0059.039 - @ nhani78 (Done WK)

21/11/15
0059.039 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    để thi hành. Bộ thần bàn tâu, cho rằng quy chế thành của các địa phương cấp bậc lớn nhỏ khác nhau thì đài cờ, cột cờ và lá cờ vàng cũng nên chước lượng cho khác nhau. Xin chế làm bốn bậc. Gia Định và Bắc Thành là nơi thống trấn ở biên thuỳ thì cao to hơn ; các dinh trấn đạo thì thứ hai ; đài Trấn Hải và đài Điện Hải tuy không ví được như các trấn, nhưng trấn giữ bờ biển nên cũng theo như lệ các trấn ; các phủ thì kém hơn các trấn ; các huyện lại kém bậc nữa. Còn đài Định Hải là đài nhỏ làm thanh ứng cho đài Điện Hải thì cũng như các huyện. (Bắc Thành, Trấn Hải, Điện Hải đã có đài cờ cột cờ rồi, chỉ chế cờ vàng ; Ninh Bình, Định Hải đã có đài cờ chỉ chế cột và cờ vàng thôi. Ngoài ra thì thành Gia Định, đài cờ mặt trước theo hình thế thành, mặt sau rộng 10 thước, tả hữu đều 7 trượng, cao 8 thước, cột cờ đoạn dưới dài 4 trượng 7 thước, đoạn trên dài 3 trượng 1 thước
    5 tấc, lá cờ dài 1 trượng 3 thước, ngang 9 thước ; các dinh trấn đạo, đài cờ mặt trước theo hình thế thành, mặt sau rộng 4 trượng, tả hữu đều 3 trượng 5 thước, cao 6 thước, cột cờ đoạn dưới dài 3 trượng 9 thước, đoạn trên dài 2 trượng 6 thước 5 tấc, lá cờ dài 1 trượng 1 thước, ngang 7 thước 2 tấc ; các phủ, đài cờ theo hình thế thành, trước sau tả hữu đều rộng 3 trượng 5 thước, cao 5 thước, cột cờ đoạn dưới dài 3 trượng 6 thước, đoạn trên dài 2 trượng 2 thước 5 tấc, lá cờ dài 1 trượng, ngang 7 thước ; các huyện, đài cờ mặt trước theo hình thế thành, mặt sau và tả hữu đều rộng 3 trượng, cao 4 thước, cột cờ đoạn dưới dài 3 trượng 2 thước, đoạn trên dài 1 trượng 9 thước 5 tấc, lá cờ dài 9 thước, ngang 6 thước 5 tấc). Vả mùa xuân mùa hạ nhiều tạnh nắng, mùa thu mùa đông nhiều mưa, cờ nên làm 2 lá, một lá bằng trừu nam, một lá bằng vải, đều mầu vàng, tuỳ thời nên treo cái nào thì treo. Cột cờ cũng nên theo khí hậu giảm bớt. (Phàm gặp ngày chính tiết Thánh Thọ, ngày chính tiết Vạn thọ và trước 1 ngày, cùng là ngày dựng nêu, ba ngày tết Nguyên đán, ngày tết Đoan dương, ngày rằm mồng một, trời tạnh thì treo cờ trừu một lát, rồi thay cờ vải ; hằng năm sau ngày lập thu, cột cờ phải bỏ bớt đoạn trên 6, 7 thước hay 8, 9, 10 thước, đến cuối mùa đông sang mùa xuân lại chắp lên như thức). Vua theo lời bàn.
    Vời Phó tổng trấn Gia Định là Trấn Văn Năng về Kinh, cho bộ thuộc hai vệ Tiền bảo nhất, Tiền bảo nhị cùng các đội Tiền sai đi theo.
    Tha giảm thuế ruộng bị tai hại cho huyện Đông Thành, trấn Nghệ An, lại hoãn việc đòi nợ thóc giống.
    Hai châu Khâm Liêm tỉnh Quảng Đông nước Thanh bị đói, mỗi một thạch(() Thạch : 10 đấu) gạo giá đến 4, 5 lạng bạc. Vua nghe tin, bảo bộ Hộ rằng : “Bắc Thành cùng với hai châu Khâm Liêm giáp giới mà hiện nay giá gạo ở Bắc Thành hơi rẻ, bọn con buôn giảo hoạt chẳng khỏi bán trộm để kiếm lợi. Vậy dụ cho thành thần phàm những đường thuỷ đường bộ có thể vận tải được phải nghiêm sức khám xét”.
    Sai sứ sang nhà Thanh. Cho Hoàng Kim Hoán làm Tả Tham tri Lễ bộ sung Chánh sứ tạ ân, Lang trung Lại bộ là Phan Huy Chú làm Hồng lô Tự khanh và Lang trung Hộ bộ là Trần Chấn làm Thái thường tự Thiếu khanh sung giáp ất phó sứ,
    Cai bạ Bình Định là Hoàng Văn Quyền làm Hàn lâm viện Trực học sĩ, sung Chánh sứ tuế cống (Hai lễ cống các năm Tân tỵ và Ất dậu), thự Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Trọng Vũ làm Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, và Tri phủ Thuận An là Nguyễn Hựu Nhân làm thiếu Thiêm sự Thiêm sự phủ sung giáp ất phó sứ, sai chế thêm dấu kiềm “Phụng sứ” bằng ngà cấp cho.
    Lấy Thiêm sự Lại bộ là Lê Đăng Doanh hiệp lý công việc trấn Bình Định.
    Lấy Chủ sự Công bộ là Vương Hưng Văn làm Lang trung quản lý công việc Nội tạo.
    Bỏ chức Đốc học Bình Thuận ; đổi bổ Hoàng Bình làm Đốc học Vĩnh Thanh.
    Vua thấy học trò ở Bình Thuận ít, nên sai bớt Đốc học mà đặt Giáo thụ phủ Bình Thuận, ấn quan phòng học chính thì Trấn thần quyền giữ mà khảo hạch như lệ.
    Lấy Trấn thủ Bắc Ninh là Đoàn Đức Luận làm Chưởng cơ quản vệ Kỳ võ, Vệ uý vệ Định võ quân Thần sách là Nguyễn Đình Phổ làm Trấn thủ Bắc Ninh.
    Lang trung Binh bộ là Lê Đạo Quảng dâng sớ tự hặc mình xin giải chức. Vua giao xuống bộ Hình bắt hỏi. Quảng nói là vì cớ bị bộ trưởng là Tham tri Nguyễn Khoa Minh sỉ nhục trước mặt. Vua cho là Quảng có tính nóng càn, giáng làm học chính, cho cùng với giám sinh học tập, hẹn trong 1 năm nếu biết đổi lỗi thì do giám thần tâu lên, đợi chỉ kén dùng.
    Trấn thần Nghệ An tâu xin sai quân chở đá để chuẩn bị xây thành. Vua bảo bộ Công rằng : “Việc xây thành còn thong thả, mà nay mùa đông rét mướt, sao lại làm nhọc sức quân”. Không cho.
    Vời Tham hiệp Ninh Bình là Trần Đình Tiến, án phủ sứ Hoài Đức là Mai Văn Châu về Kinh. Lấy Tham hiệp Hưng Hoá là Vũ Trọng Đại làm Tham hiệp
    Ninh Bình, Vệ uý vệ Trung bảo nhị là Nguyễn Văn ứng làm án phủ sứ Hoài Đức.
    Tặng Tri huyện Thụy Anh là Lê Huệ làm đồng Tri phủ cấp thêm cho 50 quan tiền tuất. Huệ đi bắt thuế thiếu ở xã Trà Hồi, gặp có lính bảo Hoàng Đường vu cho dân là trộm cướp để đòi tiền, Huệ lập tức bắt trị, thủ bảo là Nguyễn Trọng Giao họp đảng cướp lấy kẻ phạm, ập đánh chết Huệ. Việc tâu lên. Vua khen Huệ là người tiết tháo, đặc cách cho tặng và tuất. Giao thì bị lăng trì xử tử. Quản phủ Thái Bình là Mai Văn Điểm vì kiềm thúc không nghiêm phải cách chức.
    Lấy Thượng bảo Thiếu khanh Hoàng Quýnh thăng thự Thượng bảo khanh, Lang trung Lại bộ là Đoàn Khiêm Quang và thự Tư nghiệp Quốc tử giám là Nguyễn Công Trứ đều làm Thiêm sự Hình bộ.
    Sai sứ đi phúng tang (vua trước) và tặng biếu (vua mới) nước Xiêm (Phúng vua trước : sáp vàng 300 cân, đường 6.500 cân, là the, vải, lụa mỗi thứ 100 tấm. Tặng vua mới kỳ nam 2 cân, nhục quế 3 cân, là the 200 tấm, là sa, lụa, vải, đều 100 tấm ; cho vua thứ hai kỳ nam, nhục quế đều 1 cân, là the 100 tấm, là sa, lụa, vải đều 0 tấm). Lấy Lang trung Nội vụ phủ là Hoàng Văn Diễn làm Thiêm sự Hộ bộ Biện lý Nội vụ phủ sung Chánh sứ, Đội trưởng đội Tiểu sai nhất là Nguyễn Văn Lễ làm Cai đội Trung quân sung phó sứ.
    Trước vua cùng bầy tôi bàn kén lấy người đi sứ nước Xiêm. Bọn Trần Đăng Long và Phạm Đăng Hưng xin sai hai sứ bộ, một bộ đi mừng, một bộ đi phúng như lệ năm Gia Long. Bọn Tống Phước Lương và Trịnh Hoài Đức cho rằng thánh nhân chế lễ tất đo tình người, tuỳ việc mà làm, cốt sao có thể làm được. Trước kia người Thanh đối với việc phong vương điếu tang nước ta cũng chỉ sai một sứ gồm làm hai việc, nay xin sai một bộ là phải”. Vua nghe theo.
    Đổi đội yến sào ở Bình Định làm Yến hộ, mỗi hộ 30 người, sai mộ cho đủ số (Nguyên số trước có 10 người, mộ thêm 20 người, mỗi năm nộp thuế yến 19 cân 8 lạng). Trấn Thanh Hoa được mùa to, 1 phương gạo giá 8 tiền. Hạ lệnh cho gạo lương hai tháng 11 và tháng 12 ở trấn lấy tiền mà cấp (1 phương gạo chiết cấp 1 quan).
    Cho các quan văn võ từ tam phẩm trở lên áo rét.
    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Dân man các châu Văn Bàn, Thuỷ Vĩ, Trấn Yên trấn Hưng Hoá sau khi Lý Khai Ba làm loạn trốn đi, tuy đã về dần, nhưng thuế trốn thiếu chưa có thể nộp bù, xin cho tạm hoãn”. Vua sai bộ Hộ bàn, tha cho.
    Định lại lệ thứ tự chia cấp ruộng lương khẩu phần cho các cấm binh, tinh binh cùng quan viên tử và tạp lưu (Phàm chức sắc thực thụ thì thứ tự vẫn theo phẩm cấp, còn những người văn hàn quyền sai thì ở dưới vị nhập lưu Thư lại các ty của bộ viện dinh trấn ; quan viên tử của quan từ tam phẩm trở lên, sinh đồ, thủ hợp ở nhà cùng đề lại quyền sai, lại ở dưới nữa, mà đều ở trên binh lính, thông lại chính sai, quan viên tử của quan từ tứ phẩm trở xuống, lại ở sau binh lính).
    Chuẩn định rằng quan phủ huyện và các giáo chức có mẹ kế chết, nếu là con trưởng mà lại con một và người mẹ kế lại không có con, thì cho được nghỉ về để làm tang, hạn cho 9 tháng.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXX

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), mùa đông, tháng 11, truy tặng Triều nghị đại phu Hàn lâm viện Trực học sĩ Đô long bá Trần Phước Tứ (ông tổ năm đời của Hoàng thái hậu) làm Trung thuận đại phu Tán trị doãn Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, thụy là Uyên mục, vợ cả (không rõ họ) làm Cung nhân, thụy là Trang Ý, Triều liệt đại phu tướng sĩ lang Vinh lộc tử Trần Văn Thuật (ông tổ bốn đời của Hoàng thái hậu) làm Trung nghị đại phu Tư tri thiếu khanh Thái bộc Tự khanh, thụy là Đôn nhã, vợ cả là Lê thị làm Thục nhân, thụy Trinh Thuận (tổ ba đời của họ Trần trước đã được truy tặng). Lại truy tặng vợ lẽ của Lại bộ Thượng thư Gia bình hầu Trần Mậu Quế (ông tổ hai đời của Hoàng thái hậu) là Lê thị làm Nhị phẩm phu nhân, thụy Thuần Tĩnh và Trần thị làm Nhị phẩm phu nhân, thụy Nhu Mẫn (Gia bình hầu có 4 người vợ lẽ, hai người trước đã được truy tặng).
    Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Công Tiệp vì ngày còn ở bộ vâng lời vua dụ tận mặt mà làm nhầm phiếu việc phát giác, phải phạt, nhân thế vua sắc rằng từ nay phàm lời điện dụ của vua nên nghe cho rõ ràng, nếu có điều nghi ngại thì tâu lại, nếu khinh suất thảo bậy đến nỗi sai lầm thì giao nghiêm nghị”.
    Lấy Phó vệ uý vệ Oai võ quân Thần sách là Đặng Văn Đạt làm Vệ uý, Cai đội vệ Tả nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn An làm Phó vệ uý vệ Oai võ, Phó vệ uý vệ Ban trực tiền là Phạm Văn Thể làm Vệ uý vệ Dương võ, Phó vệ uý vệ Tráng võ là Nguyễn Tiến Tá làm phó Vệ úy vệ Cung võ, Cai đội vệ Quảng võ là Nguyễn Văn Cẩn làm Phó vệ uý vệ Tráng võ, Phó vệ uý vệ Ban trực hậu là Nguyễn Văn Lộc làm Vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Cai đội vệ Hữu nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Thận làm Phó vệ uý vệ Ban trực hậu, Phó vệ uý vệ Ban trực hữu là Hoàng Văn Tâm làm Vệ uý vệ Diệu võ, Phó vệ uý vệ Phân võ là Lê Văn Túc làm Vệ uý vệ Quảng võ, Cai cơ vệ Trung võ là Phạm Ngọc Cưu làm Phó vệ uý vệ Phấn võ, Vệ uý vệ Tráng võ là Chu Văn Quế làm Vệ uý vệ Ban trực hữu, Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu là Hoàng Văn Tài làm Vệ uý vệ Tráng võ, Cai cơ vệ Tuyển phong hữu là Nguyễn Văn Nghị làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu, Cai đội vệ tả nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Lượng làm Phó vệ uý vệ Trung bảo nhị.
    Ngọc điệp làm xong, sai quan bộ Lễ bàn định nghi chú dâng lên. Ngày Nhâm thìn, vua đội mũ cửu long, mặc áo bào vàng thắt đai ngọc ngự điện Trung Hoà ; các hoàng tử, hoàng thân và các quan đều mặc triều phục kính chờ ở sân điện Cần Chính. Bọn Tổng tài Trịnh Hoài Đức bưng hòm vàng đựng Ngọc điệp đặt vào long đình, và hòm bạc đựng Hoàng tử phổ đặt vào thể đình. Nghi trượng và nhã nhạc đi trước, rước đến điện Cần Chính. Các hoàng tử hoàng thân và các quan quỳ đón. Nội thần bưng dâng, vua giở xem rồi đặt cất ở chính giữa điện ; bản phó thì cất ở Quốc sử quán. Thưởng cho từ Tổng tài trở xuống đến bọn Đằng lục bạc và sa theo thứ bậc, lại sai về Sử quán soạn tiếp Tôn thất phả.
    Vời Lưu thủ Quảng Nam là Phạm Văn Tín vào yết kiến.
    Dinh thần Quảng Trị tâu rằng ruộng quan điền ở tổng Bái Ân (thuộc huyện Minh Linh) mỗi năm nộp thóc minh xuân và thóc trắng vào Kinh (thóc minh xuân 80 hộc 20 thăng, thóc trắng 368 hộc 9 thăng 6 cáp 3 thược), vừa rồi vì mất mùa bỏ thiếu nhiều.
    Vua dụ sai theo số thóc chiết nộp một nửa bằng tiền.
    Lại sai Ngô Bá Nhân và Trần Bá Kiên biện lý công việc Hình bộ. Trước kia án mạng Lê Văn Triệu, bọn Bá Nhân quá nghe lời ty thuộc trong bộ mà mở buộc tội người nên phải giải chức ; sau khi đình thần xét lại, kẻ phạm là Nguyễn Văn Thân nhận tội, tình oan của Nguyễn Tử Bộc mới được rõ. Vua bảo thị thần rằng : “Khó khăn thay việc xử đoán hình án. Trước kia nếu ta chẳng xét kỹ, cứ theo lời bộ bàn, thì Văn Thân lọt lưới mà ngậm oan như Tử Bộc cũng chẳng phải là ít. Mỗi năm đến kỳ thu thẩm, đã sai đình thần duyệt kỹ, lại khiến Thiêm sự đều được dự để cho rộng ý kiến nhiều người, trẫm lại tự kiểm duyệt, chính vì thế thôi”. Đến khi án dâng lên, Ngô Bá Nhân trước sau làm việc ấy, triều đình bàn giáng bốn cấp đổi đi, Trần Bá Kiên dự việc ấy ít ngày, giáng hai cấp lưu. Vua thấy bọn Bá Nhân sau khi bị lỗi biết cảm khích mà lo hăng hái tình cũng đáng thương, nên gia ân cho Bá nhân giáng ba cấp, Bá Kiên giáng một cấp, đều cho vẫn biện lý việc bộ.
    Lấy thự Tham hiệp Cao Bằng là Phạm Gia Tứ làm Tham hiệp Nam Định, thự Thiêm sự Lễ bộ là Tô Danh Hoảng làm Tham hiệp Hưng Hoá.
    Sai Bắc Thành đóng 5 chiếc thuyền hải vận.
    Vời Hữu thống chế quân Thị trung lĩnh Trấn thủ Nam Định là Trương Phước Đặng về Kinh ; lấy Thống quản mười cơ Chấn định của Trung quân là Lê Văn Sách quyền lĩnh việc trấn.
    Bộ Hình tâu rằng : “Từ trước đến nay các thành dinh trấn cứ đến cuối năm thì gộp kê những án sung quân, lưu, trảm, giảo cùng là giáng, cách, thưởng, phạt, làm bản đệ đến bộ, gồm với các án ở Kinh làm sách tâu lên. Trộm nghĩ quan bị giáng cách, văn thì do bộ Lại, võ thì do bộ Binh, lương tiền vàng bạc thưởng phạt đều do bộ Hộ, thế mà nay lại do bộ Hình làm cả, thì sự chưa đúng lý. Giao xuống lục bộ bàn, đều cho là công việc lục bộ mỗi bộ đều có phần việc riêng, mà bộ Hình lại là chỗ nhóm họp những án kiện tụng, ví là những việc phân xử giáng cách thì hai bộ Lại, Binh tuỳ việc mà tâu, trước không có cái lệ cuối năm làm sách chung, còn sổ sách về vàng thóc tiền lương thì bộ Hộ chỉ cứ theo việc thu nộp chi tiêu một năm, đủ hay thiếu cũng không cùng làm với bộ Hình. Xin vẫn theo lệ trước là phải”.
    Vua theo lời bàn.
    Sai bộ Lại khiêu tuyển (kén chọn) giám sinh Quốc tử giám để chia bổ Huấn đạo các huyện.
    Ban tự điền cho năm người công thần trung hưng là Chưởng quân Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Văn Nhân và Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm. Dụ rằng : “bọn Nguyễn Văn Trương đương lúc đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta vất vả gây dựng, đều biết cảm tình gặp gỡ gió mây, đem hết sức khoẻ trí khôn giúp nên mưu to, dựng thành nghiệp lớn, công thực vĩ đại. Sau khi đại định, mông ơn sáng suốt, xét rõ công lao, đã lễ mạo long trọng, lại tước vị tôn sùng, và truy phong cho ông cha, tập ấm cho con cháu, ơn điển thực đã rất hậu. Trẫm nghĩ có công lớn ấy, thì báo đáp phải lâu dài. Vậy cấp cho Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Văn Nhân, mỗi người 100 mẫu ruộng tự điền, Nguyễn Văn Khiêm 60 mẫu, ban cho sắc thư để con cháu đời đời được thu tô mà cung việc tế tự”.
    Sai Lang trung Hộ bộ là Nguyễn Văn Thái đổng lý việc thanh tra từ Bình Định vào Nam đến Gia Định.
    Dựng lầu “Nhật nhật tân” (ở phía đông điện Cao Minh trung chính), gần “Quân tử hiên” (ở phía đông lầu).
    Người xã An Lỗ phủ Thừa Thiên là Nguyễn Xuân Chấn đón xa giá dâng thư, xin đem quân đánh lấy đất Lưỡng Quảng, phần nhiều là nói ngông cuồng. Vua liền sai đốt thư đi, nghĩ Chấn đã già, không nỡ làm tội, giao cho phủ Thừa Thiên đóng gông 1 tháng rồi tha. Nhân dụ rằng : “Từ nay nếu còn bày tâu ngông cuồng nữa thì sẽ lấy luật trị tội, không tha nữa, để răn thói khinh bạc”.
    Tiết Thánh thọ. Vua đem bầy tôi đến cung Từ Thọ làm lễ mừng, từ đấy hằng năm lấy làm thường. Trước sai bộ Lễ soạn khúc nhạc Thánh thọ tiết (10 chương) sai nhạc sinh diễn tập, ngày hôm ấy vâng mệnh Thái hậu truyền thôi. Bộ thần lại tâu rằng : “Ngày khánh tiết hát mừng là lòng thành tôn kính của tôi con, xin từ sau chiếu lệ hiến múa”. Vua cho là phải.
    Định lệ thuế mây nước của người Man hai nguồn Ô Giang, Cổ Lâm đạo Cam Lộ (Nguồn Ô Giang mỗi năm nộp 40.000 sợi, nguồn Cổ Lâm mỗi năm 20.000 sợi).
    Chế ấn đồ ký bằng đồng, và dấu kiềm bằng gỗ cấp cho vệ Giám thành.
    Hàn lâm viện Thị độc học sĩ hưu trí là Trần Văn Tuân có tội bị xử giảo giam hậu. Tuân trước làm bảo hộ, người Chân Lạp tin, đến khi về Gia Định người Chân Lạp thường có đi lại quà cáp thăm hỏi, gặp có thông ngôn là Lê Văn Chân vì việc tư sang Chân Lạp, Lê Văn Duyệt bắt, nhân đó bắt được thư của vua Phiên gửi cho Tuân. Duyệt đem việc tâu lên và xin lấy luật giao thông nước ngoài mà xử. Tuân bèn phải tội.
    Vua thấy bộ Lễ làm sắc cấp cho bách thần đã lâu chưa xong, vời bọn Phạm Đăng Hưng quở rằng : “Phàm thần có yên sở thì dân mới ở yên, cho nên trẫm mới nối ngôi liền xuống chiếu phong tặng thần kỳ cả nước, đến nay đã năm năm rồi mà bọn khanh để chậm trễ như thế, sao đáp được ý tưởng nhớ bách thần của trẫm. Vậy hẹn đến trước ngày cất ấn là phải cấp hết. Làm trái thì xử theo luật vi chế ”.
    Đổi tên nhà Tả phương đường làm điện Võ Hiển, nhà Hữu phương đường làm điện Văn Ninh.
    Lính bảo An Nẫm trấn Thanh Hoa mượn việc đi công sai mà ăn cướp, Thủ bảo là Phó vệ uý Lê Văn Hùng vì tội dung nạp côn đồ phải tội phát đi sung quân ở thú sở Ai Lao đạo Cam Lộ.
    Tháng 12 trong kinh kỳ giá gạo hơi cao. Vua nghĩ thợ các địa phương đến làm việc ở Kinh, hoặc có thiếu thốn, sai bộ Hộ xét địa phương xa gần, công việc nhiều ít, phát tiền kho theo bậc cấp cho.
    Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Đoàn Viết Nguyên vào yết kiến.
    Vua hỏi tình trạng nhân dân Bắc Thành, đáp rằng : “Lúa chiêm mất mùa, nhân dân đói kém, nhờ ơn phát chẩn không đến nỗi chết đói ; vụ mùa này được mà gạo vẫn kém là vì lúa vụ mùa được chỉ đủ bù vụ chiêm mất thôi”.
    Gọi các cơ mộ binh ở Bắc Thành và Thanh Nghệ đến Kinh (Cơ Hiệu nghĩa,
    2 cơ Thanh Hoa, 3 cơ Bắc Thuận, 3 cơ An Thuận).
    Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Công Tiệp vào yết kiến, nhân tâu rằng : “Trước đây có chỉ đặt mua đá núi xây thành, nhưng không được mấy, xin lấy gạch thay vào thì việc chóng xong”. Vua y lời tâu.
    Nước Phú Lãng Sa sai người đem quốc thư và phẩm vật đến xin thông hiếu. Tàu đến Đà Nẵng, dinh thần Quảng Nam đem việc tâu lên.
    Vua bảo rằng : “Nước Phú Lãng Sa cùng nước Anh Cát Lợi thù nhau. Năm trước nước Anh Cát Lợi nhiều lần dâng lễ, trẫm đều từ chối không nhận, nay chẳng lẽ lại cho Phú Lãng Sa thông hiếu ! Song nghĩ khi đức Hoàng khảo ta bước đầu bôn bá từng sai Anh duệ Thái tử sang nước họ, cũng có ơn cũ, nếu vội cự tuyệt thì chẳng phải là ý mến người xa”. Liền sai làm thư của Thương bạc và thưởng cho mà khiến về. Quốc thư cùng lễ vật thì không cho trình dâng.
    Chưởng Tượng quân Quận công Nguyễn Đức Xuyên chết. Trước Đức Xuyên ốm, vì nhà không đủ tiền, tâu xin lĩnh trước 6 tháng lương về năm sau. Vua đặc ân cho tiền 1.000 quan, gạo 1.000 phương, dụ rằng : “Nếu không đủ lại nên cho trẫm biết, nhà nước đối với khanh không tiếc đâu”. Đến khi bệnh nặng, sai thị vệ thăm hỏi mỗi ngày mấy lần. Đức Xuyên cố gượng làm tờ tấu rằng : “Thần trước thờ Tiên đế, gọi có chút khó nhọc nhỏ mọn. Từ Hoàng thượng lên ngôi đến nay được ân nhiều mà chưa từng đánh một trận bị một thương để báo đáp chút đỉnh. Nay lại còn đội ơn săn sóc trông nom, thần cảm kích khôn xiết”. Vua bảo rằng : “Đức Xuyên tuổi đã già yếu mà còn có chí da ngựa bọc thây, nếu được nhiều người như thế thì còn lo gì”. Đến nay chết, vua rất thương xót, bảo bộ Lễ rằng : “Đức Xuyên là người trung dũng thật thà, giúp đức Hoàng khảo ta dẹp yên loạn lạc, đến khi thờ trẫm thì kính giữ tiết bề tôi, chẳng ngờ mắc bệnh hơn tuần mà đến không khỏi. Nghĩ đến người kỳ cựu, nói càng rơi lệ”. Bèn truy tặng Thái phó, thụy Trung dũng. Cho hơn 30 tấm gấm đoạn và nhiễu, 3.000 quan tiền, nghỉ chầu 3 ngày, sai quan tứ tế. Ngày đưa đám lại nghỉ chầu 1 ngày, sai quan tứ tế, hạ lệnh cho 1.000 lính và 10 thớt voi đi đưa đám. Cho thêm 1.400 quan tiền, 1.000 phương gạo, cấp cho 10 người mộ phu. Con trai Đức Xuyên là Đức Hồ lấy Trưởng công chúa Ngọc Nguyệt, bộ Lễ bàn việc để tang, cho rằng luật lệ quốc triều về chế phục thì con dâu để tang cha mẹ chồng 3 năm, mặc áo sổ gấu, đấy là nói lễ thông thường của quan dân, còn như con gái thiên tử gả xuống cho con chư hầu để tang cha mẹ chồng thế nào, trong luật không chép ; nhưng xét sách Nghi lễ có chỗ chép con dâu để tang cha mẹ chồng mặc áo bằng gấu 1 năm, Trưởng công chúa nghĩ nên theo lễ ấy mà để tang. Vua nghe theo.
    Ký lục Định Tường là Nguyễn Đình Thịnh ốm phải miễn chức. Lấy Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Văn Lộc làm Ký lục Định Tường.
    Quan thành Gia Định tâu rằng : “Đạo Quang Hoá giáp giới Chân Lạp, ngoài tiếp Thuận Thành, trên thông Ai Lao, đất ấy rất là quan yếu, ngày nay yên ổn chính nên phòng trước, xin lượng trích dân phụ cận kén bổ vào cơ Phiên Bình hậu 50 người, dồn làm hai đội Phiên võ để cho người và đất hợp nhau, tiện cho việc đóng giữ ”.
    Vời Ký lục Quảng Bình là Trần Đăng Nghi, Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Công Đàm, Ký lục Quảng Ngãi là Vũ Huy Đạt vào yết kiến.
    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Năm nay lúa mùa các trấn trong hạt thành đều được duy có 6 huyện Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Tiên Minh, Kim Thành, An Lão trấn Hải Dương và huyện Thụy Anh trấn Nam Định ruộng nương gần biển, mùa thu hạn nước mặn không cấy được, có chỗ cấy thì lúa cũng kém”. Vua sai lượng giảm thuế tô.
    Trấn thủ Biên Hoà là Lê Văn Từ chết ; cho một cây gấm Tống và 150 quan tiền. Lấy Vệ uý Hữu vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Nguyễn Khả Bằng làm Trấn thủ Biên Hoà.
    Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt tâu hạch viên nhân các nha văn võ thuộc thành có kẻ vào ngạch một cách mập mờ, có kẻ bỏ ngạch mà trốn. Vua hạ lệnh chước lượng phân biệt bổ sung, những người hèn kém thì thải bỏ đi.
    Sai thành Gia Định biên các tù phạm tội sung quân và tội lưu phát phối đến thành làm đội Hồi lương, được 9 đội (462 người biên làm 9 đội, mỗi đội 50 người, còn 16 người lưu làm đội thứ 10), cấp cho lương tháng, theo thành sai phái.
    Ngày Canh ngọ, sai Hoàng trưởng tử yết lăng Thiên Thụ, các hoàng tử tước công cùng các phẩm quan tôn thất chia đi làm lễ các lăng. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Từ trước đến nay hằng năm đến tháng chạp thì làm lễ tảo mộ ; năm ngoái vì gặp gió mưa nên theo cổ lễ đổi định lấy tiết Thanh minh. Song nghĩ tảo mộ tháng chạp là tục nước nhà đã lâu, không nên đổi bỏ. Từ nay cứ đến tháng chạp thì Khâm Thiên giám chọn ngày rồi do bộ tâu xin sai quan làm lễ. Đến ngày Thanh minh trẫm vẫn thân đến yết lăng”.
    Lấy Thống chế Trương Văn Minh làm Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách, vẫn kiêm quản Vũ Khố, Cai đội Thị trung Nguyễn Văn Khoa làm Phó vệ uý vệ Ban trực tiền quân Thần sách.
    Bớt chức Đốc học Ninh Bình, vì số học trò Ninh Bình ít ỏi nên bớt.
    Định lệ chia ban cho các Tư vụ, Tư khố, Thư lại ứng trực ở lăng Thiên Thụ. Hằng năm gặp ngày Sinh ngày Kỵ, tiết Nguyên đán, tiết Thanh minh, tiết Đoan dương, cùng ngày tảo mộ, phải họp đủ để chầu hầu, còn ngày thường thì chia làm hai ban, một ban ứng trực một ban về bộ làm việc, để cho khó nhọc thong thả đều nhau.
    Ngày Quý dậu, tế Hợp hưởng.
    Diễn thuỷ quân. Vua ngự xem. Thưởng cho quản lĩnh là Nguyễn Tài Năng hơn 30 lạng bạc, cho binh lính 500 quan tiền.
    Sai các vệ đội Trung hầu, Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất dinh Thần cơ diễn bắn súng quá sơn, chia làm ba hạng ưu bình thứ để thưởng.
    Đổi Định Thành khố ở Bình Định làm Định Thành thương, An Nhất thuyền làm An Nhất đội, An Dụ khố làm An Dụ thương, An Tam thuyền làm An Tam đội.
    Sai Hiệp biện Đại học sĩ Trịnh Hoài Đức quyền lĩnh công việc Thương bạc.
    Phó quản cơ bốn cơ Hiệu thuận ở Bắc Thành là Phạm Hữu Tâm đem 200 quân hộ tống của công đến Kinh. Thưởng cho Hữu Tâm 10 lạng bạc, cho binh lính 200 quan tiền.
    Ứng Hoà công Mỹ Đường có tội bị miễn làm thường dân. Mỹ Đường là con trai cả của Anh duệ Hoàng thái tử. Trước có người cáo Mỹ Đường là người dâm dật, thông gian với mẹ đẻ là Tống Thị Quyên. Lê Văn Duyệt đem việc tâu kín. Vua sai bắt Thị Quyên giao cho Văn Duyệt dìm chết mà cấm Mỹ Đường không được chầu hầu. Đến nay Mỹ Đường dâng sớ nói là có bệnh, xin nộp trả sách ấn và xin miễn làm thứ nhân, về ở nhà riêng. Vua vời các thân công đại thần vào bàn, bèn y cho. (Hệ Mỹ Đường ghi phụ vào sau Tôn thất phả).
    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Con viên quan phải cách Tống Văn Khương là Kế được ấm thụ hàm Phụng ân uý, xin xuống chỉ định đoạt. Giao xuống bộ Lễ bàn, cho rằng con cháu quan viên được tập ấm là vì ông cha có công, nay cha đã bị cách thì con còn tập ấm vào đâu, cái hàm ấm thụ của Kế xin nên đòi lại, nếu sau Khương được khai phục thì Kế mới được thừa ấm như cũ”. Vua theo lời bàn.
    Trong kinh kỳ mưa. Vua bảo thị thần rằng : “Gần đây mùa xuân phần nhiều lo hạn, xuân này lại hạn quá. Vào mùa thu cũng có khi ít mưa, tháng chạp mùa đông hơn tuần nay mưa móc lại ít, đồng ruộng trông mưa rất thiết. Trẫm đã sai quan cầu đảo mà gần đây gió đông thường thổi, khí nắng oi ả, trẫm trằn trọc mãi đến nửa đêm vẫn không ngủ được, nhân đó lòng thành ngầm khấn, hôm nay gió bắc trời râm, mưa ngọt trút xuống, sai người đi xem khắp nơi cũng đã thấm nhuần, thực hả lòng trẫm”.
    Sai bọn Cai cơ Hồ Văn Khuê chia ngồi các thuyền hiệu Bình dương, Định dương, Bình ba, An ba, đi việc công ở Hạ Châu và Giang Lưu Ba(() Hạ Châu : tức Tân Gia Ba. Giang Lưu ba : tức Giacácta). Bèn chuẩn định rằng từ nay những thuyền lớn, như Thụy long, Bình dương đi đến cửa biển
  • Chia sẻ trang này