0059.032 - @ nhani78 (Done WK)

19/11/15
0059.032 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    bộ Hộ 40.000 tờ, bộ Binh 30.000 tờ ; Nội Vụ phủ, giấy hội 200 tờ, giấy lệnh 20.000 tờ ; Vũ Khố, giấy hộ 200 tờ, giấy lệnh 10.000 tờ. Hàn lâm viện, Khâm thiên giám, Tào chính, Thương bạc và phủ Thừa Thiên, giấy hội đều 100 tờ, giấy lệnh đều 3.000 tờ ; kho Kinh, kho nội tàng, kho súng ống, kho thuốc đạn, giấy lệnh đều 3.000 tờ ; Nội tạo, giấy lệnh 5.000 tờ. Duy có bộ Lại phải làm sắc thì từ Tứ phẩm trở lên dùng giấy rồng bay, từ Ngũ phẩm trở xuống cùng dùng văn bằng của đình thần đều dùng giấy hội, cho được tuỳ việc chi tiêu, không định hạn).

    Chuẩn định từ nay, các việc công có chỉ do đình thần truyền chỉ thì đóng ấn công đồng, còn việc khác thuộc về nha nào thì đều tự tư báo, đóng ấn triện của bản nha ; duy quan viên văn võ được thăng điệu, bổ thụ, tới nơi làm việc thì do hai bộ Lại, Binh chiếu lệ tư đi. Ghi làm lệnh.

    Đổi định giá bạc. Đầu đời Gia Long, lệ định mỗi lạng bạc trị giá 2 quan 8 tiền, đến nay giá bạc ngày càng cao, định mỗi lạng bạc giá 3 quan tiền.

    Sai Biên tu Văn thư phòng là Vương Hưng Văn và Tư vụ Hộ bộ là Nguyễn Diên Niên đi Phú Yên hội đồng mua kỳ nam, trầm hương, tê giác và sa nhân. Dụ rằng : “Bọn ngươi nên thể ý trẫm muốn nước dồi dào, dân được lợi, theo thổ sản ít nhiều, định giá hàng cao thấp, cốt làm sao cho dân vui đem đến khiến chợ không hàng ế”.

    Triệu Án trấn Bình Định là Trương Phúc Đặng, Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Văn Quế, Trấn thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Soạn, thự Ký lục Quảng Trị là Trần Công Tuân vào yết kiến.

    Hiệp trấn Tuyên Quang là Phạm Tiến Lượng hà khắc nhũng lạm của dân, việc phát, phải tội giảo giam hậu. Lấy Tham hiệp Tuyên Quang là Trần Văn Toản làm Thự hiệp trấn Tuyên Quang, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ là Nguyễn Mậu Bách làm Thự tham hiệp Tuyên Quang.

    Truy phong Nguyễn Minh Biện là Đặc tiến phục quốc thượng tướng quân Thự vệ sự triều Lê làm Hựu chính phù binh trung đẳng thần. Minh Biện người xã Phạm Xá (thuộc huyện Tứ Kỳ), Hải Dương, là cha sinh ra Tĩnh hoàng hậu. Họ Trịnh vì họ ngoại lập đền ở làng, gặt tự điền 36 mẫu, miễn binh dao cho dân ấy để giữ việc thờ, đến nay dân ấy xin sửa lại đền. Vua sai đình thần bàn lại, đều cho là : “Tĩnh hoàng hậu thờ ở Triệu miếu, làm tự điển nghìn muôn đời không cùng, dân ấy sao được lạm thờ ? Duy Nguyễn Minh Biện là sinh ra Tĩnh hoàng hậu, làm quan nhà Lê đến chức to, sau khi mất mà dân còn nhớ phụng thờ, thì nên liệt vào chính thần và gia phong”. Vua theo lời bàn.

    Định lệ đóng ấn kiềm vào sách tâu của các nha môn. Phàm sách tâu của các nha như các việc đinh điền tiền lương, binh ngạch, từ tụng văn án, đều phải làm hai bản “giáp” và “ất”, duy có Tào chính và Thương bạc thì làm ba bản “giáp”, “ất” và “bính”, đều đóng ấn quan phòng hay đồ ký vào chữ mỗ nguyệt chỗ niên hiệu trong sách, cuối giấy thì ký tên. Bản giáp thì ở chỗ hai tờ giáp nhau và chỗ số mục, chỗ tẩy bổ, đều đóng dấu kiềm, do bộ duyệt lại, làm sách kê khai rõ bản giáp mấy bản dâng lên. Sau khi được chỉ, ở dưới chữ đề niên hiệu bản giáp, phê rằng : Tháng ngày mỗ, thần tên họ mỗ, vâng chỉ đã biết rồi, khâm thử. Rồi đóng ấn “Ngự tiền chi bảo” lên mặt chữ khâm thử, giao bộ phụng giữ. Bản ất thì ở trang sau niên hiệu viết mấy chữ : Bộ đường mỗ kính gửi nha môn mỗ lưu chiếu tuân làm. Đóng ấn bộ ở dưới. Lại ở chỗ hai tờ giáp nhau, chỗ số mục, chỗ tẩy bổ, đều đóng kiềm “Khâm ty”, theo nha mà gửi đi. Sách tâu của Tào chính và Thương bạc thì viên quản lý giữ bản giáp, còn bản bính thì đóng ấn kiềm rồi giao bộ Hộ lưu chiếu.

    Lấy Cai bạ Trần Xác làm Phó sứ ty Thương bạc. Bộ Lại tâu rằng : “Xác trước trật Tòng tứ phẩm, nay hàm mới trật Chánh ngũ phẩm mà chưa có chỉ giáng bổ thì cái sắc Tòng tứ phẩm có nên thu lại hay không ? Chưa dám tự tiện”. Vua nói rằng : “Xác làm việc tầm thường, nhưng tính còn thật thà, nên bổ cho chức này. Bản sắc Tòng tứ phẩm cho thu tiêu ngay. Từ sau có việc giống như thế, cứ theo lệ này
    mà làm”.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXIV

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa đông, tháng 11, quan Bắc Thành tâu rằng thóc lúa năm nay các trấn thu hoạch được 8, 9 phần 10.

    Vua bảo thị thần rằng : “Như thế cũng là được mùa rồi, địa thế Bắc Thành rộng rãi, năm nào hơi mất mùa, thì bọn bậy bạ thường hay dụ dân mọn đem nhau đi trộm cướp. Năm nay được mùa, dân ta đều vui no ấm, còn lo gì nữa”.

    Thái trưởng công chúa là Ngọc Tú chết. Chúa là con gái cả Hưng tổ Hiếu khang hoàng đế, lấy chồng là Cai cơ Lê Phước Điển, trong chiến dịch Điệp Thạch dữ [hòn đá chồng] năm Quý mão, Điển bị giặc bắt, chửi giặc mà chết. Chúa còn trẻ, nhưng vì nghĩa không lấy chồng khác. Từng nói rằng : “Điển làm tôi còn biết tử tiết, ta là vợ người sao dám có chí khác. Bao giờ lấy lại Kinh đô cũ, ta nên xuất gia thờ Phật thôi”.

    Thế tổ Cao hoàng đế khen có chí, năm đầu Gia Long dựng nhà cho ở phường Cam Thụy. Chúa nhiều lần xin cắt tóc, không cho. Đến nay ốm nặng, vua đến thăm, chúa khóc nói rằng : “Cắt tóc đi tu để thờ Phật là chí nguyện bình sinh, lòng ấy chưa được thoả, xin bệ hạ cho trọn nguyện. Sau khi tôi chết, xin đừng để tóc, khâm liệm bằng áo cà sa, tôi ở dưới chín suối cũng được mãn nguyện”. Vua cảm động lắm. Khi chúa mất, vua đem lời chúa nói với Kiến An công là Đài. Công tâu rằng : “Thân thể tóc da là của cha mẹ cho, lúc sống phải giữ toàn, chết về cũng phải để toàn, thế là lễ vậy. Bệ hạ trị thiên hạ, nên theo chính đạo bỏ dị đoan, điều chúa muốn không nên theo”.

    Vua cho là phải, bèn sai Đài cùng Diên Khánh công Tấn hội đồng với bộ Lễ mà trị tang. Nghỉ chầu 5 ngày. Tứ tế một đàn. Tặng Long thành thái trưởng công chúa, thụy Trinh Tĩnh. Sai bộ Lễ bàn việc thờ chúa. Bộ Lễ tâu : “Khi xưa Thế tổ Cao hoàng đế ta thường cho chúa nuôi Thường Tín công Cự, từ đấy ân tình nuôi nấng chẳng khác gì mẹ con trong nhà, xin lập Thường Tín công làm chủ tự. Cẩn xét lễ chế, người đứng lập tự phải mặc áo trở sổ gấu 3 năm, mà cha mẹ đẻ thì để trở xuống một bậc, đấy là nói lễ của thần dân thiên hạ. Đến như chư hầu là tôn quý không thể hạn chế như thế. Nay đã phong thân công, tước công nên ví như chư hầu đời xưa, sao có thể vì tình từ dưỡng mà mặc áo sổ gấu được ! Xét Lễ ký nói rằng : Tang kỳ niên((1) Kỳ niên : tang phục mặc áo không sổ gấu, như cháu để tang ông bà nội, con để tang mẹ khi còn cha.1) thì 11 tháng làm lễ “luyện((2) Luyện : lễ tiểu tường cũng gọi là luyện.2), 13 tháng làm lễ tường((3) Tường : lễ đại tường.3), 15 tháng làm lễ đàm((4) Đàm : lễ trừ phục, hết tang.4), để tang kỳ niên là vì người tôn mà giáng xuống. Đấy dẫu nói về việc trở mẹ trong khi còn cha, song châm chước tình lễ không hậu mà cũng không bạc. Có lẽ nên theo lễ trở ấy mà mặc áo không sổ gấu, gặp tế điện thì mặc để làm lễ, ngày thường thì mặc áo thâm làm việc ; 15 tháng, sau lễ đàm bỏ áo trở mặc áo thường. Đến năm thứ hai, làm lễ như ngày giỗ. Như thế thì tình lễ đều thoả đáng”.

    Vua y lời tâu. Ngày táng, vua nghỉ chầu, mặc áo trắng đi đưa.

    Định lệ thưởng cho các hoàng tử, hoàng nữ, công tử, công nữ, đầy năm ẵm đến ra mắt. (Hoàng tử thưởng 200 lạng bạc ; hoàng nữ 150 lạng bạc ; công tử 50 lạng bạc ; công nữ 40 lạng bạc).

    Quản lý Văn thư phòng là Hoàng Quýnh dâng sớ cử bọn hương cống Phan Thế Chấn, Tào Quang Lệ cùng sĩ nhân Nguyễn Đăng Giai làm hành tẩu Văn thư phòng. Vua sai Nguyễn Hữu Thận và Phan Huy Thực xét hạch. Văn lý đều dự hạng bình. Rồi Thế Chấn và Quang Lệ tự trần rằng : Lạm dự khoa trường, được vào giám học tập, từ trước đến giờ sinh viên ở giám được bổ thụ, hoặc tự chỉ vua cho, hoặc tự giám quan lựa chọn, nay không do con đường ấy tiến thân thì sợ là lối khác để sĩ phu chê bàn. Đăng Giai cũng tự trần rằng : Cha là Nguyễn Đăng Tuân, nhờ ơn nước quan đến tam phẩm, nay mình tài mọn, bỗng được ứng cử, tai mắt người ta ai cho là vô tâm ; vả lại cùng Hoàng Quýnh quen biết nhau đã lâu, dẫu sự đề cử không phải là tư tình, nhưng quen biết dắt díu nhau cũng khó lòng tránh khỏi lời bình phẩm của sĩ phu. Ba người đều chối việc bổ thụ, để đợi học hành tiến lên.

    Vua khen là khí khái, đều y cho.

    Sai quan làm Ngọc phả. Lấy Tham tri Lại bộ Phạm Đăng Hưng và Thái thường Tự khanh Hoàng Kim Hoán sung chức Toản tu. Vua dụ rằng : “Làm Ngọc phả là để rõ dòng Thiên hoàng((5) Thiên hoàng : dòng dõi vua, như dòng sông Thiên hoàng lên trời.5), tỏ mối chính thống. Năm đầu Minh Mệnh đã có chỉ làm Liệt thánh ngọc phả ; nay sai bọn ngươi hội đồng với Tôn nhân phủ, kính cẩn soạn từ Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta cho đến trẫm cùng các hệ hoàng tử tôn thất, chia quyển sắp bày thứ tự, người còn sống viết chữ son, ngoài ra thì viết chữ mực”. Lại định lấy năm Minh Mệnh thứ 5 là Giáp thân bắt đầu, cứ 6 năm làm lại một lần, cứ đến năm dần hay năm thân, thì bộ Lễ tâu xin sai quan Toản tu. Ghi làm lệ.

    Cho cháu Thị giảng Lê Cao Kỷ là Cao Thiệu được tha phú dịch.

    Tri huyện Tuy Viễn là Nguyễn Đức Hoa tham tang, việc phát, Nguyễn Hữu Thận và Nguyễn Văn Hưng lấy cớ là mình chủ cử, làm sớ xin nhận tội.

    Vua đặc cách hạ lệnh phạt bổng 6 tháng và dụ rằng : “Bọn ngươi biết nhận lỗi, hẵng tạm phạt nhẹ ; từ sau nếu bảo cử ai, nên xét kỹ người, chớ để lầm mà đến bị nghị tội, cũng không nên lấy việc ấy làm hiềm mà im lặng tự giữ mình, phụ lòng ta uỷ thác”.

    Lại bảo thị thần rằng : “Người xưa lấy sự biết người làm khó. Trẫm từng thấy người nào mẫn cán cho là có thể dùng làm việc lớn được, thì thăng chức vượt bậc ; kịp lúc quan sang thân hiển, có người tham tang bị cách, có người lười biếng bị bãi, thế mới biết biết người là việc rất khó. Nay dùng người không ngoài hai đường là khoa mục và tiến cử, người giỏi văn học chưa chắc đã giỏi chính trị. Nhưng cũng chưa có ai học nuôi con mà sau mới lấy chồng. Chính trị cốt ở nuôi dân, mà muốn dân yên thì đừng nhiễu dân ; làm quan phủ huyện không tham không nhiễu thì việc chính trị có gì khó đâu ! Nếu không thế thì văn học dẫu nhiều có dùng làm gì !”

    Triệu Lưu thủ Quảng Nam là Phạm Văn Tín và Lưu thủ Quảng Bình là Đỗ Quý vào yết kiến

    Vua bảo bộ Hình rằng : “Kẻ cướp lấy của, không cứ thủ phạm tòng phạm đều chém, điều luật đó rõ ràng. Mới đây ở Gia Định vì dịch lệ ra tai, sinh lý khó khăn, trẫm thương dân nghèo ngặt vì đói rét mà mắc phải tội lệ, cho nên đặc cách hạ lệnh phạm ăn cướp thì kẻ tòng phạm cho giảm tội chết mà kết tội lưu, đó là việc quyền nghi, không phải là định lệ. Vậy nên truyền dụ từ sau thành hạt có án cướp thì nên theo luật mà nghĩ xử. Đến như bè đảng tòng phạm, gián hoặc có người tội tình đáng thương thì tâu lên xin chỉ, không được tự xử giảm tội”.

    Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt đến Kinh vào bệ kiến. Vua triệu lên điện, cho ngồi, yên ủi hỏi han hồi lâu, nhân bàn việc dựng nghiệp khó nhọc, Duyệt xin lập nhà bia ở Sa Đéc để ghi công trạng. Vua nói : “Hoàng khảo ta công lao to lớn như trời đất không thể nói được, bia thần công thánh đức chỉ chép đại lược mà thôi, chưa đủ hình dung được hết. Nay khanh xin dựng bia cũng là phải, để thong thả sẽ bàn”.

    Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất từ Bình Định vào yết kiến.

    Sai Tham tri Công bộ là Trần Văn Tính kiêm quản việc Nội vụ phủ.

    Nhà công đường Phiên An bị cháy. Trấn thủ Phan Tiến Hoàng tự xin nghị xử và xuất của nhà ra làm đền. Vua nghĩ Tiến Hoàng có công khó nhọc đã lâu, tha tội cho và cho 500 quan tiền để giúp phí tổn.

    Phó tướng Tiền quân Hoàng Văn Điểm chết. Cho 2 cây gấm Tống, vải lụa mỗi thứ 10 tấm và 200 quan tiền.

    Huyện Nga Sơn, trấn Thanh Hoa có 7 chiếc thuyền giặc vào cướp xã Bạch Câu. Hiệp trấn Bùi Đức Mân nhân đi khám lúa ruộng, nghe tin báo, lập tức sai Tri huyện Lê Hữu Tuệ, Cai đội Tống Văn Vị đem binh dân đánh bắt, chém được mấy đầu giặc. Giặc vỡ chạy, nhiều đứa ngã xuống nước chết ; bắt được 2 chiếc thuyền. Việc đến tai vua. Thưởng cho Tuệ quân công 1 cấp, cho Vị kỷ lục 1 thứ, cho binh dân 300 quan tiền.

    Sai Văn thư phòng xếp đặt văn tập ngự chế. Dụ rằng : “Trẫm nhận trọng trách của Hoàng khảo phó thác cho, khi mới lên ngôi, ngày đêm chăm chắm để tìm cách trị nước, mỗi ngày ngồi trên điện nghe chính sự, dẫu không nhiều đến muôn việc mà chương sớ các nha môn ở Kinh cùng các thành trấn ở ngoài kể có mấy trăm, đều tuỳ việc xuống chỉ, lập tức phê phát, chưa từng có chút vui chơi. Huống chi bản phê mới bắt đầu có từ nay, mà phàm việc bảo ngay trước mặt đình thần, hoặc các đường quan bộ viện nghĩ chỉ phê phát, gián hoặc có sự thể quan yếu mà các đại thần ở triều đình chưa hiểu rõ được, cùng là trẫm chợt nghĩ ra việc gì, không thể không tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra, hoặc phê chữ son, từ năm đầu đến năm nay, kể có hàng trăm hàng nghìn. Lại ngày Bắc tuần có những tập tâu Hoàng thái hậu, và khi nhàn rỗi có những tạp văn, cũng không ít. Nhân nghĩ việc trên kia, hoặc lâu xa cách mẹ hiền, thức ngủ không yên, hình ra bút giấy ; hoặc khi đánh giặc ngoài biên, trù tính việc quân, hoặc khi cầu mưa nắng, đón được phước trời ; hoặc răn bảo các quan, định rõ phép lệnh ; cho đến những bài minh bài ký, không nỡ bỏ đó lâu ngày, bèn tự mình bỏ bớt những cái không quan yếu đến 4, 5 phần 10. Nhân sai xếp làm văn tập ngự chế để xem, không phải là chép văn chương mà là chép sự thực. Từ nay về sau có làm được bài gì cũng cứ thực xếp nối vào, để xem chính sự đắc thất thế nào, trước sau siêng năng trễ nải thế nào, để tự mình cố gắng. Vậy đem dụ chỉ này biên vào đầu tập là nên”.

    Ngày Quý tỵ, đúc ấn “Minh Mệnh thần hàn” (Núm hình rồng, đúc bằng vàng 8 tuổi rưỡi).

    Sai thành Gia Định đong thóc.

    Vua cho rằng thành hạt gần đây nhiều công việc chi tiêu hơi rộng, dụ cho thành thần chiếu theo số thóc thuế chính cung sang năm mà đong lấy số thóc bằng như thế để chứa vào kho ; rồi vì trời ít mưa lại thôi.

    Định lệ sửa chữa súng lớn súng nhỏ.

    Trước đây phái viên là bọn Trần Đăng Long tra xét hoả khí ở Kinh, súng lớn súng nhỏ có nhiều cái hư hỏng. Vua nghĩ là mới bắt đầu lập pháp, không bắt xét kỹ. Sai đưa những súng ấy sang Vũ Khố, lấy tiền công sửa chữa. Nhân dụ bộ Binh rằng : “Binh khí có thể trăm năm không dùng đến, nhưng không thể một ngày không có sẵn. Những binh khí hư hỏng, nếu không xét mà sửa chữa thì lấy gì mà mạnh mẽ quân uy. Vậy định lấy sang năm bắt đầu, cứ năm năm một lần sửa chữa ; nếu trong hạn mà hỏng gẫy, cùng ngoài hạn mà đánh mất hay làm gẫy vỡ, thời đại thần quản lãnh cứ thực mà tham tâu, lập tức đem những chánh phó vệ uý và quản cơ chuyên biện cùng những lính cầm giữ binh khí mà phân biệt trị tội. Đại thần quản lãnh che chở mà không báo, xét ra thì giao bộ bàn xử”.

    Đốc học Quảng Bình là Hoàng Phạm Lãng và Đốc học Quảng Nam là Nguyễn Giản vì già ốm về hưu. Lấy Đốc học Quảng Ngãi là Lê Huy Côn làm Đốc học Quảng Bình, Phó đốc học Sơn Nam là Đặng Huy Dư làm Phó đốc học Quảng Nam.

    Ký lục Định Tường là Trương Công Vĩ vì tham tang bị cách chức. Sai thành thần Gia Định xét hỏi. án thành, Vĩ bị tội giảo giam hậu.

    Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thuý, Tham tri lĩnh Hiệp trấn là Bùi Đức Mân, Tham hiệp là Vũ Du đều can án phải cất chức.

    Trước đây Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái bị giặc ám hại, vua truyền chỉ bắt phải tìm bắt kẻ phạm, lâu chưa bắt được. Chợt con Thái là Quỳnh bắt được giặc đem nộp, Phan Văn Thuý xét hỏi thì nó cung xưng rằng Thái chết vì người sách Thuý Doanh là Phạm Nho, mang oán mà mưu giết. Mân và Du cho là Quỳnh không phát cáo mà trách hỏi thì Quỳnh lại nói là không biết, bèn không đem kẻ phạm tra hỏi. Thuý đem việc ấy tâu lên. Vua sai Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Khoa Hào đi khám hỏi. Án dâng lên. Nho và đồ đảng đều bị tội chém. Quỳnh ngu tối quên thù, giáng làm Phó chưởng cơ chi Hậu hãn ; Thuý vì xét hỏi không nhất trí, cùng với Mân và Du đều bị cất chức về Kinh đợi chỉ. Về sau Thuý được miễn nghị ; Mân giáng làm Hàn lâm viện Trực học sĩ, Du giáng làm Chủ sự Lễ bộ.

    Xã dân các địa phương nhiều nơi tâu bày về việc thần chưa được phong. Vua sai đình thần bàn cho ổn, đều cho là thần hiệu các trấn ở Bắc Thành phần nhiều mới phong tặng ở cuối đời Lê, không đủ tin được, xin xét vị nào có sự tích rõ rệt mới phong. Lại thần hiệu ở Bình Thuận có hiệu bằng tiếng Thổ [Hời] mà đều là chính thần, xin đổi hiệu chữ mà liệt vào phong điển. Vua nói : “Trẫm là chúa trăm thần, cái lễ thăng trật chỉ xét những vị có công đức mà thôi ; đã uỷ cho đình thần bàn lại thì lấy đình thần làm tai mắt, trẫm nên theo”. Lại nói : “Nhà nước ta trung hưng, dẫu bởi mưu người cùng giúp, song mệnh trời đã cho, tất có thần thiêng giúp đỡ, như những việc trâu đưa sang sông, giữa biển nước ngọt, điềm tốt không chỉ
    một việc, không phải là thần thiêng giúp đỡ là gì ? Nếu ai biết vị thần nào thì ta phong tặng cũng nên, thân tự tế bái cũng nên. Đầu đời Gia Long đã bàn việc phong tặng, rồi vì thần hạ phụng hành thiên vị, việc bèn bỏ dở. Nay trẫm nối chí tiên đế, cử hành điển lớn, không như họ Trịnh tiếm lạm nịnh nọt quỷ thần để trấn áp nhân tâm. Thần nếu có biết cũng hiểu lòng trẫm”.

    Trấn thủ Cao Bằng là Lê Văn Hợp vì ốm miễn chức ; lấy Quản cơ cơ Tả nhuệ Tả quân là Hoàng Tiến Trọng quyền thự việc trấn.

    Phó trưởng chi thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Quỳnh và Cai cơ là Phạm Thúc Nho (con nuôi Công Thái) tâu xin đến Kinh yết kiến. Vua cho. Khi đến, vua cho mỗi người một cặp áo, yên ủi dụ rằng : “Cha các ngươi là Công Thái là trưởng quan một đạo, danh vị không nhỏ, thế mà bị kẻ thù nó hại, cái cách tự vệ sao mà sơ hở thế ! Nhưng cũng là số mệnh thôi. Vả cha ngươi trung thành mà bất đắc kỳ tử lại là điều trẫm không hiểu, nên khi nghe tin trẫm rất thương tiếc, lập tức sai quan sở tại xét hỏi rất nghiêm. May mà bắt được tội nhân, không những cha các ngươi ở dưới đất cũng được thân oan, mà bọn ngươi cũng cởi mở được mối hận không bờ bến. Nay bọn ngươi tuy chưa được quản hạt các tù trưởng như cha, nhưng cũng có phần đất đai, đều nên giữ gìn, trên theo đức ý triều đình mà tuyên dụ cho các sách man thượng đạo, khiến chúng tự yên họp, chớ làm bậy mà mắc tội lệ, như thế thì bọn ngươi không làm mất thanh danh của cha khi còn sống”.

    Nghệ An gạo đắt. Sai phát thóc kho 40.000 hộc giảm giá bán ra.

    Lấy Biện lý Lại bộ là Nguyễn Hựu Bình làm Hiệp trấn Thanh Hoa, Thiêm sự Binh bộ là Đặng Văn Thiêm làm Tham hiệp. Bọn Bùi Đức Mân và Vũ Du đã bị cất chức, đình thần lấy hai người ấy tâu cử để bổ khuyết. Vua nói : “Thiêm làm việc được, nhưng còn ít tuổi”. Lê Chất tâu rằng : “Bình tính thật thà, có đại thể, Thiêm có tài mẫn cán, hai người cùng giúp nhau có thể làm nổi việc”. Vua bèn cho.

    Lấy Thiêm sự Lại bộ là Ngô Phước Hội làm Thiêm sự Binh bộ.

    Định lại chức trật phủ huyện. Lệ trước, phủ đặt 2 Tri phủ, trật Chánh lục phẩm, huyện đặt 2 Tri huyện, trật Chánh thất phẩm, đến nay đều bớt đi một, phủ huyện nào trọng yếu thì đặt thêm phủ Đồng tri và Huyện thừa đều một người. Tri phủ trật đổi lên Tòng ngũ phẩm, phủ Đồng tri, trật Chánh lục phẩm, Tri huyện trật đổi lên Tòng lục phẩm, Huyện thừa, trật Chánh thất phẩm. Bèn hạ lệnh 13 phủ ở Bắc Thành (Thường Tín, Ứng Hoà, Khoái Châu, Lý Nhân, Thiên Trường, Tiên Hưng, Kiến Xương, Nghĩa Hưng, Quốc Oai, Vĩnh Tường, Bình Giang, Ninh Giang, Kinh Môn) đều đặt phủ đồng tri, 9 huyện ở Bắc Thành (Thanh Oai, Chương Đức, Nam Xương, Từ Liêm, Yên Lãng, Gia Lâm, Văn Giang, Tiên Du, Yên Phong), 10 huyện thành Gia Định (Tân Long, Vĩnh Bình, Kiến Hưng, Bình Dương, Phúc Lộc, Thuận An, Bình An, Vĩnh An, Kiến Đăng, Kiến Hoà) đều đặt huyện thừa, tiền gạo dưỡng liêm đều theo bổng của phẩm trật mà cấp.

    Định thêm ngạch nhân viên kho thuốc súng : chủ sự, tư vụ, mỗi chức 1 người ; chánh bát cửu phẩm thư lại mỗi chức 2 người ; vị nhập lưu thư lại 14 người (lệ trước, chủ sự 1 người, chánh cửu phẩm và vị nhập lưu thư lại, mỗi chức 4 người).

    Đổi châu Định Hoá, trấn Thái Nguyên làm Định Châu.

    Trong Kinh kỳ ít mưa, cầu đảo ở miếu Nam Hải Long vương. Mưa to. Sai lễ tạ.

    Tháng 12, lấy Phó tướng Tiền quân lãnh trấn thủ Nam Định là Nguyễn Văn Hiếu làm Án trấn Thanh Hoa, Hữu thống chế Thị trung lãnh án trấn Bình Định là Trương Phúc Đặng làm Trấn thủ Nam Định. Bộ thuộc của Hiếu hơn 100 người các đội Tiền phấn kích và Tiền thuận theo đi thú ở Nam Định cho đem đến chỗ làm việc mới.

    Định lệ đăng sổ dân đinh và báo bộ cho các địa phương từ Quảng Bình trở vào Nam. Bộ Binh tâu rằng những lại dịch binh lính các nha môn và vệ đội ở Kinh mà mộ dân ngoại tịch để sung thì xét trong sổ tuyển và đơn bằng đăng sổ không có tên mới được phê phó. Từ trước đến nay, các địa phương đăng sổ dân đinh theo kỳ báo bộ, chỉ có Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định mà thôi, còn Phú Yên trở vào đến Gia Định, Nghệ An trở ra đến Bắc Thành, vẫn đợi đến kỳ duyệt tuyển mới nộp sổ, vì thế ở Kinh có người xin sung [lại dịch binh lính] thì không kê cứu vào đâu được. Nếu chỉ bằng vào sổ tuyển thì chưa được đích thực. Xin lượng tính xa gần mà định hạn báo sổ.

    Vua sai đình thần bàn lại. Đình thần xin từ nay danh sách dân đăng sổ, Thừa Thiên mỗi ngày một lần báo ; Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định mỗi tháng một lần báo ; Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, 3 tháng một lần báo ; Gia Định 6 tháng một lần báo. Có người xin sung [lại dịch binh lính] ở các nha môn vệ đội ở Kinh, thì bộ Binh lấy danh sách ấy đối chiếu để xét, quả là dân ngoại tịch mới phê chuẩn. Nếu có những người trùng họ trùng tên thì theo ngày tháng trước sau, người xin sung trước thì biên vào ngạch, người đăng sổ đinh trước thì ghi sổ. Đến như Nghệ An trở ra Bắc, người xin sung không có mấy thì không cần phải bàn. Vua theo lời bàn.

    Nam Định có tên tù ăn cướp đương đêm trốn thoát, hơn một năm quan quân bắt được, người coi ngục và lính ngục đều đã xử tội đồ. Bộ Hình đem việc tâu lên. Vua sai tha. Nhân thấy ngoài hạn bắt được tù trốn chưa có lệ khoan giảm, sai bộ thần bàn. Bộ thần tâu rằng : “Tham xét tắc lệ xử phân của nước Đại Thanh, trong có chép một điều tù trốn, dẫu trong hạn chưa bắt được cũng phải cách chức mà lưu lại để tìm bắt. Đại khái phép trừng phạt rất nghiêm để răn những ngục quan và người coi ngục sơ suất trễ nải. Cúi nghĩ, từ xưa đặt ra hình luật mà muốn khiến người ta biết đường mà tránh, còn việc châm chước tội tình, từ nặng đến nhẹ, từ nhẹ đến nặng, thì nên tuỳ nghi nghĩ xử, không nên nhất định gắn chặt. Nay người giữ ngục để tù trốn mà trong hạn tìm bắt được đã tha tội, nếu ngoài hạn mới bắt được, lại đặt sẵn lệ khoan giảm, thì sợ người coi ngục và lính ngục lấy làm thường, sẽ đến mở lỏng gông cùm, cố tha tù phạm, rồi nói dối là trốn mất không biết để mong khỏi tội, cái tệ ấy không nên để cho lớn dần. Vậy xin gặp việc thì xét tình định tội, châm chước nặng nhẹ mà khoan giảm hay tha bổng, đều do bề trên định để cho kẻ gian hoạt không được làm bậy, mà kẻ phạm tội không được lọt lưới”. Vua cho là phải.

    Giáng bổ Trấn thủ Phiên An là Phan Tiến Hoàng làm Phó quản cơ các quân, Cai bạ Lê Đăng Doanh làm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ. Trước đây trong một hạt trấn có người cùng với khách buôn người Thanh đánh bạc, nhân lấy nợ cũ làm tiền thua bạc và đút của cho Vệ uý Trần Văn Quế để xin trấn bỏ nợ ấy đi. Thành thần biết được tình trạng, nghĩ xử Tiến Hoàng và Đăng Doanh cách chức. Vua đặc cách đổi làm giáng ba cấp đổi đi, bèn bổ các chức ấy.

    Gọi hơn 4.900 người quân Thần sách Thanh Nghệ và năm quân Bắc Thành về Kinh thao diễn.

    Những tù phạm đi đày ở Gia Định nhiều người mãn hạn, thành thần tư lên bộ Hình. Bộ thần bàn tâu cho là từ trước đến giờ những tù đồ ở Thừa Thiên cùng Thanh Nghệ, Bắc Thành phát phối đi Gia Định, trong ấy phần nhiều là kẻ cướp đánh giết người mà được giảm tội chết, xử lưu mà chuẩn đồ, khác hẳn với tù thường bị tội đồ, nếu nhất khái tha cả thì nhẹ nặng không có phân biệt. Huống chi bọn ấy vốn tính hung tợn, tha ra chưa chắc đã chừa, sẽ lại làm hại cho dân địa phương. Nay xin so sánh tội tình mà phân biệt xử trí. Phàm kẻ phạm đáng là mãn đồ, tổng đồ((1) Mãn đồ : đồ 3 năm - Tổng đồ : Đồ 4 năm (Hoàng Việt luật lệ, quyển I, chương 27, 29).1), thì mãn hạn được tha ; những kẻ nhờ giảm tội chết mà được mãn tội đồ, tổng đồ, chuẩn đồ, cùng tội tam lưu((2) Tam lưu : lưu có 3 bậc, thứ nhất 2.000 dặm, thứ nhì 2.500 dặm, thứ ba 3.000 dặm.2) chuẩn đồ, tội mãn lưu((3) Mãn lưu : lưu 3.000 dặm.3) chuẩn đồ, lại phải làm việc khó nhọc thì khi mãn hạn xin đem bổ làm binh, theo các trấn quản thúc để chúng biết răn sợ, không dám làm bậy, mà sai phái việc công cũng có ích lợi.
    Vua y lời bàn.
    Cho con Nguyễn Đức Xuyên là Nguyễn Đức Hỗ, con Lê Chất là Lê Hậu, làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm.
  • Chia sẻ trang này