0059.050 - @ nhani78 (Done WK)

1/12/15
0059.050 - @ nhani78 (Done WK)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    cất bổ trước, rồi đến người không dự lệ khảo mà biết đích xác là làm nổi việc. Bổ thì quan kinh bổ làm quan ngoài, quan ngoài bổ làm quan kinh, để cho ra vào được đều nhau”.
    Vua y lời bàn.
    Trấn thủ Bình Hoà là Nguyễn Văn Quế và Trấn thủ Phú Yên là Trương Văn Chính đóng quân ở sáchỶ Tuân, chuyên ý chiêu dụ vỗ về, dân man ở Ỷ Tuân lục tục đến đầu thú. Tù trưởng ba sách : Lục Vân, La Vạn và A Nhân cũng uỷ cho thuộc hạ đến quân thứ xin hàng. Bọn Quế đem việc tâu lên và nói các Man này đã sợ hãi, hiện đương sai chiêu dụ nhau.
    Vua dụ rằng : “Xem lời tâu đã biết hết ý kiến bọn ngươi, toan muốn lấy đó để tắc trách cho xong việc sao ? Trước đây binh lính đã sắp hành trang, trẫm còn nghĩ bọn ấy dẫu là Man Lão, nhưng thuộc vào bản đồ đã lâu, cùng với người Hán [Việt] không có khác gì, nếu biết hối tội thì cũng nên cho đầu hàng, mới xuống chỉ sai bọn ngươi bảo rõ con đường hoạ phúc. Nhưng giặc Lão dựa nơi hiểm cố, không chịu quy phục, nói những điều khinh mạn làm nhục người sai phái, lại tụ họp bè đảng, sắm sửa dao nỏ, quyết ý chống lại. Thế là tội ác của giặc Lão ngày càng quá, khiến phép nhà vua tất phải giết, cho nên mới giục tiến binh. Bọn ngươi nhiều lần báo thắng trận, nhưng chưa thấy bắt được tướng giặc, chém được đầu giặc và đánh một phen nào dữ dội, thì lấy gì mà thấy rõ tù trưởng Lão đã sợ phục ? Nay những người chúng sai đến đó chẳng qua là bọn thân thuộc nhỏ mà bọn tù trưởng là bọn Ma Trập thì vẫn chưa thấy bóng dáng, biết đâu chẳng phải là kế hoãn binh để mưu bầy kế khác ? Lại nghe quan quân vào núi kiếm củi bị giặc Lão giết hại mất 2 người, đánh bị thương 1 người, đã bảo là bọn nó sợ hãi thì sao lại có việc ấy ? Nay trong tập tâu tuyệt không nói đến chẳng phải là có điều kiêng tránh hay sao ? Người xưa nói “Dấy quân ngày tiêu phí nghìn vàng”, thế mà bọn ngươi đóng binh đã vài tuần nay, ăn hại lương thực, trách nhiệm toan đổ cho ai ? Vậy nay nên một mặt sai người tới bảo bọn Ma Trập đến ngay trước quân mà đầu hàng, một mặt chia đường chọn đất tiến binh đến ; nếu chúng bó tay đợi tội thì gông trói kẻ yếu phạm đưa về trấn để đợi chỉ ; hoặc chúng lần khân không ra thú thì treo giải thưởng hậu để đồng đảng nó tự bắt nhau, hay chém đầu đem nộp ; còn dân man bị ức hiếp phải theo thì cho ra thú là miễn tội. Lại trù liệu công việc về sau để cho uy vua truyền xa, biên giới yên lặng, đó là trách nhiệm của bọn ngươi”.
    Lại sai Hồ Hựu kíp đến trong quân giúp đỡ công việc.
    Dụ chưa tới, bọn Quế đã rút quân, theo đất biên giới đóng đồn để đợi giặc hàng. (Quế đóng đồn ở đồng Thị Cai, Chính đóng đồn ở nguồn Thạch Thành). Việc tâu lên, vua xuống dụ khiển trách rằng : “Trận này binh khí không vấy máu, đến đâu không ai ngăn, chính tưởng quét sạch sào huyệt, bắt lấy tướng giặc, để làm kế khó nhọc một lần mà yên rỗi lâu dài. Huống chi công đã sắp thành mà ngươi vội rút binh, bỏ mất cơ hội, thế là quá lắm. Nếu bọn Ma Trập lòng còn giảo quyệt cố làm kế hoãn binh, không đem thân đến đầu hàng, thì bọn ngươi làm thế nào cho xong việc để phục mệnh ? Chẳng khỏi lại phải chỉnh đốn binh sĩ, mưu cử lần nữa, thì giặc kia đã phòng bị được, đặt kế cầm cự, tất phải kéo dài hàng tháng, đến mùa hạ trời mưa lam chướng càng nhiều thì quân ta có thể chịu được nơi rừng rậm mà không lo ngại chăng ? Vừa rồi không ngờ bọn ngươi mờ tối đến thế. Trẫm đã xuống dụ giục tiến binh nhanh và tất cả công việc sự cơ đã bảo rõ ràng, tưởng chỉ ấy tất đã đến trước, không ngờ lại chợt có sự thay đổi như thế, không rõ bọn ngươi tính toán ra sao ? Vả công việc ở ngoài nghìn dặm, lẽ khó theo mà kéo lại, vậy sai thị vệ đến gấp tuyên bảo : “Nay đại binh đóng ở địa phương nào ? Bàn tính mưu kế gì ? Bọn thủ phạm Ma Trập đã đến đầu hàng hay chưa ? Tình trạng gần đây ở trong quân có tốt hay không ? Nếu tới kỳ hạn mà bọn kia cố ý không đến, hoặc có mưu toan kế khác, thì bọn ngươi định làm cách khôn khéo thế nào mà bắt bọn Ma Trập đóng cũi đưa về Kinh, hoặc chém đầu bỏ vào hòm đem dâng ? Thế mới là thành công ; thế mới là xong việc. Nên đem hai tờ chỉ trước sau ấy mà đọc kỹ hai ba lượt, lường tính mà làm, không cần câu nệ, để xem tài năng bọn ngươi thi thố ra sao, cũng là hay. Nếu cứ đóng binh để ăn hại lương, mà không được công gì, thì sẽ tính suốt cả lại, truy xét nguyên do, sợ bọn ngươi không thể chịu nổi tội nặng ấy. Phải nên nghĩ đi nghĩ lại, chớ để lo cho mình”.
    Lại sai chế cấp cho Nguyễn Văn Quế một cái ấn “Bình man quan phòng”, và cho Trương Văn Chính một cái ấn “Định man quan phòng” (đều bằng ngà), phàm có quan hệ đến việc quân thì dùng. Lại phái Văn thư phòng Nguyễn Đăng Uẩn đến quân thứ để làm giúp công việc giấy tờ.
    Đạo binh của Trấn thủ Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh tiến đến núi Bá Văn, bị bọn Man hoang ở hai sách Dạ Bố và Lang Khái ngăn trở, không tiến được, chợt gặp mưa, quân mắc bệnh nhiều. Vua nghe biết, xuống dụ sai rút về, do đường lớn đi nhanh đến Bình Hoà để theo Nguyễn Văn Quế điều độ.
    Sai Khâm thiên giám suy tính khí tiết và thời khắc ở các địa phương để ghi thêm vào lịch hiệp kỷ. Bọn Giám chính Hoàng Công Dương lường tính tâu lên.
    Vua cho là việc mới bắt đầu mà xét nghiệm tinh tường, rất khen. Hoàng Công Dương hiện đương bị cách lưu, đổi làm giáng 2 cấp lưu. Từ chức Chiêm hậu trở xuống đều thưởng theo thứ bậc.
    Sửa sông Vĩnh Định ở Quảng Trị. Vua nghe dòng sông nhiều chỗ bồi nông, sai dinh thần thuê dân vét đào, chi cấp tiền lương, cho theo lệ đào sông lần trước.
    Sai thự Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng coi đóng thuyền Kim Hoa, đặt ở hồ Hải Tĩnh, và dựng đình Hồ Tâm.
    Bọn giặc ở huyện Tiên Lữ trấn Sơn Nam hơn 400 người cướp phá xã Phí Xá. Tri huyện là Trịnh Đường nghe báo, lập tức thân đem quân và dân đuổi bắt, cùng giặc kháng chiến. Đường giả lấy thuyền thúng làm con voi, sai dân đội tự đằng xa lại, phao tin là quân thành đến, đánh trống reo hò tiến lên. Giặc nghe thấy sợ chạy tan. Đuổi chém được vài mươi đầu, bắt sống được vài đứa. Thành thần đem việc tâu lên.
    Vua xuống dụ khen ngợi và thưởng cho Đường gia 1 cấp, dùng theo hàm Đồng tri phủ ; quân dân đi trận thì thưởng cho hơn 40 lạng bạc và hơn 500 quan tiền.
    Bắt đầu đặt ty Hộ thành binh mã, lấy hai vệ Võng thành và Giám thành lệ thuộc (Võng thành trước lệ vào quân Thị nội, thứ bậc ở sau quân Thị nội. Đến đây bỏ bớt danh hiệu Thị nội, đổi xếp ở sau quân Thần sách), theo quản hạt của Đề đốc Kinh thành. Ty đặt Chủ sự và Tư vụ đều 2 người, Tòng bát, tòng cửu phẩm thư lại đều 3 người, Thư lại vị nhập lưu 10 người. Phàm dân nội ngoại tịch ở 8 xã trong Kinh thành có ai muốn sung làm lại dịch ở ty Hộ thành binh mã và làm lính ở vệ Giám thành đều cho.
    Lấy Giám thành phó sứ là Đỗ Phước Thịnh làm Binh mã phó sứ ty Hộ thành binh mã, trật Chánh tứ phẩm.
    Chế ấn quan phòng bằng ngà cấp cho thự Thống chế quân Thị tượng, ấn quan phòng bằng đồng cấp cho Đề đốc Kinh thành và ấn đồ ký bằng đồng cấp cho ty Hộ thành binh mã.
    Đổi bổ Thiêm sự Vũ Xuân Cẩn làm Tuyên phủ sứ phủ Hoài Đức.
    Lấy nguyên Tham hiệp Thanh Hoa là Đặng Văn Thiêm làm thự Cai bạ biện lý Binh bộ, Cai bạ Quảng Bình là Nguyễn Đức Hội làm Biện lý Hộ bộ, Ký lục Quảng Nam là Trần Thiên Tải làm Cai bạ Quảng Bình, Thiêm sự hiệp lý dinh vụ Quảng Nam là Trần Đăng Nghi làm Ký lục Quảng Nam, Thiêm sự hiệp lý dinh vụ Quảng Ngãi là Lý Văn Phức làm Hiệp lý dinh vụ Quảng Nam.
    Tế tửu Quốc tử giám là Phan Bảo Đĩnh chết. Đĩnh đỗ Tiến sĩ, đời Lê trước, học hạnh ai cũng kính trọng, tuổi già theo lệnh vua vời, gắng gượng lên đường. Khi sung học chính có nhiều sáng kiến. Đến nay chết. Vua thương tiếc, cho 2 cây gấm Tống, 200 quan tiền.
    Định lệnh cấm mua bán chì. Phàm các chợ phố và người buôn ngoại quốc không được mua bán tư với nhau ; tuy dân gian có ai muốn mua để làm sinh kế thì cho mỗi người được mua 100 cân ; nếu mua quá thì ghép vào tội vi chế.
    Quan phủ Thừa Thiên tâu rằng đường quan từ sông Hương trở về Nam có 86 sở cầu, một nửa đã làm xong, còn 12 chỗ thế nước chảy mạnh thì nên bắc bằng gỗ, và 31 chỗ thế nước chảy nhẹ thì nên xây đá.
    Vua sai thuê dân lần lượt mà làm.
    Truy tặng cho công thần Vọng Các Khâm sai thuộc nội Chưởng cơ Vệ uý vệ Tả nhất Thị trung là Hồ Văn Bôi làm Thống chế.
    Truy tặng cựu thần tiềm để là Cai cơ Vũ Văn Diệu làm Vệ uý quân Thị nội, làm Chánh tam phẩm, Nguyễn Văn Trúc làm Vệ uý chư quân, hàm Tòng tam phẩm.
    Thổ phỉ ở Nam Định là Phan Bá Vành nổi loạn. Vành từ khi Vũ Đức Cát bị bắt, lén họp đồ đảng hơn 2.000 người. Chúng đều suy tôn Vành làm minh chủ, quấy nhiễu cướp bóc các hạt Vũ Tiên và Chân Định. Thành thần sai Phó vệ uý vệ Hậu bảo nhị là Nguyễn Văn Truyền, Quản cơ Hậu dũng là Nguyên Văn Lân, hội với Quản phủ Trần Văn Thạc đem quân đi tuần bắt, cùng giặc đánh nhau ở xã Phú Cốc (thuộc huyện Vũ Tiên). Lân bị thương rút lui chạy ; Truyền và Thạc đều cố sức đánh, bị chết. Giặc bèn bao vây huyện Kiến Xương. Vừa gặp những quan võ bắt giặc ở Thiên Trường là Phó quản cơ cơ Vũ lực Phan Văn Khuê, Phó quản cơ năm cơ Hiệu thuận Nguyễn Đăng Khánh, cùng với Phó quản cơ cơ Hậu định giữ bảo Vy Lại là Trịnh Văn Nỗi đem 500 quân chia đi ba đường cứu viện, bắt được và chém được vài mươi tên giặc. Giặc bỏ vây rút đi.
    Thành thần lại sai Thống quản thập cơ Uy thắng Hậu quân là Ngô Văn Vĩnh, Thống quản thập cơ Kính tiệp Tiền quân là Phan Văn Lý đem lính và voi đi lùng bắt, và làm sớ tâu lên.
    Vua sai bắt thêm 70 chiếc thuyền và 200 người thuỷ thủ ở Hoài Đức và Quảng Yên theo quan quân chia phái đi tuần phòng mặt biển.
    Truy tặng Trần Văn Thạc và Nguyễn Văn Truyền làm Vệ uý chư quân, hàm Tòng tam phẩm, cấp thêm cho mỗi người 100 quan tiền ; Nguyễn Văn Lân bị cách chức, gắng sức chuộc tội ở trước quân ; bọn Phan Văn Khuê thì thưởng kỷ lục và áo quần ; biền binh thì thưởng bạc tiền theo thứ bậc.
    Dựng Đông Các (ở đằng sau tả vu), sai Vệ uý Lê Văn Hiếu coi công việc.
    Vua đi tuần ở cửa biển Thuận An, thưởng cho biền binh đóng giữ đài Trấn Hải và dân thủ hộ (ba xã Thai Dương hạ, Hoà Duân và An Dương) đều 100 quan tiền. Sắc rằng tự nay hễ vua đi tuần ở địa phương nào gặp có thành đài có đặt súng ống khí giới và có quan quân đóng giữ, thì ngày xa giá đến, Thị vệ đại thần phải lượng phái biền binh Thị vệ vào trước đóng giữ, để tâm xem xét, không được sơ suất. Rồi xa giá trở về.
    Bắt đầu đúc ấn tướng quân.
    Vua dụ bộ Lễ rằng : “Kính nghĩ đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, trời sức thần võ, dẹp yên hoạ loạn ; khoảng vài mươi năm, mặc áo giáp đội mũ trụ, trải qua hàng trận, đến đâu sấm động gió bay ; ai chống chọi lại, đều bị tan nát. Gián hoặc có chia đi các ngả, đều hết thảy trông nhờ sự quyết đoán sáng suốt của ngài. Từ khi đại định đến nay, trong ngoài trị yên, muôn phương êm lặng, cho nên điển sai tướng chuyên chinh chưa từng cử hành, mà ấn tướng quân lĩnh binh cũng chưa đúc được. Đời xưa có câu rằng “Việc binh có thể trăm năm không dùng, nhưng không thể một ngày không sẵn”, người có nước nhà có thể không đọc đi đọc lại lời nói ấy sao ? Nhà nước ta, cả chịu mệnh trời, nhân ơn rộng khắp, ai là người có răng có tóc đều biết tôn thân ; dẫu có một hai tên giặc nhỏ mọn tự đứng ra ngoài vòng sinh thành, cũng đến tiêu diệt, thật không đủ khiến ta phải khó nhọc thân hành đi đánh. Duy việc quân quốc là trọng, há có thể cuối cùng không xếp đặt ư ? Vậy sai Hữu ty chọn ngày tốt đúc ấn “Thảo nghịch đại tướng quân”, ấn “Thảo nghịch tả tướng quân”, ấn “Thảo nghịch hữu tướng quân”, ấn “Bình man tướng quân”, ấn “Định biên tướng quân”, ấn “Bình khấu tướng quân”, đều dùng thuần bạc, dây thao tía, đóng son đỏ, ngày nào đúc xong, tâu lên để vào kho để tỏ không quên việc võ bị, giữ lâu muôn năm”.
    Bắt đầu đặt binh Giáo dưỡng. Trước thự Thượng thư Binh bộ là Nguyễn Khoa Minh tâu : Xin cho con các quan võ từ Suất đội trở lên có ai tình nguyện làm việc thì đặt làm binh Giáo dưỡng, cấp cho lương tháng, chọn sai quan đại thần nhất nhị phẩm chuyên coi để cho học tập nghề võ, ba năm một lần thi, ai thi dự hạng nhất, thì đưa lên bộ dẫn vào ra mắt vua, đợi chỉ lựa dùng, hạng nhì thì được ăn lương thêm, vẫn ở lại học tập, trong ba năm thi lại, nếu quả không được thành tựu thì tước ngạch đi. Đình thần bàn lại, cho là có thể làm. Còn phép dạy và lệ lương, thì xin giao cho bộ Binh bàn kỹ. Đến nay lời bàn tâu lên. Vua lại sai đình thần tâu. Văn ban bàn xin phàm ai muốn vào binh Giáo dưỡng thì từ 15 tuổi trở lên, 40 tuổi trở xuống, xét qua thân thể đẫy đà, sức lực khoẻ mạnh mới cho cấp lương tháng, mỗi người tiền 2 quan, gạo 1 phương, sách vở khí nghệ nhà nước cấp cho. Lập ra diễn trường, đặt hai quan Tuyên giáo (đều cho hàm tứ ngũ phẩm), một viên giảng sách võ kinh, một viên giảng về võ nghệ, 4 quan phân giáo (đều cho hàm lục thất phẩm, theo quan tuyên giáo, tuỳ từng nghệ mà chia dạy), đều do viên chuyên quản đại thần suất lĩnh. Hằng tháng lấy những ngày mồng 2, 12, 22 dạy tập bắn cung, đánh côn, đánh quyền, đấu gươm, đỡ mộc, đấu đao, đấu giáo (đao gươm đều làm bằng gỗ) ; những ngày mồng 4, 14, 24 diễn tập bắn súng tay ; những ngày mồng 6, 16, 26, tập nhấc vật nặng (dùng hai khối chì, mỗi khối nặng 100 cân) ; những ngày mồng 8, 18, 28 giảng đọc võ kinh và tứ tử thư((1) Tứ tử thư : tức tứ thư là Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh tử.';1). Mỗi năm lấy tháng trọng xuân và tháng trọng thu làm khoá, mỗi khoá có 4 kỳ, sai quan nhị tam phẩm ở võ ban và quan ngũ lục phẩm ở Binh bộ và Văn thư phòng, mỗi hạng 1 người, sung làm giám thị. Kỳ đệ nhất xét về các nghệ như bắn cung, đánh côn, đánh quyền, đấu gươm, đỡ mộc, đấu đao, đấu giáo. Kỳ đệ nhị xét về bắn súng tay. Kỳ đệ tam xét về nhấc vật nặng. Kỳ đệ tứ hỏi về võ kinh. Chia làm bốn hạng ưu, bình, thứ, liệt, đều tiêu đề vào danh sách. (Kỳ đệ nhất, bắn cung lấy trúng đích làm thượng, trúng vào vòng tròn là thứ, trúng vào hộc lại là thứ. Về côn, quyền, gươm, mộc, đao, giáo, lấy kỹ thuật sức lực thắng được là thượng. Hễ hai nghề hợp cách, các nghề khác hơi khá là ưu ; một nghề hợp cách, các nghề khác hơi khá là bình ; ba nghề đều hơi khá là thứ ; các nghề đều không hợp cách là liệt. Kỳ đệ nhị bắn súng tay hạn bắn 3 phát, hễ trúng đích 2 phát trúng vòng 1 phát, cùng trúng vòng 2 phát trúng đích 1 phát là ưu ; trúng vòng cả 3 phát, cùng trúng đích 1 phát trúng vòng 1 phát và 1 phát vào ụ là bình ; trúng vòng 2 phát vào ụ 1 phát, cùng trúng đích 1 phát vào ụ 2 phát là thứ, chỉ vào ụ bia và lạc ra ngoài ụ là liệt. Kỳ đệ tam nhấc vật nặng, hai tay cất khối chì mỗi bên một khối, xách lên và đi được 15 trượng trở lên là ưu ; 10 trượng trở lên là bình ; 5 trượng trở lên là thứ ; không được 5 trượng là liệt. Kỳ đệ tứ hỏi 10 câu ý chỉ của kinh hỏi về binh pháp trận lý, hỏi đâu trả lời đấy đều thông hiểu cả là ưu ; trả lời được 6, 7, 8 câu là bình ; 5 câu trở xuống là thứ ; không thông hiểu câu nào là liệt). Xét xong, cộng cả bốn kỳ mà tính, chia định thứ bậc, yết bảng cho biết. (Bốn kỳ đều ưu cả, hoặc 3 ưu 1 bình, 3 ưu 1 thứ, 2 ưu 2 bình, 2 ưu 1 bình 1 thứ, 1 ưu 3 bình là ưu hạng; 4 bình, hoặc 2 bình 1 ưu 1 thứ, 2 ưu 2 thứ, 3 ưu 1 liệt, 2 thứ 1 ưu 1 bình, 3 thứ 1 ưu, 3 bình 1 thứ là bình hạng ; 1 ưu 2 bình 1 liệt, 1 ưu 1 bình 1 thứ 1 liệt, 1 bình 2 ưu 1 liệt, 1 bình 3 thứ, 3 bình 1 liệt, 2 thứ 2 bình, 4 thứ là thứ hạng ; 1 ưu 1 bình 1 thứ 1 liệt, 1 bình 2 ưu 1 liệt, 1 bình 3 thứ, 3 thứ 1 liệt, 2 thứ 1 bình 1 liệt, 1 bình 3 liệt, 1 thứ 3 liệt, 2 bình 2 liệt, 2 thứ 2 liệt, 4 liệt là liệt hạng). Rồi làm danh sách đề cả lên, đợi định thưởng phạt. (Ưu hạng, mỗi tháng thưởng thêm tiền 2 quan gạo 1 phương ; bình hạng thưởng thêm tiền 2 quan gạo 1 phương ; thứ hạng, theo lệ thường mà cấp, liệt hạng, giảm bớt lệ thường 1 quan tiền). Trong 3 năm 6 khoá đều được ưu cả, cho chỉ tên tâu xin lựa dùng ; liệt cả thì đuổi về ngạch cũ. Đến như phép thi võ khoa thì xin định lấy 4 năm dần, tỵ, thân, hợi làm kỳ thi.
    Võ ban thì bàn rằng : “Tài nghệ của người, không ai vẹn đủ, hoặc giỏi nghề này mà kém nghề kia, nếu câu nệ phép nhất định sợ kẻ học khó thành được. Vậy xin phàm vào Giáo dưỡng thì chia làm 2 chi, đặt 2 quản quan, mỗi người giữ một chi, cho tự chọn mời thầy dạy, mỗi chi 3 người, theo sở trường của mình mà diễn tập các nghề côn, quyền, gươm, mộc, súng tay. Đến như chỉ bảo nghĩa kinh thì xin đặt mỗi chi 1 viên. Kỳ khoá hạch, cũng đều theo tài nghệ cao thấp mà chia hạng thưởng phạt. Về phép thi võ khoa, thì đợi sau 3 năm học tập thành tài, và các hạng quân dân có tài nghệ, đều cho vào thi. Xin định lấy 4 năm tý, mão, ngọ, dậu mở khoa thi Hương, 4 năm sửu, thìn, mùi, tuất mở khoa thi Hội, đều theo như phép thi Hương, thi Hội về Văn khoa”.
    Lời bàn dâng lên. Vua dụ rằng : “Phàm việc dành sẵn nhân tài, nghiêm chỉnh võ bị, là để giữ nước, nhưng việc mới bắt đầu, chưa tiện mọi điều làm cả. Đợi sau binh sĩ ngày một nhiều, kỹ nghệ dần được khá, sẽ lại xuống chỉ cho chước định để làm”. Bèn chuẩn định ở Kinh thì từ Suất đội trở lên, ở ngoài từ Cai đội trở lên, cho đến Chánh phó quản cơ, các con có ai tình nguyện vào binh Giáo dưỡng, thì ở Kinh do quản quan, ở ngoài do quan địa phương, làm danh sách đưa về bộ ; lại cấp dẫn về Kinh do bộ kiểm duyệt, lấy mồng 1 tháng 6 hội các danh sách đề lên để cấp lương. (Con của người Tòng ngũ phẩm trở lên, mỗi tháng cấp 2 quan tiền 2 phương gạo ; con của người Chánh tòng lục phẩm 1 quan 5 tiền 1 phương gạo ; con của người Chánh tòng thất phẩm 1 quan tiền 1 phương gạo) và sai quan quản lĩnh.
    Thuyền vận tải của Quảng Bình, gặp bão bị vỡ ở bờ biển Quảng Trị, các xã Bàn Hà, Hà Lợi ở ven biển (thuộc huyện Minh Linh) họp hơn 200 người mò lấy tiền công, thuyền hộ bắt được vài người, dân ấy lại cướp lấy. Việc tâu lên. Vua giận là không sợ phép, sai dinh thần tra bắt thủ phạm là Phan Văn Xú đem chém, còn các tên khác đánh trượng rồi tha.
    Sai hai bộ Lại, Lễ chọn cử người có học hạnh để bổ sung vào chức Tán thiện và Bạn độc ở Tập thiện đường, mỗi chức một người. Lấy Chủ sự Hộ bộ sung Bạn độc là Trương Đăng Quế làm thự Hàn lâm viện Thị độc sung chức Tán thiện và Tri huyện Bình Sơn là Tào Quang Lệ làm Hàn lâm viện Tu soạn sung chức Bạn độc.
    Sai bọn Thiêm sự Hộ bộ là Thân Văn Duy, Chủ sự Công bộ là Nguyễn Thiện Trường thanh tra sở Nội tạo, chế ấn “Thanh tra quan phòng” cấp cho (ấn bằng ngà, khắc 7 chữ triện “Thanh tra Nội tạo sở quan phòng”).
    Cho thự Thống chế Tượng quân là Phạm Văn Điển và Lê Văn Hoan được dự đình nghị.
    Lấy các đội Tráng nhất, Tráng nhị, Tráng tam, Cường súng dinh Quảng Nam để luân ban sung bổ vào việc canh giữ kho Nội tàng, mỗi ban 50 người, mỗi năm một lần thay đổi, bắt đầu tự mồng 1 tháng 4 năm nay.
    Sai Vệ uý vệ Phấn dực Nội thuỷ là Nguyễn Văn Phong quản lĩnh hơn 20 chiếc binh thuyền để chở vật hạng ở kho Bắc Thành về Kinh, lại chở 60.000 đồng tiền kẽm để chứa ở Thanh Hoa và 100.000 đồng để chứa ở Quảng Bình.
    Sứ bộ sang nước Thanh là bọn Hoàng Kim Hoán, Hoàng Văn Quyến, Phan Huy Chú, Nguyễn Trọng Vũ, Trần Chấn và Nguyễn Hựu Nhân về, đem sách Đài quy dâng lên.
    Vua xem, bảo thị thần rằng : “Sách này đều là điều lệ đặt cho gián quan, trong đó như Giám sát ngự sử các đạo và Cấp sự trung sáu khoa đều có nhân viên nhất định. Nhân nghĩ vua phải có bầy tôi can ngăn, cha phải có con cái can ngăn, để sửa chỗ sai, nhặt cái sót. Đức Thế tổ Cao hoàng đế ta khi mới đại định, việc đặt gián quan chưa kịp làm, nay trẫm nối theo chí trước, phàm các phép tắc giường mối nghĩ muốn tuỳ nghi dựng đặt để làm phép cho muôn đời, các khanh nên xét rõ sách này, chước lượng mà làm”.
    Tham tri Lễ bộ là Phan Huy Thực tâu rằng khó có người làm được.
    Vua nói : “Như thế thì sáu bộ đặt ra để làm hư vị đấy ư ?”. Rồi thưởng cho bọn Hoán mỗi người gia 1 cấp.
    Trong Kinh kỳ giá gạo cao, sai hai bộ Hộ, Công và Vũ Khố hội tính các vật hạng cần dùng như song mây, gỗ lạt, định giá phải chăng, mộ dân có ai muốn chở nộp cho nhà nước thì chiếu giá cấp thóc cho.
    Ở Bình Định có Vũ Văn Nguyên là con của nguyên án phủ Hoài Đức Vũ Văn Phượng, trước vì mắc tội giao cho Phượng quản thúc. Phượng chết, Nguyên lẩn trốn vào ấp An Tây, cùng với con Thái sư nguỵ Tây Bùi Đắc Tuyên là Đắc Khuông và Đắc Trị chơi với nhau, ngày ngày tập võ nghệ. Vua nghe biết, nói rằng : “Bọn ấy là đồ vô lại, nếu để yên không hỏi tội thì ngày khác lại như nguỵ Tây, khi ấy còn hỏi tội được nữa sao ?”. Sai trấn thần bắt, đều xử tội chết.
    Chưởng Hậu quân Lê Chất từ Bắc Thành về Kinh, vào yết kiến. Vua yên ủi, cho về Bình Định sửa việc tang ; cho 500 binh thuộc hạ đi theo để sai khiến, lại ban ơn cho khi ở quê cứ theo phẩm trật chi lương (Lệ trước hễ về đinh ưu thì đình cấp lương).
    Mùa hạ, tháng 4, ngày 1, tế hạ hưởng.
    Lấy Tả Tham tri Lễ bộ là Hoàng Kim Hoán làm Hữu Tham tri Lại bộ, Hàn lâm viện Trực học sĩ là Hoàng Văn Quyền quyền Biện lý Binh bộ.
    Chế thước may và thước đo gỗ cấp cho các nha môn ở Kinh và ở ngoài (đều bằng đồng). Vua thấy từ trước đến nay thước may bằng đồng nhà nước cấp chưa được thống nhất, mà thước đo gỗ bằng đồng cũng chưa ban hành, sai bộ Hộ, bộ Công hội đồng với Vũ Khố theo cách thức mà làm để cấp.
    Sai Vệ uý lĩnh Viện sứ viện Thượng trà là Nguyễn Văn Lộc chọn ở hai ty Lý thiện mà bổ vào đội Thượng thiện. Lại sai trích lính đội Tín nhất ở Nội tàng sung bổ vào đội thứ 3 vệ Giám thành.
    Vua sắp đi tuần Quảng Bình, sắc cho Hữu ty chế hành ấn cho năm bộ Lại, Hộ, Lễ, Hình, Công theo thức của hành ấn bộ Binh mà làm. Phàm xa giá đi tuần, các bộ thần được dự đi theo thì ban cấp cho ấn ấy để dùng trong khi đi ; sau khi hồi loan lại cất ở Văn thư phòng. Lại cho việc ấy mới bắt đầu làm, sợ khó phân biệt thực giả, sai bộ Lại in hành ấn của sáu bộ, mỗi bộ một tờ để ban bảo cho các thành dinh trấn chiếu đấy làm bằng.
    Sai Hoàng tử Miên Định, Tả thống chế Thị trung là Tôn Thất Bính, Thượng thư Lễ bộ là Nguyễn Xuân Thục ở lại Kinh coi giữ, cấp cho ấn triện lưu Kinh ; Tham tri Hình bộ là Hoàng Kim Xán, Biện lý Binh bộ là Đặng Văn Thiêm đều sung chức Hộ ấn.
    Dụ rằng : “Trẫm nối cơ nghiệp xưa, chăm lo việc nước, thấy Quảng Bình là đất phụ thuộc Kinh kỳ, sai rước xa giá đi tuần để xem xét thành trì và nhân tiện đi qua Quảng Trị xem xét việc đào sông Vĩnh Định. Nghĩ Kinh sư là chỗ căn bản, bọn Hoàng tử và đại thần lưu Kinh các ngươi và các văn viên không phải theo giá, sau khi xa giá ra đi, hằng ngày cứ giờ Mão đều tới nhà Tả vu điện Cần Chính để hội đồng làm việc, giờ Tỵ thì bãi, duy Tôn Thất Bính phải túc trực ban đêm ở Tả vu ; còn từ Vệ uý trở lên thì đều theo chỗ đóng của mình mà ngày đêm tuần xét. Đến như tình hình bình an ở trong Kinh thì mỗi ngày tâu báo một lần. Việc báo tin về trong cung thì cách một ngày một lần, do Hoàng tử lưu Kinh cứ để nguyên phong tờ trình của nội giám làm tập riêng mà chạy đệ. Từ nay về sau cứ theo lệ ấy mà làm. Lại cấp cho Hoàng tử Miên Định một cái ấn đồ ký bằng ngà, phàm có tập tâu về việc trong cung thì dùng.
    Sai Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí sung Tiền bộ đại thần, Thống chế dinh Thần cơ quân Thị nội là Đoàn Đức Luận sung Hậu đội đại thần, quản lĩnh binh và voi, khi tiến khi dừng đều theo kỷ luật.
    Ngày Tân dậu, xa giá khởi hành từ Kinh sư.
    Lúc đầu vua định lấy ngày Ất mão khởi hành, nhân nghĩ lúa chiêm ở các địa phương đang chín, khắp đồng như mây vàng, sợ xe ngựa hàng nghìn hàng vạn, hoặc có hại đến ruộng nương chăng, nên hoãn đến ngày nay. Ngày Quý hợi, xa giá đến hành cung Quảng Trị, dinh thần đem sản vật địa phương tiến dâng. Thưởng cho 10 lạng bạc.
    Ngày Bính dần, xa giá đến Quảng Bình, vua lên thành xem, bảo thị thần rằng : “Một giải trường thành làm giới hạn Nam Bắc, xưa các vua thánh ta thấy họ Trịnh chuyên quyền càn bậy nên đặt thành ấy để giữ nước thôi, không phải để chống nhà Lê. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta trung hưng mà có cả đất Việt, vẫn muốn sửa sang mà chưa kịp. Trẫm mới lên ngôi, khởi công sửa đắp cũng là một việc nối chí theo việc của Hoàng khảo ta”.
    Lại nói : “Thành này là then khoá ở cửa Bắc, nên sai trọng thần trấn giữ, kinh binh đóng thú ; lại nên chước định lệ 3 năm một lần hoặc 5 năm một lần tuần thú để truyền cho lâu dài thì phải”.
    Sai Trung sứ đem dưa hấu Quảng Bình, do trạm đệ về Kinh dâng cung Từ Thọ. Vua tự tay viết biểu thỉnh an [thăm sức khoẻ].
    Thưởng cho kỳ lão Quảng Trị và Quảng Bình 3.500 quan tiền (Quảng Trị 2.000 quan, Quảng Bình 1.500 quan), lại giảm cho dân thuế thân năm nay 3 phần 10. Lại thấy hai hạt ấy lúa ruộng nhiều lần bị tai, đặc biệt sai miễn khám và giảm thuế ruộng cho tất cả là 5 phần 10. Quảng Trị mất mùa nhiều, thuế ruộng phải nộp và thóc vay năm ngoái đều cho giảm giá mà nộp thay bằng tiền.
    Cho tế hai đàn tướng sĩ Nam Bắc ở Trường thành.
    Ngày Mậu thìn, xa giá về Kinh. Thưởng tiền cho các quan và quân hỗ tòng theo thứ bậc.
    Lại giảm 2 phần 10 thuế thân năm nay cho dân Thừa Thiên.
    Trước là dân hạt Quảng Bình và Quảng Trị, nhiều người đón giá bày tỏ kêu ca, bộ Lễ đem việc tâu lên, vua nói rằng : “Tuần hành lần này, về tình dân và thói tệ của quan lại không ai nói đến ; đứng bên cạnh đường bày tỏ kêu ca chỉ là kẻ cuồng bậy thôi. Ngày xưa người Bắc vào lấn, đến Quảng Trị, có người đón đường dâng thơ để nịnh hót, có câu : “Bát thế yếm khan Tần chế độ, Nhất triêu hỷ kiến Hán y quan”. [Tám đời chán xem chế độ nhà Tần ; Một sớm mừng thấy áo mũ nhà Hán]. Hạt ấy đội ơn các vua thánh ta cũng đã nhiều mà nhân tình như thế, thật là đáng ghét”.
    Lại có Hồ Công Quang là Tú tài ở Quảng Bình dâng nói 13 điều, đều là cuồng bậy, như điều thứ nhất nói Nguyễn Hữu Thận là thế thần có thể làm được sư phó, không nên để ở nơi biên giới xa. Vua sai đường quan lục bộ hỗ tòng xét bàn. Đều xin chiếu theo luật “dâng thư nói đức chính của đại thần” mà xử tội trảm giam hậu, duy có Tả Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân tâu : “Khi xưa Đoàn Chí Xung dâng thư xin nhường ngôi cho thái tử, bầy tôi là nhà Đường đều tâu nên giết mà Văn hoàng lại tha”. Vua nói : “Văn hoàng là vua hiếu danh không đủ bắt chước ;
  • Chia sẻ trang này