0059.033 - @ nhani78 (Done WK)

16/11/15
0059.033 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Cai bạ Bình Thuận là Trịnh Văn Thành vì việc dung túng người nhà đòi hối lộ bị cách chức, phát đi đạo Cam Lộ để ra sức chuộc tội. Lấy thự Ký lục Quảng Trị là Trần Công Tuân làm Cai bạ Bình Thuận.

    Đinh Phiên có tội cách chức. Trước kia Nghệ An làm danh sách bách thần, thuộc viên ở trấn là Hoàng Nghĩa Hựu và Nguyễn Ngọc Quỳnh nhân đó thay đổi sắc thần, lại có sắc phong của giặc Tây Sơn cũng sắp lẫn vào. Ngày ấy, Đinh Phiên một mình làm việc bộ Lễ, giao cho Thiêm sự là Lưu Công Đạo, cùng bộ ty là Nguyễn Đức Hiển, Nguyễn Đình Lập nhận xét, không trích ra được sự gian dối, Đinh Phiên cứ thế đề tâu. Trịnh Hoài Đức xét việc ấy ra. Sai đình thần bàn xử. Đến nay án thành, Đinh Phiên bị 100 trượng, cách chức, phát đi Hà Tiên ra sức chuộc tội (sau đổi phát đi Quảng Ngãi), Công Đạo phải cách chức, phát đi Châu Đốc tân cương, để ra sức chuộc tội ; Đức Hiển và Đình Lập phải cách chức về dân ; Nghĩa Hựu bị chém ; Ngọc Quỳnh bị mãn lưu ; trấn thần Nghệ An bị giáng 2 cấp. Sách tâu bị bác trả về. Sắc ngụy thì tiêu huỷ hết.

    Sai bộ Lễ tư đòi hương cống các khoa còn ở quê quán đến Kinh đợi tuyển.

    Trấn thủ Tuyên Quang là Đào Văn Thành chết.

    Vua nghĩ Thành bắt giặc có công, tặng Chưởng cơ, cho 300 quan tiền, 20 tấm lụa.

    Lấy Quản cơ cơ Tả tiệp Tiền quân là Lê Huy Tích thự Trấn thủ Tuyên Quang.

    Vua thấy các hạt từ Nghệ An ra Bắc, trước có đặt cai huyện, ký huyện, cai tổng, phó tổng, danh hiệu phức tạp, bèn chuẩn y lời bàn của đình thần, tổng chỉ đặt 1 cai tổng, do thượng ty địa phương chọn những cai tổng, phó tổng thực thụ, tâu xin bổ thụ ; nếu còn thiếu thì chọn ở trong đám quyền sai cai huyện, ký huyện, cai tổng, phó tổng, xét người nào làm được việc thì cấp bằng [cho làm cai tổng], thí sai 3 năm, không lỗi mới được thực thụ. Còn thừa cho về chịu sai dịch.

    Người Biên Hoà thành Gia Định là Nguyễn Văn Trung dâng sách Quốc triều diễn chí. Thưởng cho 10 lạng bạc.

    Biên binh dân hai thôn An Hoà đông và Tân Hoà trấn Vĩnh Thanh làm ba hiệu nhất nhị tam của chi Võ cự, lệ theo thành Gia Định, thuế thân và dao dịch đều được miễn. Buổi đầu trung hưng dân hai thôn ấy tự xuất tài lực, theo đi đánh giặc, được bổ làm hai vệ Võ cự nhất nhị. Sau khi đại định lại chịu lệ kén binh như dân các huyện. Đến nay dân ấy bày xin, cứ hiện số binh dân biên làm chi Võ cự, lúc có việc thì theo hàng ngũ, lúc không việc thì về quán mưu sinh, để phân biệt với bình dân. Thành thần đề thỉnh cho. Vua y cho.

    Ngày Kỷ dậu, tế Hợp hưởng.

    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Hằng năm tế Hưởng ở miếu, trẫm đến làm lễ đã có định kỳ. Nay theo lời bàn của bộ, cho đặt thêm lễ Hợp hưởng, cùng với bốn lễ hưởng ở bốn tháng mạnh thành năm lễ hưởng. Điển lễ rất quan hệ, sáng lập từ nay. Năm nay trẫm đến làm lễ ở Thái miếu, sang năm đến làm lễ ở Thế miếu, còn các miếu khác đều sai tế thay như trước”.

    Truy cấp cáo sắc cho Khâm sai chưởng cơ tặng Chưởng dinh quận công Nguyễn Kim Phẩm. Phẩm là người xã Thận Vị (huyện Thượng Nguyên), Nam Định, đầu trung hưng, xướng suất nghĩa binh, vào Gia Định theo đi đánh giặc, chết trận, được tặng Chưởng dinh quận công mà chưa có cáo sắc ; đến nay người cháu [gọi Phẩm là chú bác] là Đội trưởng Nguyễn Kim Diệu đem việc ấy tâu xin. Vua nhớ người có công cũ, sai bộ Lễ bàn truy cấp, lại cho 3 người mộ phu. Anh Phẩm là Cai cơ Nguyễn Trân và Nguyễn An cùng ứng nghĩa với Phẩm, đều chết trận, đều được truy tặng Vệ uý.

    Đúc ấn “Tuyển trường” và dấu kiềm bằng ngà cho phủ Thừa Thiên và các dinh trấn đạo Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Nghệ An, Thanh Hoa và Ninh Bình, mỗi thứ một cái.

    Định lương tháng cho giám sinh Quốc tử giám, lấy khoá hạch bốn tháng trọng [tứ trọng] chia hạng cấp cho. (Hạng ưu, mỗi tháng tiền 3 quan, gạo 2 phương, dầu 5 cân ; Hạng thứ, tiền 1 quan 5 tiền, gạo 1 phương, dầu 3 cân. Ai hai khoá đều ưu, thưởng tiền 1 quan, gạo 1 phương. Ai ba khoá đều ưu, do bộ tâu xin bổ dùng. Khoá trước bình, khoá này ưu, thì cấp lương theo hạng ưu. Khoá trước ưu, khoá này bình, cùng khoá trước thứ, khoá này bình, cùng hai khoá đều bình, thì cấp lương theo hạng thứ. Khoá trước bình, khoá này thứ, đình cấp lương 1 tháng. Hai khoá đều thứ, đình cấp lương 2 tháng. Bốn khoá đều thứ thì bị đuổi).

    Vua từng cùng với thị thần bàn việc học, nói rằng : “Trẫm từ khi làm thái tử, sau khi vấn an được nhàn rỗi, không làm việc gì, chỉ chăm xem sách. Phàm những sử Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, không bộ nào là không xem ; nhưng tính trẫm không nhớ lâu, nên khi nói chuyện, nhớ đến việc cũ nhà Nguyên, nhà Minh, có khi nhớ việc mà quên tên người, trẫm hỏi các khanh, cũng không trả lời được, có lẽ chưa đọc chăng ?”.

    Quang lộc Tự khanh Phan Huy Thực tâu rằng : “Từ đời Lê trở lại, những người học thi cử chỉ đọc các sử Hán, Đường, Tống làm lối tắt thi cử”.

    Vua nói : “Từ Nguyên, Minh cho đến Đại Thanh có đến 6, 7 trăm năm. Cứ nay mà xem thì từ Tống trở lên đã thành đời thái cổ rồi, mà kẻ học giả bỏ gần cầu xa là cớ làm sao ?”. Lại quay hỏi Thiêm sự Lê Văn Đức. Lê Văn Đức đáp rằng : “Thần cũng chỉ học văn cử nghiệp mà thôi”. Vua lại nói : “Văn cử nghiệp làm lầm người ta đã lâu. Trẫm cho rằng văn chương vẫn không nhất định. Nay văn cử nghiệp chỉ câu nệ sáo cũ, lên mặt với nhau, đứng riêng phe phái, nhân phẩm lấy đấy làm cao thấp, khoa trường lấy đấy làm đỗ hỏng, học hành như thế, lạ gì nhân tài mỗi ngày một kém. Nhưng tập tục theo nhau, khó mà thay đổi. Vài năm nữa nên bàn thay đổi”.

    Sai Viện sứ Thượng trà viện là Nguyễn Văn Lộc quản lý các hành nhân của ty Hành nhân.

    Quan Bắc Thành tâu rằng năm trấn Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh và Hải Dương, theo sổ duyệt tuyển năm ngoái dân số cũng có nơi tăng nơi giảm, những nơi dân ít lính nhiều thì đã tạm hoãn bắt lính để thư cho dân, còn nơi nào dân nhiều lính ít thì xin cứ số thừa, 7 người chọn 1, cùng dân xiêu tán mới về, tự 7 người trở lên, cũng theo số mà bắt lính.

    Vua sai đình thần bàn lại. Đều cho rằng nhà nước chọn lính đã có phép, năm Gia Long thứ 6 [1807] đã bỏ sổ thường hành cũ, gộp làm sổ đinh, số lính vẫn theo ngạch cũ, vốn không vì số dân nhiều ít mà tăng giảm ngạch lính. Nay những dân thừa số, xin tạm hoãn dừng kén lính, còn dân xiêu tán mới về, chưa được yên ở, cũng nên khoan thứ cho họ được nghỉ ngơi.

    Vua cho là phải.

    Sai quan đi thanh tra từ Thừa Thiên trở vào Nam đến Quảng Ngãi, từ Thừa Thiên trở ra Bắc đến Ninh Bình.

    Sai Vệ uý theo thành Gia Định là Lê Quốc Thái quyền lĩnh biền binh đồn Uy viễn, theo trấn Vĩnh Thanh sai phái.

    Sai các quân tập bắn súng lớn súng nhỏ, chia hạng thưởng tiền theo thứ bậc.

    Giặc trốn ở Thái Nguyên là Nguyễn Đình Cúc, ngụy xưng là Quận công, họp đảng cướp bóc hơn 20 năm, quan địa phương bắt không được. Đến nay lại chứa nuôi Lê Duy Khang, nói láo là con cháu nhà Lê để lừa dân ngu, ngầm họp ở núi Tam Tu, xã Thần Sa (thuộc huyện Động Hỷ), chiêu dụ các tên phạm trốn ở các trấn, đặt ra danh hiệu ngụy để mưu khởi loạn. Thành thần nghe báo, lập tức sai Thống quản thập cơ Hậu quân là Ngô Văn Vĩnh, Thống quản thập cơ Trung quân là Lê Văn Sách cùng Trấn thủ Thái Nguyên là Phan Văn Hài, đều đem binh và voi, chia đường tiến đánh, đến thẳng sào huyệt. Giặc đem đồ đảng 800 người kháng cự. Quân ta chém được hơn 30 đầu, bắt sống được hơn 40 tên. Giặc thua to, bỏ cờ trống, súng ống, khí giới chạy trốn, chết ở rừng rú rất nhiều. Cúc chạy trốn sang xã Đức Lân (huyện Tư Nông). Phó thống thập cơ Tả quân là Vũ Văn Thân đem quân đến tìm bắt được Cúc cùng đồ đảng vài mươi người. Thành thần đem việc tâu lên.

    Vua khen, thưởng cho Ngô Văn Vĩnh và Lê Văn Sách kỷ lục quân công đều 1 thứ ; Vũ Văn Thân trước bị giáng 1 cấp, cho được khai phục. Lại thưởng cho mỗi người 1 thanh gươm đầu sư tử mạ vàng của Tây dương. Những biền binh đi trận thì thưởng kỷ lục, thực thụ và tiền bạc theo thứ bậc. Người chết, người bị thương thì được cấp hậu. Cúc bị xử tử bằng lăng trì. Đồ đảng nó là Nguyễn Tri Địch (ngụy xưng Tiết chế), Ngô Mậu (ngụy xưng Tham quân), Đặng Đình Quyến (ngụy xưng Thống lãnh), tụ họp ở Sơn Nam. Vệ uý vệ Định võ là Nguyễn Đình Phổ đem quân đi đánh, bắt được giết đi. Thưởng cho Đình Phổ kỷ lục quân công 1 thứ.

    Khởi phục cho Hoàng Trung Đồng làm Chánh tuần hải đô dinh.

    Quốc vương nước Diến Điện sai sứ đến thông hiếu.

    Khi trước Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt sai thuộc hạ là Nguyễn Văn Độ đi thuyền buôn sang các nước bên ngoài nước Hồng Mao tìm mua đồ binh dụng, bị gió bạt đến trấn Đào Quai nước Diến Điện. Quan trấn ấy bắt Độ đưa về thành An Hoà. Vua nước ấy ngờ Độ là gián điệp của nước Xiêm, xét hỏi nghiêm ngặt. Đến lúc biết là người nước ta, bèn hậu đãi đưa về ; nhân sai bồi thần là bọn Hợp thần thăng thụ nhĩ miêu Ty chí tu giá nô tha đem quốc thư và phẩm vật đến dâng (1 cái ấn vàng, 40 cái nhẫn vàng, 1 cái hộp trầu sơn đỏ, 1 chuỗi hạt châu không cháy,
    1 bức chiên tơ đỏ, trừu tơ đại hồng và trừu tơ tố hồng mỗi thứ 2 bức). Sứ đến Gia Định. Thành thần sai dịch thư tâu lên. Thư lược nói : Trước đây nước ấy vẫn muốn giao hiếu tỏ lòng thành, khoảng năm Gia Long đã 2 lần sai sứ đi, nhưng không đến nơi được. Nay nghe nhà vua mới nối ngôi, nước ấy vui mừng lắm, dâng thư lên tâu, và xin nước ta tuyệt giao với nước Xiêm.

    Vua vời đại thần bàn bạc. Bọn Nguyễn Đức Huyên, Trần Văn Tính cho là nước Diến Điện cùng nước Xiêm thù nhau lâu đời, nay đến thông hiếu, ý đồ có thể biết được. Vả ta với nước Xiêm đã hoà hiếu với nhau, mà lại giao thông với nước Diến Điện thì người Xiêm chưa chắc không ngờ, không bằng hậu tứ mà bảo về. Bọn Nguyễn Hữu Thận, Nguyễn Văn Hưng cho rằng dắt díu người phương xa đến, đời xưa lấy làm răn ; nhưng kẻ mến nghĩa mà đến, cũng không nên cự. Huống chi Diến Điện thù với Xiêm, không can thiệp gì đến ta, ta khước từ Diến Điện, người Xiêm chưa chắc cám ơn ta. Xin cứ nhận lấy.

    Vua dụ rằng : “Trẫm nghĩ Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta sang Xiêm, vua trước nước ấy đã sai quân giúp một lần, nhưng sai tướng không được người khá, đến đâu cũng cướp bóc, làm mất lòng dân, nhân đó bị giặc đánh tan phải chạy, từ đó về sau sợ oai giặc, không dám hé răng nói đến việc xuất binh nữa, cho nên Hoàng khảo ta, khôn ngoan tính trời, biết cơ đã đến, không cần phải mượn quân của họ mà bị kiềm chế, bèn tự quyết định, liền đêm đi đường biển về nước. Từ đấy chiêu tập những người cựu thuộc, rộng nộp những người mới đến, oai trời đến đâu, giặc đều tan vỡ, rồi lấy cả nước, thống nhất giang sơn, có thèm nhờ một mũi tên một tấc gươm của nước Xiêm đâu. Việc ấy chẳng những quan dân nước ta đội oai trời, mà các nước ngoài biển đều phục sức thần. Nhưng Hoàng khảo ta lại nghĩ tấm lòng tốt buổi đầu của người Xiêm, họ lại là láng giềng, nên từ trước đến giờ vẫn cho giao hiếu. trẫm noi theo phép cũ, há lại nghe lời nói ngoài mà tự mình tước bỏ nghĩa láng giềng. Nếu ngày khác nước Xiêm mưu điều không tốt, mà gây hấn ở ngoài biên, thì đã có lẽ phải trái, bên nào phải thì khoẻ, trời sẽ giúp cho, mà việc làm một nửa thu công gấp đôi. Nay tự trẫm xem ra thì quyết không có lẽ bỏ giao hiếu gây hiềm thù để nhọc quân lính. Vậy lời xin của nước Diến Điện không cho thi hành. Nhưng nghĩ sứ thần vượt biển đi xa, giữa đường lại gặp hoả tai, nên trả lại đồ cống mà thưởng cho quốc vương và sứ thần” (Thưởng cho quốc vương : quế 23 cân, sa, lụa, the, trừu mỗi thứ 100 tấm, đường cát 1.000 cân. Thưởng cho sứ thần : Chánh sứ, bạc 100 lạng ; Phó sứ, bạc 80 lạng ; áo mở bụng bằng đoạn mãng mỗi người 1 cái ; quần mỗi người 1 cái. Quân đi theo 40 người, mỗi người đều 4 lạng bạc, áo mở bụng bằng đoạn lông đỏ và quần, mỗi người mỗi thứ 1 cái). Sai đình thần viết thư trả lời. Đình thần lại xin trong cống phẩm nhận 1 cái nhẫn vàng (khảm hồng bảo thạch) để yên ủi tình người xa.

    Vua theo lời xin. Sai Quản cơ Nguyễn Văn Uẩn và Chánh tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng đem binh thuyền và mang lương tiền 6 tháng, đưa sứ giả đến địa đầu Diến Điện thì về. Lại sai bộ Lễ đem việc ấy báo cho nước Xiêm. Người Xiêm gửi thư đến tạ.

    Đình thần dâng sớ rằng : “Từ trước đến giờ các tiết Thánh thọ, Chính đán, Đoan dương ở cung Từ Thọ, Hoàng thượng đem quần thần đến làm lễ, đều vâng chỉ Từ cung miễn cho các quan không phải chầu mừng. Ngửa thấy đức khiêm cung của Thánh từ sáng rỡ xưa nay, đủ rạng điều hay trước mà làm bảo cho đời sau, bọn thần trộm nghĩ : Đức hoá rộng rãi, bốn bể cùng trông ; kính đội lòng thành, tính trời sẵn có. Nay Hoàng thái hậu nối đức tốt Kinh thất((1) Kinh thất : nơi cung đình nhà Chu, vợ Văn vương là Thái Tự nối được đức tốt của mẹ chồng là Thái Nhâm.1) được phụng dưỡng vinh quang, thần liêu lớn nhỏ chưa được theo ban mà chúc thọ, lòng thành nhỏ mọn không thể thôi được. Cúi trông lượng thánh soi xét, chuyển đạt lên Từ cung, xuống lệnh từ nay về sau cho các quan theo ban chúc mừng, để yên lòng tôi con kính mến”.

    Tờ tâu dâng lên, vua thân đến cung Từ Thọ bầy tâu. Trước còn chưa cho. Vua nói việc này là quần thần thành khẩn lắm, xin mãi hai ba lần, Hoàng thái hậu mới cho.

    Định lệ triển hạn cuối năm.

    Phàm các giấy tờ của các nha tuân lời nghị phải làm mà trong năm chưa làm xong, đều làm sớ xin hoãn đến sang năm, sau ngày khai ấn sẽ làm dần.

    Bộ Lễ dâng nghi chú chầu mừng tết Nguyên đán. (Ngày hôm ấy, hoàng
    tử, hoàng thân, trăm quan làm lễ khánh hạ. Quan thừa chế lĩnh chỉ tuyên rằng : “Tết mừng đầu năm, cùng các khanh cùng vui, ban yến thưởng theo thứ bậc”.
    Đọc xong, hoàng tử, hoàng thân, trăm quan làm lễ tạ ơn. Ngoài ra đều theo nghi thức thường).

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXV

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) (Thanh Đạo Quang năm thứ 4), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1. Vua thân đem bầy tôi đến cung Từ Thọ, làm lễ mừng tuổi. Từ năm ấy lấy làm lệ thường. Ban ân chiếu cho trong ngoài Kinh. Lời chiếu rằng : “Trời cao che trùm bao khắp, sinh muôn vật ở ngày mùa xuân ; đấng vương giả kính theo đạo trời, ban bổ đức nhân, điều hoà chính lệnh, mừng rỡ ban phúc đều bắt đầu từ mùa xuân, để tỏ nghĩa đối với thời tiết mà nuôi muôn vật. Trẫm vâng chịu mệnh trời, nối theo nghiệp cả. Sâu nghĩ đạo vua là lớn, chẳng dám tự mình rỗi nhàn. Nay gặp buổi dương hoà, muôn vầng tươi sáng, mà trăm họ của ta chưa được yên vui, những muốn nuôi nấng vỗ về ; nhưng nghĩ các địa phương năm ngoái mưa nắng không đều, mùa màng có kém, dẫu khắp trời suốt đất vương giả chẳng có riêng gì, mà ra chính thi nhân, hẳn phải trước ở chỗ cần cấp. Vậy vụ thuế thân năm nay, cho Thừa Thiên giảm 3 phần 10, Tam trực(() Tam Trực : ba dinh trực lệ là Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam.) và Ninh Bình 2 phần 10 ; Thanh Hoa thuế thân vụ hạ này giảm 2 phần 10, Nghệ An 3 phần 10 ; Phiên An thuế điền năm nay giảm 4 phần 10, Định Tường 3 phần 10, Vĩnh Thanh, Biên Hoà 2 phần 10, Hà Tiên 1 phần 10”.

    Lấy Trấn thủ Phú Yên là Nguyễn Văn Quế làm Trấn thủ Bình Định.

    Sai Lê Nguyên Hy ở Văn thư phòng, Lê Thuận Tĩnh ở Thượng trà viện, Lê Mậu Nghi ở Nội vụ phủ sang Hạ Châu(() Hạ Châu : Tân Gia Ba) làm công việc.

    Dựng cục Hội thành ở thành Gia Định ; sai Cai đội vệ Giám thành Nguyễn Văn Xương mộ dân ngoại tịch 20 người sung vào.

    Ngày Nhâm thân, tế xuân hưởng.

    Sai quan thanh tra Nội vụ phủ. Lấy thông Chánh sứ Biện lý Lại bộ là Nguyễn Khoa Hào và Thượng bảo Thiếu khanh là Hoàng Quýnh sung làm đổng lý. Thưởng cho Khoa Hào 100 quan tiền, Quýnh 80 quan.

    Sai thự Tham tri Hình bộ và Vũ Xuân Cẩn, Tham quân Thuỷ quân là Hồ Tiến Hiệu, Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Công Đàm, chia nhau đi phát chẩn cho dân đói ở Nghệ An. Dụ rằng : “Nghệ An năm ngoái không được mùa, đã vì dân phát thóc kho ra bán, mà nay giá gạo vẫn cao, lại nghĩ dân cùng, không lấy tiền đâu mà mua, tất đến người kêu đói dọc đường, đi chỗ này chỗ khác kiếm ăn, nên phải có cách cứu giúp. Bèn sai bọn Xuân Cẩn chia đi trấn lỵ và các phủ thành Hà Hoa, Diễn Châu, hội cùng Trấn thần, lấy gạo kho phát chẩn, đến giữa tháng 3 thì thôi. Người nghèo ốm không đến lĩnh chẩn được thì đưa đến cho ; người chết thì cho tiền tuất”. Xuân Cẩn vào bệ từ để xin chỉ. Vua nói rằng : “Việc cứu đói từ xưa không có phép gì hay cả. Khanh là đại thần của nước, tính mệnh một phương nay uỷ cho khanh, phàm cách thế nào có thể cứu vớt được dân ta thì liệu mà làm. Hai chữ bỉnh công((1) Bỉnh công : Giữ đạo công bằng.1) là chỉ của ta đó”. Đến khi sắp hết kỳ phát chẩn, vua nghĩ là nhân lúa mới trỗ sai cho phát chẩn thêm 5 ngày. Đến ngày thôi phát, lại cấp cho tiền gạo để về làng.
    Cho con trai Chưởng Hậu quân Lê Chất là Vệ uý Lê Hậu lấy trưởng công chúa thứ tám tên là Ngọc Cửu, con trai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên là Vệ uý Nguyễn Đức Hựu lấy trưởng công chúa thứ chín là Ngọc Nguyệt, con trai Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt là Kiêu kỵ Đô uý Lê Văn Yến (con Lê Văn Phong thừa tự Lê Văn Duyệt) lấy trưởng công chúa thứ mười là Ngọc Ngôn, con trai Thị trung Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm là Kiêu kỵ Đô uý Nguyễn Thường Tuân lấy trưởng công chúa thứ mười một là Ngọc Tôn. Vua dụ rằng : “Bọn ngươi cha con một nhà mang nhiều ơn huệ vẻ vang, nên dốc lòng trung trinh, giữ trọn tiếng tốt”.

    Ngày Giáp thân duyệt binh. Vua ngự điện Càn Nguyên để xem và dụ rằng : “Luyện sĩ trị binh là lệ thường của nhà nước, mà thể lòng trời để ra ân là để khích lệ lòng quân. Vậy thưởng tiền cho Cai tòng quân trở xuống theo thứ bậc. Từ nay lấy đó làm lệ”.

    Cho Vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong là Lê Văn Từ làm Chưởng cơ, vẫn lĩnh việc vệ.

    Cho Trần Bá Kiên làm Ký lục Quảng Trị.

    Lấy Tri bạ Nguyễn Minh Châu làm Lang trung Lễ bộ, vẫn làm việc ở Tôn nhân phủ.

    Giặc trốn ở Bắc Thành là Nguyễn Điều nguỵ xưng là Tiền quân chánh tướng (đồ đảng của tướng giặc Nguyễn Đình Cúc) lẩn trốn ở Hải Dương, chiêu dụ bọn hào mục mưu nổi loạn, thành thần sai Phó vệ uý vệ Hùng dũng là Phạm Văn Lượng theo người báo dẫn đem quân ập đánh, bắt được Điều và 6 người đồ đảng giết đi. Thưởng cho biền binh 300 quan tiền.

    Lấy Thái thường Tự khanh biện lý Lễ bộ là Hoàng Kim Hoán thăng thự Tả tham tri Lễ bộ, Quang lộc Tự khanh biện lý Lễ bộ là Phan Huy Thực thăng thự Hữu tham tri Lễ bộ.

    Bắc Thành bị hạn.

    Định số ngạch nhân viên vệ Giám thành : Chủ sự, Tư vụ đều 1 người, Tòng bát cửu phẩm Thư lại đều 2 người, vị nhập lưu Thư lại 4 người. Lại định lệ thưởng các vệ binh được sai phái, lấy địa phương sai đi xa gần khó dễ làm thứ bậc (Phàm sai đi từ Bình Định vào Nam, từ Nghệ An ra Bắc, cùng những chốn rừng núi công việc hơi khó thì những người am hiểu cách thức thưởng tiền 3 quan, những người đi theo để đo đạc thưởng 2 quan, gần và dễ thì đều bớt 1 quan).

    Lấy Ký lục Vĩnh Thanh là Nguyễn Đình Thịnh làm Ký lục Định Tường, Thiêm sự Hình bộ sung biện Hình tào thành Gia Định là Nguyễn Duy Cần làm thự Ký lục Vĩnh Thanh, Thiêm sự Công bộ biện lý việc lương tiền bảo Châu Đốc là Đoàn Khắc Cung làm thự Cai bạ Phiên An, Chủ sự Lại bộ là Trần Văn Đản làm Lang trung Hộ bộ biện lý việc lương tiền bảo Châu Đốc, Lang trung Binh bộ là Lưu Đình Luyện làm Tham hiệp Quảng Yên.

    Rút biền binh đi tuần biển ở Bắc Thành về ngũ. Năm ngoái ở Thanh Hoa có giặc biển, sai thành thần điều Thuỷ quân và lính đội Uy chấn hơn 100 người cùng 5 chiếc thuyền đi tuần xét, đến bấy giờ mặt biển hơi yên nên rút về. Thưởng tiền cho quản cơ trở xuống theo thứ bậc. Lại thấy Thanh Hoa không có thuyền sai hạ lệnh cho Trấn thần đóng để sẵn mà sai khiến.

    Cai cơ chánh quản Tả chi thượng đạo Thanh Hoa là Phạm Thúc Nho, và Phó chưởng chi chi Hậu hãn là Hà Công Quỳnh tâu xin thế tập làm thổ tù để chăn dân. Vua không cho. Hạ lệnh cho Thúc Nho vẫn coi sách Ngọc Lặc (thuộc huyện Thuỵ Nguyên), Công Quỳnh vẫn coi sách Kim Lô (thuộc huyện Cẩm Thuỷ).

    Vời thự Trấn thủ Tuyên Quang là Lê Huy Tích về Kinh.

    Ấm thụ Tôn Thất Tào làm thứ Đội trưởng coi giữ việc thờ Thiếu sư Phúc Quận công Tôn Thất Diễn. Tào là cháu phái thứ của Diễn. Trước Tôn Thất Quảng là phái chính chủ việc thờ tự. Tôn Thất Dịch tâu rằng Quảng là con cháu người có tội tên là Huệ, ở triều Hiển Tông mưu phản bị giết, hệ ấy không nên cho chủ việc thờ tự Diễn. Vua bèn sai bãi Quảng mà lấy Tào thay. Dịch lại tâu xin truất bỏ hệ ấy mà giảm bổng tôn thất. Giao xuống bộ Lễ bàn, cho là tội tên Huệ theo điển lệ của nhà Thanh mà xét thì nên xoá sổ tôn thất. Con Huệ là Nghị, cháu Huệ là Ân, Huyễn và Nhật trước đây có người làm Cai cơ, nội Đội trưởng, có người làm Lưu thủ Phó vệ uý, là bởi bọn Nghị đều biết cố gắng chịu khó, cho nên đặc cách dùng, vả lại để tỏ cái ý thân người thân. Nay hoàng thượng ta lấy đức sáng mà hoà mục họ hàng, dạy trung dạy hiếu tất từ gần trước. Phàm các hệ tôn thất, quy trình nuôi dạy đã rõ lại nghiêm. Hệ của Huệ đã là dòng dõi phản nghịch, lại không tài đức, sao lại để cho kẻ xấu được lạm phần ! Vậy xin chép hệ ấy vào sau sổ tôn thất, bổng tôn thất bớt đi một nửa, cho có phân biệt. Lời nghị dâng lên, vua hạ lệnh những người hiện đương ăn bổng vẫn được cấp như lệ, còn người tục sau thì bớt một nửa.

    Tháng 2, định lệ đấu giá đầm ngòi, từ Thừa Thiên trở ra Bắc đến Thanh Hoa, trở vào Nam đến Bình Thuận (hằng năm cứ lấy ngày 15 tháng 11 bán đấu giá, đến ngày 1 tháng 12, sớ sách đến bộ).

    Thanh Hoa bị hạn và động đất, Trấn thần không tâu lên. Vua nghe tin quở rằng : “Trẫm từ lên ngôi đến nay, chăm chắm mong được trị yên, gặp có tai biến càng thêm sợ hãi sửa đức trừ tai, chẳng dám chút nào nghĩ chuyện vui sướng. Nay các ngươi lại giấu giếm chẳng báo, như thế há phải đạo bầy tôi thờ vua ? Tạm tha cho. Từ sau nếu lại quen thói xấu, mà kiêng dữ nói lành để mong đẹp lòng thì tất sẽ bị nghị xét, không phải là nhỏ”. Rồi Trấn thần đem việc lúa hại gạo đắt tâu báo. Liền sai lấy 30.000 hộc thóc kho bán rẻ cho dân. (Thóc 1 hộc giá 2 quan tiền giảm xuống 1 quan).

    Đổi định lệ dùng thuốc súng cho súng tay (Lệ trước mỗi một phát dùng 2 đồng 6 phân thuốc súng, đổi làm 1 đồng 6 phân).

    Lấy Hàn lâm viện Thị độc sung tán thiện là Bùi Đăng Huy làm Thiêm sự Lại bộ.

    Xây đắp thành Quảng Bình (chung quanh bốn mặt thành dài 468 trượng, trên rộng 3 thước, dưới rộng 4 thước 6 tấc, cao 11 thước 5 tấc, chân móng sâu 1 thước rưỡi, thành có 3 cửa tả, hữu, hậu). Lấy hơn 3.700 người các quân Bắc Thành và Thanh Nghệ, cùng lính các đội Chấn uy và Tuân thành làm việc, mỗi tháng mỗi người cấp tiền 3 quan gạo 1 phương. Sai Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí trông nom công việc. Trước là vua dụ bọn dinh thần Đỗ Quý trông coi việc đắp thành, sai Lang trung Công bộ là Đoàn Văn Phú hội làm. Lại nghĩ việc dinh bề bộn, thế khó làm cả được, bèn lấy Trí thay, cho Phú theo giúp, quan binh làm việc cứ 5 ngày cho ăn một bữa, ốm thì cho thuốc, chết thì cho thêm tiền tuất. Thành xây xong lại sửa đắp luỹ dài (từ núi Đâu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ), cửa luỹ cho tên là Quảng Bình quan. Ngoài cửa có cầu cũng gọi là cầu Quảng Bình. Thưởng cho Nguyễn Văn Trí 100 quan tiền, 3 tấm sa, 1 thứ kỷ lục ; quan binh được thưởng theo thứ bậc.
  • Chia sẻ trang này