0059.042 - @ nhani78 (Done WK)

26/11/15
0059.042 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Đào sông Vĩnh Định ở Quảng Trị. Quảng Trị trước có đường kênh từ
    Trung Đơn đến La Vi, rồi nhiều cát lấp thành nông cạn, thuyền bè khó đi. Vua muốn thông đường vận chở, trước sai giám thành Đỗ Phúc Thịnh đến xem xét. Bèn bàn khai đường kênh mới từ Quân Kinh đến Trung Đơn (dài hơn 1.720 trượng, mặt nước rộng 6 trượng là cùng). Đến nay mới sai Phó đô thống chế Phan Văn Thuý trông coi việc đào sông, cấp cho cờ khâm sai và bài phụng chỉ để thêm trọng sự thể. (Từ sau có việc sai phái đặc biệt đều cấp cho cờ bài). Phát 3.700 người dân Thừa Thiên và Quảng Trị đến đào, hậu cấp tiền gạo (mỗi người mỗi tháng cấp tiền 5 quan gạo 2 phương 15 uyển). Vật liệu cần dùng thì quan phải mua, không được lấy ở dân. Dụ Phan Văn Thuý rằng : “Gần đây ít mưa, giá gạo hơi cao, trẫm thực chẳng muốn làm nhọc sức dân ; duy con sông ấy công tư đều lợi, mà người đến làm lại cấp tiền gạo, chẳng chút ngại phí, ấy cũng là cái ý lấy công thay chẩn. Ngươi nên lấy ý ấy bảo rõ cho dân biết. Còn tiền gạo chi phát không nên uỷ riêng cho lại dịch, mà chúng bớt xén, để cho dân ta nhờ được của kho mà vui lòng đến làm việc”. Rồi thấy mùa hè nắng to, định giờ làm giờ nghỉ có hạn, khi nhọc khi rỗi có chừng (hằng ngày cứ nửa canh 5 đến làm việc, đồng hồ xuống đến 9 lượt thì nghỉ, buổi chiều đồng hồ xuống 4 lượt thì đến làm, đến nửa trống canh một thì nghỉ), 10 ngày một lần cho đồ ăn ; ốm thì cho thuốc men. Khi đào xong, cho tên là sông Vĩnh Định. Sai dinh thần đem trâu rượu khoản đãi những người làm việc. Thưởng cho Phan Văn Thuý 2 thứ kỷ lục, 50 lạng bạc, 3 tấm sa, 1 tấm đoạn, cho Đốc biện là Đoàn Văn Trưởng và Nguyễn Văn Nam đều 1 thứ kỷ lục, 30 lạng bạc, 2 tấm sa, cho những viên biền theo làm việc đều 1 thứ kỷ lục. Có đào vào mất ruộng đất của dân thì miễn thuế, mồ mả nhà cửa phải dời đi thì cấp tiền. (Trung Đơn, La Vi, Quân Kinh đều là tên xã).
    Thống quản thập cơ Hùng dũng của Hữu quân là Vũ Văn Châu chết. Cho 2 cây gấm Tống và 200 quan tiền. Lấy Vệ uý vệ Quảng võ quân Thần sách là Hồ Bốc thay.
    Lấy Thống quản thập cơ Chấn định của Trung quân là Lê Văn Sách làm Trấn thủ Nam Định, Vệ uý vệ Minh võ quân Thần sách là Đỗ Văn Trà làm Thống quản thập cơ Chấn định, Phó vệ uý là Vũ Văn Tình làm Vệ uý Minh võ.
    Ngày Cảnh Mệnh (ngày ngọ), bộ Hình đưa đến Tả vệ đánh trượng người. Thống chế Trần Văn Long đem việc tâu lên. Vua triệu Hoàng Kim Xán và Ngô Bá Nhân đến bảo : “Ngày ấy người đời phần nhiều kiêng kỵ, trẫm tuy không kiêng, nhưng tôi con thì nên cẩn thận, tạm tha cho”.
    Cho Vũ Xuân Cẩn làm Tả Tham tri Hình bộ vẫn lĩnh Hiệp trấn Nghệ An,
    Trần Nhật Vĩnh làm Hữu Tham tri Hộ bộ vẫn lĩnh Hộ tào kiêm Công tào thành Gia Định và việc từ chương ở thành, Ký lục lĩnh Hộ tào thành Gia Định là Trần Bá Kiên đổi sang lĩnh Hình tào.
    Phong hoàng đệ Quang làm Yên Khánh công, hoàng đệ Mão làm Từ Sơn công, cho sách phong và ấn, cấp bổng hằng năm theo lệ các tước công (mỗi năm tiền 3.000 quan, gạo trắng 60 phương, gạo lương 1.940 phương).
    Lấy tiền lệ của Thương bạc thưởng cho các hoàng tử, hoàng nữ, trưởng công chúa, tôn nhân phủ, cùng các quan văn võ theo thứ bậc.
    Bộ Lễ tâu rằng : “Ngày nay nước nhà nhàn rỗi, lễ điển sửa sang rõ ràng, từ lễ lớn đến lễ vừa, cho đến các lễ thường, phàm lễ phẩm và điển lệ đều có phép tắc nhất định, để tế lễ thần kỳ mà lưu phép tắc cho đời là đấy vậy. Duy ngày tế tự ở các sở đàn miếu, có chỗ đã có định lệ, có chỗ chưa định. Xin đem tất cả lệ định trước sau cùng lệ hiện nay định thêm, yết thị cho nhân dân trong ngoài đều biết mà theo”. Vua cho là phải.
    (1. Nhật kỳ định trước kia là : Đàn Xã Tắc, tháng trọng xuân ngày mậu sau tế Giao và tháng trọng thu ngày mậu trên hết ; Văn miếu, tháng trọng xuân ngày đinh sau tế Giao và tháng trọng thu ngày đinh trên hết ; miếu Lê Thánh tông, tháng trọng xuân và tháng trọng thu, đều ngày nhâm sau tế Xã Tắc ; miếu Đô thành hoàng, tháng trọng xuân và tháng trọng thu, đều ở ngày canh sau tế Xã Tắc ; ba miếu công thần Khai Quốc, Trung hưng, Trung tiết, tháng trọng xuân và tháng trọng thu, đều ngày giáp sau tế Xã Tắc ; miếu Hội đồng, tháng trọng xuân và tháng trọng thu, đều ngày bính sau tế Xã Tắc ; đền thần Hà bá, tháng trọng xuân sau tế Hội đồng 1 ngày ; đền sơn thần Thiên Thụ, tháng trọng xuân và tháng trọng thu, đều sau tế Đô thành hoàng 1 ngày ; đàn Kỳ phong, thượng tuần tháng giêng ; miếu Hoả thần, ngày 23 tháng 6 ; tế Lệ, tháng cuối đông ngày mồng 3 tháng 12.
    2. Nhật kỳ định thêm là : miếu Lịch đại đế vương, tháng trọng xuân ngày tân sau tế Xã Tắc, tháng trọng thu ngày tân trên hết ; miếu Nam Hải Long vương, tháng trọng xuân ngày quý sau tế Xã Tắc, tháng trọng thu ngày quý trên hết, tháng trọng hạ, trọng đông cũng thế ; đền Thai Dương phu nhân, tháng trọng xuân ngày quý sau tế Xã Tắc, tháng trọng thu ngày quý trên hết ; ba đền Sơn thần Triệu Tường, Khải Vận, Hưng Nghiệp, tháng trọng xuân và tháng trọng thu, đều sau tế Đô thành hoàng 1 ngày ; hai đền Quan công, Thiên Phi, tháng trọng xuân ngày kỷ, sau tế Xã Tắc, tháng trọng thu ngày kỷ trên hết ; tế Lệ, tháng cuối xuân mồng 3 ; đàn Ân tự quan binh chết trận trong ngoài, tháng trọng xuân và tháng trọng thu đều ngày ất sau tế công thần ; đàn Ân tự âm hồn, tháng cuối xuân, sau tế Lệ 1 ngày. Từ miếu Lê Thánh tông trở xuống, kỳ tế nếu gặp ngày cấm kỵ thì đều hoãn lại 2, 3 ngày).
    Định lệ đặt chức tự thừa, bách hộ ở các sở đàn miếu. (Đàn Nam Giao 25 đàn phu, đặt 1 người tòng bát phẩm bách hộ ; đàn Xã Tắc cùng miếu Đô thành hoàng 25 đàn phu, đặt 2 người Tòng bát phẩm bách hộ ; miếu Lịch đại đế vương cùng miếu Lê Thánh tông 30 miếu phu, đặt 2 người chánh cửu phẩm bách hộ ; Văn Miếu, Lễ sinh hiệu 50 người, đặt 1 người tự thừa, và miếu phu 50 người, đặt tòng bát phẩm hộ 1 người ; ba miếu công thần khai quốc, Trung hưng, Trung tiết, 30 miếu phu, đặt 1 người Tòng cửu phẩm bách hộ ; miếu Hội đồng, 30 phu miếu, đặt 1 người Tòng cửu phẩm bách hộ ; miếu Nam Hải Long vương và đền Thai dương phu nhân, bát cửu phẩm bách hộ thì đốc suất đàn phu, miếu phu tự thừa thì đốc suất lễ sinh hiệu.)
    Dinh Quảng Nam xây cầu đá trên đường quan, xin bắt dân làm việc. Vua dụ rằng : “Trẫm mỗi khi dùng nhân công, tất sai thuê mướn, vốn muốn lợi cho dân ; bọn ngươi lại muốn chia việc cho dân là sao vậy ? Nếu người lấy sự thuê mướn làm khó thì trẫm sai người khác làm thay, sau khi xong việc, thử nghĩ xem bọn ngươi còn mặt mũi nào làm châu mục nữa ?”. Dinh thần bèn tâu xin thuê làm. Hạ lệnh hằng ngày phát tiền gạo hậu cấp.
    Thị trung học sĩ hưu trí là Phạm Thích chết. Cho 100 quan tiền, lụa vải đều 5 tấm.
    Thưởng cho các thọ quan hưu trí ở Thừa Thiên từ 80 tuổi trở lên là bọn Phó đội Nguyễn Hưu Đãi 7 người, bạc và áo quần theo thứ bậc.
    Nên thưởng những người dân thọ trăm tuổi ở các địa phương, thọ nam
    Thừa Thiên 1, Quảng Nam 3, Quảng Bình 1, Sơn Tây 3, thọ phụ Quảng Nam 7, bSơn Tây 1, Hải Dương 2.
    Dồn ba đội Hùng nhất nhị tam thành Gia Định làm đội Hùng diêm.
    Mùa hạ, tháng 4 ngày mồng 1 tế hạ hưởng.
    Vời Trấn thủ Bắc Ninh là Nguyễn Đình Phổ về Kinh ; lấy Trấn thủ Hưng Hoá là Nguyễn Cửu Lợi làm Trấn thủ Bắc Ninh.
    Người Man 7 sách ở Cam Lộ vào cống. Bộ Lễ bàn dâng nghi chú lễ triều kiến : “Đó chỉ là người Man Lão thôi, không ví như Xiêm La, Chân Lạp ; nên ngày thường triều cho chiêm bái cũng được”.
    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng : “Người Man thuộc trấn là thổ tù động Chấp Yết Lò Bạc Đề xin đổi động ấy làm châu mà xin làm châu trưởng”. Vua cho là không có lệ, không cho. Bảo các quan rằng : “Triều đình đối với người Man thuộc Hưng Hoá nhân cái việc Lý Khai Ba thêm ra hơn 600 đinh, rồi sau trốn hết, trẫm cũng bỏ không hỏi đến, ấy đều là cái ý trong thì tường tận ngoài biên thì sơ lược vậy”.
    Cho người cung nhân triều trước là Nguyễn thị 500 quan tiền, 500 phương gạo. Người ấy là con gái Chưởng tượng quân Nguyễn Đức Xuyên, đầu đời Gia Long vào cung hầu hạ, đến khi đức Thế tổ Cao hoàng đế ta sắp mất, thả về nhà cho theo ý muốn. Đến nay người ấy còn giữ tiết. Vua khen, đặc cách ban cho hậu.
    Chuẩn định từ nay ở Kinh phàm những đơn lĩnh lương bổng thóc gạo, từ ngày bộ Hộ phê phát hạn trong 30 ngày phải lĩnh hết, quá hạn thì không cấp nữa.
    Lấy Vệ uý Thị tượng nhất là Nguyễn Văn Nam làm Lưu thủ Quảng Trị, Quản cơ Lê Văn Thụy làm Phó vệ uý vệ Thị tượng nhất.
    Lấy Vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung là Đoàn Văn Trường làm Đề đốc Kinh thành quản lý việc phủ Thừa Thiên, Vệ uý vệ Hổ oai tiền là Nguyễn Văn Phượng làm Vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung.
    Lấy Phó vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung là Nguyễn Tăng Minh làm Vệ uý vệ Long võ trung quân Thị nội vẫn kiêm quản các đội Dực võ, Vệ uý vệ Ban trực hữu quân Thần sách là Chu Văn Quế làm Vệ uý vệ Long võ tả, Vệ uý vệ Long võ hữu là Hồ Văn Trương làm Vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung, Phó vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung là Trần Văn Trí làm Vệ uý vệ Hổ oai tiền.
    Lấy Phó vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách là Võ Văn Chí làm Vệ uý vệ Tuyển phong hữu, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả là Phạm Văn Bình làm Phó vệ uý vệ Ban trực hữu, Cai cơ Tráng võ là Nguyễn Tiến Tự làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả, Phó vệ uý vệ Trung võ là Phan Bá Phụng làm Vệ uý vệ Định võ, Cai cơ vệ Nghĩa võ là Trần Văn Dao làm Phó vệ uý vệ Trung võ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong hữu là Trần Văn Tính làm Vệ uý vệ Tuyển phong hữu.
    Sửa Văn Miếu Bình Thuận. Bình Thuận mất mùa đói kém, sai Trấn thần nhân việc thuê để giúp dân kiếm ăn.
    Lấy Thiêm sự Hình bộ là Đào Đức Lung làm Tham hiệp Hải Dương.
    Đình thần dâng sớ cử Huấn đạo Hải Lăng là Dương Quỳnh làm Giáo thụ Bình Thuận. Quỳnh tự trần rằng năm Minh Mệnh thứ 5 bộ Lại nghị định phàm giáo chức do hương cống sinh đồ tuổi từ 40 trở lên mới được bảo cử, Quỳnh tuổi chưa đủ hạn, ngại là hãnh tiến. Việc giao xuống bộ Lại bàn, cho rằng nghị định hẹn tuổi ấy là nói khi mới bảo cử, nay lấy Huấn đạo thăng Giáo thụ là theo bậc mà lên vậy. Quỳnh có bụng suy tị nên viện dẫn nói càn, xin chiếu luật “sai bổ mà mượn cớ không đi” đánh trượng cách chức, không được bổ dụng nữa. Vua theo lời bàn.
    Vua ra cửa biển Tư Dung xem đường lạch mới đào, nhân đi săn ở núi
    Lương Điền, ngày hôm sau trở về.
    Đổi định phẩm trật lương bổng lương điền của biền binh vệ Ngũ hộ cũng như các quân (Lệ trước xem như quân Thần sách).
    Lấy Trấn thủ Nam Định là Lê Văn Sách làm Trấn thủ Hưng Hoá, Thống chế Trương Phước Đặng lại lĩnh Trấn thủ Nam Định.
    Lấy Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh làm Thông chính sứ vẫn lĩnh chức Thượng bảo khanh, Thiếu khanh là Hứa Đức Đệ thự Thượng bảo khanh, đều quản lý Văn thư phòng.
    Vua thấy bộ Công nhiều việc mà Nội vụ phủ lại là nơi nhóm họp tiền của, thế khó trông nom cả hai, bèn sai Tham tri Công bộ là Trần Văn Tính về bộ giữ chức, miễn kiêm làm việc Nội vụ.
    Cai đội ba cơ Hiệu trung đóng giữ phủ Thiên Phước trấn Bắc Ninh là bọn Nguyễn Đức Phác, mượn cớ công sai đi ăn cướp, việc phát giác bị giết, Quản phủ Trần Văn Nghĩa vì sai phái người bậy bị phạt.
    Định điều cấm về Tả Hữu triều đường. Bộ Lễ tâu cho rằng triều đường là nơi đại đình bàn việc, then máy của nhà nước, cho đến chương tấu của thần dân, chẳng việc gì là chẳng ở đấy, thế mà từ trước đến nay những tôi đòi cùng những người tạp nhạp nhiều khi có người vượt qua cười ồn, thực mất nhã quan. Xin đặt điều cấm khiến mọi người biết lui tới có độ, phòng giữ có phép, thì thể thống mới nghiêm mà triều đình mới tôn. Vua khen phải, cho thi hành theo lời bàn (Phàm ngày đình nghị những người trong hàng đình thần, văn được lấy 1 người Thư lại thuộc nha, võ được lấy 1 người bộ hạ thực thụ đem theo để sai khiến, duy nha trực ban phải kiểm nhận đơn trát thì cho đem thuộc ty Thư lại 6 người, đều ngồi ở đất dưới thềm. Gặp có quan dân quân sĩ tâu bày khống khiếu gì thì quỳ ở trước sân ; nhận đơn xong thì biền binh Tả hữu vệ và đội Hoàng kiếm dẫn ngay ra ngoài tường đứng đợi, không được cho đến gần dòm nom nghe ngóng. Ba mặt tả hữu và sau triều đường biền binh phải kiểm soát, nếu có kẻ ẩn núp dòm nghe thì bắt ngay. Còn những quan dự đình nghị thì chỗ ngồi ở các gian tả nhất hữu nhất, ngồi nhiều hàng quay về bắc, bên đông bên tây hướng nhau, cứ những việc bàn, những đơn đã nhận mà bàn nhau châm chước, không được nói chuyện phiếm. Đến những Vệ uý các quân Thị trung Thị nội cùng bọn Thiêm sự Lang trung Chủ sự, Tư vụ sáu bộ thì đều ở các gian tả nhị hữu nhị, theo thứ tự ngồi yên, không được đem theo đầy tớ).
    Định lệ cấm lấy trộm nhục quế, kỳ nam, trầm hương, yến sào, sâm Quảng. Trước vua sai bộ Hình bàn kỹ về các thứ cấm vật ấy, những người phạm tội nên bắt tội gì mà ghi thêm vào luật lệ. Đến nay bàn xong dâng lên. Lại hạ lệnh cho đình thần bàn lại để thi hành. Bộ Hình bàn rằng : Phàm bóc trộm vỏ quế, lấy trộm kỳ nam, yến sào, nếu có người tự mình đứng làm tài chủ thuê người tìm bóc mà số người chưa đến 40 trở lên, số tang vật chưa đến 50 lạng trở lên, thì đều đày đi sung quân ở cực biên lam chướng. Nếu số người đến 40 người trở lên, số tang vật đến
    50 lạng trở lên, thì thủ phạm là tài chủ cùng người đầu mục suất lĩnh và người có nhà chứa để, đều xử giảo giam hậu. Những người đi theo cũng đày sung quân ở nơi cực biên lam chướng. Tang vật bắt được thì sung công. Người cáo phát được thưởng 50 quan tiền. Người bị xử giảo gặp khi được xá giảm thì cũng theo lệ tòng phạm mà đi đày. Nếu chưa được tang thì đều giảm 1 bậc. Nếu như không có tài chủ, chỉ là một lũ ô hợp tự bỏ vốn ra cùng người nhận thuê lẻn đi tìm bóc, hay một mình lẻn đi, bắt được tang vật thì đều theo số, từ 1 lạng trở xuống đánh 60 trượng và đồ
    1 năm, 1 lạng trở lên đến 5 lạng thì 70 trượng và đồ 1 năm rưỡi, 10 lạng thì 80 trượng và đồ 2 năm, 15 lạng thì trượng 90 và đồ 2 năm rưỡi, 20 lạng thì 100 trượng và đồ 3 năm, 20 lạng trở lên đến 30 lạng thì 100 trượng và lưu 2.000 dặm, mỗi 10 lạng thêm 1 bậc, tội chỉ đến lưu 3.000 dặm là cùng. Tòng phạm thì tội kém 1 bậc. Đều phải thích chữ vào mặt. Chưa được tang vật cũng cho giảm bậc và miễn thích chữ. Phàm những tang vật bắt được ở nơi lấy trộm tại rừng núi biển đảo thì mới phải tội. Nếu không phải ở chỗ lấy trộm tại núi biển, chỉ là chứa ở nhà tư hay mang đội đi đường thì không cho biền binh đi tuần dùng dằng lôi kéo, làm trái thì tham xét trị tội. Nếu biết là của trộm cắp mà cố ý mua thì tính số tang đã mua luận tội, biết mà cố ý chứa chấp thì xử kém 1 bậc, các tội chỉ đến 100 trượng thôi. Thực không biết mà mua nhầm hay nhận gửi thì đều không bắt tội. Quan Giám lĩnh địa phương sở tại biết tình mà cố ý dung túng thì giao bộ xét xử ; không biết thì không bắt tội. Người Địa bảo((1) Địa bảo : chức dịch sở tại 1) biết tình mà che giấu không báo thì chiếu lệ người hàng xóm chủ chứa kẻ cướp mà phạt 100 trượng. Đến như những quế hộ hương hộ yến hộ sở tại, thường năm bóc kiếm nộp quan còn thừa, cùng công thuê được bao nhiêu, đều cho mua bán với nhau, không ở lệ cấm. Lấy trộm trầm hương và sâm Quảng thì cứ 1 cân trầm hương đánh giá 6 quan tiền, đánh 2 lạng bạc, 1 cân sâm Quảng đánh giá 3 quan 2 tiền đánh 1 lạng bạc, đều cứ tính tang mà xử theo luật trộm cắp. Người cáo giác được thưởng 30 quan tiền, tang vật bắt được thì sung công. Dân sở tại lấy được nộp thuế còn thừa đều cho mua bán không cấm. Những người tuần tra lôi kéo, hàng xóm che giấu, chủ trường phạm cấm thông đồng cùng bọn lấy trộm chống cự người bắt, giết chết hay đánh bị thương, cùng cố ý mua hay nhận gửi của lấy trộm, các tội ấy đều theo lệ lấy trộm vàng bạc đồng thiếc thuỷ ngân quặng mỏ mà kết nghĩ. Đình thần bàn lại điều tài chủ thuê người bóc, cho rằng nhục quế, kỳ nam, yến sào, đều là của cấm, có kẻ dám lấy trộm thì chỉ tính số tang vật nhiều ít mà định tội nặng nhẹ, còn như bọn lấy trộm đông hay ít thì không cần hỏi đến. Xin từ sau phàm lấy trộm quế kỳ và yến sào, chỗ nào số người đến 40 người, tang vật đến 50 lạng, thì chiếu theo luật đào trộm nhân sâm của nhà Thanh, phân biệt thủ phạm tòng phạm mà hỏi tội. Nếu có kẻ đứng làm tài chủ thuê người bóc kiếm, số người không đến 40, mà tang vật đến 50 lạng trở lên, thì tính là tang nặng, tài chủ đứng đầu cùng người đầu mục suất lĩnh và nhà chứa chấp đều phải tội giảo giam hậu, người tòng phạm thì sung quân ở cực biên lam chướng ; số người hơn 40 người mà số tang không đến 50 lạng, thì tài chủ, đầu mục, nhà chứa, đều sung quân ở cực biên lam chướng, tòng phạm thì giảm nhẹ một bậc, đánh 100 trượng, đồ 3 năm. Còn các điều khác thì theo như lời bộ bàn.
    Giá gạo ở Thanh Nghệ thình lình hạ, Trấn thần chưa kịp báo, vua dụ quở rằng : “Hạt các người mấy năm đói kém, đã nhiều lần phát chẩn bán rẻ mà gạo vẫn còn đắt, trẫm rất lấy làm lo. Cuối xuân hỏi những người yết kiến, nhiều người nói rằng : “Xứ ấy mưa nắng thuận hoà, các loại ruộng đều tốt, trẫm chưa dám vội tin. Nay hỏi thăm những người được dẫn vào ra mắt về đường đất đi qua thì đều nói rằng : Thanh Hoa thì vụ chiêm 10 phần thu được cả, giá gạo trên dưới 7 tiền. Nghệ An tuy không bằng Thanh Hoa, cũng được trên dưới 7, 8 phần, giá gạo đã sụt xuống 9 tiền hay 1 quan. Quả như lời nói ấy thì cũng nên vì dân giơ tay lên trán mà mừng, thế mà bọn người cứ điềm nhiên không tâu báo, tựa hồ mình không có quan hệ gì”. Qua mấy ngày tin báo mới đến. Vua xem biểu mừng, nói rằng : “Như thế là việc rất tốt, chỉ hiềm là tâu báo hơi chậm thôi”. Nhân sắc rằng : “Từ nay các địa phương đều cứ theo giá gạo ở lỵ sở mỗi tháng tâu lên hai kỳ (ngày rằm và cuối tháng). Như đương đắt mà rẻ, đương rẻ mà đắt thì phải tâu lên ngay”. Bộ Hộ tâu rằng : “Từ trước đến nay các địa phương hằng tháng tâu báo giá gạo đều cứ lấy giá gạo ở lỵ sở cùng ở các phủ huyện thuộc hạt báo lên hội lại mà làm tập tâu, nhiều khi chậm trễ. Lại các trấn thuộc Gia Định và Bắc Thành là do thành quản nhiếp, phàm việc đều do thành chuyển tâu, duy có giá gạo thì tâu báo riêng, chỉ thêm nhiều việc. Xin từ nay các dinh trấn đạo tâu báo giá gạo chỉ cứ lấy giá ngay ở lỵ sở, Gia Định, Bắc Thành thì lấy giá ở lỵ sở thành cùng lỵ sở các trấn hội lại như lệ mà chạy tâu. Nếu các phủ huyện thuộc hạt hoặc có lên giá xuống giá thình lình thì phải tâu ngay. Lại các địa phương kính đệ đồ bản nhật ký mưa gió, việc tháng này cách một tháng mới đến kinh thì tình hình trong tháng không thể sớm đến tai vua, tưởng cũng vô ích. Xin từ sau, hạt nào gặp có mưa gió hạn lụt không thường, có quan hệ đến lợi hại của dân, thì quan sở tại lập tức cứ thực soạn tập tâu do Khâm thiên giám chuyển tâu, còn lệ hằng tháng đệ đồ bản nhật ký mưa gió cùng cái thùng đo nước thì xin bãi đi”. Vua y theo.
    Lúa chiêm ở Nghệ An có một hột thóc hai hột gạo, Trấn thần Nguyễn Văn Soạn và Vũ Xuân Cẩn lấy ba nắm cho chạy ngựa đem tiến và nói là điềm tốt. Vua dụ bầy tôi rằng : “Năm nay từ Quảng Trị trở vào Nam mấy lần báo hạn mà Nghệ An trở ra Bắc may lại được mùa. Trẫm rất cảm đội ơn trời, càng thêm kính sợ, dám đâu vội tự khoe điềm tốt mà chốc lát quên nhãng”.
    Bắt đầu đặt phủ Lạc Hoá, đổi phủ Trà Vinh làm huyện Trà Vinh, phủ Mân Thít làm huyện Tuân Nghĩa, lệ thuộc vào phủ Lạc Hoá. Những đất ấy ở chen vào huyện Vĩnh Bình (thuộc tỉnh Vĩnh Long), trước là hai phủ Trà Vinh, Mân Thít, cư dân thôn xóm còn nói tiếng phiên gọi là sóc. Tuyên phủ sứ Bùi Đức Minh cho là đất rộng dân thưa, xin hợp lại làm một phủ hai huyện, theo địa thế liên lạc mà chia đặt tổng, trang, sách, đổi theo chữ Hán cho giống với phủ huyện các trấn. Thành thần đem việc tâu lên. Bèn sai đổi đặt. Rồi đổi bổ Bùi Đức Minh làm Tuyên phủ sứ phủ Lạc Hoá, đổi cấp ấn triện.
    Quản cơ Nguyễn Văn Uẩn và Chánh tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng từ Diến Điện về. Vua nghĩ những biền binh đi chuyến này lặn lội khó nhọc, sai thành thần Gia Định cấp cho áo quần.
    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng trong hạt có động Trịnh Vạn đất không sản dây mây, từ giặc Tây Sơn bắt dân mua nộp mà thành ngạch thuế, do đó dân bỏ đi dần, xin nên bãi tha. Vua y cho.
    Bớt lại dịch ở bốn huyện Hậu Lộc, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Quảng Địa trấn Thanh Hoa. Hậu Lộc lệ thuộc phủ Hà Trung, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Quảng Địa lệ thuộc phủ Thiệu Hoá, các việc đều do phủ nha kiêm lý mà từ trước đến nay các huyện đều đặt lại dịch riêng, Trấn thần cho là nhiều người nhiễu việc, tâu xin bỏ bớt. Vua cho lời tâu là phải.
    Định rõ lệ tính trừ gia cấp kỷ lục. Trước đây quan viên văn võ có được gia cấp kỷ lục, gặp việc bị phân công trước, hoặc trừ kỷ lục ân thưởng trước, không nhất định, bèn chuẩn cho hai bộ Lại Binh bàn định : Từ sau phàm người nào được cấp kỷ nhiều bị giáng phạt mà phải tính trừ cấp kỷ thì trước trừ cấp kỷ ân thưởng rồi mới đến quân công, đều xét năm tháng trước sau mà trừ. Còn người bị phạt bổng mà không có kỷ lục, chỉ có gia cấp, người bị giáng cấp mà không có gia cấp, chỉ có kỷ lục nhiều, thì cũng chiếu lệ này theo thứ tự hợp lại mà trừ cho hết.
    Chuẩn định cho Đô thống chế và Phó đô thống chế năm dinh quân Thần sách, và Phó tướng các quân đều được mộ 50 người lập làm thuộc binh Chưởng cơ, thự Thống chế Tượng quân và Chưởng Cẩm y cơ vệ đều được mộ 30 người, Cai đội Cẩm y đều được 3 người.
    Đổi năm chi của đồn Uy viễn thành Gia Định làm năm cơ. Quản cơ trật Chánh tứ phẩm, Phó quản cơ trật Tòng tứ phẩm, Cai đội trật Chánh ngũ phẩm, chánh Đội trưởng trật Chánh lục phẩm, Đội trưởng trật Chánh thất phẩm. Cơ Tĩnh biên cũng như thế. Lại sai các viên biền ở đồn chia ban yết kiến. Vua dụ bảo rằng : “Bọn ngươi từ khi triều ta mới phục hưng, hết lòng quy thuận, dự có công lao ; sau khi đại định, đã phong cho quan chức, lại ban cho mũ áo vẻ vang, lấy phong hoá trung châu đổi thói tục man rợ, lòng nhân đều coi như một. Nay lại cho họ tên, định phẩm trật, tỏ rằng không bỏ ra ngoài. Trẫm nhân nghĩ bọn ngươi ở lâu nơi biên viễn, chưa biết phong hoá văn vật của trung triều rực rỡ thế nào, nên cho từ Suất đội trở lên chia làm ba ban, mỗi năm một ban về Kinh chiêm cận”.
    Ở Gia Định có người tù tội lưu phát phối đi Quảng Ngãi cha mẹ đều hơn
    70 tuổi mà không có con nào nữa xin theo đến chỗ phát phối. Thành thần đem việc tâu lên. Vua thương, cho đi gần, đổi phát đi Châu Đốc.
    Tiết Vạn thọ. Dụ rằng : phàm các quan văn quan võ trong ngoài, người nào nhân việc công mà bị tội phải giáng cấp từ năm Minh Mệnh thứ 5 về trước thì cho khai phục một cấp, phải phạt thì tha ; lại thưởng cho các quan thành dinh trấn đồ trà và đồ dùng theo thứ bậc.
    Cấp cho các nhà trạm các địa phương 6 tháng lương tiền. Dụ rằng : “Việc bưu chính là việc quan yếu của nhà nước, mà lính trạm lệ không cho lương, nghĩ rằng ngày đêm bôn tẩu mỏi mệt, đã nhiều lần theo tháng mà thưởng cho tiền gạo, năm nay ngày tiết Nguyên đán lại thưởng cho 6 tháng. Nay gặp lễ mừng thi ơn khắp nơi, vậy trong kinh ngoài trấn Phiên An đến trạm Sơn Mai trấn Sơn Nam và trạm Vĩnh Giai trấn Vĩnh Thanh, mỗi trạm cấp cho tiền gạo 6 tháng, mỗi tháng tiền 30 quan, gạo 20 phương, kể từ mồng 1 tháng 7 này bắt đầu ; lại cho 3 tháng lĩnh một lần cho đỡ phí công nhọc sức”. Từ đấy hằng năm tiết Nguyên đán và tiết
    Vạn thọ hai lần ân cấp, lấy làm lệ thường.
    Chuẩn cho Cai đội thực thụ, chánh Đội trưởng, Đội trưởng và Suất thập tòng quân thuộc quân Thị trung đều được chiếu phẩm chi bổng. (Suất thập lệ chi lương tháng).
    Vua sắp đi Quảng Nam, sai hữu ty chiếu theo sự nghi ngày Bắc tuần châm chước mà làm. Vừa Hiệp trấn Quảng Nam là Ngô Phước Hợi vào yết kiến. Vua sai về trước, bảo rằng xây dựng hành cung, sửa chữa đường sá, phàm vật liệu đều lấy tiền kho mà chi, không được phiền phí đến dân.
    Cho Vũ Văn Tín làm Vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách, Nguyễn Văn Đường làm Phó vệ uý vệ Túc võ.
    Lấy Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Xuân Thục làm Thượng thư Binh bộ.
    Vời Tả Tham tri lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Đoàn Viết Nguyên và Ký lục
    Quảng Bình là Trần Đăng Nghi về Kinh. Lấy Tham tri Hộ bộ lĩnh Hiệp trấn
    Thanh Hoa là Nguyễn Công Tiệp lĩnh Hộ tào Bắc Thành, Ký lục Biện lý Binh bộ là Nguyễn Hữu Phượng làm Hiệp trấn Thanh Hoa, thự Cai bạ Định Tường là Nguyễn Đức Hội làm Cai bạ Quảng Bình, Thiêm sự Biện lý việc dinh Quảng Trị là Trần Đình Tiến Hiệp lý việc trấn Định Tường.
    Bọn Phó vệ uý vệ Tuyển phong tiền Tiền dinh quân Thần sách ở Nghệ An
    Lê Văn Thường, đem quân đi tuần bắt, bắt được hơn 80 tên thổ phỉ. Việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Từ trước đến nay võ biền bắt được giặc đều cho là việc bổn phận, không được dự thưởng. Phàm có công thì thưởng là phép thường của nhà nước. Trẫm đối với người có chút công lao nhỏ không ai là không khen thưởng. Nay bọn Thường bắt giặc xuất sắc như thế, nếu không khen thưởng thì lấy gì khuyến khích ?”. Bèn sai Trấn thần làm sách công trạng dâng lên. Thưởng tất cả 1.000 quan tiền.
    Bàn định điều lệ binh tịch. Trước kia Binh bộ là bọn Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Đăng Tuân, Trần Minh Nghĩa, kiến nghị 14 điều ; Nguyễn Khoa Minh lại tâu thêm 20 điều. Vua sai đình thần bàn lại. Đến nay lời bàn dâng lên. Chuẩn cho đến năm Minh Mệnh thứ 7 bắt đầu thi hành :
    1. Phàm sổ ngạch văn võ có họ tên quan chỉ lầm lẫn thì cho đề ra xin cải chính. Hoặc bằng sắc bị nát mất, cùng bị giáng mà chưa thu bằng sắc, cũng kê khai đề đạt, nên cấp lại thì cấp, nên đòi lại thì đòi, nên đổi cho thì đổi.
    2. Hằng năm binh ngạch kỳ tháng 4, các văn võ chỉ tóm lấy năm đầu quân ra lính cùng năm thăng thụ hàm bây giờ mà chua vắt vai thôi. Lại làm lý lịch khác bày kê rõ ràng, cũng lấy tháng 4 do bộ Lại đệ nạp ; lý lịch kỳ tháng10 thì nên bỏ.
    3. Người đứng mộ lính được từ 30 người trở lên thì cho làm quyền sai Đội trưởng suất đội ; thập nào đủ số thì cho làm quyền sai Đội trưởng suất thập, chưa đủ số thì không được lạm cho chức sắc. Đến như vệ cơ thì trừ ra đã được chuẩn định cùng đã thành ngạch, còn thì lấy 10 đội làm hạn, nếu chỉ được 9 đội trở xuống thì gọi là đội nhất mỗ hiệu, đội nhị mỗ hiệu, không được gọi là cơ vệ.
    4. Lệ đệ sổ ngạch kỳ tháng 4, tuỳ theo đường xa gần mà định hạn ngày.
    ở Kinh cùng Thừa Thiên và 3 dinh trực lệ thì mồng 10 tháng 4 ; Ninh Bình,
    Thanh Hoa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ngày 15 ; Bắc Thành ngày 20, Bình Hoà, Bình Thuận, Gia Định ngày 25 phải đã đến bộ ; làm trái thì chiếu luật để chậm trễ văn thư công mà xử tội.
    5. Các chức Trấn thủ, Quản đạo, Quản phủ, phải ghi ngạch ở trấn đạo phủ, có người lấy nguyên chức kiêm làm cùng một người kiêm quản 2, 3 vệ đội, thì chỉ lấy ghi ngạch chức chính, những chỗ kiêm thì chỉ nên chua nhỏ không được ghi lần nữa.
    6. Các chức thủ ngự và hiệp thủ ở các thủ sở đã được thực thụ, cùng quân và lại sở thuộc đã được chuẩn cho thiết lập mới được ghi ngạch, còn dư đều bỏ đi.
    7. Sổ ngạch các nha thì chỉ thuộc binh, thường ban, mộ phu là cứ theo bản phận mà làm sổ riêng, còn thì đều dồn làm một sách, không được tách riêng, niên canh thì biên rõ can chi bao nhiêu tuổi ; cuối sách cùng ký tên đã khảo duyệt rõ ràng, đóng ấn cùng đề lên.
    8. Viên nào còn đeo quan hàm nguỵ mà theo về lâu năm thì nên nói rõ để đổi cho, không thì bỏ đi.
  • Chia sẻ trang này