0059.048 - @ nhani78 (Done WK)

1/12/15
0059.048 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    chóng để thi hành cả. Từ nay về sau có mắt thấy tai nghe điều gì thì trình bày ngay, trẫm sẽ để tâm thu nhận, lựa chọn điều phải thì dùng, để tình kẻ dưới thông suốt đến trên, mà điều hay không đến nỗi bỏ mất”.
    Phó vệ uý vệ Quảng võ quân Thần sách là Đặng Văn Phú đóng thú ở Thanh Hoa đem binh đi tuần xét hạt Nông Cống, bị giặc giết, các biền binh tan chạy. Việc đến tai vua. Vua cho là Phú thấy nguy liều mình, đặc biệt truy tặng Vệ uý Thần sách, cấp thêm cho tiền tuất 80 quan và 2 cây gấm Tống. Cai đội dưới cờ là Lê Đình Phượng và Nguyễn Văn Từ vì lui rụt đều bị chém.
    Lấy Cai đội vệ Thành võ là Đặng Phúc Cần làm Phó vệ uý vệ Hùng cự nhị.
    Trấn thần Bình Hoà tâu rằng : “Nguồn Nha Trang thuộc hạt có sáu sở Man nộp thuế trầu không, trước đây lệ hằng năm nộp trầu tết năm mới và trầu thuế tháng 4 tháng 10, còn các tháng khác nhà nước mua gọi là trầu hành tích, dân Man quanh năm phải nộp không rỗi lúc nào. Nguyên sở tại lại đặt các danh hiệu thủ ngự, cai quan, cổn quan, giang quan, cai thuộc, phần nhiều làm khổ dân. Nay xin thông tính thuế trầu không trong một năm cho chiết nộp bằng tiền hơn 1.660 quan, mỗi năm nộp vào 4 tháng mạnh, nguyên sở chỉ đặt thủ ngự và 8 thuộc lại còn thì giảm hết”.
    Vua theo lời bàn.
    Lại thu thuế đầm Thúy Cơ ở Bình Định. Đầm Thuý Cơ mỗi năm tiền thuế là 1.200 quan, khoảng đầu đời Gia Long cho mẹ Chưởng Hậu quân Lê Chất lĩnh trưng trọn đời, sau lại giảm một nửa ngạch thuế. Đến nay mẹ Chất chết, Chất dâng sớ xin nộp vào nhà nước, vua mới sai Trấn thần phái thuộc viên ngồi thu thuế.
    Thuyền vận tải ở Quảng Bình có kẻ lấy trộm tiền công rồi bổ thuyền cho chìm, nói dối là bị nạn gió ; việc phát, đều bị chém ; viên cai quản bị tội giáng phạt truy đền tang vật.
    Bộ Hộ tâu rằng từ trước các địa phương hễ chi các vật hạng trong kho, thì các sổ chi tiêu hằng tháng, nửa năm, cuối năm, thu giữ, tiêu ra, còn lại và thiếu thốn, cùng là sổ áo đầu xuân chỉ do bộ xét giá rồi phê gửi cho, không có tấu chuẩn và đóng ấn mà đều viết chữ tấu, rất là không hợp ; xin từ nay về sau đổi làm sách tư.
    Vua theo lời.
    Sai Thanh Nghệ và Bắc Thành may áo quần cấp cho lính kinh đi thú. Từ nay hễ lính kinh thay nhau đi thú, đến tháng chạp thì theo lệ nay mà làm.
    Bộ Công tâu rằng : “Trước đây những tài liệu về trường thi Hương các địa phương mỗi khi việc trường đã xong được tuỳ tiện lấy dùng, rất là hư phí. Xin tự nay về sau sở tại hoặc có dùng vào việc công thì phải trình xin trước để tuân làm, nếu không dùng vào việc công mà còn thừa thì đều theo nguyên giá chia làm 10 phần giảm đi 4 phần đem bán nộp vào kho”.
    Vua y theo, sai ghi làm lệ. Duy ở trường Thừa Thiên còn để lại dùng vào việc trường thi Hội, không bán.
    Đặt thêm Huyện thừa ở ba huyện Long Xuyên, Kiên Giang và Tân Minh. Long Xuyên và Kiên Giang địa giới cách xa trấn, buôn bán tụ họp, kiện cáo lôi thôi, huyện Tân Minh thuộc phủ nha Hoằng An kiêm lý, công việc cũng nhiều, thành Gia Định tâu lên nên đặt thêm (Long Xuyên và Kiên Giang thuộc trấn Hà Tiên, Tân Minh thuộc trấn Vĩnh Thanh.
    Bắt đầu đặt các viên dịch ở hai tự Thái thường và Quang lộc, mỗi tự Lang trung 1 người, Chủ sự và Tư vụ đều 2 người, Bát Cửu phẩm Thư lại đều 3 người, Thư lại vị nhập lưu 14 người, sai bộ Lễ lựa chọn người sung bổ, hễ gặp ngày tế hưởng, đều cứ chức vụ mà làm, ngày thường thì theo bộ làm việc.
    Chuẩn định rằng các địa phương bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) phàm giấy tờ việc công tư có đề hiệu năm, từ năm Tân dậu về trước thì dùng can chi mà ghi, từ Tân dậu về sau phải đề rõ niên hiệu, không được vẫn ghi bằng can chi như trước, để tỏ giềng mối.
    Gia hàm Phó vệ uý Thị nội cho Cai cơ Trần Hưng Hoà, sai cùng với Vệ uý Nguyễn Văn Phong, Phó vệ uý Đoàn Dưỡng và Tuần hải đô dinh Hoàng Trung Đồng chia nhau đi làm việc công ở Giang Lưu Ba và Hạ Châu.
    Thự Hiệp trấn Lạng Sơn là Lưu Thuyên chết.
    Các sách Man Lục Vân, La Vạn, A Nhân, Ỷ Tuân và Ỷ Đống thuộc trấn Bình Hoà chiêu dụ đã lâu vẫn không chịu phục. Trấn thần là bọn Nguyễn Văn Quế tâu xin tiến binh đánh dẹp.
    Vua quyết ý đánh, dụ rằng : “Chúng dẫu là người Man Lão, nhưng thuộc bản đồ đã lâu, vẫn nộp thuế nhà nước. Trước đây sinh việc, nghĩ hoặc giả là nhân lại dịch gây nên, bèn xuống chỉ cho quy phục, lại tha cho ngạch thuế năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), không ngờ tính người mọi rợ chỉ biết sợ uy, không biết mến đức, nếu không có một phen đánh giết, thì bọn đồng loại lại coi đấy mà bắt chước, sợ sau lại phải một phen xếp đặt, chi bằng dập tắt sớm đi để chỉ một lần khó nhọc mà rỗi lâu dài, để cho biên cương được yên ổn mãi. Vậy Nguyễn Văn Quế ngươi nên xét số binh hiện ở trấn liệu tính để lại giữ thành trì, còn thì điều động họp hết đợi sang xuân sẽ tiến quân. Về việc vận chở lương binh thì Lê Văn Đức và Hồ Hựu các ngươi lưu ở trấn trù biện cho ổn”.
    Lại truyền dụ cho Trấn thủ Phú Yên là Trương Văn Chính đem binh trấn theo đường nguồn Thạch Thành tiến thẳng đến đầu địa giới Đồng Hương, chọn lấy chỗ hiểm yếu để làm thế đánh hai mặt, dụ Trấn thủ Bình Thuận là Nguyễn Văn Tài chọn uỷ một viên Quản cơ cơ Thuận nghĩa và biền binh 300 người đến Bình Hoà theo Nguyễn Văn Quế điều độ, dụ Trấn thủ Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh đem binh Hán (Việt) và Thổ đóng ở đầu địa giới Bình Hoà để hội binh. Lại sai Phó vệ uý Hậu vệ dinh Long võ là Ngô Văn Thành đem hơn 400 vệ binh đi theo Trương Văn Chính, Phó vệ uý vệ Trung bảo nhị là Nguyễn Văn Long, Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất là Giả Tiến Chiêm đem hơn 700 vệ binh đi theo Nguyễn Văn Quế. áo trận binh khí và súng đạn các đạo cần dùng đều tự Kinh chở cấp cho. Lại dụ rằng ngày hành quân phải đem nhiều lụa hàng và vật thổ ngơi, nếu có dân Man biết bỏ nghịch theo thuận bắt tướng giặc đem nộp thì tuỳ theo nhẹ nặng mà khen thưởng, kẻ nào đầu hàng thì cho tự đến, phải cẩn thận chớ giết bậy. Cơ nghi đánh bắt đều uỷ cho bọn Nguyễn Văn Quế, Trương Văn Chính thương xác với nhau mà làm.
    Rồi sai chọn ra 70 người viên tử trong sổ Hoa danh đi tòng quân. Dụ rằng : “Nay có việc đánh giặc Man, trẫm nghĩ bọn ngươi đều là con cháu công thần, được nhờ phúc ấm đã lâu, việc quân lữ chưa từng nghe thấy, cho nên sai đi học tập việc cần lao, khi thành công trẫm sẽ tuỳ tài cất dùng, nên cố gắng đi”. Lại dụ cho Nguyễn Văn Quế và Trương Văn Chính chia cho thuộc vào hàng ngũ, xét ai hăng hái lười biếng, khi thắng trận trở về phân biệt tâu lên.
    Bắt đầu định lệ khám xét tai thương về ruộng thu và ruộng hạn từ Quảng Bình vào Nam đến Bình Hoà. Trước đây bộ Hộ bàn tâu cho là phép chia ruộng định thuế nhà nước đặt ra đều chia ba loại đất, theo đất mà đánh thuế. Từ Quảng Bình vào Nam, đất cấy lúa thì ruộng hạ nhiều ruộng thu ít nên thuế ruộng nộp một lần về vụ hạ, từ thu nên thuế ruộng hai lần về vụ hạ và vụ thu. Từ trước lệ khám tai thương, từ Nghệ An ra Bắc thì ruộng hạ ruộng thu đều được khám báo để tha giảm thuế, mà từ Quảng Bình vào Nam thì ruộng thu ruộng cạn lại không được dự. Xin từ nay về sau, trừ năm trấn ở Gia Định và Bình Thuận chưa có địa bạ thì lệ không khám, còn những ruộng các hạt Thừa Thiên, Tam trực, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, ruộng có cấy mùa hạ mà báo bị tai thì cho cùng một lệ như ruộng hạ, ruộng hạ thu, ruộng hạ cạn mà đi khám cả. Việc giao xuống cho đình thần bàn lại. Đình thần cho rằng : Việc làm ruộng vốn sớm muộn không giống nhau, cho nên có năm loại khác nhau là : ruộng hạ, ruộng hạ thu, ruộng hạ cạn, ruộng thu, ruộng cạn. Ruộng hạ thì mùa đông cấy mùa hạ gặt, ruộng thu thì mùa hạ cấy mùa đông gặt, ruộng hạ thu thì đã gặt vụ hạ lại gặt vụ thu ; duy ruộng hạ cạn và ruộng cạn là đất cao xấu, một loại gặt về khoảng tháng 3, tháng 4 và tháng 5, một loại gặt về khoảng tháng 10 và tháng 11, đều tuỳ theo thời tiết mà cấy gặt. Vả các hạt từ Quảng Bình trở vào Nam, đều có năm hạng ruộng ấy, nhưng ruộng hạ nhiều, ruộng thu ít, mà ruộng cạn lại ít nữa, cho nên lấy vụ hạ làm chính vụ thu làm phụ, mà lệ khám thì ruộng thu ruộng cạn không được dự. Bộ Hộ kiến nghị cũng chỉ là theo ý thánh thượng trọng việc nông thương tai biến, nhưng về thổ nghi và nông tiết còn chưa được chu đáo. Xin từ nay ruộng thu ruộng cạn các hạt cày cấy về vụ thu, Nghệ An ra Bắc mà làm, còn nơi nào làm cầu may không theo thời tiết thì không ở lệ này. Như thế thì ơn huệ ban ra đều được thấm khắp, mà ai có lòng man báo cũng không được mong nhờ ơn điển.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XXXVII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 [1826] (Thanh Đạo Quang năm thứ 6), mùa xuân, tháng giêng, Bình Thuận được mùa to, trấn thần đem việc tâu lên. Vua bảo quần thần rằng : “Năm mới khai xuân, bắt đầu có tin mừng được mùa, vương giả vui với thiên hạ thì vui gì bằng. Phàm mặc áo gấm, ăn thức ngon vẫn là vui vẻ, nhưng chợt có mất mùa, dân gian đói kém, thì vui với ai ? Trẫm ngày đêm lo sợ, chỉ mong thóc lúa được mùa, người người no đủ mà thôi”.
    Giảm thuế thân năm nay cho trong ngoài, Thừa Thiên và Tam trực thì 10 phần giảm 3, các thành dinh trấn thì 10 phần giảm 2.
    Chế cấp ấn quan phòng bằng ngà cho Thống chế Thuỷ quân.
    Ngự giá đi thăm về phía đông Kinh thành, thưởng cho dân ở dọc đường 2.000 quan tiền.
    Ngày Canh dần, tế Xuân hưởng.
    Hoàng tử Miên Trạch 3 tuổi, tư chất thông minh. Hoàng thái hậu rất yêu, một hôm bị cảm gió, Hoàng thái hậu tự mình bế ẵm, không khiến cung nữ, vua ngồi hầu bên cạnh xin bế thay cũng không cho.
    Vua ra coi chầu, bảo các thị thần rằng : “Cha con là nghĩa thân tự trời, chỉ lo có đau ốm tất không thể không quan tâm được ; nhưng nghĩ Miên Trạch là trẻ con mà làm lo phiền cho thái hậu đến thế, lòng trẫm cũng chán lắm, mới biết người xưa chôn con để yên lòng cha mẹ, không phải là làm giả dối đâu”. Lại nói rằng : “Năm ngoái trẫm hơi khó ở, Hoàng thái hậu đến thăm, bệnh đang nặng trẫm phải gượng dậy tâu là hơi đỡ. Hoàng thái hậu sai đưa cơm, trẫm lại gượng ăn, để yên lòng thánh”.
    Cấp thêm tiền lương hằng tháng cho lính hai vệ Long thao và Hổ lược (mỗi người đều 1 quan). Hai vệ ở Kinh thao diễn đã lâu, vua nghĩ họ tiêu dùng thiếu thốn nên cấp thêm cho. Hễ ai ốm chết, quan thì cấp tiền tuất gấp hai, lính thì cấp thêm 3 quan tiền.
    Lấy Đô thống chế Chưởng Thuỷ quân là Tống Phước Lương làm Chưởng dinh, tạm giữ việc ấn Trung quân, thự Tiền quân Đô thống chế là Trần Văn Năng làm Chưởng dinh vẫn thự việc ấn Tiền quân, Chưởng cơ quyền lĩnh Thương bạc là Nguyễn Văn Hạnh thự Thống chế Thuỷ quân, hiệp với Nguyễn Tài Năng để làm việc.
    Triệu Ký lục biện lý Hình tào Gia Định là Trần Bá Kiên về Kinh, lấy Ký lục Phiên An là Trịnh Xuân Trạm biện lý Hình tào Gia Định, thự Ký lục Vĩnh Thanh là Nguyễn Duy Cần đổi đi thự Ký lục Phiên An.
    Sai Gia Định đóng 3 chiếc thuyền lớn và 10 chiếc thuyền lê.
    Đặt thêm Lang trung, Chủ sự, Tư vụ và Bát cửu phẩm thư lại ở ty bộ Hộ, mỗi chức hai người. Lệ trước thì Lang trung, Chủ sự và Tư vụ đều 4 người, Bát cửu phẩm thư lại đều 8 người. Sau lại thêm Bát cửu phẩm thư lại đều 4 người nữa. Đến nay bộ thần thấy công việc ở bộ bận nhiều, thiếu người làm việc, xin đặt thêm. Vua y cho.
    Triệu Tham tri lĩnh Hiệp trấn Nghệ An là Vũ Xuân Cẩn về Kinh để chọn dùng, lấy Tham tri Nguyễn Khoa Hào thay. Hào vào bệ từ. Vua triệu hỏi rằng : “Nghệ An có nhiều trộm cướp, làm thế nào yên được ?”. Hào đáp rằng : “Dân Nghệ An phần nhiều giả dối, rất là khó trị ; nay muốn được yên, phải lấy việc bắt trộm cướp làm đầu”.
    Vua bảo : “Người giỏi trị dân phân biệt kẻ thực, người dối, xét rõ kẻ hay người dở thì còn lo gì giả dối. Vả dẹp trộm cướp, trước phải yên dân, xử trí được đúng, dân đã yên thì trộm cướp tự hết ; nếu chỉ chăm chăm bắt bớ thì kế cũng tồi”.
    Hào lại tâu rằng : “Quan binh đi tuần bắt ở Nghệ An đều lấy cơ đội khác phái đi, không thông thuộc với nhau nên tâm lực không nhất trí, không thành công được. Vua nói : “Tướng không biết quân, quân không biết tướng, nhà binh rất kỵ ; nay muốn bắt trộm cướp, mà ý tướng tình binh không am hiểu nhau, thì khiến người ta ra sức sao được” ?
    Hào lại tâu : “Binh lính ở Nghệ An có thói quen nhút nhát cho nên đi tuần bắt không được việc”.
    Vua nói : “Giữ mệnh ba quân, quan hệ ở một người tướng. Nếu biết kỷ luật cho nghiêm, hiệu lệnh cho tín thì quân lính phải mạnh, không đánh thì thôi mà đánh thì tất được. Ngươi nên nghĩ cho kỹ”.
    Lại triệu Hào vào Thanh Phong đường dụ bảo về những việc nên làm ở Nghệ An và cho 100 lạng bạc.
    Quan Bắc Thành tâu rằng 13 huyện trong hạt trấn Hải Dương (Đường An, Đường Hào, Cẩm Giàng, Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Tiên Minh, Thanh Lâm, Kim Thành, Giáp Sơn, Nghi Dương, An Dương, Đông Triều, An Lão), nhân dân vì đói xiêu tán đến 108 xã thôn, ruộng bỏ hoang hơn 12.700 mẫu, thóc thuế vụ đông năm ngoái không lấy gì nộp được.
    Vua hạ lệnh tha hết.
    Ngày Canh tý, duyệt binh.
    Sai Phó vệ uý Ban trực tả quân Thần sách là Lê Văn Vị, Phó vệ uý vệ Hổ oai hữu quân Thị nội là Trần Văn Hiến, Phó vệ uý vệ Hùng cự nhị Tượng quân là Đặng Phúc Cẩn, đều đem vệ binh chia đi đóng thú ở Nghệ An, Thanh Hoa và Bắc Thành.
    Cho Giám sinh Quốc tử giám tiền.
    Vua thấy sắp đến kỳ thi Hội, gia ơn cho học trò, sai cấp cho mỗi người 10 quan tiền. Rồi sai giám thần xét hạch, ai dự trúng ưu, bình, thứ thì cho cùng với hương cống đi thi Hội, hạng liệt thì sung bổ Thư lại vị nhập lưu ở các bộ viện và ở Tả Hữu thừa ty các dinh trấn.
    Lấy Vệ uý vệ Hổ oai tiền là Trần Văn Trí làm Vệ uý Hữu vệ.
    Trấn thủ Sơn Tây là Bùi Văn Thái chết ; lấy Thống quản thập cơ Chấn định của Trung quân là Đỗ Văn Trà thay.
    Chuẩn định cách thức làm triện vuông riêng cho các quan văn võ từ tứ phẩm trở lên, phân tấc bề dài bề ngang theo phẩm trật cao thấp mà khác nhau. Phàm trình lên trên bảo người dưới mà không quan hệ đến việc công và khi lĩnh lương bổng thì dùng (triện nhất nhị phẩm bề dài 1 tấc 4 phân, bề ngang 1 tấc 3 phân, tam tứ phẩm bề dài 1 tấc 2 phân, bề ngang 1 tấc 1 phân, đều khắc mấy chữ triện “Họ tên mỗ tín ký” ; nhất phẩm đến tam phẩm thì đóng bằng son, tứ phẩm bằng màu đỏ, ngũ phẩm trở xuống vẫn theo ký triện cũ bằng mực).
    Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ tâu xin thân đem thủ hạ đi đánh bắt thổ phỉ. Vua y cho.
    Trước đây vua nghe Thanh Hoa có tên tướng giặc là Lê Duy Nhiên chứa nuôi đứa con của nghịch phạm Lê Duy Hoán tên là Lê Duy Lương, họp đảng ở địa hạt Ngọc Sơn và Nông Cống mưu làm loạn, dụ trấn rằng : “Hạt ngươi có bọn tiểu nhân ấy lẩn lút mà ngươi điềm nhiên không biết, thì trách nhiệm giữ ngoài khổn ở đâu ?. Hiện nay bốn cõi vô sự, trong nước lặng yên, sao có thể dung cho chúng phiến động lừa dối làm hại dân ta ? Phải nên tra bắt ngay, chớ để lan rộng”. Thế là Công Trứ xin đi. Bèn sai án trấn là Nguyễn Văn Hiến lượng phái biền binh lệ theo để sai khiến.
    Trấn thủ Bình Hoà là Nguyễn Văn Quế, Trấn thủ Phú Yên là Trương Văn Chính, Trấn thủ Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh cùng chia ba đường tiến đánh giặc Man.
    Vua sai Nguyễn Văn Quế truyền hịch trước để bảo về đường hoạ phước, nhưng các man vẫn không chịu phục, mới sai đánh.
    Dụ rằng : “Cất quân chuyến này nguyên là bất đắc dĩ, vì giặc Man Lão tự ra ngoài vòng đức hoá sinh thành, không thể không trị mà đi sâu vào cõi hoang vu, làm khó nhọc cho quân ta, trẫm rất là thương. Các biền binh đi trận mà nhát sợ rụt rè thì đành phải theo phép quân mà xử, còn người nào có chút công lao thì Nguyễn Văn Quế, Trương Văn Chính các ngươi cũng nên xét lượng khen thưởng để khuyến khích sĩ khí, cốt sao cho chóng thành công. Trẫm đêm khuya canh cánh trong lòng, trông mong thắng trận khôn xiết”.
    Bèn sai thị vệ mang cấp cho bọn Quế mỗi người một cái kính thiên lý.
    Lại dụ cho bọn Lê Văn Đức, Hồ Hựu và Nguyễn Hữu Thị chuẩn bị nhiều lương thực thuốc men để chở đến quân thứ.
    Những quan viên tử ở trấn Bình Hoà xin tòng chinh có hơn 40 người, các dân buôn ở nguồn Đồng Xuân xin ra sức dẫn đường là 100 người. Hạ lệnh hằng tháng cấp cho mỗi người tiền 1 quan gạo 1 phương.
    Lại sai Vệ uý vệ Long thao là Vũ Đức Hựu và Phó vệ uý là Trần Văn Hựu quản lĩnh hơn 400 biền binh đóng giữ Bình Định.
    Lấy Phó vệ uý vệ Hậu nhất quân Thị trung là Phan Văn Tạo làm Phó vệ uý vệ Trung nhị, Phó vệ uý vệ Kỳ võ là Trần Văn Hiền làm Phó vệ uý Hậu nhất, Phó vệ uý vệ Hổ oai tiền là Nguyễn Văn Khoa làm Phó vệ uý vệ Tiền nhất, Phó vệ uý vệ Ban trực hậu quân Thần sách là Nguyễn Văn Thận làm Phó vệ uý vệ Tả nhị, Chánh quản cơ Nguyễn Lương Huy làm Phó vệ uý vệ Hổ oai tiền, Nguyễn Văn Đoài làm Phó vệ uý vệ Longe võ hữu, Cai đội Nguyễn Đăng Thuật làm Phó vệ uý vệ Ban trực hậu.
    Xây thành trấn Định Tường. Sai thành thần Gia Định lượng bắt quân dân 11.000 người đến làm việc. Thành đắp xong, thưởng cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt một thứ kỷ lục, từ Đổng lý tham biện trở xuống thì thưởng cho tiền bạc theo thứ bậc khác nhau.
    Các xã Kim Lung và Duyên Khánh (thuộc huyện Đăng Xương) dinh Quảng Trị, trước có đường kênh bị lấp không thông, dân xin nhờ biền binh quê ở đấy góp sức vét đào để lợi cho việc nông. Vua sai dinh thần khám thực, chuẩn y lời xin, lại cấp cho mỗi xã 300 quan tiền.
    Phủ Thừa Thiên có cướp, phủ phái biền binh đi bắt được 7 tên, tâu lên. Vua nói : “ở ngay dưới xe kiệu mà còn dám tụ họp cướp bóc, tội không thể tha”. Đều chém cả. Thưởng cho phủ thần mỗi người một thứ kỷ lục và cho quan võ đi bắt 50 quan tiền.
    Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Công Tiệp dâng mật sớ rằng : Nhân có sao chổi, ngu dân ở thành hạt bị những kẻ điên cuồng giảo quyệt mê hoặc xui giục, họp nhau làm giặc, xin sớm trừ đi.
    Vua bảo bầy tôi rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, chỉ lo còn một người dân đói rét, mỗi khi gặp tai thương đều để lòng vỗ về, năm nay được mùa mà giặc cướp lại nhiều, rất đáng than thở. Trước đây Lê Chất còn tại chức thì giặc hết dân yên, nay vừa có tang nghỉ việc mà giặc cướp đã sinh nhiều như thế, ý hẳn Nguyễn Hữu Thận và Trương Phước Đặng làm việc còn ít ngày chưa thể thuyết phục lòng người mà như thế chăng ? Vả lại Tổng trấn giao công việc thành tất phải cả hạt yên ổn mới là xong xuôi. Nay trẫm muốn lưu Chất, các khanh cho là thế nào ?”.
    Chưởng dinh Tống Phước Lương tâu : “Lưu lại là phải”.
    Đô thống chế Nguyễn Văn Trí tâu : “Hiện nay đánh giặc trong ngăn giặc ngoài, triều đình không thiếu gì người, Chất mới ốm khỏi, lại có tang mẹ, xin cứ theo chỉ trước”.
    Vua nói : “Triều đình không phải là không có người sai khiến được ; trẫm muốn lưu Chất là muốn cho Chất trọn vẹn danh vọng công lao. Chất nay tuổi đã suy yếu, há có thể thờ trẫm được mãi ư ?”.
    Đô thống chế Phan Văn Thuý và Thống chế Tôn Thất Bỉnh tâu : “Sự thể ở Bắc Thành như thế, nay hễ có dụ chỉ ban xuống, Chất tất sẽ bớt lòng thương để làm việc, bất tất phải cưỡng lưu làm gì”.
    Vua cho là phải. Dụ Chất rằng : “Người nhận trách nhiệm trong trấn đã lâu, nên hơi thư được lòng lo về phía bắc của trẫm ; mùa đông năm ngoái khanh vì tang mẹ xin nghỉ việc, trẫm không nỡ cướp tình, chọn người thay thế. Nay thành hạt giặc cướp thêm nhiều, trẫm sớm trưa lo nghĩ, khanh có thể không quan tâm được ư ? Tưởng khanh nên vì triều đình ra sức cùng với bọn Nguyễn Hữu Thận và Trương Phúc Đặng bàn định xếp đặt, việc yên hãy về chịu tang, thì nghĩa công tình riêng hai bề đều được. Nếu lại gấp vì tình nhà thì cũng chạy tâu cho biết”.
    Dụ tới, Chất xin lưu lại một tháng, và nói bệnh chưa khỏi hẳn, mong được một lần về an táng mẹ, ngõ hầu thư được lòng hiếu, hoặc có thể khỏi được bệnh chăng.
    Vua xem biểu, y cho.
    Tháng 2, định phẩm trật cho ty Tượng y : Tượng y phó trật Chánh cửu phẩm, Tượng y sinh trật Tòng cửu phẩm.
    Hạ lệnh cho bộ Binh từ nay có thiếu Chánh phó vệ uý và Quản cơ thì cho lấy những người đã ghi tên mà dùng theo hàm Phó vệ uý, và Thành thủ uý thì kê khai danh sách dâng trình, đợi chỉ chọn bổ.
    Đặt Thành thủ uý ở các địa phương, trật Tòng tứ phẩm, phàm khoá chìa khoá cửa thành mở hay đóng đều do chức ấy. Lấy Cai đội Nguyễn Thọ Lộc làm Thành thủ uý Quảng Bình, Nguyễn Văn Hảo làm Thành thủ uý Bình Hoà, Lê Văn Tiến làm Thành thủ uý Nghệ An, Nguyễn Văn Cáo làm Thành thủ uý Thanh Hoa, Nguyễn Văn Phúc làm Thành thủ uý Ninh Bình, Nguyễn Văn Ngoan làm Thành thủ uý Nam Định, Trần Quang Dương làm Thành thủ uý Sơn Nam, Phạm Văn Đồng làm Thành thủ uý Sơn Tây, Nguyễn Văn Vân làm Thành thủ uý Bắc Ninh, Trương Văn Thân làm Thành thủ uý Hải Dương, Trần Văn Lễ làm Thành thủ uý Hà Hoa, Nguyễn Văn Lục làm Thành thủ uý Diễn Châu, Phan Văn Hứu làm Thành thủ uý Tĩnh Gia. Sắc cho các thượng ty sở tại lượng phái biền binh thuộc hạt, hoặc một vệ, một cơ một đội, lấy bản chức mà kiêm quản ; nếu có thể tự mình chiêu mộ thì cho hạn mỗi đội là 50 người lệ làm thuộc binh, hiệp đồng giữ gìn ; sau có đặt thêm cứ chiếu lệ ấy mà làm.
    Tiếp tục vét sông Ngự Hà, sai thự Thống chế Nguyễn Đăng Huyên trông coi 6.000 người các quân làm việc ; phàm gặp mộ cổ gò tàn mà có hài cốt thì cấp cho tiền vải đem chôn chỗ khác. Lại xây cửa cống ở phía sau hoàng thành. Chợt gặp giá gạo trong kinh kỳ hơi cao, hạ lệnh cho Kinh doãn mộ dân chở đá núi, cứ mỗi đống đá cấp 15 hộc thóc.
    Cho những đội trưởng thực thụ, suất thập, thư lại các đội Túc trực, Thường trực và Thường trực thuộc vệ Cẩm y được chiếu phẩm trật mà chi bổng, còn binh lính thì thưởng thêm tiền lương hằng tháng (mỗi tháng 1 quan 5 tiền).
    Lấy Chủ sự Lễ bộ là Trần Văn Lễ làm Đốc học Vĩnh Thanh, Tri huyện Lễ Dương là Phạm Đình Trọng làm Phó đốc học Thanh Hoa.
    Phường Tân Hợp thuộc Võng Nhi, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam, đất ở các đảo, dân phường ngày đêm tuần phòng ở ngoài biển và ở đài hoả phong, dinh thần xin tha binh dao cho họ. Vua y cho.
    Chuẩn định từ nay phàm các thợ ở Bắc Thành và Nghệ An có ai được triệu về Kinh công tác thì do bộ Công lập danh sách tâu lên, để miễn trừ thuế thân thuế điệu tiền đầu quan và tiền gạo nước.
    Tổng Thuỷ Ba, huyện Minh Linh, dinh Quảng Trị, ruộng đất cao khô, mùa màng thu kém, tiền thóc thuế chính cung không lấy gì nộp được, dân đem tình trạng ấy kêu ở Kinh. Vua sai dinh thần theo số chia làm ba năm mà thu. Nhân sắc cho các địa phương rằng tự nay phàm có tình trạng xóm làng đau khổ, thì cứ thực tâu lên ngay, để cho tình ẩn khuất của dân thấu đến bề trên ; nếu cứ theo thói mà kiêng tránh để dân phải đến cửa khuyết mà kêu thì xử tội nặng.
    Nghệ An tâu rằng kỳ duyệt tuyển năm ngoái có người lão tật, trốn hay chết đã nộp thuế thân rồi mà hạng đinh tráng tục thêm chưa nộp được thì xin cho trừ với nhau. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Thuế khoá của nhà nước đã có phép sẵn, nay lấy của người nọ trừ cho người kia, thể thống hành chính như thế được sao ? Vả lại có thân thì có thuế thân là lẽ nhất định không thay đổi được. Nhưng nghĩ xứ ấy mới bắt đầu làm việc duyệt tuyển nên gia ân cách ngoại để thoả lòng mong ước của dân. Vậy dụ cho trấn thần phàm người lão tật và chết đã nộp tiền gạo thuế thân thì theo số mà trả lại hết ; phần người trốn thì để lại kho ; còn đinh tráng mới tục thêm thì thu thuế như lệ. Thanh Hoa và Ninh Bình cũng cho làm theo lệ ấy”.
    Sai thự Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Văn Hạnh trông coi các quân Thị trung, Thị nội và Thần sách đóng 53 chiếc thuyền ô và thuyền lê.
    Thổ phỉ ở Nam Định là Vũ Đức Cát nổi trộm ở đảo nhỏ ngoài biển Trà Lý (Tục gọi là Tiền Châu, nay là huyện Tiền Hải). Trấn thủ Lê Mậu Cúc đánh nhau với giặc bị thua chết.
    Cát trước làm thủ ngự Ba Lạt, vì có con cường bạo giết người, bị cách chức, đến nay tụ họp với những tên phạm trốn là bọn Phan Bá Vành (có khi gọi họ Đỗ) và Nguyễn Hạnh âm mưu làm loạn, cướp hai thủ Trà Lý và Lân Hải, thủ ngự là Đặng Đình Miễn và Nguyễn Trung Diễn đều bị hại. Cát bèn sai bè đảng xin thú với trấn và xin dẫn đường. Cúc tin lời, thân đem 300 biền binh với hơn 10 chiếc thuyền đi bắt. Cát đặt phục binh trước chỗ cạn của bãi Lữ Chử rồi cho vài chiếc thuyền ra đón đánh, giả thua chạy. Cúc đuổi theo, đến Lữ Chử thì thuyền mắc cạn, phục binh giặc nổi dậy. Cúc cùng với Phó quản cơ cơ Hiệu thuận ngũ là Nguyễn Văn Đĩnh đều cố sức đánh, bị chết ; quan quân chết trận cũng tới hơn vài mươi người, còn thì đều tan chạy ; súng ống, khí giới, thuyền bè đều bị giặc cướp.
    Quan Bắc Thành nghe báo, lập tức sai Thống chế quản lý biền binh là Trương Phúc Đặng thân đem binh thuyền thuỷ bộ đi đuổi bắt. Việc tâu lên. Vua bảo Trần Văn Năng và Tống Phước Lương rằng : “Ngày Lê Mậu Cúc bệ từ, trẫm đã dụ bảo về chức vụ giữ biên khổn, phàm gặp việc quân không nên rụt rè. Cúc thề lấy thân báo quốc, nay quả làm được như lời mà hăng hái đánh giặc, sống chết một lòng, so với người xưa hết tiết ở cương trường tưởng cũng không thẹn”. Nói xong chảy nước mắt. Bèn tặng Thống chế, cho 3 cây gấm Tống, 500 quan tiền và ấm thụ cho con là Lê Mậu Đại làm Thiên hộ vệ Cẩm y. Nguyễn Văn Đĩnh thì tặng Chánh quản cơ, thưởng tiền 100 quan. Các biền binh bị chết bị thương đều hậu cấp cho.
    Lại dụ cho thành thần tra hỏi xem các biền binh đi trận ấy và tấn thủ sở tại, ai không biết cứu giúp chủ tướng để hỏng việc thì theo luật trị tội.
    Lấy Vệ uý vệ Phấn võ quân Thần sách là Đỗ Văn Thịnh làm Trấn thủ Nam Định.
  • Chia sẻ trang này