0059.043 - @ nhani78 (Done WK)

26/11/15
0059.043 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    9. Binh lính nếu có người học hành đã đi thi dự trúng nhị trường, cùng trúng khoá luôn ba năm, là giản binh thì đưa về làng khiến điền người khác, là mộ binh thì xoá sổ, cho về học tập nốt.
    10. Các hạng dân biệt tính trừ miếu phu, tự phu, mộ phu cùng các vệ đội hộ lăng và thợ các cục đã có chỉ cho đặt, còn như dân thuộc lệ lạch sông thì đổi làm cảng phu, dân thuộc lệ bến sông thì đổi làm độ phu (phu đò), dân thuộc lệ cầu cống thì đổi làm kiều phu (phu cầu), đều đặt một người phu trưởng.
    11. Bạn Du xuân và ty Giáo phường thì đổi ca công, đặt một người ca trưởng.
    12. Nhạc sinh về trống và nhạc thì đổi làm nhạc công, đặt một người nhạc trưởng.
    13. Những thuộc lệ các phủ huyện cùng đầu nguồn, cửa biển, các trường, các đạo, cùng những người án và tịch đều đặt một người dịch mục.
    14. Đến như các tạp chức trước kia cho tiện nghi ghi sổ, như là cai quan, cổn quan, châu quan, giang quan, tuần ty cùng là người tục gọi tên nôm, như loại cai đầm, cai thu, sưu trưởng, tục gọi là đồ, là khách, là nậu, đều nên bỏ đi. Các hạng dân biệt nạp trước gọi là đội thì đều theo lệ yến hộ và liệp hộ mà gọi là hộ, đặt một hộ trưởng, ngoài ra đều ghi là danh nọ danh kia.
    15. Các xã thôn được toàn trừ như 8 xã thuộc kinh thành, thì những hạng biệt tính cùng ngoại tiêu sai vẫn làm sổ ngạch như cũ, còn những dân thực nạp thì nên chiếu lệ sổ đinh mà khai nộp ở quan địa phương. Có hạng nguyên gọi là thuộc nội phủ thì đều nên bỏ.
    16. Quan chức văn võ đều có người nhất định thì nên theo lệ vào sổ ; nếu không coi quân làm việc thì cho là viên thừa vẫn làm sổ ngạch riêng.
    17. Người nào đã nhận văn bằng sai phái thì cho chua rõ ở trong ngạch ; nếu người ấy đã phải tội thì chỉ ghi họ tên gì được văn bằng sai phái, không được ghi nguyên chức của tội nhân.
    18. Lễ sinh hiệu ở trong ngoài thì nên ghi là lễ sinh tên mỗ ; lính trạm thì nên ghi là binh mỗ.
    19. Lính giản nên chua rõ kén chọn từ năm nào, điền thế từ năm nào. Thợ các cục thì chua chọn lấy từ năm nào, năm nào lưu trừ, năm nào vào ngạch. Có người dạt trốn chưa kịp bắt điền thì cũng chua rõ, không được giấu giếm giả mạo.
    20. Trong sổ ngạch nếu có một đội mà 2 viên thực thụ suất đội, một thập mà 2, 3 viên suất thập thì nên chỉ cứ một viên chuyên quản mà ghi, còn đều ghi là viên thừa vào sau ngạch. Người đã đổi sang đội khác thập khác thì đề ra xin đổi bổ.
    21. Văn võ thực thụ có người đinh ưu hay cáo bệnh đã cho giải chức thì nên ghi treo vào sau ngạch 1 năm để lưu chiếu. Viên nào hết ưu khỏi bệnh đã về Kinh, được bổ thì lấy chức mới mà vào sổ, nếu đã về Kinh mà chưa bổ thì đến kỳ khai sổ cho tự mình làm sổ. Viên nào đã qua 1 năm chưa về Kinh thì do quan địa phương hỏi rõ tâu lên. Viên nào đã được trở về sổ làng thì đem vào ngạch hương thân trong hạt.
    22. Quan trong quan ngoài đã được cấp cho thuộc binh, các danh hiệu trước gọi là lạc tòng, chỉ dư thuộc sai, văn thuộc, thì đều đổi làm thuộc binh, đủ lệ thì thôi, thừa thì bỏ về hộ tịch. Viên nào về hưu trí được đem theo biền binh phần mình thì không ở lệ ấy.
    23. Gia Định và Bắc Thành đã đặt Binh tào thì sổ ngạch do nhân viên của tào làm đệ nộp.
    24. Phàm người công tính((1) Công tính : họ xa nhà vua có lót chữ “hựu” ( ), như Nguyễn Hựu Nghi.v.v.1), trừ những người đã thực thụ chức hàm, còn đều ghi làm viên mỗ họ tên gì.
    Rồi thấy việc mới bắt đầu, e ở trong có chỗ chưa chu đáo, sinh ra rắc rối, lại dụ khiến hãy theo lệ cũ, đợi sau sẽ xuống chỉ chước nghị thi hành.
    Sai các địa phương sát hạch các giáo chức ở huyện hay dở thế nào tâu kêu. Vua dụ bảo bộ Lễ rằng : “Đặt ra giáo chức là để làm khuôn mẫu cho học trò, chẳng phải chỉ để cho đủ số quan. Trước đây đặt huyện giáo, hoặc dùng người cử tri, hoặc sinh viên ở giám, gần đây nghe nói có nhiều người không xứng chức, trách nhiệm người làm thầy sao có thể phiếm lạm như thế ! Vậy hạ lệnh cho quan địa phương sở tại xét rõ Huấn đạo các huyện ai có học hạnh mà sĩ tử tin theo, hoặc ai học thức nông hẹp quả không xứng chức thì đều phân biệt tâu lên, đợi trẫm bỏ hoặc lấy ; nếu có chỗ khuyết mà bổ thì nên chọn người học rộng đứng tuổi sung bổ. Huyện nào học trò còn ít mà nên bỏ bớt thì cũng tâu xin đình bổ”.
    Chuẩn định từ sau phàm các hạng vật liệu của công thuộc kho thuốc súng ở các thành trấn, mỗi năm hai kỳ cứ số mục hạng chứa cũ, hạng mới thu, hạng tiêu đi, hạng còn lại mà kê thành sách thanh toán, do bộ tâu lên.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXXIII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 [1825], mùa hạ, tháng 5. Chuẩn cho các đội Tả hầu, Hữu hầu, Nội hầu, Trung hầu nhất, cùng vệ Nội hầu, viện Thượng trà, đội Tài hoa, đều thuộc quân Thị nội.
    Các địa phương cân thu hoá vật thổ sản, lại dịch phần nhiều tạ sự bù hao, tuỳ ý cân nặng cân nhẹ, dân lấy làm khổ. Vua nghe tệ ấy, sắc từ sau phàm các thành dinh trấn cùng các nha môn ở Kinh có cân đong về việc trưng thu thì phải cho đúng đắn, nếu lấy thừa thì tính số tang mà xử tội.
    Đổi lại lệ thu thẩm cho các địa phương. Bộ Hình tâu nói : “Việc hình ngục là quan hệ đến mạng người. Người xưa trong lúc xử đoán, ba lần xét lại, năm lần tâu lên, là để cẩn thận việc hình vậy. Xét trong luật lệ chép rằng : Đến kỳ thu thẩm thì các quan dinh trấn đem cả những tù phạm tội nặng mà xét nghĩ chia làm các hạng tình chân, hoãn quyết, căng nghi mà đề lên, do bộ xét lại sách án mà tâu lên. Nhưng từ trước đến nay sách án các địa phương tâu lên chỉ kể qua những họ tên quê quán tội trạng của tù phạm mà thôi, còn như tình chân hoãn quyết hay căng nghi thì chưa từng xét nghĩ. Xin bắt đầu từ năm nay, phàm đến kỳ thu thẩm, các thành dinh trấn đều xét kỹ những tù tội nặng, người nào tình thực tội đúng, hoặc nên hoãn, hoặc nên thương, thì chia làm ba bản tình chân, hoãn quyết, căng nghi, do bộ xét lại sách án mà xin giao đình thần xét lại đề lên để đợi chỉ định đoạt”. Vua y lời tâu.
    Quảng Bình tiến dâng dưa hấu, có quả không được tươi. Vua bảo bộ lễ rằng : “Hoa quả quý bốn phương dâng cúng Tôn Miếu mà không cẩn thận như thế, chẳng là thêm cái lỗi bất thành của trẫm sao ! Vậy truyền dụ cho các địa phương từ nay có tiến quả phẩm gì phải nên tự mình chọn lựa, nếu không chọn kỹ thì thà đừng tiến”.
    Lục bổ con trai Thiếu bảo Trịnh Hoài Đức là Trịnh Kỳ Như làm Hàn lâm viện Biên tu.
    Định lệ hao đi và thu thành cho Vũ Khố rèn luyện đồ sắt, đinh sắt (Phàm lấy sắt thoi ở Bắc Thành rèn đồ sắt thì cứ 100 cân thành khí 65 cân ; rèn đinh thì 100 cân thành khí 70 cân).
    Làm duyệt tuyển ở các trấn đạo Thanh Hoa, Nghệ An, Ninh Bình. Sai thống chế dinh Tiền phong quân Thị nội là Trần Đăng Long, Tham tri Hộ bộ là Lương Tiến Tường, Đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Tôn Thất Dịch, Tham tri Công bộ là Trần Văn Tính, Vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung là Hồ Văn Trương, Ký lục Quảng Bình là Trần Đăng Nghi, chia nhau đi làm. Thanh Hoa, Nghệ An và Ninh Bình năm ngoái đến kỳ duyệt tuyển, vì gặp mất mùa nên hoãn, đến nay hơi được mùa, vua chuẩn y lời đình nghị, cho làm (Các tổng vạn trang sách thuộc các phủ huyện thượng đạo cho theo sổ cũ, không phải duyệt). Đến khi tổng sách dâng lên, số hộ khẩu đều trội hơn trước, Thanh Hoa nhiều nhất, rồi đến Nghệ An, Ninh Bình. Thưởng cho các quan duyệt tuyển và các quan trấn đạo gia cấp kỷ lục và vóc đoạn theo thứ bậc.
    Ba trấn Sơn Nam, Nam Định, Hải Dương ở Bắc Thành chở gạo đến Kinh. Hữu ty xem nghiệm thấy ẩm mốc hao phí mất nhiều. Đưa xuống hai bộ Lại Binh bàn xử. Hộ tào Bắc Thành cùng quan lại các trấn đều phân biệt phải giáng phạt, đánh trượng, quở mắng. Số gạo hao đáng giá hơn 6.950 lạng bạc, miễn không phải bồi.
    Lấy nguyên Trấn thủ Bắc Ninh là Nguyễn Đình Phổ làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Thiêm sự Lại bộ Hoàng Văn Tú làm Tham hiệp Nghệ An.
    Lấy Thành thủ uý Hà Hoa là Mai Văn Thành làm Phó vệ uý vệ Long võ hữu.
    Bộ Binh tâu rằng : Những lính kéo vào các dinh vệ cơ các quân ở Kinh trong năm Minh Mệnh thứ 5 mà bỏ trốn, các viên Quản suất xin theo lệ nghĩ xử. Vua đặc biệt hạ lệnh rằng phàm những viên Quản suất đã được thăng bổ đi nơi khác thì cứ theo hàm hiện nay đổi làm giáng cấp phạt bổng, đi thú xa thì miễn.
    Tiết Đoan dương, ngày hôm trước cho bầy tôi ăn yến ở điện Cần Chính, thưởng cho quạt bằng tre hoa và khăn tay, văn từ Thiêm sự, võ từ Phó vệ uý các quân, Phó quản cơ thuỷ quân trở đều được dự. Từ đấy hằng năm lấy làm lệ thường.
    Chưởng cơ hưu trí là Mai Tiến Vạn vào yết kiến. Thưởng cho 100 quan tiền.
    Vệ uý vệ Ban trực quân Thần sách là Hoàng Văn Tâm đóng thú ở Nghệ An, vì nhũng lạm phải tội cách chức, phát đi đạo Cam Lộ để ra sức chuộc tội ; con là Khương mạo xưng là Thừa ân uý cũng xử phát phối.
    Lấy Nguyễn Thọ Tại làm Đội trưởng ngoại ngạch Tiền vệ dinh Thần cơ.
    Thọ Tại biết chế súng hoả tiễn, đem tiến một cây. Sai thưởng 10 lạng bạc, lại bổ cho chức ấy.
    Sai Bình Hoà mộ dân lập hộ yến sào (mỗi hộ 10 người trở lên, mỗi năm nộp thuế mỗi người 8 lạng yến sào). Nhân chuẩn định lệ nộp thuế yến cho các địa phương, chia từng phần mà nộp (chiếu số cân lạng phải nộp chia làm 3 phần, hạng nhất, hạng nhì, hạng ba đều 1 phần).
    Rút những biền binh Bình Hoà đi đánh người Man về trấn. Trước kia ba sách người Man thuế Chế Trang, Làng Lồ, ỷ Đống lần lượt đến cửa quân thú phục, đều nói rằng bốn sách La Vạn, Lục Vân, A Nhân, ỷ Tuân vì giết hại quan lại quân lính nhiều nên sợ bị giết, chưa dám ra thú, xin cho thêm hạn để chiêu dụ. Qua mấy tháng, bốn sách ấy cũng không hàng, sách ỷ Đống lại trốn. Trấn thần là bọn Nguyễn Văn Quế đem việc tâu lên và nói : “Nay mùa hè núi nguồn nhiều mưa, quân đi rất khó, vả giống Man ấy ở đất thượng du, nhờ chỗ hiểm sống tạm bợ không có thể lấy văn bằng cáo sắc mà chế phục được, xin chọn binh ở trấn lấy sáu bảy trăm người khoẻ mạnh và lấy thêm quân của hạt bên cạnh hội đánh”. Vua bảo đình thần rằng : “Tính việc phải cho vạn toàn. Lấy Man Di đánh Man Di là đường lối của Trung Quốc. Trấn thần đã cho là người Man ấy nên đánh thì cái duyên do ngạch trở giáo hoá hẳn có đứa đầu sỏ xướng lên. Huống chi đã có đứa đầu thú thì nên khéo léo vỗ về, khiến cho nó đem lòng thành thực gắng sức làm việc, sao trong sớ chẳng bày tỏ gì cả ? Vậy truyền dụ ngay cho Trấn thần nếu trong bảy sách ấy sách nào còn có đứa cừ khôi thì chỉ tên xin đánh, sách nào đã hàng phục thì có thể dùng làm quân thanh ứng. Còn kỳ ra quân nên đợi xuân sang năm hay nên tiến gấp thì cho sớ tiếp tục tâu rõ”. Bọn Văn Quế lại tâu xin nay hãy tạm làm kế chiêu dụ để cho những người Hán (Việt) ở các sách được về hết và vỗ về hai sách Chế Trang, Làng Lồ để sau này dùng đến, đợi sang năm sẽ tiến đánh ; vẫn để lại 100 quân canh giữ bảo Bình Xuyên, còn thì cho về hết. Vua theo lời xin.
    Quan thành Gia Định tâu nói : “Văn võ binh lính thuộc thành, về khoá duyệt tuyển năm Minh Mệnh thứ 4 bị thải hoàn tráng đến hơn 3.000 người, dân sở tại phần nhiều kêu ca là chẳng biết tên tuổi mặt mũi mà phải nộp thuế thân đây”. Vua sai xoá sổ đinh đi mà tha thuế cho. Lại sai hai bộ Hộ, Binh bàn rõ để sửa chữa tệ ấy. Hai bộ bàn cho là từ trước đến nay, sổ sách quân dân Gia Định, những người chuyên biện phần nhiều làm sơ sài, không chịu xét rõ, có người quan viên hiện đã bổ hoặc đã đổi đi chức khác mà trong sổ tuyển vẫn còn để ở ngạch cũ, hoặc có người đi thú mà sổ tuyển không có cước chú, hoặc ghi lầm quê làng, hoặc kỳ tuyển có người bận việc không đem bằng sắc trình duyệt cho nên tuyển quan chỉ chiếu lệ cho làm tráng hạng. Tệ ấy chứa đã lâu rồi chứ không phải một ngày. Xin phàm những người hạng tráng vào sổ từ năm Minh Mệnh thứ 4, trong ấy nếu có quản viên viết lầm chức hàm quê quán thì cho dân sở tại trình quan địa phương, chiếu xét ngạch binh mà cải chính. Quan viên hưu trí cũng cho kê rõ tra kỹ, nếu có bằng sắc đủ làm bằng thì vẫn ghi làm hạng quan hưu trí ; chỉ có người bỏ trốn hay chết mới xoá sổ. Từ sau đến kỳ tuyển có quan viên tử ở sổ mà không có văn bằng đệ trình thì đề chữ tra, người cai lại theo làm việc xét ra quả là quan viên tử thì cho vẫn ghi sổ, không hợp lệ mới được cho vào tráng hạng. Sở tại trong thành hạt từ sau có dân ngoại tịch đến sung làm quân hiệu các nha, thì trước khiến lý trưởng đứng kết nhận, nếu có người giả mạo thì đem hạng không có quê quán ; nếu lý trưởng đã kết nhận thì đến kỳ tuyển không được nói lại. Lại hằng năm sai người về Kinh sao chép binh ngạch bộ ty của Binh bộ phải xét tra kỹ lưỡng, ở sau niên hiệu viết chức hàm ký tên để làm tin. Đường quan ở bộ xét duyệt lại đóng ấn của bộ rồi gửi để cho khỏi cái tệ lầm lẫn ; nếu làm sơ sài không chu tất, phát giác thì đều cứ duyên do mà trừng trị”. Vua theo lời bàn.
    Làm phủ lỵ phủ Lý Nhân trấn Sơn Nam (phủ lỵ ở làng Cổ Thọ huyện Bình Lục).
    Sửa lại kho Kinh.
    Vua đi tuần du ở Quảng Nam, sai hoàng tử Miên Định, Hữu thống chế quân Thị trung là Trần Văn Cường, Thượng thư Lễ bộ là Phạm Đăng Hưng ở lại giữ Kinh thành, Hữu Tham tri Binh bộ là Nguyễn Khoa Minh, Hữu Tham tri Hộ bộ là Lương Tiến Tường, giữ ấn lưu Kinh. Dụ rằng : “Sau khi trẫm lên đường thì hoàng tử và đại thần lưu Kinh các ngươi cùng các văn quan không đi theo giá, cứ đầu giờ mão thì đến nhà tả vu điện Cần Chính mà hội đồng làm việc, giờ tỵ thì lui về, duy Trần Văn Cường có thể trực đêm ở tả vu. Chánh Phó vệ uý trở lên đều phải theo chỗ đóng giữ mà ngày đêm tuần hỏi, nếu không có cớ mà dám bỏ ban thì theo luật nghiêm trị”. Lại vời Miên Định đến bảo trước mặt rằng : “Trẫm ngày trước đi Bắc tuần, những công việc lưu Kinh có sẵn quy thức, ngươi nên theo đấy mà làm, mỗi ngày buổi sáng đến tả vu tập nghe các quan đại thần bàn bạc chính sự, đến chiều thì tới cung Từ Thọ thỉnh an, chớ nên trễ biếng”. Bèn cấp cho một ấn đồ ký bằng ngà, phàm có vâng chỉ Từ cung cùng có việc Nội cung mà làm tờ tâu lên thì đóng ấn ấy. Lại phái cấp cho Đội trưởng Cẩm y và sáu người, thượng trà, tiểu trà, tiểu sai, thị vệ để sẵn sàng chạy đệ tờ tâu.
    Cắt đặt các biền binh đi theo. Sai Đô thống chế Nguyễn Văn Trí quản lĩnh 9 vệ Tiền phong, Kỳ võ, Thần sách và 10 thớt voi làm tiền bộ, đi trước cách ngự dinh một ngày đường, thự Thống chế Đoàn Đức Luận quản lĩnh sáu vệ Trung bảo, Tiền bảo, Hữu bảo, Hùng cự và 8 thớt voi làm hậu đội, cũng cách ngự dinh một ngày đường.
    Chuẩn định từ sau xa giá đi ra ngoài 100 dặm, thì lính thủ hộ các cửa Kinh thành, hoàng thành, cung thành, cùng Thuỷ quan cầu Thanh Long đều theo lệ thêm gấp đôi, đều chỉnh túc quân dung để tỏ phòng bị nghiêm nhặt. Các cửa đều cứ chập tối thì đóng chặt xét, khi mở ra không được viện lệ phóng ống lệnh. Lại khi đại giá lên đường thì ở Kinh theo lệ phát ống lệnh, ở giữa đường, ngày dừng, đêm nghỉ, phàm lúc đi, lúc dừng, đều bắn 3 phát súng quá sơn. Khi đến Điện Hải đài thì thuyền Kim hải đạo bắn 9 phát súng đại bác, trên đài và các thuyền lớn Bình dương, Định dương, Tĩnh dương, Thanh hải, An hải cũng bắn súng như thế. Đến dinh Quảng Nam thì thuyền Kim hải đạo và thành dinh đều bắn súng như số. Khi về cũng thế.
    Chế cấp hành ấn((1) ấn dùng khi ra ngoài.1) cho bộ Binh (vuông 1 tấc bằng ngà). Sắc từ sau phàm những khi theo xa giá ra ngoài thì mang theo ấn ấy, như có việc bộ và cấp bài trạm, bài lấy cỏ thì đều dùng.
    Sai bộ Hộ truyền dụ cho các địa phương Thừa Thiên và Quảng Nam rằng phàm đường xa giá đi qua, tất cả các thứ cung ứng như thuê phu, thuê thuyền, rơm cỏ cho voi ngựa, đều phải trả giá hậu, chớ bắt ở dân. Vua lại nghĩ quân lính theo hầu, hoặc có người tạ sự nhiễu dân, xuống dụ rằng : “Loan giá đi tuần cốt ở thăm địa phương xét quan lại, giá ơn huệ cho nhân dân. Quan binh theo hầu, những nơi đi qua không được giày xéo ruộng lúa, không được làm càn quấy nhiễu. Một giải Hội An ở Quảng Nam tuy không được giàu có bằng trước, nhưng vẫn là nơi người ở đông đúc, hàng hoá tụ tập, nếu có người tham lận, yêu sách mua rẻ, làm cho chợ phố sợ hãi, thì cho dinh thần lập tức tra xét xử tội, người buôn bán cùng lý trưởng cũng được báo bắt, đúng thực thì được thưởng bạc lạng”. Lại truyền dụ cho các nhà phố cùng chợ búa hương thôn cứ làm ăn như thường, chớ có bày biện gì cả.
    Ngày Ất mùi, xa giá tự Kinh sư đi.
    Ngày Bính thân, xa giá đến bến Thừa Phúc. Có người đàn bà 85 tuổi đón đường lạy mừng, thưởng cho 5 lạng bạc.
    Ngày Đinh dậu, xa giá qua núi Hải Vân. Thưởng cho dân ở trên núi mỗi nhà 1 lạng bạc. Đến trạm Nam Chân có lão nhà quê dâng cái chén pha lê chịu nóng, thưởng cho 10 lạng bạc. Vua truyền dụ rằng : “Trẫm vừa đến đầu trấn Quảng Nam mà ông già ấy đã có lòng thành hiến bộc, trẫm thương già cả mà chân thành nêu thưởng cho chứ chẳng phải vì cái chén ấy”. Bèn theo đường thuỷ tiến đến cửa biển Đà Nẵng. ở đấy có thuyền Tây dương đến buôn bán, nghe tin thuyền ngự đến, bắn 21 phát súng mừng, đấy là lễ mừng vua theo tục nước ấy. Sai mang bò rượu thưởng cho.
    Ngày Mậu tuất, thuyền ngự đến bến Hoá Khuê. Hạ lệnh xa giá lên núi Ngũ Hành, đến hai chùa Trang Nghiêm và Bảo Đài, xem khắp hang động và các bi ký. Bảo thị thần rằng : “Núi này là danh thắng bậc nhất, các thánh triều ta khi rỗi công việc thường đến chơi đây”. Sai dùng thái lao lễ thần núi. Lại cho dân hai ấp Hoá Khuê và Quán Khái được giảm thuế thân 4 phần 10 và cho toàn dân hạt Quảng Nam giảm 3 phần 10.
    Ngày Canh tý, xa giá đến thành dinh Quảng Nam, có hơn 500 người kỳ lão đến lạy mừng. Thưởng cho 2.000 quan tiền. Có 2 người hơn 100 tuổi, thưởng thêm cho mỗi người 10 lạng bạc và một bộ áo. Lại có 2 người học trò là Trần Đức Hợp và Trần Hoá An dâng 10 điều sách thái bình. Vua sai bộ Lễ duyệt tâu. Những lời ấy không dùng được gì, bèn bỏ không báo lại.
    Ngày Nhâm dần, xa giá đến phố Hội An. Tha 5 phần 10 bạc thuế cho dân Minh Hương. Qua đền Quan công cho 300 lạng bạc ; qua đền Thiên phi, cho 100 lạng bạc ; qua xã Hải Châu Chính, cho chùa mới làm của dân ấy đổi tên làm chùa Phước Hải, sắc cho dinh thần làm biển ngạch cấp cho. Rồi hồi loan.
    Ngày Quý mão, xa giá đến núi Hải Vân. Nghe tin Hoàng thái hậu se mình, vua sai đi gấp đường, giờ tuất về đến Kinh, vào thỉnh an ngay. Hoàng thái hậu hôm ấy đã khoẻ rồi. Vua rất mừng. Bèn thân bảo bầy tôi rằng : “Trẫm nghĩ đất Quảng Nam là nơi gần kinh kỳ, đường sông biển dài, đêm ngày canh cánh bên lòng, nên khiến xa giá Nam tuần, vốn định sau khi xem xét địa phương ấy rồi thì theo đường biển đi đến địa đầu Quảng Ngãi, xem khắp núi sông, thăm xét phong tục. Nhân nghĩ điển tuần thú vốn không có thể hẹn ở chỗ an nhàn, mà cái lỗi chơi vui liên miên cũng chẳng nên say mê ở sự thưởng ngoạn mà để tiếng chê. Huống lần này, tuy không trải xem mấy, nhưng những nẻo sông bờ biển, đường nước thành dinh, đều đã rõ hết lợi tệ, cho đến ban ơn thi huệ, già trẻ đều khắp, thì những việc cốt yếu của chuyến đi này cũng đã không sót. Ngày 15 bảo các đại thần tuỳ giá dự bị trở về ; ngày 16 trẫm tự thấy thần chí chẳng yên, liền khiến ra đi, giờ mão ngày 17 đi qua đèo lớn Hải Vân, giữa đường tiếp tờ tâu của hoàng tử lưu Kinh nói rằng Hoàng thái hậu se mình trẫm mới biết cái cớ ngày hôm trước trong lòng không yên vậy. Thế mới tin cái việc động tâm((1) Tăng tử động tâm : tăng tử vào rừng hái củi, mẹ ở nhà đau bụng, mong con về, cắn đầu ngón tay ; Tăng tử nóng lòng đội củi về ngay1) của Tăng tử không phải là bịa. Lập tức sai thu vén hành trang đi gấp đường suốt ngày, đến giờ tuất tới Kinh, vào thỉnh an, may nhờ phước trời mình thánh đã ngay sáng hôm ấy được khoẻ như thường. Cúi thấy tiếng nói sắc mặt vui vẻ trong sáng, trẫm mừng rỡ khôn xiết, vậy nói cho các khanh biết”. Nhân sai thưởng tiền cho tất cả các biền binh hỗ giá theo thứ bậc ; người ốm chết ở đường thì cho gia đình thêm bạc lạng và tiền gấp đôi. Lại sai dinh thần Quảng Nam lấy tiền gạo cấp cho những dân trong hạt dọn vét đường sông (từ Hoá Khuê đến dinh thành).
    Chân Lạp sai sứ đến chầu. Sứ đến Gia Định. Sắc cho miễn đến Kinh. Lại cho phiên vương sắc thư và lụa vóc ; sứ giả thì cho bạc mà bảo về.
    Bắt đầu đặt Viên dịch ty Bưu chính : Chủ sự tư vụ đều 1 người, Bát Cửu phẩm Thư lại đều 2 người, Thư lại vị nhập lưu 14 người, lấy ty thuộc bộ Binh sung bổ. Lại sắc rằng từ sau phàm có việc tối khẩn mà phái người đi đường trạm thì cứ từ trạm Kinh mà đi cho nhanh chóng công việc.
    Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi, trước từ Gia Định về Kinh, nhân xin về làng thăm mẹ, đến nay hết hạn vào yết kiến, bèn sai ở lại bộ cung chức, miễn cho Hoàng Kim Xán việc quyền việc ấn Hình bộ.
    Gạo ở Thanh Nghệ sụt giá. Hạ lệnh gạo lương bổng quan và lính hai trấn ấy cho chiết cấp bằng tiền (Gạo 1 phương cấp tiền 1 quan).
    Ở năm trấn Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Quảng Yên, Hưng Hoá thuộc Bắc Thành giá gạo đắt. Chuẩn định thóc tô vụ chiêm cho dân nộp thay bằng tiền.
    Đào lại sông Vĩnh Điện. Trước vua đi tuần Quảng Nam, trải qua sông ấy, thấy đường sông nông hẹp, bảo bầy tôi rằng : “Trước kia đào khai sông ấy, hạn bề ngang trên bờ là 5 trượng, dòng nước rộng 3 trượng 4 thước, nay mới hơn một năm mà đã sụt lở, chỗ rộng chẳng quá 2 trượng, chỗ hẹp chỉ hơn 10 thước ; lại hai bờ cao quá, đứng dựng như vách thì thế nước chảy mau sụt lở càng nhiều, của nhà nước và công của dân, cả hai đều uổng phí, cái tội của Đổng lý Lê Đại Cương nói sao cho xiết. Bọn giám tu và chuyên biện đều giao xuống hai bộ Lại Binh bàn xử”. Bèn phát 8.000 người dân Quảng Nam, chia làm hai ban, sai Phó đô thống chế Trương Văn Minh trông coi công việc, tuỳ thế mở rộng, lấy mặt nước rộng 6 trượng làm chừng. Những người làm việc hằng tháng cấp cho tiền gạo ; mỗi ngày hạn giờ làm giờ nghỉ, cho đồ ăn, cấp thuốc thang, đều theo lệ sông Vĩnh Định. Khi Minh từ biệt ra đi, vua dụ rằng : “Đây là việc trọng yếu về vận tải đường sông ở phía nam kinh kỳ, trước kia người thừa biện không biết làm cho nên nay bất đắc dĩ phải đào vét thêm, mong lợi cho dân, chẳng phải muốn nhọc dân đâu. Ngươi đến Quảng Nam nên triệu các phụ lão lấy ý ấy bảo cho họ biết, khiến họ báo lại cho con em vui vẻ đến làm”. Minh đến, xem xét hình thế dòng sông, từ chỗ cầu nhỏ Giao Thuỷ đến cửa sông, mặt đất làng Câu An là chỗ chảy vào sông cái, nên đất xã Câu An nhiều chỗ khuất khúc, bên cửa sông lại có một giải cát ngầm, nước xuống thì phơi ra. Bèn tâu xin đào cửa sông mới ở phía dưới cửa sông cũ hơn 40 trượng, tiếp ngay sông cái khiến cho thế nước chảy rót vào, giữ khỏi cái lo bồi lấp, mà từ đấy đến Giao Thuỷ đường lại hơi gần (từ cửa cũ đến Giao Thuỷ dài hơn 850 trượng, từ cửa mới đến Giao Thuỷ dài chỉ có 560 trượng).
    Vua theo lời xin. Lại thấy gần tiết mưa lụt, sai lấy thêm 1.000 dân ở ban nghỉ, và thuê mộ dân phu để góp sức cố làm. Qua 2 tháng thì xong. Sai đem bò rượu khao thưởng. Thưởng cho Trương Văn Minh 2 thứ kỷ lục, 50 lạng bạc, 2 tấm sa, 1 tấm đoạn. Cho các quan văn võ theo làm mỗi người 1 thứ kỷ lục. Đài Điện Hải cũng có chỗ sụt lở, lại lượng phát lính và thợ sửa chữa. Viên thủ đài và dinh thần đều phải giáng phạt.
    Vời hai đội Tráng sai, Chiến sai ở Gia Định về Kinh. Hai đội ấy trước thuộc Chưởng cơ Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Chấn cai quản, từ khi Thắng, Chấn về nước, binh ở lại Gia Định không lệ thuộc vào đâu nên sai triệu về để dồn bổ.
    Dựng lầu Tàng thư (ở phường Doanh Phong trong Kinh thành, lầu làm hai tầng, tầng trên 7 gian 2 chái, tầng dưới 11 gian, chung quanh đều xây lan can, bốn bên lầu xây hồ vuông gọi là hồ Học Hải, mé tây hồ có cầu. Các sổ sách năm trước của sáu bộ đều chứa ở trên lầu), sai Thự thống chế Đoàn Đức Luận trông nom biền binh các bảo và các sai Ban trực và Hùng cự 1.000 người để xây dựng.
    Định lại lệ lương tháng của sinh viên tọa giám. Vua nghĩ các giám sinh quê quán xa xôi ở trọ, hoặc có kẻ dầu đèn không đủ, sai chia hạng mà cấp lương hậu cho. Ưu hạng mỗi tháng tiền 4 quan gạo 3 phương dầu 5 cân, bình hạng tiền 3 quan gạo 2 phương dầu 4 cân, thứ hạng tiền 2 quan gạo 2 phương dầu 3 cân ; có tháng nhuận cũng y lệ mà cấp. Phàm khoá trước ưu khoá sau lại ưu thì chiếm ưu hạng cấp thêm 1 quan tiền 1 phương gạo ; khoá trước ưu khoá sau bình thì cấp theo bình hạng ; khoá trước ưu khoá sau thứ thì cấp theo thứ hạng ; khoá trước bình khoá sau ưu thì cấp theo ưu hạng ; khoá trước bình khoá sau lại bình, thì cấp theo bình hạng ; khoá trước bình khoá sau thứ thì cấp theo thứ hạng ; khoá trước thứ khoá sau ưu thì cấp theo bình hạng ; khoá trước thứ khoá sau thì bình cấp theo thứ hạng ; khoá trước thứ khoá sau lại thứ thì chiếu thứ hạng cấp một nửa).
    Hạ lệnh cho bộ Binh rằng từ nay biền binh các vệ Cẩm y, Hổ oai trung và tiền, Nội hầu, Thị tượng, không có đặc chỉ thì không được sai khiến công tác.
    Lấy Thiêm sự Binh tào thành Gia Định là Bùi Phổ làm Hiệp lý trấn vụ Phiên An, Lang trung Binh bộ là Nguyễn Văn Đống làm Thiêm sự Hộ bộ sung Hộ tào Bắc Thành.
    Đổi chức Quản đạo Long Xuyên và Kiên Giang làm Quản thủ, vì hai đạo
    Long Xuyên và Kiên Giang đã đổi làm huyện, đặt chức quan huyện rồi, Quản đạo không dự làm việc huyện nữa. Vua thấy đất đai huyện ấy rất quan yếu nên đổi đặt Quản thủ để chuyên việc đóng giữ.
    Chuẩn định từ sau phàm những thuyền vận tải ở Cừ Hà, Lý Hoà, An Náu,
    Thử Luật, sông Gianh, sông Ròn thuộc trấn Quảng Bình có chở lương nhà nước ở
  • Chia sẻ trang này