0059.047 - @Chuột Béo(Soát xong, GD)

28/11/15
0059.047 - @Chuột Béo(Soát xong, GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    dân ở trong thành nhà cửa hỗn tạp, người lành kẻ xấu không chia, nếu không sửa lại cho đúng thì làm sao phân biệt cho nghiêm nơi kỳ điện ?” Kinh doãn bèn làm danh sách liệt kê hộ khẩu của cư dân sở tại, xét ra lậu sổ hơn 300 người. Vua sai hai bộ Hộ, Binh bàn định xử trí. Đến nay lời bàn dâng lên, cho rằng Kinh thành là để bảo vệ cung khuyết, bốn mặt đều có nhà quân nhà quan bao bọc, từ trước tới đây nhà ở thành ô, xếp thành đường phố, cốt để người trong nước trông thấy uy nghi mà theo. Gián hoặc có những dân lậu sổ ngu xuẩn nhờ đấy mà giả mạo cho khỏi binh dao, nếu vội khép tội thì thực nhân chính có chỗ không nỡ. Xin cho chiếu xét bọn lậu sổ phát hiện được người nào mạo nhận là lính thì cho biên vào quân ngũ để đương việc sai phái trong quân, người nào mạo nhận là dân thôn ấp thì cho sáp nhập vào dân để đương việc sai phái trong dân, người nào mạo nhận là các hạng tôn thất tử thì ghi là người Kinh, người nào quê quán không rõ thì đưa cho phủ Thừa Thiên sung làm tráng binh, người nào già yếu có tật thì đuổi ra ngoài thành, tuỳ chỗ cho ở yên. Như thế thì người ta biết răn, mà cũng nhờ đó được yên ổn. Từ nay về sau xin lập phép biên xét phường bảo, sai Đề đốc Kinh thành kê tính, một địa phương gọi là phường, đặt một phường trưởng, 10 phường là một bảo, đặt một bảo trưởng, khiến cùng trông nom nhau tuân theo ước thúc, xét kẻ gian nhũng, khuyên giữ nết tốt, hay thì cùng hay, tội thì cùng tội, để được yên chính sách bảo tức(() Bảo tức : giữ cho dân yên để sinh sản nhiều. Chính sách bảo tức có 6 điều : 1) Yêu trẻ. 2) Nuôi người già. 3) Nâng đỡ kẻ cùng khổ. 4) Thương người nghèo. 5) Rộng rãi đối với người có tật. 6) Giữ cho người giàu được yên (theo sách Chu Lễ).). Mỗi năm hai lần biên xét, làm sách tâu lên. Nếu dám dối trá giả mạo, mờ ám lẫn lộn, thì trừng trị theo luật.
    Vua theo lời bàn. Rồi lại chuẩn rằng từ nay hễ hằng năm biên xét tra ra người lậu sổ mà quê quán ở Thừa Thiên và Tam trực thì theo lệ đưa về ; nếu quê quán ở các thành trấn đạo xa thì đều bắt làm binh ở phủ Thừa Thiên.
    Triệu Ký lục Bình Thuận là Bùi Đức Mân về Kinh.
    Quản phủ phủ Thiên Phước ở Bắc Thành là Trần Văn Nghĩa và Quản phủ phủ Vĩnh Tường là Trần Đình Di đem binh đi tuần xét, bắt được tướng giặc là Nguyễn Viết Ngột và Bùi Văn Tạ đem giết. Vua thưởng cho bọn Nghĩa 1 thứ quân công kỷ lục và thưởng cho biền binh bạc tiền theo thứ bậc khác nhau.
    Huyện Chương Đức trấn Sơn Nam có bọn giặc hơn 800 người quấy cướp ở Chúc Sơn, Huyện thừa là Trần Quang Chiếu đem thủ hạ và dân phu đuổi bắt, bị giặc bắn chết. Việc đến tai vua. Vua khen, tặng chức Tri huyện, cấp thêm tiền tuất 50 quan.
    Lấy Vệ uý Thị nội là Tống Phước Thảo làm quản lý biền binh hai đài Điện Hải, Định Hải, kiêm lĩnh Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng.
    Triệu Thống quản thập cơ Chấn định của Trung quân là Đỗ Văn Trà về Kinh, đợi chỉ chọn dùng.
    Lấy Phó vệ uý vệ Trung nhất quân Thị trung là Trần Văn Lộc làm Phó thống Trung quân, Cai đội thập cơ Chấn định là Hoàng Văn ẩn làm Phó vệ uý vệ Trung nhất quân Thị trung.
    Cho lính cơ Định man đạo Cam Lộ thu ba sở quan thuế Hiếu Giang, Ngưu Cước và Mậu Hoà. Ba sở ấy hằng năm thường cho dân lĩnh trưng. Vua nghĩ rằng lính đóng thú sống vất vả, cho thu thuế ấy, định mỗi năm phải nộp 1.000 quan, còn thừa thì quân cấp cho đều, nếu đánh quá mức làm nhiễu người buôn thì phải tội.
    Lúa vụ mùa ở Cao Bằng mất, quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Cho thóc thuế vụ đông một nửa nộp thay bằng tiền, gạo lương ở trấn cũng cho chiết cấp bằng tiền.
    Bắt đầu đặt huyện Hà Tiên, lĩnh 2 tổng (Hà Thanh và Hà Nhuận). Trấn lỵ Hà Tiên và các xã thôn phố sách phụ cận năm trước đã đăng sổ hộ mà chưa đặt huyện tổng, thành thần Gia Định tâu xin nên đặt.
    Chuẩn định từ nay phàm các nha ở Kinh và ở ngoại được cấp ấn triện quan phòng, đồ ký và kiềm cái lâu ngày có mòn hư, nếu chất bằng đồng bằng ngà thì tâu xin cấp cho cái khác, còn chất bằng gỗ thì ở Kinh bên văn do bộ Lại bên võ do bộ Binh, ở ngoài do thượng ty, theo như kiểu mẫu mà làm để cấp. Ghi làm lệnh.
    Đốc học Định Tường là Nguyễn Hiếu Đức bị bệnh, lấy Tri phủ Định Viễn là Phan Hữu Tính làm Phó đốc học Định Tường.
    Phú Yên mưa lụt to, núi Bà Sơn lở, nhiều nhà dân đổ hư, có người bị chết đè và chết đuối, sai phát chẩn.
    Đắp đê công ở xã An Lưu (thuộc huyện Phú Vang phủ Thừa Thiên), miễn phu dịch cho 6 người dân sở tại, sai giữ gìn để ngăn nước thuỷ triều.
    Đổi bổ Thiêm sự Binh bộ là Lê Đường Anh làm Hàn lâm viện Thị độc học sĩ, Phó đốc học Phiên An là Vũ Quang Gia làm Hàn lâm viện Thị giảng, đều sung chức giảng tập ở Dưỡng chính đường.
    Nguyễn Khắc Tiệp Vệ uý vệ Tuyển phong hữu trấn Thanh Hoa đem đi bắt giặc, bắt chém rất nhiều. Thưởng cho 1 thứ quân công kỷ lục và áo chiến bào trang sức bằng đoạn, các biền binh thì thưởng 300 quan tiền.
    Dồn 10 đội của cơ Định man đạo Cam Lộ làm 8 đội, từ đội 1 đến đội 8 ; lấy binh đội Hoá thiện bổ làm hai đội 9 và 10. Trước đây các tù phạm đi đày ở thú sở Ai Lao có hơn 80 người, sai dồn làm hai đội Hoá thiện nhất và nhị, danh sách tâu lên, chỉ có một người trốn. Vua thấy đã biết hối tội, rất khen. Sai đổi bổ làm cơ Định man, hằng tháng cấp lương theo lệ.
    Lấy Chưởng cơ quản vệ Phấn dực Nội thuỷ là Nguyễn Tài Năng làm thự Thống chế Thuỷ quân, Vệ uý quản cơ Hậu thuỷ là Nguyễn Văn Phong làm Vệ uý vệ Phấn dực Nội thuỷ, Cai đội Cẩm y là Đoàn Dưỡng làm Phó vệ uý, Cai đội Thị nội là Trương Văn Hậu làm Phó vệ uý vệ Tiền phong tả.
    Đặt hai vệ Long thao và Hổ lược, quản Vệ uý vệ trật Chánh tam phẩm, Phó vệ uý trật Tòng tam phẩm. Lấy Phó vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung là Vũ Đức Hựu làm Vệ uý vệ Long thao, Cai đội Cẩm y là Trần Văn Vân làm Phó vệ uý vệ Hổ lược, Cai đội Tống Văn Tự làm Phó vệ uý .
    Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất vì tang mẹ xin nghỉ việc thành về sửa sang việc tang. Vua y cho và bảo hãy đợi chọn được người thay, rồi cứ giữ hàm Chưởng Hậu quân về quán để tang. Lại sai phát tiền gấm vải cấp cho gia đình. Hoàng thái hậu nghe tin cũng cho 3 cây gấm Tống và 50 lạng bạc.
    Lấy Thượng thư Hộ bộ là Nguyễn Hữu Thận làm Hiệp biện đại học sĩ lĩnh hiệp Tổng trấn Bắc Thành.
    Vua trước bàn muốn lấy Phó đô thống chế Phan Văn Thuý làm Phó tổng trấn, Thuý cố từ, bèn sai Thận và cho 1.000 quan tiền, phái kinh binh 200 người đưa đi. Lại nghĩ Thận già cả, sai con là Gia lấy hàm Hàn lâm Biên tu đi theo. Thận tâu nói Gia đã có chức vụ, không dám lấy tình riêng hại nghĩa công. Bèn thôi.
    Lấy Thượng bảo Thiếu khanh Hoàng Quýnh làm Thượng bảo khanh, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ Hồ Hữu Thẩm làm Hồng lô Tự khanh, thự Quang lộc Tự khanh.
    Lấy Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định là Nguyễn Đăng Huyên làm thự Thống chế dinh Hổ oai, Chưởng cơ Nguyễn Văn Trọng lĩnh Trấn thủ Bình Định.
    Đổi bổ Lưu thủ Quảng Trị là Nguyễn Văn Nam làm Vệ uý vệ Thành võ, kiêm quản các tượng cơ Dũng thịnh và Tiền Tả Hữu hùng.
    Lấy Lưu thủ Quảng Nam là Phạm Văn Tín làm Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Trị.
    Lấy Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Phan Văn Thuý làm Đô thống chế dinh Long võ quân Thị nội kiêm quản các đội Tả Hữu vệ và Hoàng kiếm, Thống chế Tượng quân là Đoàn Đức Luận làm Thống chế dinh Thần cơ, Chưởng cơ Lê Văn Hoan làm thự Thống chế Tượng quân quản vệ Hùng cự và cơ Ngũ kích, Thống chế dinh Tiền phong quân Thị nội là Trần Đăng Long làm Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách kiêm quản công việc Vũ Khố.
    Lấy Vệ uý vệ Hùng cự nhị của Tượng quân là Tống Văn Sở làm Vệ uý vệ Long võ hữu, Phó vệ uý vệ Long võ hữu là Hồ Văn Khuê làm Phó vệ uý Trung vệ, kiêm quản đội Dực võ, Phó vệ uý vệ Tráng võ quân Thần sách là Lê Văn Thường làm Vệ uý vệ Túc võ, Phó vệ uý vệ Ban trực tiền là Nguyễn Văn Khoa làm Phó vệ uý vệ Hổ oai tiền, Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất là Ngô Tiến Đức làm Phó vệ uý vệ Tráng võ, Cai đội Thị trung là Nguyễn Văn Kỳ làm Phó vệ uý vệ Ban trực tiền, Giả Tiến Chiêm làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất, Phó vệ uý vệ Tiền phong trung là Phạm Phú Chung làm Phó vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung, Phó vệ uý vệ Long thao là Trần Văn Vân làm Phó vệ uý vệ Tiền phong trung, Phó quản cơ Trần Văn Hựu làm Phó vệ uý vệ Long thao, Quản cơ Nguyễn Văn Hợp làm Vệ uý vệ Tiền bảo nhất, Hồ Văn Vân làm Vệ uý vệ Hữu bảo nhị, Phó vệ uý vệ Minh võ quân Thần sách là Tống Văn Trị làm Phó vệ uý vệ Quảng võ, Phó vệ uý vệ Quảng võ là Tống Viết Trì làm Phó vệ uý vệ Minh võ.
    Sai Vệ uý vệ Long võ trung là Nguyễn Tăng Minh quản các đội Trường trực, Thường trực vệ Cẩm y, Vệ uý vệ Thần cơ trung là Trương Công Tuyên kiêm quản hai kho súng ống và thuốc đạn.
    Thành Gia Định dâng sổ binh, Lang trung Binh tào là Bùi Phụ Đạo đóng ký triện ngược. Vua giao bộ nghị xử. Tổng trấn Lê Văn Duyệt cho là lỗi mình không trông nom nên dâng biểu tự hặc và xin cũng giao cho bộ bàn để răn Tào thần. Vua dụ bầy tôi rằng : “Trẫm nghĩ việc dụng hình là việc thánh nhân không thôi được, mà tha lỗi là lòng rất nhân của vương giả ; sự lầm lẫn nhỏ ấy đã bắt tội kẻ làm, người khác đã biết cử ra thì đều được miễn, như thế đã không hại cho pháp mà cũng không thất về ân. Huống chi chức lớn thì trách nhiệm nặng, Duyệt là bậc đại thần ở nơi bờ cõi, phàm trong hạt việc lợi thì làm, việc hại thì bỏ, người có tài thì tiến lên, người không tài thì bãi đi, khiến quan lại được xứng chức, nhân dân được yên nghiệp, như thế thì quan to sợ phép, quan nhỏ giữ liêm, ai là không biết khuyên răn, phép làm cho quan lại trong sạch như thế chẳng là đẹp tốt sao ? Điều mà trẫm đòi ở Duyệt là ở đó, mà Duyệt làm được xứng chức cũng là ở đó, há phải lấy chuyện sổ sách nhỏ nhặt mà bàn đến đại viên thì mới răn bảo được người sao ? Vậy miễn cho !”.
    Lại thấy các viên dịch chuyên làm việc sớ sách ở các nha khi thì đóng triện, khi thì ký tên, bèn chuẩn lời bàn của đình thần, hạ lệnh đều dùng chữ ký để cho hoạch nhất.
    Tham hiệp Ninh Bình là Vũ Trọng Đại có tội bị miễn chức. Trước đây việc đắp thành, các văn võ thuộc thông đồng lấy trộm tiền thóc công, đến nay việc phát, sai Trấn thần Thanh Hoa tra xét. Đại vì thất sát phải giải chức đợi xét. án thành, bị giáng một cấp đổi đi ; Đại lại bị can nhiều án, giáng đến năm cấp, bèn cách chức cho theo làm hành tẩu ở bộ Lại.
    Lấy Lang trung Hình bộ là Trương Hảo Hợp làm Tham hiệp Thái Nguyên. Trước đây chức Tham hiệp Ninh Bình thiếu, vua muốn cho Hảo Hợp làm, nhưng thự Thượng thư Lại bộ Trần Lợi Trinh nói rằng Hảo Hợp tuổi còn trẻ, không kham ở chỗ phiền phức khó khăn, bèn đổi bổ.
    Giáng bổ cựu Cai bạ Phiên An là Phạm Đình Tích làm Tham hiệp Ninh Bình. Tích trước ở Phiên An, vì bệnh cáo về, rồi vì trước làm Biện lý Hình tào Bắc Thành tự tiện nhận đơn kiện, đòi người xét hỏi lan man, bị đình nghị giáng 2 cấp lưu, đến nay khỏi bệnh tới Kinh, vua đặc biệt cho giáng bổ chức này.
    Thành thần Gia Định tâu rằng sổ đinh biệt nạp của thành hạt chỉ có bốn hạng là tráng hạng, dân đinh, lão hạng và tàn tật thôi mà dân Minh Hương lại có cùng hạng được miễn thuế. Phàm 10 người cho 1 người cùng hạng là lệ của dân thực nạp. Nay dân Minh Hương cũng là dân biệt nạp như dân biệt nạp khác, há nên có riêng nặng riêng nhẹ khác nhau. Xin phàm cùng hạng ở đều đem hết làm tráng hạng mà đánh thuế như lệ.
    Vua theo lời xin. Người Minh Hương ở Quảng Nam cũng sai theo lệ ấy mà thi hành.
    Diễn trận voi ở trước lầu Phu Văn. Vua ngự đến xem.
    Sai Hữu Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực kiêm lĩnh công việc Khâm thiên giám.
    Thự Tả Tham tri Binh bộ là Nguyễn Văn Thục chết ; tặng Tham tri, cho 200 quan tiền, 1 cây gấm Tống. Khi chôn cho thêm 100 quan tiền.
    Một chiếc thuyền giặc Chà Và cướp Hòn Rái thuộc Hà Tiên, Đội trưởng các đội An hải, Thanh châu là Hoàng Văn Trinh đem ba chiếc thuyền binh đuổi bắt, chém được vài đầu giặc, còn thì nhảy xuống nước chết. Thành thần đem tình trạng tâu lên, xin theo lệ năm Minh Mệnh thứ 3 thưởng Đội trưởng Nguyễn Văn Sương có công bắt giặc biển mà cất trao chức hàm để nêu thưởng. Vua sai bộ Hình bàn tâu, cho rằng Nguyễn Văn Sương lấy số ít địch số nhiều thì công mới đáng ghi, nay bọn Trinh lấy số nhiều đánh số ít thì không nên thưởng lạm. Bèn thôi. Cho Trinh làm Chánh đội trưởng ; binh lính thì thưởng cho 100 quan tiền.
    Tháng 12, ở Nghệ An và Bắc Thành ít mưa.
    Chế cấp ấn đồng cho bốn dinh Long võ, Hổ oai, Thần cơ, Tiền phong quân Thị nội và năm dinh Trung Tiền Hậu Tả hữu quân Thần sách, ấn quan phòng bằng bạc cho Đô thống chế bốn dinh quân Thị nội, ấn đồng và kiềm ngà cho Thống chế Thuỷ quân, đồ ký đồng và kiềm gỗ cho hai vệ Long thao và Hổ lược. Còn đồng chương cấp cho Đô thống chế năm dinh quân Thần sách và ấn đồng cấp cho Thống chế bốn dinh quân Thị nội trước thì sai Văn thư phòng thu giữ.
    Ra lệnh cho các dinh vệ cơ đội kinh binh (vệ Nội hầu, 10 vệ Thị trung, 4 dinh Thị nội, hai vệ Kỳ võ và Thành võ, 5 vệ Ban trực, các vệ Trung bảo, Tiền bảo, Hữu bảo nhất nhị, hai vệ Hùng cự, vệ Phấn dực, cơ Ngũ thuỷ, các đội Tiểu hầu, Lục kiên, Dực tiệp, Tráng sai, Chiến sai, Tiền sai, các đội Cường tráng Thừa Thiên, các ty Lý thiện), ở lại ban để sung việc sai phái, duy có ai mắc bệnh mới cho về.
    Thự Tham tri Binh tào thành Gia Định là Lê Hy có bệnh xin nghỉ ; sai Thiêm sự Binh bộ là Bùi Phổ hiệp lý việc trấn Phiên An quyền biện Binh tào.
    Lấy Cai đội Trần Hưng Đạo và Trần Hưng Hoà làm Cai cơ viện Thượng trà. Vua thấy bọn Đạo là họ ngoại, không muốn cho coi binh làm việc, chỉ bổ cho chức rỗi.
    Bộ Lại tâu rằng : Chức Tri huyện rất quan hệ cho dân xã, phép lọc chọn phải phân biệt hay dở. Nay Tri huyện các hạt có tới 20 người tại chức 6 năm trở lên, 19 năm trở xuống, xin sai thượng ty sở tại xét xem có tài hay không, cứ thực tâu lên. Vua nghe theo. Đến khi tâu dâng lên, người nào thanh liêm siêng năng thì vẫn lưu làm việc, người nào tầm thường thì bắt về hưu.
    Dồn dân hai xã Phù Bài và Thuỷ Ba làm 10 đội của vệ Võng thành, xếp ở dưới quân Thị nội. (Phù Bài 426 người, bổ làm 8 đội, từ 1 đến 8 ; Thuỷ Ba 79 người, bổ làm 2 đội 9 và 10).
    Định lại lệ thử thóc nộp thuế. Từ trước đến nay ở Kinh và ở ngoài thu thuế, đã định lấy 1 thăng thóc đổ vào nước nổi lên 2 thược làm chuẩn. Vua dụ rằng : “Hiện nay việc chứa cất mỗi năm một thêm, dân gian đều vui lòng nộp ; theo phép cũ thực đã hay rồi, hoặc có cách gì khác hay hơn, để cho thóc kho chứa lâu không hao mà trưng thu cũng không hại cho dân, có thể làm lâu dài mà không sinh tệ, thì cho đình thần và Thiêm sự sáu bộ tỏ bày ý kiến tâu lên”.
    Khi tấu lên, có người xin thử bằng nước, có người xin thử bằng cách xay ra gạo.
    Vua nói rằng : “Phép thử bằng gạo không phải là không hay, nhưng phải dùng nhiều nhân công và đồ làm, không phải là cách thông thường giản dị ; nếu thử bằng nước thì ném thóc vào là chìm nổi rõ ngay, người coi kho cũng khó dở trò khôn khéo được. Huống chi cách ấy thi hành đã lâu, tình người vẫn yên, nếu lượng tính thêm số thóc nổi để tiện cho dân thì cũng có thể không sinh tệ”. Bèn định bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), hễ thu thóc thuế thì theo phép thử bằng nước, cho một thăng thóc nổi 3 thược là hợp phép ; những người coi kho và lính kho mà làm khó dễ thì xử tội vi chế ; xã dân dám đem thóc đã ngâm nước nộp lẫn vào thì cũng bắt tội.
    Miễn cho thự Thống chế là Lê Văn Hoan và Nguyễn Tài Năng khỏi dự đình nghị. Vì hai người xuất thân ở hàng ngũ, chính thể chưa quen nên miễn cho.
    Khởi phục cho Lê Đạo Quảng làm Lang trung Binh bộ, Đạo Quảng trước đây cùng bộ trưởng nói xấu nhau, phải giáng làm học chính, đến nay được khởi phục mà dùng.
    Chuẩn định hằng năm, trong ba đêm tiết Nguyên đán, ở ngoài cửa Hữu Túc mỗi khắc phóng 10 phát ống lệnh, mỗi phát 5 đồng 5 phân thuốc nổ. Ghi làm lệ. (Lệ trước mỗi khắc phóng 2 phát ống lệnh).
    Sai thự Thiêm sự Hộ bộ là Trần Văn Chiêu đổng lý việc thanh tra các trấn ở Bắc Thành.
    Lấy Hiệp trấn Cao Bằng là Trần Văn Thông làm Hiệp trấn Hưng Hoá.
    Lấy Hàn lâm viện Thị độc sung tán thiện là Hoàng Văn Đản làm Thiêm sự Lại bộ, Đốc học Phú Yên là Phạm Vũ Phác làm Thiêm sự Lễ bộ, Tri phủ Đoan Hùng là Bùi Tuấn Tuyển làm Đốc học Phú Yên.
    Chuẩn định từ nay án các thành dinh trấn tâu lên, chỉ có việc cướp lớn khẩn yếu thì cho tâu ngay, còn các án về trộm thường và nhân mạng thì đến cuối tháng 11 gửi đến bộ. Làm trái thì tờ tâu bị bác. Ghi làm lệ.
    Triệu Thiêm sự Binh bộ Biện lý trấn vụ Bình Thuận là Thái Bá Hạc về Kinh. Cho Phạm Quang Nghiêm làm Thiêm sự Công bộ hiệp trấn vụ Bình Thuận.
    Đổi cửa biển Yên Cương (Hòn Khói) ở Bình Hoà làm cửa tấn Vân Phong, vụng La Gàn ở Bình Thuận làm vụng La Hàn.
    Ngày Giáp tý, vua yết lăng.
    Định lệ dâng các thứ hương về các lễ tiết tế hưởng. (Từ trước gặp các lễ tiết ở các miếu và điện Hoàng Nhân, khi làm lễ xong, các thứ hương trầm, bạch đàn và giấy vàng bạc đều đem ra chỗ lò đốt để đốt ; đến nay thấy các án thờ ở miếu điện đều đã có đặt lư hương đồng, nên đúc thêm 4 con thú đồng đặt ở dưới thềm, gian giữa Thái miếu và Thế miếu, mỗi nơi 2 con. Thường năm, về năm lễ hưởng ở Thái miếu thì mỗi lễ trầm hương 2 cân, tốc hương 1 cân, bạch đàn hương 3 cân ; lễ tiết Chính đán và Đoan dương thì mỗi lễ trầm hương 1 cân, tốc hương 8 lạng, bạch đàn hương 1 cân 8 lạng ; năm lễ hưởng ở Thế miếu thì mỗi lễ trầm hương và tốc hương đều 8 lạng, bạch đàn hương 1 cân ; lễ hai tiết Chính đán và Đoan dương thì mỗi lễ trầm hương, tốc hương đều 4 lạng, bạch đàn hương 8 lạng ; năm lễ hưởng ở Triệu miếu và Hưng miếu, thì mỗi lễ trầm hương, tốc hương đều 2 lạng, bạch đàn hương 4 lạng ; lễ hai tiết Chính đán và Đoan dương thì mỗi lễ trầm hương, tốc hương đều 1 lạng, bạch đàn hương 2 lạng, hai lễ kỵ ở điện Hoàng Nhân thì mỗi lễ trầm hương, tốc hương đều 8 lạng, bạch đàn hương 1 cân ; lễ hai tiết Chính đán và Đoan dương thì mỗi lễ trầm hương, tốc hương đều 4 lạng, bạch đàn hương 8 lạng. Đều cắt từng mảnh, trộn lẫn cho đều, bỏ vào lư đồng và thú đồng để đốt).
    Ngày Đinh mão, lễ hợp hưởng ; gặp mưa rét, thưởng cho các viên chấp sự và bồi tế theo thứ bậc.
    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Các xã dân trong hạt thành nộp thuế biệt nạp bằng lụa mộc, vải trắng, sại nam có nơi chỉ một nửa làm nghề dệt cửi, có nơi hết thảy đều làm ruộng mà phải nộp thuế ấy, lâu đã thành ngạch. Khoảng năm Gia Long, lệ định có thứ hàng ấy thì nộp hàng ấy, nếu không có thì chi nộp thay bằng tiền. Từ năm Minh Mệnh thứ 4 về sau đều thu bằng hàng, dân phải mua để nộp rất là khó khăn, xin cho theo lệ trước”.
    Vua sai bộ Hộ bàn định tâu lên. Cho là nhà nước lấy của dân đã có phép sẵn. Dân Bắc Thành chịu phần đi lính thì định phép 7 người lấy 1 người, mà cung nộp thuế thân ; người có thổ sản thì định làm phép thuế biệt nạp thổ sản mà cho miễn binh dao. Họ đã xưng là biệt nạp mà lại xin nộp thay bằng tiền thì danh nghĩa biệt nạp là thế nào ? Xin từ năm Minh Mệnh thứ 6 trở về còn từ năm thứ 7 trở đi thì nên cứ hàng mà thu, nếu không dệt được thì bỏ ngạch đi để cùng với dân huyện chịu binh đao và thuế thân.
    Vua nghe theo.
    Tế tửu Quốc tử giám là Phan Bảo Đĩnh dâng sớ điều trần 5 việc.
    1) Mở nhà giảng sách : Nay ngửa thấy Hoàng thượng tư trời thông minh, đức sáng ngày mới, không thích chơi xem, không mê trò vui, cứ hằng tháng ngày lẻ thì coi việc, đã sớm lại chiều, tiếp đến buổi tối. Lại khi rỗi việc rộng xem kinh sử, vui thú văn chương, rất là chăm chỉ, thần xin nhân đấy mà gắng lấy sự học nên thánh của các đế vương, lại có khó gì ! Thần nghe rằng việc là lý hữu hình mà lý là việc vô hình ; tìm cho hết lý để làm việc, gặp việc mà thấu hết lý. Thần cúi xin mở Kinh diên, đặt giảng quan, lấy ngày chẵn giảng sách thánh nhân, phàm trong sách có chép đến mối lớn pháp lớn của các đế vương trị thiên hạ, thì giảng xét cho rõ ràng. Hoàng thượng ta yên lặng ngồi cao, chăm chú lắng nghe, tinh thần mà nhận lấy được, để suy từ đạo lớn của đế vương trị thiên hạ mà làm phép lớn của đế vương trị thiên hạ, như thế thì trị nước phải đạo mà nước chắc là thịnh, công hiệu thịnh trị thái bình có thể ngồi mà thu được.
    2) Trừ giặc cướp : Gần đây sao chổi hiện, sắc còn mờ tối không rõ hình sao chổi lắm, ý giả là tượng giặc cỏ quấy dân thôi, nếu không quét trước đi thì thế giặc lan thêm, chưa dễ ngăn được. Nay những giặc cỏ ở ven núi so với thế lực của quan quân cách xa lắm, thế mà chúng vẫn hoành hành cướp bóc, quan quân không làm gì được. Là vì bọn kia ngày đêm chỉ có một việc mưu toan cướp bóc, việc có một, lòng lại chăm, dẫu là bạo ngược làm càn mà vẫn được như ý. Các quan trấn thì việc nhiều, lòng bận, biết có trộm cướp hoành hành mà không chuyên việc bắt ngừa, nơi nào có phát thì đến lúc đó mới sai bắt, qua rồi lại thôi, mà người sai phái thì tướng có ý tướng, quân có tình quân, không thông thuộc nhau, hoặc đuổi bắt, hoặc đóng giữ, chưa khỏi lòng còn trông ngóng, hoặc nhân cớ khác gọi về, hoặc nhân lần lượt thay đổi, uổng phí lương ăn, không được việc gì. Thần ngu cho rằng công việc ở trấn đã có Hiệp trấn Tham hiệp làm, trấn viên thì nên chuyên chủ việc cầm phòng, chỗ nào là sào huyệt của giặc cướp thì thân đem binh đến đóng giữ đất ấy, một là để triệt hết bè đảng nó, hai là để hết lương thực nó, rồi sai thuộc tướng đuổi tìm bắt. Thưởng phạt nhẹ nặng, lệnh xuống là phải làm, thì tướng tá ai còn dám rụt rè, quân sĩ ai còn dám lìa tan. Như thế thì bọn giặc trốn tránh trong cỏ rậm chẳng qua vài tháng là tan hết. Nếu trấn viên không chịu tự sức làm việc thì ghép vào tội không xứng chức, tìm người dũng lược để thay, phải sao hết giặc yên dân mới thôi.
    3) Nghiêm răn tham tang hối lộ : Việc tham tang hối lộ từ xưa răn bảo rất rõ. Như Trương Vũ nhà Hán là công thần ở tiềm để, nhận hối lộ thì ban cho tiền vàng để cho tự biết thẹn ; Thuận Đức nhà Đường là công thần khai quốc nhận của biếu thì cho lụa để tự biết nhục ; đời Khai Bảo nhà Tống, những kẻ phạm tội tử mà không phải tình lý quá hại thì đều tha tội chết, duy quan lại tham tang thì chém bỏ chợ, thế cho biết quan lại tham tang là sâu mọt hại nước quá lắm, há lại nhu nhơ không trị để cho ngày càng sinh tệ ư ? Thần trộm nghĩ là để cho ngay gốc trong nguồn, triều đình đã định pháp thức. Đến như thi hành chính sự, như việc trường tuyển duyệt, thì dân tình ai cũng muốn tránh chỗ nặng tới chỗ nhẹ, tất đến thông hành hối lộ, không thể không trước răn bảo nghiêm ngặt các thú mục. Việc trường thi, thì học trò có thói quen nóng lòng cầu tiến, tất đến đua nhau đút lót, không thể không trước phải cẩn thận việc tuyển lựa quan trường. Còn như việc thuyên tuyển hay sung bổ, về khoa trường thì có kẻ trước người sau, về tuổi tác thì có kẻ nhiều người ít, về trải làm thì có kẻ lâu người chóng, sự trạng hơn kém, dẫu khi bảo cử đã có cung kết đáng làm bằng, nhưng xét công mà thăng giáng phải có định hạn, không nên bỏ qua, như thế thì tham tang hối lộ không còn chỗ mà thi hành. Lại nghiêm đặt các điều cấm, phàm người nhận hối lộ mà cáo phát tội người đưa hối lộ thì được thưởng không kể thứ bậc, người đưa hối lộ mà cáo phát tội người ăn hối lộ thì cách thưởng cũng như thế, thế thì việc tham tang hối lộ không dám làm nữa, quan sẽ xứng chức, dân được nhờ ơn, công hiệu thái bình có thể dần dần đến được.
    4) Định lại việc cấm đánh bạc : Cuộc chơi bời đánh bạc, việc như là nhẹ mà hại rất nhiều. Thần từng thấy từ Thanh Nghệ trở ra Bắc, quan sinh ra tham nhũng, lại sinh ra gian giảo, học trò đều bỏ học, dân đều thất nghiệp làm cướp làm giặc, phần nhiều bởi đó mà ra. Từ trước đến nay có lệnh cấm mà không có lệnh tha, thực là phải lắm. Nay xin nhất thiết cấm chỉ, ở trấn phủ huyện có đánh bạc, thì trấn phủ huyện viên phải tội, ở tổng làng có đánh bạc thì tổng trưởng lý trưởng phải tội, như thế thì ai cũng biết khuyên răn, quan lại đều xứng chức vụ, nguồn tệ phải hết mà phong tục được thuần hậu.
    5) Định lệ tuần ty thu thuế : Tuần ty là một kẻ tiểu dân mà cầm giữ nguồn của, thế không thể không cùng với bọn cướp giao thông để làm kế giữ mình giữ của, đó cũng là một bọn cướp vô cố lấy của dân, làm cha mẹ dân há nỡ dễ cho loại du thủ du thực hút máu mủ của dân ư. Thần trộm nghĩ là nơi tuần ty nào đó thì nên sai riêng thuộc viên và biền binh ngồi thu thuế chính ngạch, còn tiền thu ngoại thì cho họ nhờ đó chi dùng, lại sắm sửa khí giới, nếu có kẻ cướp thì phải cùng với đồn binh góp sức nã bắt, thế là một việc mà được cả hai, dẫu số tiền vào quan hơi kém mà ích cho dân rất nhiều, so với thuế tuần giá cao không biết gấp mấy.
    Sớ dâng lên. Vua cho là việc dẹp giặc cướp ở hai hạt Thanh Nghệ là rất cần kíp, bèn xuống dụ nghiêm răn rằng : “Gần đây nghe đất Thanh Nghệ có nhiều thổ phỉ dân không làm ăn được, thực là do đại viên giữ việc chăn dân cho đến bọn phủ huyện. Làm việc thì vỗ nuôi không đúng phép, đến nỗi bọn hung hãn hay tụ họp làm giặc ; lại không biết đem lòng thành giữ tín với dân, người cáo phát kẻ gian vị tất đã thưởng cho, kẻ chứa chấp quân gian vị tất đã làm tội, cho nên trong hương thôn phần nhiều có những tệ kiêng nể và nuôi nấng giặc cướp. Việc bắt bớ thì không phân biệt người hay người dở ; tỳ tướng sai phái thì hoặc rụt rè không tiến, hoặc tạ sự quấy nhiễu, thậm chí có những việc tránh cướp, sợ cướp, nghĩ đến khiến người đau đớn tức giận xiết bao. Vả hai địa phương ấy mấy năm trước thường gặp đói kém, trẫm hết sức cứu chữa, hết lòng lo nghĩ, nào phát chẩn, nào bán thóc, cùng lấy công thay chẩn, không tiếc mấy chục vạn tiền lương, chỉ mong dân được yên ổn. Mùa thu năm ngoái tới nay, nhờ trời mưa nắng thuận hoà, hằng tháng giá gạo tâu lên, các địa phương không đâu rẻ bằng hai xứ ấy, thế mà giặc cướp không hết, nhân dân không yên, vậy thì trách nhiệm về ai ? Phàm triều đình đặt quan và binh, quan để trị dân, binh để giữ dân, mà nay thả giặc hại dân như thế, chức phận bọn ngươi là như thế nào ? Tự đây trở về trước hãy tạm bỏ đấy không nói, từ nay về sau phải nên hối hận lỗi trước, sửa mình ra sức, người mới đến cũng nên lấy việc trước làm răn, mà thi thố tài năng thêm lên. Như phủ huyện biết bày cách dẹp giặc, trong một quý thì cho tâu rõ để nghị công ban thưởng, trong một năm thì cất nhắc không kể thứ bậc. Trấn viên cũng được nghị thưởng. Quan binh đi tuần bắt, có công trạng đích xác cũng cho tâu rõ để khen thưởng. Nếu cứ theo lối cũ thì chiếu lệ nịch chức mà xử. Nên kính cẩn tuân theo”. Lại dụ khen Bảo Đĩnh rằng. “Khanh trước theo lệ tuổi xin về hưu, vừa đây được lệnh triệu về, tức thì vui vẻ lên đường, nay không phải người hiểu suốt việc đời, đâu được như thế. Trẫm nhân nghĩ thuật an dân thì dẹp giặc cướp là trước hết, chính nên trách cứ ở quan, ở ngoài phải hết lòng đánh dẹp làm sao bắt hết đảng ác cho dân được ở yên, khanh biết không tự xem là già yếu mà đề cập đến việc ấy, thực hợp lòng trẫm. Về điều thứ nhất ấy, trẫm đã xuống chỉ thi hành rồi ; còn các điều khác cũng sẽ châm chước tuỳ theo trước sau chậm
  • Chia sẻ trang này