằng : “Mặt trước Kinh thành từ tháng 3 đến nay sửa chữa vẫn chưa xong. Nhân nghĩ việc thành trì chỉ cốt lấy vững bền, không cần chóng xong, cho nên có lệnh răn bảo chớ làm vội, để đỡ khó nhọc. Từ sang mùa hạ đến nay, khí nắng nồng nực, tuy công tác có trình hạn không đến nỗi mệt nhọc, nhưng lòng trẫm nghĩ đến binh lính chưa từng phút quên trong giây phút, há nỡ sai khiến lâu ngày không cho nghỉ vai ư ? Vậy công trình mặt sau thành tạm chờ sang xuân sẽ làm”.

    Chuẩn định từ nay sách tâu thanh tra về việc tiêu tống (1) ở các thành dinh trấn và các nha môn, chỗ viết niên hiệu thì đóng ấn “Ngự tiền chi bảo”, chỗ biên số mục thì đóng ấn “Văn lý mật sát”.

    (1) Tiêu tống : tiêu là việc chi tiêu lấy ở kho công, tống là việc vận tải của kho.

    Định trình hạn làm việc cho các nha môn sáu bộ. Phàm gặp việc quan trọng khẩn cấp, có chỉ khiến bàn ngay, tra ngay, làm ngay, thì trong năm ngày phải tâu lại. Nếu không thể đúng hạn thì trình bày lý do ngay tâu xin thêm hạn. Làm trái thì tuỳ nặng nhẹ mà nghiêm nghị. Việc tầm thường thì cho trong một tháng phải làm xong ; việc giản dị thì không kể hạn ấy.

    Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất đến Kinh, vào yết kiến ; nhân xin về Bình Định thăm mẹ. Vua cho, ban cho người mẹ là Đào thị (ân phong phu nhân) mũ áo nhị phẩm.

    Sai đình thần chọn quan sung chức giáo đạo hoàng tử. Vua dụ rằng : “Từ xưa nhà nước được lâu dài toàn nhờ ở bậc nguyên lương (2); mà dẫn bảo cho thành tài tất phải nhờ công dạy nuôi từ lúc nhỏ. Cho nên đời Minh, Thanh trở về trước, hoàng tử ra Các học tập thì phải khéo chọn thầy bạn, trước sau là người ngay thẳng, mới có thể ngăn được thói bậy, ngày càng trở lại lẽ trời, để thành tài khí lớn của Tôn miếu. Trẫm khi tuổi nhỏ, trên đội ơn Hoàng khảo ta nhiều cách dạy bảo, nên có ngày nay. Nghĩ lại ơn sâu răn dạy, khôn xiết đau lòng, đến chảy nước mắt, nghẹn ngào không ngừng, cho nên bên tai hình như thường văng vẳng tiếng trời. Nhân nghĩ từ trẫm lên ngôi đến nay, lấy Tôn Miếu Xã Tắc là việc quan trọng, không dám khinh dị về sự chọn người. Lại thêm các hoàng tử tuổi còn trẻ thơ, cho nên ngôi thái tử còn chưa phong. Nay trong bọn hoàng tử tuổi hơi lớn có bốn người, tất phải chọn được người làm thầy bạn mới có thể dạy dẫn nên người. Bọn khanh nên giữ đạo công, kén chọn ở trong văn ban không kể là quan trong triều hay quan ở ngoài, chỉ cần được người vốn có học hạnh, giữ lòng công chính, có thể làm nổi chức trách chức trách thầy bạn thì chỉ tên bảo cử : quan Tam phẩm trở lên hai viên, Tứ ngũ phẩm hai viên, Lục thất phẩm bốn viên, đợi trẫm chọn dùng, để cho ngày ngày thường thay trẫm dạy bảo bọn hoàng tử, khiến chăm việc học, gần người ngay, đôn đốc khuyên bảo điều hiếu thuận, mài giũa cho đức nghiệp tiến lên ; khiến học vấn cùng tính tình nên tốt, đức hạnh cùng với tuổi lớn lên, để sẵn sàng cho việc chọn người chủ tế tự nối dòng dõi ngày sau cho trẫm, như thế thì cơ nghiệp lớn, nền móng thịnh của Nhà nước được bền vững lâu dài”. Rồi sai Cần Chính điện học sĩ biện lý Binh bộ là Nguyễn Đăng Tuân cùng Tham tri Hình bộ là Ngô Đình Giới đều lấy bản chức mà sung chức giáo đạo, lấy Tham hiệp Cao Bằng là Nguyễn Đăng Sĩ làm Hàn lâm viện Thị độc học sĩ và Lang trung Lại bộ là Bùi Tăng Huy làm Hàn lâm viện Thị độc, sung chức tán thiện ; Tri huyện Từ Liêm là Hoàng Văn Đản làm Hàn lâm viện Biên tu, cùng với bọn Biên tu sung trực học là Doãn Văn Xuân, Trương Đăng Quế và Kiểm thảo Đoàn Nguyên, sung chức bạn độc. Lại sai kiêm lý việc các vệ Hộ vệ ở phủ hoàng tử.

    (2) Nguyên lương : chỉ ngôi thái tử.

    Định quy trình cho Tập thiện đường (chỗ các hoàng tử học). Bọn Ngô Đình Giới tâu rằng : “Việc học của vương công cùng việc học của học sinh khác nhau. Về phép học thì sách vở đã chép đủ, từ khi bọn thần nhận chức đến nay, ngày tìm các sách cũ, hoặc trích lấy các câu vặt ở văn đời Thanh, hoặc xen thêm ý kiến của mình, tuỳ nghi lập tắc để xây dựng nền tảng dạy trẻ buổi đầu. Còn như việc tròn thành đức tốt, thì sách vở rõ ràng, không thể kể hết. Nay xin định quy trình giảng học tất cả 11 điều :
    1. Các sách giảng học (Kính xét bài tựa Lạc thiện đường toàn tập của Cao Tông nhà Thanh ngự chế, nói : “Ta sinh, 9 tuổi mới đọc sách, 14 tuổi học làm văn, nay đã 20 tuổi, trong khoảng ấy sớm hôm theo học thì có Tứ truyện, Ngũ kinh, Tính lý, Cương mục, Đại học diễn nghĩa, Cổ văn uyên giám”. Đó là khi Cao Tông đương làm hoàng tử, tự nói học những gì. Vả các sách ấy ghi chép đầy đủ những điều chứa kín của thánh hiền, những việc chính sự của các đời, trong học đường nên đem mà giảng).

    2. Trích yếu kinh sử (Tứ truyện, Ngũ kinh từ đời Tống trở xuống, sau khi đã qua các bậc chân nho nêu nghĩa rõ ràng, thì số quyển giảng giải chú thích rất nhiều, trâu kéo cũng mệt. Trong đó có bộ thuần tuý, có bộ bác tạp. Sử thì ngoài bộ Tư trị thông giám của Ôn công và bộ Cương mục của Chu tử, những tập trích tuyển số lượng rất nhiều, mà lấy bỏ không giống nhau, khen chê cũng đều khác, phi người học thâm thuý thì không thể cứu xét ý chỉ mà hợp nhất các thuyết. Cho nên các vua nhà Đại Thanh nhiều lần sai nho thần hội đồng sửa soạn làm thành sách riêng của một đời, gọi là các sách Khâm định, Ngự định, Ngự toản, Ngự phê, đều lấy trí của mọi người mà thành sách và theo sự định chính ở bề trên, ý nghĩa nhất định, có chỗ theo. Nay sách học ở học đường, xin ngày thì giảng Tứ thư giải nghĩa, ngày thì giảng Thư kinh giải nghĩa, ngày thì giảng Lễ ký giải nghĩa, ngày thì giảng Xuân Thu giải nghĩa, ngày thì giảng Dịch kinh giải nghĩa, Ngự toản thi nghĩa chiết trung, Ngự định Hiếu kinh, Tập chú Hiếu kinh, Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm, định làm sách giảng luận, ban cho các vị học tập. Còn các sách Ngự toản Chu dịch chiết trung, Khâm định Thi thư Xuân Thu truyện thuyết vựng toản, Khâm định tam lễ nghĩa sớ, Ngự phê Tư trị thông giám cương mục, Ngự toản Xuân Thu trực giải, Ngự toản Chu dịch thuật nghĩa, thì xin chứa ở học đường để tra cứu. Đến như các sách học thường của dân gian, như Ngũ kinh Tứ thư và các sách Cương giám, Thiếu vi, đều là sách riêng của một nhà, có chú ý khác nhau, xin để làm sách bị khảo, không đem giảng học).

    3. Thứ tự giảng đọc. (Các hoàng tử vào học, bắt đầu học tiểu học ; xong rồi tiếp đến Tứ thư, học xong thì theo thứ tự giảng Ngũ kinh, xen lẫn với sử. Phàm sách kinh sách thư, giảng đến thiên nào, cần phải gấp sách đọc lại bản văn cho thuộc lầu, khiến cho thấm nhuần lời nói của thánh hiền. Sử thì chép việc làm ở các đời, chỉ cốt học cho rõ sự tích thì thôi, bất tất gấp sách đọc thuộc).

    4. Hạn lệ ngày học. (Ngày lẻ học Tứ thư hoặc Ngũ kinh, trước học ý nghĩa chính văn, thứ đến lời chú để phát minh thêm. Ngày chẵn thì học sử, tách bạch ý nghĩa, khiến cho sự tích các đời cùng ý tứ sâu xa của sử gia đều được hiểu biết. Như lại muốn hiểu hết chế độ một đời và sự tích người làm tôi thì có Nhị thập nhất sử (1) và Tam thông loại thư (2), các sách ấy có thể tham khảo lẫn nhau. Đến như các sách tiểu thuyết, diễn kịch ở hàng phố bán thì không nên cho để mắt mà đãng tâm trí).

    (1) Nhị thập nhất sử : các bộ sử các đời, từ Sử ký đến Minh sử.

    (2) Tam thông loại thư : các sách Thông điển, Thông chí, Văn hiến thông khảo.

    5. Hạn lệ tới học. (Về buổi sớm, đồng hồ chuyển lần thứ hai thì đều đến học đường gấp sách đọc bài học hôm trước ; chuyển lần thứ ba thì giảng quan khai giảng xong, đều duyệt qua mấy lần, cho văn nghĩa hơi hiểu, chuyển lần thứ 7 thứ 8 thì cho về phủ. Buổi chiều đồng hồ chuyển lần thứ 7 thì đều đến học, hỏi chỗ khó ; mặt trời lặn thì về).

    6. Lệ chầu thăm. (Mỗi tháng hai ngày vọng (rằm) hối (cuối tháng) đến hầu cung Từ Thọ. Hai ngày ấy đình giảng ; ba ngày mồng 1, 11, 21 vào trực ở chính điện, buổi sớm vào trực buổi chiều đi học ; ba ngày 6, 16, 26, buổi sớm đi học, buổi chiều đồng hồ chuyển lần thứ 6 thì vào hầu ở điện Quang Minh và đem sách học đợi [vua] hỏi).

    7. Cưỡi ngựa bắn cung. (Người xưa nói : “Có văn sự tất có võ bị”, mà bắn để xem đức hạnh, cưỡi ngựa để tập quen khó nhọc, việc võ thực không thể thiếu. Mỗi tháng ba lần, khi học rỗi thì cho tập cưỡi ngựa ; còn học bắn phải đợi chuẩn tâu).

    8. Tả hữu không dùng người xấu. (Phàm biền binh tôi tớ hầu hạ ở tả hữu có dâng trò chơi để cầu vừa lòng và xui giục làm việc phi lý, biết ra thì trị tội đuổi đi).

    9. Đi hầu giá tất phải mang người dắt dẫn giúp đỡ. (Phàm xa giá đi xa, hoàng tử dự theo hầu, thì bạn độc hoặc tán thiện cho đi cùng, sớm tối cùng ở để phòng khuyên răn điều có ích).

    10. Kỳ báo sách ghi. (Mỗi tháng những ngày mồng 6, 16, 26 đem quyển sổ nhật ký của học đường nộp Văn thư phòng, để phòng xét nghiệm buổi học buổi nghỉ).

    11. Trực nhật chủ thủ. (Học đường có chứa các sách công và đặt đồng hồ cát để xem thời khắc buổi học. Mỗi phủ phái uỷ một người thuộc lại cắt lượt trực nhật vâng giữ và ghi sách nhật ký).

    Vua khen phải. Bọn Đình Giới lại xin chuẩn định vị thứ ngồi giảng nghe giảng cùng nghi thức tiến lui khi hoàng tử vào học, và chức vụ của tán thiện, bạn độc, để làm lệ thường. Bèn sai bộ Lễ bàn tâu để thi hành. (Chính giữa nhà đặt một án sách, đặt vị ngồi giảng ở phía tây, 2 viên phụ đạo cùng một chiếu, 2 viên tán thiện cùng một chiếu, 4 viên bạn độc cùng một chiếu, đều ngoảnh về hướng đông. Đặt vị ngồi nghe giảng ở phía đông, các hoàng tử mỗi người một chiếu, phía trước đặt một kỷ sách, đều ngoảnh về hướng tây, chiếu nhất ở dưới vị phụ đạo. Ngày thường, buổi sớm đồng hồ chuyển lần thứ 1, từ phụ đạo trở xuống đều đến ; chuyển lần thứ 2, các hoàng tử lần lượt đến, tán thiện và bạn độc đều đứng dậy. Các hoàng tử ngồi yên, tán thiện và bạn độc lại ngồi. Các hoàng tử gấp sách đọc bài học hôm trước, xong thì phụ đạo khai giảng. Các tán thiện và bạn độc hiệp đồng dẫn bảo rõ ràng. Giờ tỵ giảng xong, các hoàng tử đứng dậy. Tán thiện và bạn độc đều đứng dậy. Các hoàng tử vái chào phụ đạo, xin lui ; phụ đạo chắp tay đáp lễ. Các hoàng tử về phủ. Từ phụ đạo trở xuống đều lui. Giờ thân lại đều đến, hỏi các điều khó ; xong lại đều lui, tiết thứ tiến lui như trước. Hằng năm, cuối tháng chạp, đến ngày phong ấn thì nghỉ giảng. Sáng sớm hôm ấy, phụ đạo trở xuống mặc áo bổ phục (áo có bổ tử) ngồi ở bản vị phía tây. Các hoàng tử mặc áo bổ phục lần lượt đến. Phụ đạo vẫn cứ ngồi. Hai viên tán thiện ra đứng trên thềm phía tây, bốn viên bạn độc ra đứng dưới thềm phía tây, đều ngoảnh hướng đông. Các hoàng tử ở trên thềm gian chính giữa, hướng vào án lạy 2 lạy. Phụ đạo đứng lên nhận lễ, vẫn ở bản vị làm lễ đáp tạ 1 lạy, lễ xong đứng ngoảnh về phía đông. Các hoàng tử lui ra đứng trên thềm phía đông, hướng về phía tây. Tán thiện và bạn độc ở trên và ở dưới thềm phía tây bước xuống, hướng vào các hoàng tử làm lễ 1 vái. Các hoàng tử vái đáp. Lễ xong, vẫn đều chiếu bản vị ở đông tây mà ngồi, khoản tiếp một lần rồi lui. Sau ngày khai ấn sang năm, Khâm thiên giám chọn ngày tốt, tâu xin khai giảng. Ngày ấy gặp nhau, lễ tiết đều theo như trước. Tán thiện và bạn độc lại thường tới các phủ đệ để phát minh nghĩa lý của thánh hiền và bàn bạc về sự thành bại ngày xưa, tuỳ việc mà khuyên răn).

    Sai Tham tri lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Đoàn Viết Nguyên kiêm lý việc giấy tờ ở thành.

    Thanh Nghệ có giặc biển ; sai hai trấn phái binh thuyền lùng bắt.

    Chưởng cơ Thuỷ quân là Nguyễn Văn Hạnh quản 35 chiếc binh thuyền chở vật hạng ở kho Bắc Thành tới Kinh. Lại chở chuyến thứ hai, gặp mưa lụt, thuyền đến biển Liêu, ngược dòng khó đi. Thành thần lo muộn, thuê thuyền dân chở cách tuần nhật thì về. Vua cho là thành thần khéo điều độ, xuống dụ khen ngợi. Thưởng cho Văn Hạnh 3 tấm sa và kỷ lục 1 thứ, cho thuyền hộ 300 quan tiền.

    Trong kinh kỳ bị hạn, sai cầu đảo ở miếu Nam Hải long vương. Mưa to.

    Thanh Nghệ và Ninh Bình bị hạn, đói. Vua bàn xây đắp thành hai phủ Diễn Châu và Tĩnh Gia và thành đạo Ninh Bình, lấy công thay chẩn. Sai chọn phái 6 người lang trung chủ sự chia đi hội đồng với trấn thần đạo thần phát tiền gạo thêm giá mà thuê dân làm và sắm vật liệu. Sau vì tháng tám mưa lụt, bèn đình công việc. Duy có phái viên ở phủ Diễn Châu là Lang trung Nguyễn Hữu Dực và Chủ sự Trương Minh Giảng khéo xếp đặt, dân đến làm thuê nhiều, khỏi bị đói mà việc cũng thành công. Vua khen lắm, thưởng kỷ lục đều 1 thứ.

    Thăng huyện Tân An, trấn Vĩnh Thanh làm phủ Hoằng An, tổng Tân Minh làm huyện Tân Minh, tổng An Bảo làm huyện Bảo An.

    Đặt Tri phủ phủ Hoằng An (kiêm lý huyện Tân Minh), lấy Hàn lâm Biên tu Lê Quang thăng bổ chức ấy.

    Thành thần Gia Định tâu rằng các trấn thuộc thành phần nhiều là ngả sông và đất rừng mà ở tổng chỉ có một người cai tổng, thế khó trông coi cả được, xin đặt thêm một người phó tổng ngoại uỷ. Vua y cho.

    Lấy Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Bá Uông làm Thiêm sự Hộ bộ, sung biện Hộ tào thành Gia Định.

    Người xã Hoàng Xá, trấn Sơn Tây (thuộc huyện Yên Lãng) là Lưu Bá Cung dâng nói : “Trộm nghe thấy phía ngoài cửa Nam thành Thăng Long có đình Quảng Minh. Khảo xem Đường sử thì Quảng Minh là niên hiệu vua Hy Tông. Có người thuật sĩ chiết tự rằng : Một người tự trong hang núi mà ra, họ Hoàng, chân tả đạp mặt trời, chân hữu đạp mặt trăng, thiên hạ tự đó rối loạn. Sau đó có loạn Hoàng Sào, đúng như lời ấy. Nay xin tìm chọn chữ hay đổi dựng biển ngạch đình ấy”. Vua nói : “Đình Quảng Minh chẳng qua là một đình nhỏ ở trấn ngoài. Cung là dân thường, sao dám viện dẫn nói bậy tâu nhảm”. Giao bộ Hình xử 100 trượng để răn kẻ nói bậy.

    Chuẩn định phàm các đền miếu ở ngoài Kinh thành do nhà nước xây dựng thì viên kinh doãn thường phải xem xét, như có dột thấm hỏng nát, đáng tu bổ thì phải khám xét đích xác, hoặc lĩnh vật liệu, hoặc đặt tiền mua, trù tính công trình, tâu xin để tuân hành. Ghi làm lệ.

    Đình lại lệ tiền công và vật liệu đúc tiền cho cục Bảo tuyền Bắc Thành. (Tiền kẽm mỗi 100 cân, tiền công và vật liệu 3 quan 2 tiền 24 đồng 5 phân 9 ly, kém lệ trước 35 đồng 6 ly. Tiền đồng mỗi 100 cân, tiền công và vật liệu 5 quan 7 tiền 9 đồng 3 phân 2 ly, hơn lệ trước 22 đồng 8 phân 9 ly).

    Trong hạt Bình Định đầu mùa xuân rét lắm, mùa màng kém, trấn thần đem việc tâu lên. Vua đặc ân cho dân thuế ruộng năm nay nộp thay bằng tiền 5 phần 10.

    Nước Chân Lạp sai sứ vào cống. Sứ đến Gia Định. Thành thần đem việc tâu lên. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Nước Phiên thờ nước lớn, lễ phải nên thế. Nhưng năm ngoái lễ mừng Bắc tuần hồi loan đã có chỉ để trừ vào cống lệ năm nay, vậy cống phẩm lần này nên sai trả lại, sứ thần cũng miễn đến Kinh”.

    Đổi nhà Văn Võ công thự làm Tả Hữu triều đường (1). Lấy Tả triều đường làm chỗ họp bàn chính sự và thu nhận đơn kiện, gian chính giữa đặt hương án, các quan viên dự bàn ở gian tả hữu, xếp ngồi nhiều hàng, ngoảnh về hướng bắc. Khi hội nghị gặp có việc can thiệp đến bản nha thì cho phép tỵ hiềm không dự.

    (1) Văn võ công thự ở hai bên Tả vu và Hữu vu điện Cần Chính.

    Chuẩn định sổ ngạch hằng năm của ty Hữu Từ tế do Tôn Thất Dịch xét duyệt phê bằng. Làm mệnh mãi mãi.

    Sai lấy hơn 8.600 quan tiền lệ của Thương bạc thưởng cấp cho các hoàng tử tước công, phủ Tôn nhân và các quan chức văn võ theo thứ bậc.

    Lấy Phó vệ uý vệ Túc võ quân Thần sách là Vũ Văn Tín làm Thự vệ uý vệ Nghĩa võ, Khâm sai cai cơ vệ Tuyển phong tiền là Lê Văn Thường làm Phó vệ uý vệ Trang võ, Cai đội vệ Nghiêm võ là Ngô Ngọc Kim làm Phó vệ uý vệ Định võ, Cai đội vệ Dương võ là Tạ Quang Cự làm Phó vệ uý vệ Nghiêm võ.

    Lấy Hiệp trấn Sơn Nam là Vũ Xuân Cẩn làm Đại lý Tự khanh biện lý công việc Hình bộ, sai chế ấn quan phòng “Đại lý Tự khanh” bằng ngà cấp cho.

    Lấy Tế tửu Quốc tử giám là Vũ Xuân Biều làm Hàn lâm viện Trực học sĩ, Hiệp trấn Hưng Hoá là Nguyễn Hựu Bình lĩnh Tế tửu Quốc tử giám.

    Thống chế Thuỷ quân Đào Văn Lương coi chở vật hạng ở kho Gia Định đến Kinh. Lại sai lĩnh chở tiền kẽm ở kho Kinh 200.000 quan về chứa ở Gia Định.

    Cấp thêm giá mua đường cát cho Quảng Ngãi. (Giá đặt đường hạng nhất mỗi 100 cân 7 quan 5 tiền, đường hạng nhì 7 quan, đường hạng ba 6 quan 5 tiền, thêm giá cho mỗi 100 cân 1 quan). Vua bảo bộ Hộ rằng : “Việc đặt tiền mua đường đã có lệnh lượng tính thêm giá cùng phát trước tiền vốn và giảm giá mà phát thóc là muốn nhân việc làm lợi cho dân, nguyên không phải so kè vật giá cao hạ. Vừa rồi theo trấn thần tâu lên thì giá đặt đường so với giá chợ hơi kém, thực là trái ý làm ơn cho dân của trẫm. Vậy hạ lệnh cho thêm giá để cho đường hộ được đội ơn mà càng chăm nghề nghiệp để sống no đủ”.

    Tháng 6, sai Cai đội Nguyễn Đắc Suý và Hàn lâm viện Thị thư Trần Chấn đi Quảng Đông làm việc công.

    Quản cơ cơ Hữu dực Thuỷ quân là Vũ Văn Đoan quản hơn 130 chiếc thuyền tải ở Quảng Bình chở gạo lương ở Bắc Thành về Kinh, xin cấp khí giới để phòng bị. Sai cấp cho ống phun lửa 327 cây, giáo dài 687 cái. Nhân định hằng năm việc vận tải đường biển, cho chiếu số thuyền mà lĩnh khí giới, trở về lại nộp vào kho. Ghi làm lệ.

    Đổi thuộc lệ ở hai đàn Nam Giao và Xã Tắc làm đàn phu, người phục dịch, thuộc lệ và sái phu ở Văn Miếu cùng các miếu khác làm miếu phu, thuộc lệ ở chùa làm tự phu, sái phu ở mộ làm mộ phu.

    Chuẩn định từ nay 11 xã phường hộ lăng (Trúc Lâm, Long Hồ, An Ninh, Định Môn, An Bằng, Khê Xước, Kim Ngọc, Hải Cát, Cư Chính, Dương Xuân, La Khê) và 8 xã hộ thành (Phú Xuân, Vạn Xuân, An Hoà, An Vân, Thế Lại thượng, An Bảo, An Mỹ, Diễn Phái) dân đinh đến tuổi không được sung vào các nha môn.

    Ngày Quý mão, yết lăng Thiên Thụ.

    Giảm thuế ruộng bị hạn ở Thanh Hoa và Ninh Bình. (Thanh Hoa hơn 41.216 mẫu, Ninh Bình hơn 10.078 mẫu). Vua chuẩn lời bộ Hộ bàn cho vụ hạ này thóc thuế hai hạt ấy cứ án khám hễ phân số bị hại là 5 thì giảm 5 phần, bị hại là 6 thì giảm 6 phần, bị hại là 7 thì giảm 7 phần, bị hại 8 trở lên thì tha cả. Ngoài ra vẫn theo dụ trước chia phần mà nộp thay bằng tiền.

    Chia đội Thiện chu của Thuỷ quân làm hai đội nhất và nhị (số binh 94 người).

    Sai Phó vệ uý Thị trung là Hoàng Phước Tài án thủ đài Trấn Hải.

    Bổ thụ Hoàng Công Dương làm Thiêm sự Lễ bộ, vẫn kiêm quản chức Giám chính Khâm thiên giám.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Xã Lư Khê, châu Thuỷ Vĩ, trấn Hưng Hoá giới hạn giáp châu Văn Bàn, phía trên cách Bảo Thắng 2 ngày đường, phía dưới cách đồn Trấn Hà 1 ngày đường, mà ven sông đều khe núi, là nơi quan yếu trên đường :rose::rose::rose:
  • Chia sẻ trang này