0059.034 - @ nhani78 (Done WK)

16/11/15
0059.034 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Đào tiếp sông Vĩnh Tế. Lấy binh dân các trấn thuộc thành và nước Chân Lạp hơn 24.700 người làm việc, chi cấp lương tiền như lệ năm Minh Mệnh thứ 4. Vua dụ rằng : “Việc đào sông Vĩnh Tế là vâng theo thánh toàn của Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta mà làm, thực là quan yếu cho quốc kế biên trù. Nhưng khai đào mới bắt đầu, công việc còn khó, trẫm vâng theo chí trước, năm ngoái đã đào, còn lại hơn 1.700 trượng, ấy là còn thiếu cái công một sọt đất. Nay nước nhà nhàn rỗi, chính nên kịp thời làm tiếp cho xong, để làm kế nhọc một lần được rỗi mãi”. Lại dụ cho quốc vương Chân Lạp biết. Phó tổng trấn Trần Văn Năng xin để lại quân dân hai trấn Phiên An, Biên Hoà để đào đá xây thành. Vua dụ rằng : “Việc xây dựng năm nay chưa tiện, sẽ đợi sang năm. Còn như sông này, liền với tân cương, rất quan hệ đến việc biên phòng, so với việc xây thành đằng nào cần hơn ? Huống chi hai việc đều làm, sao cho xong được, kiến thức sao hẹp hòi thế ?” Không cho. Sai đem cả quân dân đến đào sông. Phát tiền kho 1.000 quan mua trâu rượu khao những người làm việc.

    Chở 230.000 quan tiền ở kho Kinh đến Gia Định.

    Định bổng hằng năm cho các hoàng tử, hoàng nữ, lấy tháng giêng năm nay bắt đầu. (Hoàng trưởng tử cùng Miên Định, Miên Nghi, Miên Hoành, Miên An mỗi người mỗi năm tiền 800 quan gạo 600 phương ; các hoàng tử đều tiền 300 quan gạo 300 phương, hoàng nữ đều tiền 200 quan gạo 200 phương).

    Cho con trưởng Kiến An công là Lương Kỳ bổng hằng năm (tiền 200 quan gạo 150 phương). Dụ rằng : từ nay con trưởng các thân công đến 12 tuổi trở lên thì tâu xin đưa vào ra mắt, lượng cho bổng hằng năm.

    Sai các quan quản lĩnh các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách kén chọn từ Cai đội trở lên mà trước có công lao, dù già yếu mà còn có thể làm chức thủ ngự đầu nguồn cửa biển được, thì đưa đến bộ, dẫn vào ra mắt đợi chỉ kén dùng.

    Sai các địa phương từ Nghệ An ra Bắc xét hỏi trong dân gian có người nào là yêm hoạn((1) Yêm hoạn : người như đàn ông mà không có dương vật1) thì do trạm dẫn về Kinh (tuổi từ 13 trở lên đến 65 trở xuống), không được giấu giếm (giấu một người bị 80 trượng, mỗi người lại thêm một bậc). Vua bảo Thái thường Tự khanh Hoàng Kim Hoán rằng : “Đời trước nhà Hán nhà Đường mất nước, tuy rằng do số trời, nhưng chưa hẳn là không bởi bọn này gây ra. Song công việc ở trong cung cấm không có nó cũng không xong. Nay bọn cung giám chỉ có hơn 10 người, không đủ sai khiến, cho nên muốn kén thêm. Nhưng chỉ dùng để giữ cửa và truyền bảo mệnh lệnh, không cho can dự dến chính sự triều đình, tưởng cũng không hại gì”.

    Lấy Vệ uý Hữu bảo nhị Hữu quân là Phạm Văn Châu làm Trấn thủ Phiên An, Trấn thủ Quảng Yên là Nguyễn Hữu Viễn làm Trấn thủ Lạng Sơn, Vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong là Lê Phước Hậu đổi bổ Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Quảng Yên.

    Đại sứ cục Bảo tuyền Bắc Thành là Trương Văn Minh về đinh ưu. Lấy Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào là Đoàn Viết Nguyên kiêm lĩnh công việc cục Bảo tuyền, Thiêm sự Công bộ coi Tạo tác cục là Nguyễn Công Liêu sung biện cục Bảo tuyền, Lang trung Vũ Khố là Trần Văn Hoằng coi Tạo tác cục.

    Lấy Thiêm sự Hộ bộ sung biện Hộ tào thành Gia Định là Nguyễn Bá Uông làm Thiêm sự Hình bộ sung biện Hình tào.

    Lấy Tri phủ Từ Sơn là Hoàng Bình làm Đốc học Bình Thuận.

    Cấp cho các trạm từ Thừa Thiên trở về Nam đến Phiên An, trở ra Bắc đến Sơn Nam, mỗi trạm 3 tháng lương (mỗi tháng gạo 20 phương).

    Cho Tôn nhân phủ 1.000 quan tiền, phàm người tôn thất có việc hiếu hỷ thì những người tộc trưởng tuỳ theo xa gần thân sơ dùng làm hai lễ hồng bạch (hồng là lễ hỷ, bạch là lễ tang), mỗi năm một lần tâu sổ chi tiết, cấp cho.

    Đổi tên các thủ ở Gia Định, thủ Băng Vọt làm thủ An Lợi, thủ La Bôn nguyên làm thủ Phúc Vĩnh nguyên, thủ Hưng Phước thượng làm thủ Long An, thủ Sông Nậu làm thủ Phước Bảo, thủ Đường Sứ làm thủ Bình Lợi, thủ Ba Can làm thủ Định Quan, đạo Đồng Môn làm đạo Phước Thuận, thủ Làng Giao làm thủ Phước Khánh, thủ Vũng Tàu làm thủ Phước Thắng, thủ Tắc Khái hải khẩu làm thủ Long Hưng (đều thuộc tỉnh Biên Hoà). Lại sai bộ Hộ xét danh hiệu các tổng xã thôn phường ở các địa phương, những tên nôm và mặt chữ không nhã, thì bàn định đổi đi.

    Thành phủ Hà Hoa sụt. Hạ lệnh cho những biền binh chuyên biện đắp đền lại. Vua lại nghĩ trấn ấy gạo đắt, ân cấp cho tiền gạo. Khi đắp xong, thưởng thêm cho 1.000 quan tiền.

    Nghệ An đói, giặc cướp nổi lên. Vua nghe tin, dụ quở Trấn thần rằng : “Hạt ngươi đồng ruộng hại nhiều, giặc cướp quấy nhiễu, bọn ngươi giữ chức chăn dân, thế mà gần đây không thấy mở miệng nói gì, chẳng biết bụng dạ các ngươi để ở đâu ? Nay những người bị tai nạn kíp nên khám thực mà tâu, đợi trẫm tha hay hoãn thuế. Sai phải nghiêm đốc quan quân đi tuần để dẹp giặc yên dân thì ta không những tha tội trước mà lại ghi công sau, nếu không thế thì có phép nước đó, không thể vì bọn ngươi mà khoan thứ đâu”.

    Trấn thần Bình Định tâu rằng : “Dân trong hạt xiêu tán 30 ấp và man((1) Man : chỗ dân ở liên thuộc với nhau gọi là man (xem Gia Định thông chí, quyển 3, tờ 39)1), lính thiếu số không lấy đâu mà sung điền ; hiện đã thêm hạn để chiêu dụ, chưa thấy trở về mà binh lính trốn đi ngày càng thêm nhiều, xin hoãn đòi bắt trong hạn 2 năm”. Việc giao xuống bộ Binh bàn lại, cho rằng : “Dân là gốc nước, mà binh cũng không thể thiếu được, xin sai Trấn thần khám lại, quả có xiêu tán thực thì cho hoãn ; như xóm còn có dân ở, ruộng còn có người cày, thì cứ số trốn thiếu bắt phải điền thế”.

    Vua theo lời bàn. Rồi cho gia hạn 1 năm. Sắc rằng từ sau những dân mới về và người mới đến tuổi đều ghi sổ mà điền chỗ lính thiếu, không được đầu vào sổ khác của các nha.

    Nước Vạn Tượng sai sứ đến cống.

    Ngày Quý sửu, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao. Ngày ấy trời tạnh nắng, vua rất lấy làm vui, bàn muốn ăn mừng và thưởng trăm quan. Gặp nắng ngày càng dữ, vua bảo Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận rằng : “Nắng sắp làm tai, người làm vua chính nên sợ hãi sửa mình, há lại dối trời mà vui hoạn nạn sao” ? Việc thưởng trăm quan bèn thôi. Sai Phủ doãn Thừa Thiên là Nguyễn Hữu Phượng làm lễ đảo vũ ở miếu Nam Hải Long vương và ở đền Thai Dương phu nhân.

    Xây đắp thành Ninh Bình. Lấy 2.000 người lính cơ Ngũ kinh làm việc, hằng tháng cho lương tiền, cùng các món ân tứ theo như lệ đắp thành Quảng Bình. Những dân đói có xin làm thuê thì cấp cho tiền 1 quan gạo 1 phương. Việc xong thưởng cho đổng lý là quản đạo Lê Mậu Cúc tiền 60 quan, sa 2 tấm, kỷ lục 1 thứ. Từ người chuyên biện trở xuống đều được thưởng cả.

    Giáng Thiêm sự Hộ bộ Hoàng Công Dương làm Chánh bát phẩm Thư lại ở Khâm thiên giám. Nguyên trước đó tờ dụ niêm yết ở lầu Phu Văn, người coi giữ không cẩn thận để rách. Công Dương nhận lời nhờ muốn tha tội cho. Việc phát giác. Vua dụ bộ Hình rằng : “Công Dương do nghề mọn xuất thân, quan đến Tứ phẩm, lại chẳng nghĩ giữ mình cho sạch, cam chịu nhơ bẩn, thì phép nước ơn vua nó đã không để bụng vậy”. Sai lột bỏ mũ áo, giao vệ Cẩm y đóng gông đợi xét. Sau phải giáng chức.

    Chưởng cơ Thống quản thập cơ Kính tiệp của Tiền quân là Vũ Văn Lương tuổi già nghỉ việc. Vua thấy Lương khi đóng thú ở Bắc Thành lập được nhiều quân công, cấp cho nửa lương. Lấy Chưởng cơ Phạm Văn Lý thay.

    Lấy Phó sứ Thương bạc ty là Trần Xác làm Đại lý tự Thiếu khanh (trật Chánh tứ phẩm), vẫn kiêm lĩnh công việc Thương bạc ty, Tri bạ Nguyễn Văn Di làm Phó sứ Thương bạc ty.

    Lấy Lang trung Nội vụ phủ là Lê văn Công làm Thiêm sự Hộ bộ, Lang trung Vũ Khố là Phan Văn Nguyên làm Thiêm sự Binh bộ.

    Lê Văn Duyệt và Lê Chất dâng sớ xin từ chức Tổng trấn. Vua bảo rằng : “Hai thành là chỗ trọng trấn ở miền Nam miền Bắc, trẫm đương nhờ cậy các khanh, sao lại nói ra lời ấy ?”. Hai người quỳ khóc mãi không thôi. Vua hỏi hai ba lần. Chất nói : “Bệ hạ bảo thần chết thần không dám tránh, chứ việc Bắc Thành thần không thể làm được”. Vua bảo rằng : “Phải chăng có việc gì khó lắm sao ?” Chất nói : “Không phải vì việc gì khó, thần làm được hay không là ở bệ hạ thôi”. Vua ngạc nhiên hỏi : “Tại sao nói thế ?” Chất nói : “Trước kia cái án Lê Duy Thanh tham tang thần cùng Hình tào xét hỏi, tội Thanh đáng giết, kịp đến khi bắt giao triều đình xét, lại được giảm nhẹ, ấy là phép không đủ tin với dân, nên thần không thể làm việc thành được”. Vua bảo rằng : “Việc ấy là công nghị của đình thần, chẳng phải riêng một mình trẫm”. Sai lấy bản án Duy Thanh, giao cho Chất bàn lại. Rồi lại hạ chiếu theo chỉ trước phát Duy Thanh đi Quảng Bình ra sức chuộc tội.

    Lấy Cai đội vệ Hữu bảo nhị của Hữu quân là Đào Văn Nghị làm Phó vệ uý, quản lĩnh biền binh coi giữ đài Điện Hải.

    Đốc học Thanh Hoa là Trần Danh Phác tuổi già về hưu, lấy Tri huyện Duy Xuyên là Hồ Sĩ Lâm làm Phó đốc học Thanh Hoa.

    Lấy Phó vệ uý Trung vệ dinh Long võ Hoàng Văn Hựu làm Vệ uý, Phó vệ Tiền vệ là Nguyễn Văn Sử làm Vệ uý vệ Hữu bảo nhị của Hữu quân, Phó vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong là Phạm Phú Chung làm Vệ uý Tiền vệ dinh Long võ.
    Gọi biền binh Bắc Thành và Thanh Nghệ đi thú Gia Định về Kinh gấp, cấp cho mỗi người 1 tháng lương tiền, cho về nguyên ngũ.

    Sửa lại mặt sau Kinh thành (dài 757 trượng 5 thước), giờ khắc binh lính làm nghỉ đều y như trình hạn năm Minh Mệnh thứ 3. Sai Thái y viện chia đi săn sóc. Vừa một tháng việc xong, thưởng từ giám tu trở xuống kỷ lục và tiền theo thứ bậc (Binh lính thì tính trượng thưởng tiền mỗi trượng 120 quan). Dụ rằng : “Làm nhà tất phải làm tường vách, làm nước tất phải vững thành trì, đều là bất đắc dĩ mà làm thôi, chứ chẳng phải muốn làm mệt sức binh lính. Kinh sư là nơi căn bản, năm Gia Long bắt đầu xây dựng Kinh thành bằng gạch đá, phàm những tường ngọn, lầu canh pháo đài, quy chế đều đủ, mà công trình to lớn, chưa thể một lúc làm xong. Trẫm từ khi mới lên ngôi, sâu nghĩ cái nghĩa “cha đắp nền con làm nhà”, ba mặt thành lần lượt sửa xong, mà công lớn làm xong là ở lần này, cho nên đặc biệt khen thưởng hậu để đền cái công khó nhọc đã lâu của các ngươi. Vậy tiền thưởng cho sĩ quan, người quản suất phải lấy công bằng chia cấp, để cho người có cha mẹ vợ con nhờ đó mà trên thờ (cha mẹ) dưới nuôi (vợ con), nhất thiết đừng bắt họ đóng góp mà bớt xén, biết ra thì có tội”.

    Làm duyệt tuyển ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Ngãi. Sai bọn Vệ uý Thị trung là Trần Đăng Long, Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Công Tiệp, Trấn thủ Bình Định là Nguyễn Văn Quế, Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Vệ uý Thị trung là Nguyễn Hữu Khâm, Phủ doãn Thừa Thiên là Nguyễn Hữu Phượng, Lưu thủ Quảng Bình là Đỗ Quý, Ký lục Bình Định là Nguyễn Văn Thục, Vệ uý Thần sách là Nguyễn Văn Cẩn, Biện lý Lễ bộ là Hoàng Kim Hoán, chia đi làm việc. Đình thần bàn tiếp duyệt theo lệ năm Gia Long, duy có sổ tuyển phải làm ba bản, các quan văn võ khâm mạng cùng quan địa phương đều cầm một bản, văn thì bản giáp, võ thì bản ất, đều dùng chữ son, quan địa phương giữ bản bính, sao chữ mực. Tuyển xong đều đóng ấn duyệt tuyển, bản giáp nộp bộ Hộ, bản ất nộp bộ Binh, bản bính để lại sở tại giữ lưu chiếu. Vua thấy là gần đây dân thì nhiều kẻ dối trá, lại thì nhiều kẻ đục khoát, bèn dụ cho các dinh trấn răn cấm ; lại miễn cho tiền đăng tên ở tuyển trường. Dụ rằng : “Buổi quốc sơ lệ tuyển trường có tiền đăng tên, lấy của dân để chi việc công. Khoảng năm Gia Long, kho tàng chưa đủ nên còn giữ nếp cũ, đấy cũng là theo nghĩa mà lấy ở dân để làm việc thiên hạ vậy. Nay súc tích mỗi năm một thêm, nước đã đủ dùng, chẳng muốn làm hao phí dân nữa, từ sau phàm sự cung ứng ở tuyển trường thì lấy của công mà cấp, lệ tiền đăng tên thì bãi đi”. Đến khi tổng sách dâng lên, số đinh Quảng Nam hơn trước 1 phần 10. Vua bảo Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận rằng : “Duyệt tuyển là để biết rõ số dân nhiều ít, chẳng phải lấy tăng lên hay kém đi làm tốt xấu ; duy Trấn thần Quảng Nam vỗ về chăn nuôi đúng đắn, hộ khẩu ngày đông, mà tuyển quan thì phép cũng vừa phải, không có thiên khinh thiên trọng, vậy nên xét công. Tuyển quan Nguyễn Văn Quế, Trần Minh Nghĩa, dinh thần Phạm Văn Tín, Trần Lợi Trinh, Lê Đại Cương đều thưởng 1 thứ kỷ lục. Từ sau phàm những người vâng mệnh đi làm duyệt đều nên đem lòng công bằng tin chắc, chớ có cầu công càn bậy mà hư trương số hộ làm hại dân”.

    Sai đình thần và quan Bắc Thành đều cử 5 viên Tri phủ thanh liêm, cần mẫn, thông thạo, không kể niên hạn lâu hay mới. Tham tri Binh bộ là Nguyễn Khoa Minh đem Tri phủ Đức Thọ là Lê Hữu Đức cử lên, vừa lúc Đức bị dân kiện, Trấn thần xin lưu lại. Vua nói rằng : “Thế đã biết Đức chẳng phải là quan tốt vậy. Khoa Minh bằng vào đâu mà tiến cử”. Hạ lệnh cất bổng.

    Định lệ bảo cử giáo chức các huyện.

    Vua thấy Huấn đạo các huyện phần nhiều trẻ tuổi, sai bỏ đi 17 người, chuẩn y lời nghị của bộ Lại định từ nay bảo cử chức giáo quan ở huyện thì các hương cống sinh đồ lấy từ 40 tuổi làm hạn, các sĩ nhân di dật thì lấy 50 tuổi làm hạn, Lễ bộ và quan Quốc tử giám hội đồng sát hạch rồi tâu lên. Ai có học hạnh có thể dạy được học trò, xét ở đâu khuyết thì gắp thăm mà bổ.

    Dinh thần Quảng Trị tâu rằng : “Xã Kim Giao (thuộc huyện Đăng Xương) vốn có đường kênh bị bùn cát lấp đầy, dân ấy xin nhờ những biền binh ty thuộc quê ở làng góp sức đào vét, một là để lấy nước thuỷ triều vào ruộng, hai là để tiêu nước úng ra biển, thực có lợi cho nghề nông ; lại từ kênh ấy thông ra sông lớn, vận tải thóc thuế cũng tiện”. Vua y cho, miễn dao dịch cho dân ấy 5 tháng.

    Lấy Lang trung Lễ bộ là Đặng Đình Dương làm Thiêm sự Hình bộ sung Hình tào Bắc Thành.

    Định lệ khảo tứ trọng (bốn tháng trọng) cho các viên tử học ở Giám. Quan Quốc tử giám tâu rằng : “Các viên tử được nhờ phước ấm của cha, sức học còn kém, chưa có thể theo kịp giám sinh, xin hạch riêng, lấy văn thể trường nhì mà chia định thứ bậc”. Vua sai bộ Lễ bàn tâu, cho rằng viên tử tuy học lực không bằng giám sinh, nhưng cũng nên ghép vào quy trình cho được tiến ích ; nếu chỉ khảo hạch văn thể trường nhì thì họ chỉ tập theo cái thường sáo tứ lục để làm công cụ dự hạch mà ăn lương, chứ còn học làm gì văn trường khác. Xin từ sau phàm khảo khoá tháng trọng, kỳ thứ nhất lệ dùng chế nghĩa kinh 5 đề, truyện 1 đề thì cho làm 1 đề ; kỳ thứ hai thì dùng tứ lục chiếu chế biểu 3 đề, cho làm 2 đề ; kỳ thứ ba dùng thi 1 đề, phú 1 đề thì cho làm đề thi và 1, 2 câu phú ; kỳ thứ tư lệ dùng sách vấn 1 đạo, trong có những đoạn về Tứ thư Ngũ kinh cùng Hán sử Đường sử Tống sử cho làm 1, 2 đoạn văn sử. Đều cùng với giám sinh hạch một ngày, không nên hạch riêng, để ngăn ngừa cái tệ mượn làm thay. Giám thần vẫn theo văn lý mà chia làm ba hạng ưu bình thứ, làm danh sách riêng để tâu. Thưởng phạt theo từng khoá thì làm như lệ, đợi sau 3 năm sẽ khảo khoá như giám sinh, nếu còn có người chưa đủ văn thể bốn trường thì cách đuổi về”.
    Vua theo lời bàn.

    Khởi phục Nguyễn Văn Ngoạn làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, cho theo ban vào chầu. Ngoạn là con trai Thái bảo Nguyễn Văn Trương và em là Đô thống chế Nguyễn Văn Vân, trước làm Đốc trấn Thanh Hoa, phải tội bị miễn chức. Vua nghĩ cha anh có công nghiệp rõ ràng nên phục cho chức ấy. Dụ rằng : “Đấy là trẫm tưởng đến người có công nghiệp cũ mà tha lỗi cho không kể lớn nhỏ, ngươi nên đem lòng thành hết sức làm nổi tiếng nhà thì khá”.

    Lấy Khinh xa Đô uý là Vũ Khánh làm Chưởng cơ lĩnh Vệ uý vệ Hữu bảo nhất của Hữu quân.

    Lễ bộ tâu bảo rằng : từ trước đến nay, gặp ngày khánh tiết có chiếu đàm ân niêm yết ở lầu Phu Văn, các nghi tiết như trước lầu viên quân sắp hàng coi giữ, các phụ lão ở kỳ điện đứng đợi chiêm bái, và nhân dân địa phương vui mừng, bày tạ, vẫn còn thiếu sót. Vua bèn chuẩn cho bàn định để thi hành. (Phàm có chiếu đàm ân, việc về bộ nào thì trước kỳ cho bộ Lễ biết để phái Loan nghi sắp sẵn hai cái tán vàng đứng đợi ở hai bên đông tây dưới thềm điện Thái Hoà ; 20 biền binh Thị trung cầm gậy đỏ và 10 biền binh Cẩm y đeo gươm cùng đứng đợi ở ngoài ban tả ; 1 Cai đội Thần sách đem 90 biền binh cầm giáo đứng hai bên trước sân lầu Phu Văn ; các viên huyện phủ Thừa Thiên đều đem những hương thân phụ lão đứng đợi chiêm bái. Đến ngày, hữu ty đem tờ chiếu để vào ống Kim Phượng đặt trên án vàng trước ngai ngự ở điện Thái Hoà ; rước vua lên điện ; trăm quan làm lễ khánh hạ như nghi tiết ; một viên đường quan mang ống Kim Phượng, theo thềm giữa đi xuống, hai cái tán vàng theo hai bên tả hữu đường để che đi đến ngoài tả ban ; biền binh vác gậy đỏ đi trước, biền binh đeo gươm đi sau, đến lầu Phu Văn. Tàn lọng nghi trượng bày hàng hai bên tả hữu trước sân. Viên đường quan dán treo xong, lạy 5 lạy, lùi ra đứng ở bên tả ; các viên huyện đem hương thân kỳ lão lạy 5 lạy ; lễ xong tàn lọng nghi trượng đều lui. Biền binh Thần sách kính cẩn coi giữ. Chiều ngày hôm sau tàn lọng nghi trượng quân lính lại sắp hàng ở trước lầu. Một viên bộ ty mặc áo mũ lạy 5 lạy, vâng lấy chiếu văn treo hôm trước bỏ vào ống Kim Phượng rồi đem giao cho Văn thư phòng nhận lấy. Phủ Thừa Thiên cứ tình hình nhân dân vui mừng làm tờ bày tạ, do bộ Lễ đề tâu thay xin làm lễ tạ ân. Đến như khi bất kỳ có ân chiếu tuyên bố, không phải là lễ tiết khánh hạ, thì việc quan hệ đến bộ nào, bộ ấy chỉ phái một viên ty thuộc mặc phẩm phục lĩnh đem niêm yết, các tiết như nghi trượng rước đi cùng hôm sau cất đi, đều như trên. Còn các thành dinh trấn có ân chiếu đến thì chiếu theo nghi chú mà đón tiếp, cùng là sao vào giấy vàng gửi đến các nha trong hạt tuân phụng, cũng cứ theo tình trạng vui mừng của nhân dân làm tập tâu bày tạ. Nếu không phải việc xá miễn tô thuế bỏ tiết bày tạ).

    ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXVI

    THƯC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HÒANG

    Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) (Thanh Đạo Quang năm thứ 4), tháng 3, mùa xuân, trong Kinh kỳ lâu không mưa, sai quan cầu đảo chưa mưa, vua bảo thị thần rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, không ngày nào không nghĩ đến nhân dân, sao lại gặp đại hạn này ? ý giả chính trị có chỗ khuyết điểm mà sinh ra thế chăng ? Trẫm thấy các vua đời trước gặp có tai biến thì xuống chiếu tự trách mình, hà tất phải xuống chiếu. Đến như việc cầu lời nói thì cũng là hư văn thôi. Trẫm ngày thường khiến bề tôi đều được nói hết, có phải đợi có tai biến mà sau cầu lời nói đâu”. Nhân dụ sai bộ Lễ kiểm điểm các đền thần ở Kinh thành được phong tặng cùng bị tước bỏ, làm thành sách để tâu. Lại dụ sai bộ Hình lục những án năm trước để lại, giao xuống đình thần xét bàn, phàm tội tình còn ngờ thì khoan giảm, tội nặng thì hoãn quyết.

    Vua ngày ngự ở tiện điện, cho vời các quan từ Tam phẩm trở lên vào chầu, bảo rằng : “Trời chưa bớt tai hoạ, trẫm càng lo sợ, dẫu ngày chẵn cũng chưa từng không coi việc để cùng các khanh bàn việc phải trái, đó cũng là một cách tu tỉnh vậy”. Hôm sau mưa to.

    Quảng Bình, Bình Định bị hạn. Sai dinh Trấn thần đi khám tai hại tâu lên.

    Đào sông Vĩnh Điện ở Quảng Nam. Xứ ấy có con sông nhỏ, từ xã Cẩm Sa (dài hơn 1.640 trượng), đường nước nông hẹp, sai Cai bạ Lê Đại Cương đốc suất 3.000 dân trong hạt để đào cho rộng ra. Người làm việc được cấp hậu tiền gạo (mỗi người mỗi tháng cấp tiền 3 quan gạo 1 phương). Đào hơn 2 tháng thì xong. Cho tên là sông Vĩnh Điện. Cầu sông ấy cũng gọi là cầu Vĩnh Điện. Thưởng cho Đại Cương 80 quan tiền, 2 tấm sa, 1 thứ kỷ lục, từ chuyên biện trở xuống thưởng tiền theo thứ bậc. Dinh thần lại tâu rằng từ dinh thành đến cửa biển Đại Chiêm từ trước đến nay chỉ do đường nhỏ bờ sông mà đi, xin khi đào sông xong đắp luôn đường mới (dài hơn 2.380 trượng) để tiện đi lại. Vua y cho. Lại dụ rằng : “Đào sông đắp đường, công việc kế nhau, nhân dân cũng đã khó nhọc, bọn ngươi nên khéo phủ dụ”.

    Đào Quang Lý trước làm Trấn thủ Phiên An, phạm tội tham tang, bị bỏ ngục và riết đòi tang vật, đã hơn ba năm không được cái gì. Thành thần Gia Định đem việc tâu lên. Vua nghĩ có công Vọng Các, tha cho, sai theo làm việc ở thành để ra sức chuộc tội.

    Chuẩn định từ sau, phàm quan chức văn võ được cấp phẩm phục, nếu có tội bị giáng cách thì phải nộp trả, khi được khai phục nguyên hàm lại được cấp lại. Ghi làm lệnh.

    Gọi Phó tướng Tả quân lĩnh Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Xuân và Hiệp trấn Nguyễn Kim Truy về Kinh ; lấy Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách lĩnh Trấn thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Soạn lĩnh Trấn thủ Nghệ An, thự Tham tri Hình bộ Vũ Xuân Cẩn lĩnh Hiệp trấn Nghệ An. Kim Truy đến Kinh vào yết kiến, vua hỏi công việc trong trấn, quở rằng : “Ngươi có trách nhiệm chăn dân, dân đói không tâu lên, để dân đến nỗi mặt xanh mình gầy là sao vậy ?”. Đáp rằng : “Dân bị đói chết cũng chỉ là đồn nhảm”. Vua bảo rằng : “Trước đây Vũ Xuân Cẩn phát chẩn, có đến hơn trăm người đến chỗ phát chẩn mà chết đói, còn bảo là đồn nhảm sao ?” Truy lại tâu rằng : “Đến lĩnh chẩn, hoặc có người đến chết là do khí độc nên thế thôi”.

    Vua bảo : “Dân đói rét đã chẳng biết nuôi nấng lại tìm cách nói che đậy, đạo làm tôi có như thế ư ?” Truy sợ hãi xin chịu tội. Xuân đến cũng dâng sớ nhận lỗi. Vua thương là già, đều tha cho.

    Lấy Chánh quản cơ Hữu kiên kiêm quản sáu cơ Kiên là Trần Văn Dưỡng cho quyền thự Trấn thủ Quảng Ngãi.

    Sai hai trấn Thanh Nghệ mộ dân ngoại tịch từ Quảng Nam vào Nam lập làm thuộc binh, mỗi trấn 5 đội, mỗi đội 50 người.

    Sai Đô thống chế chưởng Thuỷ quân là Tống Phước Lương quản lĩnh binh thuyền chở của công ở Bắc Thành về Kinh.

    Chở thóc ở Bắc Thành 140.000 hộc đem chứa ở Nghệ An, 20.000 hộc đem chứa ở Diễn Châu.

    Cai bạ Bình Thuận là Trần Công Tuân chết ; cho 300 quan tiền. Lấy Thiêm sự Hình bộ là Thái Bá Hạc cho thự Cai bạ Bình Thuận.

    Giặc man ở Cam Răng thuộc Thuận Thành là Tà La Mân lại họp chúng ở núi Đàn Linh. Trấn thần Bình Thuận báo về thành Gia Định chuyển tâu lên. Vua bảo rằng : “Việc quân Bình Thuận dẫu do thành trông coi ở xa, nhưng tình trạng hoang man thì tâu thẳng mới phải, do thành tâu lên chẳng chậm mà nhỡ việc sao ? Giặc man ấy nhóm ở hang núi, không dập tắt ngay thì sẽ thành đông”. Bèn dụ cho Trấn thần chọn lấy 150 người quân tinh nhuệ trong trấn, uỷ cho Cai cơ Thuận nghĩa là Lê Văn Ngoạn đem đi đánh dẹp. Trấn thủ Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh đem quân bản trấn đi đưa đường. Quân Ngoạn đến, Tà La Mân trốn xa, bắt được đồ đảng vài mươi người. Vua sai giết những đầu sỏ, còn người bị hiếp phải theo thì tha.

    Ngày Canh ngọ, tiết Thanh minh, vua thân đi yết lăng Thiên Thụ.

    Lại đánh thuế dầu hương ở huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Các đảo ở ngoài biển phường An Hải huyện Bình Sơn sản cây dầu hương, hằng năm đánh thuế (141 cân 12 lạng). Từ năm Gia Long thứ 11, bão làm gãy cây, thay bằng dầu lạc. Đến nay cây ấy lại mọc nhiều, dân xin nộp thuế dầu hương như cũ. Vua y cho.

    Cựu Trấn thủ Tuyên Quang là Lê Văn Thái chết. Cho 200 quan tiền, 1 cây gấm Tống, 5 tấm lụa, 20 tấm vải.

    Đổi kho Ái Tử ở Quảng Trị làm kho Quảng Trị, thuyền An nhất làm đội An nhất, đặt thêm đội An nhị, sai dinh thần mộ dân sung vào.

    Dựng đền Dụ Khánh (Đền ở phía Tây Kinh thành, thờ Hà Hoa Quận công) và từ đường Văn Xá (thờ năm đời họ Trần).

    Tha thuế cửa quan và bến đò năm nay cho hai trấn Thanh Nghệ. Hai trấn mấy năm mất mùa. Vua cho là rừng núi, sông đầm, cửa quan, chợ búa, đều là nguồn lợi nhân dân nhờ đó làm sinh kế, bèn sai bỏ các thứ thuế ấy ; những người thiếu thuế cũng tha hết.

    Đổi binh các đội Thắng dực (mộ binh thuộc thân công Quang) làm các đội Dực cường, binh các đội Hùng dực (mộ binh thuộc thân công Mão) làm các đội Dực định.

    Lấy Vệ uý Hữu quân quản cơ Trung hùng là Phạm Đình Bảo làm Phó thống Hữu quân quản thập cơ Hùng dũng, Cai cơ Nguyễn Văn Long làm Phó vệ uý Tiền bảo nhất của Tiền quân.
    Tham tri Lại bộ là Nguyễn Văn Hưng đem danh sách xin thực thụ Cai đội của các địa phương dâng lên. Vua nhân dụ rằng : “Triều đình phải có thể thống. Từ nay trở đi đình thần có cử quan to giữ chức mục thú thì đợi trẫm khuyên son để tỏ đặc biệt yêu chuộng, còn chức nhỏ chỉ tâu qua để chỉ thi hành thôi, không cần khuyên điểm lặt vặt làm gì”.
    Vua chăm mọi việc, phàm sớ tâu bốn phương dâng lên, đều phê bảo hằng ngày rất nhiều. Lê Văn Duyệt và Lê Chất thường nói như thế thì khó nhọc quá. Từ đấy có việc gì thuộc sáu bộ thì giao cho bộ ấy làm phiếu dự kiến.
  • Chia sẻ trang này