0059.035 - @ nhani78 (Done WK)

17/11/15
0059.035 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên mộ thêm dân ngoại tịch ở các dinh trấn để sung bổ làm lính các cơ vệ tượng đi thú.

    Cho lương tiền các viên tử con quan võ chết. Phàm những người dự chân hành tẩu hay học tập thì con quan Nhất phẩm mỗi tháng cho tiền 2 quan gạo 2 phương, con quan Nhị Tam phẩm giảm đi một phần tư, con quan Tứ phẩm giảm đi một nửa. Sai bộ Binh từ sau có nhân viên công sai thì tâu xin phái những viên tử ấy đi theo cho quen khó nhọc.

    Hai trấn Quảng Ngãi, Phú Yên trước đồng lúa bị hại vì bão và hạn dân đều không báo, đến lúc thu hoạch Trấn thần mới đem việc tâu lên. Vua nói : “Nhân dân khổ sở, trẫm đã rõ biết, há vì cớ không báo mà không cho đội ơn khoan giảm sao !” Bèn giảm thuế vụ hạ cho Quảng Ngãi 3 phần 10, Phú Yên 2 phần 10.

    Vua xem danh sách hình án chưa kết cuối năm Minh Mệnh thứ 4 của Bắc Thành và Thanh Nghệ còn đến hơn 320 án, bị giam đến hơn 840 người, dụ bộ Hình rằng : “Tiểu dân không biết mà phạm pháp luật, trẫm rất lấy làm thương tâm. Vả giam cầm nhiều như thế, trong ấy há không có người liên luỵ sao ! Gần đây các địa phương khí hậu không hoà, phải chăng là vì cớ ấy. Vậy truyền cho các nha môn xét hình ở thành trấn, phủ, huyện, phàm các án tầm thường, tội tình nhè nhẹ, thì cho dân làm giấy bảo lĩnh, những người không tội bị bắt lây thì tha ngay”. Lại sai bộ Hình lục tội trạng tù phạm để tâu. Vua thân tự kiểm duyệt, được khoan giảm rất nhiều.

    Vua lại thấy ở Bắc Thành một năm xử chém kẻ cướp đến hơn 200 người, bảo bộ Hình rằng : “án ăn cướp trong luật vốn có điều riêng, duy những đứa đi theo đứng gác ở ngoài, tiếp nhận của cải, những đứa chưa sang thuyền vào nhà lấy của, cùng những đứa bị hiếp dỗ đi theo ăn cướp hoặc đi ăn cướp mới có một lần, số tang không nhiều, đều là những tình nên thứ, nếu cứ lấy luật mà xử, thì có phải vâng theo ý thương xót khi xử hình đâu. Vậy truyền dụ cho thành thần từ sau có án ăn cướp như loại ấy thì nên đợi tâu xét định”.

    Lấy thổ tù Hưng Hoá là Chiêu thảo Đồng tri Đèo Quốc Thể kiêm quản chức Cai châu châu Thuỷ Vĩ, Chánh đội trưởng là Sầm Nhân Tráng kiêm quản chức cai châu châu Văn Bàn. Trước kia cai châu hai châu ấy đều mắc tội, quan Bắc Thành xin cho Thể và Tráng coi việc châu. Vua nói rằng : “Hai châu ấy từ trước đến nay thổ ty kế tập, Thể và Tráng là người châu khác, họ khác, cho cai quản chăn dân sợ sinh hiềm khích lôi thôi ; nên chọn người thổ mục ở trong châu, hoặc võ biền ở thành cho làm”. Đến nay thành thần tâu rằng những thổ mục hai châu ấy đều không làm nổi, ở thành cũng không có ai có thể sai được, hai người ấy từ khi chia đặt giữ đồn đến nay, vốn được dân châu tin phục, cần cho người và đất hợp nhau thì xét không ai hơn hai người ấy” (Thể giữ bảo Bảo Thắng châu Thuỷ Vĩ, Tráng giữ bảo Trấn Hà châu Văn Bàn). Vua bèn y cho.

    Sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức vẫn lĩnh Thượng thư Lại bộ kiêm quản công việc Lễ bộ. (Hoài Đức mùa đông năm trước xin nghỉ về thăm nhà, đến nay đến Kinh cung chức).

    Định lại lệnh cấm thuốc phiện. Vua thấy thuốc phiện làm hại người rất sâu, đã có điều cấm, mà tệ vẫn chưa hết. Bèn sai đình thần bàn định, đặt điều rất nghiêm. Phàm khách buôn ngoại quốc trên đường bộ hay đường thuỷ, đã biết rõ lệnh cấm mà còn cố ý giấu giếm thuốc và nhựa để buôn bán riêng, và các tiệm phố tiêm thuốc bán cho khách, cùng lại dịch quân dân cố ý hút trộm thì đều phải tội mãn lưu (3000 dặm) ; người làng xóm biết mà không giác ra cùng cha anh không cấm đoán được con em đều phải tội mãn trượng (100 trượng) ; quan chức hút trộm thì phải tội trượng và cách chức, mãi mãi không được bổ dụng ; gia sản của người phạm tội, đều sung thưởng cho người cáo giác. Vu cáo thì bị phản toạ. Ăn tiền mà cố ý tha thì tính tang mà kết án nặng. Còn hai điều : thưởng bạc cho người cáo giác và mới đến vì lầm mà phạm thì đều y theo lệ trước.

    Dựng học đường ở các dinh trấn, sai bộ Công gửi quy thức để làm (Một nhà giảng đường 3 gian 2 chái, một nhà vuông 1 gian 2 chái).

    Lấy Tri phủ Thường Tín là Nguyễn Đức Tế làm Tuyên phủ sứ Hoài Đức.

    Đốc học Hải Dương là Nguyễn Lý, Đốc học Sơn Tây là Nguyễn Huy Chung, Đốc học Sơn Nam là Nguyễn Tập đều vì tuổi già xin hưu. Vua y cho.

    Thổ phỉ ở Thanh Hoa tụ họp hơn 500 người cướp bóc vùng Ngọc Sơn, Nông Cống. Trấn thần sai bọn Vệ uý Nguyễn Văn Phượng và Hồ Bôi đem quân và voi đi đánh bắt. Gặp giặc đánh nhau, chém được tướng giặc và đồ đảng vài mươi đứa, bắt sống được 4 đứa, thu được khí giới rất nhiều. Việc tâu lên. Thưởng cho bọn Phượng kỷ lục quân công đều 1 thứ cùng áo đoạn hoa rồng tròn và dao tây mạ vàng mỗi thứ một cái, biền binh thì thưởng bạc tiền theo thứ bậc.

    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng thổ phỉ mới dẹp, còn nhiều đồ đảng trốn thoát hoặc tản đi làm giặc biển, nay đương kỳ vận tải đường biển, xin chia sai biền binh nghiêm xét ngoài biển Biện Sơn. Vua y theo.

    Bắt đầu định điều cấm bán trộm thóc gạo. Vua thấy ở Gia Định có nhiều gian thương chở trộm thóc gạo đem bán ở Hạ Châu và bán cho lái buôn người Thanh, sai đình thần bàn định điều cấm để trừ tệ ấy. Đều bàn cho là thành Gia Định là trấn lớn ở miền Nam, ruộng đất mầu mỡ, thóc gạo nhiều hơn cả mọi nơi, trước nay từ Bình Định trở ra Bắc đều nhờ có gạo miền Nam ; nếu giá gạo Gia Định lên cao thì gạo các nơi cũng có quan hệ đến quốc kế dân sinh. Vả lại các cửa biển đều có đặt quan trông giữ, hẳn không ai dám công nhiên làm gian, duy ở những nơi cù lao đầm vũng ngoài biển, vách đá cao đứng, che ngăn sóng gió, ít có dấu người qua lại mà tuần phòng cũng sơ, cho nên thuyền buôn nước ngoài thường ghé đậu ở đấy mà những kẻ gian lậu cũng đến đấy để bán trộm. Phàm nhà nước lập pháp luật, treo giải thưởng thì người ham mà tìm cách được thưởng, bắt phạt ngặt thì người sợ mà không dám phạm. Xin phàm các địa phương ở ven biển, quan sở tại phải nghiêm sức canh giữ, để tâm tuần xét, nếu bắt được kẻ buôn lậu thì của cải thóc gạo trong các thuyền bắt được, đều thưởng cho cả, mà chủ thuyền buôn bán thì lấy luật vi chế mà bắt tội. Nếu không xét biết, để người địa phương bắt được thì cũng thưởng cho hết những tang vật bắt được, mà quan địa phương thì giáng 1 cấp lưu, người thủ ngự thì giáng 4 cấp đổi đi. Người hạt khác bắt được thì cũng thưởng như thế, quan sở tại giáng 2 cấp lưu, người thủ ngự cách chức. Ăn tiền cố ý tha thì tính tang vật theo luật uổng pháp(() Uổng pháp : nhận hối lộ mà xử đoán trái phép.) mà xử nặng. Đến như trong hạt Gia Định có người buôn xin đi Hạ Châu buôn bán thì trong thuyền chỉ cho tính số người mà chở đủ ăn thôi, trái thế mà bắt được thì thưởng phạt như lệ”. Vua theo lời bàn.
    Vua sai Quốc tử giám chọn cử lấy 10 người giám sinh mà văn học giỏi giang có thể cho làm quan được, giao bộ Lễ sát hạch, bộ Lại nghị bổ, chuẩn cho người nào quê từ Quảng Bình trở vào Nam thì bổ Hàn lâm viện Kiểm thảo hay Điển bạ sung làm hành tẩu ở Văn thư phòng, quê ở Nghệ An trở ra Bắc thì bổ Tư vụ sáu bộ.

    Chuẩn định từ nay trong Kinh thành có việc kiện tụng về đánh nhau, giật cướp, trộm cắp, đều do Phủ doãn Thừa Thiên xét xử. Ghi làm lệnh.

    Quản Trường đà Hoàng Văn Kim trước vì nhũng lạm phải tội mãn đồ(() Mãn đồ : đồ 3 năm), con là Khuê thay làm khổ dịch hơn 1 năm không có ý ngại ngùng gì, Phủ doãn Thừa Thiên xét rõ chân tình, nhờ bộ Hình tâu lên. Vua bảo rằng : “Việc của Khuê cũng giống như việc Nguyễn Cư Sĩ, mà xin thay cha lại trước Sĩ, chẳng phải bắt chước, thực là con hiếu”. Sai tha.

    Mùa hạ, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

    Xây hai lầu cửa Chính đông và cửa Đông bắc với cầu cửa Chính bắc của Kinh thành.

    Giặc trốn ở Hưng Hoá Bắc Thành là Bàn Văn Lập (đồ đảng tướng giặc Lý Khai Ba) nguỵ xưng Đô đốc đại tướng quân, lẩn lút ở trại Man Pha nước Thanh (thuộc huyện Văn Sơn phủ Khai Hoá nước Thanh), Phòng ngự sứ quản châu Thuỷ Vĩ là Đèo Quốc Thể mật sai người Thanh ở động Gia Phú là Lương Chính Đức bắt được giết đi. Thưởng cho Quốc Thể 1 thứ kỷ lục, bọn Chính Đức 300 quan tiền.

    Cho Phước Long công Tôn Thất Thăng hơn 40 mẫu tự điền (Nguyên là ruộng đất tư ở hai làng Công Lương và Triều Thuỷ), tha thuế cho mãi mãi, khiến con là Vĩnh coi giữ việc thờ.

    Tha giảm thuế ruộng vụ hạ bị tai cho Thanh Nghệ và Ninh Bình. Thanh Hoa được tha cả ; huyện Đông Thành trấn Nghệ An cũng được miễn cả ; các huyện Hương Sơn, Thanh Chương, Nam Đường, giảm 6 phần 10 ; các huyện La Sơn, Thiên Lộc, Chân Lộc, Hưng Nguyên, giảm 5 phần 10 ; các huyện Thạch Hà, Nghi Xuân, giảm 4 phần 10 ; huyện Kỳ Hoa giảm 3 phần 10. Thuế phải nộp cùng trốn thiếu đều cho hoãn. Huyện Yên Mô, huyện Yên Khánh cùng xã Giá Hộ huyện Gia Viễn đạo Ninh Bình giảm 5 phần 10 ; các huyện Thiên Quan, Gia Viễn giảm 2 phần 10. Lại thấy huyện Quỳnh Lưu ở Nghệ An không có ruộng chiêm, huyện Đông Thành ruộng chiêm tổn hại nhiều, cho vay 6.000 hộc thóc giống để gieo mạ.

    Sai Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất thống lĩnh 4 vệ quân Kinh (Nội hầu, Thành võ, Ban trực hữu, Hữu bảo nhị) đi kinh lược các địa phương Thanh Hoa, Nghệ An. Vua thấy hai trấn ấy đói kém, trộm cướp nổi lên, cho nên sai Chất đi, phàm mọi việc bắt bớ xếp đặt cùng việc có lợi nên làm, có hại nên bỏ, đều cho tuỳ nghi thu xếp. Sai bọn Thiêm sự Công bộ là Lê Văn Đức, Chủ sự Binh bộ là Nguyễn Công Tú, Tham luận Trung dinh quân Thần sách là Thái Công Triều đi theo làm việc. Lại sai mộ lập lính cơ, phàm những người quê ở Thanh Hoa làm hai cơ Thanh thuận, quê ở Nghệ An làm hai cơ An thuận, quê ở Bắc Thành làm cơ An bắc, quê từ Quảng Bình vào Nam làm cơ Tĩnh bắc, mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 50 người. Mộ đủ rồi lại cho mộ thêm lập làm các cơ nhị, tam, tứ, ngũ. Các cơ Thanh thuận, An thuận, An bắc, ai mộ được 50 người thì cho làm thí sai Cai đội, mộ được 25 người trở lên thì cho làm thí sai Đội trưởng. Cơ Tĩnh bắc, ai mộ được 50 người thì cho làm Cai đội, mộ được 25 người trở lên cho làm Đội trưởng.

    Chất đến nơi, tâu xin xây đắp thành các phủ huyện Tĩnh Gia, Diễn Châu, Thạch Hà, và dời đặt phủ lỵ Hà Trung (ở xã Phú Điền) và đặt thêm các đồn bảo Thọ Mai, Tam Lệ, Ngọc Giáp, thuê dân làm, lấy công thay chẩn, người xin làm mỗi tháng cấp cho tiền 3 quan gạo 2 phương. (Ngọc Giáp thuộc Thanh Hoa, Thọ Mai, Tam Lệ đều thuộc Nghệ An). Vua y lời tâu. Hạ lệnh phàm mua vật liệu thì trả một nửa bằng thóc.

    Chất lại tha tù phạm, chiêu dụ trộm cướp cùng những lính cơ các cơ Thanh thuận, An thuận đi thú Gia Định trốn về, cùng những dân ngoại tịch mộ được, lập làm hai cơ Thanh thuận nhất nhị và hai cơ An thuận nhất nhị. Lại sai quản phủ Diễn Châu là Chu Văn Quế, Tri huyện Hương Sơn là Phan Nhật Thạnh mộ lập hai cơ An thuận tứ ngũ. Xin điều cấp cho lương tháng, chia đi đóng đồn canh giữ và lệ theo sai phái.

    Vua cho rằng : “Những tù phạm thủ phạm, trong ấy cũng có đứa quen thân cố phạm, cùng những đứa bị hiếp theo và bị vu oan có khác nhau, cũng nên phân biệt nặng nhẹ, để cho rõ rệt luật pháp, song đã trót sung bổ vào quân ngũ thì tạm theo lời xin”. Rồi sai đổi hai cơ Thanh thuận nhất nhị làm hai cơ Thanh Hoa nhất nhị.

    Chất lại tâu rằng ở Nghệ An, 7 tổng Hạ Dũ, Phác Lỗ, Thuần Hàm, Lâm La, Thường Khê, Nghĩa Hưng và Nhiêu Hiệp (thuộc huyện Quỳnh Lưu), 5 xã Tri Lễ, Tri Chỉ, Cự Lâm, Dương Hợp, Tiên Kỳ, và sách Đồng Xâm thuộc huyện Đông Thành, nhân dân ở liền với người Man Lão, dần dần thành ra hung dữ, xin lấy 5 xã và 1 sách ấy làm 1 tổng, cùng 7 tổng trên đặt làm huyện Lệ Sơn thuộc phủ Diễn Châu, đặt 1 viên Tri huyện để chăn vỗ. Lại 4 huyện Tương Dương, Vĩnh Hoà, Hội Nguyên, Kỳ Sơn chỉ có hơn 10 tổng, xin dồn Tương Dương và Vĩnh Hoà làm huyện Dương Hoà, Hội Nguyên và Kỳ Sơn làm huyện Nguyên Sơn, mỗi huyện đặt 1 cai huyện, 1 ký huyện, cho chuyên việc quản nhiếp ; đến kỳ duyệt tuyển, đều làm lại sổ đinh, còn thuế thì vẫn thu nộp như trước, để tiện cho dân.

    Vua giao cho đình thần bàn, đều cho rằng : Gần đây dân trong hạt gặp tai biến luôn, việc duyệt tuyển còn nên tạm hoãn, huống lại còn thay đổi. Nhưng việc Chất xin chưa thể làm được.

    Vua cho là phải.

    Đóng thuyền Từ châu (thuyền của Thái hậu) và thuyền Ngự châu (thuyền vua). Sai Vệ uý Nguyễn Tài Năng trông nom công việc. Sai 1.000 biền binh Thị trung và Thị nội lên rừng lấy gỗ.

    Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Hựu Bình chết. Cho 200 quan tiền. Lấy Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Công Tiệp lĩnh Hiệp trấn Thanh Hoa. Tiệp vào bệ từ, nhân nói rằng Thanh Hoa là đất thang mộc, gần đây mùa mất dân đói, trộm cướp nổi nhiều, kế ngày nay chỉ có rộng tha cho thủ phạm để khuyên hoàn lương, hoãn xét kiện vặt để bớt phí tổn cho dân, xin được tuỳ nghi mà bàn. Vua y lời tâu.

    Vũ Xuân Cẩn đi phát chẩn ở Nghệ An về phục mệnh, tâu rằng : “Dân Nghệ An có nhiều người bất cố liêm sỉ có người nhà giàu đã chẳng giúp đỡ ai, lại còn mặc áo rách ra tranh lĩnh chẩn với dân đói. Ngày thôi phát có chỉ cho mỗi người 1 quan tiền 6 bát gạo, trẻ con thì cho một nửa. Thần xét người nào mạnh khoẻ thì cho ít, trẻ con mà gầy xanh thì cho nhiều, xin chịu tội vi chế”. Vua bảo rằng : “Nếu có lợi cho dân thì tự ý làm cũng được, có tội gì ?”. Nhân hỏi : “Trộm cướp như thế nào ?” Đáp rằng : “Giặc chỉ có còn dư đảng thôi, gần đây vì mất mùa, không cướp bóc vào đâu được nên đã tan dần hết ; cũng có đứa giả làm lương dân lẩn vào trường phát chẩn, thần cũng lượng biết, nhưng nghĩ rằng triều đình có lo gì không có kế sách dẹp yên trộm cướp, chẳng nên nhân việc phát chẩn mà chộp bắt khiến dân sợ hãi”. Vua nói : “Phải. Dân sở dĩ trộm cướp là vì đói rét thúc bách đó thôi. Nếu sau khi phát chẩn mà tự biết hối lỗi, bỏ thói gian ngoan, làm người thuần hậu, thì cũng là con của trẫm thôi, trẫm sao nỡ giết. Nhưng nếu hễ đói thì đến cho ta nuôi, no lại hại dân ta, một mai bắt được đã có phép thường. Há lại lấy lỗi đã qua mà lấp đường đổi mới sao !”. Xuân Cẩn lại tâu rằng : “Lấy quân Thanh Nghệ đánh giặc Thanh Nghệ, nó đều là làng xóm thân thích, không hết sức đánh, thì có muốn giặc tan cũng khó”. Vua bảo rằng : “Thực như lời khanh nói. Trước đây sai Lê Chất mộ lập cơ Tĩnh bắc chính vì thế đấy. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, chưa kịp đổi định phép thú, cũng nên bàn sửa đổi dần, khiến quân nam bắc đổi đi thú lẫn nhau, ngõ hầu mới không có tệ. Tuy thế, quân giặc ra vào không thường, nếu chia quân tìm bắt thì bị lam chướng mà việc cung đốn củi nước không thể không lấy ở dân, thế là giặc chưa trừ mà dân đã bị hại. Hơn nữa, trộm cướp đã đi, quan binh lại đến, tra hỏi tang tích, xưng dẫn dây dưa, mà những của cải trộm cướp lấy chưa hết lại vì đấy mà hết sạch. Những mối tệ ấy, chắc khanh đã thấy rõ. Vả khanh là người cũ, không thể một ngày xa bên tả hữu, duy sau khi Nghệ An mất mùa đói kém, không có khanh cứu chữa không xong. Vậy hãy vì trẫm vỗ yên dân ấy. Phàm thế nào có thể bắt giặc yên dân được thì cho tiện nghi mà làm, rồi sau tâu lên”. Lại sai đi Nghệ An. Vua nghĩ Xuân Cẩn có mẹ già ở nhà, nên cho 50 lạng bạc.

    Bỏ bớt chức Tổng giáo ở Bắc Thành. Đầu đời Gia Long các trấn ở Bắc Thành mỗi tổng đặt vài ba người Tổng giáo để dạy sơ học. Đến nay bộ Lễ cho rằng các phủ huyện đã có Giáo thụ, Huấn đạo, bàn xin bỏ Tổng giáo. Vua nghe theo.
    Chuẩn định từ nay quan chức trong ngoài bỏ trốn, từ suất đội trở lên theo chỉ trước mà phân biệt bàn xử ; từ Lục phẩm suất thập trở xuống thì chiếu lệ truy bắt, đòi lại bằng sắc ; hằng năm cứ cuối tháng 3 cuối tháng 9 làm sách tâu lên. Lính giải mà bỏ trốn bắt được đưa đến bộ, mới phạm hay phạm lần thứ hai thì theo lệ nghị xử, phạm đến lần thứ ba thì tâu rõ lên, phàm những người trốn đi từ năm Minh Mệnh thứ 4 trở về trước, không kể mấy lần, đều chiếu lệ sơ phạm, nhưng lại dịch đi áp giải mà trái phạm thì chiếu lệ xử đoán.

    Lấy Tả Tham tri Lại bộ Phạm Đăng Hưng làm Thượng thư Lễ bộ. Vua dụ rằng : “Khanh nên hết lòng gắng sức, giữ mãi lòng trung để báo ơn nước thì tốt”

    Lấy Ký lục Quảng Trị là Trần Bá Kiên làm Biện lý công việc Hình bộ, Thiêm sự Lại bộ là Bùi Đăng Huy hộ lý việc ấn triện dinh Quảng Trị.

    Khởi phục Lê Công Bật làm Chủ sự Hình bộ. Bật trước làm Cai bạ Phú Yên, mắc tội tham nhũng bị bãi, đến nay Nguyễn Hữu Thận và Ngô Bá Nhân cho là có thể làm việc được tiến cử lên, nên có lệnh này.

    Vời thự Trấn thủ Quảng Ngãi là Trần Văn Đường về Kinh. Lấy Thiêm sự Hộ bộ biện lý Nội vụ phủ là Hồ Hữu Thẩm giúp coi công việc trấn Quảng Ngãi.

    Lấy Thiêm sự Công bộ biện lý Vũ Khố là Trần Đăng Nghi làm Ký lục Quảng Bình, Thiêm sự Binh bộ là Phan Văn Nguyên làm Thiêm sự Công bộ biện lý Vũ Khố.

    Phó thống Tả quân Chưởng cơ Tiền đồn là Hoàng Đăng Lý ốm xin về hưu. Vua thương là già, đặc cách cho nửa bổng. Cai cơ Trương Văn Tự và Nguyễn Văn Phượng cũng vì tuổi già về hưu, cho mỗi người 100 quan tiền.

    Sai Phú Yên mộ lập hộ Sa nhân (hộ gồm 50 người hằng năm thu thuế sa nhân ở hai nguồn Hà Duy và Thạch Thành, mỗi người 50 cân, miễn trừ thuế thân).

    Chuẩn cho biền binh đội Tín nhất ở Nội tàng và vệ Giám thành thứ bậc về lương điền khẩu phần cũng như lệ các quân khác.

    Nêu thưởng những người thọ dân từ 100 tuổi trở lên ở Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Bình (Thừa Thiên 2 người đàn bà ; Quảng Nam 3 người đàn ông và 2 người đàn bà ; Quảng Bình 1 người đàn bà).

    Hải Dương gạo đắt, dân đói. Sai Bắc Thành phái viên hội cùng Trấn thần lấy ra 50.000 hộc thóc bớt giá bán cho dân, lại cho hoãn thuế vụ hạ năm ấy.

    Cai cơ Vọng Các là Nguyễn Văn Thanh tuổi già nghỉ việc, cho theo phẩm mà chi bổng.

    Dựng sở Nội tạo (1 toà 10 gian).

    Sửa miếu Công thần ở Bình Định.

    Tiết Vạn thọ. Vua nghĩ các địa phương nhiều nơi hạn hán, ngày hôm ấy các lệ thường ca nhạc cùng đốt pháo bông, múa đèn hoa, đều bãi cả. Ban ân dụ cho trong ngoài. Dụ rằng : “Ngày khánh tiết ra ơn vui cùng mọi người. Gần đây mưa móc trái tiết, nhân dân đói kém, há lại không đặc cách ban ơn để thoả lòng dân đen trông ngóng sao ! Vậy tha giảm cho phủ Thừa Thiên 2 phần 10 thuế ruộng và 4 phần
    10 thuế thân năm nay, ba dinh trực lệ cùng Bình Định, Bình Hoà, Bình Thuận, Ninh Bình 2 phần 10 thuế ruộng, 3 phần 10 thuế thân, Quảng Ngãi, Phú Yên và năm trấn ở Gia Định 3 phần 10 thuế thân, Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Yên và phủ Hoài Đức thuế ruộng vụ hạ và thuế thân đều 3 phần 10, Hải Dương thuế ruộng và thuế thân đều 5 phần 10. Thuế trốn thiếu được hoãn. Thanh Hoa giảm thuế thân
    5 phần 10, Nghệ An 4 phần 10, các thứ thuế tô trốn thiếu trước đều tha. Lại nghĩ quan viên trong ngoài theo làm công việc, vì nước quên nhà, mà cha mẹ ở nhà chẳng được nuôi nấng, vậy quan Tam phẩm trở lên, cha mẹ còn, Nhất phẩm cho 30 lạng bạc, 5 tấm lụa, 10 tấm vải ; Nhị phẩm cho 20 lạng bạc, 4 tấm lụa, 8 tấm vải ; Tam phẩm 10 lạng bạc, 3 tấm lụa, 6 tấm vải ; những quan viên bị tội phải giáng từ năm Minh Mệnh thứ 4 trở về trước thì chỉ khai phục 1 cấp, phải phạt thì được miễn. Lại những nhà trạm từ Thừa Thiên trở vào Nam đến Phiên An, trở ra Bắc đến Sơn Nam, ngày đêm đài đệ khó nhọc, vậy mỗi tháng đều cấp tiền 30 quan, gạo 20 phương, lấy ngày 16 tháng 5 bắt đầu, đến hết tháng 12 thì thôi”. Dụ xuống, nhân dân ai cũng vui vẻ cảm khích. Quan sở tại theo tình thực làm sớ tâu lên.

    Đặt thêm Viên dịch ở ty Thanh cần thuộc Tào chính, Chủ sự, Tư vụ, Bát Cửu phẩm Thư lại mỗi chức đều 1 người, vị nhập lưu Thư lại 5 người (Lệ trước Tư vụ 1 người, Bát Cửu phẩm Thư lại đều 2 người, vị nhập lưu Thư lại 15 người).

    Lấy Tham quân Thuỷ quân là Hồ Tiến Hiệu làm Cai bạ Quảng Trị, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ là Lê Đăng Doanh làm Thiêm sự Lại bộ.

    Tha giảm thuế ruộng bị hạn cho hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn trấn Bình Định ; những điền trang và ruộng quan trại cũng theo thứ bậc ruộng tư mà tha giảm.

    Sai thự Tham tri Lễ bộ là Hoàng Kim Hoán quản lý công việc Quốc tử giám. Vua bảo rằng : “Nhà Đại Thanh, tiên tổ là người Mãn, khi đã lấy được Trung Quốc thì các chức chính giáo đều dùng người Hán người Mãn mà người Mãn thường ở trên người Hán. Kể người Mãn là mọi rợ mà còn như thế, huống miền Nam hà nước ta là đất văn vật, không ví như người Mãn được. Chức trách làm thầy há nên chỉ để người Bắc chuyên giữ”. Lại nói : “Nhà Quốc học chứa nuôi nhân tài để đợi dùng. Nhưng đạo dùng cả những học sinh ở Giám, có kẻ thì giỏi văn chương có kẻ thì giỏi đức hạnh, khanh nên nghĩ kỹ mà nêu riêng, không nên coi như một. Vả nhà nước nuôi học trò, làm nhà học cho ở, cấp lương cho ăn, nay lại nghe các học sinh nhiều người, trong ấy hoặc có người rượu chè, trai gái, lui tới cửa quyền, không thể không cấm chỉ”. Rồi cho các học sinh mỗi người 10 quan tiền, sắc rằng phàm người ốm thì quan cho thuốc, chết thì do bộ Lễ đề xin cấp tuất.

    Cho mẹ Đô thống chế lĩnh Phó tướng Tả quân tặng Chưởng dinh Phan Văn Đức 100 lạng bạc, vợ 100 quan tiền và 100 phương gạo. Đức buổi đầu trung hưng có công, chết không có con. Vua nghe nói mẹ và vợ hãy còn, đặc cách cấp cho để đủ sống.

    Cầu cửa Đông bắc Kinh thành sụt đổ, vệ Tiền bảo phải làm đền, xin lĩnh vật liệu của công, quản Vũ Khố là Trần Đăng Long không cho. Nguyễn Khoa Minh đem việc tâu lên. Vua vời Đăng Long trách mà bảo rằng : “Cầu đổ vẫn là trách nhiệm của người xây trước, nhưng bắt làm đền thì được chứ nếu bắt tự bỏ vật liệu của riêng ra thì làm sao nổi. Ví chẳng có lời Khoa Minh nói thì cái tình khổ của quân trẫm sao biết được”. Nhân bảo Khoa Minh rằng : “Trẫm một ngày muôn việc, nỗi khổ của quân dân sao dễ biết hết, cho nên uỷ thác các khanh làm tai mắt chứ không phải chỉ phán quyết việc bộ mà thôi. Phàm những việc giống như thế, nếu biết việc gì đều phải nói, để cho tình người dưới được thấu lên trên”. Lại nghĩ vệ binh sau khi đi thú về lại phải làm khó nhọc, cho 200 quan tiền.

    Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn đưa thư đến quan bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ nói rằng : “Nước ấy ông cháu cha con đời đời làm phiên thuộc, trên nhờ triều đình bồi đắp, giữ được nhân dân, dưới có Thuỵ trước sau bảo hộ, trừ nạn nước Xiêm, dẹp yên giặc Kế, kể công gấp mười Mạc Thiên Tứ, xin cắt đất ba phủ Lợi Ỷ Bát, Chân Sâm, Mật Luật để báo đức của Thuỵ cũng như việc cũ báo Mạc Thiên Tứ”. Thuỵ đem thư ấy báo cho thành Gia Định biết. Thành thần đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho đình thần đều lấy ý riêng mình mà bàn kỹ tâu lên. Bọn Nguyễn Đức Xuyên, Nguyễn Hữu Thận cho rằng : “Đất đai Chân Lạp là bờ cõi của triều đình, Thuỵ dẫu có hiền tài và khó nhọc cũng là phận sự người bầy tôi mà thôi. Chăn, sao được cắt đất để đền ơn riêng, Thuỵ sao được tự lấy làm công của mình mà nhận báo ơn, không nên cho”. Nguyễn Văn Hưng cho rằng : “Đất ấy nên lấy mà không nên lấy ngay ; nay hãy sai thành thần lấy chuyện báo riêng là phi lý mà bẻ, mà mật khiến Thuỵ bảo Chăn sai sứ trước xin đặt quan để vỗ về, nhân thế “dùng Hạ mà biến Di” thì rồi sau nhân dân ba phủ ấy cũng sẽ như Uy viễn ngày nay, đất đai ba phủ cũng sẽ như Trà Vinh Mân Thít ngày nay, thế là không lấy mà lấy vậy”. Phạm Đăng Hưng cho rằng : “Đất ba phủ ấy gần kề Châu Đốc, vượt mà lấy được thì cái thế tân cương ngày thêm mạnh, ấy cũng là cơ hội tốt, nhận lấy là phải”. Lê Văn Duyệt cho rằng : “Chân Lạp báo ơn Thuỵ không phải là bản tâm đâu, chỉ vì cớ người Xiêm nuôi nấng em nó cho nên muốn giữ vững sự giúp đỡ của ta mà thôi. Nếu nhận lấy thì hơi tham mà người Xiêm lấy cớ nói được ; từ không lấy cả thì sợ trái với sơ ý trù biên của Thế tổ Cao hoàng đế ta. Vả đất ba phủ ấy thì Lợi Ỷ Bát hơi xa, không nhận cũng phải ; còn Chân Sâm và Mật Luật thì Giang Thành, Châu Đốc của ta ở ngay chính giữa, thần xin nhận lấy đất mà trả lại thuế má, để cho họ biết là triều đình ta chỉ vì kế sách bờ cõi chứ không phải vì lợi vậy. Nhân đấy mà vỗ về thương yêu nhân dân, khiến cho sâu ngấm ơn ta, vui lòng theo về, ngày sau sẽ có lúc dùng đến. Nếu nay bỏ không lấy, giả sử có việc lôi thôi ở biên giới thì Châu Đốc, Hà Tiên chưa hẳn giữ được, mà hàng rào của Gia Định sẽ yếu vậy”. Trịnh Hoài Đức cho rằng : “Cơ hội không nên bỏ qua, sự biến chẳng biết thế nào là cùng ; cơ biến mà lường đo được là ở người sáng suốt. Duyệt giữ trọng khổn đã lâu, biết rõ biên tình, xin châm chước lời của Duyệt mà làm là tốt nhất”. Các lời bàn dâng lên. Vua xuống dụ bảo rằng : “Trẫm xem những lời tâu của các khanh, duy có lời bàn của Duyệt, hơi vừa ý trẫm. Nhà nước ta cốt mở rộng đức hoá, phàm đạo giúp trẻ nhỏ, thương mồ côi, đỡ nghèo ngặt, nối mối đứt, dù bỏ ra trăm vạn tiền kho, vài nghìn lính thú cũng cứ xem là nghĩa mà làm, không ngại khó nhọc tốn phí. Huống chi một vài phủ nhỏ cỏn con, đối với triều đình có hay không cũng chẳng làm gì. Chỉ nghĩ nước Chân Lạp là nước nhỏ, ở xen vào giữa hai nước lớn, cái lòng sợ ngoại xâm rất là thiết tha, cho nên cố kết giao tình với bảo hộ là ý muốn cho căn bản được bền vững mà thôi. Trẫm xét kỹ tấm lòng thành thực, không nỡ phụ nguyện vọng của họ. Vậy hạ lệnh cho Nguyễn Văn Thuỵ nhận lấy nhân dân hai phủ Chân Sâm và Mật Luật họ hiến mà coi giữ dạy bảo cho biết giới luật để giữ gìn bờ cõi của họ. Còn như thuế lệ thì đều do quốc vương Chân Lạp chiếu quản. Lại đem đủ nguyên uỷ viết thư trả lời”.

    Lấy Cai bạ Quảng Bình là Lương Tiến Tường biện lý công việc Hộ bộ.

    Lấy Hàn lâm viện Kiểm thảo Nguyễn Cửu Khánh làm Thiêm sự Binh bộ hiệp lý việc trấn Bình Hoà.

    Cho con trai Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân là Nguyễn Văn Thiện, con trai Chưởng Tiền quân Nguyễn Hoàng Đức là Nguyễn Hoàng Thành và Nguyễn Hoàng Nhân mỗi tháng tiền 3 quan gạo 3 phương.
  • Chia sẻ trang này