0059.044 - @ nhani78 (Done WK)

27/11/15
0059.044 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Bắc Thành và Ninh Bình thì đều trả công thuê bằng thóc. Ghi làm lệ (Lệ trước trả công bằng gạo).
    Sai chở 150.000 quan tiền kẽm mới đúc ở Bắc Thành đến Thanh Nghệ (Thanh Hoa 100.000 quan, Nghệ An 50.000 quan). Lại chở tiền ngụy ở Thanh Nghệ về Kinh.
    Dựng cung Khánh Ninh (cung ở sau hoàng thành chính đường tiền đường và hậu đường hợp thành một toà. Dỡ lấy gỗ ở điện Thanh Hoà làm Tả vu hữu vu, hành lang tả hữu, cửa lầu trước sau, cửa tả cửa hữu, cửa bán nguyệt và bình phong đều một cái). Trên bờ sông ở trước cung dựng nhà mát (ba toà hợp làm một) ; bên tả xây cầu đá gọi là cầu Khánh Ninh ; ở phía đông bắc cầu, dựng nhà bia. Sai Vệ uý Thị trung là Lê Văn Quý, phó vệ úy là Trần Văn Lộc trông nom công việc. Binh và dân có người chở đá núi nộp quan thì theo giá trả tiền (Một đống đá chở đến cầu Ngự Hà 20 quan tiền, đến cung Khánh Ninh trả 25 quan. Binh lính thì trả bằng tiền cả ; nhân dân trả nửa tiền nửa gạo). Khi làm xong, thưởng cho bọn Quý mỗi người 1 thứ kỷ lục.
    Dựng thêm kho Kinh (Một toà 29 gian).
    Lấy Vệ uý vệ Hậu bảo tam của Hậu quân là Phan Bá Hùng làm phó thống thập cơ Uy thắng.
    Bắt đầu đúc tiền đồng nặng 9 phân. Trước kia một đồng tiền lấy nặng 6 phân làm chuẩn. Vua sai đúc xen tiền nặng 1 đồng cân. Hữu ty có nhiều người nói giá đồng đắt mà đúc tiền nặng thì nhà nước không có lợi. Vua nói : “Nhà nước trị tài có đạo, sao lại so đo từng tý ! Vả tiền mỏng thì dễ hỏng, sao bằng đúc cho dày nặng để lợi dài lâu, đằng nào lợi hơn ?” Bèn định một đồng tiền nặng 9 phân, sai Vũ Khố chế mẫu ban cho trường Đúc tiền ở Kinh cùng cục Bảo tuyền Bắc Thành để đúc, mà bãi bỏ tiền 6 phân. Tiền kẽm thì dùng 6 phân như cũ. Rồi định phép đúc lẫn đồng và kẽm (Nếu lấy tiền ngụy mà đúc thì mỗi 100 cân dùng tiền ngụy 90 cân, đồng đỏ một khối 5 cân và kẽm 5 cân, nếu lấy tiền cổ nhà Thanh mà đúc thì mỗi 100 cân dùng tiền Thanh 98 cân, kẽm 2 cân, nếu lấy nồi đồng mà đúc thì mỗi 100 cân dùng nồi đồng 49 cân, kẽm 49 cân, chì 2 cân).
    Tháng 6 sửa hành cung và chùa miếu ở núi Tam Thai dinh Quảng Nam. (Một sở hành cung “Động thiên phước địa”, một chùa Tam Thai, một chùa Trang Nghiêm, một miếu Thiên Y A Na Diễn, một chùa ứng Chân, một miếu Thượng Thành, một chùa Từ Tâm và các sở cửa Vấn Căn Nguyệt Quật, cửa Tam quan, cửa Linh quan, sơn phòng và nghi môn). Núi Tam Thai có nhiều cổ tích danh thắng, từ sau binh lửa đổ nát cả. Vua thấy thiên hạ thanh bình nên sửa sang lại, sai Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Công Liêu và quản lý Nội tạo là Vương Hưng Văn trông nom công việc. Chi tiền kho 5.500 quan, thóc 500 hộc. Hoàng thái hậu cũng thưởng 300 lạng bạc. Hơn một năm làm xong. Sai hữu ty chế biển ngạch tượng đồng, tượng vẽ, phật bài, chuông trống, đồ thờ và các kinh Địa tạng, Thuỷ tạng, Đại thặng ban cho. Rồi lấy 30 người dân hai xã Hoá Khuê Đông và Quán Khái sung làm Thủ hộ, sai dịch đều miễn.
    Đổi bổ Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị của Hữu quân là Đào Văn Nghị làm Phó vệ uý vệ Tín trực án thủ đài Điện Hải, kiêm quản biền binh đóng giữ. Vệ Tín trực đổi cho lệ về Quảng Nam.
    Thiêm sự Hộ bộ Biện lý Nội vụ phủ là Hoàng Văn Diễn ở Xiêm La về ; sai vẫn cung chức như cũ. (Mùa đông năm ngoái Diễn vâng mệnh đi sứ viếng tang nước Xiêm).
    Lấy thông Chánh sứ Hoàng Quýnh Biện lý công việc Lại bộ, Lang trung Binh bộ là Vũ Du làm Thiêm sự Binh bộ sung biện Binh tào Gia Định.
    Ngày Tân dậu, miễn chầu. Sắc cho các nha có việc nên tâu thì viết vào bài tiến lên. Ngày Nhâm tuất, vua ngự điện Quang Minh, vời các quan từ tam phẩm trở lên vào hầu dụ rằng : “Hôm qua trẫm cảm phong hàn, tinh thần không khoẻ, bọn khanh sao không làm thiếp hỏi thăm, đó cũng là cái ý vua tôi đau ốm tương quan mà lại còn có thâm ý ở trong đó. Trẫm ở trong cung, ở cùng bọn đàn bà hoạn quan thôi, chợt không thấy ra chầu, bọn khanh biết đâu là trẫm không say đắm vui chơi. Đó chẳng phải là việc nhỏ, sao không nghĩ đến ?”. Ngày Giáp tý, lại miễn chầu. Bầy tôi dâng tờ thỉnh an. Vua phê bảo rằng : “Trẫm hôm nay đã thấy thư thái, các khanh yên tâm, ngày mai có thể coi chầu được”. Ngày Ất sửu, vời từ tam phẩm trở lên vào hầu ở điện Quang Minh.
    NgàyĐinh mão, đặt nghi thức thường triều ở điện Cần Chính. Các quan lạy mừng.
    Thưởng cho y chánh Nguyễn Tăng Long 100 quan tiền và một bộ áo. Trước đây thánh thể hơi khó ở, ngự y Đoàn Văn Hoà hầu thuốc không đỡ. Tăng Long thay tay, bốc thuốc vài thang liền khỏi. Vua khen nên thưởng hậu, nhân bảo thị thần rằng : “Làm thuốc phải có chủ kiến ; nếu nói bệnh hàn mà cho uống thuốc nhiệt, nói nhiệt mà cho uống thuốc hàn, thì ít khi không nhầm”. Rồi cho Tăng Long làm ngự y phó.
    Lấy Quản cơ cơ Tiền tượng là Đào Công Cúc làm Vệ uý vệ Thị tượng nhất, quản phủ phủ Đức Thọ là Đặng Hữu Chất làm Vệ uý vệ Kỳ võ. Vệ uý Thị trung là Nguyễn Hữu Khâm vì làm việc tầm thường bị giáng làm Vệ uý Tiền vệ dinh Thần cơ quân Thị nội. Cho Đoàn Đức Luận làm thống chế Tượng quân.
    Đưa thuyền ô lê mới đóng đến Nghệ An, sai Trấn thần theo kiểu đóng 10 chiếc để vận tải đường biển.
    Bớt lệ tiến quả phẩm cho Bắc Thành (Hằng năm tết Nguyên đán cùng lễ miếu hưởng tháng mạnh xuân và tháng quý đông, mỗi lễ Bắc Thành lệ phải tiến 1.500 quả cam đường, sau giảm xuống 900 quả, đến nay lại giảm xuống 600 quả.
    Lễ hưởng mùa hạ lệ tiến 4.200 quả vải, nay giảm xuống 2.000 quả).
    Trấn thần Bình Hoà là bọn Nguyễn Văn Quế tâu nói rằng dân man các sách, thuộc man đến thú hơn 200 người, và trả lại hơn 40 người dân Hán (Việt), hiện đương phái người đi chiêu dụ tù trưởng của họ. Vua dụ rằng : “Người man ấy từ trước đến nay vẫn là cung thuận, nay thốt nhiên không theo giáo hoá, há chẳng phải vì bọn sai dịch sách nhiễu gây biến sao ? Chẳng thế thì sao Trấn thần mới vỗ về mấy lời, không phải phiền đến quân sự, mà họ đã tự đến và trả lại dân Hán của ta. Thế thì cái mầm hối cải cũng đã tỏ thấy được. Nên gia ơn cho khắp để mở rộng con đường theo thiện đổi mới. Số thuế sáp vàng năm Minh Mệnh thứ 5 còn thiếu đều miễn cho. Bọn ngươi nên lấy lòng thành bảo rõ cho dân man đều cảm ân tín, khích phát lương tâm, từ năm nay về sau theo lệ cung nộp, tuân theo phép tắc, thì những tội lỗi về trước tạm tha thứ cho. Nếu còn quen thói làm ác không chừa thì sẽ đem quân hỏi tội, quyết không dung tha”.
    Thượng thư Lễ bộ là Phạm Đăng Hưng chết. Khi Đăng Hưng mới ốm, dâng sớ nói : “Soạn sách Thực lục là để cho đời sau tin theo, phải nên tìm kiếm rộng khắp mới có thể thành sách. Đức Thế tổ Cao hoàng đế ta mở đầu gây dựng, mưu mô minh đoán, gói mở muôn điều, những việc từ năm Đinh mùi về trước chép còn thiếu sót, không tìm xét được ; từ năm Mậu thân xa giá trở về Gia Định, cho đến năm Tân dậu là 14 năm thì ghi chép sơ lược còn có ở bộ Lại, thần trước làm Tham tri nên chính mắt được thấy tập ấy, tưởng cũng có thể chọn nhặt mà gọt giũa. Thần dẫu lúc ốm đau mà nghĩ đến công việc chép sử chẳng dám khuây lòng. Xin sắc xuống bộ Lại kiểm soạn tập ấy mà đưa sang Sử quán để theo việc mà biên chép, cho có bằng cớ”. Vua y lời tâu. Đăng Hưng là đại thần già cả, trung thành văn nhã, vua rất tin dùng. Đến nay chết, tặng Hiệp biện đại học sĩ, cho thuỵ là Trung Nhã. Lại cho 500 quan tiền, 3 cây gấm Tống, 10 tấm lụa (năm Tự Đức thứ 2 truy tặng Đức quốc công).
    Bắt đầu đặt hai vệ Long thao, Hổ lược. Trước kia vua bảo thành thần Gia Định lượng phái 2.000 biền binh của thành hạt do một viên quan văn hay võ cao cấp thống suất, đi thuyền hải vận đến Kinh, ở lại thao diễn, mỗi năm một lần thay đổi, để cho quen khó nhọc và tập nghề võ. Thành thần bèn khiến Trấn thủ Định Tường là Đỗ Quý quản lĩnh biền binh các cơ vệ Phiên bình, Vĩnh bảo, Định uy, Biên hùng, Phiên võ, Định tín cứ đúng số mà chia ngồi hơn 30 thuyền sai. Khi đến, sai trích ra 4 chánh phó Quản cơ, 20 Suất đội, 1.200 binh lính sung làm kinh vệ, một vệ gọi là Long thao, một vệ gọi là Hổ lược, sổ quân vẫn do cơ đội cũ biên chép, sang năm lại đổi. Rồi lấy Phó đô thống chế Trương Văn Minh kiêm quản. Lại nghĩ quê quán ở xa, cấp thêm lương tháng cho binh lính mỗi người mỗi tháng 1 quan tiền. Suất thập thực lục thì cho chiếu phẩm mà chi bổng.
    Lấy Thiêm sự Binh bộ Hiệp lý việc dinh Quảng Nam là Ngô Phước Hợi làm Ký lục Quảng Nam.
    Sai Cai đội Thị nội là Nguyễn Đắc Suý, Tư vụ Nội vụ phủ là Hồ Trí sang miền Đông làm việc công, Trí nhân gặp bão, lấy hết của công. Việc phát giác. Trí phải tội phát đi sung quân ở thú sở Ai Lao đạo Cam Lộ.
    Dồn các trại đồn điền ở Gia Định làm ba đồn Gia dũng, Gia nghị và Gia uy, mỗi đồn 5 chi, mỗi chi 3 hiệu. Chi thì đặt chánh phó trưởng chi, hiệu thì đặt hiệu trưởng. Lấy chánh phó đốc suất của đồn điền, viên chức thừa ở thành và viên tử sung bổ, đều miễn cho thuế thân.
    Cấp lễ phục cho hai ty Tả Hữu từ tế, định lệ 3 năm đổi một lần.
    Đồn Uy viễn ở Gia Định xin đổi y phục theo người Hán (Việt). Tổng trấn
    Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua y cho. Có trưởng chi tên là Kiên Xác lừa doạ dân Phiên, lấy 800 quan tiền, nói dối là đi lễ để xin khỏi đổi y phục. Duyệt dò được tình trạng, Kiên Xác sợ tội, lại đem một cái văn tự khống 1.000 quan tiền nhờ người xin Duyệt. Duyệt liền đem việc tâu lên, và nói : “Việc xin đổi y phục là do các đầu mục họ tự xin, Kiên Xác lại dám phiến hoặc dân ngu để kiếm lợi, việc phát giác, lại lấy tiền mong thoát tội, con người loạn pháp ấy chẳng giết thì còn răn người khác sao được ? Vả dân xứ ấy ở ngoài biên viễn, gần đây chỉ biết đội ơn, chưa biết sợ phép, cho nên Kiên Xác là quan chức mà còn cho thần là người có thể đút lót được, huống chi người khác, xin chém Kiên Xác để răn mọi người”. Vua cho là phải.
    Đặt thêm viên chức ở ba tào Hộ Binh Hình thành Gia Định. Lệ trước Hộ tào
    1 Thiêm sự, 2 Lang trung, 1 Chủ sự, Binh tào 2 Thiêm sự, 1 Lang trung, Hình tào 1 Thiêm sự, đến nay đặt thêm Hộ tào 1 Thiêm sự, Binh tào 4 Lang trung, 1 Chủ sự, Hình tào 1 Thiêm sự, 1 Lang trung, 1 Chủ sự.
    Tiếp tục đào sông Ngự Hà. Lấy hơn 4.000 quan tiền kho, sai Vệ uý Nguyễn Văn Lộc thuê dân làm.
    Giáng Thiêm sự Biện lý trấn vụ Quảng Ngãi là Hồ Hữu Thẩm làm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ. Thẩm trước làm giám lâm Nội vụ phủ, của kho có thiếu hụt, đến nay án thanh tra dâng lên, phải tội giáng bổ đi nơi khác. Thượng thư Nguyễn Hữu Thận, Tham tri Trần Văn Tính cũng vì kiêm nhiếp Nội vụ phủ mà phải phạt.
    Cho Kinh binh cứ ngày mồng 1 tháng 8 thì chia ban nghỉ ngơi. Lệ định ngày mồng 1 tháng 7 chia ban, nhân công việc nhiều nên giữ lại. (Ba đội Hữu hầu, Nội hầu, Trung hầu nhất vệ Cẩm y, vệ Nội hầu, hai vệ Tiền phong hữu, Hổ oai hậu,
    vệ Thành võ, viện Thượng Trà, hai đội Tiểu sai nhất nhị, ba đội Dực võ, ba đội Hoàng kiếm, Tả vệ, Hữu vệ, đội Thị nghi, đội Ngân súng, hai đội Tiểu hầu nhất nhị, đội Bả lệnh, bốn đội Nội mã nhất nhị, Tả mã, Hữu mã, các ty Lý thiện, hai vệ Trung hộ Tiền hộ, đội Trung sai thứ năm, năm đội Hữu sai, năm đội Hùng sai, năm đội Tân sai, hai đội Dực tráng nhất nhị, ba đội Dực tiệp, ba đội Quảng Nam tráng, lệ chia làm hai ban. Mười vệ Thị trung, ba vệ Thần cơ trung tiền hậu, bốn vệ Tiền phong trung tiền tả hậu, năm vệ Long võ trung tiền tả hữu hậu, ba vệ Hổ oai tả hữu tiền, vệ Kỳ võ, năm vệ Ban trực, hai vệ Trung bảo nhất nhị, hai vệ Tiền bảo nhất nhị, năm đội Tiền sai, hai vệ Hữu bảo nhất nhị, hai vệ Hùng cự, vệ Phấn dực Nội thuỷ, các đội Dực uy, Dực tín, Dực thắng, Dực hùng, Dực dũng, Dực thành,
    Dực nhuệ cơ Nội thủy, mười hai đội Lục kiên, hai đội Tráng sai, Chiến sai, bốn đội Cường súng và Tam tráng ở Thừa Thiên, lệ chia làm ba ban).
    Cho chắt của Thái bảo Nguyễn Văn Trương là Nguyễn Văn Lược, con của Thự Tiền quân Trần Văn Năng là Trần Văn Thọ, con của Đô thống chế Nguyễn Văn Trí là Nguyễn Văn Hoà, đều làm Hiệu uý vệ Cẩm y, trật Chánh ngũ phẩm.
    Sai Chưởng cơ Phan Công Nghĩa chuyên lĩnh cơ Trung tượng Gia Định, vẫn thuộc quyền quản hạt ở Kinh.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXXIV

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Ât dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 [1825], mùa thu, ngày mồng 1, tháng 7, tế thu hưởng.
    Ban điều cấm về những chữ quốc huý((1) Quốc huý : chữ tên huý của nhà vua, cả nước phải kiêng1.) cho trong ngoài. Khi đọc đến phải tránh ra tiếng khác, khi viết văn phải đổi dùng chữ khác, có 5 chữ :
    1. Bên tả chữ nhật, bên hữu chữ viên (chữ noãn )
    2. Bên tả chữ nhật, bên hữu chữ ương (chữ ánh )
    3. Bên tả chữ hoà, bên hữu chữ trọng (chữ chủng )
    4. Bên tả chữ nhật, bên hữu chữ giao (chữ hiệu )
    5. Bên tả chữ nguyệt, bên hữu chữ chiêm hay chữ đán cũng thế (chữ đởm )
    Ai phạm những chữ ấy thì chiếu luật vi chế mà xử tội nặng nhẹ.
    Khi đọc đến phải tránh ra tiếng khác, khi viết văn phải thêm nét vào, và tên đất tên người đều không được dùng, có 4 chữ :
    1. Bên tả chữ nhật, bên hữu chữ luân (chữ luân )
    2. Bên tả chữ ngọc, bên hữu chữ hoàn (chữ hoàn )
    3. Trên thảo đầu, dưới chữ môn bao chữ giản (chữ lan )
    4. Bên tả chữ ngọc, bên hữu chữ đương (chữ đang )
    Khi đọc phải tránh ra tiếng khác và không được dùng đặt tên người, có 11 chữ :
    Kim , Hoàng , Nguyên , Lan , Tần , Thái , Chu , Thụ , Khoát , Hiểu , Thuần .
    Ai phạm những chữ ấy thì xử theo luật vi chế.
    Rồi lại chuẩn định kiêng tên huý tiên sư Khổng Tử là Khâu , khi đọc thì đọc tránh ra chữ Kỳ, khi viết văn đổi làm chữ .
    Thừa Thiên, Gia Định và Nghệ An thi hương.
    Sai Thượng thư Binh bộ Nguyễn Xuân Thục sung Đề điệu trường Thừa Thiên, Hữu Tham tri Lễ bộ Phan Huy Thực sung Giám thí, Hữu Tham tri Lại bộ Nguyễn Khoa Hào sung Đề điệu trường Gia Định, Ký lục lĩnh Hình tào Gia Định là Trần Bá Kiên sung Giám thí, Hữu Tham tri Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi sung Đề điệu trường Nghệ An, Thông chính sứ Biện lý Lại bộ là Hoàng Quýnh sung Giám thí.
    Mỗi trường cấp cho một lá cờ khâm sai, một bài phụng chỉ. Quan trường khâm phái được cấp cờ bài bắt đầu tự đây.
    Khi danh sách tâu lên, lấy đỗ hương cống 56 người :
    Trường Thừa Thiên 8 người : Nguyễn Tịnh, Lê Huy Côn, Nguyễn Đức Hoạt, Nguyễn Văn, Nguyễn Túc Trưng, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Đức Vĩnh, Hồ Văn Thăng.
    Trường Gia Định 15 người : Trương Phước Cương, Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Hy, Nguyễn Công Nghị, Nguyễn Hậu Tiến, Nguyễn Tòng Chính, Lê Văn Trung, Vương Hữu Quang, Trần Quang Tiến, Đinh Hưng Thiệu, Đặng Văn Chính, Phạm Quang, Nguyễn Nguyên, Đào Trí Phú, Phạm Duy Trinh.
    Trường Nghệ An 33 người : Hà Học Hải, Nguyễn Điều Mai, Lê Luyện,
    Vũ Ngọc Giá, Nguỵ Khắc Thành, Nguyễn Hoằng Nghĩa, Trương Quốc Dụng, Nguyễn Đinh Xưởng, Nguyễn Trọng Dực, Vương Thái Đăng, Nguyễn Liêm, Nguyễn Hoàng Tương, Ngô Sĩ Tùng, Trần Xán, Nguyễn Thành Điển, Nguyễn Khoan, Phạm Tư, Lê Văn Vỹ, Phan Xuân Hy, Hồ Xuân Huyên, Phan Trừng Thanh, Nguyễn Huy Phan, Nguyễn Xuân Cảnh, Nguyễn Huy Thuyên, Bùi Bỉnh, Nguyễn Doãn Trung, Vũ Đức Mẫn, Nguyễn Dụng Bân, Phạm Khắc Tuy, Nguyễn Đức Diệu, Lê Khắc Hài, Vũ Văn Dư, Lê Trọng Thức.
    Vua xem sách tâu của trường Thừa Thiên, học trò Thừa Thiên và Quảng Nam không có một người nào đỗ, sai lục bộ duyệt lại quyển văn, lấy thêm Cao Hữu Dực ở Thừa Thiên và Trương Tăng Diễn ở Quảng Nam làm hương cống.
    Vua lại xem quyển thi trường Nghệ An, người đỗ thứ nhất là Hà Học Hải mà trong quyển viết nhầm Vũ Đinh làm Thành Thang, ý vua không bằng lòng, bảo bộ Lễ rằng : “Danh vọng giải nguyên, học trò ai cũng ngóng trông, Hà Học Hải lầm lẫn như thế sao để ở trên người ta được ?”. Bèn sai duyệt lại. Nhấc người đỗ thứ tư là Vũ Ngọc Giá lên thứ nhất, truất Học Hải xuống thứ tư.
    Vua lại bảo bộ Lễ rằng : “Học trò thi đỗ đã thoát khỏi áo vải, thế mà trước đây mũ áo ban cho hương cống còn dùng vải màu xanh, nên đổi chế bằng là sa nam bắt đầu từ khoá này.
    Có người học trò Quảng Trị là Nguyễn Thiên Điều, kỳ đệ nhất khoa ấy thấy đầu bài khó, đứng đầu xướng xuất, học trò ở vi tả nổi dậy làm ầm lên, muốn nhổ vi đi ra ; ba vi giáp ất và hữu cũng náo động. Quan binh đàn áp mới yên. Việc tâu lên. Vua cả giận, dụ rằng : “Nhà nước vẫn sẵn lòng đãi học trò. Nay gặp thịnh điển kén chọn nhân tài, bọn nó đáng phải tự ganh nhau giùi mài để giãi bày sở học của mình, sao lại có kẻ tối tăm hung ác lẫn lộn vào trong đó, buông tuồng càn bậy như thế ? Nếu không xét trị thì sao thay đổi được thói kiêu bạc ấy ?”. Hạ lệnh cho đường quan lục bộ bắt cả học trò ở vi tả họp lại để xét hỏi. Lại truyền dụ bảo rằng : “Việc làm náo động trường vi, tội ở kẻ thủ xướng, trẫm quyết không vì một hai người ngu tối mà giận lây sang người vô tội đâu. Bọn ngươi nên nói ra người thủ xướng, thì sớm định tội được, khỏi lỡ kỳ thi. Nếu cứ một mực đun đẩy hàm hồ không bao giờ xong thì sẽ bắt giam để xét đến cùng, bấy giờ ma quỷ cũng không trốn thoát, mà thân danh bọn ngươi không thể còn tính đến nữa, về sau có hối cũng không kịp. Nên suy nghĩ mà tự lựa lấy chớ bảo là trẫm không thương”.
    Rồi Thiên Điều thú tội, xử giảo giam hậu, ngoài ra đều tha.
    Quan trường là Nguyễn Xuân Thục và Phan Huy Thực và quan địa phương là Bùi Tăng Huy vì tâu báo chậm trễ bị phạt ; Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo sở tại, và Tế tửu Tư nghiệp Quốc tử giám, đều bị giáng cách theo thứ bậc khác nhau.
    Rồi giảm tội cho Thiên Điều, phát đi làm lính ở cơ Định man.
    Sửa lại miếu Triệu tổ, sai Vệ uý vệ ban trực trung là Nguyễn Văn Cẩn coi công việc.
    Tuyển biền binh ở Hậu vệ dinh Thần cơ sung vào vệ Loan nghi, hạ lệnh ngoài lệ lương tháng chia hạng mà cấp thêm cho tiền gạo theo thứ bậc khác nhau. (Hạng nhất mỗi tháng 5 tiền, 15 bát gạo ; hạng nhì mỗi tháng 5 tiền).
    Năm huyện trấn Hải Dương và trấn Nam Định thuộc Bắc Thành (4 huyện thuộc Hải Dương là Nghi Dương, An lão, Vĩnh Lại, Tiên Minh, 1 huyện thuộc Nam Định là Thuỵ Anh) ruộng vụ chiêm vì nước mặn đất chua có chỗ không cấy được, có chỗ đã cấy lại bị hạn hán làm tổn hại, thành thần đem việc tâu lên. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Các huyện ấy liền năm mất mùa, nay lại có tai riêng như thế, dân ta không khỏi đói kém. Vậy cứ án khám hễ chỗ nào không cấy được thì tha hết thuế cho, 10 phần tổn hại 4 phần thì giảm 2, tổn hại 5 phần thì giảm 3, tổn hại 6 phần thì giảm 4, tổn hại 7 phần thì giảm 5, tổn hại 8 phần trở lên đều miễn cả. Lại số thóc vay của nhà nước mùa thu năm ngoái đều miễn”.
    Lấy Tham tri Binh bộ Nguyễn Khoa Minh làm thự Thượng thư Hình bộ,
    Tham tri Công bộ Trần Văn Tính làm thự Thượng thư Công bộ, Tham tri Lại bộ Trần Lợi Trinh làm thự Thượng thư Lại bộ vẫn kiêm quản Tào chính. Khoa Minh dâng biểu xin từ. Vua không cho.
    Lấy Ký lục Biện lý Hộ bộ là Nguyễn Văn Thục thự Hữu Tham tri Hộ bộ, Ký lục Biện lý Binh bộ là Vũ Huy Đạt thự Hữu Tham tri Binh bộ, Thiêm sự Hộ bộ Biện lý Nội vụ phủ là Hoàng Văn Diễn thăng Thông chính sứ, vẫn quản lý Nội vụ phủ.
    Lấy Thiêm sự Hộ bộ Lê Vạn Công làm Hiệp lý việc dinh Quảng Trị ; Thiêm sự Lễ bộ Ngô Đức Chính làm Thiêm sự Binh bộ sung biện Binh tào Bắc Thành.
    Sai Hữu Tham tri Lễ bộ Phan Huy Thực kiêm quản Hàn lâm viện.
    Lấy Phó vệ uý vệ Hổ oai tả là Vũ Đức Hựu làm Phó vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung, Cai đội Cẩm y là Phan Văn Song làm Phó vệ uý vệ Hổ oai tả.
    Định lệ thưởng tư trang đi lấy chồng cho các hoàng nữ và công nữ. (Con gái Hoàng hậu đi lấy chồng, thưởng cho tư trang 50.000 quan tiền, trưởng công chúa và công chúa đều 30.000 quan, con gái hoàng Thái tử 8.000 quan, con gái các hoàng tử tước công 5.000 quan, cháu gái hoàng Thái tử 3.000 quan, cháu gái các hoàng tử tước công 2.000 quan, con gái trưởng công chúa và con gái các công chúa 3.000 quan).
    Trong kinh kỳ ít mưa, sai Kinh doãn cầu đảo ở đền Thai Dương. Mưa to, làm lễ thái lao((1) Thái lao : lễ tam sinh (trâu, dê, lợn).1) để tạ.
    Đắp thêm tường quanh ở Trai cung đàn Nam Giao.
    Dời dựng nhà công quán (2 toà đều 3 gian 2 chái, ở phía bắc Ngự Hà trong Kinh thành), sai Thừa Thiên thuê dân làm.
    Sai Chưởng cơ Nguyễn Tài Năng đứng coi đóng các hiệu thuyền Uy phượng, Phấn bằng, Thanh dương, Điện dương.
    Gửi sáu hạng đĩnh bạc (từ 1 đồng cân đến 5 đồng cân và 1 lạng) cho các địa phương giữ ở kho làm mẫu. Sắc rằng từ nay việc thu chi của nhà nước và việc buôn bán của dân, đĩnh bạc này cho cùng với đĩnh bạc đã chế ở đời Gia Long đều theo định giá (1 lạng bạc trị giá 3 quan tiền) mà tính toán thông hành ; ai dám gạt bỏ ngăn trở thì xử tội vi chế.
    Lấy Thượng thư Binh bộ Nguyễn Xuân Thục làm Thượng thư Lễ bộ, Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Đoàn Viết Nguyên làm Thượng thư Binh bộ.
    Nội giám Nguyễn Bá Đằng có việc đến nhà riêng Lê Văn Duyệt, nhân đấy có xin đòi. Vua nghe tin, sai bắt Bá Đằng đóng gông trong 1 tháng. Sắc cho nội giám từ nay về sau không được xin đòi ở người ta, nếu phạm thì không kể tang số nhiều ít, đều trị tội nặng.
    Nghệ An và Nam Định có bão, đắm thuyền đổ nhà, dân nhiều người chết đuối. Sai phát tiền gạo cấp cho. (Chết đuối mỗi người cấp 3 quan tiền ; thuyền bị đắm mỗi chiếc 2 quan tiền, 2 phương gạo ; nhà đổ mỗi cái 1 quan tiền, 1 phương gạo).
    Tha giảm thuế cảng cho lái buôn gạo nước ngoài. Nhiều thuyền buôn các xứ Đại Đồng, Chân Côn nước Xiêm và xứ Hạ Châu chở gạo đến bán ở Hà Tiên. Vua nghe tin, chuẩn định rằng từ nay thuyền buôn nước ngoài có chở gạo đến bán thì lượng tha giảm thuế cảng, theo số gạo nhiều ít làm thứ bậc. (Chở gạo từ 8 phần trở lên, được miễn cả thuế ; từ 5 phần trở lên được miễn 7 phần thuế, từ 3 phần trở lên được miễn 5 phần thuế).
    Điều 25 biền binh và 6 thớt voi của tượng cơ Định kiên nhị trấn Bình Định đi thú ở Phú Yên, mỗi năm một lần thay.
    Sai bộ Hộ tư cho Gia Định từ nay hễ tháng nào có việc làm ruộng thì trong tờ sớ tâu báo giá gạo phải nói cả tình trạng mưa nắng hiện tại thế nào.
    Đổi định lệ thuế thuyền buôn ở Hà Tiên. Năm đầu Gia Long lệ định thuyền buôn ở Hà Tiên đi buôn ở các trấn thì cứ chiếu hạng mà đánh thuế, và số cân sắt gang nhà nước mua cũng giống như thuyền nước Xiêm. Đến nay chuẩn lời thành thần Gia Định bàn xin đổi theo như lệ thuyền buôn ở bốn trấn thuộc thành hạt mà thu tiền thuế cảng.
    Tha lệ nộp da nai cho thuyền buôn Gia Định đi buôn ở Nam Vang. (Lệ trước thuyền đi buôn về, thuyền hạng nhất nộp 45 tấm da nai, hạng nhì 30 tấm, hạng ba 15 tấm ; không có da thì nộp thay mỡ bò, thuyền hạng nhất 30 cân, hạng nhì 20 cân, hạng ba 10 cân). Vua thấy thuyền buôn đã có ngạch thuế nên miễn cho.
    Cấp bổng hằng năm cho các nàng hầu ở phủ các hoàng tử tước công (Mỗi phủ có 2 người, mỗi người hằng năm cấp tiền 120 quan, gạo 50 phương).
    Thành thần Gia Định tâu rằng các biền binh Tuần hải đô dinh năm Canh thân theo vua đi đánh giặc, cha mẹ vợ con ở Gia Định đều được cấp lương ăn, nhân tuần đến hơn 20 năm, riêng chịu ơn nước đã nhiều lắm. Trộm nghĩ đó là ơn đặc biệt buổi đầu, không phải lệ phải tuân hành mãi mãi. Từ nay xin đình cấp. Vua cho là phải.
    Sai Vệ uý Hộ lăng trung là Tôn Thất Đạo kiêm quản Tiền vệ.
    Đổi kho Thăng Long ở Bắc Thành làm kho Bắc Thành, kho Thọ Hạc ở Thanh Hoa làm kho Thanh Hoa, kho Trấn Thành ở Quảng Ngãi làm kho Quảng Ngãi.
  • Chia sẻ trang này