0059.049 - @Suongdem (done-GD)

30/11/15
0059.049 - @Suongdem (done-GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Quân của Trương Phước Đặng đến Trà Lý, bọn giặc nghe tin tan vỡ. Vũ Đức Cát trốn đến phần biển U Nang ở Quảng Yên. Đặng bèn đem quân về, uỷ cho Thống quản thập cơ Tiền quân là Phạm Văn Lý quản lĩnh binh thuyền đi tuần bắt. Chưa được bao lâu, Cát cùng con là Vũ Đình Đinh và đồ đảng mười mấy người lẻn về, bị dân xã Đông Hào (thuộc huyện Giao Thuỷ) bắt được đem nộp. Việc tâu lên. Vua nói : “Cát năm trước từng nhận quan chức của triều đình, lại dám họp đảng quấy rối, giết hại quan quân, hung ác hơn loài cưu cánh(() Cưu là con chim dữ, cánh là loài thú dữ.)”. Dụ cho thành thần đóng cũi đưa về Kinh sư, hết pháp luật mà xử tội. Thưởng cho Phạm Văn Lý thăng một cấp và một khẩu súng điểu thương hoa vàng của Tây dương. Thưởng cho dân xã Đông Hào 100 lạng bạc, cho Lý trưởng Trương Văn Từ làm Đội trưởng.
    Dụ chưa tới, Cát nhân bị thương nặng, sắp chết, thành thần đem chém trước. Tờ tâu vào. Vua không bằng lòng ; truyền chỉ trách mắng. Hiệp Tổng trấn Nguyễn Hữu Thận và Hình tào Vũ Đức Thông đều bị giáng chức.
    Ngày Đinh mão, tế Trời Đất ở Nam Giao. Khi về cho các xã thôn đón rước thuộc ba huyện(() Ba huyện : Phong Điền, Hương Thuỷ, Phú Lộc thuộc phủ Thừa Thiên.) mỗi xã thôn 5 lạng bạc, Lý trưởng mỗi người một cái mũ thái bình, một cái áo lạc nghiệp và hia tất để sẵn mà mang.
    Lại thấy từ trước trong lễ tế Giao các dinh thần Tam trực(() Tam trực : ba dinh trực lệ là Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam.) và các phủ huyện ở Tam trực đều họp ở đàn sở để bồi tế, sợ như thế có bỏ thiếu chức vụ, nên sắc tự nay phàm có chỉ triệu thì mới được đến Kinh.
    Đạo binh của Trấn thủ Bình Hoà là Nguyễn Văn Quế từ đồn Bình Nguyên tiến đến sách ỷ Tuân. Giặc Man tụ họp hơn 500 người và hàng trăm voi ngựa xông lại đón đánh. Quế chia quân thẳng tiến. Quân Man trông bóng bỏ chạy. Quế cho quân đốt vài mươi trại sách, vét hết thóc gạo để cấp cho quân. Rồi tù trưởng hai sách Chế Trang và Làng Lồ đem thuộc hạ đến cửa quân xin ra sức làm việc. Quế cho khăn áo, sai họp thêm nhiều người để đi theo.
    Đạo binh của Trấn thủ Phú Yên là Trương Văn Chính từ nguồn Thạch Thành tiến lên, cũng đốt phá vài nơi làng xóm dân Man, đến hội với Quế. Việc thắng trận tâu lên.
    Vua sai thưởng trước cho Quế một cái áo mổ giữa bằng đoạn gấm thượng hạng màu quan lục hoa rồng tròn thuần kim tuyến, cúc bằng ngọc trai, và truyền chỉ khen ngợi. Lại dụ rằng : “Quân ta đã được trận, cũng đủ có tiếng báo trước ; nhưng trẫm xem chưa được mừng hẳn, vì ta dẫu thắng liên tiếp, nhưng nó chưa có một phen thua đau. Giặc Man chưa chịu sợ uy thế quân ta, tất sẽ trở lại để mưu báo thù ; mà quân ta nhân thắng tiến vào sâu, có lòng khinh giặc, đó lại là điều phép binh phải răn. Huống hồ giặc Man rất giỏi lối nhân chỗ sơ hở đặt quân mai phục, đó lại là việc trước khi hành binh cần phải đề phòng. Vậy bọn ngươi chớ lấy thắng trận nhỏ mà đã mừng, chớ cho nó là sâu kiến mà khinh. Người xưa nói “Con ong con bọ có độc”, há không cẩn thận được sao ? Nay trong khi hành binh gặp có rừng rú rậm kín, giặc có thể đặt quân phục được thì trước nên sai vài mươi du binh, cầm khí giới tiến thẳng đến, làm ra cách muốn đánh nhau, rồi đại binh kế tiếp đến, tất giặc cho là ta biết trước, không đánh cũng tự vỡ. Hoặc sợ giặc giữ chỗ hiểm bắn tên độc, thì lấy những miếng gỗ hơn một thước tra vào súng quá sơn, cứ chỗ bụi rậm mà bắn vào gỗ nhân hơi lửa, xông pha ngang dọc, giặc cũng khó có chỗ đứng được. Vả lại đánh vào sào huyệt của giặc ngày càng sâu thì đường chở lương ngày càng xa, nên lượng bắt những thiên tướng, tì tướng chia binh ra đóng đồn dọc đường ở phía trên dưới cách một ngày tiếp tế lương thực đỡ lo về mặt sau. Bọn ngươi đi trận đã lâu, vẫn có tiếng là quen thạo, phải nên để ý, trẫm vẫn trông ngóng tin thắng trận sớm. Hễ tướng sĩ các ngươi một ngày được nghỉ vai thì trẫm cũng được yên gối một ngày".
    Thành thần Gia Định tâu rằng những dân xiêu giạt của man ba phủ thuộc đạo Quang Hoá, năm trước trở về, Chưởng cơ Sơn Cố xin vay 500 quan tiền công để chia cấp cho bộ lạc làm sinh kế, đến nay hết hạn mà không thể nộp trả được. Vua nghĩ dân man mới về, của cải chưa được đầy đủ, đặc cách tha cho.
    Cai bạ Bình Định là Nguyễn Bá Uông có đại tang, xin nghỉ việc. Vua y cho.
    Hữu Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi và Thượng bảo khanh là Hoàng Quýnh có tội bị miễn chức. Mùa thu năm trước, bọn Nghi sung việc trường thi Nghệ An lúc mới đến họp, Đốc học và các phủ huyện thuộc trấn ở công quán, sai cử những học trò họ biết, ghi lấy họ tên, và khi điểm duyệt nhận những mảnh giấy ghi tên, đưa biên hiệu vào nội trường, phê lấy đỗ những người hỏng. (Kỳ đệ nhất đã hỏng mà lại lấy đỗ là 36 người, nhân đó, mà đỗ sinh đồ 6 người. Kỳ đệ nhị, đã hỏng mà lại lấy đỗ là 21 người, nhân đó mà lấy đỗ hương cống 10 người). Lại ngày ra trường hát xướng uống rượu lan man, họp các hương cống mới đỗ đánh bạc chơi bời. Sau khi phục mệnh vài tháng, trấn thần Vũ Xuân Cẩn đem việc tham hặc tâu lên. Vua giao xuống đình thần bàn. Đến đây bàn xong, văn ban thì xin theo tắc lệ xử phân và bàn cách chức, võ ban thì xin theo điều lệ cống cử người bậy và bàn chém, mỗi bên giữ một thuyết. Vua bảo thị thần rằng : “Luật như án sắt, không thể xê xích được ; nay văn võ bàn luận mỗi bên một khác mà cũng đều dựa vào luật cả. Song hình luật đặt ra để cho người biết sợ, duy lời trong án không chỉ rõ tang, bởi đâu mà làm bậy như thế” ? Thống chế Nguyễn Văn Trí đối rằng : “Thần là võ biền, không có học, kiến thức hẹp hòi, tưởng rằng Nghi, Quýnh tất có tư túi, nhưng vì lấy người ta đỗ nên người ta không nỡ phát giác”. Thượng thư Binh bộ Đoàn Viết Nguyên nói rằng : “Lời tâu đầu nói Nghi, Quýnh chắc không có tư túi, nhưng việc làm coi như là tư túi ; nếu có tư túi thì người đỗ không phát giác đã đành, còn người hỏng há chịu im lặng ư ?”.
    Vua nói : “Đúng như lời khanh nói, nhưng không rõ Nghi, Quýnh sao lại càn bậy quá như thế”.
    Tham tri Lễ bộ Nguyễn Đăng Tuân đối rằng : “Nghi, Quýnh làm việc chuyên lấy quyền thế đè người, làm trái điển lệ, trị tội là phải ; song xét họ cũng muốn được nhiều chân tài mà quên hình tích. Còn như có hối lộ hay không thì biết bề tôi không ai bằng vua, thần không dám nói vào đấy”.
    Vua nói : “Việc khoa cử đã có cách thức, nếu bảo muốn được chân tài mà không kể đến văn lý dở hay thì có phải là ý của nhà nước thi lấy học trò như thế đâu ! Đến như trấn thần Vũ Xuân Cẩn lấy tư cách quan địa phương ứng biện việc trường thi mà Nghi, Quýnh hành động như thế đều dự biết cả, đến việc hát xướng rượu chè cũng có dự cuộc, sao không lập tức tham hặc, lại để chậm đến năm ba tháng mới tâu, chẳng qua là mưu việc báo oán riêng đó thôi, có thể để không hỏi tội được ư ?”.
    Bèn xuống dụ rằng : “Nguyễn Hựu Nghi và Hoàng Quýnh quen tính làm càn, việc sai trái, đành là có tội ; nhưng việc ăn hối lộ không có một chút hình ảnh gì, nếu ghép vào cực hình thì giống như quá nặng. Vũ Xuân Cẩn hặc tâu như thế thực có lòng báo oán, nếu lấy cớ đã phát giác mà tha tội thì là nhân việc công báo thù riêng, chẳng là làm cho những kẻ bất tiếu bắt chước hay sao ? Vậy Nguyễn Hựu Nghi đổi giáng Chánh bát phẩm thư lại, Hoàng Quýnh thì sớm tối hầu hạ bên cạnh, trẫm đã từng nghé vào tai bảo trước mặt, dạy dỗ rõ ràng, nay lại cuồng bậy như thế thì cách chức, đều phát vãng đi Quảng Bình cho gắng sức chuộc tội. Vũ Xuân Cẩn thì giáng làm Thiêm sự. Các khảo quan nội trường và học quan cùng các phủ huyện vì chịu theo sai khiến, đều giáng hay phạt khác nhau. Các Hương cống và Sinh đồ đã hỏng lại lấy đỗ đều bị truất cả. (Hương cống bị truất 10 người là Vũ Ngọc Giá, Lê Khắc Hài, Lê Luyện, Vương Thái Đăng, Lê Văn Vỹ, Hồ Xuân Huyên, Trần Xán, Nguyễn Hoằng Nghĩa, Hà Học Hải, và Phan Trừng Thanh”.
    Sai Đề đốc Kinh thành là Đoàn Văn Trường kiêm Quản vệ Võng thành.
    Giáng bổ Thượng thư Binh bộ là Đoàn Viết Nguyên làm Cai bạ Bình Thuận, Ký lục biện lý Binh bộ là Vũ Huy Đạt làm Lang trung Công bộ thự Thiêm sự hiệp lý việc trấn Phú Yên. Trước đây việc binh ở Bình Hoà có người bệnh người trốn trong vệ Long võ hậu phái đi theo đạo binh Phú Yên, bộ Binh nhờ tiểu sai là Phạm Văn Tôn dặn bảo miệng với Hiệp lý là Nguyễn Hữu Thị về việc đòi bắt và cấp lương. Sau Hữu Thị đem việc ấy tâu vào. Vua xem sớ cả giận, bảo thị thần rằng : “Từ trước đến nay làm việc tất phải đợi tâu được chỉ rồi chép ra đưa thi hành, hoặc do bộ phải làm thì làm tờ tư có lưu chiếu ; huống chi việc quan hệ đến binh cơ lương tiền mà lại khinh suất dặn miệng được à ! Nếu người sai đi quên bẵng, tự ý nói phỏng chừng thì không đến lỡ việc lớn hay sao ? Tội của Đoàn Viết Nguyên và Vũ Huy Đạt không thể nói xiết”. Tức thì sai bộ Lại nghiêm bàn. Hai người đều bị giáng 4 cấp đổi đi ; Phạm Văn Tôn thì bị đóng gông ba tháng, khi hết hạn, đánh 100 côn rồi cách tuột, không cho được sai phái nữa ; Nguyễn Hữu Thị cũng vì nhẹ dạ nghe lời dặn miệng mà bị giáng 3 cấp đổi đi, sau can vụ án tù bị lưu vượt ngục bèn bị cách chức.
    Sai Thượng thư Hình bộ là Nguyễn Khoa Minh kiêm quản việc Binh bộ.
    Lấy Hữu Tham tri Công bộ là Hoàng Kim Xán làm Hữu Tham tri Hình bộ.
    Núi Na ở Quảng Ngãi lở. (Núi Na thuộc huyện Mộ Đức).
    Trấn thủ Biên Hoà là Nguyễn Khả Bằng, Ký lục là Trương Quang Hải, Cai bạ là Lê Đạt Đức có tội bị miễn chức. Dân hạt Biên Hoà có người xiêu tán, bọn Bằng khinh suất uỷ cho thuộc ty khám báo không đúng ; Lại thóc ở kho để lẫn lộn, không phân biệt mới cũ, đến nỗi mốc hỏng nhiều. Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt đem các việc ấy tham hặc tâu lên. Vua hạ lệnh đều giải chức đợi xét. Khi án thành, đều bị cách chức.
    Sai cải chính ngạch lính mộ ở Bắc Thành. Trước đây thành thần Lê Chất mộ dân ngoại tịch đặt làm 24 cơ Hiệu trung và Bắc thuận, ngạch binh mới thành mà trốn quá nửa. Tới khi đưa tráng đăng vào sổ, dân sở tại thường thường dùng lời dối trá mập mờ. Chất đem việc tâu lên. Vua giao cho bộ Hộ bàn. Bộ thần xin phàm người tại ngũ thì cứ theo lời khai mà ghi sổ, những người trốn thì cho là hạng không có ông cha như lệ từ Quảng Bình trở vào Nam. Lại sai đình thần bàn lại. Đến đây lời bàn tâu lên, cho rằng ở Bắc Thành lâm thời chiêu mộ mà được ngay đến số 24 cơ, trong đó người ứng mộ hoặc bức bách vì mất mùa mà mạo sổ để đầu quân, người đứng mộ hoặc mong được thực thụ mà cẩu thả cầu cho đủ số, sở dĩ nhiều người trốn là vì thế. Những người đã trốn mà dân cho là trá mạo thì không còn xét vào đâu được, xin theo lời bàn của bộ mà đem vào hạng không có ông cha. Còn người tại ngũ thì cho phép do Binh tào đòi hỏi, cứ thực mà cải chính. Nhưng phải xét giả dối bởi đâu mà chiếu luật trừng trị. Từ nay về sau mộ nữa mà còn có tệ ấy thì cứ người đứng mộ mà hỏi tội.
    Vua cho y lời bàn mà làm.
    Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Phạm Phước Thiệu hiệp lý việc trấn Vĩnh Thanh.
    Chuẩn định từ nay phàm miếu Lịch đại đế vương, đàn Xã Tắc và Văn Miếu mà gặp ngày khánh điển phải tế thì vua thân đến làm lễ. Hai kỳ tế xuân, thu hằng năm thì chia sai các Hoàng tử tước công cùng văn võ đại thần đến tế.
    Xây đắp cửa Hải Vân ở đỉnh núi Hải Vân, phía trước phía sau đều đặt một cửa quan (Ngạch trước viết ba chữ Hải Vân quan, ngạch sau viết sáu chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”(() Thiên hạ đệ nhất hùng quan : cửa ải hùng mạnh thứ nhất thiên hạ.). Cửa trước bề cao và bề dài đều 15 thước, bề ngang 17 thước 1 tấc ; cửa sau bề cao 15 thước, bề dài 11 thước, bề ngang 18 thước 1 tấc ; cửa tò vò đều cao 10 thước 8 tấc, bề ngang 8 thước 1 tấc ; hai bên tả hữu cửa quan xếp đá làm tường, trước sau liền nhau). Sai Thừa Thiên và Quảng Nam thuê dân làm, vài tháng làm xong. Phái biền binh 4 đội Hữu sai và 2 đội ứng sai chở súng ống đến để đấy (súng quá sơn bằng đồng 5 cỗ, ống phun lửa 200 ống, pháo thăng thiên 100 cây và thuốc đạn theo súng) theo viên tấn thủ đóng giữ. Chuẩn định từ Hải Vân trở ra Bắc thuộc quản hạt Thừa Thiên, từ ngoài Hải Vân trở vào Nam thuộc quản hạt Quảng Nam.
    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Chức Cai tổng là thuộc viên của phủ huyện, phàm những việc đốc thúc lương tiền, tuần phòng trộm, cướp đều là chuyên trách mà trước đây theo lệ tổng chỉ đặt một Cai tổng thì làm việc không được hết, xin cho Hoài Đức cùng các trấn Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh và Hải Dương thuộc thành hạt mỗi tổng đều đặt thêm một người Ngoại uỷ phó tổng, do thành lựa chọn ai là người làm được thì cấp bằng cho làm”.
    Vua y lời tâu.
    Trấn thần Bình Định cũng xin trong trấn hạt ở hai thuộc Nhân Ân và An Nghĩa huyện Tuy Viễn và ở hạ tổng huyện Phù Ly mỗi chỗ đặt thêm cho một Ngoại uỷ phó tổng. Vua y cho. Lại sắc cho các địa phương từ nay phàm Thí sai, Cai tổng đều chuẩn cho vào hạng ngoại tiêu sai, miễn cho thuế thân.
    Ngày Mậu dần, tiết Thanh minh.
    Vua thân rước Thái hậu đi yết lăng Thiên Thụ.
    Sai Khâm sai cai cơ Phó thống Trung đồn Hậu quân là Nguyễn Văn Tam kiêm Quản vệ Hậu bảo nhị, Cai đội Cẩm y là Nguyễn Văn Sơn làm Phó vệ uý Hữu bảo nhị.
    Lấy Hàn lâm viện Thừa chỉ sung Hành tẩu Văn thư phòng là Phan Đình Sĩ và Phan Khắc Kỷ làm Thượng bảo Thiếu khanh, Thừa chỉ sung giảng tập Dưỡng chính đường là Thân Văn Quyền làm Hàn lâm viện Thị độc, đều quản lý Văn thư phòng.
    Lấy Quản cơ Lê Văn Chính quản ba đạo Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự.
    Tướng giặc ở Thanh Nghệ ngụy xưng Tiền bộ là Ninh Đăng Tạo tụ họp đồ đảng ở miền thượng đạo Diễn Châu cướp bóc giữ hiểm ở núi Cưa, thường quấy nhiễu cướp bóc các hạt Đông Thành, Quỳnh Lưu (thuộc Nghệ An), Ngọc Sơn, Nông Cống (thuộc Thanh Hoa), dân không được ở yên. Trấn thủ Nghệ An là Trương Văn Minh dâng sớ xin thân đem quân lớn đánh thẳng vào sào huyệt. Vua sai truyền dụ cho án trấn Thanh Hoa là Nguyễn Văn Hiến cùng đi đánh dẹp. Quân của Minh đóng ở đồn Quán Cháo, quân của Hiếu đóng ở đồn Đồng Loan, hẹn kỳ đều tiến. Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Đức Nhuận, Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Công Trứ cũng đều đem binh chia đường chặn bắt.
    Định lệ đại thần vào trực. Hằng ngày đại thần văn võ đều một người thay phiên nhau trực ở tả hữu vu điện Cần Chính, cấp cho cơm nước và màn nằm, văn thì lấy một viên ty thuộc, võ thì lấy một viên suất đội đi theo, đều cấp cho bài ngà để chiếu nghiệm khi đi lại qua cửa. Thự Thống chế Nguyễn Đăng Huyên, Nguyễn Tài Năng, Nguyễn Văn Hạnh, Phạm Văn Điển, Lê Văn Hoan thì làm một ban riêng thay nhau vào trực.
    Cho Trần Lợi Trinh làm Thượng thư Lại bộ, Nguyễn Khoa Minh làm Thượng thư Hình bộ, Trần Văn Tính làm Thượng thư Công bộ, Lê Nguyên Hy và Lê Quang làm Thiêm sự Lại bộ, Hà Quyền làm Thiêm sự Lễ bộ, Vũ Đức Khuê làm Thiêm sự Hình bộ, Đặng Chương làm Thiêm sự Vũ Khố.
    Triệu Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Công Đàm về Kinh.
    Dồn bổ tù sung quân và tù lưu Bắc Thành làm đội Tòng thiện thứ 5. Trước đây những tù sung quân và tù lưu ở Gia Định và Quảng Ngãi phát đi Bắc Thành hơn 50 người, hơn một năm chăm chỉ làm việc không có người nào trốn, thành thần bèn xin dồn bổ làm lính, cấp cho lương tiền để sai khiến việc binh.
    Vua y cho, sai may cấp áo quần một lần. Nhân sắc cho Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hoa, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận và các thuộc hạt ở Gia Định, Bắc Thành, phàm từ trước tới nay các tù phạm tội sung quân và tội lưu mà chịu yên phận giữ phép thì tha hết xiềng khoá mà bổ làm lính ; nếu dám bỏ trốn thì giết không tha.
    Trong kinh kỳ không mưa, đảo ở miếu Hội đồng, miếu Long vương và đền Thai Dương, đều chưa thấy ứng.
    Vua lấy việc dân làm lo, một hôm bày đàn ở trước điện Trung Hoà, trai giới thành kính, chính mình cầu đảo, hôm sau thì mưa. Vua ở trong cung cúi đầu lễ tạ, lại sai quan sắm sửa lễ vật chia ra đến các đền miếu lễ tạ.
    Từ Quảng Bình vào Nam đến Phú Yên, trước đây cũng ít mưa, các dinh trấn đều có sớ báo, duy trấn Phú Yên đến nay mới đem phân số lúa ruộng bị tổn hại tâu vào. Vua nói : “Hằng năm được mùa hay mất mùa, quan hệ đến tính mạng của dân. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, cái việc quan trọng nghề nông thức ngủ không quên. Làm chức chăn dân nếu gặp trời nắng lâu để răn bảo, thì phải vì dân mà cầu đảo ngay và đem việc tâu lên trước. Thế mà ở Phú Yên từ đông đến xuân không mưa, có cầu đảo hay không, không thấy tâu rõ, nay chợt báo tai thương, sao mà sơ suất đến thế ?”. Trấn thần là bọn Trương Văn Chính đều bị giáng chức.
    Lấy Vệ uý vệ Ban trực trung quân Thần sách là Nguyễn Văn Cận làm Vệ uý vệ Tiền phong quân Thị nội, Phó vệ uý vệ Ban trực tả là Lê Văn Giai làm Vệ uý vệ Phấn võ, Cai đội quân Thần sách là Nguyễn Văn Tự làm Phó vệ uý vệ Ban trực trung, Cai đội quân Thị nội là Hồ Văn Lân làm Phó vệ uý vệ Ban trực tả.
    Đổi định danh hiệu các thuyền vận tải.
    Quản Tào chính là Trần Lợi Trinh tâu rằng : “Quy chế Tào chính đầu đời Gia Long đã định điều lệ, thực có thể noi theo lâu dài, duy lúc mới đầu gây dựng, tiết mục chưa được rõ ràng. Nay xin châm chước điển cũ, tuỳ nghi sửa định lại. Trường đà thì gọi là Tào thuyền, chia làm hai đạo, đạo có bang, bang có quản, để thống thuộc với nhau. Từ Thừa Thiên trở vào Nam thì gọi là đạo Hải vận nam, từ Quảng Trị trở ra Bắc thì gọi là đạo Hải vận bắc. Mỗi đạo đặt Chánh phó tổng tào đều một người, Bát phẩm thư lại một người. Các đội lạch đổi làm bang, bang đổi đốc vận, lĩnh vận và thiên tổng đều một người, lấy người chuyên bổ Cai đội đội trưởng mà sung bổ. Các thuyền vận tải Nam Bắc đều chia làm 9 bang, mỗi bang trên dưới 20 chiếc (Từ Thừa Thiên vào Nam đến Phiên An 117 chiếc ; từ Quảng Trị ra Bắc, duy có Quảng Bình là 178 chiếc). Lấy tên đội đương gọi hay gọi cũ mà gọi : Thừa Thiên và Quảng Nam có một bang gọi là bang Thừa Nam ; Quảng Ngãi có 2 bang gọi là bang Nghĩa Sơn nhất, bang Nghĩa Sơn nhị ; Bình Định có 3 bang là bang Định Hải nhất, Định Hải nhị, Định Hải tam ; Phú Yên có 1 bang gọi là bang Yên Hải ; Bình Hoà có một bang gọi là bang Hoà Thuỷ ; Bình Thuận và Phiên An có một bang gọi là bang Thuận An ; Quảng Bình có 9 bang gọi là bang Duyên Trường (trước là đội Duyên Trường), bang Tân Bình (trước là đội Tân Bình lạch Cù Hà), bang Vĩnh Bình (trước là đội Vĩnh Bình), bang Vĩnh Thuận, bang Thanh Hải (trước là ba đội Hoà Hải, Vĩnh Thuận, Thanh Hải lạch Lý Hoà), bang Thuận Hải (trước là hai đội Thuận Hải, Trường Khánh lạch An Nâu), bang Trường Thuận (trước là đội Trường Thuận, lạch Linh Giang), bang Bình Hải (trước là hai đội Trường Thuận, Bình Hải, lạch Linh Giang), bang Dương Hoà (trước là hai đội Dương Hoà, Thanh Hải, lạch Ròn). Có thuyền ghe riêng chở việc công thì gọi là thuyền ứng ban, thuyền nộp thuế cảng thì gọi là thuyền đại dịch, nộp tiền chuyên thì gọi là thuyền miễn dịch, nộp tiền thuế thì gọi là thuyền chinh. Người lái chính của thuyền đổi gọi là thuyền hộ, người lái phụ (người đã thực thụ mà đóng thuyền giao cho người ngồi quản gọi là lái phụ) đổi gọi là phó thuyền hộ, các phu bạn đổi gọi là vận quân. Sổ lính kỳ tháng 4 thì đều do Tào chính họp làm danh sách đưa lên bộ (Lệ trước từ Thừa Thiên vào Nam đều tự làm danh sách riêng ; từ Quảng Trị ra Bắc do Tào chính họp làm danh sách chung tâu lên)”.
    Vua sai đổi đạo Hải Vân nam làm Nam tào, đạo Hải Vân bắc làm Bắc tào ; Tổng tào làm Quản lĩnh, trật Chánh ngũ phẩm, Phó tổng tào làm Phó quản lĩnh, trật Tòng ngũ phẩm, Bát phẩm thư lại làm Tòng cửu phẩm thư lại, Lĩnh vận và Thiên tổng trật Tòng thất phẩm, phó thuyền hộ làm đà công, vận quân làm thuỷ thủ, bang Nghĩa Sơn làm bang Nghĩa Lợi, bang Thuận An làm bang Bình Phiên ; còn thì theo như lời bàn mà làm.
    Đắp hai sở đê mới ở Sơn Tây thuộc Bắc Thành (một sở ở huyện Tiên Phong, dài 481 trượng, một sở ở huyện Yên Lãng, dài 1.105 trượng).

    chính biên
    đệ nhị kỷ - quyển XXXVIII
    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế
    Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa xuân, tháng 3, thi Hội. Sai Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Xuân Thục sung Chủ khảo, Thượng thư Lại bộ là Trần Lợi Trinh sung Phó chủ khảo, Hữu Tham tri Lễ bộ là Phạm Huy Thực và Thông chính sứ biện lý Lại bộ là Lê Đăng Doanh sung Tri cống cử. Lấy đỗ 10 người là Đặng Văn Khải, Nguyễn Huy Hựu, Vũ Đức Mẫn, Vũ Phan, Nguỵ Khắc Tuần, Hoàng Tế Mỹ, Nguyễn Văn Thắng, Chu Văn Nghị, Tô Trân và Phan Thanh Giản. Lúc đầu quan trường lấy đỗ 9 người, quyển dâng lên đều là hạng thứ. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, để ý việc văn trị, làm nhà học, thêm sinh viên, sai quan giữ việc giáo dục, bồi dưỡng nhân tài không phải là mới một ngày. Nay thi Hội hơn 200 người mà không được một người nào hạng ưu, khiến ta không được vui lòng lắm. Hữu ty cân nhắc, câu nệ điểm duyệt quá khắc mà như thế chăng ?”. Sai tiến tên họ những người đỗ để xem, nhân bảo thị thần là Lương Tiến Tường và Hoàng Kim Xán rằng : “Nay thiên hạ một nhà, Nam Bắc đều là tôi con của trẫm, cho nên Nam hiền thì dùng Nam, Bắc hiền thì dùng Bắc, không phải có thiên tư. Vả lại học trò Nam Bắc đều là người ở trong giáo dục, học lực tưởng cũng không hơn kém nhau, thế mà nay 9 quyển đỗ đều là người Bắc là sao thế ?. Nên lựa lấy 1, 2 người từ Thừa Thiên vào Nam để cổ lệ sĩ phong mới phải”. Thế là quan trường lấy thêm Phan Thanh Giản cho đủ số 10 người. Vua y cho.
    Khoa thi Hội trước, ngày vào trường có lệ cấp 600 biền binh và 20 thớt voi đi tuần. Khoa này bãi voi mà binh thì bớt một nửa ; ngày thường canh giữ chỉ cấp biền binh 50 người thôi. Từ nay ghi làm lệnh.
    Định thêm điều lệ thi Hương và thi Hội.
    Trước đây thi Hội, kỳ đệ tam có Giám sinh Đặng Tế Mỹ mang văn tự vào trường, bị võ sĩ bắt được, Tế Mỹ bị đóng gông một tháng, hết hạn đánh 100 trượng và cách bỏ sổ Giám sinh. Thưởng cho võ sĩ 3 lạng bạc. Bộ Lễ nhân tâu rằng : “Lệ trước hoài hiệp văn tự [mang văn tự vào trường] chỉ đuổi ra thì phép nhẹ mà người dễ phạm, sợ không đủ để trừ hết kẻ gian. Xin từ nay thi Hội mà Cử nhân Giám sinh có phạm thì chiếu theo án ấy mà làm ; học trò thi Hương mà phạm thì đóng gông đánh trượng rồi tha ; người xét ra cũng theo lệ khen thưởng”. Lời tâu dâng lên. Vua sai ghi vào điều lệ để làm theo.
    Định rõ điều lệ xét công và mãn bổng cũng giảm bớt văn thư. Bộ Lại tâu rằng : “Lý lịch và nhật ký công vụ của thủ ngự ở ngoài, cùng là sổ công khoá của phủ huyện và sổ mãn bổng để đợi thăng đợi bổ của quan viên, từ trước đến nay theo lệ nộp về bộ mà không đợi chỉ xin xét định”. Vua dụ rằng : “Chính thể quý ở đơn giản gọn gàng. Như lý lịch của thủ ngự thì đã có sổ quan kỳ tháng tư, việc công ở các địa phương như các loại tiền thóc quân lính thì cũng đã tuỳ việc báo về bộ mà lại còn làm sách riêng, chỉ thêm phiền nhũng, có thể bãi đi. Duy có hai khoản xét công và mãn bổng và đợi thăng đợi bổ, thì khoảng năm Gia Long đã định điều lệ mà năm Minh Mệnh thứ nhất lại định rõ thêm, chính là muốn xét hơn kém để định thăng giáng, thực là việc đầu tiên của phép chính trị. Thế mà từ trước đến nay, bổ khuyết chỉ bằng cứ vào đại thần bảo cử, mà xét công và mãn bổng được dự lựa chọn thì chỉ có 1, 2 người, thế là phép tốt ý hay dùng người của nhà nước chưa được làm đến nơi. Huống chi phép cử tri cùng với phép xét công và mãn bổng để thăng bổ, hai việc đều làm, vốn không có hại. Vậy hạ lệnh cho đình thần bàn định cho ổn rồi tâu lên”.
    Đình thần bàn cho rằng : “Nhà Ngu có phép nêu rõ người có đức mà xét công thăng giáng, rất cẩn thận về sự dùng người ; nhà Chu có phép suy cử người hiền tài mà tính toán xét công, rất kỹ càng đối với quan lại. Phép xét công và mãn bổng để thăng bổ của nhà nước đều có chương trình mà lại còn công đồng tuyển cử, thực là đạo dùng người không có hạn ở một cách. Nhưng chiếu theo lệ trước, xét công các phủ huyện chỉ lấy việc xử hình có đúng hay không. Nay xin gồm cả việc bắt lính thu thuế, nuôi vỗ nhân dân, và những điểm gia cấp, kỷ lục, bị giáng, bị phạt, chia ra làm thượng khảo, trung khảo, hạ khảo và hạng kém, cứ 3 năm địa phương hội tâu một lần, 6 năm là một khoá mà bàn định thăng giáng, không nên làm sách mãn bổng riêng. Lại lệ trước thì các quan trong ngoài mãn bổng đều lấy 6 năm làm hạn. Nay xin cho quan trong thì lấy 3 năm làm một khoá, quan ở ngoài thì lấy 6 năm làm một khoá, đều do thượng ty xét lý lịch sự trạng, làm danh sách gửi về bộ để chia hạng tâu lên, hạng ưu bình thì thăng bổ, hạng hèn kém thì truất giáng. (Sự trạng tốt đặc biệt là ưu ; dẫu không mẫn cán nhưng không có lỗi là bình). Đến như triều đình lựa chọn để bổ khuyết, xét xem niên hạn đã đủ mà nên thăng thì xin cho
  • Chia sẻ trang này