0059.041 - @suongdem(done-GD)- Team S02

25/11/15
0059.041 - @suongdem(done-GD)- Team S02
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Định lệ thưởng cho các trạm khi có việc sứ. Vua thấy trước nay sứ bộ từ Gia Định xuống Nam, từ Bắc Thành lên Bắc, đi qua các trạm dọc đường, thuỷ bộ chuyển đệ nhiều ít không giống nhau, chuẩn định từ sau phàm có việc sai sứ sang nước Thanh, từ Bắc Thành đến Lạng Sơn tất cả sáu trạm, đi về hai lần, mỗi trạm cấp cho 4 tháng lương tiền, mỗi tháng tiền 30 quan gạo 20 phương ; sang nước Xiêm, từ trạm Phiên Lộc thành Gia Định đến Hà Tiên, tất cả chín trạm, đã có thuyền binh chở không khó nhọc mấy, chỉ có một trạm Vĩnh Giai đường sông hơi xa, đi về hai lượt cấp cho 2 tháng lương tiền, mỗi tháng tiền 30 quan gạo 20 phương, còn các trạm khác đều không được dự.
    Trấn thần Bình Thuận tâu rằng sách man Trà Nương trong hạt năm ngoái gặp tai nạn không lấy gì nộp thuế. Sai tha cho. (Tiền thuế hơn 400 quan).
    Châu Bố Chính dinh Quảng Bình gạo đắt. Cho thuế thóc năm nay thay bằng tiền.
    Sai 5.000 người các quân lên rừng lấy gỗ. Vua thương khó nhọc, thưởng cho Suất đội mỗi người tiền bổng 1 tháng, quân lính đều 2 quan tiền. Đến mùa hè mưa nắng, lính ốm nhiều, thả cả cho về. Vua nhân đi qua trại quân Thị trung, sai đem những người lính ốm ra, vua thân thăm hỏi. Dụ các quản quan rằng : “Một người lính tuy nhỏ cũng là nanh vuốt của nhà nước. Ai có cha mẹ vợ con thì cho về nhà điều trị, nếu không thì quản quan phải nuôi nấng”. Lại sai bộ Hộ lấy tiền công cấp cho.
    Trong Kinh kỳ lâu không mưa. Cầu đảo ở các miếu Hội đồng, Long vương, Thai dương, đều chưa ứng. Vua bảo thị thần rằng : “Trẫm từ thân chính đến nay, cái việc thương dân trọng nông chưa từng bỏ nhãng chút nào. Xuân năm nay ít mưa, lỡ thời vụ, đã sai cầu đảo mà chưa được ứng nghiệm, ý giả lòng thành chưa được đến mực chăng ?”. Bèn sai lập đàn ba vị thần ấy ở đài Tây Tĩnh trong kinh thành, sai Thượng thư Nguyễn Hữu Thận cầu đảo, bảy ngày đem chưa mưa, lại sai Tham tri Lương Tiến Tường cầu đảo ở đàn Xã Tắc. Sắc rằng từ sau những ngày đảo vũ cấm không được xử án và sát sinh. Ghi làm lệnh.
    Vua vời Phủ doãn Thừa Thiên là Bùi Tăng Huy hỏi lúa má của nhân dân ra sao. Đáp rằng : “Ruộng cao đều khô cả, ruộng thấp lại bị hại chuột bọ”. Vua than nói rằng : “Tội tình vì đâu mà người ngày nay lại gặp tai nạn đói kém luôn như thế ?”. Ngoảnh lại bảo thị thần rằng : “ở trong Kinh thành còn nhiều đất hoang, nên sai các cấm binh vãi trồng khoai đỗ, tuy không bằng thóc, nhưng cũng ăn đỡ được”. Nguyễn Hữu Thận nhân tâu rằng : “Điển lễ nhà Thanh có việc hoàng đế thân đến đảo vũ ở Hu đàn”. Vua nói rằng : “Đấy cũng là sự quyền nghi thôi, chẳng phải điều đế vương đời xưa chuộng, không nên bắt chước, trẫm chỉ lấy sợ hãi tu tỉnh,
    lòng thành ngầm đảo là tốt thôi”.
    Lục xét tù giam. Dụ rằng : “Từ đầu xuân đến nay mấy tuần không mưa, đã nhiều lần sai quan đảo vũ mà chưa được trời mưa. Trẫm ngày đêm nóng ruột,
    thức ngủ chẳng yên, nhân nghĩ đến việc hình ngục, hoặc có oan uổng mà đến nỗi trái hoà khí chăng. Người xưa hễ gặp đại hạn thì thân xét tù đồ, sai sứ quyết đoán, thường có khi nhân thế mà được mưa. Nay nên một phen xét lại tù đồ để nhương trừ tai biến. Vậy hạ lệnh cho bộ Hình cùng các nha môn xét hình ở Thừa Thiên và ba dinh trực lệ hết lòng xét các án, nếu có những người bị tội liên can, những người chứng bị đòi bắt, thì cho dân bảo lĩnh về để đợi án ; các án tạp phạm như xuy trượng trở xuống thì nên cho qua ngay cho hết án đọng, để cầu phước trời”.
    Lấy Vệ uý vệ Quảng võ quân Thần sách là Lê Văn Túc lĩnh án thành phủ Tĩnh gia kiêm hành việc quản phủ.
    Lấy Ký lục Quảng Nam là Nguyễn Văn Thục biện lý công việc Hộ bộ.
    Hiệp biện Đại học sĩ Trịnh Hoài Đức chết. Hoài Đức là bậc trọng thần của nước, vua rất ỷ dụng. Tuổi già xin nghỉ việc, vua yêu giữ lại không cho, cho 2.000 quan tiền và gỗ ván gạch ngói khiến làm nhà riêng ở Kinh. Đến nay chết, vua thương tiếc vô cùng, bảo thị thần rằng : “Hoài Đức tính thuần cẩn thành thực, khó nhọc đã lâu, buổi đầu trung hưng được tin dùng nhiều ; phụng sứ sang nước Thanh, cầm cờ tiết giữ Gia Định, đều hay thu được thành tích, có tiếng thuần lương. Trẫm từ nối ngôi đến nay, biết là tận trung, cất lên chức cao, thường cùng bàn luận chính sự, được nhiều điều thi thố mở mang, đương mong hậu đãi lâu dài cho giữ bền lộc vị, thì mùa đông năm ngoái bỗng mắc bệnh nặng, liền sai ngự y xem mạch điều trị. Hôm trước bệnh lại thêm nặng, liền sai thị vệ mang cho sâm quế thượng phương, thế mà thuốc thang chẳng kịp, nay vội bỏ đi, trẫm nghe nói không cầm được nước mắt”. Bèn tặng Thiếu bảo Cần Chính điện Đại học sĩ (trật chánh nhất phẩm), thụy là Văn Khác. Cho gấm hồng gấm Tống mỗi thứ 4 cây, nhiễu đoạn mỗi thứ 4 tấm, sa trừu 11 tấm, tiền 2.500 quan, gạo 500 phương, dầu 3.000 cân, nghỉ chầu 3 ngày, sai quan tứ tế. Ngày đưa đám về quê, sai hoàng tử là Miên Hoành đến nhà riêng vâng mệnh cho rượu, lại phái 400 quân Thần sách đưa đến bến đò sông Hương. Cấp cho 2 người mộ phu.
    Vua dụ Nội Các rằng : “Vua tôi như một thân thể, đau đớn quan hệ với nhau. Từ nay các nha môn ở Kinh, ai dự vào hàng đình thần, nếu có ốm đau thì phải có bài tâu ngay, sẽ sai y viện điều trị. Hôm nào khỏi lại tâu để yên lòng trẫm”.
    Ngày ất hợi, tiết Thanh minh, vua rước Hoàng thái hậu đi yết lăng Thiên Thụ.
    Hiệp lý trấn vụ Bình Hoà là Nguyễn Văn Hưng và Nguyễn Cửu Khánh có tội bị miễn chức ; lấy Thiêm sự Công bộ là Lê Văn Đức làm Ký lục Bình Hoà ; Lang trung Lại bộ là Hồ Hựu làm Thiêm sự Hiệp lý việc trấn. Hưng trước cùng với Trấn thủ Nguyễn Văn Lượng đánh dẹp vỗ về các man đã không có công trạng gì, đến khi NguyễnVăn Quế đến trấn, sai người chiêu dụ, hai sách Chế Trang và Làng Lô mới đến cửa quân thú phục, Hưng lại tâu man là mình cùng Lượng điều độ. Vua ghét cái lối cướp công, liền hạ lệnh cho Hưng cùng Cửu Khánh đều giải chức về Kinh đợi tội, mà lấy bọn Đức thay. Dụ rằng : “Dân man vốn sợ Nguyễn Văn Quế cho nên quy thuận chóng như thế. Ngày sau Văn Quế không ở đấy thì chẳng khỏi lại quấy. Bọn ngươi cứ đi. Đứa nào ra thú thì nên yên ủi, nhưng phải giết đứa đầu sỏ để cho chúng biết răn sợ, rồi sau ân uy mới đều rõ rệt, ấy là cái kế trị an lâu dài.
    Còn những quan lại gây biến, cũng nên xét đến tận nơi mà trừng trị đi”. Nhân sai biền binh Cẩm y hơn 10 người đi theo bọn Đức. Đến nơi, xét ra vì bọn cai quan Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Toán, Nguyễn Văn Mão hà khắc sách nhiễu nên gây biến loạn. Đức đem việc tâu lên. Giao xuống bộ Hình xét xử. Lượng và Hưng đều phải tội, phát đi sung quân ở các đồn bảo dọc biên giới Quảng Ngãi ; Khánh vì giữ thành tội nhẹ hơn, phát đi đạo Cam Lộ ra sức chuộc tội ; bọn Văn Xuân cũng đều bị tội sung quân. Lượng và Hưng sau đổi phát đi đạo Cam Lộ làm lính.
    Định lệ khảo khoá học trò. Từ trước đến nay, học thần các địa phương hằng năm khảo khoá học trò, hoặc 2 kỳ hoặc 4 kỳ không đều. Bộ Lễ bàn xin định một khoá, hạng ưu thì được miễn binh dao 1 năm, hạng thứ thì nửa năm. Vua theo lời bàn.
    Dựng sáu xưởng súng (Một xưởng ở đài Đông Thái, một xưởng ở đài Chính Nam, một xưởng ở đài Nam Minh, một xưởng ở đài Tây Thành, một xưởng ở đài Định Bắc, một xưởng ở đài Bắc Trung).
    Đặt đàn ân tự. Đầu đời Gia Long bắt đầu xây dựng đô thành, những mồ mả bỏ hoang ở trong thành đều dời chôn ở đấy. Lâu ngày sụp đổ, vua sai Kinh doãn đắp xây lại, dựng mốc giới bằng gỗ, cấm giày xéo, hằng năm cứ cuối xuân chọn ngày lành đặt một đàn ân tự.
    Sai hai dinh trấn Quảng Nam, Bình Định mộ lập lính cơ, mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 50 người (Lệ trước mỗi cơ 5 đội, đến nay sai mộ thêm).
    Lấy Phó vệ uý Tả bảo nhị thành Gia Định là Vũ Đình Sách làm Vệ uý, Cai cơ suất đội Tả sai là Lê Văn Tần làm Phó vệ uý, Phó vệ uý vệ Minh nghĩa là Trần Văn Hãnh làm Vệ uý, Cai đội Nguyễn Hựu Khôi thự Phó vệ uý, Cai cơ Nguyễn Văn Bột làm Phó vệ uý vệ Tả bảo nhất, đều theo Lê Văn Duyệt tiến cử. Hựu Khôi là người bơ vơ ở Cao Bằng, trước Duyệt kinh lược Thanh Nghệ, Khôi xin làm bộ hạ, theo đi Gia Định, Duyệt thấy là người sai phái được việc nên cất bổ cho.
    Chuẩn định vệ Tả hộ cùng các đội Dực cường, Dực định chia làm ba ban ứng trực, bắt đầu từ mồng 1 tháng 3 năm nay.
    Lấy Vệ uý Nguyễn Văn Quyền quản lý các đội Túc trực vệ Cẩm y, vẫn kiêm quản đội Bả lệnh, Nguyễn Văn Trọng quản lý các đội Thường trực, Trường trực vệ Cẩm y, vẫn kiêm quản các đội Tân sài, đều gia cho hàm Chưởng cơ. Sai chế ấn đồ ký “Cẩm y túc trực” bằng đồng, ấn đồ ký “Cẩm y Thường trực, Trường trực” bằng đồng, cùng dấu kiềm bằng gỗ, mỗi thứ một cái để cấp cho”.
    Lấy Vệ uý Hậu vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Văn Nghị làm Vệ uý vệ Tả nhất quân Thị trung, Vệ uý vệ Tiền nhất là Hoàng Văn Trạm làm Vệ uý vệ Tả nhị.
    Sai Thống chế Trần Đăng Long kiêm quản các đội Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm.
    Lấy 2 vệ Trung hộ, Tiền hộ, chia hầu ở các phủ hoàng tử.
    Đổi dựng hành cung ở Quảng Nam. Dinh thần thấy hành cung cũ gỗ ván mọt nát, tâu xin họp thợ làm lại. Vua y cho. Dân và thợ làm việc mỗi tháng cấp cho tiền 3 quan gạo 1 phương.
    Lấy Lang trung Hình bộ là Phạm Phước Thiệu làm Thiêm sự Hộ bộ, Thiêm sự Hình bộ là Bùi Phổ làm Thiêm sự Binh bộ, Thiêm sự Binh bộ là Vũ Hữu Tín làm Thiêm sự Hình bộ, đều theo thành Gia Định làm việc ba tào Hộ, Binh, Hình, Lang trung Binh bộ Trần Thái Tín làm Thiêm sự, vẫn theo bảo hộ Chân Lạp Nguyễn Văn Thụy làm việc biên vụ.
    ở ba trấn Phiên An, Vĩnh Thanh, Định Tường hạt thành Gia Định mùa đông năm ngoái ít mưa, đồng lúa hại nhiều, quan sở tại khám báo tổn hại ước 4,5 phần 10 trở lên. Thành thần thấy gần đến kỳ thuế, nếu đợi khám lại sợ đến sai kỳ, đem việc tâu lên. Vua nói rằng : “Ruộng đất ở Gia Định không chia rõ mẫu sào thước tấc, cần gì phải khám lại làm án”. Sai hãy tạm hoãn thu thuế, lại cứ phân số địa phương báo có tâu lên để lượng cho giảm.
    Tả Tham tri Lễ bộ là Hoàng Kim Hoán dâng sớ tiến cử những người học trò mình biết. Vua sai Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh hội đồng với bộ Lại khảo hạch. Quýnh tâu rằng : “Cử chủ Kim Hoán là chú của thần, xin cho hồi tị”. Vua bảo rằng : “Cái lòng thờ chú của người hẳn không trọng bằng cái lòng thờ trẫm,
    vậy không nên từ”.
    Phong tặng cha mẹ các quan viên hưu trí có công Vọng Các. Trước có ân chiếu phong tặng cha mẹ quan viên, cha mẹ quan viên hưu trí không được dự. Đến nay vua nghĩ quan viên hưu trí có nhiều người là công thần Vọng Các, muốn phân biệt để khuyên người trung nghĩa, bèn sai bộ Lễ xét rõ ở sổ, quan từ tam phẩm trở lên ai có công Vọng Các thì tâu xin phong tặng.
    Lấy quản cơ cơ Trung kính Tiền quân là Hoàng Văn Ngôn làm phó thống thập cơ Kính tiệp.
    Xây đắp cửa Quảng Bình quan, cầu Quang Bình cùng bảo ngoài hộ quan.
    Cửa quan dài 2 trượng 1 thước, ngang 2 trượng 5 thước, trong lòng cửa cao 10 thước 8 tấc, rộng 8 thước 1 tấc ; cầu dài 5 trượng, giữa cao 12 thước, 2 đầu cao 8 thước, ngang 16 thước, bảo dài 14 trượng 6 thước, rộng 3 thước, cao 3 thước. Sai dinh thần lấy lính các vệ Chấn oai và Tuần thành làm việc. Y theo quy thức cửa và cầu của Kinh thành mà làm. Làm xong, thưởng khắp mọi người hơn 3.000 quan tiền.
    Lại nhân lúc không phải ngày mùa, sai thuê dân xây cầu đá trên đường quan, hằng ngày cấp cho tiền gạo. Vua bàn muốn ra xem, gặp hạn bèn thôi.
    Thanh Hoa tâu rằng : “Cửa biển Biện Sơn là nơi quan yếu, xin phái thự Phó vệ uý vệ Túc võ là Nguyễn Văn Đường đem binh thuyền đi tuần xét”. Vua y cho.
    Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Soạn tuổi ngoài bảy chục, xin nghỉ việc. Vua bảo hộ Binh rằng : “Soạn tuy tuổi già, nhưng mà sức còn khoẻ”. Không cho.
    Người xã An Quán phủ Thừa Thiên là Nguyễn Văn Thiện dâng một quyển binh thư. Cho 10 lạng bạc.
    Vua nhớ lại các công thần giúp nên cơ nghiệp, dụ bộ Lễ rằng : “Trong đời Gia Long, đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta nghĩ thương những người có công lao trước, phàm công thần trung hưng đã chết vợ con đều được thưởng cấp rất hậu. Nay Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên, đều có công to với nước, nối nhau mà chết, trẫm muốn thưởng cho dài đời để đáp công đầu. Bọn ngươi nên chép tên con trai con gái của họ tâu lên để hằng tháng cấp cho tiền gạo đủ ăn”
    Cho tế các tướng sĩ chết trận từ quốc sơ đến nay. Dụ rằng : “Thủa trước đương buổi sấm mưa kết mối, đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy nhân nghĩa mà đánh dẹp, phàm tướng sĩ chết trận không người nào không được thương đến, thường sai tứ tế, thực là ơn trên chu đáo không thể nói nên lời. Trẫm từ mới nối ngôi, kinh theo đạo hậu, đã cho đặt đàn ân tự, hằng năm sai quan đến tế. Nhưng nghĩ hồn nghĩa ở dạ đài vơ vẩn còn nhiều ; vả từ trước đến nay, hoặc nhân giặc nhỏ ngoài biên thuỳ, quân sĩ đi đánh có kẻ bỏ mình dưới mũi giáo. Từ khai quốc đến nay, những người cần vương hết tiết, tuy trước sau có khác, nhưng tựu trung đều là nên thương. Vậy hạ lệnh cho Kinh doãn chọn đất đặt đàn để tế”. Lại đặt đàn chay phổ độ ở chùa Thiên Mụ.
    Vua bảo Nguyễn Hữu Thận rằng : “Lập đàn chay, xét trong các sách chưa từng thấy, có thể khỏi để cười cho người sau không ?” Thận đáp rằng : “Đạo Phật hư vô, không có bờ bến, cái thuyết cứu vớt bến mê, thần thực không biết. Nhưng đời trước nước ta cũng có làm rồi. Nay thánh thượng thương xót những bề tôi chinh chiến, sai làm lễ ấy, thần trộm nghĩ cũng chẳng hại gì”. Vua hạ lệnh ngự giá đến xem.
    Lấy 300 quan tiền phát chẩn cho người nghèo. Rồi vời nhà sư ở chùa Từ Ân trấn Phiên An là Nguyễn Tâm Đoan cho làm trụ trì chùa Thiên Mụ.
    Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Hữu Viễn chết. Cho 1 cây gấm, 100 quan tiền. Lấy Vệ uý Cường võ Hậu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Biện làm Trấn thủ Lạng Sơn.
    Lấy Cai bạ Phiên An là Nguyễn Bá Uông làm Cai bạ Bình Định, Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Hữu Bảo làm Hiệp trấn Sơn Tây, Lang trung Hình bộ là Lưu úc làm Tham biện Tuyên Quang, Lang trung Lại bộ là Hoàng Đa Trợ làm Tham hiệp Cao Bằng.
    Lấy Giám chính Khâm thiên giám là Hoàng Công Dương làm Thiêm sự Hộ bộ, vẫn lĩnh Giám chính Khâm thiên giám.
    Lấy Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Tuyên làm Thống chế quản lý biền binh thành Gia Định
    Lấy Vệ uý Hữu vệ Tiền phong là Mai Văn Châu làm Vệ uý Tiền vệ, Viện sứ Thượng trà viện là Nguyễn Văn Lộc làm Vệ uý Hậu vệ Tiền phong, vẫn lĩnh chức Viện sứ Thượng trà viện, kiêm quản vệ Tả hộ, các đội Nội hầu, Tiểu sai, Ngân súng, Nội mã, Tả hữu mã, Tiểu hầu, Việt tường thuộc cùng ty Hành nhân và Liệp hộ, Phó vệ uý vệ Toàn võ quân Thần sách là Lê Văn Quảng làm Vệ uý vệ Diệu võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền là Phan Văn Uân làm Vệ uý vệ Cường võ, Phó vệ uý vệ Trung bảo nhất là Nguyễn Văn Linh làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Cai đội Trường trực vệ Cẩm y là Hoàng Đăng Thận làm Phó vệ uý vệ Trung bảo nhất, Cai đội Thường trực là Phạm Viết Thục làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu.
    Sai quan Quốc tử giám lựa chọn lấy 5 người tôn sinh tọa giám có học hạnh để sung làm Hành tẩu Văn thư phòng.
    Vua vời thự Thống chế Phạm Văn Điển dụ rằng : “Trẫm thấy ngươi là người huân cựu nên cất đến chức này. Nhưng ngươi đã không có học mà tính lại thô lỗ, bởi thế trẫm không thích. Ngươi nay là đại thần chẳng phải ví với đứa chăn voi ngày xưa nữa. Từ sau phàm nhất cử nhất động đều nên lo tự kiềm thúc. Đến như tiếp xúc với người lại nên có lễ. Nếu cứ lỗ mãng như trước, không những là phụ lòng quyến cố của trẫm, lại khiến cho người ta bảo trẫm không biết người”. Bèn hạ lệnh cho miễn dự đình nghị.
    Từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận giá gạo hơi cao. Sai các Trấn thần thuê dân xây cầu đá trên đường quan, hậu cấp cho tiền gạo.
    Bắt đầu định lệ khoá thanh tra bộ Hộ. Vua thấy sổ sách, đinh điền tiền gạo, cùng là kinh phí chi thu đều do bộ Hộ, mà lệ khoá thanh tra chưa định, bèn theo lời đình nghị mà định sáu năm một khoá, vào năm mão và năm dậu. Năm nay ất dậu bắt đầu. Sai Thống chế Trương Phước Đặng sung Đổng lý, Hữu Tham tri Binh bộ Nguyễn Khoa Minh sung Phó đổng lý, Thượng bảo Thiếu khanh Hứa Đức Đệ và Thiêm sự Hình bộ Đoàn Khiêm Quang sung Hiệp lý ; Viên dịch theo làm việc là
    19 người. Thưởng cấp lương bổng so với việc thanh tra Nội vụ và Vũ Khố gấp hai lần. Hạn trong 4 tháng.
    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XXXII
    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 [1825], mùa xuân, tháng 3, sai Chưởng cơ Nguyễn Tài Năng quản 12 chiếc thuyền binh đi Bắc Thành vận chở.
    Hình bộ tâu dâng danh sách hình án cuối năm về năm Minh Mệnh thứ 5 của các thành dinh trấn, có hơn 450 án chưa kết và hơn 740 người bị giam, trong ấy có án từ năm Minh Mệnh thứ 2 đến nay vẫn chưa kết. Vua xem và dụ rằng : “Gần đấy mưa móc trái thời, nghề nông ít được, lòng trẫm thành khẩn lấy làm răn mà tự xét mình. Nay việc hình ngục bỏ bễ như thế, tránh sao khỏi đứa ác thì chậm giết, người oan thì không minh, khí hậu trái thời há chẳng phải vì cớ ấy sao ! Nên lập tức tư cho các địa phương phàm những án chưa kết phải xử ngay, việc nên tâu thì tâu, nên xử thì xử, cố ý dềnh dàng không kết xử thì tâu tham trị tội, để cho án không chồng chất, ngục không giam lâu, may có thể trên thấu lòng trời, sớm cho phước tốt”. Lại bảo Nguyễn Hữu Thận rằng : “Trước có chỉ cho bộ Hình cùng Thừa Thiên và ba dinh trực lệ tha bớt người làm chứng ; cũng muốn hạ lệnh cho khắp các địa phương theo làm, lại e người xét án dựa vào cớ người làm chứng ở ngoài không xét hỏi được lại càng để chậm. Việc hình ngục phải xét cho chóng để cho người không tội được tha, người có tội chịu giết, ấy cũng là cái ý cắt cỏ xấu mà vun lúa tốt, chẳng phải là nhân sao !”
    Trong Kinh kỳ mưa.
    Sai bộ Lễ sắm lễ tạ các thần kỳ.
    Các địa phương Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà đem án khám nạn hạn hán dâng lên. Vua sai bộ Hộ bàn cho giảm thuế : 10 phần hại 4 phần thì giảm 2 phần, hại 5 phần giảm 3 phần, hại 6 phần giảm 4 phần, hại 7 phần giảm 5 phần, hại đến 8 phần trở lên thì miễn cả. Ruộng mùa thu và ruộng cạn cùng ruộng trại Quang Lăng ở Quảng Nam, ruộng mùa thu và ruộng cạn ở Bình Định, ruộng cạn ở Phú Yên, đều không ở trong lệ được khám, cũng cách ngoại lượng giảm cho. Số thóc phải nộp đều cho chiết nộp bằng tiền. Duy Quảng Ngãi vì dân không báo tai không xin khám, đến khi gặt hái xong mới đem sự tổn hại tâu lên, đặc cách cho giảm 5 phần 10 số thuế điền năm nay, số phải nộp thì cho xay gạo mà nộp. Trấn thần là Trần Văn Dưỡng, Hồ Tiến Hiệu, Hồ Hữu Thẩm đều phải phạt.
    Ban cấp tiền gạo cho bốn người con Phó vệ uý công thần Vọng Các Nguyễn Văn Mãi.
    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Con trai Tả quân Khâm sai Cai cơ tặng Chưởng cơ Lê Văn Phú là Lê Văn Quý xin tập ấm theo hàm tặng của cha”. Giao xuống hai bộ Lễ, Binh bàn. Lại sai đình thần duyệt lại. Đều cho là đền công báo đức tất thưởng đến lâu đời, Lê Văn Phú trước có công lao xin chiếu theo hàm tặng cho con làm quan viên tử con quan Tòng nhị phẩm, trừ miễn binh dao và thuế thân. Từ sau có quan viên nào sau khi chết được tặng phẩm hàm cao hơn nguyên hàm thì lấy lệ này mà suy ra
    Vua theo lời bàn.
    Sai thự Tiền quân Trần Văn Năng quyền lĩnh việc Thương bạc.
    Cho ba người tằng tôn của Nội hữu Trương Văn Hạnh được miễn phú dịch.
    Trại quân dinh Thần cơ có trộm lấy mất khẩu súng quá sơn bằng đồng của Trung vệ. Đêm hôm ấy là quân Tiền vệ trực ban canh giữ. Vệ uý Trung vệ là Trương Công Tuyên đem việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Súng là vật quan trọng, binh khí phải coi giữ nghiêm nhặt. Nay gần đến kỳ diễn mà để trộm lấy mất thì người có trách nhiệm coi giữ ở đâu ? Thế thì ngày thường lười biếng bỏ việc đến đâu có thể thấy rõ. Phó vệ uý Tiền quân Lê Văn Trương hãy tạm cách chức, giao cho vệ Cẩm y đóng gông giam lại. Những biền binh trực ban đêm ấy đều giao bộ Hình nghiêm xét. Lại sai biền binh tuần tra cửa Kinh thành, cùng lính bắt của Thừa Thiên hết sức tìm bắt. Quân hay dân ai bắt được kẻ phạm hay chỉ rõ tang vật báo quan bắt được thì thưởng cho 30 lạng bạc”. Rồi bộ Hình xét ra là Cai đội Trung vệ Nguyễn Văn Thành năm trước hỗ giá Bắc tuần giữa đường đánh mất một khẩu súng, giấu không nói ra, đến nay nhờ Đội trưởng thao diễn là Trần Văn Phú vì Văn Thành thuê dùm Đội trưởng Nguyễn Tiên Viết lấy trộm khẩu súng ấy đền vào. Khi án dâng lên, Tiên Viết phải tội cách chức, phát sung quân ở thú sở Ai Lao, Thành và Phú đều phạt trượng, cách chức, chiếu giá hai cái súng bị mất bắt phải đền ; Vệ uý Trung vệ Trương Công Tuyên, Phó vệ uý Nguyễn Văn Niên đều giáng 2 cấp ; Phó vệ uý Tiền vệ Lê Văn Trương giáng 1 cấp.
    Lấy Hiệp trấn Hưng Hoá là Nguyễn Viết Kỵ làm Hàn lâm viện trực học sĩ lĩnh tế tửu Quốc tử giám, Tham hiệp Hải Dương là Nguyễn Mậu Bách làm Hàn lâm viện Thị độc học sĩ lĩnh Tư nghiệp, Tri phủ Kiến An là Phan Bá Đạt làm Tư nghiệp.
    Diễn trận voi ở trước lầu Phu Văn. Vua ngự ra xem.
    Đòi lại sắc truy tặng cha mẹ nguyên Tham tri Lại bộ Trần Văn Tuân. Tuân trước phải tội, bộ Hình tâu rằng : Kính xét danh lệ, luật bỏ tên bắt đi sai dịch có nói rằng : các quan tham tang bị cách chức thì sắc phong tặng đều phải đòi lại, còn những hạng cách chức khác thì được miễn đòi. Nay Trần Văn Tuân phạm tội giao thông nước người, không phải là tội tham ô, mà tội đến giảo giam hậu thì tội còn nặng hơn cách chức, sắc cha mẹ được tặng chưa dám sơ suất bàn đến”. Vua bảo rằng : “Cha mẹ Văn Tuân vì con mà được phong, đòi lại cũng phải vậy. Từ sau phàm những người bị tội đồ trở lên, cứ theo lệ ấy mà làm, không cần phải dẫn cái điều cách chức ở trong luật mà bàn phân biệt”.
    Sai quan thanh tra kho Nội tàng.
    Định lệ phóng ống lệnh khi ngự giá ra vào. (Phàm trước tế Giao một ngày vua đến Trai cung, khi ra cửa thành cùng khi lễ xong về cung, đều phóng 9 tiếng ống lệnh. Các khách tiết lớn Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương, Ban sóc và ngày đại xá đàm ân vua ngự điện để nhận lễ mừng, thì cảnh môn phóng ống lệnh 9 tiếng ; ngày rằm, mồng một, cùng các lễ thường thị triều thì phóng 7 tiếng ; ngày tế cáo các miếu, xa giá ra cửa Tả, Hữu Túc môn thì phóng ống lệnh 7 tiếng, khi về cũng phóng 3 tiếng ; đi các địa phương ở ngoài Thừa Thiên, khi xa giá ra thì phóng 9 tiếng, khi trở về vào cung thì phóng 3 tiếng ; ở trong Thừa Thiên 10 dặm, xa giá ra thì phóng 7 tiếng, về thì phóng 3 tiếng.
    Vua ra cửa biển Thuận An xem Trấn Hải đài, lại đến cửa biển Tư Dung. Thuyền ngự qua phường Đông Am, hạ lệnh ngự giá lên núi Thuý Am, thấy có cái miếu cổ bỏ hoang, cho dân ấy 100 quan tiền sai sửa lợp lại, đặt tên là núi Thuý Hoa (nay đổi làm núi Thuý Anh). Đến cửa Tư Dung, thấy cửa cảng bị phù sa bồi lấp, sai các quân theo giá khơi đào. Ngày hôm sau lại bồi như trước. Vua bảo thị thần rằng : “Chỗ này là nơi quan yếu của kinh thành, xưa đức Thái tổ Gia dụ hoàng đế ta bắt đầu khai thác miền Nam, do cảng này mà vào ; đến khi giặc Tây Sơn làm loạn, cũng do cảng này mà vào ; đến Duệ tông Hiếu định hoàng đế chạy vào Nam cũng do cảng này mà ra ; khi đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta thu phục kinh thành, lại do cảng này mà vào, cảng này thực có quan hệ đến sự thịnh suy của vận nước. Nay nên hết sức khơi đào cho lưu thông, nếu phù sa lại lấp khó thành công được thì bấy giờ mới mặc trời”. Liền sai phát 3.000 quan tiền để thưởng cho những người ứng dịch. Rồi trở về.
    Vua nhân nghĩ rằng cửa cảng lệch về bên tả thì không thể chịu dòng chảy mạnh, tất phải đổi cho chảy theo rìa núi quanh xuống khiến cho thế nước chảy nhanh thì cát mới không ứ đọng. Lại sai Đô thống chế Tôn Thất Dịch trông coi 3.000 kinh binh mà đào đường cảng khác (trên dưới hai đoạn dài 300 trượng). Thưởng tiền 6.000 quan. Lại nghĩ lần đi tuần hành Thừa Thiên này có lấy thuyền của dân để chở đồ vật của quan, sai tính ngày trả tiền. Chuẩn cho từ sau lấy đấy làm lệ.
    Đắp đài phong hoả ở núi Hãn môn (tức núi Quy Sơn ở bên tả cửa biển Tư Dung).
    Dựng đền thần cửa biển Tư Dung (Trước thờ phụ ở miếu Nam Hải Long vương, nay mới làm đền riêng). Hằng năm cứ mùa xuân mùa thu thì tế.
    Sai các địa phương tế tướng chết trận từ quốc sơ đến nay. Dụ rằng : “Nhà nước ta từ khi dựng nghiệp ở miền Nam, đến khoảng trung hưng, những tướng sĩ chết trận, đổ máu ở chiến trường, như trận ở trường thành Quảng Bình, ở thành Chà Bàn (Bình Định), cùng một cõi Gia Định, những người bỏ mình dưới tên đạn ở đấy nhiều nhất. Đến sau khi đại định, vì đánh phản nghịch bắt cướp mà chết về việc nước cũng nhiều. Đều là những người hăng hái việc quân, hết lòng trung nghĩa, hoặc có người quyết chí theo vua, sấn vào gươm giáo, hoặc có kẻ mang lòng ghét giặc, chết sống không dời, hoặc có kẻ thề hết trung trinh, thấy nguy liều mạng, hoặc có kẻ lòng lo nạn nước, hết tiết biên cương. Nay trong ngoài được hưởng thanh bình, cái công của lũ ấy chẳng phải là nhỏ. Tuy đã lập miếu để thờ, hằng năm ân tự, nhà nước đền công khó nhọc tưởng đã đến nơi đến chốn, nhưng trẫm nhớ việc trước vẫn còn bùi ngùi. ở Kinh đã cho lập đàn tứ tế. Hạ lệnh cho các thành dinh trấn cũng đều đặt đàn tế lễ và chép tờ dụ chỉ này đốt ở trước đàn, để cho có thiêng thì biết bụng trẫm tiếc nhớ những bề tôi càng lâu càng nhiều”.
    Vua lại bảo bộ Lễ rằng : “Từ khai quốc đến nay, những người huân lao trung nghĩa đời nào cũng có, mà bài vị ở miếu trung thần chưa có mấy. Xưa đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta cũng luôn luôn nghĩ đến việc ấy, sau vì nhiều việc mà chưa làm đấy thôi. Nay trẫm tuân theo chí trước, muốn những người có công đều được gia ơn không sót. Bọn ngươi nên hết lòng tìm hỏi, nếu người nào thực có danh vọng công lao thì đều cho thờ lưu danh bất hủ”.
    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Dân sách man La Bang ở Thuận Thành từ khi bọn ác man Cam Răng quấy rối đã chạy đến ở đạo Hưng Phước, ở yên lâu rồi, xin cho đổi thuộc theo sổ Biên Hoà”. Vua y cho.
    Chuẩn định rằng trong các vệ Tượng quân cứ kỳ bốn tháng thì những người chuyên quản binh tịch đều cứ theo số quân và voi sở thuộc mà biên thành sổ. Cuối năm lại lấy số voi làm sổ chung để dâng tâu.
  • Chia sẻ trang này