0059.045 - @suongdem(done-GD)

26/11/15
0059.045 - @suongdem(done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Tháng 8, Quảng Trị gạo đắt. Sai dinh thần phát thóc kho 10.000 hộc cho dân vay.
    Đặt thêm ngạch quan viên Nội vụ và Vũ Khố. (Nguyên lệ định mỗi Lang trung, Chủ sự, Tư vụ đều 2 người, nay thêm mỗi nơi Lang trung, Chủ sự, Tư vụ đều
    2 người).
    Hiệp lý dinh vụ Quảng Bình là Lê Đường Anh vì làm việc tầm thường phải lui về làm Thiêm sự Binh bộ, lấy Thiêm sự Lễ bộ là Đặng Đức Thiệm thay.
    Chọn trong vệ Thành võ quân Thị nội, cơ Ngũ thuỷ của Thuỷ quân, Tuần hải đô dinh cùng người nước Thanh, người Kinh (thời quốc sơ người Thanh Nghệ theo vào Thuận Hoá, con cháu họ gọi là người Kinh) cùng dân thuỷ thủ ban Lữ Tống (dân các cửa biển ở Thừa Thiên và Tam trực thuộc đường biển gọi là dân thủy thủ), cho theo các hiệu thuyền Thuỵ long, Định dương, Tĩnh dương, An dương, Bình dương, An hải, Thanh hải, sai Chưởng cơ Nguyễn Tài Năng kiêm quản, chia phái đi việc công trên đường biển, chi cấp lương bổng tiền gạo theo thứ bậc. (Hạng nhất mỗi tháng 3 quan tiền 2 phương gạo ; hạng nhì mỗi tháng 2 quan 5 tiền 1 phương gạo ; hạng ba 2 quan tiền 1 phương gạo).
    Có tên lính mới điền ở vệ Tiền bảo nhị tự chặt ngón tay, bộ Hình xin xử theo lệ cố ý tự làm thương tàn để tránh chinh dịch, đánh trượng đóng gông, bắt sung ngũ. Vua sai phát đi sung quân ở thú sở Ai Lao đạo Cam Lộ, đến chỗ bị đày đánh 100 trượng. Từ nay về sau theo lệ ấy mà làm.
    Sai các quân Thị trung Thị nội và Thần sách đóng 40 chiếc thuyền sam bản nhỏ.
    Tù trưởng hai sách thuộc man ở Bình Hoà là Chế Trang và Làng Lồ đem bộ lạc đến đồn Bình Nguyên nộp thuế sáp ong năm nay, lại nói rằng triều đình rộng tha tội trước, khôn xiết mừng rỡ nên đến tạ ơn. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua sai khoản đãi hậu rồi bảo về.
    Sai Đề đốc Kinh thành là Đoàn Văn Trường kiêm quản vệ Giám thành.
    Lấy Thiêm sự Lại bộ Hiệp lý trấn vụ Bình Định là Lê Đăng Doanh làm Thông chính sứ, Biện lý công việc Lại bộ, Thông chính sứ Hoàng Quýnh lĩnh chức Thượng bảo khanh quản lý Văn thư phòng, Thiêm sự Hộ bộ Hoàng Công Tài Hiệp lý trấn vụ Bình Định, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ Hồ Hữu Thẩm làm Quang lộc tự thiếu khanh kiêm quản lý thiện ty, Quang lộc tự thiếu khanh Thái Doãn Tư làm Thái thường tự thiếu khanh.
    Lấy Cai cơ Cẩm y là Hồ Văn Khuê làm Phó vệ uý vệ Long võ hữu.
    Tặng Thượng thư Lễ bộ Đặng Đức Siêu làm Thiếu sư Hiệp biện đại học sĩ, Lưu thủ Phiên Trấn Nguyễn Đức Thịnh làm Thiếu bảo Đô thống chế, cho thuỵ là Đôn cẩn ; đều cho tế một đàn.
    Vua nghĩ nhớ công sư bảo, dụ bộ Lễ rằng : “Đặng Đức Siêu xưa từng phụng mệnh Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta dạy ta đọc sách mấy năm, chỉ bảo cho ta được nhiều, lại giữ tính công bằng trung chính, không thẹn chức phận. Nguyễn Đức Thịnh cũng vâng mệnh Hoàng khảo ta giúp đỡ ta trong 5 năm, là người hiền hoà nên khuyên ta nhiều việc thiện, đến 84 tuổi mới cáo lão về hưu, thực là người từ thiện thì sống lâu vậy. Nay nên gia tặng để tỏ lòng báo đáp tôn kính”. Vợ Đức Thịnh là Phạm thị cũng truy tặng Nhất phẩm phu nhân. Lại tặng thự Tham tri Binh bộ Lê Đại Nghĩa làm Tham tri Binh bộ, Đốc học Quốc tử giám Nguyễn Đăng Tài làm Hàn lâm viện Trực học sĩ, Hàn lâm viện Nguyễn Đăng Vinh, Nguyễn Đăng Thiệp, Phan Đắc lân làm Quang lộc tự khanh, vì bọn Đại Nghĩa đều sung việc giảng tập ở tiềm để.
    Giáng thự Phủ doãn Thừa Thiên là Bùi Tăng Huy làm Lang trung Lại bộ, Phủ thừa Vũ Doãn Đạo làm Lang trung Lễ bộ. Trước đây ở Thừa Thiên xảy ra việc trộm cướp, đã có nghiêm chỉ khiến nã bắt, chưa bắt được hết mà người bắt được lại để lâu không tra kết tội. Vua giận là lười biếng coi thường, giao xuống bộ Hình bàn xử. Bọn Huy bị giáng đổi đi.
    Lấy Ký lục Quảng Nam là Ngô Phước Hội làm Phủ doãn Thừa Thiên, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Công Trứ làm Phủ thừa Thừa Thiên.
    Bắt đầu định phép thi Hương thi Hội. Trước đây thi Hương 6 năm một khoa mà thi Hội thì chưa định. Vua thấy học trò trong ngoài ngày càng nhiều mà triều đình thủ sĩ phải có phép nhất định, bèn định lệ 3 năm một khoa thi, thi hương thì lấy các năm tý mão ngọ dậu, thi Hội thì lấy các năm sửu thìn mùi tuất. Ghi làm lệ.
    Lấy Cai cơ Thần sách là Nguyễn Văn Hưng làm Phó vệ uý vệ Kiện võ.
    Thành thần Gia Định tâu rằng các thợ ở thành có thợ cùng một nghề mà chia làm 3, 4 cục, như Nội hài, Ngoại hài, Nội tô, Tô tượng, Nội tú, Tú tượng, danh hiệu phức tạp. Vả từ năm Tân dậu về trước thì Gia Định là nơi hành tại nên thợ mới chia ra trong và ngoài. Nay đã là thành, há lại cứ theo danh hiệu cũ mãi ? Xin phàm các cục thợ thành hạt, có nghề giống nhau thì dồn lại làm một, những chữ nội ngoại đều bỏ đi để có phân biệt với Kinh sư. Vua y lời tâu.
    Sai bộ Binh tư ngay cho Gia Định hỏi rõ con Nguyễn Hoàng Đức, từ 15 tuổi trở lên thì cho đi đường trạm về Kinh, do bộ dẫn vào ra mắt.
    Chế cấp nhung y cho tam trực Cẩm y, mười vệ Thị trung, bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai quân Thị nội và vệ Nội hầu, vệ Kỳ võ, vệ Thành võ, ba vệ Thị tượng nhất nhị tam, định cứ 5 năm một lần đổi. Ghi làm lệnh.
    Đánh thuế cảng các thuyền buôn nước ngoài đến buôn ở Hà Tiên.
    Cảng Hà Tiên trước không có ngạch thuế, thuyền buôn đều tụ họp ở đấy để tránh thuế. Thành thần Gia Định đem việc tâu lên. Vua sai bộ Hộ hội đồng với các nha Thương bạc, Tào chính bàn định tâu lên. Lời bày tâu lên, cho là nhà nước lập pháp, nghề buôn tất phải đánh thuế. Hà Tiên trước kia mới khỏi tình hình thảo muội, ruộng đất chưa khai khẩn, nhân dân chưa trồng trọt, nên tạm khoan miễn. Nay đã liệt vào sổ hộ cũng là một trấn của thành, sao thuế buôn lại khác được ! Xin từ nay phàm thuyền nước Thanh đến buôn ở Hà Tiên thì chiếu lệ thuế cảng ở thành Gia Định mà đánh. Thuyền nước Xiêm La thì theo lệ năm Gia Long thứ 8 (1809).
    Vua đặc biệt cho đánh thuế thuyền buôn nước Thanh theo lệ thành Gia Định giảm 2 phần 10 ; từ năm Minh Mệnh thứ 10 trở về sau thì giảm 3 phần 10.
    Sai thự Tiền quân Trần Văn Năng quản lý các viên tử tập ấm và ở sổ Hoa danh.
    Sai Chưởng cơ Lê Văn Hoan kiêm quản vệ Thành võ.
    Ngày Giáp tuất, sao chổi mọc ở giới phận sao Mão phía đông nam, đuôi trở về tây bắc.
    Chưởng cơ lĩnh Vệ uý Hậu vệ dinh Hổ oai là Vũ Khánh có tội bị miễn chức. Khánh đi thú ở Thanh Hoa, thường xưng có tật để tránh việc. Vua nghe, sắc cho bộ Binh tư hỏi. Trấn thần tâu rằng : Khánh từ khi đến thú đến giờ nói là có tật ở chân, nên chưa từng sai khiến việc gì.
    Vua dụ rằng : “Kẻ hèn nhát Võ Khánh kia là con của người dũng cảm tài năng kiệt trung tận tiết là quốc công Võ Tánh. Tánh ở thành Bình Định, biết giặc vẫn sợ mình nên cam lòng cố chết giữ thành, cho nên đại binh thẳng tiến lấy được Thần kinh, khôi phục nghiệp cũ. Tánh đem thân chết theo thành, quân giặc vì thế mà mỏi mệt phải vỡ. Xem như thế thì Trương Tuần, Hứa Viễn cũng không sánh được. Bởi vậy Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta luận công cho tập ấm, Khánh mới được dự vào bậc trên, đáng lẽ phải cảm khích phát động lương tâm để mong không hổ đến cha, không ngờ Khánh quen thói ăn ngon mặc tốt, khó bảo làm gì. Nhưng trẫm còn nghĩ đến công người trước mà yêu thương, năm ngoái đã cất làm Chưởng cơ, cho lĩnh binh đi thú, để được kịp thời gắng sức làm việc. Nay cứ lời tâu của Trấn thần thì cũng than thở thực. Nó đã cam chịu thấp hèn, khó bề thúc đẩy, vậy cách chức Chưởng cơ lĩnh Vệ uý Hổ oai hậu vệ, vẫn để nguyên hàm tập ấm khinh xa đô uý”. Bèn hạ lệnh triệt về để phụng thờ Võ Tánh.
    Khánh ở thú sở lại sai riêng vệ binh đi Nghệ An, bị giặc giết chết. Giao cho bộ Binh nghị xử, tội đáng xử sung quân, nhưng bộ thần thấy Khánh là con công thần xin cách hàm tập ấm khinh xa đô uý tạm miễn tội sung quân để toàn di thể của công thần mà còn người thờ, đợi sau này có người nào nên cho tập ấm sẽ xin định đoạt.
    Vua nói rằng : “Lời bàn của bộ, lời nghiêm nghĩa chính, rất hợp ý người ; nhưng nghĩ đến công lao trung liệt của cha Khánh, lòng trẫm không nỡ. Vậy gia ơn đổi giáng làm kiêu kỵ đô uý”.
    Dựng nhà Dưỡng chính đường (Nhà ở bên tả trong cung thành), sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Trọng trông nom công việc. Lại thấy các hoàng tử ra Các ngày một nhiều mà nhà Tập thiện đường thì chật hẹp, khó có chỗ hội giảng, sai Khâm thiên giám và giám thành chọn đất ở trong kinh thành để mở rộng thêm.
    Sao chổi mọc lâu chưa hết.
    Vua rất nghĩ về việc trời răn, bèn lánh nơi chính điện, giảm bớt đồ ăn, bỏ âm nhạc, sắc cho bộ Lễ tư đi các địa phương khiến xét thấy việc gì thì cứ thực bỏ phong bì tâu lên. Một đêm vua đứng ở sân điện Võ Hiển xem sao mãi đến nửa canh một, nhưng mây che không trông thấy, vua mới vào trong cung. Đến sớm vua ngự Tiện điện, triệu đình thần bảo rằng : “Trời xuống tai ương, mình trẫm nên phải đương lấy, chớ để trăm họ mắc phải vạ ấy. Trẫm thấy người xưa gặp có thiên tai thì hay xuống chiếu cầu lời nói phải, nhân nghĩ rằng như trẫm có lỗi thì người đều thấy cả, mà bầy tôi hằng ngày ở tả hữu giúp trẫm đừng làm điều trái, vua tôi như người một nhà, không phải xuống chiếu làm gì. Vậy các quan lớn nhỏ đều nên đem những điều đã thấy nói hết chớ giấu, để giúp trẫm những điều chưa nghĩ tới”.
    Vừa Khâm thiên giám Hoàng Công Dương dâng sớ nói : “Sách xưa có nói : Sao chổi mọc ở khoảng sao Vỵ sao Mão là có tai ương. Lại nói : Mọc ở đông nam trở sang tây bắc thì trong nước được mùa lớn. Xem lời nói phân vân, không lấy gì làm tin lắm”.
    Vua xem sớ, dụ rằng : “Tháng này sao chổi mọc, sau khi trẫm trông thấy thì ăn ngủ không ngon ; ở trong cung thì bớt đồ ăn, bỏ âm nhạc, ngày ra Tiện điện vời hỏi đại thần, nghĩ sâu về đạo sửa mình để ngăn tai vạ mà vẫn chưa được. Vả trời đã tỏ ra tượng ấy, chính là để răn bảo người làm vua. Vậy người làm vua phải nên lo gắng sức thêm lên, sửa đức để cảm động đến trời, mà người làm tôi cũng nên đem hết những điều mắt thấy tai nghe nói hết. Chức phận Khâm thiên giám là chiêm nghiệm tượng trời mà từ lâu không thấy tâu việc gì, nay lại đặt lời nịnh hót như thế để mong đẹp lòng trẫm, chính như Khổng Tử bảo rằng : “Ta dối ai ? dối trời ư ?”. Trẫm xét kỹ sách sử các đời, chưa thấy nói sao chổi là điềm được mùa. Nếu cho sao chổi là điềm hay thì sao sáng mây lành nên giải thích thế nào ? Há cho trẫm là có thể nịnh hót trước mặt được ư ?”. Bèn giao cho bộ Lại bàn xử. Bộ xin xử tội đồ. Đặc biệt giáng làm giám chính Khâm thiên giám, vẫn mang tội cách lưu để làm việc. Thượng thư Nguyễn Hữu Thận cũng vì là quản lý Khâm thiên giám mà bị phạt.
    Rồi sao chổi dần dần mờ đi, đến đầu tháng 11 thì hết.
    Cấp cho Khâm thiên giám ba cái kính chiêm nhật kính((1) Kính xem mặt trời.1) đại thiên lý kính và thiên lý kính((2) Thiên lý kính cũng gọi là viễn vọng kính.2). Dụ rằng : “Từ nay về sau xem xét tượng trời, hết thảy các điều tai hay lành do mắt thấy tai nghe đích xác thì cho cứ thực mật phong tâu ngay. Nếu cứ giữ thói hèn cũ, không phát minh được gì, tất trị tội nặng”.
    Chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội buổi đầu trung hưng được cấp hai sở ruộng (ở thôn Hoà Thuận huyện Kiến Đăng trấn Định Tường), miễn thuế 1 năm, sau hằng năm theo lệ cung nộp. Đến nay vua nghĩ thương người huân lao cũ, sai đem ruộng ấy làm ruộng thờ, cho con cháu đời đời giữ lấy, được tha thuế vĩnh viễn.
    Diên Khánh công Tấn vì việc riêng bắt giam dân phủ Thừa Thiên và sai dịch thuộc phủ, phủ thần đem việc tâu lên. Vua vời Tấn đến, tha thiết quở trách, lại khóc mà dụ rằng : “Dân là gốc nước, dân không yêu mến thì ngươi có thể hưởng giàu sang này được mãi không ? Ngươi đã không cùng chia lo với ta lại làm thêm lo cho ta thì lòng ngươi có yên không ?”. Bèn sai bắt trưởng sử là Hồ Văn Tùng đánh 100 trượng và cách chức sung làm lính phủ. Chưa được bao lâu, Tấn lại sai thuộc binh đi Bình Định bắt con hát bắt càn cả dân thường. Việc phát giác. Vua dụ bầy tôi rằng : “Diên Khánh công trước đã tự ý làm bậy, bị người tham hặc tâu lên, trẫm đã gọi đến nghiêm mắng ; nay còn dám lấy việc nhỏ mọn về ban hát mà làm giấy sai phái đi bắt người ở ngoài làm bùa hộ thân, khinh thường pháp luật. Từ trước đến nay những con em và cháu trẫm, trẫm vẫn trước mặt khuyên răn, bầy tôi cũng đều tai nghe mắt thấy. Ngờ đâu cố tật của Diên Khánh công khó chừa, cứ quen tính nóng nảy làm càn, dẫu trẫm nhiều lần dạy bảo mà vẫn không thể khiến làm điều phải được, nghĩ tới khiến người hổ thẹn toát mồ hôi. Không thể không một phen trừng trị để đổi hẳn tà tâm”. Bèn sai áp giải ngay tên thuộc binh là Nguyễn Văn Pháp đến chỗ phạm tội, chém đầu cho mọi người biết ; 4 người đi theo thì phát đi sung quân ở đồn bảo dọc biên giới Quảng Ngãi. Phạt thân công Tấn 1 năm bổng. Từ đó Tấn mới biết thẹn sợ. Vua biết, đặc biệt khoan tha phạt bổng nửa năm, sai đình thần truyền dụ rằng : “Công nếu biết thay dây đổi dấu, hối hận lỗi trước, thì không những tước lộc được dài lâu, mà tình anh em của trẫm lại càng thân thiết”.
    Phó vệ uý vệ Phấn võ ở Nghệ An là Phan Ngọc Cưu đem quân đi tuần miền thượng đạo huyện Quỳnh Lưu, gặp giặc, Cai đội Phan Văn Bảo bị giặc giết, biền binh nhiều người bị thương và chết. Việc đến tai vua. Ngọc Cưu bị tội phải cách, phát đi hiệu lực ở trước quân để chuộc tội. Người bị thương và chết thì cấp tiền theo thứ bậc khác nhau.
    ở Quảng Trị có giặc cướp. Dinh thần là bọn Nguyễn Văn Nam mật sai đi tra bắt, bắt được hơn 10 tên phạm. Vua khen, sai bộ Lại bàn công, thưởng cho mỗi người 2 thứ kỷ lục.
    Lấy Vệ uý vệ Thần cơ tiền Nguyễn Hữu Khâm làm Vệ uý vệ Nội hầu, Vệ úy vệ Tiền phong tiền là Mai Văn Châu làm Vệ úy vệ Thần cơ tiền.
    Lấy Phó vệ uý vệ Hổ oai trung là Nguyễn Xuân làm Vệ uý, Cai đội Tống Văn Vị làm Phó vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách, Bùi Văn Thu làm Phó vệ uý vệ Toàn võ, Nguyễn Văn Hoặc làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị, Cai cơ Vũ Văn Hảo làm Phó vệ uý Thuỷ quân lĩnh phó quản cơ cơ Tiền thuỷ.
    Cai bạ Vĩnh Thanh là Lê Đại Cương vì trước kia trông coi đào sông Vĩnh Điện ở Quảng Nam, bờ sông vỡ lở bị xử tội đồ. Vua đặc cách gia ơn đổi làm án cách lưu. Bộ Lại tâu rằng án cách lưu trước đây chưa có làm qua, xin nên truy thu hết bằng sắc từ lúc xuất thân đến nay, rồi làm bằng cấp của đình thần phát cho giữ lấy, đợi sau được khai phục sẽ xét phẩm trật mà cấp trả lại. Vua theo. Sau lấy đó làm lệ.
    Vua thấy công việc các kho của Nội vụ có chỗ nhiều việc có chỗ ít việc, sai chia làm ba hạng, cứ lệ lương bổng mà cấp thêm. (Kho gấm đoạn là hạng nhất, Lang trung mỗi tháng cấp tiền 6 quan, Chủ sự 4 quan 5 tiền, Tư vụ 3 quan 4 tiền, Bát phẩm Thư lại 3 quan, Cửu phẩm Thư lại 2 quan 8 tiền. Hai kho chứa áo xiêm bằng hàng Nam là hạng nhì, Tư vụ 3 quan 1 tiền, Cửu phẩm Thư lại 2 quan 5 tiền. Năm kho vàng bạc, dầu nến, đồ sứ, đồ pha lê, thuốc men là hạng ba, Bát phẩm Thư lại 2 quan 4 tiền, Cửu phẩm Thư lại 2 quan 2 tiền, Thư lại vị nhập lưu 1 quan 8 tiền. Thuộc nhân của Y viện 1 quan 5 tiền. Duy có kho diễn tuồng thì vẫn chi cấp như cũ).
    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XXXV
    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 [1825], mùa thu, tháng 9. Thanh Hoa, Bắc Thành và Nam Định mở khoa thi Hương. Sai thự Tả Tham tri Binh bộ là Vũ Huy Đạt sung Đề điệu trường Thanh Hoa, Hàn lâm viện Trực học sĩ Tế tửu Quốc tử giám là Nguyễn Viết Cơ sung Giám thí, Tả Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân sung Đề điệu trường Bắc Thành, Hiệp trấn Sơn Nam là Ngô Huy Viên sung Giám thí, Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh binh tào Bắc Thành là Trần Quang Tĩnh sung Đề điệu trường Nam Định, Ký lục Bình Hoà là Lê Văn Đức sung Giám thí.
    Lệ trước thì quan Toả viện trường thi lấy quan văn trong thuộc hạt sung vào, đến nay đổi dùng quan võ, trường Kinh thì do đình thần cử, các trường khác thì do quan thành trấn chọn quan võ sở thuộc tam tứ phẩm lĩnh việc ấy.
    Khi danh sách dâng lên, lấy đỗ hương cống 72 người. (Trường Thanh Hoa 17 người : Phạm Huy Thục, Lê Duy Đồng, Phạm Dược Như, Vũ Gia Mô, Nguyễn Thố, Triệu Đăng Hựu, Nguyễn Danh Hiển, Phạm Quốc Trinh, Nguyễn Huy Lịch, Trần Nguyên Thiện, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Lý, Nhữ Đình Tố, Lê Đức Tiệm, Lê Danh Đề, Phạm Thân, Lê Khắc Văn. Trường Bắc Thành 28 người : Hoàng Tế Mỹ, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Trực Phượng, Đặng Văn Khải, Tô Trân, Trần Văn Vi, Vũ Phan, Trần Liên Huy, Trần Văn Châu, Nghiêm Danh Soạn, Phùng Kiệt, Ngô Bỉnh Doãn, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Bá Chiêu, Nguyễn Phan Đường, Đào Đức Cơ, Nguyễn Trăn, Vũ Văn Đĩnh, Nguyễn Bá Thản, Đỗ Thanh, Nguyễn Huy Diên, Tô Ngọc Huyền, Nguyễn Chân. Trường Nam Định 27 người : Trần Tú Dĩnh, Phạm Đình Trạc, Đặng Hữu Đức, Trịnh Xuân Xiêm, Đặng Tiến, Nguyễn Khắc Trạch, Phạm Huy Tuyên, Nguyễn Tất Doãn, Nguyễn Văn Diễm, Nguyễn Trữ, Vũ Đình Uyên, Nguyễn Huy Quán, Nguyễn Hữu Bản, Phạm Minh Dực, Bùi Quốc Bảo, Phạm Quốc Trinh, Đỗ Danh Thiếp, Nguyễn Công Hợp, Trần Dự, Nguyễn Diễn, Nguyễn Hữu Dực, Đoàn Huy Tú, Đào Đình Bảo, Tạ Huy Phan, Nguyễn Trọng Tân,Vũ Danh Trì)(() Bản chữ Hán chép tay ghi tên 26 người đỗ trường thi Nam Định.).
    Trường Thanh Hoa có người học trò là Ninh Kế ở Ninh Bình vào thi kỳ đệ nhất, không làm văn mà trong quyển thi lại điều trần đại lược nói rằng khoa mục lấy học trò nên trở lại lối từ chương tao nhã mà đổi thói hẹp hòi về cử nghiệp. Quan trường là Vũ Huy Đạt và Nguyễn Viết Cơ đem việc tâu lên. Vua giao bộ Hình bàn định. Rốt cuộc Kế vì tội càn bậy bị đóng gông trong một tháng, và đánh trượng rồi tha. Bọn Đạt tâu nhàm đều bị phạt.
    Bộ Lễ xét ra trong quyển đỗ hương cống, có quyển Nguyễn Huy Lịch dấu vết đáng ngờ, quyển của Phạm Huy Thục và Nhữ Đình Tố đều có tì vết và lầm lẫn.
    Vua sai truất Huy Lịch, lấy lại mũ đai đã cấp, Thục và Tố thì cho dự thi Hội, không đỗ thì cũng cách về. Quan trường là Vũ Huy Đạt, lấy nguyên hàm Ký lục giáng 2 cấp, vẫn Biện lý Binh bộ, không được mang hàm thự Tham tri nữa ; Nguyễn Viết Cơ cũng giáng 2 cấp.
    Dinh Quảng Trị, mưa lụt to, sông Vĩnh Định có chỗ vỡ lở. Sai dinh thần thuê dân sửa đắp, cấp tiền gạo theo lệ nhân công đào sông.
    Gọi biền binh thuộc Tuần hải đô dinh ở Gia Định về Kinh thao diễn.
    Hạ lệnh cho các quan văn võ ở Kinh đều cử một người mình biết. Bên võ, từ Thống chế trở lên được cử người có thể làm Phó vệ uý, Chánh Phó vệ uý được cử người có thể làm Thành thủ uý ; bên văn thì đường quan lục bộ và ấn quan các nha được cử người có thể làm việc trấn và Thiêm sự, Tri phủ, Thiêm sự các nha lục bộ và quan Quốc tử giám được cử người có thể làm Tri huyện. Cho đều làm tập riêng tâu lên.
    Định ngạch lại ở các phủ huyện và lệ cấp lương. Trước đây từ Nghệ An ra Bắc, ở phủ thì đặt 2 Đề lại, 10 Thông lại, huyện thì đặt 2 Đề lại, 8 Thông lại, từ Quảng Bình vào Nam, chưa đặt phủ, duy huyện thì đặt 1 Đề lại, 2 Thông lại, 6 chính sai, đều không cho lương. Vua nghĩ lại dịch là chức nhỏ thấp không có lộc thì bắt thanh liêm thế nào được, sai đình thần bàn tâu. Lời bàn tâu lên cho rằng hiện nay từ Quảng Bình vào Nam đều đã đặt phủ, Nam Bắc như nhau, vậy Đề lại, Thông lại ở các phủ, huyện xin cho cùng một lệ như Nghệ An ra Bắc, mà bãi chức chính sai, huyện do phủ kiêm lý thì không đặt. Người ở ngạch thì chia ban mà chi lương, mỗi tháng mỗi người cấp tiền 1 quan gạo 1 phương. Lại Cai tổng các tổng đều lệ thuộc các nha phủ huyện để làm việc, xin hễ được thực thụ thì lương cũng như thế.
    Vua y lời bàn. Nhân sắc rằng ở Kinh và ở ngoài những Thư lại vị nhập lưu và Đề lại, Thông lại, Cai tổng từ nay có ai phạm tội tham tang thì cứ xử đoán như đối với người có lộc.
    Đặt thêm một viên miếu thờ ở ty Hữu từ tế (trước đặt 1 người), theo đại sứ là Tôn Thất Điêu để phụng giữ việc thờ ở Thế miếu.
    Cho thự Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Văn Thục đổi bổ thự Hữu Tham tri Binh bộ.
    Chuẩn định từ nay các nha lục bộ gặp vua giao xét việc án, nếu có quan ngại đến người thân hiện làm thượng ty ở trong bộ thì cho hồi tị. Ghi làm lệ.
    Giáng nguyên Ký lục Quảng Bình là Trần Đăng Nghi làm Thiêm sự Lại bộ Biện lý dinh vụ Quảng Nam. Nghi trước ở Quảng Bình, vì thiện tiện chi lận vật hạng công không vào sổ, bị giáng một cấp, đến khi vâng triệu về Kinh lại được phái đi làm duyệt tuyển Ninh Bình, kiểm sát sơ suất lại bị giáng một cấp. Bộ Lại xin cho đợi ngày bổ quan sẽ giáng hai cấp lưu. Vua đặc biệt khiến giáng bổ chức ấy.
    Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Soạn lại dâng biểu xin nghỉ việc trấn. Vua cho. Bèn lấy Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Trương Văn Minh lĩnh Trấn thủ Nghệ An, cấp cho lệ bổng Vọng Các theo phẩm của mình. Soạn thì lấy nguyên hàm Phó đô thống chế về Kinh cung chức.
    Sai Trấn thủ Nam Định là Trương Phước Đặng lấy hàm Thống chế quản lý biền binh Bắc Thành, Vệ uý vệ Long võ tiền là Lê Mậu Cúc làm Trấn thủ Nam Định. Trước đây Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất bị bệnh, tâu xin phái thêm một viên quan võ to để quản nhiếp việc binh. Vua thấy Phước Đặng đã từng Trấn thủ địa phương, lại biết việc binh, nên đặc biệt sai làm.
    Các cơ mộ binh Bắc Thành và Thanh Nghệ đi thú ở Gia Định nhiều người bỏ trốn, không thành cơ đội, thành thần tâu xin dồn 10 cơ Bắc thuận (số người 2.697), làm 5 cơ nhất nhị tam tứ ngũ, mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 50 người ; dồn 3 cơ An thuận (số người 359) làm cơ An thuận thứ hai, cơ gồm 7 đội ; dồn 2 cơ Thanh Hoa (số người 232) làm cơ Thanh Hoa, cơ gồm 5 đội ; mỗi đội đặt Cai đội và phó đội đều 1 người, phó đội thì lấy Cai đội thí sai thừa mà sung vào.
    Vua cho rằng đặt phó đội không phù hợp với lệ các quân, sai cấp bằng làm ngoại uỷ phó đội, đợi Cai đội có thiếu thì thăng bổ.
    Giáng Thông chính sứ lĩnh Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh làm Thượng bảo thiếu khanh, vẫn quản lý Văn thư phòng. Quýnh trước cùng Nguyễn Hựu Nghi vâng mệnh sung làm việc trường thi Nghệ An, ngày tiến trường lấy cớ rằng Đốc học Hồ Trọng Điển nộp quyển thi phần nhiều có tỳ vết sót mất, lại cho riêng học trò thi ăn mặc giả làm người hầu đi lẫn vào, tức thì đuổi ra, sai người mang bài “phụng chỉ” gọi là vương mệnh bài, triệu Phan Bảo Đĩnh là Tư nghiệp hưu trí làm thay công việc ấy ; lại kỳ đệ nhất học trò hơn một trăm người mất quyển kêu van ở ngoài cửa trường, Quýnh cho đến sớm mai tục thi rồi làm sớ tâu lên. Vua bảo bộ Lại rằng : “Theo lời tâu của bọn Quýnh, dẫu việc bởi quyền biến mà làm, nhưng phần nhiều không hợp, như bài phụng chỉ lại gọi là bài vương mệnh, và tự tiện cho học trò tục thi, cử động sao lại khinh suất như thế !” Bèn giao cho bộ nghị xử. Lại ngày tới trấn có Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả thuộc trấn là Nguyễn Tiến Tự lầm trỏ nhà trạm làm công quán, Quýnh đánh rồi làm nhục, Nghi cũng quát mắng theo, bị Trấn thần tham hặc, vua giao cho bộ nghị xử luôn. Đến nay án thành. Bộ xin theo khoản nặng đánh nhục quan chức mà xử tội Nghi giáng 1 cấp lưu, Quýnh là đầu têu giáng 2 cấp đổi đi.
    Triệu Chưởng cơ quản cơ Tứ dực của Thuỷ quân ở Bắc Thành là Nguyễn Văn Hạnh về Kinh. Lấy Vệ uý vệ Hữu bảo nhị là Nguyễn Văn Sử làm Vệ uý Thị nội quản cơ Tứ dực của Thuỷ quân ở Bắc Thành. Khi Sử xin đi, vua cho 50 lạng bạc và dụ rằng : “Số bạc này đủ dùng, ở trong quân không được mảy may bóc lột mà mắc tội lệ”
    Trấn thần Bình Thuận tâu rằng : Phủ lỵ Bình Thuận đặt ở Phan Lang, kiêm lý huyện An Phước, chỗ ấy dân thưa việc ít, không bằng Phố Hài, xin dời phủ lỵ đến đây cho kiêm lý huyện Hoà Đa, An Phước thì đặt riêng Tri huyện. Vua theo lời tâu.
    Định lại phép giảng dạy khảo thí và phân biệt học quan hay dở.
    Vua dụ bộ Lễ : “Trẫm từ khi thân chính đến nay rất lo việc văn trị, để tâm trọng nho thủ sĩ, đã đặt thêm học quan để giúp rèn luyện, lại mở khoa mục để rộng chọn thu. Gần đây nghe nói học thần phần nhiều không được người giỏi, đến nỗi học trò rất ít tiến ích. Đến kỳ thi thì đã có lệ định khảo hạch một lần không khỏi lẫn lộn tạp nhạp, mỗi khi nghĩ đến thực chẳng vui lòng chút nào. Vậy hạ lệnh cho đình thần hết lòng bàn kỹ, phàm phép giảng dạy ngày thường như thế nào có thể đào tạo được nhiều học trò, phép khảo thí như thế nào có thể lấy được thực tài, cùng là cách phân biệt học thần hay dở, định làm điều lệ tâu lên”.
    Đình thần tham chước việc cũ, đề nghị thêm những điều khoản như sau :
    Phép giảng dạy. 1) Giảng dạy hằng ngày : Các Tế tửu Tư nghiệp, Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo giảng dạy ở học đường sở tại, chia ra ngày lẻ, ngày chẵn, trước giảng kinh truyện cho rõ nghĩa lý, sau giảng chính sử cho biết sự tích. Ngày giảng dạy học quan chỉnh tề khăn áo ngồi ở nhà học, học trò cũng chỉnh tề khăn áo phân biệt ngồi yên để tỏ lễ phép ; ai nhác học, hư nết, học kém thì đánh vào áo để làm nhục. 2) Khoá tập hằng tháng : Thường lệ giảng tập ở nhà học, các Tế tửu, Tư nghiệp, Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo, đều ở nhà học sở tại, mỗi tháng lấy ngày 3, 9, 17, 25 ra đầu bài để tập, chiểu theo đầu bài bốn kỳ thi, hoặc xen thêm văn thù phụng, cùng việc đời nay, để cho học trò đều biết qua cả. Đều có yết bảng để tỏ khuyến khích. 3) Kỳ hội khảo : Thường lệ hội khảo thì hằng năm vào trung tuần
  • Chia sẻ trang này