0059.040 - @ nhani78 (Done WK) team S02

23/11/15
0059.040 - @ nhani78 (Done WK) team S02
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Đà Nẵng, thì lúc mới đến treo cờ vàng, bắn 3 phát súng, đài Điện Hải cũng treo cờ vàng bắn 7 phát súng ; khi về đến ngoài cửa Thuận An thì thuyền và đài Trấn hải đều treo cờ vàng, bắn 3 phát súng. Định làm lệnh mãi mãi. (Nếu các thuyền cùng vào cảng, dẫu có bắn súng nhiều tiếng, trên đài cũng chỉ bắn như lệ thôi).
    Định lệ lễ các tiết Nguyên đán, Đoan dương và Thượng tiêu (Năm nay trừ tịch Thượng tiêu, vua đến Thế miếu ; sang năm tiết Nguyên đán đến Thái miếu ; tiết Đoan dương đến Thế miếu, tiết Thượng tiêu đến Thái miếu. Lại sang năm nữa tiết Nguyên đán đến Thế miếu, tiết Đoan dương đến Thái miếu, tiết Thượng tiêu đến Thế miếu, hết vòng lại quay lại. Còn các miếu thì sai các hoàng tử tước công tế thay).
    Chuẩn định từ nay trừ tịch và mồng 1 mồng 2 tháng giêng, ba đêm ấy các cửa Tả Túc, Hữu túc của cung thành, các cửa Tả đoan, Hữu đoan của hoàng thành, các cửa Thể nguyên, Quảng Đức, Chính Nam, Chính Đông, Chính Tây, Chính Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc của kinh thành và thuỷ quan cầu Thanh Long, đều sai mở rộng để tỏ rằng vệ Kim ngô không cấm.


    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXXI

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), (Thanh Đạo Quang năm thứ 5),
    mùa xuân, tháng giêng, giảm thuế thân năm nay cho trong ngoài. Phủ Thừa Thiên và tam trực(() Tam trực : ba dinh trực lệ là Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam) 3 phần 10, Thanh Hoa, Bình Định, Quảng Ngãi, Nghệ An, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, các trấn ở Gia Định và Bắc Thành, cùng phủ Hoài Đức, đạo Ninh Bình, đều 2 phần 10.
    Vua bảo thị thần rằng : “Sự mừng xuân ban khắp cả bầy tôi mà thành thần Gia Định vì chuyên giữ ngoài không không được dự yến ở triều đình, trẫm rất lấy làm áy náy”. Bèn sai thị vệ đem phẩm vật cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt, các văn võ thuộc thành Trương Tiến Bửu, Nguyễn Văn Thuỵ, Nguyễn Xuân Thục, Trần Nhật Vĩnh đều được dự cả.
    Cho giám sinh Quốc tử giám mỗi người 10 quan tiền, Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận nói thế là quá hậu. Vua bảo rằng : “Cho con hát đàn bà hầu hạ thì không nên hậu, chứ học trò của báu của nhà nước, ngày nay nuôi để ngày khác dùng, há chẳng nên hậu hay sao ?”.
    Cấp cho trạm dịch các địa phương 6 tháng tiền gạo. (Từ Thừa Thiên vào Nam đến Phiên An, ra Bắc đến Sơn Nam, tất cả 98 trạm, mỗi tháng mỗi trạm tiền 30 quan gạo 20 phương), kể từ mồng 1 tháng giêng bắt đầu. Bảy trạm ở Bình Thuận (Thuận Lai, Thuận Mai, Thuận Trinh, Thuận Lâm, Thuận Trình, Thuận Phước, Thuận Phương) cách trấn xa, đặc cách phát cho cả một kỳ. Từ sau có gặp ân cấp thì cứ theo lệ này.
    Trong kinh kỳ mưa đá.
    Vua ngự ra Đông Giao, giảm thuế thân 1 phần 10 cho dân các xã đi qua, lại thưởng cho 500 quan tiền.
    Bắt đầu đặt chức Thiêm sự ở Nội vụ phủ và Vũ Khố. Trước kia công việc các nhà ấy đều lấy những người hàm Thiêm sự ở các bộ sung làm, đến nay mới đặt riêng. Lấy thự Thiêm sự Hộ bộ là Lê Bá Tư làm Thiêm sự Nội vụ phủ, Lang trung Vũ Khố giám Tạo các cục Bắc Thành là Trần Văn Hoằng làm Thiêm sự Vũ Khố.
    Vời Thiêm sự Công bộ biện lý Bảo tuyền cục Bắc Thành là Nguyễn Công Liêu về bộ cung chức, lấy Đại lý tự Thiếu khanh Trần Xác làm Thiêm sự hộ bộ lĩnh Bảo tuyền cục Bắc Thành, Thiêm sự Công bộ là Phan Văn Nguyên làm Thiêm sự Vũ Khố lĩnh Tạo tác cục Bắc Thành, Cai đội Hoàng Văn Tân làm Phó vệ uý vệ Nghiêm dũng hiệp lý công việc Bảo tuyền cục Bắc Thành, Cai đội Hoàng Văn Tâm làm Cai cơ trật Chánh tứ phẩm Hiệp lý công việc Vũ Khố.
    Sai Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Gia Định là Nguyễn Xuân Thục kiêm lý
    Hình tào (Hình tào Nguyễn Hựu Nghi về Kinh dịp tết Nguyên đán cho nên sai Xuân Thục kiêm lý việc tào).
    Ngày Bính thân, tế xuân hưởng.
    Bộ Hộ có việc tư giấy cho dinh Quảng Nam, trong tờ tư có mấy chữ “Nội giám phụng truyền”. Vua nghe tin, vời Tham tri Lương Tiến Tường mắng rằng : “Phàm nội giám truyền báo việc gì, phải nên tâu lại, đợi chỉ thi hành, nay lại nói “Nội giám phụng truyền” là sao vậy ? Vả nó chỉ giữ cửa và truyền lệnh thôi, không được dự đến chính sự, nếu cứ nghe miệng nó truyền ra mà làm, chẳng hoá ra chính sự ở hoạn quan hay sao ?”. Tường dập đầu tạ tội.
    Lấy cựu Vệ uý vệ Tuyên võ Hậu quân ở thành Gia Định là Lê Văn Thái lĩnh Quản đạo đạo Quang Hoá kiêm hai thủ Thuận Thành và Quang Phong.
    Định lệ thưởng người săn thú để cúng (Phàm gặp ngày kỵ, sai biền binh cùng những liệp hộ ở Phù Bài và Thuỷ Ba đi săn thú rằng để cúng, các binh lính đều cho 5 tiền, liệp hộ đều cho 5 tiền và 15 bát gạo. Thừa Thiên và Quảng Trị lễ cáo sơn thần đều cho 20 quan. Dân phu cho 10 phương gạo, các trạm cho 5 phương gạo).
    Trong Kinh kỳ ít mưa.
    Cho Trần Lợi Trinh làm Tả Tham tri Lại bộ kiêm quản Tào chính, Lương Tiến Tường làm Hữu Tham tri Hộ bộ.
    Vời Hộ tào Gia Định là Tham tri Nguyễn Xuân Thục về Kinh ; lấy Ký lục
    Trần Bá Kiên lĩnh thay.
    Vời Vệ uý vệ Quảng võ quân Thần sách lĩnh quản đạo Ninh Bình là Hồ Bôi về Kinh, lấy Vệ uý vệ Cung võ là Nguyễn Tiến Nghĩa lĩnh quản đạo Ninh Bình.
    Lấy Vệ uý vệ Tuyển phong tiền quân Thần sách là Mai Văn Châu làm Vệ uý Hữu vệ dinh Tiền phong quân Thị nội.
    Cấp ngựa công cho các trạm ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, mỗi trạm hai con, phàm có việc khẩn cấp thì dùng để phi đệ.
    Quảng Nam mưa đá.
    Ngày Đinh mùi duyệt binh. Vua dụ các quản quân rằng : “Binh không cần nhiều, chỉ cốt giỏi thôi. Bọn các ngươi đều nên gia tâm huấn luyện cho thuộc kỷ luật, chớ để binh sĩ lười biếng là được”.
    Lấy Ký lục Quảng Ngãi là Vũ Huy Đạt biện lý công việc Binh bộ. Sai chế ấn quan phòng “Biện lý Binh bộ” bằng ngà cấp cho.
    Lấy Cai bạ Quảng Trị là Hồ Tiến Hiệu làm Cai bạ Quảng Ngãi, Tham hiệp Ninh Bình là Trần Đình Tiến làm Thiêm sự Công bộ hiệp lý việc dinh Quảng Trị.
    Đổi bổ Chưởng cơ Đoàn Đức Luận làm Chưởng cơ tượng quân thự thống chế chuyên quản hai vệ Hùng cự nhất Hùng cự nhị và cơ Ngũ kích, thự thống chế Phạm Văn Điển chuyên quản ba vệ Thị tượng nhất, Thị tượng nhị, Thị tượng tam ; Chưởng cơ Lê Văn Hoan chuyên quản năm cơ Dũng tượng, Thịnh tượng và Tiền, tả, Hữu Hùng tượng, Chưởng cơ Nguyễn Đình Đề chuyên quản bốn cơ Tiền tượng, tả tượng, Hữu tượng, Tri tượng, Chưởng cơ Nguyễn Văn Toán chuyên quản năm cơ An tượng, Định tượng, Kiên tượng, Bình tượng, Trung tượng, Phó vệ uý vệ Thị tượng nhất Nguyễn Văn Thị làm Vệ uý vệ Thị tượng nhị, Phó vệ uý vệ Thị tượng nhị Đặng Tài Cù làm Vệ uý vệ Thị tượng tam, Phó vệ uý vệ Thị tượng tam Nguyễn Văn Trì làm Vệ uý quản lý ba cơ Hùng tượng Bắc Thành, vẫn thuộc quyền quản hạt của Lê Văn Hoan, Vệ uý quản hai cơ Định tượng, Kiên tượng là Nguyễn Văn Nam làm Vệ uý vệ Thị tượng nhất. Lê Văn Hoan, Nguyễn Đình Đề, Nguyễn Văn Toán đều ở lại Kinh cung chức. Sai chế ấn quan phòng và ấn đồ ký cấp cho). 1 ấn quan phòng “Hùng cự Ngũ kích”, 1 ấn quan phòng “Thị tượng tam vệ”, 1 ấn quan phòng “Dũng Thịnh Hùng tượng ngũ cơ”, 1 ấn quan phòng “Tiền Tả Hữu Tri tượng tứ cơ”, 1 ấn quan phòng “An Định Kiên Bình Trung tượng ngũ cơ”, đều bằng đồng, cùng dấu kiềm bằng ngà ; 1 ấn đồ ký “Hùng tượng tam cơ” bằng đồng cùng dấu kiềm bằng gỗ).
    Quảng Nam đói kém. Vua muốn lấy công thay chẩn, sai dinh thần thuê 1.000 người dân gánh những đất thừa ở đài Điện Hải đến đồn Hà Thân, hằng ngày cấp cho tiền gạo.
    Thả cung nữ ra. Vua thấy đại hạn lấy làm lo, bảo Thượng bảo khanh
    Hoàng Quýnh rằng : “Hai ba năm nay đại hạn luôn, trẫm nghĩ chưa rõ vì cớ gì. Hay vì con gái bị giam hãm trong cung nhiều, nên khí âm uất tắc mà đến thế chăng ? Nay đàn bà con gái trong cung cũng không nhiều lắm, song tạm lựa cho ra 100 người, may ra tai biến bớt chăng ?”.
    Sai các cơ mộ lính ở Bắc Thành và Thanh Nghệ đi thú Gia Định ; đi giữa đường có kẻ cướp bóc đồ vật ở phố chợ, vua nghe tin dụ rằng : “Từ nay lính mộ đi thú còn dám khinh nhờn pháp luật như thế thì cho quan địa phương tra rõ chém ngay để rao ; những người quản suất chuyên trách cũng bắt gông tại chỗ một tháng, lại chiếu luật trừng trị”.
    Sai Thuỷ quân đóng thuyền kim đĩnh và thuyền hoa.KJK
    Hỏi tìm sự tích trung hưng. Dụ rằng : “Trước đã sai quan soạn sách Thực lục về đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta. Từ năm Nhâm tuất đại định về sau, trong tám năm dấu vết chính trị rõ ràng, đều có ghi chép, có thể khảo được, duy năm Canh tý là lúc bắt đầu chịu mệnh, về sau khi mờ khi tỏ, khi vui khi buồn, mưu mô vạn trạng, đương lúc mây mưa sấm sét, công việc ghi chép còn là thiếu sót, mà những người huân cựu theo giúp từ trước đến nay còn ở bên tả hữu cũng lại ít ỏi. Trẫm nghĩ cái công đức gây dựng vất vả to lớn của Hoàng khảo ta phải nên rộng tìm mà góp nhặt để biên chép cho đủ. Vậy hạ lệnh cho các văn võ lớn nhỏ trong ngoài cùng các viên hưu trí, nếu có ghi nhớ được việc trước, cho làm sớ bày tỏ sự thực, do bộ đề tâu để trẫm giao cho Sử quán thần kiểm duyệt chép lấy cho thành sách, đặng nêu rõ công đức thánh thần mãi mãi về sau”.
    Sai kinh binh Hữu vệ dinh Tiền phong, Hậu vệ dinh Hổ oai, vệ Hùng cự nhất thuộc Tượng quân đi đổi thú ở Nghệ An, Thanh Hoa và Bắc Thành.
    Vua vời Chưởng cơ lĩnh Vệ uý Hậu vệ dinh Hổ oai là Vũ Khánh, muốn dặn dò tận mặt, nhưng ngày ấy Khánh không vào chầu. Vua không bằng lòng, bảo thị thần rằng : “Trẫm nghĩ cha Khánh có công lớn nên cất bổ đến chức ấy, duy nó là con em nhà ăn ngon mặc đẹp, lại nhân cô trẫm là Thái trưởng công chúa ngày thường quá yêu, gây nên cái tính kiêu ngạo, lười biếng, không thể sai khiến được, nay sai ra thú, chẳng sớm thì muộn cũng lại cáo bệnh xin về thôi”.
    Giặc trốn ở Bắc Thành là Trần Văn Cốc ngụy xưng Thống lĩnh họp đảng ở
    xã Lạc Cầu (thuộc huyện Văn Giang trấn Bắc Ninh). Thành phái Chưởng cơ
    Phạm Văn Lý đem quân đánh bắt được giết đi. Thưởng cho Lý 1 thứ kỷ lục, cho biền binh 200 quan tiền.
    Trấn thủ Bình Hoà là Nguyễn Văn Lượng có tội bị miễn chức, lấy Trấn thủ Bình Định là Nguyễn Văn Quế làm Trấn thủ Bình Hoà. Trước đây người Man
    nộp thuế ở hai nguồn Đồng Hương, Đồng Nãi (bảy sách La Vạn, Lục Vân, A Nhân, Ỷ Tuân, Làng Lò, Chế Trang, Ỷ Đống) vì cai quan Nguyễn Văn Xuân hà lạm sách nhiễu nên đem nhau làm giặc, giết và đánh bị thương lại dịch. Nguyễn Văn Lượng cùng Hiệp lý là Nguyễn Văn Hưng và Nguyễn Cửu Khánh nghe báo tin liền tập hợp binh và voi tâu xin tiến đánh. Vua dụ rằng : “Người Man ấy vốn là kính thuận, nay bỗng dưng có sự biến ấy, biết đâu chẳng phải do biên lại sách nhiễu gây nên. Bọn ngươi đã không hay ngăn cấm thuộc viên, vỗ yên dân Man, đến khi việc xảy ra lại chẳng biết hỏi rõ đầu đuôi để đối với kẻ bướng ngạch thì lấy phép mà trị, đối với kẻ bị ức thì lấy ân mà xử, lại chỉ một mực phô trương, họp nhiều quân và voi để làm gì vậy ? Nay sự thế đã nửa chừng khó thôi, thì Cửu Khánh ở lại giữ trấn thành, còn Văn Lượng, Văn Hưng thì đem quân tiến trước, nên thế nào tuỳ cơ vỗ về đánh dẹp, phân biệt kẻ hay người dở, cho dân Man lặng yên. Nếu làm lỡ công việc, gây thành giặc lớn thì quyết khó chối lỗi nặng”. Lại sai thị vệ đem dụ đến bảo rằng : “Ngươi nên truyền chỉ cho bọn Lượng chọn lấy một người giỏi cho đến các sách Man dụ nó về hàng, nếu nó không theo thì sau mới lấy uy mà trị. Cũng nên xét rõ lành dữ, nếu hại một mạng là hại một người dân của ta vậy”. Bọn Lượng đánh lâu không được kết quả gì. Vua sợ có khi lỡ việc, bèn lấy Nguyễn Văn Quế thay làm Trấn thủ, sai đến quân thứ ngay. Nguyễn Văn Lượng thì bị giải chức về Kinh đợi chỉ ; Nguyễn Văn Hưng về trấn làm việc.
    Vua vời Binh bộ dụ bảo về việc binh ở Bình Hoà, chỉ bảo phương lược, sai làm phiếu nghĩ, qua ngày hôm ấy chưa thấy dâng phiếu. Cho hỏi mấy lần, bộ thần đều chưa vào chầu. Vua giận nói rằng : “Bộ Binh là nơi khu cơ trọng yếu mà lười biếng như thế, há chẳng đến nhỡ việc ư”. Liền sai đi bắt Tham tri Nguyễn Khoa Minh trói ở Tả vệ, hôm sau mới tha.
    Trong Kinh kỳ mưa. Vua ngự ở điện, muốn hỏi rõ công việc làm ruộng, cho vời Kinh doãn là Bùi Tăng Huy, nhưng lâu không đến. Vua nói rằng : “Chiều hôm qua Nguyễn Khoa Minh không chầu, lập tức xuống chỉ nghiêm phạt, hắn đã trông thấy, chưa qua một ngày mà đã biếng nhờn như thế, bụng nó để đâu ? Nếu kẻ khác trông thấy bắt chước thì còn lấy gì để răn bảo quan lại ?”. Sai bộ Lại và Nội các tuyên chỉ cật hỏi. Huy bị phạt.
    Sai Vệ uý Trung vệ dinh Thần cơ là Trương Công Tuyên kiêm quản các đội
    Tả hầu, Hữu hầu và Trung hầu nhất.
    Ngày Quý sửu xuất quân. Trước một ngày, lệ có lính túc vệ trực đêm canh giữ ở ngoài cửa Tả Túc, Hữu túc, quân Thị trung không một người nào đến cả. Vua nghe nói, sai đánh Phó vệ uý Trần Văn Lộc 80 trượng. Thống chế Lưỡng dực là Tôn Thất Bính và Trần Văn Cường đều giáng một cấp.
    Chuẩn định từ nay vua thính chính ở điện thì lục bộ nha nào nhiều việc cho lấy một người Thiêm sự theo ban vào chầu.
    Vua cùng Nguyễn Khoa Minh nói đến tục dân, nhân bảo rằng : “ở nước Thanh, dân mọn đều biết luật lệ cho nên dễ khinh pháp luật, dân ta thì còn chưa thông hiểu pháp luật, nên thấy hình phạt biết sợ, dân ta giống như dễ dạy. Trẫm nghĩ tình người ai chẳng muốn yên, đổi thay nhiều việc vẫn là không nên ; nhưng đương khi tuổi còn khoẻ mạnh, không cùng các khanh trù hoạch xếp đặt thì sau mỏi mệt còn làm được việc gì. Bởi thế trẫm chẳng dám lười biếng lúc nào”. Lại bảo Hoàng Quýnh rằng : “Thánh nhân có nói : Lấy chính trị mà chỉ bảo, lấy hình phạt mà sửa chữa, dân khỏi tội mà vô sỉ ; lấy đức mà chỉ bảo, lấy lễ mà sửa chữa, dân biết xấu mà sửa đổi. Nhưng nhà Đường, nhà Ngu đặt sĩ sư làm việc hình, chẳng cũng lấy hình pháp mà lùa dân sao ?” Quýnh đáp rằng : “Hình là khí cụ để giúp việc giáo hoá, nhà Đường nhà Ngu sợ dân chưa theo giáo hoá cho nên lấy hình thêm vào, để khiến hợp với đạo trung, ấy là có hình mà mong không phải dùng hình vậy”.
    Cho Nguyễn Khoa Hào làm Hữu Tham tri Lại bộ, Hoàng Kim Xán làm
    Hữu Tham tri Công bộ, vẫn kiêm lý công việc Hình bộ, Nguyễn Đăng Tuân làm Tả Tham tri Lễ bộ, Phan Huy Thực làm Hữu Tham tri Lễ bộ, Đặng Văn Nguyên, Hoàng Văn Tú làm Thiêm sự Lại bộ, Ngô Đức Chính làm Thiêm sự Lễ bộ, .Đào Đức Lung làm Thiêm sự Hình bộ.
    Lấy Lang trung Hộ bộ là Thân Văn Duy làm Thiêm sự Hộ bộ, Lang trung
    Lễ bộ là Đặng Đức Chiêm và Nguyễn Minh Châu làm Thiêm sự Lễ bộ, Lang trung Binh bộ là Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Hoá và Nguyễn Đức Nhuận làm Thiêm sự Binh bộ, Lang trung Công bộ là Đoàn Văn Phú làm Thiêm sự Công bộ.
    Định lệ thay đổi lính thú ở hai thành phủ Tĩnh Gia phủ Diễn Châu ở Thanh Nghệ. Trước kia hai phủ ấy lấy biền binh các vệ Hậu dinh quân Thần sách cho đóng thú lâu. Vua muốn cho khó nhọc nhàn rỗi đều nhau, sai hai trấn đổi phái dinh khác đóng thay ba năm. Từ năm Minh Mệnh thứ 9 về sau thì mỗi năm một lần đổi, hết vòng lại bắt đầu.
    Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất tâu rằng mộ cha trước chưa xây, sinh phần mẹ cũng chưa định, xin cho con là Lê Hậu nghỉ về quê để thay làm việc nhà.
    Vua y cho và cho 500 quan tiền. Lại hạ lệnh cho Trấn thần Bình Định khiến người thăm hỏi mẹ Chất.
    Sai quan Quốc tử giám chọn cử giám sinh, tuỳ tài bổ dụng. Dụ rằng : “Quốc tử giám là nơi chứa nhân tài, gần đây đặt sinh viên, cho ăn lương hậu, bồi dưỡng gây dựng cũng đã chu đáo lắm ; các giám sinh tọa giám trước sau, đến nay thấm nhuần ân trạch giáo hoá, cũng đều đã có thành tài. Vậy hạ lệnh Tế tửu Tư nghiệp lấy công bằng kén chọn lấy 30 người học vấn rộng văn chương hay có thể dùng được mà tâu lên”. Bèn sai bộ Lễ bàn định phép khảo hạch. (Phép khảo chia làm ba kỳ : kỳ đệ nhất, một bài thơ ngũ ngôn bài luật ưng chế 12 vần, một bài kinh nghĩa bát cổ ; kỳ đệ nhị, một bài chiếu cáo thù phụng, một bài tụng theo cách tứ ngôn đổi vần, 40 câu và có tiểu dẫn ; kỳ đệ tam, một bài sách vấn về thế vụ). Lấy Thượng thư Nguyễn Hữu Thận làm chủ khảo, Tham tri Nguyễn Đăng Tuân, Ký lục Vũ Huy Đạt sung chức đồng khảo. Khảo hạch ở nhà Hữu triều đường. Không được một người nào dự hạng ưu. Vua không vui lòng, bảo thị thần rằng : “Trẫm nuôi nấng nhân tài để dùng làm việc nhà nước sau này. Nay 30 người ứng hạch mà không được người nào đáng lấy, bọn ấy còn dùng làm gì được. Muốn truất cả đi”. Trịnh Hoài Đức tâu xin lấy 3 người hạng bình bổ làm Hàn lâm viện Đãi chiếu, còn hạng thứ lại cho về Giám học tập, hạng liệt cách đi cho về. Vua nghe theo.
    Thự Tế tửu Quốc tử giám là Trần Trọng Huyến và thự Tư nghiệp là Thân Văn Quyền phải tội bị miễn chức. Trước là có người giám sinh Lý Trần Trinh đến trước quan điển khảo tự trần rằng hạch năm khoá y đều được ưu mà không được dự tuyển, những người được cử thì có người chỉ là hạng bình hạng thứ cùng là người mới bổ. Nguyễn Hữu Thận đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho bọn Huyến tâu lại, lời tâu nhiều chỗ mập mờ. So khảo hạch thì quả không có hạng ưu. Vua cho là bọn Huyến hun đúc không chăm, kén chọn không tinh, giao xuống bộ Lại bàn. Bèn giáng Huyến làm Chủ sự bộ Lễ, Quyền làm Chủ sự bộ Lại. Đến kỳ khoá tháng trọng xuân, vua đặc sai Tham tri Nguyễn Đặng Tuân và Ký lục Vũ Huy Đạt sung chủ khảo, bọn Thiêm sự Trương Minh Giảng 12 người sung phân khảo, đến Di luân đường họp các sinh viên tọa giám khảo hạch, phân biệt xấu tốt. Được ưu hạng là bọn Nguyễn Quốc Tá 7 người, bổ làm Hàn lâm viện Kiểm thảo ; bình hạng vẫn ở lại học tập ; thứ hạng thì đình lương 1 tháng ; liệt hạng cùng người cáo ốm trốn hạch là 52 người đều cách về. Rồi sau 18 người bị cách là bọn Lê Vạn Hanh tình nguyện xin theo bộ để học tập. Sai chia bổ làm vị nhập lưu Thư lại ở sáu bộ, hằng tháng cấp cho tiền 1 quan, gạo 1 phương.
    Giám sinh Quốc tử giám là Hồ Sĩ Huỳnh tự tiện bán gạo lương của các giám sinh. Bộ Lễ đem việc tâu lên.
    Vua nói : “Quốc tử giám là nơi có quan hệ đến việc gây dựng nhân tài, giám thần phải đêm ngày răn bảo, để ý đúc nên, mà sinh viên cũng phải dùi mài trau dồi, để nhờ ơn đức, thế mà hạnh kiểm đến xấu xa như thế, sao vô sỉ quá vậy ! Thật là phụ ơn nuôi dạy của trẫm quá lắm”. Liền sai bộ Hình xét xử. Sĩ Huỳnh phải tội đồ.
    Vua nhân dụ bộ Lễ rằng : “Trẫm từ thân chính đến nay, lúc nào cũng chăm chắm nghĩ việc nuôi nấng nhân tài. Trước đã rộng mở nhà học, đặt thêm sinh viên, là muốn được người thực tài để dùng. Kịp nghe giám sinh toạ giám có nhiều vết xấu, tiếng tăm luôn luôn, xét ra đều bởi các quan địa phương cử lên bừa bãi, cùng là giám thần dạy bảo chẳng nghiêm. Vậy truyền dụ cho các quan địa phương từ sau đến kỳ cống cử phải hết lòng kén chọn, nếu cử người không tốt thì sẽ bị xét nghị. Đến kỳ cống cử thì chuẩn định hằng năm trung tuần tháng 7 những học sinh được cử đã phải đến kinh ứng hạch, không được quá hạn. Bộ ngươi lại nên châm chước bàn định những điều khoản về sự giảng dạy và đôn đốc của nhà giám, rồi tâu lên”. Khi lời bàn dâng lên, vua chuẩn y :
    (1/ Hằng năm sau khai ân đầu xuân 1 ngày thì khai giảng. Giám thần mặc mũ áo thường triều, đến Di luân đường làm lễ cáo Tiên sư, các giám sinh mặc mũ áo mà bồi bái. Lễ xong, giám thần lại đến giảng đường đều ngồi, các giám sinh thay áo làm lễ chào. Lễ xong, ngồi nghe giảng. 2) Ngày thường thì nghe giảng, trước giảng kinh truyện để rõ nghĩa lý, rồi giảng chính sử tính lý để sẵn mà tham khảo, đặc biệt nên chỉ bảo những mối vinh nhục liêm sỉ, nêu rõ những nghĩa hiếu đễ trung tín, để chính tâm thuật. 3) Hằng tháng lấy những ngày mồng 3, mồng 9, 17, 25 làm ngày tập bài. Đầu bài thì theo văn thể bốn trường, hoặc tập xen lối văn thù phụng. 4) Hằng năm những kỳ khảo hạch thì lấy bốn tháng trọng. Chấm phê cốt phải tinh tường, không được thiên vị. 5) Giám sinh nếu có các tệ rượu chè cờ bạc, trộm cắp trai gái, thì cho xét cử lên để cách đuổi đi ; có kẻ tự tiện bỏ ra ngoài một hai lần thì giám thần tự trách mắng, ba lần cũng cho xét cử lên. Hằng năm ba tiết lớn Vạn thọ, Chính đán, Đoan dương, các giám sinh đều đủ mũ áo do bộ dẫn vào sân điện Cần Chính để chiêm bái. 7) Hằng năm cứ đến cuối tháng chạp, sau ngày cất ấn 1 ngày thì nghỉ học).
    Cửa biển Thuận An có thuyền công trở về, thủ ngự Ngô Văn Quyền nhận lầm là thuyền Tây dương, liền đem báo bộ. Vua bảo rằng : “Các cửa biển nhà nước đã cấp cho thiên lý kính để trông rõ ngoài xa, sao lại lầm lẫn như thế !” Liền sai thị vệ đến ngay đánh trượng để phạt. Sắc cho bộ Công truyền chỉ từ sau nên lấy kính thiên lý mà nhìn cho rõ ràng, tuỳ việc chuyển báo, nếu lại còn lầm tất trị tội nặng.
    Việc quan hệ đến quân cơ thì lấy quân pháp trị tội.
    Chuẩn định từ sau phàm các phái viên thay giữ Trấn Hải đài thì do đường thuỷ mà đi ; lĩnh bài vương mệnh và hợp phù, có tàn lọng đưa đi. Hết hạn đổi về cũng thế. Lại sắc cho cửa biển Đà Nẵng dinh Quảng Nam phàm có thuyền ở Kinh cùng thuyền bè các địa phương đi về hay đậu lại thì cho viên Thủ ngự làm tập tâu riêng, việc thường vẫn do dinh thần chuyển đạt. Lại sai sửa chữa ba sở phong hỏa đài (Cù lao Chiêm, Trà Sơn, Chủ Sơn), có động thì đốt lửa báo tin.
    Đổi bổ lẫn nhau ba đội mộ binh mới nhất tứ lục thuộc vệ Tả hộ làm ba đội nhị bát cửu thuộc vệ Tiền hộ, ba đội nhị bát cửu vệ Tiền hộ làm ba đội nhất tứ lục vệ Tả hộ.
    Bắc cầu Kỳ Xuyên (tên xã) trên đường quan lộ trấn Bình Thuận (cầu 62 nhịp), cấp cho dân ứng dịch 300 quan tiền.
    Xã Thanh Hương (thuộc huyện Quảng Điền) phủ Thừa Thiên trước có đê ngăn nước mặn, lụt lâu ngày đê sụt ; ở dân sở tại xin nhờ các thân biền binh lính quê ở làng được nghỉ để góp sức bồi đắp. Vua sai phủ thần xét thực, cho nghỉ ba tháng.
    Tham hiệp Thái Nguyên là Nguyễn Hữu Cáo chết.
    Tháng 2, bắt đầu đặt Tri huyện hai huyện Long Xuyên và Kiên Giang.
    Hai huyện ấy trước lấy quản đạo và hiệp thủ quyền coi việc huyện, đến nay thành thần Gia Định tâu rằng hai huyện dẫu nhỏ nhưng địa thế xa lánh ở ngoài biên giới, nhân dân lưu tán của hạt khác thường đến, người buôn bán nước ngoài thường qua lại ở đi không thường, nhóm họp chẳng dễ, lại là đường sứ nước Xiêm tất phải đi qua, thổ quan hay hèn rất có quan hệ đến sự xem xét của người ngoài, cũng là chỗ quan yếu, thực không nên không chọn kỹ càng. Nay quản đạo và hiệp thủ đều do quân ngũ xuất thân, khó làm nổi việc cai trị, xin chọn lấy ở các viên Tri huyện hiện thuộc hạt thành người nào biết việc có thể làm được thì đổi đến mới xứng chức”. Vua nghe theo. Sai đặt Tri huyện mà bãi hiệp thủ.
    Cấp thêm gạo lương cho lính hai vệ Cẩm y. Những quân Cẩm y túc vệ đều chọn những người khoẻ mạnh sung bổ, vua nghĩ lương tháng không đủ ăn nên cấp thêm (cứ 4 người mỗi tháng thêm 1 phương gạo).
    Mỹ Đường đã có tội ở nhà riêng, thường đến thăm con ở xã An Hoà, có người cho là trốn tâu lên. Vua bảo rằng : “Hành vi của nó hơn là chó lợn, trẫm nghĩ cái tình Anh duệ Hoàng thái tử nên không nỡ làm tội, nay lại nghe kẻ bậy bạ xui khiến, muốn làm gì chăng ?” Liền sai thị vệ bắt về, phái binh canh giữ, rồi tha.
    Xây cầu đá trên đường quan ở Thừa Thiên (từ sông Hương về Nam 35 sở, về Bắc 17 sở).
    Ngày Ất sửu tế ở đàn Nam Giao. Vua dụ bộ Lễ rằng từ nay hằng năm tế Giao, ngày xa giá đến Trai cung thì nên truyền họp dân các huyện phủ Thừa Thiên đặt án ở hai bên đường, đợi khi giá qua thì quỳ đón, khi trở về thì quỳ đưa, khiến cho nhân dân thủ đô những người già đều trông thấy nghi vệ thái bình. Bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 7 này.
    Hiệp lý trấn vụ Bình Định là Lê Đăng Doanh có sớ tâu rằng công việc trong trấn quá nhiều mà chức tư mục còn khuyết, xin cử Vệ uý vệ Thị tượng nhất là Nguyễn Văn Nam làm Trấn thủ. Vua bảo rằng : “Đăng Doanh lấy chức Hiệp lý mà cử Trấn thủ, có quyền đấy nhỉ ?” Sai vứt trả tờ sớ. Rồi đổi bổ Vệ uý Nguyễn Đăng Huyên làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định.
  • Chia sẻ trang này